Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2023

NHẬN DIỆN THAM NHŨNG, TIÊU CỰC!

         Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Một việc làm cần thiết, tất yếu; một xu thế không thể đảo ngược!
     Vì sao chúng ta phải kiên quyết đấu tranh, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực?
     Câu hỏi này được đặt ra trong bối cảnh có một số ý kiến cho rằng nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm "nhụt chí", "chùn bước" những người dám nghĩ, dám làm và làm "chậm" sự phát triển của đất nước. Trong khi thực tiễn cho thấy hoàn toàn ngược lại. Cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực đã góp phần rất quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, đặc biệt là đã từng bước lấy lại và củng cố niềm tin của nhân dân.
     Chúng ta cần thống nhất quan điểm: Mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước. Đây là cuộc đấu tranh chống "giặc nội xâm", không phải là cuộc đấu giữa các "phe cánh" hay "đấu đá nội bộ", như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu.
     Qua hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 13 của Đảng đã khẳng định: "Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".
     Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, mặt tích cực là cơ bản, chúng ta vẫn còn không ít những khuyết điểm, hạn chế và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, trong đó có những hạn chế, thách thức đã được chỉ ra từ nhiều nhiệm kỳ Đại hội trước nhưng đến nay vẫn tồn tại và có mặt còn diễn biến phức tạp hơn, trong đó có tệ tham nhũng, tiêu cực.
     Để làm rõ thêm một số vấn đề đúc kết có tính lý luận và thực tiễn về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta hiện nay, trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ tập trung phân tích đánh giá một số nội dung, đó là: Tham nhũng, tiêu cực là gì? Tác hại ra sao? Nhận thức của Đảng và Nhà nước ta về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực? Những kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn? Đặc biệt là phải làm như thế nào để tiếp tục ngăn chặn, đẩy lùi nạn tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới?

Nhận diện đúng
về tham nhũng, tiêu cực
     Chúng ta đều biết, tham nhũng (tham ô, nhũng nhiễu) là hiện tượng xã hội tiêu cực, xấu xa mà thời nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có; đó là "khuyết tật bẩm sinh" của quyền lực. Các quốc gia tồn tại và phát triển vững mạnh đều quan tâm và tiến hành đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả.
     Theo Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003: "Tham nhũng là sự lợi dụng quyền lực của nhà nước để trục lợi riêng". Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 của Việt Nam đã xác định: "Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi". Như vậy, về bản chất, nói một cách nôm na, dễ hiểu như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy thì tham nhũng là hành vi "ăn cắp của công làm của tư".
     So với "tham nhũng" thì "tiêu cực" có nghĩa rộng hơn, do đó, phải xác định phạm vi của tiêu cực mà chúng ta cần tập trung phòng, chống là những hành vi có liên quan đến tham nhũng; đó là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tham nhũng là một loại hành vi tiêu cực do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện, là loại biểu hiện cụ thể của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tham nhũng và tiêu cực, nhất là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống có mối quan hệ gắn bó mật thiết, chặt chẽ với nhau; nguyên nhân cơ bản, trực tiếp của tham nhũng là do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tiêu cực là môi trường làm nảy sinh tham nhũng; tham nhũng tác động trở lại làm trầm trọng hơn tình trạng tiêu cực.
     Nếu chỉ phòng, chống tham nhũng về tiền bạc, tài sản thôi thì chưa đủ, mà nguy hại hơn là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đây mới là cái gốc của tham nhũng; không suy thoái, hư hỏng thì làm gì dẫn đến tham nhũng? Tiền bạc, tài sản có thể còn thu hồi được, nhưng nếu suy thoái về đạo đức, tư tưởng là mất tất cả. Vì vậy, phòng, chống tiêu cực, mà trọng tâm là phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, tức là trị tận gốc của tham nhũng.
     Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã sớm nhận thức và ngày càng xác định rõ hơn về nguy cơ, tác hại của tệ tham nhũng, tiêu cực đối với Đảng, chế độ và sự nghiệp xây dựng đất nước. Ngay từ những ngày đầu mới giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân và Chính phủ là "giặc ở trong lòng", "giặc nội xâm".
     Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như khi đất nước được hoàn toàn thống nhất, dù phải tập trung cao độ cho việc thực hiện các nhiệm vụ nặng nề, khó khăn, cấp bách của cách mạng nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn không sao nhãng công tác đấu tranh phòng, chống tệ tham nhũng, tiêu cực.
     Bước vào thời kỳ đổi mới, trước tình trạng tham nhũng, tiêu cực ngày càng bộc lộ rõ nét, diễn biến phức tạp, Đảng ta đã nhiều lần chỉ rõ: Tham nhũng "làm giảm lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của các cơ quan nhà nước" (Đại hội 6); "đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước" (Đại hội 11); "là thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước" (Đại hội 12).
     Đặc biệt, từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ Đại hội 7 (tháng 1/1994), tham nhũng được Đảng ta nhận diện là một trong bốn nguy cơ đối với Đảng và cách mạng Việt Nam, đến Đại hội 9 đã trở thành "một nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta" và đến nay "vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ" (Đại hội 13).
      Điều đó cho thấy chúng ta chưa bao giờ chủ quan; trái lại, luôn luôn đặt cảnh báo về nguy cơ và sự tác hại của tệ tham nhũng ở mức độ cao nhất.
               Tổng bí thư
        Nguyễn Phú Trọng./.
Yêu nước ST.

LỆNH CẤM VẬN DÀI NHẤT LỊCH SỬ HIỆN ĐẠI..!!!

     Đây là hệ thống trừng phạt đơn phương bất hợp pháp và kéo dài nhất được áp dụng đối với một quốc gia trong lịch sử thế giới hiện đại.

Cách đây hơn 60 năm, vào tháng 10/1960, Mỹ đã tiến hành phong tỏa và áp đặt các biện pháp trừng phạt toàn diện đối với Cuba. Lệnh cấm vận lâu dài nhất trong lịch sử thế giới này đã ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế và người dân của hòn đảo Tự do... 

Các ngành sản xuất trong nước bị suy thoái nghiêm trọng, không đáp ứng được các mặt hàng thiết yếu, bao gồm lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và thiết bị y tế. Đối với Mỹ, những lệnh trừng phạt này cũng gây thiệt hại cho chính các doanh nghiệp Mỹ hàng tỷ đô la do không thể giao dịch được với một thị trường đầy hứa hẹn ngay bên cạnh nước Mỹ.

Nguồn cơn của hơn 60 năm phong tỏa, thù địch
Cuba được mệnh danh là hòn đảo thiên đường ở vùng biển Caribe, vốn là thuộc địa của Tây Ban Nha, nằm trong khu vực lợi ích của Mỹ. Năm 1820, Tổng thống thứ ba của nước Mỹ, Thomas Jefferson viết, Cuba sẽ là "một sự bổ sung tuyệt vời nhất vào hệ thống các bang của đất nước chúng ta." Vào giữa thế kỷ này, nước Mỹ đã tìm cách mua lại hòn đảo này từ Tây Ban Nha, nhưng thỏa thuận không thành.

Bản thân Cuba lúc đó không muốn tiếp tục tồn tại như một thuộc địa. Cuba lúc đó đã tìm đến quan hệ với Mỹ để thực hiện khát vọng tự do của mình. Các cuộc chiến tranh giành độc lập đã tàn phá đất nước, các nhà đầu tư Mỹ đã tận dụng cơ hội này để mua lại các vùng lãnh thổ của Cuba.

Năm 1898, cuộc đấu tranh giải phóng một lần nữa lại bùng nổ trên hòn đảo này và lúc đó người Mỹ không thể không can thiệp, bởi vì nó không chỉ liên quan đến lợi ích của họ, mà còn đe dọa nhiều công dân Mỹ sống và làm việc ở đó. Sự can thiệp của Mỹ đóng một vai trò quyết định trong cuộc chiến với Tây Ban Nha. Giành được độc lập, nhưng chỉ về mặt hình thức, trên thực tế, Cuba thoát khỏi ách đo hộ của của Tây Ban Nha, nhưng lại rơi vào vòng kiểm soát của Mỹ.

Mỹ dần dần củng cố vị thế của mình. Đến năm 1926, người Mỹ đã chiếm quyền sở hữu 60% ngành công nghiệp mía đường và nhập khẩu 95% sản lượng đường của Cuba. Quốc gia nửa thuộc địa này trở thành "vựa đường của Mỹ".

Mỹ đã ủng hộ và đứng về phía các chính phủ Cuba được thành lập sau các cuộc đảo chính. Fulgencio Batista trở thành người trung thành và gần gũi nhất với Washington. Trong thời kỳ F. Batista cầm quyền, Cuba đã biến thành ốc đảo du lịch của giới thượng lưu Mỹ giàu có. Các giới mafia của Mỹ kiểm soát nhiều sòng bạc và nhà thổ ở Havana. Nạn tham nhũng phát triển mạnh mẽ. Nền kinh tế Cuba trở nên phụ thuộc vào Mỹ.

Trong thế kỷ 20, nhiều cuộc cách mạng XHCN đã bùng nổ ở các nước trên thế giới. Cuối những năm 1950, những nhà cách mạng nổi tiếng như Ernesto Che Guevara và Fidel Castro đã đứng lên phát động phong trào đấu tranh lật đổ chế độ Batista.

Năm 1958, khi cuộc chiến tranh bước vào giai đoạn quyết định, biết tình thế không thể đảo ngược được, những người cách mạng sẽ thắng, Mỹ đã chấm dứt cung cấp vũ khí cho chính quyền Batista. Không thể chống đỡ được các lực lượng cách mạng, năm 1959, Batista chạy khỏi đất nước và F. Castro giành chính quyền trở thành người đứng đầu của nhà nước Cuba mới.

Người Mỹ nhanh chóng hiểu rằng, các nhà lãnh đạo mới hoàn toàn không còn là bạn nữa. Chính quyền F. Castro đi theo đường lối của Liên Xô. Ngay sau khi nắm chính quyền, ban lãnh đạo Cuba đã tiến hành xóa bỏ quyền sở hữu tư nhân và quốc hữu hoá các nhà máy, xí nghiệp của Mỹ mà không trả bất kỳ khoản bồi thường nào.

Mỹ đã trả đũa mạnh mẽ, ngừng mua đường và không bán nhiên liệu cho Cuba. Tiếp theo là các biện pháp trừng phạt khác. Mỹ quyết định chấm dứt viện trợ cho bất kỳ nước nào hợp tác với chính phủ mới của Cuba, đồng thời cấm bán bất kỳ hàng hóa nào cho Cuba có thể được sử dụng vào mục đích chiến tranh. Chính phủ F. Casstro đã phải tìm đến sự giúp đỡ của Liên Xô.

Liên Xô đã ủng hộ mạnh mẽ chính quyền của F. Castro, đồng ý mua đường và bán dầu cho Cuba. Mỹ không thể để Cuba đưa Liên Xô, đối thủ số một đến sát biên giới của mình. Năm 1960, Tổng thống Dwight Eisenhower đã ban hành sắc lệnh cấm vận toàn diện chống chính quyền Cuba non trẻ.

Cùng với cấm vận kinh tế, Mỹ cũng đã chuẩn bị lực lượng tấn công Cuba. Ngay sau khi cách mạng Cuba thắng lợi, Cơ quan tình báo Mỹ (CIA) bắt đầu tìm cách loại bỏ chế độ của Fidel Castro. Họ dựa vào một bộ phận không hài lòng với chính quyền mới và sẵn sàng hợp tác với Mỹ lật đổ F. Castro.

Vào thời điểm đó, tại Cuba có một số nhóm vũ trang ngầm hoạt động chống lại chính quyền mới. Những người Cuba di tản sang Mỹ cũng đang chờ thời trả thù để trở về hòn đảo này. Washington đã nuôi dưỡng những phần tử này để chuẩn bị kế hoạch tấn công quân sự Cuba.

Đầu năm 1961, Mỹ đã chuẩn bị đưa 1.500 người Cuba lưu vong có vũ trang đổ bộ vào nước này. Các nhóm chống F. Castro ở các thành phố lớn bên trong Cuba cũng chuẩn bị đồng loạt nổi dậy. Theo kế hoạch, sau khi giành được quyền kiểm soát, các lực lượng này sẽ yêu cầu Mỹ can thiệp và CIA hứa Mỹ sẽ đáp ứng tích cực.

Tuy nhiên, biết được âm mưu này, chính quyền cách mạng đã chuẩn bị các phương án và chủ động hành động. Họ bắt giữ các thủ lĩnh của "đội quân thứ năm", tiến hành nguỵ trang, thay thế máy bay tại các sân bay bằng hình nộm để tránh thiệt hại do không quân Mỹ không kích. Đồng thời, chính quyền Havana đã mở một chiến dịch tuyên truyền toàn diện trong dân chúng sau khi biết kế hoạch đổ bộ của Mỹ.

Quân đội Cuba đã đánh bại nhóm đổ bộ tại bãi biển Playa Giron (Vịnh Con Lợn), bắt hầu hết binh lính của nhóm này làm tù binh và bắn rơi 12 máy bay Mỹ. Mỹ đã không giấu giếm được sự tham gia của mình vào chiến dịch này. Cộng đồng thế giới đã lên án hành động xâm lược của Mỹ. Tổng thống J. Kennedy lúc đó đã tỏ ra thất vọng đối với thất bại của CIA.

Chiến thắng Vịnh Playa Giron trở thành mốc quan trọng nhất của cách mạng Cuba. Cuối năm đó, Cuba đã trao trả số tù binh cho Mỹ mà người Cuba gọi là "gusanos" ("những con sâu") để đổi lấy một lô hàng thực phẩm và thuốc men trị giá 53 triệu USD.

Quan hệ Cuba - Liên Xô
Sau thất bại, Mỹ tìm cách trả thù, gia tăng các biện pháp trừng phạt Cuba. Cuba đã phải đề nghị Liên Xô giúp đỡ.

Người em trai của F. Castro là Raul Castro đã bay sang Moscow gặp Tổng Bí thư đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushev. Liên Xô đã đáp ứng tích cực, cung cấp vũ khí và cử chuyên gia sang giúp Cuba. Do chính sách thân Liên Xô như vậy, CIA đã nhiều lần tìm cách ám sát F. Castro, nhưng không thành.

Mối quan hệ hữu nghị này đã đẩy Mỹ và Liên Xô lúc đó đến bờ vực của một cuộc chiến tranh hạt nhân. Mỹ đã đưa tên lửa mang đầu đạn hạt nhân đến Thổ Nhĩ Kỳ và Italia có thể bắn tới Moscow. Đáp lại, Liên Xô đã triển khai các đơn vị tên lửa của mình ở Cuba.

Nhận biết được khả năng xảy ra chiến tranh, Mỹ đã chuẩn bị cho một cuộc chiến toàn diện. Cuối tháng 10/1962, các tàu của hải quân Mỹ tiến hành một cuộc phong tỏa trên biển, lập một vành đai cách bở biển Cuba 500 hải lý, ngăn chặn các tàu Liên Xô mang đầu đạn hạt nhân cập bến Cuba.

F. Castro không tin vấn đề sẽ được giải quyết bằng biện pháp hoà bình đã kêu gọi Liên Xô không nên chờ cuộc xâm lược xảy ra rồi mới đánh trả mà tiến hành một cuộc tấn công phủ đầu vào lãnh thổ nước Mỹ bằng vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, N. Khrushchev đã đi đến một thỏa thuận với J. Kennedy, theo đó Mỹ đảm bảo sẽ không tấn công Cuba, rút tên lửa khỏi Thổ Nhĩ Kỳ, Italia và Liên Xô sẽ rút tên lửa khỏi Cuba.

Sau sự kiện này, quan hệ Cuba-Liên Xô trở nên có phần nguội lạnh. Tuy nhiên, Havana vẫn giữ quan hệ hữu nghị thân thiết với Moscow cho đến khi phe xã hội chủ nghĩa sụp đổ đầu những năm 1990.

Sau cuộc khủng hoảng tên lửa năm 1962, các tàu chiến Mỹ rời bờ biển Cuba. Cuộc phong tỏa hải quân kết thúc, nhưng phong tỏa kinh tế không những vẫn được duy trì mà còn tăng cường trong nhiều thập kỷ.

Lệnh cấm vận
khắc nghiệt nhất
lịch sử hiện đại
Các lệnh trừng phạt của Mỹ chống Cuba mang tính chất hệ thống. Đây là lệnh cấm vận lâu dài, khắc nghiệt và toàn diện nhất trong lịch sử hiện đại.

Lần đầu tiên Mỹ áp đặt lệnh cấm vận bán vũ khí cho Cuba là vào ngày 14/3/1958, dưới chế độ Fulgencio Batista. Hai năm sau khi cách mạng Cuba thắng lợi, ngày 19/10/1960, Mỹ đã áp đặt lệnh cấm vận xuất khẩu hàng hoá sang Cuba, ngoại trừ thực phẩm và thuốc men. Ngày 7/2/1962, Tổng thống J. Kennedy đã ký sắc lệnh mở rộng phạm vi cấm vận, bao gồm hầu như tất cả các mặt hàng xuất khẩu của Cuba.

Ngoài ra, Mỹ còn ban hành nhiều đạo luật khác chống Cuba, trong đó có Đạo luật viện trợ nước ngoài (1961), Quy chế kiểm soát tài sản Cuba (1963), Đạo luật dân chủ Cuba (1992) nhằm duy trì các biện pháp trừng phạt Cuba chừng nào chính phủ Cuba không chịu tiến tới "dân chủ hóa và tôn trọng quyền con người", Đạo luật Helms – Burton (1996) nghiêm cấm các công dân Mỹ tham gia buôn bán với Cuba và không được giúp đỡ cho bất kỳ chính phủ kế nhiệm nào ở Havana, Đạo luật Cải cách trừng phạt thương mại và xuất khẩu (2000).

Năm 1999, Tổng thống Bill Clinton đã mở rộng lệnh cấm vận thương mại bằng cách không cho phép các công ty chi nhánh của các công ty Mỹ ở nước ngoài buôn bán với Cuba. Năm 2002, cựu Tổng thống J. Carter đã kêu gọi nới lỏng các biện pháp trừng phạt Cuba, nhưng Tổng thống G.W. Bush không những đã bác bỏ mà còn siết chặt hơn trong lĩnh vực thương mai.

Dưới thời Tổng thống B. Obama, quan hệ Mỹ-Cuba đã có nhiều dấu hiệu tan băng.

Ngày 21/1/2015, hai nước bắt đầu đàm phán bình thường hoá quan hệ. Ngày 11/4/2015, Tổng thống B. Obama và Chủ tịch R. Castro đã gặp nhau tại Hội nghị thượng đỉnh châu Mỹ ở Panama. Ngày 20/7/2015, Mỹ và Cuba đã mở lại Đại sứ quán tại Thủ đô của nhau bị đóng cửa từ năm 1961. Nhiều lệnh cấm vận Cuba được dỡ bỏ. Ngày 20/3/2016, B. Obama trở thành Tổng thống Mỹ đầu tiên thăm Cuba kể từ chuyến thăm của Calvin Coolidge năm 1928, mở ra triển vọng kết thúc 55 năm thù địch giữa hai nước.

Tuy nhiên, tất cả đều bị lật lại nhanh chóng khi Tổng thống D. Trump thuộc đảng Cộng hoà lên nắm quyền.

Ngày 16/6/2017, D. Trump đã ban hành Bản ghi nhớ về An ninh quốc gia (NSPM) tăng cường chính sách cấm vận của Mỹ đối với Cuba. Ngày 8/11/2017, Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại và Kho bạc nhà nước đã siết chặt các biện pháp cấm vận chống Cuba theo NSPM. Từ năm 2018, lệnh cấm vận được thực hiện theo đạo luật chống lại kẻ thù của nước Mỹ (CAATSA) năm 2017.

Ngoài ra, Tổng thống D. Trump đã áp dụng thêm 243 biện pháp phong tỏa mới, cấm du khách Mỹ đến Cuba lưu trú trong các khách sạn thuộc sở hữu của chính phủ, không được mang về nước xì gà và rượu rum của Cuba, cấm người Mỹ tham dự hoặc tổ chức các cuộc họp, hội thảo, hội nghị chuyên đề, các buổi biểu diễn công cộng cũng như các cuộc thi và triển lãm ở Cuba.

Sau khi nhậm chức tháng 1/2021, Tổng thống J. Biden cam kết sẽ đảo ngược các chính sách của người tiền nhiệm D. Trump đối với Cuba.

Nhiều nghị sĩ đảng Dân chủ cho rằng, Washington nên xem xét giảm bớt các hạn chế, giúp cải thiện cuộc khủng hoảng nhân đạo tại Cuba. Tuy nhiên, đến nay vẫn không có gì thay đổi. Nhà Trắng tuyên bố, việc định hướng lại chính sách của Mỹ đối với Cuba không phải là một trong những ưu tiên cao nhất của ông Biden.

Thiệt hại "nghìn tỷ đô"
Các biện pháp cấm vận kéo dài của Mỹ đã dẫn đến tình trạng thiếu lương thực, nước sạch và thuốc men, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của dân thường Cuba, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Đây là hệ thống trừng phạt đơn phương bất hợp pháp và kéo dài nhất được áp dụng đối với một quốc gia trong lịch sử thế giới hiện đại. Lệnh cấm vận đã gây ra những thiệt hại to lớn đối với Cuba, khiến cho nhiều thế hệ người dân Cuba gặp muôn vàn khó khăn.

Đến nay, chưa thể đánh giá hết được những thiệt hại do cấm vận của Mỹ gây ra cho nến kinh tế Cuba. Tuy nhiên, theo tính toán của Cuba và một số tổ chức quốc tế, thiệt hại này là hết sức to lớn.

Đầu những năm 1990, khi Liên Xô và phe Xã hội chủ nghĩa tan rã, Cuba đã rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng chưa từng có. Tổng thu nhập quốc nội (GDP) của Cuba giảm 34%. Từ năm 1989-1992, do Hội đồng Tương trợ Kinh tế (CMEA) giải thể, việc chấm dứt quan hệ đối tác thương mại truyền thống với các nước thuộc khối Liên Xô đã khiến kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Cuba giảm 61% và nhập khẩu giảm khoảng 72%. Năm 1992, Viện Nghiên cứu Kinh tế thuộc Uỷ ban Kế hoạch Trung ương Cuba công bố báo cáo cho biết, thời gian này riêng về thương mại Cuba ước tính đã mất hơn 28,6 tỷ USD.

Năm 2005, Bộ trưởng Ngoại giao Cuba Felipe Perez Roque tuyên bố, trong 44 năm bị phong tỏa, nền kinh tế Cuba thiệt hại 82 tỷ USD. Năm 2006 con số này đã lên tới 86 tỷ USD. Theo số liệu chính thức của Chính phủ Cuba, tính đến đầu tháng 12/ 2010, thiệt hại trực tiếp từ việc phong tỏa của Mỹ đã lên tới 104 tỷ USD.

Trong khi đó, Viện Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Cuba ước tính lệnh cấm vận từ 1962-2017 đã gây thiệt hại 130 tỷ USD và nếu tính đến sự sụt giá của đồng USD so với vàng trong giai đoạn sau năm 1961 thì tổng số thiệt hại của nền kinh tế Cuba lên tới 975 tỷ USD.

Năm 2009, theo ước tính của chính phủ Cuba, kể từ khi Mỹ áp đặt lệnh cấm vận, thiệt hại của hòn đảo này lên tới 753,69 tỷ USD. Trong khi đó, một báo cáo của hãng truyền thông Al-Jazeera năm 2015 cho biết, lệnh cấm vận của Mỹ đã khiến nền kinh tế Cuba thiệt hại 1,1 nghìn tỷ USD trong 55 năm kể từ 1960.

Các lệnh trừng phạt, cùng với đại dịch lây lan và thiên tai bão lụt đang làm trầm trọng thêm các khó khăn tại Cuba. Cuba phải tiêu tốn thêm khoảng 2 tỷ USD mỗi năm để nhập khẩu lương thực với giá cao hơn gấp đôi so với giá thực tế.

Thông điệp từ thế giới
Từ năm 1992 đến nay, hàng năm với đa số phiếu áp đảo, Đại hội đồng LHQ đều thông qua nghị quyết kêu gọi Mỹ dỡ bỏ các lệnh trừng phạt chống Cuba. LHQ cho rằng, các biện pháp trừng phạt Cuba là trái với luật pháp quốc tế, vi phạm các nguyên tắc, mục đích và tinh thần của Hiến chương LHQ, đặc biệt là các nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia.

Mới đây nhất, ngày 3/11/2022, Chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden đã bỏ phiếu chống lại một nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, trong đó kêu gọi Mỹ chấm dứt cấm vận kinh tế với Cuba. Nghị quyết nhận được sự ủng hộ của 185 nước và chỉ có hai nước chống. Mỹ và Israel chống, Brazil và Ukraine bỏ phiếu trắng.

Đây là lần thứ 30 bỏ phiếu kêu gọi Mỹ chấm dứt các lệnh cấm vận kinh tế Cuba. Khác với Hội đồng Bảo an, Đại hội đồng gồm tất cả các thành viên Liên Hiệp Quốc và lá phiếu của mỗi nước có sức nặng ngang nhau.

Nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU), các nước Mỹ Latinh và Canada đã chỉ trích gay gắt lệnh cấm vận của Mỹ chống Cuba. Ngay Ủy ban nhân quyền của Mỹ, trong báo cáo năm 2008, cũng đã kêu gọi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận đối với Cuba.

Năm 2002, cựu Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đã đến thăm Havana. Năm 2016, Tổng thống Mỹ Obama, người được giải Nobel Hòa bình Nobel, cũng đã thăm Cuba. Cả hai ông đã kêu gọi chấm dứt các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Cuba. Năm 2015, Giáo hoàng Francis đã đến thăm Cuba. Đây là chuyến thăm thứ ba của một Giáo hoàng đến Cuba trong vòng chưa đầy 2 thập kỷ. Toà thánh Vatican luôn luôn kêu gọi dỡ bỏ các lệnh trừng phạt của Mỹ chống Cuba.

Năm 2008, trong báo cáo của mình, Tổ chức ân xá quốc tế (Amnesty International) cho rằng, lệnh cấm vận "có tác động hết sức tiêu cực đến quyền của người dân Cuba được hưởng về kinh tế, xã hội và văn hóa, quyền được sống, được bảo vệ sức khỏe, quyền tự do đi lại giữa Cuba và Mỹ để đoàn tụ gia đình...cần phải được bãi bỏ. Năm 2009, tổ chức này cũng đưa ra một báo cáo đặc biệt về lệnh cấm của Mỹ vận đối với Cuba và kêu gọi dỡ bỏ lệnh cấm vận này.

Ban lãnh đạo cũng như người dân Cuba rất mong muốn thiết lập quan hệ láng giềng tốt đẹp với Mỹ. Nhân dân Mỹ và nhiều thế hệ lãnh đạo của nước Mỹ cũng muốn bình thường hoá quan hệ với Cuba vì lợi ích của nhân dân hai nước.

Người Cuba đấu tranh cho tự do và độc lập xứng đáng được sống một cuộc sống tốt hơn. Cả thế giới kêu gọi Mỹ dỡ bỏ ngay các lệnh cấm vận chống Cuba. Không có bất cứ lý do nào để tiếp tục duy trì các lệnh cấm vận chống lại hòn đảo tự do này..!!
Yêu nước ST.

VÔ TỘI SAO PHẢI CẦU CỨU MỸ ???

     Trong video của mình, Vy Oanh đưa 3 con nhỏ lên video để cầu cứu chính phủ Mỹ, mong được trở về nước Mỹ (có thể để tránh vụ kiện cáo với bà Nguyễn Phương Hằng):

"Tôi là Nguyễn Thị Mỹ Oanh, tôi là thường trú nhân Mỹ. Tôi có 3 đứa con, 2 đứa con lớn của tôi cũng là quốc tịch Mỹ. 

Tôi làm video này. Tôi khẩn khoản yêu cầu luật sư của mình can thiệp với chính quyền Mỹ để 4 mẹ con của tôi có thể về Mỹ, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tôi!

Tôi vô tội, và hiện tại tôi đang bị cấm xuất cảnh ở Việt Nam. Tôi cảm ơn ạ!".

Ps: Xin lỗi các nghệ sĩ chân chính, thành phần này đúng là xướng ca vô loài, vô tổ quốc, vô pháp vô thiên, loại này hoạt động trên lĩnh vực văn hoá nghệ thuật thật nguy hiểm./.
Yêu nước ST.

Quân khu 9 nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả qua học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Sáng 7-4, Đảng ủy Quân khu 9 tổ chức Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Kết luận số 01 của Bộ Chính trị, 2 năm thực hiện Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương và 5 năm thực hiện Chỉ thị 23 của Ban Bí thư. Thiếu tướng Hồ Văn Thái, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 9 dự và chủ trì hội nghị.

Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng những năm qua, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 9 và cấp ủy, chỉ huy các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Kết luận số 01 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương và Chỉ thị số 23 của Ban Bí thư một cách toàn diện, đồng bộ, với nhiều cách làm sáng tạo, thiết thực và đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần xây dựng Đảng bộ Quân khu trong sạch vững mạnh tiêu biểu, LLVT Quân khu 9 vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”.

Cụ thể là, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 9, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo gắn kết chặt việc triển khai thực hiện Kết luận số 01, Nghị quyết số 847 và Chỉ thị số 23 của Ban Bí thư với nhiệm vụ chính trị. Nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả như mô hình “Đơn vị huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, sẵn sàng chiến đấu cao” của Sư đoàn 330; nhiều gương điển hình tiên tiến, gương người tốt việc tốt được nhân rộng; chất lượng thực hiện nhiệm vụ chính trị không ngừng được nâng lên.

Bộ CHQS tỉnh Bến Tre cụ thể hóa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thành 8 nội dung đăng ký phấn đấu trong sổ tay rèn luyện, tu dưỡng của cán bộ, đảng viên và phát động phong trào “5 xây, 5 chống”; Bộ CHQS tỉnh Sóc Trăng với “36 câu hỏi theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh”, phong trào“Nuôi heo đất”, “Hũ gạo tình thương”, “Tiết kiệm 10% chi tiêu”; Bộ CHQS tỉnh An Giang với phong trào “Giúp đỡ học sinh nghèo hiếu học”, “Hòm tiết kiệm tình nghĩa”...

Bệnh viện Quân y 120, Bệnh viện Quân y 121 (Cục Hậu cần Quân khu 9) có nhiều phong trào thi đua gắn với y đức của người chiến sĩ quân y như: Đến đón tiếp niềm nở, ở chăm sóc tận tình, về dặn dò chu đáo”, “Giọt máu nghĩa tình”; Bệnh viện Quân dân y Bộ CHQS tỉnh Sóc Trăng với mô hình “Bếp ăn từ thiện”. Các công ty, doanh nghiệp, Đoàn Kinh tế-Quốc phòng có phong trào “Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, nâng cao chất lượng sản xuất kinh doanh”, “4 cùng”.

Hưởng ứng phong trào thi đua “LLVT Quân khu 9 chung sức xây dựng nông thôn mới, chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau”, cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu 9, nhất là lực lượng Dân quân tự vệ và dự bị động viên đã gương mẫu tham gia hàng vạn ngày công, xây dựng các công trình phúc lợi góp phần phát triển kinh tế-xã hội ở các địa phương; tích cực tham gia tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, ô nhiễm môi trường, hạn hán, xâm nhập mặn, phòng chống dịch bệnh Covid-19, hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và tài sản của nhân dân.

Cùng với đó, phong trào thi đua “Ngành hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”,“Đơn vị nuôi quân giỏi, quản lý Quân nhu tốt”, “Đơn vị quân y 5 tốt”, “Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật” và “Cuộc vận động 50” được các đơn vị trong toàn Quân khu 9 tiếp tục đẩy mạnh thực hiện ngày càng mang lại hiệu quả thiết thực, đáp ứng yêu cầu bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho các nhiệm vụ, góp phần tích cực vào việc hoàn thành nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của LLVT Quân khu 9...

Chia sẻ về việc triển khai thực hiện Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương, Thượng tá Trần Minh Hân, Chính ủy Trung đoàn 152 nói: “Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn đã tích cực nghiên cứu, học tập, tổ chức giáo dục, quán triệt sâu rộng tinh thần Nghị quyết đến toàn thể cán bộ, đảng viên và quần chúng, nhất là giáo dục về giá trị cốt lõi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, cùng những biểu hiện, tác hại của chủ nghĩa cá nhân. Công tác giáo dục, quán triệt Nghị quyết được thực hiện thường xuyên thông qua học tập tập trung, sinh hoạt, công tác hằng ngày; từng cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị phát huy tốt vai trò của tổ chức Đoàn trong tuyên truyền; cán bộ, chiến sĩ nâng cao nhận thức trách nhiệm, thống nhất hành động trong thực hiện Nghị quyết... Đến nay, nhận thức của cán bộ, đảng viên và quần chúng toàn đơn vị về bản chất cách mạng, giá trị cốt lõi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, cùng những biểu hiện, tác hại của chủ nghĩa cá nhân không ngừng được nâng cao”.

Để tiếp tục thực hiện tốt Kết luận số 01 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương và Chỉ thị số 23 của Ban Bí thư, Đảng ủy, thời gian tới, Bộ tư lệnh Quân khu 9 và cấp ủy, chỉ huy các cấp sẽ tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm như: Tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác giáo dục, quán triệt.

Tích cực đổi mới, đa dạng hóa nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức thực hiện theo hướng cụ thể, thiết thực, hiệu quả; đổi mới nội dung, phương pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả việc học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo hướng phù hợp với từng đối tượng.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, khắc phục dứt điểm những khâu yếu, mặt yếu của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và điều chỉnh, bổ sung các biện pháp lãnh đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện. Thường xuyên quan tâm chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội; kịp thời biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh...

TL

HỌ ĐÃ NGHĨ GÌ VỀ VỊ THẾ CỦA VIỆT NAM?

Việt Nam có vị thế như thế nào trong dòng chảy lịch sử thế giới? Giới sử học phương Tây nhìn nhận như thế nào về đất nước Việt Nam?

1. Việt Nam là quốc gia đã từng có 4 lần tác động lớn đến dòng chảy của lịch sử thế giới.

1.1. Lần tác động đầu tiên đó là công cuộc kháng chiến chống Mông nguyên của nhà Trần. Nó đã chặn đứng sự phát triển của vương triều Mông Cổ về hướng Nam. Từ đó góp phần làm Mông Cổ hay vương triều Nguyên suy yếu dần đi.

1.2. Chiến tranh Đông Dương lần 1: 1945-1954. Việt Nam đã làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân cũ. Từ đó tạo nên 1 cơn bão đấu tranh giải phóng thuộc địa ở các nước Á Phi.

1.3. Chiến tranh Đông Dương lần 2: 1954-1975. Việt Nam trở thành tâm điểm của cả nhân loại trong thập niên 50 đến 70 của thế kỷ 20.

Khi mà trong cuộc chiến tranh này Việt Nam là tâm điểm của 3 luồng mâu thuẫn lớn nhất của thời đại: Mâu thuẫn dân tộc. Mâu thuẫn ý thức hệ. Mâu thuẫn giữa khối phản động thế giới với các lực lượng dân chủ thế giới.

1.4. Quá trình cải cách mở cửa kinh tế, nhưng kiên định với con đường XHCN. Điều này đã làm cho các nhà học giả của ý thức hệ TBCN đau đầu. Vì sau khi LX-Đông Âu sụp đổ, các nhà lý luận của TBCN đã cho rằng, TBCN đã thắng lợi hoàn toàn đối với XHCN và họ cho rằng Việt Nam cũng sẽ sớm sụp đổ theo vì lúc này kinh tế Việt Nam sẽ sụp đổ vì sự lệ thuộc quá lớn vào LX. Và Việt Nam lúc này đã chứng minh điều ngược lại. Nhiều người hỏi tại sao lại là Việt Nam chứ không phải TQ, giới sử học phương Tây cho rằng TQ lúc này trên bản đồ Chính trị, Trung Quốc không tồn tại, vì những ảnh hưởng của Thiên An Môn.

Một sự kiện đang nóng hiện nay là phòng chống dịch bệnh, thế giới một lần nữa được chứng kiến và khâm phục một Việt Nam chủ động đoàn kết, ý Đảng, lòng dân được thể hiện lên tầm cao mới, thử hỏi ở đâu trên trái đất này có được truyền thống đó.

Đó là 4 sự kiện lớn của Việt Nam làm thay đổi dòng chảy lịch sử nhân loại.

2. Việt Nam - Trung Quốc.

Gần đây rất nhiều chú rận cứ hô hào thoát Trung. Vậy điều này có làm được không? 

VIỆC ĐÓ SAI!

Thứ nhất, trong 4000 năm dựng và giữ nước của người Việt Nam. Dân tộc Việt Nam đã sống chung với TQ và vẫn giữ được bản sắc dân tộc của mình, vẫn giữ mình là dân tộc Việt độc lập tự cường tự chủ. Việt Nam đã trải qua 4 thời kì Bắc thuộc. Nhưng trong suốt 4 lần đó. Dân tộc Việt Nam vẫn giữ được bản sắc của mình mà không bị đồng hóa như các dân tộc khác trong Tộc Bách Việt.

Thứ hai, cũng trải qua quá trình sống chung đó, ông cha ta đã có những hướng đi của riêng mình để xác lập vị thế dân tộc. Đó là Bắc Hòa - Nam đánh, tiến hành quá trình Nam tiến về phía Nam, trải qua các triều đại Phong kiến, từ Nhà Đinh đến thời các Chúa Nguyễn, cương vực lãnh thổ Việt Nam đã mở rộng và hình thành nên 1 lãnh thổ Việt Nam trải dài từ Bắc chí Nam, từ địa đầu Lũng Cú đến Cực Nam Mũi Cà Mau. Và ngày nay ta tiếp tục hướng về Biển, vươn ra Biển.

Thứ ba, về địa lý, cái này Việt Nam chả chạy đi đâu được... không như mấy bạn rận có nguyên cái bang cali để tự trị.

Thứ tư, trong dòng chảy của quá trình Toàn cầu hóa, khi mà các quốc gia khác đang tìm cách hợp tác để phát triển, vừa hợp tác vừa đấu tranh, thì quan hệ VN-TQ cũng đang làm điều đó, điều này Mỹ cũng đang làm. Vậy hô hào thế chả khác gì các bạn kêu Việt Nam tự đứng ra ngoài cuộc chơi.

Thứ năm, năm 2014 tại Hội nghị quốc tế về quan hệ VN-TQ tổ chức tại TPHCM, giới học giả quốc tế đã nhận định rằng, nếu hiểu TQ thì chỉ có Việt Nam, nếu hiểu TQ mạnh hay yếu chỉ có Việt Nam. Vì Việt Nam đã chơi với TQ 4000 năm và vẫn tồn tại.

Tóm lại:

1. Thời cha ông đã sống chung với nó thì nay việc gì ta phải đi.

2. Ta đã xác định được hướng đi của mình thì việc gì phải làm thế.

3. Vị trí địa lý như thế thì chạy đi đâu.

4. Quan hệ đó đang nằm trong xu hướng toàn cầu. Ta đứng ra chả khác gì tự nhảy ra khỏi cuộc chơi.

Lữ đoàn Công binh 293 đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì

Sáng 7-4, Lữ đoàn 293, Binh chủng Công binh tổ chức Lễ kỷ niệm 30 năm truyền thống đơn vị (8-4-1993 / 8-4-2023) và đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì. Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã gửi thư chúc mừng.

Tham dự lễ kỷ niệm có Thiếu tướng Bùi Hải Sơn, Tư lệnh Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Trung tướng Phạm Quang Xuân, nguyên Tư lệnh Binh chủng Công binh; Đại tá Khổng Mạnh Hưng, Phó chính ủy Binh chủng Công binh; cùng đại biểu các cơ quan, đơn vị Quân đội, địa phương, cán bộ, chiến sĩ đơn vị đã công tác qua các thời kỳ của lữ đoàn.

Diễn văn tại lễ kỷ niệm do Đại tá Nguyễn Thế Lương, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 293 trình bày đã khái quát quá trình xây dựng và phát triển của đơn vị. Trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng công trình phòng thủ trong giai đoạn mới, ngày 8-4-1993, Bộ Quốc phòng ban hành quyết định thành lập Trung đoàn Công trình 293 (Đoàn Công binh Thăng Long) với nhiệm vụ chính trị trọng tâm là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và xây dựng công trình quốc phòng. 

Sau ngày thành lập, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn nhanh chóng củng cố, ổn định nơi ăn, ở và ra quân xây dựng những công trình đầu tiên, đạt nhiều kết quả đáng khích lệ. Do tính chất nhiệm vụ bảo đảm công binh, tháng 8-2011, Bộ Quốc phòng ra quyết định tổ chức Trung đoàn 293 thành Lữ đoàn Công binh công trình 293. Từ đây, đơn vị có bước phát triển mới, với nhiệm vụ bổ sung là phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất khác ở khu vực miền Trung-Tây Nguyên.

Trải qua 30 năm xây dựng và phát triển, Lữ đoàn 293 luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng công trình, lập nhiều thành tích xuất sắc, xây đắp nên truyền thống “Chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường, trưởng thành, vững mạnh”. Lữ đoàn 293 và Tiểu đoàn 27 thuộc Lữ đoàn được phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Lữ đoàn được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì; 2 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba; 3 Cờ thi đua của Chính phủ, cùng hàng trăm lượt tập thể, cá nhân được các cấp khen thưởng. Năm 2022, Lữ đoàn được Bộ Quốc phòng tặng cờ “Đơn vị huấn luyện giỏi”.

Phát biểu chúc mừng Đại tá Khổng Mạnh Hưng, Phó chính ủy Binh chủng Công binh ghi nhận và biểu dương những cố gắng, nỗ lực vượt khó của cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 293, đặc biệt là với nhiệm vụ xây dựng công trình quốc phòng, đồng thời đề nghị trong thời gian tới, đơn vị tổ chức tốt việc quán triệt, học tập triển khai đầy đủ và thực hiện thắng lợi các chỉ thị, nghị quyết của các cấp ủy Đảng; nâng cao trình độ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, xây dựng công trình bảo đảm chất lượng, an toàn; thường xuyên chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho bộ đội; bảo đảm tốt về hậu cần, kỹ thuật cho mọi nhiệm vụ; giữ vững phát huy tốt mối quan hệ với cấp ủy, chính quyền địa phương, đoàn kết quân dân; chủ động đấu tranh với mọi biểu hiện tiêu cực, “tự diễn biến, tự chuyển hóa”…

 

Nhân dịp kỷ niệm 30 năm Ngày truyền thống (8-4-1993 / 8-4-2023), Lữ đoàn 293 được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì.

 TL

Thượng tướng Lê Huy Vịnh: Học viện Kỹ thuật quân sự cần tiếp tục phát huy thế mạnh trong chuyển đổi số

 

Sáng 7-4, Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng Ban chỉ đạo cải cách hành chính và chính phủ điện tử Bộ Quốc phòng đến kiểm tra công tác nghiên cứu khoa học và chuyển đổi số tại Học viện Kỹ thuật quân sự.

Báo cáo tại buổi làm việc, Thiếu tướng Lê Minh Thái, Phó giám đốc Học viện Kỹ thuật quân sự cho biết: Năm 2022 và quý I năm 2023, hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển đổi số tại Học viện Kỹ thuật quân sự đã được triển khai toàn diện, đồng bộ, đi vào chiều sâu, phù hợp với công tác quân sự quốc phòng trong tình hình mới. Nhận thức của cán bộ, giảng viên, nhân viên học viện về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính phủ điện tử hướng tới chính phủ số được nâng lên một cách rõ rệt, tại sự chuyển biến vững chắc, làm tiền đề cho việc đẩy mạnh hoạt động chuyển đổi số trong những năm tiếp theo.

Kết quả công tác chuyển đổi số và phát triển chính phủ điện tử, năm 2022, các cơ quan, đơn vị trong học viện đã tiếp tục sử dụng hiệu quả các phần mềm đã được xây dựng như: Phần mềm quản lý đào tạo, khảo thí; phần mềm nhập điểm thi, chấm thi trắc nghiệm; phần mềm lớp học trực tuyến... Hạ tầng mạng, trang thiết bị công nghệ thông tin được trang bị đồng bộ cho các giảng đường, phòng học chuyên dùng. Hệ thống camera giám sát lớp học được triển khai, hỗ trợ hiệu quả quá trình giám sát, kiểm tra huấn luyện và đào tạo.

Học viện cũng tích cực nâng cấp, khai thác các phần mềm phục vụ chỉ huy, quản, lý, điều hành do chính đơn vị tự xây dựng. Hiện tại, đang sử dụng 37 phần mềm, bao gồm cả phần mềm quản lý đào tạo. Năm 2022, học viện tích cực triển khai, sử dụng các phần mềm dùng chung của Bộ Quốc phòng, khai thác, sử dụng hiệu quả phần mềm các ngành như: Tài chính, doanh trại, cán bộ...

Năm 2022, học viện đã hướng dẫn các cơ quan, đơn vị bảo đảm an toàn thông tin; kiểm tra hơn 2.300 thiết bị công nghệ thông tin, cảnh báo kịp thời các dấu hiệu, nguy cơ mất an toàn. Thực hiện cài đặt phần mềm cảnh báo mã độc MiAV cho gần 950 máy tính quân sự; kịp thời gỡ bỏ các mã độc cho máy tính bị nhiễm. Học viện cũng đã tổ chức tập huấn về công nghệ thông tin, chuyển đổi số cho gần 400 lượt cán bộ, giảng viên, nhân viên.

Công tác nghiên cứu khoa học tại học viện đạt nhiều kết quả tích cực. Trong năm 2022, học viện đã quản lý và tổ chức thực hiện 381 đề tài, nhiệm vụ khoa học công nghệ các cấp với gần 80 đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và tương đương trở lên. Riêng trong năm 2022, toàn học viện có hơn 880 công bố khoa học, trong đó có hơn 390 công bố trên tạp chí quốc tế; được cấp 2 bằng sở hữu trí tuệ và giải pháp hữu ích.

Phát biểu kết luận buổi làm việc, Thượng tướng Lê Huy Vịnh đánh giá cao, biểu dương các kết quả trong công tác nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số mà Học viện Kỹ thuật quân sự đã đạt được trong năm qua và nhấn mạnh: Học viện Kỹ thuật quân sự là một trong những trường trọng điểm của quốc gia. Đối tượng đào tạo ra là các chuyên gia, kỹ sư về kỹ thuật, công nghệ đáp ứng nguồn nhân lực cho quân đội và đất nước. Đây cũng sẽ là đơn vị làm điểm khối nhà trường Quân đội trong chuyển đổi số. Bộ Quốc phòng kỳ vọng Học viện Kỹ thuật quân sự sẽ đặt ra và hoàn thành các mục tiêu ngày càng cao hơn.

Đồng chí Thứ trưởng Bộ Quốc phòng yêu cầu: Ngoài tập trung nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, Học viện Kỹ thuật quân sự cần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và chuyển đổi số. Đây là nhu cầu thiết yếu và cấp thiết đối với học viện; từ đó góp phần thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chính trị của học viện. Nhà trường cần tiếp tục nghiên cứu, phối hợp với các đơn vị xây dựng chương trình chuyển đổi số một cách tổng thể trên nền tảng hiện có; rà soát lại tất cả các phần mềm ở mọi lĩnh vực để tích hợp, liên thông và chuẩn hóa dữ liệu dùng chung; hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chỉ huy, điều hành của học viện... Học viện phải tiên phong trong chuyển đổi số và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số cho Quân đội.

Học viện Kỹ thuật quân sự cần chủ động bám nắm các chủ trương, định hướng, kế hoạch về công tác nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số trong học viện; tích cực triển khai các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học công nghệ các cấp, các dự án bảo đảm tiến độ, chất lượng và hiệu quả. Chú trọng nghiên cứu khoa học cơ bản song hành cùng nghiên cứu khoa học ứng dụng...

Thượng tướng Lê Huy Vịnh bày tỏ tin tưởng, Học viện Kỹ thuật quân sự sẽ tiếp tục phát huy các thế mạnh, đi tiên phong trong chuyển đổi số, nghiên cứu khoa học và giáo dục, đào tạo; hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

TL

NHỮNG CÁI NHÌN SAI LỆCH VỀ NGÀY 34/4/1975

Cách đây 48 năm, vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, lá cờ của Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, đánh dấu giờ phút thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài 21 năm (1954 - 1975). Kể từ đó, ngày 30-4 hằng năm trở thành ngày lễ chính thức của nhân dân Việt Nam, được đặt tên là Ngày Chiến thắng, hoặc Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. 

Gần nửa thế kỷ qua, ngày 30-4 đã trở thành ngày hội thống nhất non sông gấm vóc, ngày tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Thế nhưng với các thế lực thù địch và  một số đối tượng cơ hội chính trị thì ngày 30-4 lại là ngày “hằn học”, ngày “bực tức”, ngày “thù hận”. Đã thành thông lệ từ nhiều năm nay, cứ gần đến ngày lễ Chiến thắng, một số đối tượng chống cộng cực đoan ở hải ngoại lại tung ra các bài viết, trả lời phỏng vấn với cách nhìn sai lệch, xuyên tạc lịch sử về ngày 30-4-1975. Họ gọi cuộc chiến tranh do đế quốc Mỹ tiến hành ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 là “cuộc nội chiến giữa hai miền Nam - Bắc”; gọi ngày 30-4-1975 là “Ngày quốc hận” và tháng 4-1975 là “Tháng tư đen”…  

Năm nay, vẫn “trung thành” với các âm mưu thâm độc, nhưng các thế lực thù địch và một số phần tử cơ hội chính trị có vẻ “đổi mới” hơn về phương thức chống phá, chúng lợi dụng mạng xã hội, mạng Internet để đưa những thông tin sai lệnh, xuyên tạc sự thật lịch sử, “vẽ” ra viễn cảnh “nếu không có ngày 30-4-1975”… Nguy hiểm hơn, một số đối tượng còn xúi giục những người trẻ tuổi ở Việt Nam đấu tranh “đòi tự do dân chủ” theo viễn tưởng phương Tây, từ đó làm giảm niềm tin vào chế độ, đòi “đa nguyên, đa đảng”…

Có lẽ chúng không biết hoặc cố tính không muốn biết sự thật lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX. Sau Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (tháng 5-1954),  thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Genevơ. Theo nội dung Hiệp định, vĩ tuyến 17 được coi là ranh giới tạm thời chia đôi đất nước ta. Ranh giới ấy lẽ ra đã được xóa bỏ, hai miền Nam-Bắc ruột thịt có thể đã được thống nhất chỉ sau hai năm bằng một cuộc Tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu vào tháng 7-1956. Thế nhưng đế quốc Mỹ với âm mưu muốn thế chân thực dân Pháp ở miền Nam đã phá đi cơ hội thống nhất non sông lúc ấy. Chính quyền Ngô Đình Diệm-tay sai của đế quốc Mỹ biết không thể có cơ hội chiến thắng một cách đàng hoàng, hợp pháp qua cuộc Tổng tuyển cử trên cả nước trước Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Chủ tịch Hồ Chí Minh được lòng dân. Vì thế, dưới sự hậu thuẫn của Mỹ, chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đã giành quyền thống trị miền Nam bằng vũ lực, súng đạn, máy chém, sát hại dã man hàng vạn đồng bào, tạo ra những cuộc bắt bớ, giết hại tín đồ Phật giáo, gây mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo. Với việc dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm, Mỹ đã thi hành ở Việt Nam chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Khi nhận thấy Ngô Đình Diệm không còn phù hợp với chính sách của mình, Mỹ lập tức dàn xếp một cuộc đảo chính, tiêu diệt cả hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu, dựng lên tại miền Nam Việt Nam một chính thể khác phục vụ trung thành hơn cho lợi ích của Mỹ tại Việt Nam.

Dưới sự chỉ đạo của Mỹ, cùng với quân Mỹ, quân đội ngụy quyền Sài Gòn đã thực hiện nhiều chiến dịch thảm sát đồng bào miền Nam. Kể cả khi Mỹ đưa quân trực tiếp tham chiến, hay sau khi quân Mỹ phải rút phần lớn lực lượng khỏi miền Nam Việt Nam theo Hiệp định Paris vào năm 1973 thì bản chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng vẫn không thay đổi. Tại Việt Nam từ năm 1954 đến 1975, thực chất chỉ có một Nhà nước chính danh của dân tộc Việt Nam tồn tại, đó là Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được khai sinh ngày 2-9-1945 sau cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử. Bộ máy quản lý Nhà nước đó đã được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bầu chọn. Các đại biểu Quốc hội khóa I được cử tri cả nước tín nhiệm bầu ra trong cuộc Tổng tuyển cử vào ngày 6-1-1946. Còn cái gọi là “Chính phủ Việt Nam cộng hòa” không phải là một chính quyền hợp pháp, hợp đạo lý, hợp lòng dân mà chỉ là tay sai cho đế quốc Mỹ.

Đến đầu năm 1973, sau khi thua đau trên chiến trường, chịu sức ép của dư luận trong nước và quốc tế bởi đang thực hiện một cuộc chiến tranh phi nghĩa, đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris, rút quân khỏi nước ta. Nhưng Mỹ vẫn để lại một đội ngũ cố vấn hùng hậu, vẫn viện trợ quân sự để tiếp tục biến chính quyền “Việt Nam cộng hòa” thành con rối trong tay Mỹ. Như thế, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta không phải là một cuộc nội chiến giữa hai miền Nam-Bắc của Việt Nam như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Mà đó là cuộc kháng chiến chính nghĩa của toàn thể dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam trước sự xâm lược của đế quốc Mỹ và đánh đổ bè lũ tay sai của Mỹ, kết thúc thắng lợi bằng Chiến thắng 30-4-1975. Chiến thắng 30-4-1975 là thắng lợi to lớn nhất, trọn vẹn nhất, vĩ đại nhất trong hành trình thực hiện mục tiêu cách mạng do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng và chói lọi trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc. Nếu không có Chiến thắng 30-4-1975, chúng ta không thể có công cuộc đổi mới hiện nay, không có điều kiện để tập trung tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong gần 50 năm qua./.

                                                                                 ANH MINH

MỆNH LỆNH LỊCH SỬ CHO NGÀY TOÀN THẮNG!

     Cách đây 47 năm, 9 giờ 30 sáng 7/4/1975, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi Điện số 157-HÐKTK cho các đơn vị mệnh lệnh: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng!", cổ vũ tinh thần đối với cán bộ, chiến sỹ trên chiến trường vào thời điểm vô cùng quan trọng của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc./.


Yêu nước ST.

Trung tướng Nguyễn Doãn Anh làm việc với Quân khu 5 về nhiệm vụ quân sự quốc phòng

 

Sáng 7-4, tại TP Đà Nẵng, Trung tướng Nguyễn Doãn Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam đã làm việc việc với Bộ tư lệnh Quân khu 5 về kết quả thực hiện nhiệm vụ quân sự quốc phòng quý I-2023 và hoạt động của các hải đội dân quân thường trực.

Dự làm việc có Trung tướng Thái Đại Ngọc, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 5; Trung tướng Trịnh Đình Thạch, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 5; Trung tướng Phạm Quang Ngân, Cục trưởng Cục Dân quân tự vệ, Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam; Chuẩn đô đốc Phan Tuấn Hùng, Phó tư lệnh Quân chủng Hải quân; đại biểu các cơ quan: Văn phòng Trung ương Đảng; Văn phòng Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam; Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, đại biểu Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng...

Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ quý I-2023 của Bộ tư lệnh Quân khu 5 do Thiếu tướng Lê Ngọc Hải, Phó tư lệnh, kiêm Tham mưu trưởng Quân khu khẳng định, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 5 thường xuyên phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền các địa phương và các lực lượng trên địa bàn xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; xây dựng các tiềm lực, thế trận phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ “cơ bản, liên hoàn, vững chắc”, chủ động ứng phó với các tình huống, các thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là trong phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.

Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 5 tập trung lãnh đạo, chỉ đạo LLVT quân khu triển khai hiệu quả công tác quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng; phối hợp chặt chẽ với các địa phương trong triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia, đạt kết quả thiết thực; thực hiện tốt công tác chính sách, chăm lo gia đình thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng...

Về hoạt động của các hải đội dân quân thường trực, báo cáo của Quân khu 5 cho thấy, sau hơn một năm thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ các hải đội thường xuyên quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, tư tưởng, phương châm của Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo...

Công tác phối hợp, hiệp đồng, chỉ huy được thực hiện thống nhất; sau khi hoàn thành nhiệm vụ về đất liền, Bộ CHQS các tỉnh, thành phố phối hợp chặt chẽ với cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức kiểm tra, rút kinh nghiệm kịp thời, làm cơ sở cho các hành trình tiếp theo, bảo đảm hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Tại hội nghị, các đại biểu đã cùng nhau thảo luận, thẳng thắn chỉ ra những vướng mắc, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ, cũng như chất lượng hoạt động của các hải đội dân quân thường trực, đồng thời đề xuất những giải pháp có tính khả thi, nhằm từng bước hoàn thiện tổ chức biên chế, không ngừng nâng cao khả năng hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ hải đội dân quân thường trực.

Kết luận hội nghị, thay mặt lãnh đạo Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam, Trung tướng Nguyễn Doãn Anh ghi nhận, đánh giá cao kết quả thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của Quân khu 5 thời gian qua. Đối với hoạt động của các hải đội dân quân thường trực, đồng chí khẳng định, đây là nhiệm vụ mới, tính chất phức tạp, phạm vi hoạt động rộng, tuy nhiên Bộ tư lệnh Quân khu 5; Bộ CHQS các tỉnh; các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan đã quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các quy chế, kế hoạch của trên, phối hợp chặt chẽ, triển khai đồng bộ các giải pháp để xây dựng; tổ chức quản lý, chỉ huy, huấn luyện, duy trì hoạt động và bảo đảm các mặt cho hải đội đạt được kết quả tương đối tốt.

Đặc biệt, các hải đội dân quân thường trực đã thường xuyên phối hợp với các lực lượng thực hiện nhiệm vụ trực sẵn sàng chiến đấu trên các vùng biển của nước ta, góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển, tạo điều kiện cho bà con ngư dân vươn khơi bám biển, giữ vững ngư trường truyền thống, góp phần cùng các lực lượng bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Để nâng cao chất lượng hoạt động của các hải đội dân quân thường trực, đồng chí Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam yêu cầu Quân khu 5, Bộ CHQS các tỉnh cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan, nòng cốt là lực lượng hải quân tăng cường huấn luyện, bồi dưỡng, từng bước nâng cao trình độ chuyên môn, khả năng xử lý tình huống trên biển cho cán bộ, chiến sĩ hải đội dân quân thường trực, bảo đảm từng cán bộ, chiến sĩ phải thường xuyên nắm chắc chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động, các quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trên biển.

Cùng với đó, Trung tướng Nguyễn Doãn Anh yêu cầu các cơ quan chức năng tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng các quy định của pháp luật, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng bảo đảm ngày càng tốt hơn các chế độ, chính sách dành cho lực lượng dân quân tự vệ nói chung, cán bộ, chiến sĩ các hải đội dân quân thường trực nói riêng, góp phần động viên tư tưởng, bảo đảm mức sống ổn định cho cán bộ, chiến sĩ, để anh em luôn yên tâm công tác, gắn bó với nhiệm vụ, sẵn sàng đồng hành với bà con ngư dân vươn khơi bám biển.

TL

 

Việt Nam đề nghị gỡ bỏ thông tin sai sự thật trong phim tài liệu về MH370

Bộ phim tài liệu “MH370, chiếc máy bay biến mất” đưa ra những nhận định khi chưa có kết luận chính thức của các cơ quan chức năng là sai sự thật, không có cơ sở, không phản ánh đúng nỗ lực của các cơ quan chức năng của Việt Nam và khiến dư luận Việt Nam bất bình.

Chiều 6/4, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng đã trả lời câu hỏi của phóng viên TTXVN đề nghị cho biết quan điểm của Việt Nam về thông tin bộ phim tài liệu về quá trình tìm kiếm máy bay số hiệu MH370 của Malaysia có nội dung không chính xác, cho rằng Việt Nam không hợp tác trong việc hỗ trợ tìm kiếm máy bay.

Theo đó, Phó Phát ngôn Phạm Thu Hằng nêu rõ: Ngay sau khi xảy ra vụ việc máy bay MH370 của Hãng Hàng không Malaysia Airlines bị mất tích, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã khẩn trương, chủ động lên các phương án ứng phó, tích cực chia sẻ thông tin và phối hợp với phía Malaysia cũng như các quốc gia mong muốn triển khai tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn trên quy mô lớn, đồng thời hỗ trợ phóng viên nước ngoài tham gia đưa tin.

“Những nỗ lực của Việt Nam vào thời điểm đó đã được cộng đồng quốc tế và dư luận báo chí trong và ngoài nước ghi nhận. Cho tới nay, các cơ quan chức năng chưa hề đưa ra bất cứ một kết luận nào về vụ việc mất tích của máy bay MH370. Do đó, bộ phim tài liệu “MH370, chiếc máy bay biến mất” đưa ra những nhận định khi chưa có kết luận chính thức của các cơ quan chức năng là sai sự thật, không có cơ sở, không phản ánh đúng nỗ lực của các cơ quan chức năng của Việt Nam và khiến dư luận Việt Nam bất bình. Chúng tôi yêu cầu công ty sản xuất và nhà làm phim phản ánh chính xác những đóng góp của Việt Nam trong công tác tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn máy bay MH370 của Malaysia và gỡ bỏ, sửa đổi những nội dung không phù hợp”, Phó Phát ngôn Phạm Thu Hằng nhấn mạnh.

Cục Quân nhu tập huấn sử dụng bếp dầu, bếp điện, bếp lò hơi cơ khí cho các đơn vị khu vực phía Nam

 

Từ ngày 20 đến 25-3, tại Đoàn an điều dưỡng 20, Quân chủng Phòng không – Không quân, Cục Quân nhu, Tổng cục Hậu cần tổ chức lớp tập huấn sử dụng bếp dầu, bếp điện, bếp lò hơi cơ khí cho các cơ quan, đơn vị khu vực phía Nam năm 2023.

Đại tá  Hà Chí Dũng, Bí thư Đảng ủy, Phó cục trưởng Cục Quân nhu (Tổng cục Hậu cần) dự và phát biểu chỉ đạo khai mạc lớp tập huấn.

Tham gia lớp tập huấn có 360 đồng chí là nhân viên nấu ăn, vận hành bếp dầu, bếp điện, bếp lò hơi cơ khí đến từ các cơ quan, đơn vị khu vực phía Nam. Trong thời gian 5 ngày, các học viên được tập huấn về cấu tạo, quy trình sử dụng an toàn, cách lắp đặt, bảo quản, những sự cố thường gặp và cách khắc phục, sửa chữa trong quá trình sử dụng các loại bếp dầu, bếp điện, bếp lò hơi cơ khí.

Huấn luyện, kiểm tra kiến thức cơ bản, cấp thẻ an toàn lao động cho người vận hành, sử dụng hệ thống bếp lò hơi cơ khí để thực hiện nhiệm vụ vận hành sử dụng, bảo trì, sửa chữa, khắc phục những sự cố hư hỏng thông thường trong quá trình sử dụng.

Phát biểu khai mạc lớp tập huấn, Đại tá Hà Chí Dũng nhấn mạnh: Những năm gần đây, yêu cầu về công tác nuôi dưỡng bộ ngày càng cao, đòi hỏi tay nghề của đội ngũ nuôi quân không ngừng nâng lên. Huấn luyện sử dụng các loại bếp dầu, bếp điện, bếp lò hơi cơ khí là một trong những biện pháp góp phần nâng cao trình độ chuyên môn và tay nghề cho đội ngũ nhân viên nuôi quân nhằm đáp ứng với yêu cầu nuôi dưỡng bảo đảm sức khỏe cho bộ đội trong tình hình mới.

Với tinh thần đó, hằng năm, công tác huấn luyện sử dụng bếp dầu, bếp điện, bếp lò hơi cơ khí đều được Cục Quân nhu tổ chức chu đáo, chặt chẽ, có nền nếp, đúng quy định, bảo đảm mục đích, yêu cầu đề ra.

Tham gia lớp tập huấn năm nay, các đồng chí học viên xác định rõ đây là dịp tốt để nâng cao trình độ sử dụng về các loại bếp dầu, bếp điện, bếp lò hơi cơ khí được trang bị cho các bếp trong các đơn vị toàn quân hiện nay; đồng thời cũng là cơ hội đánh giá thực chất công năng của các loại bếp đang được trang bị tại đơn vị mình.

Do đó, các đồng chí tập trung thời gian, nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm trong quá trình học tập; tích cực trao đổi, thảo luận, làm rõ những vấn đề còn vướng mắc. Quá trình học tập, chấp hành nghiêm quy định của lớp học, nắm vững kiến thức, sau khi trở về đơn vị thực hành vận hành sử dụng đúng quy trình, bảo đảm an toàn.

 

Tìm thấy nạn nhân cuối cùng trong vụ tai nạn máy bay trực thăng số hiệu VN-8650

 Đến sáng 7-4, toàn bộ thi thể 5 nạn nhân trong vụ tai nạn máy bay trực thăng số hiệu VN-8650 trực thuộc Công ty trực thăng Miền Bắc/Tổng công ty trực thăng Việt Nam (Binh đoàn 18/BQP) trên vùng biển xã Gia Luận, huyện Cát Hải, Hải Phòng, đã được tìm thấy. Trung tướng Nguyễn Trọng Bình, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp chỉ đạo công tác tìm kiếm ở hiện trường.

          Trong đêm 6-4 và sáng sớm 7-4, các lực lượng tìm kiếm cứu nạn trong đó nòng cốt là lực lượng thợ lặn đặc công nước của Hải quân lặn sâu dưới đáy biển và các lực lượng của tỉnh Quảng Ninh đã tiếp tục tăng cường tìm kiếm, rà soát trong phạm vi rộng xung quanh tâm là địa điểm xác máy bay. Đến khoảng gần 8h00' ngày 7/4, thi thể của nạn nhân thứ 5 trong vụ tai nạn đã được tìm thấy cách vị trí xác máy bay khoảng vài trăm mét. Như vậy, đến thời điểm hiện tại, cả 5 nạn nhân trong vụ tai nạn máy bay trực thăng đã được các lực lượng tìm thấy.

          Trong quá trình cứu nạn, lực lượng tìm kiếm cứu nạn có thời điểm lên đến khoảng 600 người, trong đó chủ chốt là lực lượng của tỉnh Quảng Ninh, Bộ Quốc phòng, Cục Cứu hộ - Cứu nạn, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ Tư lệnh Quân khu 3, Quân chủng Hải quân, Quân chủng Phòng không Không quân, Cảnh sát biển, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải Việt Nam, Bộ CHQS tỉnh, Bộ CHBĐ Biên phòng tỉnh, Công an tỉnh Quảng Ninh và sự tham gia tích cực của các ngư dân đã dàn lưỡi câu để rà dưới đáy mặt biển để tìm kiếm nạn nhân và nhiều phần còn lại của máy bay.

          Cùng với công tác tìm kiếm, Bộ Quốc phòng, tỉnh Quảng Ninh cũng đã nhanh chóng, kịp thời thăm hỏi, động viên, hỗ trợ gia đình những người bị nạn; phối hợp với thân nhân người bị nạn xử lý các thủ tục pháp lý, lo chu toàn hậu sự cho người bị nạn.

 

Mỗi tuần một cuốn sách

 Bạn đọc thân mến. Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc ta, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới. Mỗi thắng lợi và mỗi bước đi lên của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với công lao to lớn của Người, sự soi đường, dẫn dắt của tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, ngày 08/7/2016, Thường vụ Quân ủy Trung ương ban hành Chỉ thị số 87-CT/QUTW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng bộ, Quân đội và toàn quân”. Chỉ thị xác định: “đẩy mạnh tuyên truyền thường xuyên, liên tục, có hệ thống, bằng nhiều hình thức phong phú, sinh động, phù hợp với từng đối tượng về thân thế, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách Bác Hồ”. Với mục đích đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng hiệu quả, đi vào chiều sâu, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tái bản cuốn sách Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa. LLVT tuần này giới thiệu đến Bạn đọc cuốn sách lựa chọn những lời dạy, lời căn dặn, khen tặng, động viên… của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được trích lục, sắp xếp theo diễn tiến ngày tháng; tập trung làm rõ những giá trị nhân văn, ý nghĩa lý luận, thực tiễn lời căn dặn của Bác Hồ qua những bức thư, bài báo, bài phát biểu của Người. Bước sang thời kỳ mới, tư tưởng và những lời dạy quý báu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta đã và đang là ngọn đuốc soi đường, là kim chỉ nam cho sự nghiệp cách mạng, là định hướng quan trọng để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ra sức thi đua, xây dựng xã hội Việt Nam ngày càng phồn vinh. Đọc sâu và ngẫm kỹ từng chữ, từng câu trong lời dạy của Bác, chúng ta mới thấy được ý nghĩa sâu xa của những lời Bác dạy. Cuốn sách là nguồn tư liệu quan trọng trong việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII và Chỉ thị số 87-CT/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương; giúp thế hệ trẻ, cán bộ, chiến sĩ tự ý thức, soi mình vào đó, học tập, trau dồi, rèn luyện, hoàn thiện bản thân theo tinh thần phê bình và tự phê bình; không ngừng tu dưỡng, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Việt Nam có Chiến lược Quân sự riêng, không áp dụng máy móc học đòi

 

Đài RFA đã có bài viết mang nặng âm khí khi "bày dạy" cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nhà quân sự Việt Nam phải học theo kiểu mẫu của Ukraina trong vấn đề đa dạng hóa vũ khí nhằm bảo vệ tổ quốc trong tình hình hiện nay.

Chưa biết được Ukraina có "kiểu mẫu" gì hay ho mà nhà đài RFA hót hay đến vậy nhưng qua theo dõi tình hình quốc tế ai cũng biết rõ đất nước này đang sử dụng mô hình quân đội của các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ. Tức là từ đội hình tổ chức con người đến vũ khí sát thương đang sử dụng trong xung đột với Nga đến nay hầu hết là do nguồn từ Mỹ, phương Tây trợ giúp.  Thế hóa ra đài RFA bày cho Việt Nam nước đi độc đáo đó là từ bỏ học thuyết quân sự được xây dựng từ khi chống Pháp, Mỹ xâm lược mà nên đi copy chiến lược quân sự của Mỹ, kẻ trước đây vốn là thù địch với Việt Nam. Nhưng nhìn qua ngó lại thì việc hiện đại hóa, đa dạng hóa vũ khí trong quân đội Việt Nam chưa bao giờ bị bỏ qua, mà thậm chí sau khi lấy được các vũ khí của Nhật, Pháp, Mỹ trong cuộc chiến tranh phía Việt Nam đã tái sử dụng trong thời gian dài sau này phục vụ bảo vệ tổ quốc và bảo vệ đất nước trong chiến tranh biên giới. Điển hình như xe thiết giáo M113 bây giờ vẫn được cải tiến để chở quân (có còn hơn không); tàu vận tải thu được thời Mỹ - Ngụy vẫn được sử dụng để chở quân, hàng hóa ra Trường Sa trong nhiều năm trước đây. Việt Nam trong nhiều năm qua đã có động thái mua một số thiết bị vũ khí từ Mỹ, Châu Âu như máy bay vận tải, tàu cảnh sát biển, máy bay tuần tra cảnh báo sớm. Tuy chưa nhiều nhưng tỷ lệ đã tăng lên đáng kể.

Mỗi một quốc gia đều có chiến lược quân sự để bảo vệ quốc gia riêng mình, phù hợp với đặc điểm vị trí, tiềm lực quân sự nước đó. Không thể áp dụng mô hình của Mỹ, Châu Âu vào Việt Nam một cách máy móc mà phải vận dụng sáng tạo, phù hợp với tình huống thực tế của Việt Nam. Đó mới làm nên chiến thắng của Việt Nam trước bất cứ đối thủ tiềm tàng nào.

“Nữ tù nhân lương tâm” có xứng đáng được “tôn vinh”

 

Vào những ngày này, các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, xã hội và đặc biệt là nam giới đã tổ chức các sự kiện, chương trình và đanh những lời chúc tốt đẹp nhât đến những người phụ nữ xung quanh mình. Đó có thể chỉ là những lời chúc, những bông hoa, món quà nhưng tất cả đều hướng đến dành sự tôn trọng, tri ân với sự hy sinh vất vả, bày tỏ tình cảm, sự quan tâm đến các chị em, các bà, các mẹ, những người phụ nữ tuyệt vời xung quanh mình.

Vậy nhưng đối với những kẻ thiếu thiện chí, chống phá đất nước, vào những dịp như Ngày Quốc tế phụ nữ 08/3 hay Phụ nữ Việt Nam 20-10 thì họ lại đăng tải các bài viết để cổ vũ cho các hoạt động chống phá của những kẻ mà họ gọi là “nữ tù nhân lương tâm”. Năm nay cũng không nằm trong ngoại lệ khi một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí như “Việt Tân”, RFA, VOA… đăng tải các bài viết để thực hiện cái gọi là “tôn vinh” cho những kẻ như Phạm Thị Đoan Trang, Nguyễn Thuý Hạnh, Cấn Thị Thêu, Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Thị Tâm… Vậy liệu những người trên họ có xứng đáng được “tôn vinh” như cách mà các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí đang thực hiện? Điểm chung trong các hoạt động của các đối tượng mà họ gọi là “tù nhân lương tâm” như Phạm Thị Đoan Trang, Nguyễn Thuý Hạnh, Cấn Thị Thêu, Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Thị Tâm… là họ đã có những hoạt động vi phạm pháp luật và đang phải chấp hành bản án nghiêm minh theo quy địnhcuar pháp luật. Có thể đó là tội tuyên truyền, chống phá đất nước hay lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm hại đến quyền, lợi ích của Nhà nước, của các cá nhân, tổ chức hay xúc phạm Quốc kỳ… và là những kẻ thường xuyên đăng tải các bài viết có nội dung đi ngược lại với lợi ích quốc gia, dân tộc Việt Nam.

Lẽ ra, nếu họ không có các hoạt động vi phạm pháp luật, không tuyên truyền ch.ống ph.á đất nước thì giờ đây họ cũng được xã hội, được Hội liên hiệp phụ nữ các cấp, được người thân, bạn bè đanh tặng những lời chúc, tặng những món quà ý nghĩa nhân dịp 8/3. Vậy nhưng quy luật của cuộc sống, gieo nhân và gặp quả, giờ đây họ phải trả giá cho những lỗi lầm đã gây ra. Do đó, việc “tôn vinh” những “nữ tù nhân lương tâm” có khác gì đi cổ vũ cho các hoạt động chố.ng ph.á đất nước và phải chăng đó là mưu đồ chính trị của những kẻ thiếu thiện chí đang thực hiện?

Về cái gọi là “đề án dân quyền việt nam” của BPSOS

 

Vừa qua trên mạng xã hội facebook xuất hiện nhóm có tên gọi là “Đề án dân quyền Việt Nam” do tổ chức “ủy ban cứu trợ người vượt biển” của Nguyễn Đình Thắng ở hải ngoại cầm đầu với mục tiêu chống phá chính quyền trong nước, cổ súy cho sự chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Vậy cái gọi là “đề án dân quyền Việt Nam” là gì? Trước hết, cần hiểu rõ hơn về tổ chức BPSOS, theo Báo CAND đăng tải nhận diện về tổ chức này thì “BPSOS đã trở thành một tổ chức phản động lưu vong với phương thức và thủ đoạn chống đối quyết liệt cả ở trong và ngoài nước, xâm phạm trực tiếp đến an ninh quốc gia của Việt Nam”.

Rõ ràng những điều mà tổ chức này đang hoạt động ở nước ngoài đang có tác động tiêu cực cho Việt Nam. Tương tự điều đó thì cái gọi là “Đề án dân quyền Việt Nam” đương nhiên nằm trong những hoạt động mang tính chống phá Việt Nam do tổ chức này đặt ra để phục vụ dã tâm cho nhóm người ở hải ngoại. Sự đa dạng trong hoạt động chống phá của BPSOS là điều có thể thấy rõ khi những kẻ trong tổ chức này đã lợi dụng những lĩnh vực đang có nhiều vấn đề phức tạp ở trong nước để tác động lấn sâu vào sự quản lý của chính quyền trong nước, kích thích mâu thuẫn bên trong để tạo cớ, từ đó nội công ngoài kích hòng đánh sập chế độ chính quyền Việt Nam. Con bài về Dân chủ, nhân quyền là chiêu cũ nhưng luôn mới, đặc biệt ở các nước thứ ba, các nước hậu xô viết, những quốc gia theo chế độ cộng sản hoặc không theo quỹ đạo tư bản đều là nằm trong số đó. Cách làm tuy không mới nhưng lại luôn hiệu quả đối với Việt Nam bởi những đặc điểm cấu trúc xã hội từng vùng miền chưa đồng đều, lịch sử của các lĩnh vực dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam phức tạp là cơ sở điều kiện để những cái gọi là “đề án dân quyền Việt Nam” nảy sinh và đi sâu vào từng ngõ ngách, đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số, nông thôn, công nhân.

Hiện chưa có những thông cáo chính thức từ phía cơ quan chức năng về hội nhóm trên không gian mạng này nhưng nhận diện những điều xấu từ tổ chức đứng đằng sau là BPSOS chưa bao giờ là thừa.

Đằng sau việc “Việt Tân” lại kêu gọi biểu tình chống Trung Quốc

 

Trên trạng mạng của tổ chức “Việt Tân” vừa đăng tải bài viết để kêu gọi người dân ở hải ngoại tham gia biểu tình chống Trung Quốc trước Toà án Trọng Tài của Liên Hợp quốc ở Hà Lan. Theo đó, “Việt Tân” đã kêu gọi “người dân tham gia cuộc biểu tình phản đối hành động xâm chiếm của Trung Quốc và đòi chính phủ CSVN kiện Trung Quốc để bảo vệ chủ quyền quốc gia” vào ngày 11/3/2023, từ 14 giờ đến 16:30 (giờ Paris) tại Tòa Án Trọng Tài Thường Trực của Liên Hiệp Quốc ở The Hague, Hà Lan. Đây vẫn là những luận điệu quen thuộc của “Việt Tân” khi chúng lợi dụng chuẩn bị diễn ra sự kiện kỷ niệm 35 năm ngày 64 anh hùng liệt sĩ, thuộc Trung đoàn 83 Hải quân Vùng 4 đã hy sinh trong cuộc chiến bảo vên chủ quyền lãnh thổ tại Gạc Ma, Trường Sa vào ngày 14/3/1988 để thực hiện mưu đồ chố.ng mà của “Việt Tân” mà thôi.

Những năm gần đây, vào các dịp này, dưới sự kích động, hậu thuẫn của “Việt Tân” một số đối tượng chống đối trong nước đã lấy danh nghĩa là những người yêu nước, chống Trung Quốc để từ đó thực hiện chiêu trò kích động người dân biểu tình, tuần hành chố.ng ph.á tại khu vực tượng đài Lý Thái Tổ, Hà Nội. Và số đối tượng ch.ống ph.á như Phạm Đoan Trang, Trương Văn Dũng, Nguyễn Thuý Hạnh, Nguyễn Lân Thắng, Phạm Chí Dũng… giờ cũng đã, đang phải trải giá cho những hành động tuyên truyền, chống phá đất nước, đi lại lợi ích quốc gia, dân tộc của mình. Và có lẽ sau những thất bại liên tiếp trong thực hiện chiêu trò này ở trong nước nên lần này “Việt Tân” tổ chức “tự sướng” cho số chống cộng sống lưu vong ở bên ngoài để thực hiện mưu đồ chính trị của mình mà thôi.

Cũng nhắn nhủ cho “Việt Tân” cũng như số chống cộng đang sống lưu vong ở nơi xứ người rằng, nếu là những người yêu nước thực sự thì việc nên làm trong những ngày này là tưởng nhớ về sự kiện Gạc Ma để tự hào, tiếc thương, tri ân về sự hy sinh anh dũng của 64 cán bộ, chiến sĩ để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc cũng như lời tri ân đến hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ canh gác, bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc trong thời kỳ quốc tế, khu vực đang có những diễn biến phức tạp. Còn những chiêu trò tuần hành, biểu tình này cũng chỉ để cho “Việt Tân” mua vui, tự sướng mà thôi.

Hàn Quốc cần tôn trọng sự thật lịch sử

 

Đó là tuyên bố của Bộ Ngoại Giao Việt Nam trong cuộc họp báo thường kỳ vừa qua, khi được phóng viên đặt vấn đề về việc Bộ Quốc phòng Hà Quốc phủ nhận tội ác trong chiến tranh Việt Nam. Hán Quốc cần tôn trọng sự thật lịch sử trong cuộc chiến tranh Việt Nam là cần thiết và quan trọng để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa 2 quốc gia và nhân dân. Việc thừa nhận và giải quyết các hành vi tàn sát và các tội ác chiến tranh của quân đội Hàn Quốc trong chiến tranh Việt Nam là cần thiết để xoa dịu nỗi đau của người dân Việt Nam và xây dựng một tương lai tốt đẹp cho các quốc gia và nhân dân trong khu vực.

Để tiến tới hòa bình và hợp tác xây dựng khu vực, các quốc gia cần thừa nhận và chấp nhận trách nhiệm của mình trong quá khứ.

Những hành vi tàn bạo, tàn ác trong cuộc chiến tranh Việt Nam không chỉ là một kỷ niệm đau buồn cho người Việt Nam mà còn để lại hậu quả và giằng xé về cảm xúc cho những người thân của các nạn nhân. Vì vậy, việc Hàn Quốc thừa nhận và xin lỗi cho những hành vi đó là cần thiết để giúp làm dịu những nỗi đau của người dân Việt Nam và để khôi phục quan hệ tốt đẹp giữa hai nước.

Hành động thực tế mà Hàn Quốc có thể làm để xin lỗi và bù đắp cho những hành vi của mình trong quá khứ có thể bao gồm việc đóng góp cho các chương trình xây dựng cộng đồng, tài trợ cho các nạn nhân của chiến tranh, tăng cường hợp tác văn hóa và giáo dục giữa hai nước, và cung cấp thông tin chính xác về lịch sử để đảm bảo rằng các thế hệ tương lai có thể hiểu và học hỏi từ quá khứ.

Người đẹp mà tâm đâu có đẹp?

 

Họ nghĩ gì về thể diện quốc gia? Đặc biệt là hình ảnh ba lô, mũ cối, áo màu xanh đã diệt giặc ngụy mỹ tan tác chim muông?

Họ nghĩ gì khi họ mặc những trang phục ngoại quốc, trang phục chế độ ngụy cũ chống Việt Nam?? Họ nghĩ gì?

Lễ hội Áo dài hoa cúc diễn ra tại Cửa Lò, tỉnh Nghệ An: Điều đáng nói là tôn vinh áo dài Việt Nam nhưng đi kèm với trang phục Mỹ, ngụy???

Trang phục quân đội của một quốc gia là biểu tượng của giá trị quân sự và tôn vinh những người lính đã hy sinh để bảo vệ đất nước, đặc biệt là màu xanh áo lính, chiếc mũ cối, ba lô xanh biếc... của người lính Việt Nam đã ngã xuống hi sinh anh dũng. Việc mặc trang phục mỹ ngụy một cách vô tư và không phù hợp với hoàn cảnh xung quanh có thể bị hiểu là thiếu tôn trọng giá trị văn hóa của đất nước. Việc mặc trang phục quân đội mà không phải là người lính của quốc gia đó có thể gây phản cảm và xúc phạm đến người dân địa phương. Nó có thể bị hiểu là một hành động khinh bỉ và thiếu tôn trọng. Mặc trang phục quân đội của một quốc gia mà không có sự cho phép của chính phủ có thể là vi phạm pháp luật. Nếu bị phát hiện, người mặc có thể đối mặt với hậu quả pháp lý.

Không nên có những hành động mặc trang phục quân đội của một quốc gia mà không phải là người lính của quốc gia đó. Chúng ta cần tôn trọng giá trị văn hoá của đất nước và đối xử với người khác một cách lịch sự và tôn trọng.