Thứ Năm, 6 tháng 4, 2023

Phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.

 Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” là sự kết tinh đặc sắc trong văn hóa quân sự, do các thế hệ cán bộ, chiến sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam dày công xây đắp dưới sự tổ chức, giáo dục, huấn luyện của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, cần nghiên cứu, luận giải, khơi dậy và lan tỏa giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tạo tiền đề vững chắc để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh và hiện đại.

Phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị

Các chiến sĩ giúp nhân dân thu hoạch lúa chạy lũ ở tỉnh Long An - Ảnh: baoquankhu7.vn

1. Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong văn hóa quân sự Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh 

“Bộ đội Cụ Hồ” là phần thưởng cao quý, tình cảm, sự yêu mến, niềm tin sâu sắc, sự ghi nhận, tôn vinh của nhân dân dành cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, là giá trị đặc sắc, độc đáo, thiêng liêng trong văn hóa quân sự, gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, là niềm vinh dự, tự hào của mỗi quân nhân. “Bộ đội Cụ Hồ” còn thể hiện tình cảm sâu sắc, sự quan tâm đặc biệt, mối quan hệ bền chặt giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với cán bộ, chiến sĩ; là hình mẫu sáng ngời, biểu tượng lý tưởng cách mạng cao đẹp, đạo đức trong sáng, ý chí quyết tâm, nghị lực phi thường của đội quân cách mạng. 

Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” hình thành, phát triển gắn liền với quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội, tiếp nối truyền thống văn hóa đấu tranh dựng nước, giữ nước kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam suốt mấy nghìn năm lịch sử. Ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt, từ đòi hỏi tất yếu của lịch sử dân tộc, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, do Đảng và Chủ tịch Hồ Chủ Minh tổ chức, giáo dục, rèn luyện, nhân dân hết lòng đùm bọc, nuôi dưỡng, cùng toàn dân giành được nhiều chiến công vang dội, lập nên những kỳ tích, ghi vào lịch sử dân tộc những mốc son chói lọi và đã hun đúc, xây đắp nên danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. 

Trong bối cảnh đất nước bị thực dân đô hộ, nhân dân đang chịu “một cổ hai tròng”, phong trào đấu tranh cách mạng sục sôi, với muôn vàn khó khăn chồng chất, chỉ có “áo vải chân không đi lùng giặc đánh”, nhưng các chiến sĩ đã xác định rõ mục tiêu, lý tưởng cách mạng, không quản khó khăn, gian khổ, hy sinh, hăng say học tập chính trị, huấn luyện kỹ chiến thuật quân sự, phát huy chủ nghĩa yêu nước, Quân đội ta đã không ngừng lớn mạnh, cùng toàn dân chiến đấu và giành thắng lợi vang dội trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên những chiến công oanh liệt như Chiến dịch Điện Biên Phủ - Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đưa đất nước hoàn toàn thống nhất, vững bước đi lên CNXH, đồng thời bảo vệ vững chắc biên giới, hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả. 

Quân đội ta đã kế thừa những giá trị cốt lõi trong bản sắc văn hóa dân tộc, như chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo, đoàn kết, bao dung, độ lượng, tương thân, tương ái, đồng cam cộng khổ, chia ngọt, sẻ bùi, khiêm tốn, giản dị, lạc quan…; cùng với những giá trị văn hóa quân sự độc đáo “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, “lấy ít địch nhiều”, “lấy đoản binh để thắng trường trận”, “đem đại nghĩa để thắng hung tàn”, “lấy chí nhân để thay cường bạo”,… Trải qua quá trình đấu tranh cách mạng gian khổ, khốc liệt, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã chứng minh sức mạnh tinh thần, ý chí, bản lĩnh, trí tuệ, truyền thống yêu nước Việt Nam, đồng thời, tôi luyện, hun đúc, bổ sung, làm giàu văn hóa dân tộc, văn hóa quân sự, mà kết tinh và biểu hiện sinh động, đặc sắc nhất ở giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời đại Hồ Chí Minh. Đây còn là giá trị văn hóa phản ánh quá trình tu dưỡng, rèn luyện, kiên trì, bền bỉ phấn đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc, hạnh phúc của nhân dân của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội. 

Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thể hiện ở những phẩm chất nổi bật, đó là tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; luôn thể hiện bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, truyền thống hào hùng của Quân đội, của dân tộc và khát vọng được cống hiến; vững chí, hiên ngang trước gian khổ, khốc liệt của chiến tranh, không lùi bước trước mưa bom, bão đạn của quân thù, không nao núng, do dự trước sự hy sinh xương máu; sẵn sàng “nhằm thẳng quân thù mà bắn”, “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”; là đội quân dám đánh, biết đánh, biết thắng mọi quân xâm lược để đem lại độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân. 

Trong mọi hoàn cảnh, văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” không ngừng được củng cố, bổ sung, phát triển, lan tỏa sâu rộng trong mọi hoạt động quân sự và đời sống xã hội. Ở nơi vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi khó khăn, cán bộ, chiến sĩ luôn xung kích đi đầu, không quản vất vả, hiểm nguy, hy sinh tính mạng, kiên quyết bảo vệ Tổ quốc, chủ quyền biên giới, biển đảo, bảo vệ chế độ XHCN, Đảng, Nhà nước và nhân dân. 

Trong đời sống, “Bộ đội Cụ Hồ” luôn xuất hiện kịp thời để giúp dân khắc phục thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn, xử lý ô nhiễm môi trường, phòng chống dịch bệnh, bám địa bàn hỗ trợ địa phương xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế, xã hội.

Khi đối diện với đại dịch Covid-19, “Chống dịch như chống giặc” được xác định là nhiệm vụ chiến đấu thời bình, “Bộ đội Cụ Hồ” là lực lượng nòng cốt, đi đầu, tham gia phòng, chống dịch bệnh với nhiều hoạt động thiết thực như nhường chỗ ở, căn cứ làm địa điểm cách ly; đi vào tâm dịch, tham gia điều trị, giúp đỡ người bệnh, cung cấp nhu yếu phẩm, lương thực, thực phẩm, đi chợ thay người dân…

Tiếp tục làm giàu giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh thầm lặng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng, tài sản, giúp nhân dân trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh…. Từ đó, củng cố niềm tin, tình cảm và sự cảm phục sâu sắc của nhân dân đối với Quân đội, làm cho mối quan hệ máu thịt giữa Quân đội và nhân dân ngày càng bền chặt, “đi dân nhớ, ở dân thương”; thực sự là đội quân cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.

Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” còn được thể hiện sâu sắc ở tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, sâu nặng, cùng chung mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Kế thừa giá trị nhân văn của dân tộc trong lịch sử và giá trị văn hóa quân sự Việt Nam như “Phụ tử chi binh”; “Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”, trong thời đại Hồ Chí Minh, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ luôn gắn bó mật thiết, đồng cam, cộng khổ, chia ngọt, sẻ bùi, giúp đỡ nhau lúc thường cũng như khi ra trận; sẵn sàng nhận về mình những khó khăn, vất vả, nhường thuận lợi cho đồng đội; ham học hỏi, cầu tiến bộ; có ý chí quyết tâm cao, chủ động khắc phục khó khăn, đoàn kết, hiệp đồng, lập công tập thể, hoàn thành nhiệm vụ được giao; kẻ thù nào cũng đánh thắng. 

Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” còn thể hiện ở tư tưởng, tình cảm, thái độ, hành động của cán bộ, chiến sĩ gắn liền với truyền thống của quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng, các cơ quan, đơn vị và toàn quân; đồng thời được thể hiện trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ chiến đấu, công tác, lao động và sản xuất của Quân đội trong thời chiến và thời bình; trong việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội, mệnh lệnh người chỉ huy, tinh thần tự giác, nghiêm minh, ở “10 lời thề”, “12 điều kỷ luật của quân nhân khi quan hệ với nhân dân”, ở lòng tự trọng, danh dự của quân nhân.  Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tôi luyện cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ phẩm chất, văn hóa và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tô thắm lịch sử hào hùng của dân tộc, làm sáng ngời giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. Hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” đã đi vào lịch sử, thấm sâu vào tâm thức của mỗi quân nhân và người dân Việt Nam, lan tỏa một cách tự nhiên trong đời sống cộng đồng, trở thành một giá trị văn hóa tiêu biểu...

Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thể hiện ở tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung, phản ánh chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo Việt Nam. Với truyền thống “thương người như thể thương thân”, “giúp bạn là tự giúp mình”, nhiều thế hệ cán bộ chiến sĩ của Quân đội không quản gian khổ, hy sinh, tình nguyện lên đường chiến đấu cùng các chiến sĩ và nhân dân Lào, Campuchia trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Quán triệt quan điểm của Đảng, cán bộ, chiến sĩ đã tham gia đội quân Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, bệnh viện dã chiến cấp 2, đội công binh và các nhiệm vụ liên lạc, tham mưu, truyền thông,... Hỗ trợ, giúp đỡ các phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc hoàn thành sứ mệnh gìn giữ, kiến tạo hòa bình, tái thiết đất nước, giúp đỡ người dân nghèo châu Phi, củng cố hệ thống giao thông, trường học, hướng dẫn họ lao động, sản xuất. Bằng những hành động đó, bộ đội Việt Nam đã có được tình cảm sâu sắc của nhân dân và bạn bè quốc tế, khẳng định, lan tỏa và làm ngời sáng giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tôi luyện cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ phẩm chất, văn hóa và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tô thắm lịch sử hào hùng của dân tộc, làm sáng ngời giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. Hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” đã đi vào lịch sử, thấm sâu vào tâm thức của mỗi quân nhân và người dân Việt Nam, lan tỏa một cách tự nhiên trong đời sống cộng đồng, trở thành một giá trị văn hóa tiêu biểu, thực sự là “con người đẹp nhất”, “sống hiên ngang bất khuất ở trên đời”. Hiện nay, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” đã và đang góp phần tạo động lực to lớn cùng dân tộc đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, CNH, HĐH, xây dựng và củng cố cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế của đất nước.

Trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của Quân đội trong thời kỳ mới đặt ra ngày càng cao, Đảng ta xác định, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, “Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội,… tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân,… cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”(1), trong đó lấy xây dựng về chính trị là nền tảng. Vì vậy, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là một nguyên tắc cơ bản, vấn đề xuyên suốt, tạo tiền đề để Quân đội tiến lên chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. 

2. Tiếp tục giữ vững, phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng Quân đội 

Trước hết, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, tạo cơ sở để khơi dậy, lan tỏa giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” vào xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Tập trung bảo vệ, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội trong một chỉnh thể thống nhất chặt chẽ. “Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội… tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, bảo đảm sức mạnh tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống”(2)

Lan tỏa sâu rộng giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” vào xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, tiêu biểu về trí tuệ và tổ chức thực tiễn, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ. Giữ vững nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, quản lý của tổ chức chỉ huy trong thực hiện nhiệm vụ. 

Chuyển hóa giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” vào xây dựng hệ thống tổ chức chỉ huy, các cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, các tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân vững mạnh xuất sắc. Thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao và quản lý chặt chẽ chất lượng chính trị của cán bộ, chiến sĩ. Hệ thống cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy cần nắm chắc đặc điểm nhiệm vụ, thực tiễn đơn vị để xây dựng chủ trương, biện pháp lãnh đạo, quản lý đơn vị phù hợp, thiết thực, hiệu quả. 

Thứ hai, gắn kết chặt chẽ đổi mới công tác giáo dục chính trị với nhận thức sâu sắc giá trị văn hóa “Bộ bộ Cụ Hồ”. Thực hiện tốt Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Quá trình giáo dục chính trị, tư tưởng cần lồng ghép giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” vào xây dựng bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, chiến sĩ; giúp họ phát triển toàn diện, ở đó, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” phải thấm sâu trong tâm thức, trở thành phong cách sinh hoạt, học tập, công tác, huấn luyện, rèn luyện hằng ngày của họ.

Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục chính trị ở đơn vị sát với đặc điểm, nhiệm vụ và đối tượng cụ thể, bảo đảm đồng bộ, thiết thực, hiệu quả. Trang bị cho cán bộ, chiến sĩ nội dung cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân đội và đơn vị. Nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng của bộ đội, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. “Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội…”(3) cho cán bộ, chiến sĩ; bồi đắp cho họ “có phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân”(4)

Tiếp tục giữ vững, phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội, đơn vị; đề cao ý thức, trách nhiệm trong xây dựng nếp sống chính quy, chấp hành kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước; chủ động khắc phục khó khăn, “tích cực huấn luyện, học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ mọi mặt và kiến thức chuyên môn; có phương pháp, tác phong công tác khoa học, nghiêm túc, trách nhiệm cao”(5), không ngừng hoàn thiện nhân cách, làm giàu giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Đổi mới nội dung, hình thức công tác đảng, công tác chính trị, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, thực sự là “linh hồn, mạch sống” của Quân đội. Chủ động định hướng cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức đúng tình hình, nắm vững thời cơ, thách thức, thuận lợi, khó khăn; phân biệt rõ “đối tác”, “đối tượng” theo quan điểm của Đảng; không mơ hồ, mất cảnh giác, xử lý tốt mọi tình huống, không để bị động, bất ngờ. Tập trung thực hiện tốt công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, dân vận, chính sách, quần chúng; đề cao dân chủ, kỷ cương, kỷ luật; giữ vững đoàn kết nội bộ. 

Đa dạng hóa các hình thức, phương pháp giáo dục chính trị bảo đảm linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả. Coi trọng giáo dục truyền thống, giáo dục trực quan, nhất là tổ chức tái hiện hình ảnh “Bộ độ Cụ Hồ” trong đấu tranh cách mạng để cán bộ, chiến sĩ trẻ nhận thấy bản lĩnh, nghị lực phi thường, ý chí quyết tâm, tinh thần cách mạng, lòng dũng cảm của các thế hệ đi trước đã sống, chiến đấu kiên cường, bất khuất. Gắn kết chặt chẽ giáo dục chính trị với đẩy mạnh thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị, Kết luận số 21-KL/TW, Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Chỉ thị 855-CT/QUTW, Nghị quyết 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương. Chú trọng giáo dục thông qua các cuộc vận động, phong trào thi đua quyết thắng, các hình tượng văn học, nghệ thuật; đẩy mạnh các hoạt động, sinh hoạt câu lạc bộ, tọa đàm, diễn đàn, kể chuyện truyền thống… để khẳng định “Bộ đội Cụ Hồ” là hình mẫu con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

Thứ ba, xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Coi trọng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật và kiến thức, năng lực, trình độ trí tuệ, năng lực tổ chức thực tiễn, phương pháp, tác phong công tác thời kỳ mới, thực sự tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; mẫu mực về trí tuệ, bản lĩnh, phương pháp, tác phong công tác, lời nói, hành động, việc làm; tiên phong về ý chí quyết tâm, nghị lực phi thường, tinh thần vượt qua khó khăn, gian khổ, vươn lên trong học tập, công tác, rèn luyện, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân, là tấm gương sáng để lan tỏa giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” cho bộ đội noi theo. Bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ “có tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”(6). Đây vừa là ý thức, nghĩa vụ, bổn phận, vừa là thước đo đánh giá phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ. 

Thường xuyên xây dựng đoàn kết nội bộ tốt, tạo sự thống nhất cao trên nền tảng tình đồng chí, đồng đội và sự giác ngộ sâu sắc mục tiêu, lý tưởng, nhiệm vụ, thống nhất lợi ích, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt. 

Đề cao trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ các cấp, thực sự là tấm gương mẫu mực trong xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị. Đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị cần bám sát các đặc trưng cơ bản của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” để tu dưỡng, rèn luyện và nêu gương mọi lúc, mọi nơi, từ nhận thức tới hành động, từ việc lớn đến việc nhỏ, nhất là về phẩm chất đạo đức, lối sống và trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực noi theo”. Trong tâm thức và hành động của đội ngũ cán bộ luôn thấm nhuần tinh thần “vì nhân dân quên mình”, “vì nhân dân hy sinh” - đó là mệnh lệnh của trái tim, là lẽ sống, lý tưởng và là giá trị văn hóa cao đẹp cần hướng tới.

Thứ tư, tổ chức tốt các hoạt động thực tiễn quân sự để lan tỏa sâu rộng giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” vào xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. 

Thường xuyên tổ chức tốt các hoạt động học tập, huấn luyện, diễn tập, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị, các cuộc vận động, phong trào thi đua, lao động, sản xuất, công tác dân vận, tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, xóa đói giảm nghèo và hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc,… 

Đẩy mạnh thi đua huấn luyện giỏi, rèn luyện nghiêm, “vượt nắng, thắng mưa”, say sưa luyện rèn, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người”(7).

Tạo dựng môi trường văn hóa quân sự tốt đẹp, lành mạnh để cán bộ, chiến sĩ có điều kiện phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành và phát huy các giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Tập trung xây dựng hệ thống quan hệ văn hóa tốt đẹp, nhất là quan hệ đồng chí, đồng đội; củng cố hệ thống thiết chế văn hóa đồng bộ, toàn diện, có chiều sâu; tổ chức các hoạt động văn hóa phong phú, thiết thực; xây dựng cảnh quan xanh, sạch, đẹp. 

Tổ chức hoạt động giao lưu, kết nghĩa giữa đơn vị với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương phù hợp với đặc điểm nhiệm vụ, đặc thù địa phương để cán bộ, chiến sĩ rèn luyện, phát triển và lan tỏa giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, tăng cường mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân vững chắc”. Cổ vũ, tôn vinh và nhân rộng cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng, nhân văn trong các hoạt động của cán bộ, chiến sĩ.

Thứ năm, chủ động nhận diện, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch và ngăn ngừa những lệch chuẩn giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. 

Lợi dụng quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và mở rộng hợp tác của Việt Nam về quân sự, quốc phòng, các thế lực thù địch chống phá trên lĩnh vực chính trị tư tưởng rất quyết liệt, tinh vi, nguy hiểm. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quan điểm, chủ trương, phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam; tung ra luận điệu về “quân đội nhà nghề”, “quân đội dân tộc”, “quân đội phải trung lập về chính trị”... 

Trước tình hình đó, cần “Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”(8). Phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong củng cố, giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên định, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới của đất nước, mục tiêu chiến đấu và nhiệm vụ của Quân đội. Ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nêu cao tinh thần yêu nước, kiên định CNXH, tinh thần quốc tế của giai cấp công nhân. 

Kiên quyết đấu tranh vạch trần các luận điệu sai trái, thù địch. Tích cực ngăn chặn, đẩy lùi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; ngăn chặn những nhận thức, hành vi sai trái hòng hạ thấp uy tín, làm giảm giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. 

Như vậy, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” là sự hội tụ những tinh hoa tốt đẹp, phản ánh nét đặc sắc của văn hóa quân sự và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, lắng đọng trong tâm thức, lan tỏa sâu rộng trong học tập, công tác, huấn luyện, rèn luyện, sinh hoạt hàng ngày của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Đây là những giá trị cốt lõi cần được khơi dậy, lan tỏa sâu rộng mọi mọi hoạt động quân sự, nhất là xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, góp phần tiếp tục củng cố tình cảm, niềm tin, sự ghi nhận của nhân dân và lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(9).

_________________

Ngày nhận bài: 28-12-2022; Ngày bình duyệt: 19-02-2023; Ngày duyệt đăng:19-3-2023. 

 

(1), (2), (3), (7), (8) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t. I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.158, 158, 143, 156, 156.

(4), (5), (6) Quân ủy Trung ương: Chuyên đề phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2022, tr.10, 10, 10.

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 14, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2011, tr.435.

Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 Trên cơ sở phân tích năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, bài viết đề xuất bốn giải pháp nâng cao năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước và năm giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định. Để thực hiện tốt các giải pháp trên thì một nội dung quan trọng là mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao trình độ tư duy lý luận, trau dồi, rèn luyện phương pháp biện chứng duy vật.

Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu dự Hội nghị trực tuyến toàn quốc các cơ quan nội chính triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng - Ảnh: tapchicongsan.org.vn

Cùng với việc khẳng định những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, Đại hội XIII cũng chỉ ra những hạn chế của công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII. Trong đó, có những hạn chế như: “Việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt và thực hiện một số nghị quyết còn chậm, chưa quyết liệt, chưa hiệu quả”(1); “Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn thấp”(2). Trong khi đó, tình hình trong nước và quốc tế có nhiều biến động, khó lường, khó dự báo.

Đại hội XIII đã đề ra nhiệm vụ “Tiếp tục tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới”(3). Thực hiện Nghị quyết Đại hội, việc nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đáp ứng yêu cầu tình hình mới là rất cần thiết.

Có nhiều cách tiếp cận về khái niệm lãnh đạo nhưng nhìn chung lãnh đạo được quan niệm là quá trình chủ thể ra quyết định (tức là xác định được mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển của tổ chức); tổ chức lực lượng, phương tiện, hình thành cơ chế, bộ máy... để thực hiện quyết định nhằm thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển, mục tiêu chiến lược đã đề ra; tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyết định; tổng kết việc thực hiện quyết định và rút ra các bài học kinh nghiệm cho việc ra quyết định tiếp theo.

Theo đó, năng lực lãnh đạo bao gồm năng lực ra quyết định; năng lực tổ chức thực hiện quyết định; năng lực tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyết định; năng lực tổng kết việc thực hiện quyết định và rút ra các bài học kinh nghiệm để điều chỉnh quyết định, tức là điều chỉnh mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển, mục tiêu chiến lược.

Đảng lãnh đạo trong điều kiện nắm giữ chính quyền được gọi tắt là đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền là đảng chính trị giành được quyền lực nhà nước và sử dụng quyền lực nhà nước thông qua và bằng pháp luật cùng các công cụ, phương tiện khác để thực hiện tầm nhìn, định hướng phát triển, mục tiêu chiến lược của đảng. Năng lực cầm quyền của đảng là năng lực giữ chính quyền nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước hợp lý để đề ra được chủ trương, đường lối, mục tiêu phát triển đúng đắn, lãnh đạo nhà nước và nhân dân thực hiện được mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển của đảng.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, sự cầm quyền của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, mục tiêu chiến lược của Đảng là xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Hiện nay, tình hình thế giới có những diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, khó dự báo, đặt ra yêu cầu đối với đảng cầm quyền là phải nắm bắt kịp thời những vấn đề của thời đại như: vấn đề an ninh phi truyền thống, vấn đề biến đổi khí hậu, tác động đa chiều của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thế giới đang có xu hướng chuyển sang đa cực, sự tranh giành quyền lực giữa các nước lớn, v.v.. Từ đó, có những chủ trương, chính sách phù hợp.

Ở trong nước, nền kinh tế đang phục hồi nhưng vẫn còn nhiều vấn đề xã hội đặt ra; vẫn còn những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, v.v.. Những vấn đề này đang đặt ra yêu cầu mới đối với Đảng trong lãnh đạo, cầm quyền.

Để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thì phải nâng cao năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước và năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định.

Hai năng lực này liên hệ, tác động lẫn nhau. Năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước sẽ tăng cường năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định. Ngược lại, năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định sẽ góp phần củng cố, tăng cường năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước.

1. Giải pháp nâng cao năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với chính quyền nhà nước

Thứ nhất, tăng cường xây dựng Đảng, chính quyền nhà nước trong sạch, vững mạnh toàn diện. Nếu Đảng không trong sạch, vững mạnh thì không thể có Nhà nước trong sạch, vững mạnh được.

Trong mọi thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt quan tâm công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng đủ năng lực lãnh đạo cách mạng. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, Đại hội XIII đề ra hệ thống 10 giải pháp đồng bộ để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đó là: (1) Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị; (2) Coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng; (3) Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức; (4) Đẩy mạnh xây dựng Đảng về tổ chức; (5) Củng cố nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên; (6) Tăng cường xây dựng Đảng về cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu; (7) Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; (8) Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; (9) Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; (10) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới(4).

Đảng và Nhà nước có trong sạch, vững mạnh toàn diện mới giúp Đảng củng cố, tăng cường giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước.

Đối với chính quyền nhà nước, Đại hội XIII đã đề ra các định hướng giải pháp: (1) Trên cơ sở tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, tập trung “nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, điều hành và năng lực kiến tạo phát triển”(5). (2) “Đẩy mạnh việc hoàn thiện pháp luật gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật”(6). (3) “Nâng cao năng lực tổ chức có hiệu quả hệ thống pháp luật, thể chế và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội”(7). (4) “Tập trung xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, bảo đảm công khai, minh bạch, quản lý thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả”(8). (5) “Xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”(9). (6) “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có tính chuyên nghiệp cao, có năng lực sáng tạo dựa trên cơ chế cạnh tranh về tuyển dụng, chế độ đãi ngộ và đề bạt; có phẩm chất đạo đức tốt và bản lĩnh chính trị vững vàng”(10).

Thực hiện được các định hướng giải pháp này thì sẽ góp phần nâng cao, tăng cường giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước của Đảng.

Thứ hai, thực hành dân chủ và giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Dân chủ, đoàn kết thống nhất trong Đảng là hạt nhân, nòng cốt của dân chủ, đoàn kết trong Nhà nước và trong xã hội. Vì Đảng ta vừa là thành viên vừa là hạt nhân lãnh đạo trong hệ thống chính trị.

Đoàn kết nhất trí là giá trị quý báu là nền tảng của năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Trong Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(11); “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”(12).

Thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng tức là thực hành dân chủ ở tất cả các cơ quan, các tổ chức của Đảng, trong toàn thể bộ máy của Đảng từ Trung ương đến cơ sở, trong các mặt của công tác xây dựng Đảng.

Thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng là cơ sở, nền tảng, hạt nhân để thực hành dân chủ rộng rãi trong toàn hệ thống chính trị và trong toàn xã hội. Do vậy, thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng không chỉ là con đường, biện pháp, cách thức tốt nhất để thực hiện đoàn kết, thống nhất trong Đảng mà còn là con đường, biện pháp, cách thức tốt nhất để thực hiện sự đoàn kết, thống nhất trong toàn hệ thống chính trị và trong toàn thể xã hội. Trên cơ sở đó mới nâng cao được năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước của Đảng.

Thứ ba, Đảng lãnh đạo, cầm quyền phải khoa học, dân chủ, các tổ chức của Đảng và đảng viên phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Để lãnh đạo, cầm quyền một cách khoa học thì những quyết định, chủ trương, đường lối của Đảng phải là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân; phản ánh được những vấn đề của thực tiễn cuộc sống, lợi ích của nhân dân, dân tộc; kế thừa được tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại; phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại.

Để lãnh đạo, cầm quyền một cách dân chủ, trước hết là trong nội bộ Đảng phải thực hành dân chủ; sự lãnh đạo, cầm quyền phải tuân theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Những quyết sách lớn của Đảng phải được tổ chức thảo luận rộng rãi, lấy ý kiến của đảng viên, chuyên gia, cán bộ lão thành nhiều kinh nghiệm, nhân dân và các tổ chức đảng từ cơ sở đến Trung ương.

Các cấp ủy cởi mở, dân chủ; các đảng viên thực hiện và phát huy quyền làm chủ của mình, phát biểu, trình bày ý kiến riêng, thậm chí chất vấn các cấp ủy đảng. Các cấp ủy đảng có thể tiếp thu ý kiến, có thể không tiếp thu. Ý kiến gì không tiếp thu phải có giải trình, giải thích rõ ràng.

Đảng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật trong việc giữ chính quyền nhà nước thì sự lãnh đạo, cầm quyền phải dựa trên các căn cứ pháp lý, nghĩa là tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.

Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng và thông qua Hiến pháp và pháp luật thì tính chính danh, tính chính đáng về sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng càng rõ ràng, càng công khai, càng minh bạch.

Để làm được điều này phải hoàn thiện Hiến pháp và hệ thống pháp luật liên quan đến vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước; vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân; của các tổ chức trong hệ thống chính trị cũng như mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; thể chế hóa cơ chế này một cách rõ ràng bằng các quy định mang tính pháp lý cụ thể. Đảng ta là lực lượng lãnh đạo và là lực lượng cầm quyền duy nhất cho nên cơ chế “Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ” cần phải được thể chế hóa bằng pháp luật, bằng phát huy dân chủ và trên cở căn cứ khoa học.

Nhà nước quản lý xã hội và công dân bằng pháp luật. Vai trò làm chủ của nhân dân vừa dựa trên cơ sở của pháp luật vừa dựa trên cơ sở của tự giác, tự quản. Nếu cơ chế này được phát huy tối đa thì năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước cũng như vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân được củng cố và tăng cường.

Do vậy, trong cơ chế này phải có quy chế hoạt động rõ ràng, rành mạch, chỉ rõ mối quan hệ giữa các chủ thể: Đảng và Nhà nước, giữa Đảng với nhân dân và chiều ngược lại giữa nhân dân với Đảng, giữa nhân dân với Nhà nước cũng như giữa Nhà nước với Đảng.

Cơ chế này có một mẫu số chung, đó là vì lợi ích của nhân dân, lợi ích của dân tộc, nhưng không vì thế mà không giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân cũng như mối quan hệ giữa nhân dân với Nhà nước và với Đảng.

2. Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định

Thứ nhất, nâng cao năng lực ra quyết định, tức là năng lực xác định đúng đắn mục tiêu, tầm nhìn, định hướng thể hiện trong chủ trương, đường lối, giữ vững vai trò lãnh đạo chính quyền nhà nước và năng lực lãnh đạo Nhà nước trong việc thực hiện chủ trương, đường lối mà Đảng đã đề ra.

Chủ trương, đường lối đúng đắn là phải phản ánh được quy luật vận động của thực tiễn chính trị, thể hiện được lợi ích của nhân dân. Muốn vậy, phải thu hút được sự đóng góp trí tuệ của toàn thể nhân dân, của các cơ quan nghiên cứu khoa học, đội ngũ các nhà lý luận và hoạt động thực tiễn, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên.

Việc lãnh đạo Nhà nước phải dân chủ, khoa học, không làm thay Nhà nước, đồng thời kiên quyết chống tình trạng lạm quyền, làm thay Nhà nước cũng như buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.

Thực hành dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng và trong toàn xã hội. Cùng với việc từng bước hoàn thiện cơ chế cụ thể để mỗi đảng viên thực hiện tốt các quyền bày tỏ quan điểm, ý kiến; quyền được thảo luận, trao đổi, chất vấn lãnh đạo các cấp; quyền bảo lưu ý kiến; quyền được có thông tin liên quan đến thực hiện nhiệm vụ của Đảng v.v.. thì phải tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng; xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm kỷ luật phát ngôn, vi phạm kỷ luật đảng.

Thứ hai, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống.

Trong điều kiện có chính quyền nhà nước, Đảng phải thông qua Nhà nước, lãnh đạo Nhà nước để tổ chức lực lượng, xác lập bộ máy, cơ chế, chính sách tổ chức thực hiện, đưa chủ trường, đường lối của Đảng vào cuộc sống.

Cùng với lãnh đạo Nhà nước tổ chức thực hiện chủ trường, đường lối, Đảng trực tiếp tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân thông qua tổ chức đảng, đảng viên, các cơ quan, tổ chức tuyên truyền, cổ động, vận động, thuyết phục các tầng lớp nhân dân đồng lòng thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng trong thực tế.

Để lôi cuốn được toàn thể nhân dân tham gia phong trào hành động đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống thì trước hết chủ trương, đường lối phải phản ánh được nguyện vọng, lợi ích chính đáng, hợp pháp của các tầng lớp nhân dân. Đồng thời, phải có chương trình, kế hoạch triển khai phù hợp với tình hình thực tế và toàn Đảng phải có quyết tâm cao.

Thứ ba, nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát các cơ quan nhà nước trong việc tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối. Để thực hiện tốt chức năng này cần phát huy được vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên. Đồng thời, phát huy vai trò của nhân dân trong việc tham gia giám sát, phản biện các khâu trong tổ chức thực hiện, đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống.

Kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện những tình huống, những vấn đề nảy sinh để có biện pháp xử lý ngay từ mầm mống. Các cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan, tổ chức có chức năng kiểm tra, giám sát thực hiện kiểm tra, giám sát phải phát hiện được thực chất của vấn đề nảy sinh, kịp thời tháo gỡ để phục vụ việc lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong tổ chức thực hiện, đưa chủ trương, đường lối vào cuộc sống.

Thứ tư, nâng cao năng lực tổng kết việc tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối. Muốn vậy, phải phát huy được vai trò của các nhà lý luận, các nhà hoạt động thực tiễn tham gia tổng kết thực tiễn. Năng lực tổng kết thực tiễn thể hiện cụ thể ở khả năng lựa chọn vấn đề để tổng kết đúng, trúng. Lựa chọn vấn đề đúng, trúng là xuất phát điểm cho việc phát huy được vai trò của công tác tổng kết thực tiễn.

Khi lựa chọn được vấn đề thực tiễn để tổng kết thì phải xây dựng kế hoạch, tổ chức lực lượng tổng kết; khảo sát, thu thập số liệu một cách khoa học, khách quan. Trên cơ sở đó, phân tích, khái quát hóa, tìm ra những mặt mạnh, những hạn chế, nguyên nhân của hạn chế, vấn đề đặt ra và đề xuất phương án giải quyết. Qua đó đúc rút các bài học kinh nghiệm cho việc hoàn thiện chủ trương, đường lối và tổ chức thực hiện tiếp theo.

Những kết luận được rút ra từ tổng kết thực tiễn phải có tính khái quát cao, đóng góp vào phát triển lý luận, có ý nghĩa gợi mở, soi đường, chỉ đạo việc hoàn thiện chủ trương, đường lối tiếp theo cũng như việc đưa chủ trương, đường lối vào cuộc sống.

Thứ năm, nâng cao năng lực vận dụng các bài học kinh nghiệm được đúc kết từ tổng kết thực tiễn tổ chức triển khai, đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống.

Các bài học kinh nghiệm thực tiễn được đúc kết chỉ có ý nghĩa quý báu khi được vận dụng vào thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo. Nếu các bài học được tổng kết công phu, nghiêm túc mà không được ứng dụng trong thực tiễn thì cũng không có giá trị.

Để nâng cao năng lực vận dụng các bài học kinh nghiệm được rút ra từ tổng kết thực tiễn, cần chú ý so sánh, đối chiếu các bài học kinh nghiệm đã được đúc kết với thực tiễn cuộc sống. Trên cơ sở đó có các căn cứ đề xuất việc điều chỉnh mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển, chủ trương, đường lối cũng như điều chỉnh việc tổ chức thực hiện.

Việc tổng kết và vận dụng các bài học phải khách quan, lịch sử cụ thể và gắn với nhu cầu thực tiễn. Thoát ly điều kiện lịch sử cụ thể, thoát ly hoàn cảnh thực tiễn, sẽ trở thành giáo điều hoặc kinh nghiệm chủ nghĩa trong lãnh đạo, chỉ đạo.

Để thực hiện tốt các giải pháp trên, toàn Đảng cần phải nâng cao trình độ tư duy lý luận, trau dồi, rèn luyện phương pháp biện chứng duy vật cho cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, phương pháp biện chứng duy vật với các nguyên tắc khách quan, phát triển, lịch sử cụ thể, thống nhất giữa lý luận với thực tiễn sẽ giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng có cơ sở, căn cứ để nâng cao năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước và năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định. Hai nhóm giải pháp cho việc giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước và năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định có mối quan hệ biện chứng, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau.

Nâng cao được năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước là cơ sở tiền đề nâng cao năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định. Nâng cao năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định là củng cố, tăng cường năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với Nhà nước trong mọi thời kỳ cách mạng.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 540 (tháng 02-2023)

Ngày nhận bài: 4-8-2022; Ngày bình duyệt: 07-02-2023; Ngày duyệt đăng: 21-02-2023.

 

(1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.199, 90, 91, 180-199, 284, 285, 285, 286, 287, 288

(11), (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.611, 611.

Từ Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 đến đường lối xây dựng và phát triển văn hóa của Đảng hiện nay.

 Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 là một văn kiện lịch sử vô giá, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cách mạng Việt Nam, chỉ ra con đường vận động, phát triển của nền văn hóa mới Việt Nam nhằm đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Sau 80 năm, những tư tưởng của Đề cương về văn hóa vẫn còn nguyên giá trị, được Đảng ta vận dụng, bổ sung, hoàn thiện trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.

Từ Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 đến đường lối xây dựng và phát triển văn hóa của Đảng hiện nay

Xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. (Trong ảnh: một gia đình tại làng cổ Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội) - Ảnh: vietnamnet.vn

Văn hóa, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, là thành quả hoạt động sáng tạo, kết tinh trí tuệ của con người. Con người là chủ thể văn hóa và văn hóa là thước đo sự phát triển tiến bộ, văn minh của con người. Khi hình thành các cộng đồng người, các dân tộc, giai cấp thì văn hóa mang dấu ấn cộng đồng, giai cấp, dân tộc. Dân tộc Việt Nam đã sớm hình thành các nền văn hóa. Văn hóa thời tiền sử: đó là các nền văn hóa Sơn Vi, Hòa Bình, Bắc Sơn, Quỳnh Văn, Hạ Long, Bàu Tró. Văn hóa định hình quốc gia, dân tộc: Văn hóa Phùng Nguyên cách ngày nay 4.000 năm, tiếp đó là văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn hình thành nền văn minh Sông Hồng. Với sự hội nhập từ văn hóa Đông Sơn đến văn hóa Sa Huỳnh (Nam Trung Bộ), văn hóa Óc Eo (Nam Bộ), văn hóa Việt Nam thống nhất trong tính đa dạng.

Quốc gia Đại Việt phát triển “Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” (Nguyễn Trãi - Bình Ngô đại cáo). Văn hiến là sự hội tụ của các yếu tố: văn hóa, học thức, đạo đức và cái đẹp. Trải qua lịch sử mấy nghìn năm, dân tộc Việt Nam nhiều lần phải chống xâm lược từ phương Bắc và phương Tây để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và cũng chống lại sự xâm lăng văn hóa, đồng hóa về văn hóa. Dân tộc Việt Nam đã đứng vững về chủ quyền lãnh thổ quốc gia và bảo toàn văn hóa dân tộc. Văn hóa còn nên dân tộc còn.

Năm 1943, phong trào cách mạng giải phóng dân tộc giành độc lập của Việt Nam do Đảng Cộng sản và lãnh tụ Hồ Chí Minh lãnh đạo phát triển mạnh mẽ. Với tầm nhìn chiến lược và nhận thức lý luận, thực tiễn sâu sắc về văn hóa, Đảng đã lãnh đạo thành lập Hội văn hóa Cứu quốc và công bố Đề cương về văn hóa Việt Nam nhằm thúc đẩy và phát huy vai trò của văn hóa và các nhà hoạt động văn hóa góp phần vào thắng lợi của dân tộc trong sự nghiệp giải phóng và phát triển.

Khái niệm văn hóa mà bản đề cương đề cập là văn hóa tinh thần thuộc ý thức xã hội. “Văn hóa bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật”. Với nhận thức khoa học, đề cương nêu rõ mối “quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, chính trị”, quan hệ giữa hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc. Đề cương nêu rõ: “Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa) ở đó người cộng sản phải hoạt động”(1). Trong hoàn cảnh một nước phong kiến và thuộc địa, cách mạng Việt Nam “Không phải chỉ làm cách mạng chính trị mà còn phải làm cách mạng văn hóa nữa”. Trên thực tế, các thế lực thực dân, phát xít đã thực hành ở Việt Nam chính sách văn hóa phản động, ngu dân, áp đặt văn hóa của nước đi xâm lược, nên cách mạng văn hóa là tất yếu.

Bản đề cương nêu rõ quan điểm của người cộng sản về cách mạng văn hóa. Văn hóa bao gồm cả tư tưởng, văn chương, nghệ thuật thuộc ý thức xã hội. Ý thức xã hội tiến bộ, tích cực có vai trò cải tạo xã hội, biến đổi tồn tại xã hội. “Phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội”(2). Cách mạng văn hóa muốn hoàn thành phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Cách mạng chính trị thắng lợi thì cách mạng văn hóa mới thành công. Cách mạng văn hóa dựa vào thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập hoàn toàn “xây dựng nên một nền văn hóa mới”. Nền văn hóa mới “sẽ là văn hóa xã hội chủ nghĩa”.

Ba nguyên tắc xây dựng nền văn hóa mới được đề ra:

“a) Dân tộc hóa (chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa khiến cho văn hóa Việt Nam phát triển độc lập).

b) Đại chúng hóa (chống mọi chủ trương hành động làm cho văn hóa phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng).

c) Khoa học hóa (chống lại tất cả những cái gì làm cho văn hóa trái khoa học, phản tiến bộ).

Muốn cho ba nguyên tắc trên đây thắng, phải kịch liệt chống những xu hướng văn hóa bảo thủ, chiết trung, lập dị, bi quan, thần bí, duy tâm, v.v.. Nhưng đồng thời cũng phải chống xu hướng văn hóa quá trớn của bọn tờrốtkít”(3).

Các nội dung văn hóa được nhấn mạnh: về học thuyết tư tưởng làm cho “thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thắng”, về tông phái văn nghệ (văn chương, nghệ thuật) “làm cho xu hướng tả thực xã hội chủ nghĩa thắng”. Tranh đấu về tiếng nói, chữ viết, làm giàu tiếng nói, ấn định mẹo văn ta, cải cách chữ quốc ngữ. Chú trọng các giải pháp: tuyên truyền và xuất bản, tổ chức các nhà văn, giành quyền lợi cho nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ..., chống nạn mù chữ. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng vô sản mácxít với văn hóa.

Dù ngắn gọn, bản đề cương đã trình bày rõ, đầy đủ những quan điểm, nguyên tắc, đường lối, chính sách văn hóa của Đảng với những nội dung cơ bản có ý nghĩa khoa học và thực tiễn chỉ đạo lâu dài xây dựng nền văn hóa cách mạng do Đảng lãnh đạo, bảo đảm cho nền văn hóa mới đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh và phát triển của dân tộc, đất nước.

Trước khi công bố Đề cương về văn hóa Việt Nam, Ban Thường vụ Trung ương Đảng tại Nghị quyết ban hành ngày 28-2-1943 đã nêu rõ quan điểm, chủ trương đẩy mạnh vận động văn hóa. Phái cán bộ chuyên môn hoạt động về văn hóa để gây dựng phong trào văn hóa tiến bộ, văn hóa cứu quốc. “Ở những đô thị văn hóa như Hà Nội, Sài Gòn, Huế, v.v. phải gây ra những tổ chức văn hóa cứu quốc và phải dùng những hình thức công khai hay bán công khai đặng đoàn kết các nhà văn hóa và trí thức (ví dụ có thể tổ chức những nhóm “văn hóa tiền phong”, “nhóm nghiên cứu chủ nghĩa Mác”, “nhóm nghiên cứu lịch sử Việt Nam”), v.v.”(4).

Năm 1943, Hội văn hóa Cứu quốc ra đời ở Hà Nội, tập hợp đông đảo trí thức, văn nghệ sĩ hoạt động theo đường lối của Đảng và Chương trình của Mặt trận Việt Minh, nhất là tư tưởng chỉ đạo của Đề cương về văn hóa Việt Nam. Đồng chí Lê Quang Đạo được Đảng phân công trực tiếp chỉ đạo hoạt động của Hội văn hóa Cứu quốc. Tổ chức Hội đã phát triển rộng trên phạm vi cả nước. Hội văn hóa Cứu quốc và đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ hoạt động trên mặt trận văn hóa đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp của Đảng và dân tộc dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Các nhà trí thức, hoạt động văn hóa đã là đại biểu của Đại hội quốc dân Tân Trào, tham gia Ủy ban giải phóng dân tộc, Chính phủ lâm thời, được bầu vào Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là thành viên Chính phủ chính thức, Ủy ban xây dựng kế hoạch kiến thiết quốc gia, đóng góp tích cực vào sự nghiệp kháng chiến kiến quốc.

Cùng với đường lối kháng chiến, xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, phát triển kinh tế, Đảng đề ra chủ trương phát triển văn hóa trong Chỉ thị ngày 25-11-1945: “Về văn hóa, tổ chức bình dân học vụ, tích cực bài trừ nạn mù chữ, mở đại học và trung học, cải cách việc học theo tinh thần mới, bài trừ cách dạy học nhồi sọ, cổ động văn hóa cứu quốc, kiến thiết nền văn hóa mới theo ba nguyên tắc: khoa học hóa, đại chúng hóa, dân tộc hóa”(5).

Những năm tháng đầu tiên của Nhà nước cách mạng, quần chúng nhân dân không chỉ hiểu thấu giá trị của độc lập, tự do mà còn được thụ hưởng văn hóa mới, xây dựng đời sống mới, khi nhân dân trở thành người chủ đất nước, xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra những chủ trương cấp thiết là chống nạn mù chữ, nâng cao dân trí, tìm kiếm nhân tài: “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”(6). Hồ Chí Minh mong muốn dân tộc Việt Nam “bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu” và “chúng ta là một dân tộc văn minh”. Ngày 24-11-1946, tại Hội nghị văn hóa toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò của văn hóa với quan điểm “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Giá trị văn hóa mới với bản chất tiến bộ, tiên phong thúc đẩy sự phát triển của dân tộc, đất nước.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng chủ trương kháng chiến toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa. Văn hóa là mặt trận rất quan trọng trong sự nghiệp cứu nước với khẩu hiệu “Văn hóa hóa kháng chiến”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định văn hóa, văn nghệ là một mặt trận, anh chị em văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Hồ Chí Minh nêu rõ quan điểm: “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”(7).

Những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960) đã đề ra chủ trương tiến hành 3 cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất, về khoa học - kỹ thuật và về tư tưởng, văn hóa. Cách mạng tư tưởng, văn hóa gắn liền với xây dựng con người của xã hội mới. Văn hóa, tư tưởng có vai trò to lớn trong cải biến, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Cuộc cách mạng đó đào luyện con người mới với tư cách chủ thể trong sự nghiệp sáng tạo xã hội mới. Hồ Chí Minh nêu rõ: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”(8).

Đảng và Nhà nước chăm lo sự nghiệp “trồng người” với một nền giáo dục nghiêm cẩn, sáng tạo, ưu việt của hệ thống nhà trường xã hội chủ nghĩa, kết hợp với giáo dục trong gia đình, ngoài xã hội và tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện. Vì vậy, đã có được những lớp người sẵn sàng đem hết tài năng, công sức xây dựng đất nước và đi bất cứ đâu, sẵn sàng hy sinh cứu nước, nêu cao tinh thần tập thể, ý thức làm chủ, với phong cách sống: “mình vì mọi người, mọi người vì mình”.

Khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, đường lối của Đảng hướng đất nước thực hiện xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa, tạo nên sức mạnh tổng hợp, vượt qua khó khăn, thách thức, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Chính chủ thể là con người năng động, sáng tạo, đổi mới tư duy, vượt qua những nhận thức bảo thủ, trì trệ, giáo điều, nóng vội, đi từ đổi mới từng phần đến khẳng định đường lối đổi mới tại Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986).

Khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đại hội VI chủ trương lấy nhiệm vụ đổi mới cơ chế, chính sách kinh tế làm trung tâm, đồng thời đặt cao vai trò của văn hóa thúc đẩy cải tạo xã hội và phát triển chế độ chính trị, kinh tế vững mạnh. “Mỗi hoạt động văn hóa, văn nghệ đều phải tính đến hiệu quả xã hội, tác động tốt đến tư tưởng, tâm lý, tình cảm, nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình độ thẩm mỹ của nhân dân. Quan tâm đáp ứng nhu cầu, thị hiếu lành mạnh của các tầng lớp xã hội và các lứa tuổi”(9). “Chống những tàn tích văn hóa phong kiến, thực dân, tư sản. Làm thất bại âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch biến văn hóa, văn nghệ thành phương tiện gieo rắc tâm lý bi quan và lối sống sa đọa. Bài trừ mê tín dị đoan, hủ tục”(10).

Những năm đầu đổi mới, trước tác động tiêu cực của sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô, sự phá hoại của các thế lực thù địch sử dụng công cụ văn hóa, văn nghệ, báo chí, phát thanh trong chiến dịch “Chuyển lửa về quê nhà”, Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam đã bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo đảm cho công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội phát triển lành mạnh, vững chắc và có thành tựu lớn cả về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và đời sống mọi mặt của nhân dân.

Nhận thức lý luận và thực tiễn về vai trò của văn hóa không ngừng phát triển. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội VII của Đảng (tháng 9-1991) thông qua và Cương lĩnh bổ sung, phát triển tại Đại hội XI (tháng 1-2011) đều nêu rõ một trong các đặc trưng mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là: Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Để cụ thể hóa quan điểm của Đại hội Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Nghị quyết Trung ương 5 Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Quá trình thực hiện Nghị quyết của Trung ương đã đạt nhiều thành quả về xây dựng, phát triển văn hóa trong quá trình đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, đồng thời cũng đòi hỏi phải tổng kết làm rõ hơn quan điểm, chủ trương về văn hóa phù hợp với thực tiễn đất nước và quan hệ quốc tế.

Văn hóa luôn luôn gắn liền với chủ thể là con người, con người sáng tạo không ngừng các giá trị văn hóa và văn hóa góp phần xây dựng và hoàn thiện con người. Ngày 9-6-2014, Hội nghị Trung ương 9 khóa XI ban hành Nghị quyết Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Nghị quyết nêu rõ mục tiêu chung: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(11). Nghị quyết đề ra 5 mục tiêu cụ thể, trong đó mục tiêu hàng đầu là hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật, đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi con người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước.

Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI khẳng định 5 quan điểm, trong đó quan điểm hàng đầu là: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang với kinh tế, chính trị, xã hội”(12). Đảng chú trọng bảo đảm bản sắc của văn hóa, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người, con người có đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo. Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng; phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa. Xây dựng, phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức có vai trò quan trọng. Đảng đã đề ra những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể để xây dựng, phát triển văn hóa, con người trong thời kỳ mới.

Những quan điểm, nhiệm vụ do Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI đề ra nhằm chủ động, tích cực phòng ngừa, ngăn chặn “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng”. Khắc phục tình hình đời sống văn hóa, tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu, khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân. Môi trường văn hóa còn tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục, tệ nạn xã hội, tội phạm có chiều hướng gia tăng. Khắc phục tình trạng còn ít những tác phẩm văn chương, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nghệ thuật và những tiêu cực khác trong đời sống văn hóa, xã hội.

Có một thực tế là, trong công cuộc đổi mới, có nhiều thành tựu to lớn về kinh tế, song lại có biểu hiện xuống cấp về văn hóa, đạo đức, lối sống. Điều đó đặt ra sự cần thiết phải nhận thức sâu sắc hơn về vai trò xây dựng, phát triển văn hóa, con người, có những chính sách, giải pháp thích hợp để phát triển hài hòa kinh tế và văn hóa nhằm củng cố chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực tế cũng đòi hỏi mỗi người, mỗi tập thể, cộng đồng chăm lo hơn đời sống văn hóa, kết hợp đúng đắn đời sống vật chất với đời sống tinh thần, tình cảm vì những giá trị hạnh phúc thật sự.

Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) là bước tiến rất quan trọng trong nhận thức tầm cao và ý nghĩa của văn hóa khi nhấn mạnh các hệ giá trị: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Quan tâm chăm lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên. Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội”(13).

Xây dựng, phát triển văn hóa, xây dựng con người với những hệ giá trị và chuẩn mực là sự bảo đảm lành mạnh hóa đời sống xã hội và góp phần rất quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, tạo động lực để xây dựng, phát triển kinh tế. Tất cả đều hướng tới mục tiêu vì một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Ngày 24-11-2021, tại Hội nghị văn hóa toàn quốc ở Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài phát biểu rất quan trọng làm rõ những quan điểm cơ bản, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, phát triển văn hóa và con người mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Tổng Bí thư nêu rõ: “dù theo nghĩa rộng hay hẹp thì khi đã nói đến văn hóa là nói đến những gì là tinh hoa, tinh túy nhất, được chưng cất, kết tinh, hun đúc thành những giá trị tốt đẹp, cao thượng, đặc sắc nhất, rất nhân văn, nhân ái, nhân nghĩa, nhân tình, tiến bộ (một con người có văn hóa, một gia đình có văn hóa, một dân tộc có văn hóa; lối sống văn hóa, nếp sống văn hóa, cách ứng xử có văn hóa,...). Còn những gì xấu xa, việc làm ti tiện, đớn hèn, những hành động phi pháp, bỉ ổi... là vô văn hóa, phi văn hóa, phản văn hóa. Hạnh phúc của con người không phải chỉ ở chỗ nhiều tiền, lắm của, ăn ngon, mặc đẹp, mà còn ở sự phong phú về tâm hồn, được sống giữa tình thương và lòng nhân ái, lẽ phải và công bằng”.

Đã 80 năm Đề cương về văn hóa Việt Nam, sức sống, ý nghĩa của Cương lĩnh đầu tiên của Đảng về văn hóa vẫn trường tồn và phát triển phong phú, sáng tạo đến hôm nay và mãi mãi.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 540 (tháng 02-2023)

Ngày nhận bài: 17-02-2023; Ngày bình duyệt: 18-02-2023; Ngày duyệt đăng: 21-02-2023.

 

(1), (2), (3), (4) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.316, 318, 319, 301.

(5) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.8, Sđd, tr.28.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.7.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Sđd, tr.246.

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.13, Sđd, tr.66.

(9), (10) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.47, Sđd, tr.426, 427.

(11), (12) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2014, tr.46-47, 48.

(13) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.143.