Thứ Bảy, 8 tháng 4, 2023

PHÁT HUY PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT 847-NQ/QUTW


 Để phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mỗi quân nhân luôn không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt. Đó cũng là đặc trưng cơ bản được khái quát trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (sau đây gọi là Nghị quyết 847) về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.


Để phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mỗi quân nhân luôn không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt. Xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữ gìn và phát huy phẩm chất bộ đội cụ Hồ trong mọi điều kiện, hoàn cảnh là trách nhiệm thiêng liêng và cao cả của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, đã được các thế hệ gây dựng bằng sự hy sinh xương máu.


Danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ là “báu vật” nhân dân trao cho Quân đội nên cán bộ, chiến sĩ phải luôn trân trọng, nâng niu, giữ gìn như giữ gìn điều thiêng liêng nhất, là lương tâm và danh dự của mình.


Để phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mỗi quân nhân luôn không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt. Đó cũng là đặc trưng cơ bản được khái quát trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (sau đây gọi là Nghị quyết 847) về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.


Phải khẳng định, Quân đội ta là một trường học lớn, ở đó quân nhân được học tập toàn diện để nâng cao trình độ mọi mặt. Người xưa dạy rằng “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Trong môi trường quân sự, người chiến sĩ được chỉ dạy những điều nhỏ nhất như: Học sắp đặt nội vụ ngăn nắp, gọn gàng, học xưng hô, chào hỏi, đi đứng cho đúng lễ tiết, tác phong, học giao tiếp, ứng xử để giải quyết các mối quan hệ công tác... Khi vào huấn luyện, bộ đội được học tập chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ...


Như vậy, có thể thấy rằng, quân nhân được quan tâm chăm lo giáo dục, rèn luyện toàn diện cả về phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tác, kỹ năng sống để có thể đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Bất kể ở đâu, khi nào, việc học tập cũng được coi trọng dù trong sinh hoạt đời thường hay khi huấn luyện, công tác; dù trong chiến đấu hay giữa thời bình. Nhờ có học tập mà bộ đội ngày càng tiến bộ, trưởng thành.

Từ những ngày mới thành lập với bao khó khăn chồng chất, nhưng mỗi cán bộ, chiến sĩ đã hết sức coi trọng việc học tập, rèn luyện. Bởi là người chiến sĩ tiên phong thì phải có trình độ nhận thức, có kiến thức để tuyên truyền vận động nhân dân đi theo cách mạng, để đấu tranh với kẻ thù gian ác, nguy hiểm. “Giặc dốt” cũng là kẻ thù của cách mạng. Người chiến sĩ phải đi đầu trong diệt “giặc dốt”, xóa nạn mù chữ. Chính vì thế, học tập cũng là một nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi cách mạng.


Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cùng với nhiệm vụ chiến đấu, bộ đội luôn tích cực học tập. Các lớp bồi dưỡng, tập huấn được mở ra ngay tại chiến khu. Các trường quân sự cũng được thành lập. Bộ đội từ chiến trường được về giảng đường học tập và từ nhà trường lại ra chiến trường chiến đấu. Nhờ vậy, cán bộ, chiến sĩ có điều kiện gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành để tiếp tục chiến đấu và giành chiến thắng.


Quân đội ta vinh dự được Bác Hồ quan tâm giáo dục, rèn luyện. Người căn dặn: “Toàn thể cán bộ và chiến sĩ phải ra sức học tập chính trị, quân sự, văn hóa, cần phải nâng cao lập trường tư tưởng của giai cấp công nhân, cần phải nắm vững đường lối quân sự của Đảng, ra sức rèn luyện kỹ thuật và chiến thuật, cần phải luôn nêu cao cảnh giác, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân”.


Lời căn dặn của Người chỉ rõ đối với bộ đội phải học tập toàn diện về chính trị, quân sự, văn hóa, phải rèn luyện cả về kỹ thuật và chiến thuật. Cán bộ, chiến sĩ trong quân đội học không chỉ để biết mà học để “làm việc, làm người, làm cán bộ” và mục đích cuối cùng đó là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Nhờ học tập, rèn luyện, nhiều thế hệ cán bộ trong quân đội đã trưởng thành, đóng góp trí tuệ vào sự nghiệp chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.


Hiện nay, cán bộ, chiến sĩ đều được học tập rất cơ bản. Hệ thống các nhà trường trong quân đội được đầu tư xây dựng theo hướng chuẩn hóa, thực hiện tốt mục tiêu, yêu cầu đào tạo. Cán bộ các cấp được bổ nhiệm chức vụ đều qua đào tạo các cấp học tương ứng. Quá trình học tập được tổ chức trong hệ thống nhà trường quân đội và ở các đơn vị. Giáo viên là những người thầy đứng trên bục giảng, là đội ngũ cán bộ quản lý ở đơn vị. Bộ đội học trên giảng đường, ngoài thao trường và trong thực tiễn công tác tạo thành phong trào học tập sôi nổi trong toàn quân.


Các cơ quan, đơn vị, học viện, nhà trường tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu khoa học theo hướng toàn diện, đổi mới. Hàng loạt công trình khoa học, sáng kiến được nghiệm thu và triển khai có hiệu quả. Với tinh thần thi đua học tập, nghiên cứu, tuổi trẻ quân đội đẩy mạnh Phong trào “Thanh niên quân đội tiến quân vào khoa học và công nghệ”. Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong quân đội với nhiều công trình nghiên cứu đạt chất lượng tốt. Trong các hội thi, hội thao trong nước và quốc tế, quân đội luôn giành được thành tích cao. Mỗi công trình khoa học, giải thưởng là kết tinh trí tuệ, công sức, sự nỗ lực học tập, rèn luyện không ngừng của cán bộ, chiến sĩ toàn quân, mang lại lợi ích thiết thực trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và dân sinh, đem vinh quang về cho Tổ quốc.


Tích cực học tập, rèn luyện vừa là nhu cầu tự thân vừa là đòi hỏi đối với mỗi quân nhân, bởi có học tập mới có tri thức, phương pháp tác phong công tác, không bị tụt hậu lỗi thời. Thế nhưng trong quá trình công tác vẫn còn quân nhân chưa thực sự ham học hỏi, cầu tiến bộ, có biểu hiện thỏa mãn, cầm chừng, ngại học, ngại rèn. Nghị quyết 847 đã thẳng thắn chỉ ra biểu hiện “Coi thường lý luận, xa rời thực tiễn, lười học tập, rèn luyện, thích tự do, vô kỷ luật”. Vì không tích cực học tập, không cập nhật thông tin dẫn đến thiếu hiểu biết, có nhận thức lệch lạc, nảy sinh tư tưởng tiêu cực, hành động sai trái, vi phạm kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước. Lười học tập, ngại rèn luyện là những căn nguyên dẫn đến suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, đánh mất những giá trị phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ.


Hoạt động quân sự mang tính đặc thù cao. Do vậy nhiệm vụ học tập để trang bị cho bộ đội có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với từng chức trách, nhiệm vụ nhất định, hình thành lý tưởng, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của quân nhân cách mạng, có thế giới quan khoa học, linh hoạt nhạy bén, năng động, sáng tạo thích ứng trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào. Trước yêu cầu hiện đại hóa quân đội, bộ đội càng phải thi đua học tập để có đủ trình độ, tri thức tiên tiến. Hiện nay, quân nhân có điều kiện tiếp thu nhiều kiến thức mới với cách thức tiếp cận hiện đại. Đặc biệt, khi internet phát triển, bộ đội dễ dàng tìm hiểu, nắm bắt được nhiều thông tin phong phú về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... Đó là nguồn tri thức hỗ trợ tích cực cho cán bộ, chiến sĩ trong quá trình học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ toàn diện.


Để việc học trở thành nhu cầu tự thân của mỗi quân nhân, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cho mỗi quân nhân về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc học tập, rèn luyện, khơi dậy tinh thần tự học, tự rèn, khả năng sáng tạo để thỏa mãn nhu cầu nhận thức và yêu cầu công tác. Quá trình học tập của bộ đội chịu tác động của cả hệ thống giáo dục-đào tạo từ nhà trường đến đơn vị, từ giáo viên đến cán bộ quản lý. Do đó, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới nội dung, hình thức học tập luôn được đặt ra đối với các học viện, nhà trường và đơn vị. Bên cạnh đó, công tác quản lý giáo dục, cơ sở vật chất bảo đảm cũng phải được cải tiến nhằm tạo ra môi trường giáo dục thuận lợi, giúp cho việc dạy và học đạt hiệu quả cao.


Tích cực học tập, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt và kiến thức chuyên môn vừa là đặc trưng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, cũng là yêu cầu đặt ra đối với mỗi quân nhân phải luôn tự học, tự rèn để có đủ phẩm chất, năng lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, đóng góp trí tuệ, sức lực xây dựng quân đội vững mạnh, hiện đại./

HỘI ĐỒNG NHÂN QUYỀN LIÊN HỢP QUỐC ĐÃ THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT DO VIỆT NAM ĐỀ XUẤT

Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã đồng thuận thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên do Việt Nam đề xuất và soạn thảo.

Ngày 03/4 tại trụ sở Văn phòng Liên hợp quốc (LHQ) tại Geneva (Thụy Sĩ), Hội đồng Nhân quyền LHQ (HĐNQ) đã đồng thuận thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên (VDPA) do Việt Nam đề xuất và soạn thảo. Đây là dấu ấn nổi bật của Việt Nam ngay trong Khóa họp đầu tiên đảm nhận cương vị thành viên HĐNQ nhiệm kỳ 2023-2025.

Tại phiên họp cấp cao mở đầu Khóa họp 52 của HĐNQ tại Geneva ngày 27/2 vừa qua, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang đã đưa ra sáng kiến về việc kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn và 30 năm Tuyên bố nêu trên bằng một văn kiện của HĐNQ nhằm khẳng định lại và tăng cường các nỗ lực cũng như hành động hướng tới đạt được những mục tiêu và giá trị lớn, bao trùm của hai văn kiện quan trọng nêu trên, cũng như các cam kết chung của cộng đồng quốc tế về quyền con người cho tất cả mọi người.

Nội dung Nghị quyết tập trung vào tầm quan trọng và nhiều nội dung tích cực của Tuyên ngôn và Tuyên bố nêu trên như nhắc lại các nguyên tắc chính về quyền con người của hai văn kiện; phản ánh quan tâm rộng rãi của các nước trong việc kỷ niệm hai văn kiện; nâng cao vị thế, vai trò, hiệu quả hoạt động của HĐNQ và các cơ chế nhân quyền LHQ; nhấn mạnh vai trò hàng đầu của các quốc gia trong bảo đảm quyền con người; ghi nhận sự tham gia của phụ nữ, vai trò của hợp tác và đoàn kết quốc tế, tôn trọng sự đa dạng, bao trùm… trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người nói chung và trong tham gia công việc của HĐNQ nói riêng. Nghị quyết cũng đề nghị Cao ủy Nhân quyền LHQ triển khai chương trình hoạt động kỷ niệm Tuyên ngôn và Tuyên bố nêu trên, trong đó có Sự kiện cấp cao của LHQ về quyền con người vào tháng 12/2023 và có Báo cáo về các hoạt động kỷ niệm lên Khóa họp 56 HĐNQ vào đầu năm tới.

Nghị quyết này là một dấu ấn nổi bật của Việt Nam tại Khóa họp đầu tiên trên cương vị thành viên HĐNQ nhiệm kỳ 2023-2025, thể hiện đóng góp thực chất, trách nhiệm của Việt Nam vào công việc của HĐNQ. Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Geneva đã trực tiếp triển khai soạn thảo, tham vấn, thương lượng dự thảo Nghị quyết, sau khi Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang nêu sáng kiến tại Khóa họp. Ngày 03/4/2023, HĐNQ đã thông qua Nghị quyết bằng đồng thuận, với sự tham gia đồng bảo trợ Nghị quyết của 98 nước (tính đến cuối giờ chiều ngày 03/4/2023 giờ Geneva), bao gồm 14 nước đồng tác giả (Việt Nam, Áo, Bangladesh, Bỉ, Bolivia, Brazil, Chile, Costa Rica, Fiji, Ấn Độ, Panama, Rumani, Nam Phi và Tây Ban Nha), đồng thời có 34 nước thành viên HĐNQ, cả các nước phương Tây và nhiều nước đang phát triển từ cả 5 nhóm khu vực, trong đó có hầu hết các nước ASEAN.

Với nội dung như nêu trên, việc Nghị quyết được thông qua bằng đồng thuận, có sự đồng bảo trợ của 98 nước cho thấy Nghị quyết thể hiện sự quan tâm và ưu tiên chung của các nước và cộng đồng quốc tế, thu hút được sự hưởng ứng, tham gia ủng hộ của đông đảo các nước, được sự đánh giá cao của các bên. Việc Việt Nam đề xuất Nghị quyết này tại HĐNQ rất kịp thời, đáp ứng sự quan tâm của cộng đồng quốc tế về kỷ niệm và đề cao UDHR và VDPA, hai văn kiện quan trọng về quyền con người là nền tảng của khung khổ các công ước quốc tế, các cơ chế, đối thoại và hợp tác ở các cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia về quyền con người. Nghị quyết này sẽ giúp tăng cường hơn nữa nỗ lực và hành động của các quốc gia và cộng đồng quốc tế trong hiện thực hóa các mục tiêu, tôn chỉ, cam kết hành động đề ra tại hai văn kiện trên, góp phần nâng cao vai trò của HĐNQ, Cao ủy Nhân quyền LHQ về thúc đẩy và bảo vệ quyền con người cho mọi người, thông qua đối thoại và hợp tác, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau.

Đây cũng là kết quả của những nỗ lực chủ động, sáng tạo và triển khai bài bản của Bộ Ngoại giao, Phái đoàn Việt Nam tại Geneva trong việc đưa ra sáng kiến Nghị quyết, soạn thảo nội dung, cũng như nỗ lực của Đoàn Việt Nam trực tiếp tham vấn, vận động, thương lượng với các Đoàn của các nước tại Geneva để đi đến nhất trí về nội dung dự thảo Nghị quyết bao gồm những nội dung tích cực, cân bằng sự quan tâm của các nước, trong bối cảnh các nước và các nhóm nước còn có quan điểm khác nhau trên các vấn đề cụ thể về quyền con người. Bên cạnh đó, sự phối hợp tích cực của các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã góp phần tích cực trong việc vận động các nước ủng hộ Nghị quyết.

Việc Việt Nam đề xuất, soạn thảo và thương lượng Nghị quyết này vừa là cụ thể hóa trách nhiệm, nỗ lực và ưu tiên của Việt Nam trên cương vị thành viên HĐNQ nhiệm kỳ 2023-2025, đồng thời cũng là hiện thực hóa chính sách đối ngoại chủ động, tích cực, có trách nhiệm tham gia giải quyết các vấn đề quan tâm chung của cộng đồng quốc tế.

Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 10/12/1948 với nội dung chính gồm: khẳng định mọi người sinh ra tự do, bình đẳng, không phân biệt, khẳng định các quyền của con người như quyền sống, quyền được xét xử công bằng, không bị tra tấn, không phải làm nô lệ và các quyền khác trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Tuy không phải là văn kiện pháp lý quốc tế nhưng UDHR là nền tảng để xây dựng luật quốc tế về nhân quyền, trong đó có Công ước về các quyền dân sự, chính trị và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; cũng như được đưa vào các văn kiện về quyền con người của các cơ chế khu vực và vào pháp luật của các quốc gia. Ngày 10/12 sau này trở thành Ngày Nhân quyền quốc tế. Đây là một trong những văn kiện quan trọng nhất của thế kỷ 20, được tất cả các nước thông qua và đã trở thành nền tảng để các quốc gia, trong đó có Việt Nam sử dụng trong quá trình xây dựng các văn kiện liên quan đến việc bảo vệ quyền con người.

Tuyên bố và Chương trình hành động Viên (VDPA) được các nước thành viên LHQ thông qua năm 1993, tại hội nghị quốc tế về Nhân quyền được tổ chức tại Viên. VDPA khẳng định lại các giá trị của UDHR, đồng thời làm rõ việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người phải là ưu tiên cao nhất của mỗi quốc gia và cộng đồng quốc tế; nhấn mạnh trong khi cần tính tới các đặc thù của mỗi quốc gia, xã hội, các quyền con người cần được nhìn nhận là giá trị phổ quát, cần được đánh giá trong mỗi quan hệ cân bằng, phụ thuộc lẫn nhau. VDPA cũng khẳng định vai trò của LHQ trong thúc đẩy quyền con người trên thế giới và khởi động cho việc thành lập Cao ủy Nhân quyền LHQ.


BOM BA CÀNG

 Là một loại vũ khí chống tăng do xưởng quân giới Việt Nam sản xuất năm 1946. Bom ba càng được thiết kế với kíp kích nổ bằng va chạm theo nguyên tắc đầu đạn lõm, không quá phức tạp trong việc chế tạo nên phù hợp với thời điểm đó. Bom có dạng hình phễu, nhồi bằng thuốc nổ hoặc thuốc bom (7–10 kg), có vành gang gắn ba càng sắt; đáy phễu là bộ phận gây nổ, gồm: hạt nổ, kim hỏa và chốt hãm an toàn. Khoảng lõm ở đáy hình côn khi nổ sẽ khiến cho sức nổ hướng vào lớp thép xe tăng. Đuôi bom có một lỗ dùng để tra cán dài khoảng 1,2m. Người ta phải lắp 3 điểm chạm (3 kíp) để đề phòng có cái kíp nào "xịt" vì không có nhiều cơ hội cho các chiến sỹ cảm tử tiếp cận với xe tăng.

Khi đánh bom, động tác phải dứt khoát, tay trái hoặc tay phải nắm (nâng) nơi tiếp giáp đuôi bom và gậy, tay còn lại nắm chắc 2/3 của gậy, mặt bom chếch 45 độ về phía trước, cách mục tiêu 2 - 3m hạ bom ngang tầm vai hai tay lao bom vào vị trí đã chọn, phải bảo đảm ba càng bom cùng lúc chạm trên mặt phẳng của mục tiêu ( xe tăng, xe bọc thép bánh hơi chọn nơi thành bên hông xe, dưới tháp pháo…) để bộ phận gây nổ kích nổ chuẩn xác. Bom nổ gây áp lực cháy nổ rất lớn (nhiên liệu và đạn trên xe cùng bị kích nổ), sức ép một phần dội ngược lại phía sau hất người đánh bom bật ngửa xuống đường, tổ cứu hộ phải sẵn sàng ngay lập tức ra hỗ trợ chiến sĩ đánh bom vào nơi an toàn.

Ðánh bom ba càng phải là những chiến sĩ mưu trí, quả cảm, sẵn sàng hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ. Bởi sức công phá của bom rất lớn và tỷ lệ thương vong cũng rất cao. Trong điều kiện thiếu thốn, khó khăn mọi bề, thời gian gấp rút, lại chưa có vũ khí chống tăng hiệu quả, cho nên bom ba càng được sản xuất với số lượng hạn chế và chỉ sử dụng trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến. Biết rõ hành động này là cực kỳ nguy hiểm, là sẽ hy sinh vì phải lao cả người và bom vào xe tăng thì sức công phá mới có hiệu quả cao nhất, nhưng rất nhiều chiến sĩ vẫn viết đơn tình nguyện xin được làm nhiệm vụ vinh quang đó, xung phong gia nhập đội “Cảm tử quân” vì được chiến đấu bảo vệ Thủ đô là niềm vinh dự, tự hào cũng là trách nhiệm thiêng liêng khi Tổ quốc cần.

Trong những ngày đầu chiến đấu trong vòng vây tại Hà Nội, 10 đội cảm tử quân được thành lập, với tổng cộng khoảng 100 đội viên. Họ được biết với tên gọi là chiến sĩ quyết tử quân, khác với đa số chiến sỹ khác là Vệ quốc quân hoặc tự vệ Hà Nội. Chiến sĩ quyết tử quân thường mặc áo trấn thủ, đeo khăn đỏ, cầm bom ba càng, có khi được tổ chức truy điệu sống trước khi ra trận.

Trải qua 60 ngày đêm (19/12/1946 đến 18/2/1947) chiến đấu anh dũng, sáng tạo và quyết liệt, quân dân Thủ đô đã làm tròn nhiệm vụ cầm cự, giam chân địch trong thành phố để bảo vệ và sơ tán cơ quan đầu não cách mạng, bước đầu đánh bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của Pháp.


KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TRÊN HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA

 Gần đây, có nhiều dư luận trong nước và ở nước ngoài đưa ra quan điểm sai trái rằng: “Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc chiếm gần 50 năm rồi. Từ đó đến nay Việt Nam chưa gửi bất kỳ kháng nghị, đơn kiện nào lên tòa án công lý quốc tế hoặc tòa án quốc tế. Nếu Việt Nam không có bất kỳ kháng nghị hay đơn kiện nào thì theo luật quốc tế coi như Việt Nam chấp nhận mất Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa vĩnh viễn về tay Trung Quốc…”.

Xin giới thiệu bài viết phân tích của ông Hoàng Việt, giảng viên Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh về chủ đề này.

Việt Nam có hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và hai quần đảo ngoài khơi Biển Ðông là Hoàng Sa và Trường Sa. Ðây là hai quần đảo tiền tiêu của Tổ quốc; là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.

Từ những tư liệu lịch sử trong nước và ở nước ngoài, chúng ta khẳng định rằng: Việt Nam có đầy đủ bằng chứng pháp lý, lịch sử để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

🇻🇳 NHIỀU TƯ LIỆU LỊCH SỬ QUÝ GIÁ

Từ nửa đầu thế kỷ 17, Chúa Nguyễn đã tổ chức “đội Hoàng Sa” (lấy người từ xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi) ra quần đảo Hoàng Sa (với khoảng thời gian từ sáu đến tám tháng mỗi năm) để thu lượm hàng hóa trôi dạt trên biển, đánh bắt hải sản quý hiếm; đồng thời, đo vẽ sơ đồ, hải trình, trồng cây và dựng mốc trên quần đảo.

Cũng với nhiệm vụ này, cho đến thế kỷ 19, nhà Nguyễn đã tổ chức thêm “đội Bắc Hải” (lấy người thôn Tứ Chính và xã Cảnh Dương, phủ Bình Thuận) để tiến ra quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa để thực hiện các hành động chủ quyền tại đây. Theo hiểu biết địa lý lúc bấy giờ, địa danh quần đảo Hoàng Sa liền một dải, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa.

Ðiều đó chứng tỏ ngay từ thế kỷ 17, Việt Nam đã xác lập, thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi hai quần đảo này còn là lãnh thổ vô chủ và có thể nói là quốc gia duy nhất thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo này một cách hòa bình, liên tục và không gặp phải sự phản đối của bất kỳ quốc gia nào.

Thực tế này được chứng minh trong nhiều tư liệu, sách cổ, văn bản pháp lý của Nhà nước, bản đồ thể hiện việc thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được lưu giữ tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới như: Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư của Ðỗ Bá, tự Công Ðạo sưu tập, biên soạn và hoàn thành năm 1686; Phủ biên tạp lục của Lê Quý Ðôn (1776); Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1821); Hoàng Việt địa dư chí (1833); Ðại Nam thực lục tiền biên (1844-1848); Ðại Nam thực lục chính biên (1844-1848), Việt sử cương giám khảo lược (1876), Ðại Nam nhất thống chí (1882); Dư địa chí Khâm định Ðại Nam Hội điển sự lệ (1910); Hải ngoại kỷ sự (năm 1696) của nhà sư Trung Quốc Thích Ðại Sán; Quốc triều chính biên toát yếu (1910), An Nam đại quốc họa đồ của giám mục người Pháp Louis Taberd (1838), Ðại Nam nhất thống toàn đồ (Bản đồ chính thức của triều Minh Mạng) (1838)...

Ðặc biệt, bộ Atlas thế giới của Philipe Vandemaelen xuất bản năm 1827, tại Bỉ, trong đó, vẽ và miêu tả rõ quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ của Vương quốc An Nam.

Ngoài ra, các Châu bản triều Nguyễn là các văn bản hành chính chính thức của triều đình nhà Nguyễn (1802-1945) có dấu son của vua, là bằng chứng quan trọng khẳng định việc Nhà nước quân chủ Việt Nam đã xác lập và triển khai nhiều hoạt động thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo như hằng năm cử các đội Bắc Hải kiêm quản đội Hoàng Sa ra hai quần đảo khai thác các tài nguyên sản vật trên biển và thu lượm hàng hóa trên các tàu bị đắm; đo đạc vẽ bản đồ; dựng bia, lập miếu, trồng cây, cứu trợ các tàu thuyền nước ngoài gặp nạn... Ðây là các tài liệu quý giá của triều đình nhà Nguyễn để lại cho thế hệ sau, khối tài liệu Châu bản đã được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu cấp quốc tế.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, với tư cách đại diện cho Việt Nam về đối ngoại theo Hiệp ước Patenôtre (năm 1884), Chính quyền thuộc địa Pháp đã có nhiều hoạt động củng cố chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Từ năm 1925 đến năm 1927, Pháp đã tổ chức điều tra về khí hậu, thổ nhưỡng, nghiên cứu mỏ và duy trì tuần tra trên quần đảo Hoàng Sa.

Liên tục trong các năm 1930-1933, Pháp đã đưa quân đội ra đóng giữ ở quần đảo Trường Sa. Ðể tiện quản lý, năm 1933, Pháp đã sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa (Nam Kỳ); thành lập đơn vị hành chính ở Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên (năm 1938). Cũng trong thời gian này, Pháp còn cho đặt cột mốc, xây ngọn hải đăng và các trạm: khí tượng, vô tuyến điện trên hai quần đảo.

Trong quan hệ quốc tế, Pháp đã nhiều lần lên tiếng phản đối các đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa. Ngày 14/10/1950, Pháp đã chính thức trao việc quản lý quần đảo Hoàng Sa cho chính phủ Bảo Ðại.

Ðặc biệt, tại Hội nghị San Francisco (năm 1951), trước đại diện của 51 quốc gia (trong đó có Trung Quốc), đại diện của chính phủ Bảo Ðại với tư cách là thành viên của khối Liên hiệp Pháp, phái đoàn quốc gia Việt Nam do Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Trần Văn Hữu làm trưởng đoàn đã tham gia hội nghị.

Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Trần Văn Hữu một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lời tuyên bố đó đã được Hội nghị San Francisco ghi vào biên bản và không gặp phải sự bảo lưu hay phản đối nào của đại diện các nước tham dự hội nghị, đã khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp phải bất cứ sự phản đối nào của các nước tham dự hội nghị.

Năm 1975, cùng với tiến trình giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước, Hải quân nhân dân Việt Nam đã giải phóng các đảo do quân đội Sài Gòn đóng giữ, như: đảo Trường Sa, Sơn Ca, Nam Yết, Song Tử Tây, Sinh Tồn và An Bang,… thuộc quần đảo Trường Sa. Ðồng thời, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam đã ra tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Liên tục từ đó đến nay, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam và Việt Nam có đầy đủ chủ quyền đối với hai quần đảo này, phù hợp các quy định của luật pháp và thực tiễn quốc tế. Hiện nay, huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc thành phố Ðà Nẵng; huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa với một thị trấn và hai xã đảo.

📣 NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI

Theo công pháp quốc tế, có bốn cách để thiết lập chủ quyền trên một lãnh thổ, bao gồm: (1) chuyển nhượng, (2) sự hình thành lãnh thổ mới, (3) chiếm hữu một lãnh thổ vô chủ, và (4) chiếm hữu theo thời hiệu.

Kể từ sau năm 1945, với sự ra đời của Liên hợp quốc và nhiều văn bản pháp luật quốc tế quan trọng, bao gồm Hiến chương Liên hợp quốc và các văn bản khác liên quan thì nguyên tắc cấm sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế đã được thiết lập, theo đó các hành vi xâm chiếm lãnh thổ bằng vũ lực bị nghiêm cấm.

Ðặc biệt, Nghị quyết 2625 của Ðại hội đồng Liên hợp quốc đã khẳng định: “Mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc sử dụng hoặc đe dọa dùng vũ lực nhằm vi phạm sự tồn tại của các đường biên giới của các quốc gia khác, hoặc sử dụng như là các biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế bao gồm các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan đến biên giới của các quốc gia… Tất cả các quốc gia sẽ giải quyết các tranh chấp quốc tế với những quốc gia khác bằng các biện pháp hòa bình mà không làm phương hại đến hòa bình, an ninh và công lý quốc tế”.

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng, việc sử dụng vũ lực chiếm đóng lãnh thổ của nước khác không bao giờ mang lại danh nghĩa chủ quyền hợp pháp cho quốc gia sử dụng vũ lực. Năm 1974 và năm 1988, Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã vi phạm vào nguyên tắc này, và do đó, không bao giờ là căn cứ hợp pháp cho yêu sách chủ quyền của Trung Quốc.

Chung quanh vấn đề Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp một số đảo của Việt Nam, thời gian qua trên internet có ý kiến cho rằng: “Theo luật quốc tế, nếu có tranh chấp lãnh thổ mà giữa các kháng nghị có một khoảng gián đoạn 50 năm hoặc nhiều hơn thì những đòi hỏi lãnh thổ trở nên vô hiệu. Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc chiếm gần 50 năm rồi. Từ đó đến nay Việt Nam chưa gửi bất kỳ kháng nghị, đơn kiện nào lên tòa án công lý quốc tế hoặc tòa án quốc tế. Nếu Việt Nam không có bất kỳ kháng nghị hay đơn kiện nào thì theo luật quốc tế coi như Việt Nam chấp nhận mất Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa vĩnh viễn về tay Trung Quốc…”.

Ðiều này hoàn toàn sai lầm và không có căn cứ trong luật quốc tế. Trong các văn bản quốc tế quan trọng đều không quy định vấn đề này. Trong các tập quán quốc tế về thụ đắc lãnh thổ của một quốc gia cũng không thể hiện điều này. Trong các án lệ quốc tế về tranh chấp lãnh thổ cũng không có một dòng nào nhắc tới quy định như vậy. Vì thế, đây chỉ là một sự suy diễn không có căn cứ.

Trong luật quốc tế về thụ đắc lãnh thổ chỉ thể hiện nếu một quốc gia chính thức từ bỏ, hoặc im lặng không lên tiếng phản đối chính thức trước một hành động xâm chiếm trái phép lãnh thổ đó thì mới bị coi là đánh mất chủ quyền trên lãnh thổ đó.

Ngay khi Hoàng Sa bị xâm chiếm, phía Việt Nam Cộng hòa (là bên đang quản lý thực tế Hoàng Sa và Trường Sa) đã lên tiếng phản đối hành động vi phạm này của Trung Quốc.

Năm 1988, khi Gạc Ma bị xâm chiếm bằng vũ lực, chính quyền Việt Nam đã liên tục ra các văn bản phản đối hành vi bất hợp pháp này. Chúng ta đã ban hành rất nhiều công hàm tại Liên hợp quốc cũng như các tuyên bố liên tục hằng năm để tiếp tục phản đối hành vi xâm phạm trái phép này.

Như vậy, chúng ta đã, đang và sẽ vẫn tiếp tục các hoạt động duy trì chủ quyền của mình với Hoàng Sa, Trường Sa thân yêu, dù một phần máu thịt ấy đang bị Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp. Các hoạt động khẳng định và thực thi chủ quyền ấy bao gồm đủ cả yếu tố vật chất, lẫn tinh thần, là hai yếu tố cần và đủ trong Công pháp quốc tế.

Và vì thế, không có chuyện là chủ quyền của chúng ta sẽ bị mất, mà ngược lại, hành động xâm chiếm bất hợp pháp bằng vũ lực thì sẽ mãi mãi không được công nhận chủ quyền cho dù bên xâm chiếm đang kiểm soát phần lãnh thổ đó.

Ðối với việc kiện đòi lại Hoàng Sa và một phần Trường Sa, theo quy định của luật pháp quốc tế, để giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ, tòa án quốc tế bao gồm Tòa Trọng tài thường trực (PCA) và Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) chỉ có thẩm quyền xét xử nếu tất cả các bên đồng thuận trong việc đưa tranh chấp ra tòa án để giải quyết, mà Trung Quốc thì luôn luôn từ chối việc đưa ra tòa án xét xử. Chính vì vậy, việc khởi kiện về chủ quyền chưa thể thực hiện được.

Từ những phân tích trên cho thấy, Việt Nam có đầy đủ bằng chứng pháp lý, lịch sử để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; đồng thời, Việt Nam là quốc gia duy nhất đã chiếm hữu thật sự và quản lý hai quần đảo này một cách liên tục, hòa bình, phù hợp các quy định của luật pháp quốc tế./.


SUY NGHĨ VỀ BỆNH SÍNH HOÀNG TRÁNG VÀ DUY Ý CHÍ

 Một trong những sự kiện chính trị-văn hóa quan trọng được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quan tâm trong những tháng đầu năm 2023 là các hoạt động kỷ niệm 80 năm ra đời Đề cương văn hóa năm 1943. 80 năm qua, mặc dù hoàn cảnh lịch sử, tình hình kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội của đất nước đã thay đổi rất nhiều nhưng Đề cương về văn hóa Việt Nam đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị và tính thời sự, đặc biệt là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt từ 3 nguyên tắc cơ bản: Dân tộc, khoa học, đại chúng. Sau 80 năm nhìn lại, các nhà nghiên cứu đã rút ra được rất nhiều bài học giá trị: Về hình thức, văn bản được soạn thảo rất ngắn gọn, khúc chiết, súc tích; cách diễn đạt dễ học, dễ nhớ. Về nội dung tư tưởng, Đề cương về văn hóa Việt Nam vừa thể hiện tầm tư duy chiến lược, vừa bám sát thực tiễn tình hình cách mạng và đời sống xã hội Việt Nam. Chỉ đọc một lần là nắm được những nội dung cơ bản và có thể hình dung ngay nhiệm vụ phải thực hiện, công việc phải làm. Đó là những yếu tố rất thuận lợi để đường lối, chủ trương của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Trước đó, tháng 2-1930, Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Đảng thảo luận, thông qua, cũng là những văn bản rất ngắn gọn, khúc chiết, súc tích. Đây là những cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta. Mặc dù mỗi văn bản chỉ gói gọn trong một trang giấy nhưng Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt đã xác định rõ chủ trương, các giai đoạn, đối tượng và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng.

Dẫn hai ví dụ điển hình như trên, soi chiếu trong tình hình hiện nay, chúng ta đều thấy rõ, đặc điểm phổ biến của nghị quyết hiện nay là văn bản rất dài. Khập khiễng và duy ý chí khi so sánh về hình thức văn bản, độ dài-ngắn của các nghị quyết của Đảng trong lịch sử với giai đoạn hiện nay, bởi mỗi giai đoạn lịch sử, Đảng có sứ mệnh, nhiệm vụ khác nhau; trình độ của cán bộ, đảng viên và trình độ dân trí cũng khác nhau. Tuy nhiên, theo quy luật nhận thức và hành động thì rõ ràng, chỉ khi cán bộ, đảng viên nắm chắc, hiểu sâu, nhớ rõ nghị quyết thì việc vận dụng vào thực tiễn nhiệm vụ mới thực sự hiệu quả. Chánh cương vắt tắt, Sách lược vắn tắt hay Đề cương về văn hóa Việt Nam có “hay” không? Rất hay! Cái hay không chỉ ở sự ngắn gọn, súc tích mà nội dung vừa mang tính khoa học, vừa mang tính đại chúng, ai đọc cũng có thể hiểu được.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy cán bộ, đảng viên về cách viết: Mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động; nếu người xem không nhớ được, không hiểu được là viết không đúng, nhắm không đúng mục đích. Mà muốn người xem hiểu được, nhớ được, làm được thì phải viết cho đúng trình độ người xem. Người nhấn mạnh: "Trước hết cần phải tránh cái lối viết "rau muống", nghĩa là lằng nhằng "trường giang đại hải”... Như vậy, viết ngắn mà rõ ràng, đầy đủ, dễ nhớ, dễ học, dễ triển khai hiệu quả... thì mới thực sự là hay.


NGÀY NÀY NĂM ẤY

 

"Dân ta phải biết sử ta

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam"!

Sứ mệnh lịch sử huy hoàng

Làm nên chiến thắng vẻ vang cho đời!...

Bốn tám năm đã dần trôi

Ngày này năm ấy sáng ngời sử ta!

Mệnh lệnh Đại tướng ban ra

Như lời hiệu triệu để mà tấn công!

Cán bộ, chiến sĩ đồng lòng

Thời cơ đã tới hanh thông đến rồi!

Điện khẩn hỏa tốc ấy thời

Ngắn gọn xúc tích từng lời, từng câu!

Ba mốt từ đã ăn sâu

Mệnh lệnh tác chiến hàng đầu ban ra!

Thúc giục binh lính nước nhà

Chung tay đoàn kết xông pha chiến trường!

Tinh thần khí thế khẩn trương

Thần tốc, táo bạo mở đường tiến công!

Quyết tâm giải phóng non sông

Bắc, Nam sum họp thỏa lòng Bác mong!

Mệnh lệnh vừa phát đi xong

Cán bộ, chiến sĩ dốc lòng đề cao!

Khó khăn, vất vả, gian lao

Tinh thần chiến đấu dâng cao gấp mười!

Tướng, quân khí phách sục sôi

Đánh đâu thắng đó lòng người hoan ca!

Tăng thêm sức mạnh tạo đà

Kết thúc chiến dịch thật là mãn viên!...

Mỹ cút, Ngụy nhào đảo điên

Ta đã dành được chính quyền về tay!

Điện số một năm bảy này

Mệnh lệnh lịch sử cho ngày thăng hoa!

Thơ: Phạm Quang Biểu.

Cách đây 48 năm, 09 giờ 30 sáng 07/4/1975, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi Điện số 157-HÐKTK cho các đơn vị mệnh lệnh: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng!", cổ vũ tinh thần đối với cán bộ, chiến sĩ trên chiến trường vào thời điểm vô cùng quan trọng của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc./.


CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN CHÍNH TRỊ HÓA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

 Để thực hiện mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam, chống phá Đảng, Nhà nước ta, các thế lực thù địch không chừa bất cứ thủ đoạn nào. Một trong những chiêu bài được các thế lực thù địch “ưa chuộng” sử dụng là chính trị hóa các vụ án hình sự. Đề cao cảnh giác, hiểu rõ về thủ đoạn này sẽ giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân tránh tiếp nhận những thông tin sai trái, xấu độc, từ đó vững tin vào Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.


Trong những thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam bằng thông tin thì chiêu bài chính trị hóa các vụ án hình sự là thủ đoạn thâm độc, tinh vi. Nó tinh vi là bởi những thông tin về vụ án thường đã được phơi bày trước công luận, nhưng được chúng gắn thêm tình tiết bịa đặt khác liên quan đến lãnh đạo cấp cao, người có chức quyền hoặc tập thể lãnh đạo, nhằm ý đồ gây hiệu ứng tò mò, nhiều người nửa tin, nửa ngờ và tập trung theo dõi.


Gần đây nhất là vụ việc 4 tiếp viên hàng không bị lực lượng hải quan Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất bắt quả tang hành vi mang ma túy từ Pháp về Việt Nam. Chỉ vài tiếng sau, các tài khoản trên mạng xã hội có tên Tinh hoa Việt, Đại Việt 24h, Thoibao.de, Tiếng nói Hoa Kỳ, Tạp chí Hoa Kỳ, Tinh hoa nước Mỹ, Aback, Nguyễn Văn Đài; các trang web tiếng Việt có máy chủ đặt ở nước ngoài cùng nhiều tài khoản khác đã đưa tin, đồng thời quy chụp cho một nữ tiếp viên bị tạm giữ là cháu của một lãnh đạo cấp cao. Chưa kể, thông tin liên quan đến đường dây vận chuyển ma túy, các trang phản động còn khẳng định “trùm cuối” vụ này là phu nhân của một Ủy viên Bộ Chính trị đương nhiệm.


Những ngày sau đó, khi các tiếp viên trong vụ việc được lực lượng chức năng ra quyết định trả tự do vì chưa đủ căn cứ xử lý hình sự thì liên tiếp xuất hiện các thông tin cho rằng, một vị lãnh đạo cấp cao đã chỉ đạo cơ quan chức năng làm việc này... Trong những tài khoản nói trên, đáng chú ý có tài khoản Thoibao.de do Lê Trung Khoa điều hành. Nhân vật này luôn “đi đầu” trong việc gán ghép các sự kiện, sự việc (như đã dẫn ở trên) để xuyên tạc thành vấn đề chính trị.


Nhằm thu hút sự chú ý của người sử dụng mạng xã hội, nhất là tạo “niềm tin” cho giới trẻ để hướng tới mục tiêu lớn hơn là tập hợp và kích động chống đối, chúng dùng ngôn ngữ gây sốc, tạo cảm giác gấp gáp, như: “Biến căng”, “Bộ Chính trị vào cuộc”, “cực nóng’… Tiếp đó, để người xem, người nghe tin là thật, chúng khoe dẫn nguồn từ nhân vật bí mật, đáng tin cậy, thậm chí nguồn của nhà báo, quan chức đã về hưu nào đó.


Tuy nhiên, nếu tinh ý sẽ thấy, hình ảnh trên các video clip được cắt ghép và chỉnh sửa từ nhiều nguồn khác nhau. Theo các chuyên gia, để thu hút quảng cáo, thông thường những người sáng tạo nội dung chuyên nghiệp trên mạng xã hội rất kỵ việc khai thác, lấy video clip hoặc hình ảnh, nhạc của các trang khác, bởi làm như vậy là vi phạm quy định về bản quyền. Các đối tượng chống phá thì bất chấp. Điều này cho thấy, các tài khoản đã dẫn ở trên nhắm tới mục đích đen tối là bôi nhọ tình hình chính trị Việt Nam, hạ thấp uy tín của Đảng ta, chia rẽ niềm tin và gây bất ổn xã hội. Qua theo dõi những đối tượng này trên mạng xã hội, nhận thấy, ngoài việc lợi dụng các vụ án hình sự để phục vụ mục đích chống phá, chúng có thể lợi dụng bất cứ sự việc gì, đặc biệt là các vụ án kinh tế, sai phạm của người có chức quyền… để gắn vào chính trị.


Đẩy mạnh điều tra, xử lý các vụ án tham nhũng, tiêu cực theo phương châm “kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ” là chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đảng ta. Hiện nay, cả hệ thống chính trị đã nêu cao quyết tâm vào cuộc để diệt trừ tham nhũng, tiêu cực, chứ không hô “khẩu hiệu suông, mị dân”. Tuy nhiên, kết quả của cuộc đấu tranh ấy đang bị thế lực thù địch lấy làm cớ để xuyên tạc, bóp méo.


Lâu nay, Đảng ta đã cảnh báo hiện tượng này. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã nêu rõ: Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình; cổ xúy cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa.


Để đối phó, các cơ quan chức năng cần có biện pháp cứng rắn, buộc các nền tảng xuyên biên giới phải tuân thủ luật pháp Việt Nam. Yêu cầu các mạng xã hội phải thực hiện ngăn chặn, gỡ bỏ kênh, trang tài khoản cá nhân, nhóm có nội dung không đúng sự thật, vu cáo, xuyên tạc tình hình Việt Nam. Cùng với đó, cơ quan chức năng cần tăng cường các biện pháp nghiệp vụ, kịp thời phát hiện, xử lý đối tượng tung tin bịa đặt. Các cơ quan truyền thông, báo chí trong nước cần sớm cập nhật, kịp thời cung cấp thông tin chính xác cho dư luận, đồng thời vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các đối tượng chống phá cách mạng Việt Nam để nhân dân và cán bộ, đảng viên đồng lòng tạo “tường lửa” từ trong nhận thức, không cho thông tin xấu độc xâm nhập.


Các cấp ủy, cơ quan chuyên môn cần bám sát, nắm chắc tình hình, chủ động cung cấp cho cán bộ, đảng viên thông tin chính thống, qua đó định hướng tư tưởng, nêu cao cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch. Để không mắc mưu các đối tượng chống phá, đứng trước những thông tin xấu độc cường độ mạnh, liên tục lặp đi lặp lại này, mỗi người trong xã hội, đặc biệt là cán bộ, đảng viên cần nêu cao cảnh giác; kiên quyết không truy cập vào các tài khoản có tư tưởng chống đối, bôi nhọ.


Trong xã hội hiện đại, thông tin trở thành nguồn tài nguyên quý giá. Thông tin chính xác có vai trò quan trọng định hướng tư tưởng, xây dựng sức mạnh đoàn kết. Việc truy quét, đánh bại đối tượng chống phá bằng thủ đoạn chính trị hóa các vụ án hình sự là hết sức quan trọng và cần kíp.


NGƯỜI LÍNH "TỪ NHÂN DÂN MÀ RA, VÌ NHÂN DÂN MÀ CHIẾN ĐẤU".

 

Chiến tranh là chính trị được thực hiện bằng bạo lực, nhưng bạo lực mạnh nhất, bạo lực cách mạng, lại luôn là bạo lực của nhân dân. Là Tổng chỉ huy quân đội trong 30 năm chiến tranh, Đại tướng luôn hiểu rõ điều ấy.


Nghĩ về Đại tướng, hình ảnh luôn hiển hiện trong tâm trí tôi là Đại tướng lặng lẽ khóc khi nghe tin bộ đội ta hy sinh. Cũng như Bác, Đại tướng không thấy những chiến công là cao hơn xương máu của quân dân.


Chính lòng bác ái đó khiến Đại tướng là điểm hội tụ sức mạnh của quân-dân Việt Nam. Nhân đây cũng nói, Đại tướng luôn có mối quan tâm dành cho giáo dục. Đại tướng nhấn mạnh việc giáo dục tri thức, giáo dục nhân cách, giáo dục lòng yêu nước, giáo dục kỹ năng.


Sự giáo dục như thế luôn là cần thiết đối với một dân tộc luôn phải đối đầu với tham vọng của những cường quốc thế giới, chỉ bằng giáo dục mà tinh thần và trí tuệ của quân-dân mới luôn đảm bảo cho sức mạnh của dân tộc Việt Nam được phát huy và kế thừa đích đáng qua nhiều thế hệ.


Có lần, theo yêu cầu của Đại tướng, lãnh đạo Viện Lịch sử quân sự Việt Nam cử tôi vào làm việc với Đại tướng, ấn tượng của tôi là Đại tướng rất rành rẽ từ cách hỏi, cách ghi. Tuổi cao nhưng Đại tướng rất tinh anh, đặt câu hỏi và trao đổi ngắn gọn, rõ ràng.


Công lao, vai trò tổng chỉ huy của Đại tướng trong trận Điện Biên Phủ, trong cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975 sử sách đã ghi. Vậy mà ở ngoài đời Đại tướng rất bình dị, gần gũi.


Tôi nghĩ, hơn ai hết, Đại tướng xứng đáng là một học trò xuất sắc của Bác Hồ: bao giờ cũng vậy, sự bình dị của những người lãnh đạo chính là dấu chỉ cho thấy mối quan hệ với nhân dân của họ.


Xa hơn điều đó, từ Đại tướng, tôi cho rằng, niềm kiêu hãnh của một quân nhân là sự thừa nhận của nhân dân, và kiêu hãnh rằng mình từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu."


Trích cuộc trao đổi  với Đại tá, PGS.TS Hồ Khang, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.

NGÀY VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM

 Từ ngày 14 - 19/4, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam sẽ diễn ra Ngày văn hóa các dân tộc Việt Nam.


Ngày văn hóa các dân tộc Việt Nam là dịp để đồng bào các dân tộc được gặp gỡ giao lưu, học tập, trao đổi kinh nghiệm trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, nhằm thắt chặt tình đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc, xây dựng và phát triển đời sống văn hóa lành mạnh, tiến bộ. Sự kiện sẽ giới thiệu những giá trị văn hóa đặc sắc của 54 dân tộc.


Các hoạt động chính gồm: Diễn đàn văn hóa với chủ đề “Văn hóa các dân tộc Việt Nam - Nguồn lực phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”; Trình diễn nghệ thuật văn hóa được UNESCO ghi danh và một số di sản văn hóa phi vật thể quốc gia như văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại; nghệ thuật sân khấu Rô băm của dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng, trích đoạn nghi thức truyền thống của dân tộc Mạ tỉnh Lâm Đồng, dân tộc Thái tỉnh Thanh Hóa.


Triển lãm giới thiệu bộ sưu tập hiện vật về văn hóa các tộc người dự kiến từ ngày 15 đến 19/4. Nội dung trưng bày các hiện vật văn hóa gắn với đời sống sinh hoạt của người dân tại địa phương. Các hiện vật gồm có đồ dùng, vật dụng, tài liệu về văn hóa của các dân tộc, về đời sống sinh hoạt, sản xuất, tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào… Mỗi hiện vật chứa đựng cả đời sống tinh thần, là những câu chuyện văn hóa, linh hồn của tộc người vùng đất ấy góp phần khơi dậy lòng tự hào dân tộc, lòng tin, sự phấn khởi cũng như nâng cao ý thức trách nhiệm của các cộng đồng dân tộc trong việc nhân lên và lan tỏa sâu rộng ý nghĩa của các giá trị văn hóa dân tộc. Tái hiện những lễ hội, phong tục tập quán của các dân tộc dự kiến ngày 15/4 tại không gian làng dân tộc Mạ, Khu các làng dân tộc II. Nội dung tái hiện hình ảnh Người Mạ ở Lâm Đồng thường tổ chức Lễ hội Mừng lúa mới vào tháng 10 âm lịch, thời điểm mà vụ mùa thu hoạch xong. Đây là lễ hội lớn và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của bà con đồng bào dân tộc Mạ. Lễ hội này tổ chức nhằm mục đích tạ ơn các Thần, Yàng đã phù hộ cho buôn làng vụ mùa bội thu.


Nhiều phong tục khác của đồng bào cũng được tái hiện như: Tết Chôl Chnăm Thmây của dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng ngày 15/4; Lễ cúng ché của dân tộc Ê Đê tỉnh Đắk Lắk ngày 16/4; Lễ Chá mùn của dân tộc Thái tỉnh Thanh Hóa ngày 16/4.


Nhiều hoạt động của cộng đồng các dân tộc đang hoạt động hàng ngày tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam sẽ được giới thiệu, tái hiện nét văn hóa trong cuộc sống hàng ngày, nghi lễ, trang phục, dân ca, dân vũ, ẩm thực, nghề thủ công truyền thống, trò chơi, phong tục tập quán./.



PHU NHÂN CHỦ TỊCH NƯỚC VÀ PHU NHÂN TOÀN QUYỀN AUSTRALIA THĂM HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM.

 Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Toàn quyền Australia David Hurley theo lời mời của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, chiều 4-4, Phu nhân Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, bà Phan Thị Thanh Tâm và Phu nhân Toàn quyền Australia, bà Linda Hurley đã đến thăm Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.


Tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, hai Phu nhân đã dự các lớp thanh nhạc gồm hợp xướng, lớp dạy hát Opera và hát dân ca; cùng xem chương trình biểu diễn tại Phòng hòa nhạc lớn của Học viện. Hai Phu nhân cũng có cuộc gặp mặt và chụp ảnh lưu niệm với các cựu sinh viên du học tại Australia.


Bà Linda Hurley cảm ơn sự chào đón nhiệt tình của Việt Nam, của Phu nhân Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, bà Phan Thị Thanh Tâm, cũng như ban Giám đốc, các nghệ sĩ và sinh viên Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Giao lưu với các sinh viên, bà Linda Hurley chúc mừng và mong muốn các em sẽ luôn giữ mãi lời ca, tiếng hát trong cuộc sống. "Nhân dịp hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, tôi rất vinh dự được chia sẻ món quà âm nhạc với các bạn tại đây", bà Linda Hurley xúc động nói.


Bà Linda Hurley chia sẻ niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của âm nhạc; khẳng định, âm nhạc đem tới niềm vui và gắn kết mỗi người. Phu nhân Toàn quyền Australia bày tỏ mong muốn, Việt Nam-Australia sẽ tiếp tục xây dựng mối quan hệ hợp tác ngày càng chặt chẽ trong tương lai và cùng nhau cất vang bài ca tình bạn./. 



GỬI TỚI TRƯỜNG SA

 Chưa một lần tôi được đến Trường Sa

Nghe gió hát bốn bề đảo nhỏ

Chưa được đứng bên cây phong ba lộng gió

Để tâm hồn theo nhịp sóng trùng khơi


Nhưng mà sao thân thiết thế, Trường Sa ơi!

Những tấc đất tiền tiêu tổ quốc

Trên bản đồ Việt Nam, như là chuỗi ngọc

Sáng ngời lên trên nước biếc biển xanh.


Niềm tin yêu gửi đến các anh,

Những chiến sĩ ngày đêm giữ đảo

Sẻ chia những nắng mưa, giông bão

Những tấm lòng từ đất mẹ quê hương


Trường Sa ơi, trăm mến ngàn thương

Ai cũng thấy như là quen thuộc

Ai cũng thấy đảo xa thân thiết

Dù nhiều người chưa được đến Trường Sa./.


NHÀ GIÀN DK1: 34 NĂM - CỘT MỐC CHỦ QUYỀN GIỮA BIỂN KHƠI

 

Giữa mênh mông trùng khơi, quanh năm phải đối mặt với thiên nhiên hung dữ, khắc nghiệt, 34 năm qua, các nhà giàn DK1 vẫn vững vàng, hiên ngang, khẳng định chủ quyền thiêng liêng trên thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc.


Những con người đang ngày đêm bám trụ trên những pháo đài thép sừng sững giữa sóng nước trùng khơi ấy, đã và đang từng ngày viết lên những trang sử hào hùng, làm nên trang sử ngập tràn cảm xúc và niềm tự hào mỗi khi nhắc đến: Lính nhà giàn.


Cuối tháng 8-1988, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng Hải quân đã báo cáo, đề nghị Bộ Chính trị cho chủ trương tổ chức lực lượng ra đóng tại các khu vực bãi cạn trên thềm lục địa phía Nam, làm chỗ dựa cho các hoạt động thăm dò, khai thác và nghiên cứu của các ngành thủy sản, dầu khí, khí tượng thủy văn.


Trên cơ sở đề nghị của Quân chủng Hải quân, Đảng và Nhà nước đã tiến hành chủ trương xây dựng Cụm Kinh tế - Khoa học – Dịch vụ tại khu vực các bãi đá ngầm trên thềm lục địa phía Đông Nam - gọi tắt là DK1. 


Ngày 5-7-1989, Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã chính thức tuyên bố thành lập Cụm kinh tế - khoa học - dịch vụ thuộc sự quản lý hành chính của Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo (nay là tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu).


Việc thành lập Cụm kinh tế - khoa học - dịch vụ tại thềm lục địa phía Đông Nam thể hiện ý chí quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước ta trên con đường phát triển kinh tế biển, từng bước hình thành chiến lược phát triển kinh tế biển phục vụ các mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước, khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở khu vực này.


Nhiệm vụ của các nhà giàn là điểm tựa của ngư dân đánh bắt hải sản trên biển, thiết lập các đèn biển, tạo điều kiện thuận lợi cho tàu bè qua lại trên các vùng biển phía Nam Tổ quốc từ Trường Sa đến khu vực Côn Đảo.


Ngoài ra, các lực lượng đóng trên các nhà giàn còn có nhiệm vụ quan trọng khác là đảm bảo yêu cầu sẵn sàng chiến đấu bảo vệ các quyền của Việt Nam trên thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc. Hải quân nhân dân Việt Nam chính là lực lượng được giao nhiệm vụ đảm nhận trọng trách đóng quân trên những khu nhà giàn nằm chênh vênh bên thềm lục địa này.


Trung tá Bùi Xuân Bổng, cán bộ gắn bó, làm việc tại nhà giàn từ ngày đầu thành lập chia sẻ, những ngày đầu ra công tác tại nhà giàn chỉ thấy trên là trời dưới là biển, xung quanh thì thiếu đủ thứ như nước ngọt, rau xanh, máy phát điện... và chỉ trông chờ vào tiếp tế. Ngay công tác tiếp tế cũng gặp khó khăn khi nhà giàn chưa có cầu thang, mỗi lần chuyển hàng lên giàn rất nguy hiểm.


Giữa biển trời lồng lộng, các cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ tại các nhà giàn luôn vững vàng như những cây phong ba, dù luôn sống trong những ngôi nhà mọc chông chênh giữa biển. Đã có biết bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ dành trọn tuổi thanh xuân của mình để xây dựng, gìn giữ những ngôi nhà giàn trở thành những pháo đài thép hiên ngang giữa biển trời. Thậm chí, không ít máu xương của cán bộ, chiến sĩ nhà giàn đã phải đổ xuống để giữ cho lá cờ đỏ sao vàng tung bay hiên ngang giữa biển trời thăm thẳm, như sự khẳng định đanh thép về chủ quyền của Việt Nam trên thềm lục địa phía Nam.


Và trong tâm trí của những người còn sống, hình ảnh những người lính đã hi sinh trên thềm lục địa chắc chắn sẽ chẳng bao giờ có thể phai nhòa.

Đó là sự hy sinh của anh Nguyễn Hữu Quảng, chính trị viên nhà giàn DK1 – Phúc Tần, khi nhà giàn đổ và trôi dạt nhiều ngày trên biển, anh đã nhường chiếc áo phao và miếng lương khô cuối cùng cho đồng đội có sức khỏe yếu nhất, để rồi anh thanh thản ra đi.


Hay hình ảnh liệt sĩ Vũ Quang Chương, Chỉ huy trưởng nhà giàn DK1 – Phúc Nguyên, trước khi nhà giàn bị cơn bão năm 1998 đánh chìm, anh chỉ kịp mở tủ lấy lá cờ Tổ quốc quấn quanh mình, cuốn sổ vàng truyền thống bỏ vào bao bảo quản ôm theo khi cùng giàn chìm xuống biển.


Cũng trong cơn bão cuồng phong này, hai đồng đội của anh là chuẩn úy chuyên nghiệp, nhân viên ra đa Lê Đức Hồng và thiếu úy chuyên nghiệp, nhân viên cơ điện Nguyễn Văn An cũng đã anh dũng hy sinh.


Nhà giàn DK1/6 đổ hoàn toàn lúc 3h ngày 13-12-1998, 6 cán bộ, chiến sĩ còn lại trên nhà giàn này bị hất tung xuống biển, chống chọi với sóng gió trên chiếc phao bè cũ nát. Sau 14 giờ đồng hồ bơi dưới biển, chiều tối cùng ngày sáu chiến sĩ được tàu HQ-606 của Lữ đoàn 171 cứu vớt.


Trực tiếp chứng kiến sự hy sinh của đồng đội trên giàn DK1/3, Trung tá Bùi Xuân Bổng kể lại, ngày 4-12-1990 tôi đang trong đợt công tác tại nhà giàn DK1/3 thì bất ngờ giàn đổ. Anh em trên nhà giàn trôi dạt lênh đênh trên biển từ đêm mùng 4 đến chiều tối 5-12 thì được tàu HQ 711 cứu và vớt được 5 anh em. Ba anh em còn lại của DK1/3 đã vĩnh viễn nằm lại biển khơi.


Và còn rất nhiều, rất nhiều những tấm gương hy sinh thầm lặng giữa biển khơi, các anh đã kiên cường bám trụ nhà giàn đến hơi thở cuối cùng, chỉ với niềm tin “còn người, còn nhà giàn”. Sự hy sinh của các anh đã viết lên những bản anh hùng ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời kỳ mới, là những tượng đài thép khẳng định dấu mốc chủ quyền bất tử trên biển Đông, trên thềm lục địa của Tổ quốc.


Hồn các anh hòa cùng sóng biển, thân xác các anh neo đậu lại nơi thềm lục địa, trên những rặng san hô xanh biếc một tấc không rời; như tâm hồn người Việt luôn hướng về biển đảo, núm ruột thương yêu của Tổ quốc.


Không chỉ là mốc tiền tiêu khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên thềm lục địa, 34 năm qua, các nhà giàn DK1 còn là những ngọn hải đăng trên thềm lục địa; là chỗ dựa để bà con ngư dân làm ăn tại các vùng biển phía Nam.


Với ngư dân, sau những ngày dài lênh đênh rong ruổi theo những luồng cá trên biển, ánh sáng từ những ngọn đèn trên nhà giàn chính là nguồn động viên tinh thần to lớn với họ; để họ cảm nhận mình không lẻ loi, cô đơn giữa biển cả mênh mông. Nhất là vào những ngày trời mưa bão, khi đại dương nổi cơn phong ba thịnh nộ, giữa khoảng không mù mịt không phân biệt được đâu biển, đâu trời. Những ngôi nhà giàn nhỏ bé giữa trùng khơi ấy lại là điểm tựa vững chắc, là chiếc bè cứu sinh vững vàng cho ngư dân bám trụ.


Đại tá Nguyễn Quốc Văn, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân cho biết, có thể khẳng định sự ra đời, xây dựng và phát triển của các “Trạm dịch vụ kinh tế – khoa học – kỹ thuật” trên vùng biển và thềm lục địa phía Nam gắn liền với quá trình ra đời, xây dựng và trưởng thành của Tiểu đoàn DK1 thuộc Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân.

Đây là chủ trương đúng đắn, sáng suốt, đồng thời cũng thể hiện quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương – Bộ Quốc phòng trong nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với bảo vệ chủ quyền vùng biển, thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc, làm điểm tựa niềm tin cho ngư dân vươn khơi bám biển.


Ba mươi tư năm qua, liên tục bám biển, gắn bó với vùng biển, thềm lục địa phía Nam Tổ quốc, các thế hệ cán bộ, chiến sỹ Nhà giàn DK1 qua các thời kỳ đã xây đắp nên truyền thống vẻ vang: “Kiên cường, dũng cảm, vượt mọi khó khăn, đoàn kết, kỷ luật, giữ vững chủ quyền”. Đó vừa là niềm vinh dự, vừa là niềm tự hào và trọng trách to lớn mà thế hệ cán bộ, chiến sỹ Tiểu đoàn DK1 hôm nay đang gìn giữ, phát huy trong thực hiện nhiệm vụ và xây dựng đơn vị.


Qua 34 năm xây dựng và phát triển, nhiều tấm gương cán bộ, chiến sỹ đã mãi mãi nằm lại với biển khơi, hóa thân cùng sóng nước, trở thành tượng đài tinh thần quý giá thôi thúc động viên, nâng bước các thế hệ hôm nay và mai sau. Với lính nhà giàn, một điều đáng quý nữa đó là tinh thần đoàn kết, lạc quan, yêu thương, đùm bọc, động viên lẫn nhau để thực hiện nhiệm vụ, đồng thời các cán bộ, chiến sỹ nhà giàn luôn là điểm tựa hỗ trợ, giúp đỡ ngư dân vươn khơi bám biển, phát triển kinh tế trên vùng biển, thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc./.



CHẤN HƯNG VĂN HÓA LỄ HỘI, BẢO TỒN BẢN SẮC DÂN TỘC

 

Các địa phương trong cả nước đang sôi nổi vào mùa lễ hội truyền thống đầu năm mới. Bên cạnh đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa phong tục, tín ngưỡng của đồng bào, lễ hội truyền thống còn là dịp đẩy mạnh quảng bá văn hóa, xúc tiến đầu tư, phát triển du lịch.


Trong khi lễ hội văn hóa truyền thống ngày càng thu hút sự quan tâm của du khách thì các đối tượng có tư tưởng thù địch lại ra sức xăm xoi tìm kẽ hở, hạn chế, bất cập để thổi phồng, xuyên tạc nhằm phá hoại môi trường đầu tư và sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa của Đảng, Nhà nước ta.


Thủ đoạn lấy văn hóa xuyên tạc chính trị


Lễ hội truyền thống có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống văn hóa tinh thần, nhu cầu tín ngưỡng của các thế hệ người Việt. Nền văn minh lúa nước, văn hóa làng xã của người Việt tích tụ từ hàng nghìn năm đã sản sinh, nuôi dưỡng, bảo tồn, phát triển một hệ thống di sản phong phú, đồ sộ của lễ hội, trải đều khắp đất nước. Theo thống kê của Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch, hiện Việt Nam có gần 9.000 lễ hội truyền thống, là một trong những quốc gia có số lượng lễ hội truyền thống nhiều nhất khu vực và châu lục. Lễ hội truyền thống ở nước ta được tổ chức trên khắp các vùng, miền, tỉnh, thành phố và diễn ra sôi động nhất vào mùa xuân, sau Tết Nguyên đán. Nhiều lễ hội lớn đã trở thành thương hiệu văn hóa du lịch, thu hút hàng trăm nghìn lượt du khách, đem về cho địa phương nguồn thu lớn từ các dịch vụ của ngành công nghiệp không khói...


Chính vì số lượng lễ hội nhiều, hình thức lễ hội phong phú, đa dạng nên công tác tổ chức, quản lý, quảng bá... ở các địa phương không thể tránh khỏi những yếu kém, bất cập. Hạn chế phổ biến nhất là sự thương mại hóa trong nhiều phân khúc lễ hội, làm phai nhạt sắc thái phong tục, lợi dụng tín ngưỡng để “buôn thần bán thánh” trục lợi cá nhân, lợi ích nhóm... Những mặt trái, tiêu cực của đời sống xã hội trong nền kinh tế thị trường đã len lỏi, phơi bày trong nhiều phân khúc, thời điểm của văn hóa lễ hội. Những bất cập, tồn tại này đã được Đảng, Nhà nước ta nhận thức sâu sắc. Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Môi trường văn hóa vẫn bị ô nhiễm bởi các tệ nạn xã hội, tham nhũng, tiêu cực... Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý văn hóa còn lúng túng, chậm trễ, nhất là trong việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về văn hóa... Đặc biệt, trong công tác lãnh đạo, quản lý, chúng ta chưa nhận thức thật đầy đủ, sâu sắc và toàn diện về đường lối văn hóa của Đảng, nhất là trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Phương thức lãnh đạo và quản lý văn hóa chậm được đổi mới, chưa thích ứng kịp thời với sự vận động và phát Từ những đánh giá tổng quan ở tầm vĩ mô, soi rọi trong môi trường văn hóa lễ hội, chúng ta thấy rõ sự thẳng thắn, khách quan, không né tránh hạn chế, khuyết điểm của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.


Từ những đánh giá tổng quan ở tầm vĩ mô, soi rọi trong môi trường văn hóa lễ hội, chúng ta thấy rõ sự thẳng thắn, khách quan, không né tránh hạn chế, khuyết điểm của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.


Chính vì vậy, việc bám vào những hạn chế, bất cập trong môi trường tổ chức lễ hội và văn hóa lễ hội để kích động, xuyên tạc, quy chụp... mà nhiều đối tượng có tư tưởng thù địch đã và đang thực hiện là hành vi phản văn hóa. Trên không gian mạng, không ít thành phần bất mãn trong nước và một số đối tượng lưu vong ở nước ngoài lớn tiếng chỉ trích, xuyên tạc, cho rằng văn hóa Việt Nam đang đi “thụt lùi”, “suy đồi”, “mạt hạng”... Đơn cử, Lễ hội tịch điền ở Duy Tiên (Hà Nam) là một lễ hội văn hóa truyền thống thể hiện đặc trưng sắc thái văn hóa nông nghiệp của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ. Bám vào hình ảnh “con trâu đi trước, cái cày theo sau” mang tính biểu trưng của lễ hội, các đối tượng cực đoan và truyền thông mang tư tưởng thù địch ở hải ngoại lại xuyên tạc, cho rằng người Việt đang “kéo lùi lịch sử”. Họ lập luận rằng, công nghiệp thế giới phát triển như vũ bão mà Việt Nam vẫn tôn vinh, chung thủy với hình thức sản xuất thô sơ, lạc hậu thì bao giờ mới khá lên được?


Nêu một dẫn chứng như vậy để thấy rõ hơn âm mưu đằng sau những luận điệu xuyên tạc về văn hóa dân tộc nói chung, văn hóa lễ hội nói riêng mà các thế lực thù địch đã và đang ra sức thực hiện. Muốn phản biện, phê phán một vấn đề về văn hóa, phải đứng trên phương diện văn hóa. Lấy văn hóa làm cái cớ để xuyên tạc chính trị, bỉ bai đường lối, chủ trương của Đảng, bôi đen bức tranh thượng tầng kiến trúc của đất nước... là cách làm xấu xa, bắt nguồn từ thái độ ti tiện, phản văn hóa. Chúng ta cần nhận diện thấu đáo để có phương pháp đấu tranh, phản bác kịp thời, hiệu quả, không để những tư tưởng thù địch làm hoen ố môi trường văn hóa lễ hội truyền thống của dân tộc.


"Lấy xây để chống" trong văn hóa lễ hội


Lễ hội truyền thống là bộ phận cấu thành của văn hóa quốc gia, chứa đựng trong đó những giá trị cốt lõi của bản sắc dân tộc. Nó là một lĩnh vực của kiến trúc thượng tầng, được quyết định bởi hạ tầng cơ sở, trực tiếp là đời sống kinh tế-xã hội của đất nước. Trong bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, tất yếu đời sống văn hóa nói chung, văn hóa lễ hội nói riêng sẽ bị ảnh hưởng, chi phối. Quy luật giao thoa, tiếp biến của văn hóa, bên cạnh việc hấp thu những tinh hoa của văn hóa thế giới, tất yếu sẽ nảy sinh những nhân tố, yếu tố tiêu cực, phản văn hóa. Những hạn chế, yếu kém, bất cập trong đời sống văn hóa nói chung, văn hóa lễ hội nói riêng đã được Đảng ta đúc kết, chỉ rõ. Dưới góc nhìn biện chứng, khách quan, những bất cập, hạn chế, yếu kém trong hoạt động lễ hội là một thách thức tất yếu. Bất cứ quốc gia, vùng lãnh thổ, dân tộc nào trong môi trường hội nhập quốc tế cũng phải chấp nhận và đương đầu với những thách thức đó. Bản lĩnh, sứ mệnh, trách nhiệm của Đảng cầm quyền là đề ra chủ trương, quyết sách đúng đắn để lãnh đạo đất nước, lãnh đạo toàn dân tộc xây dựng được môi trường văn hóa lành mạnh, tiến bộ; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.


Đại hội lần thứ XIII và Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 của Đảng đã chỉ rõ: Sự tác động của quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh quốc tế và cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa-tư tưởng sẽ diễn ra quyết liệt, phức tạp hơn. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số, xã hội số, văn hóa số... vừa đem lại những cơ hội, vừa tạo ra thách thức mới trong việc xây dựng và phát triển văn hóa. Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước ta xác định, cần quan tâm hơn nữa đến việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các vùng, miền, của đồng bào các dân tộc, kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa của thời đại. Hệ thống các lễ hội truyền thống của dân tộc là di sản văn hóa quý báu do tổ tiên, cha ông ta mấy nghìn năm để lại. Chúng ta có trách nhiệm phải giữ gìn, trân trọng và phát huy.


Chấn hưng văn hóa lễ hội là gột rửa, loại bỏ những thứ đi ngược, làm trái với thuần phong mỹ tục; củng cố, tô đậm hơn những nét đẹp của sắc thái văn hóa vùng, miền, bản sắc văn hóa dân tộc. Tẩy chay, loại bỏ những tư tưởng thù địch; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về văn hóa lễ hội; lật tẩy những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý văn hóa để xuyên tạc chính trị, phủ nhận đường lối, chủ trương của Đảng về văn hóa... cũng chính là giải pháp quan trọng để chấn hưng văn hóa, trong đó có văn hóa lễ hội.


Văn hóa là hệ thống những tri thức rộng lớn, vốn sống phong phú. Không ai có thể tự tin cho rằng mình hiểu hết các lĩnh vực của văn hóa lễ hội. Lắng nghe những ý kiến phản biện, vì thế, là một thái độ văn hóa của những người làm văn hóa. Tuy nhiên, làm văn hóa cũng không thể “đẽo cày giữa đường”. Phản biện văn hóa, trước hết phải bắt đầu bằng một thái độ văn hóa. Lấy cớ phản biện để bỉ bai, xuyên tạc, hạ thấp giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc, hạ bệ uy tín của Đảng, Nhà nước... là thái độ thù địch của văn hóa, cần phải đấu tranh thẳng thắn, quyết liệt.


Từ môi trường lễ hội truyền thống, cấp ủy, chính quyền và đội ngũ cán bộ làm văn hóa, quản lý văn hóa ở các cấp, các địa phương cần nhất quán quan điểm “lấy xây để chống” trong tổ chức, quản lý, điều hành, quảng bá, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực văn hóa. Đừng bàng quan, thờ ơ, né tránh, để cho những tư tưởng cực đoan, phản động có cơ hội sinh sôi, phát triển trong môi trường văn hóa.


Bản chất của lễ hội truyền thống là mỗi người tham gia đều là một thành tố của lễ hội, tìm sự an yên, tốt đẹp cho tâm hồn. Chắc chắn trong thâm tâm, không ai muốn biến mình thành một nhân tố phản văn hóa trong môi trường vốn rất văn hóa ấy. Vậy thì tại sao lại phải giành giật lấy “lộc”, ngửa nón xin những đồng tiền lẻ? Tại sao lại biến mình thành chủ đề cho các thành phần phản nghịch bám vào để bỉ bai, xuyên tạc, chống phá văn hóa đất nước, dân tộc?



KỶ LUẬT CỦA QUÂN ĐỘI LÀ KỶ LUẬT TỰ GIÁC VÀ NGHIÊM MINH

 Hình ảnh cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” in đậm trong lòng Nhân dân được tạo dựng không chỉ từ những chiến công vẻ vang của một quân đội anh hùng mà còn bởi nhiều yếu tố. Một phần quan trọng trong những yếu tố đó chính là ý thức kỷ luật tự giác, nghiêm minh của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ được tôi luyện trong suốt chiều dài xây dựng, chiến đấu và trưởng thành; hun đúc, tạo nền xây dựng nên những phẩm chất tốt đẹp của một đội quân trung hiếu, của người quân nhân cách mạng. 


V.I.Lênin cho rằng: "Trong chiến tranh “kẻ nào có kỹ thuật cao hơn, có trình độ tổ chức và kỷ luật cao hơn… thì kẻ đó sẽ chiến thắng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua"; “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm, vì vậy kỷ luật phải nghiêm minh”.


Xuất phát từ sứ mệnh lịch sử, QĐNDVN mang trong mình dòng máu, bản chất giai cấp công nhân, bất luận trong điều kiện hoàn cảnh nào cũng luôn luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của ĐCS Việt Nam. Do đó, bản chất kỷ luật của QĐNDVN mang bản chất kỷ luật của Đảng và của giai cấp công nhân, đó là "kỷ luật tự giác, nghiêm minh". Tự giác có thể hiểu  là tự mình hiểu mà làm, không cần nhắc nhở, đốc thúc; tự giác không phải là kỹ năng bẩm sinh tự nhiên mà nó đòi hỏi phải có quá trình giáo dục, học tập, rèn luyện; là sự kết hợp từ phía bản thân và phía bên ngoài, nó biểu hiện ở nhiều góc độ, trong ý nghĩ, hành động, ứng xử với chính mình và với người xung quanh; phải trải qua một quá trình giáo dục lâu dài, liên tục, có chọn lọc, tạo nên những thói quen, trở thành ý thức trong suy nghĩ và hành vi của con người. Nghiêm minh là nghiêm ngặt và rõ ràng, áp dụng cho mọi người, ai cũng như ai và trong mọi trường hợp, sự nghiêm minh không có ngoại lệ, nghiêm minh chính là sự thể hiện thái độ với những nguyên tắc được đặt ra, đối với các cá nhân, tổ chức, khi có sai phạm thì sẽ luôn bị xem xét, xử lý nghiêm minh".


Với bản chất, truyền thống kỷ luật của QĐND  được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ dày công xây dựng, bồi đắp, tuy có tính ổn định, bền vững, song không phải là "nhất thành bất biến", nó luôn vận động phát triển không ngừng, cùng với sự phát triển đi lên trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Nếu chúng ta sao nhãng đến xây dựng, tăng cường đoàn kết và tính "kỷ luật tự giác và nghiêm minh" trong quân đội, để tồn tại các "mầm mống" làm nảy sinh vi phạm kỷ luật ở các đơn vị, sẽ trở thành mảnh đất màu mỡ cho các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị lợi dụng chống phá và "biến cái đơn lẻ thành cái bản chất", sẽ gây tổn hại đến hình ảnh cao quý "Bộ đội cụ Hồ".


Việt Nam yêu cầu bỏ thông tin sai sự thật trong phim tài liệu về máy bay MH370

 Chiều 6/4, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng đã trả lời câu hỏi liên quan đến thông tin bộ phim tài liệu “MH370: Chiếc máy bay biến mất” được chiếu trên Netflix có nội dung không chính xác, cho rằng Việt Nam không hợp tác trong việc hỗ trợ tìm kiếm MH370. 


Theo đó, Phó Phát ngôn Phạm Thu Hằng nêu rõ: Ngay sau khi xảy ra vụ việc máy bay MH370 của Hãng Hàng không Malaysia Airlines bị mất tích, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã khẩn trương, chủ động lên các phương án ứng phó, tích cực chia sẻ thông tin và phối hợp với phía Malaysia cũng như các quốc gia mong muốn triển khai tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn trên quy mô lớn, đồng thời hỗ trợ phóng viên nước ngoài tham gia đưa tin.


Những nỗ lực của Việt Nam vào thời điểm đó đã được cộng đồng quốc tế và dư luận báo chí trong và ngoài nước ghi nhận. Cho tới nay, các cơ quan chức năng chưa hề đưa ra bất cứ một kết luận nào về vụ việc mất tích của máy bay MH370. 


Do đó, bộ phim tài liệu “MH370, chiếc máy bay biến mất” đưa ra những nhận định khi chưa có kết luận chính thức của các cơ quan chức năng là sai sự thật, không có cơ sở, không phản ánh đúng nỗ lực của các cơ quan chức năng của Việt Nam và khiến dư luận Việt Nam bất bình. 


Phó Phát ngôn Phạm Thu Hằng nhấn mạnh yêu cầu công ty sản xuất và nhà làm phim phản ánh chính xác những đóng góp của Việt Nam trong công tác tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn máy bay MH370 của Malaysia và gỡ bỏ, sửa đổi những nội dung không phù hợp.


LÍNH MŨ NỒI XANH VIỆT NAM

 

Nam Sudan, Châu Phi xa vời vợi

Nơi đất khô cằn, nội chiến triền miên

Lính mũ nồi xanh từ khắp mọi miền

Gìn giữ hòa bình, đem tình thương mến


Có lính Bác Hồ từ Việt Nam đến

Không ngại gian lao ng.uy hi.ểm rập rình

Đêm ngày chăm sóc, cứu chữa thương binh

Biến sa mạc thành hoa, rau xanh mướt


Có những bông hồng dịu dàng tha thướt

Để lại quê hương con nhỏ mẹ già

Coi Nam Sudan như thể quê nhà

Tỏa hương thơm trên cát khô nóng bỏng


Khi chiều tà, hoàng hôn dần khuất bóng

Nhớ con thơ, cô hòa mình dân chúng

Dạy học, hát ca bên ánh lửa bập bùng

Yêu quý thân thương như tình mẫu tử


Lính Việt Nam dạn dày trong khói lửa

Đại sứ hòa bình được bạn yêu thương

Nâng vị trí Việt Nam trên chính trường

Được Quốc tế ngợi ca đầy ngưỡng mộ./. 



QUI CHỤP HIỆN TƯỢNG THÀNH BẢN CHẤT -CHIÊU TRÒ NHAM HIỂM NHẰM HẠ BỆ VAI TRÒ CỦA TUỔI TRẺ!

     Không thể phủ nhận biểu hiện “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” là thực tế tồn tại ở một bộ phận đoàn viên, thanh niên (ĐVTN) hiện nay.
     Thế nhưng, vin vào biểu hiện đó, thời gian qua, các thế lực thù địch cố tình quy chụp, đánh đồng hiện tượng thành bản chất, hoặc bịa đặt những điều không có trong thực tế. 

Tỉnh táo trước mưu đồ “tẩy não” giới trẻ
     Thực tế cho thấy, lực lượng phản động, thù địch thường xác định giới trẻ là một trong những đối tượng chủ yếu cần mua chuộc, lôi kéo, nhất là trên phương diện tư tưởng, tâm lý. Thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, chúng chủ ý bám vào các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và diễn biến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội theo dòng thời sự chủ lưu để tăng cường các hoạt động chống phá.

Sự quy chụp kệch cỡm
     Những ngày gần đây, tổ chức đoàn các cấp trong cả nước đẩy mạnh hoạt động chào mừng kỷ niệm 92 năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26-3-1931 / 26-3-2023), triển khai nhiều nội dung hưởng ứng Tháng thanh niên năm 2023. Lợi dụng sự tập trung theo dõi của giới trẻ đối với các hoạt động truyền thông về Đoàn, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tạo cớ đào rộng, khoét sâu, ngụy tạo chứng cứ gây nhiễu thông tin, nội công ngoại kích, lèo lái dư luận theo ý đồ, kịch bản được vạch sẵn.
     Một sự quy chụp kệch cỡm khi những kẻ cơ hội chính trị ngụy biện cho rằng, Đoàn chỉ là cái vỏ bọc hình thức, không còn phù hợp với tuổi trẻ thời hội nhập quốc tế. Từ luận điệu xuyên tạc ấy, trên cơ sở “dẫn chứng” và cổ xúy một vài thanh niên có lối sống lệch lạc, vi phạm pháp luật, chúng lồng ghép thông tin, bình luận, ngụy biện nhằm phủ nhận vai trò của Đoàn đối với thanh niên, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với Đoàn nói riêng và với đất nước nói chung. Bằng các hình thức tọa đàm, phỏng vấn, lấy ý kiến người trẻ, chúng sắp xếp sẵn những đối tượng thanh niên là người Việt Nam ở nước ngoài có tư tưởng chống đối Đảng, Nhà nước ta để gieo rắc, truyền tải tư tưởng phản động. Từ ý kiến cá nhân trên một số diễn đàn, chúng đòi xóa bỏ Huy hiệu Đoàn, kêu gọi tuổi trẻ tẩy chay tổ chức đoàn và các phong trào thanh niên.
     Từ việc phủ định thành quả của Đoàn, chúng kêu gọi thanh niên, trí thức trẻ đi theo trào lưu “cấp tiến”, tư tưởng “tự do”, “dân chủ”, tung hô những người trẻ lầm đường lạc lối là những “anh hùng”. Nhiều trang thông tin hải ngoại phát tiếng Việt gọi những đối tượng này bằng những danh xưng ngoa ngôn như “nhà hoạt động dân chủ”, “nhà đấu tranh nhân quyền”, “nhà phản biện xã hội”... cổ xúy trào lưu lợi dụng tự do ngôn luận để “phản biện”, lôi kéo thanh niên rời Đoàn, bỏ Đảng. Đón trước những hoạt động, sự kiện chính trị của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, thời gian qua, một số đối tượng núp bóng tổ chức phi chính phủ, lợi dụng các hoạt động từ thiện để tập hợp, lôi kéo thanh niên Việt Nam tham gia các khóa đào tạo ở nước ngoài nhằm “tẩy não”, gieo rắc tư tưởng cực đoan, chống đối Đảng, Nhà nước.
     Rất dễ nhận thấy, lợi dụng chiêu thức té nước theo mưa, chiến dịch công kích, chống phá của các thế lực thù địch hiện nay đang chĩa mũi nhọn vào thanh niên, vào tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong những ngày tuổi trẻ cả nước hướng tới sinh nhật lần thứ 92 của Đoàn. Các thế lực thù địch lợi dụng những đặc điểm của tâm lý tuổi trẻ là dễ tiếp cận cái mới, thích tự do, khẳng định mình, nhưng nhận thức các vấn đề chính trị-xã hội còn chưa đủ độ chín nên tìm mọi cách tuyên truyền, kích động, mua chuộc, tha hóa nhằm băng hoại lực lượng dự bị hùng hậu này của cách mạng.
     Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 làm thay đổi mạnh mẽ phương thức giao tiếp của con người. Đây chính là thời cơ để các thế lực thù địch lợi dụng công nghệ truyền thông và mạng xã hội để tác động đến tâm lý hòng lôi kéo thế hệ trẻ. Chúng đăng tải nhiều tài liệu có nội dung phản động, thông tin lập lờ, suy diễn, không đúng bản chất, với mưu đồ thâm độc là phủ nhận những thành quả của đất nước, dân tộc cả trong quá khứ, hiện tại cũng như vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo ra các diễn đàn trên mạng để nhiều người trẻ truy cập và định hướng bình luận theo hướng tiêu cực, nhằm gieo rắc sự hoài nghi, chán nản, dẫn tới mất phương hướng chính trị. Chúng tăng cường tán phát các ấn phẩm đồi trụy, bạo lực, cổ xúy lối sống thực dụng làm tha hóa con người, khơi dậy ham muốn bản năng, chạy theo hưởng lạc, không chịu học tập, làm việc và cống hiến.
     Bên cạnh đó, các “nhà dân chủ cấp tiến” tự xưng còn tung ra những thông tin nhằm hạ thấp, bôi nhọ danh dự cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước ta; khoét sâu vào những vụ việc tham nhũng, tiêu cực trong xã hội gần đây để đánh lái dư luận và kích động lớp trẻ tỏ thái độ bất mãn với cái mà chúng gọi là “thảm kịch của đất nước”. Thông qua những phần mềm gián điệp, tán phát các mã độc, đánh cắp thông tin cá nhân, thông tin nội bộ, các thế lực thù địch bịa đặt, tạo kịch bản, tán phát thông tin giả, tung hỏa mù nhằm bôi nhọ, xuyên tạc lịch sử, nói xấu Đảng, Nhà nước và các cán bộ lãnh đạo của ta, tạo cho thanh niên tâm lý hoài nghi, bi quan, khủng hoảng niềm tin, phân vân trong xác định mục tiêu, lý tưởng để phấn đấu. Rồi chúng định hướng lý tưởng sống cho thanh niên Việt Nam bằng những lập luận về “Hành trình tự diễn biến trong giới du học sinh Việt”, với quan điểm chụp mũ rằng, khi tiếp cận với cái văn minh, hiện đại, du học sinh sớm muộn cũng quay lưng với đất nước, một đi không trở lại.
     Chiến lược, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm “tẩy não” giới trẻ Việt Nam đã và đang được điều chỉnh, thay đổi ngày càng tinh vi nhằm chuyển hóa tư tưởng, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" ở những chủ nhân tương lai của đất nước. Thực tế đó đòi hỏi tổ chức đoàn nói chung, mỗi ĐVTN nói riêng phải tỉnh táo để tránh rơi vào “bẫy suy thoái” được giăng sẵn bởi các phần tử cơ hội.

Hiện tượng không nói lên bản chất
     Trên thực tế, một số bạn trẻ non kém bản lĩnh, nhẹ dạ cả tin, ăn phải thứ “bánh vẽ” ảo tưởng đã tha hóa về nhân cách, vô hình trung trở thành công cụ đắc lực cho các thế lực thù địch lợi dụng. Đó cũng chính là hệ quả của tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” trong một bộ phận thanh niên. Thế nhưng, cần phải khẳng định, đó chỉ là thiểu số, là hiện tượng chứ không phải bản chất. Lợi dụng những hiện tượng hãn hữu đó, các phần tử theo chủ nghĩa xét lại đã mượn cớ “lập luận logic” để phán rằng, thanh niên Việt Nam ở các giai đoạn của cách mạng đều có những người biết “thức tỉnh” để đi theo tiếng gọi của “dân chủ”, của “cấp tiến”.
     Trước mưu đồ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã phát huy vai trò tuyên truyền, giáo dục, định hướng tư tưởng, định hướng thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là hơn 4.000 fanpage trên mạng xã hội Facebook từ Trung ương tới cơ sở và 2,2 triệu thuê bao kết nối ứng dụng di động “Thanh niên Việt Nam”, cùng nhiều phương thức tuyên truyền khác.
     Để vạch trần âm mưu đen tối, phản bác luận điệu sai trái, chiến dịch truyền thông của Đoàn khẳng định, đưa ra những minh chứng cụ thể đã được lịch sử ghi nhận về vai trò quan trọng của tổ chức đoàn, thành tựu đạt được của thế hệ trẻ Việt Nam trong các giai đoạn cách mạng.
     Công tác tuyên truyền, định hướng dư luận trong thanh niên được tiến hành bài bản, đem lại cái nhìn tổng thể, toàn diện về cả quá trình xây dựng và trưởng thành của Đoàn cùng những cống hiến to lớn của tuổi trẻ. Rõ ràng, lịch sử không thể phủ nhận, dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng, tiếp nối truyền thống cách mạng hào hùng của dân tộc, lớp lớp thế hệ thanh niên Việt Nam luôn nêu cao lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Nhìn lại lịch sử gần một thế kỷ xây dựng và trưởng thành của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, chúng ta nhớ đến những cái tên đã trở thành bất tử, thành tượng đài của các thế hệ thanh niên Việt Nam về tinh thần yêu nước, xả thân vì nghĩa lớn. “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, chứ không thể có con đường nào khác”-câu nói bất hủ của anh hùng liệt sĩ Lý Tự Trọng, người đoàn viên đầu tiên của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh-đã trở thành lý tưởng sống và vũ khí chiến đấu, "kim chỉ nam" cho hành động của thanh niên Việt Nam trong mọi thời kỳ cách mạng.
     Trong thử thách khắc nghiệt của chiến tranh, trên mọi mặt trận đã có hàng vạn dũng sĩ và chiến sĩ thi đua, chiến sĩ quyết thắng, hàng triệu ĐVTN ưu tú tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, anh dũng hy sinh, cống hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân cho sự nghiệp cách mạng. Đến thời kỳ kiến thiết đất nước, thanh niên luôn là lực lượng quan trọng với tinh thần xung kích, tình nguyện, ra sức học tập, lao động, rèn luyện để xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.  
     Những năm gần đây, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh các cấp có nhiều đổi mới, đột phá về nội dung và phương thức hoạt động. Công tác Đoàn và phong trào thanh niên ngày càng phù hợp, sát với thực tế và đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của ĐVTN. Điển hình như các phong trào: “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc"; các chương trình: “Đồng hành với thanh niên trong học tập”; “Đồng hành với thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp”; “Đồng hành với thanh niên rèn luyện và phát triển kỹ năng trong cuộc sống, nâng cao thể chất, đời sống văn hóa tinh thần”... Qua đây, nhiều tấm gương tuổi trẻ lập thân, lập nghiệp thành công; nhiều thanh thiếu niên mang vinh quang về cho Tổ quốc trong các lĩnh vực khác nhau. Họ là điểm sáng hình thành một thế hệ thanh niên có nhận thức chính trị, lý tưởng rõ ràng, dám đương đầu với thử thách, khó khăn để lập thân, lập nghiệp, góp phần xây dựng Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh và hùng cường. Minh chứng sinh động là trong nhiệm kỳ 2017-2022, toàn Đoàn đăng tải và chia sẻ được gần 25 triệu tin tốt và câu chuyện đẹp trong thanh niên; Ban Chấp hành Trung ương Đoàn trao tặng 210 Huy hiệu “Tuổi trẻ dũng cảm” và hàng trăm nghìn phần thưởng vinh danh những điển hình tiêu biểu của tuổi trẻ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
     Thực tiễn là lời khẳng định rõ ràng, một bộ phận thanh niên phai nhạt lý tưởng, có lối sống lệch lạc chỉ là vết chấm nhỏ trầm mặc trong bức tranh tổng thể rực sáng tinh thần tận hiến của tuổi trẻ. Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ trách nhiệm của Đoàn trong định hướng giáo dục thanh niên: Tránh “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”. Trong suốt nhiệm kỳ Đại hội XI, lời huấn thị đó của Tổng Bí thư được tổ chức đoàn các cấp quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa bằng nhiều hoạt động, phong trào cụ thể. Phát biểu tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ghi nhận: “Thanh niên thực sự đã và đang phát huy được thế mạnh của sức trẻ, tinh thần xung kích, sáng tạo, tình nguyện của mình ở những nơi khó khăn, gian khổ, những việc mới, việc khó, góp sức vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
     Để vạch trần chiêu trò quy chụp, bôi nhọ nhằm mua chuộc, lôi kéo giới trẻ, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng tình hình, nhận diện sự thật để đấu tranh kịp thời, hiệu quả. Nội dung này sẽ được chúng tôi làm rõ ở bài viết sau./.
Yêu nước ST.

BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH!

     Cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng. Tuy nhiên, thời gian qua, vẫn còn một số người có nhận thức chưa đúng, thậm chí những kẻ cơ hội, bất mãn chính trị đã phê phán, phủ nhận giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay. Vì vậy, chúng ta cần nhận diện, bác bỏ những luận điệu sai trái này!

Thứ nhất, cho rằng Hồ Chí Minh không phải là nhà tư tưởng.

Một số người bị dao động về lập trường tư tưởng, hùa theo luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động khi cho rằng “không có tư tưởng Hồ Chí Minh”. 
Sinh thời, tuy Chủ tịch Hồ Chí Minh khiêm tốn tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng, nhưng trên thực tế, trong quá trình hoạt động cách mạng, tư tưởng của Người đã dần được hình thành và được bạn bè thế giới công nhận. Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”(1). Trong đó tiêu biểu là tư tưởng về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với nội dung cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Trước khi khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện thì thế giới đã thừa nhận có tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tổ chức UNESCO khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân khát vọng của các dân tộc trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau”(2). Nhiều nhà khoa học, nhà lãnh đạo, các tổ chức tiến bộ trên thế giới đã thừa nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng. Thực tiễn những thành tựu to lớn mà cách mạng Việt Nam đạt được nhờ vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh qua từng giai đoạn cách mạng đã củng cố vững chắc điều này.

Thứ hai, cố tình đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối của Đảng.

Một số người có nhận thức lệch lạc khi một mặt họ cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh khác và đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất; mặt khác, họ lại “tôn vinh” tư tưởng Hồ Chí Minh và hạ thấp giá trị, vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam.
Hai quan điểm này đều không đúng cả về lịch sử và logic. Về mặt lịch sử, Chủ nghĩa Mác-Lênin chính là nguồn gốc quan trọng dẫn tới hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Về mặt logic, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng sáng tạo, phát triển và làm phong phú Chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện lịch sử mới. Vì thế, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với Chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất chứ không hề có sự mâu thuẫn, đối lập như suy luận, xuyên tạc của một số người.
Về quan điểm thứ nhất, một số người đã hùa theo các luận điệu xuyên tạc, nhận thức lệch lạc khi cho rằng, Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh. Luận điệu này đã làm dư luận hoài nghi về bản chất khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, gây ra tâm lý hoang mang, dao động, chia rẽ sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức trong Đảng, làm giảm sút niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Về quan điểm thứ hai, một số người cho rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin từng có giá trị nhưng đã bị lịch sử vượt qua. Những người này còn ngụy biện rằng, cho dù chưa bị lịch sử vượt qua thì Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chỉ phù hợp với các nước phương Tây, còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam. Do đó, họ ra sức kêu gọi “chỉ cần theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bỏ qua Chủ nghĩa Mác-Lênin”.
Từ đó họ cho rằng, nên đưa Chủ nghĩa Mác-Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng, chỉ nên giữ lại tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ. Đây là quan điểm nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, song thực chất nhằm phủ nhận cả Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có Chủ nghĩa Mác-Lênin. Nếu tách tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi cội nguồn lý luận quan trọng nhất là Chủ nghĩa Mác-Lênin thì bản thân tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không còn những đặc tính khoa học, cách mạng, nhân văn như vốn có.
Bên cạnh đó, một số người đã cố tình vin vào cớ hiện nay “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” như trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra để thổi phồng những khuyết điểm của một số cán bộ thoái hóa, biến chất mà bỏ qua những ưu điểm mang tính bản chất của đa số cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị.
Từ đó, họ cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay cũng đã thoái hóa, biến chất, khác xa với lý tưởng, khát vọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ yêu cầu phải bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013, tức là xóa bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đấu tranh tự phê bình và phê bình là việc làm thường xuyên, mang bản chất cách mạng của Đảng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(3).
Vậy mà, khi Đảng kiên quyết đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, loại trừ các vấn nạn trong công tác cán bộ nhằm làm trong sạch Đảng, lấy lại niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ thì một số người lại có nhận thức lệch lạc, cố tình vu khống, quy kết là Đảng ta “đấu đá nội bộ”, “đấu tranh giữa các phe phái vì quyền lực”. Họ làm ra vẻ khách quan khi dùng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh làm “hệ quy chiếu” để đánh giá, phán xét Đảng.
Danh nghĩa là họ đề cao Hồ Chí Minh nhưng thực chất lại đang hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Điều này gây hoang mang, mất niềm tin, chia rẽ nội bộ, đặc biệt, nó có thể làm một bộ phận dân chúng, thậm chí ngay cả một số ít văn nghệ sĩ, trí thức từng tin tưởng và kính trọng Hồ Chí Minh cũng có thể trở nên lung lay tư tưởng, rệu rã niềm tin vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa. 

Thứ ba, phủ nhận giá trị thực tiễn và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

Một số người đã có nhận thức rất lệch lạc khi cho rằng, Hồ Chí Minh là “nhà dân tộc chủ nghĩa chứ không phải là nhà mác-xít”, “không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” vì tư tưởng Hồ Chí Minh không phù hợp với điều kiện mới của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Những người này ra sức phủ nhận sự cần thiết và hiệu quả của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Lý do họ đưa ra là Hồ Chí Minh là bậc thánh nhân trong khi chúng ta là người bình thường; Hồ Chí Minh là người đi theo chủ nghĩa khổ hạnh trong khi chúng ta đang có cuộc sống bình thường ở thế giới hiện đại.
Thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là người theo chủ nghĩa khổ hạnh và cũng chưa bao giờ tỏ ra mình là bậc thánh nhân, mà Người luôn yêu cầu cán bộ góp ý cho mình, rằng: “Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi”(4).
Những người này đã cố tình không hiểu rằng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là học tinh thần tinh túy trong tư tưởng, phương pháp, phong cách của Người để vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào trong thực tiễn như sinh thời Người đã học tập, vận dụng sáng tạo thành công Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, chứ không phải học rồi “làm theo” một cách máy móc để cho giống hoặc thành một “Hồ Chí Minh thứ hai”. Do đó, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay là chủ trương đúng đắn của Đảng, hợp với lòng dân và có giá trị thiết thực trong việc giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong số rất ít nhân vật trong lịch sử đã trở thành một phần của huyền thoại ngay từ khi còn sống. Cho đến nay, tư tưởng của Người vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Giá trị đó không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại; không chỉ được khẳng định trong thế kỷ 20, mà còn được thể hiện trong hiện tại và tương lai. Đấu tranh chống các nhận thức lệch lạc, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nhằm bảo vệ nội dung và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần vào bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay.
Để việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự thuyết phục, chúng ta phải có cái nhìn khách quan, tôn trọng sự thật lịch sử, không được chủ quan, áp đặt, thiên kiến hoặc máy móc trong việc nhận định, đánh giá, phản bác các luận điệu xuyên tạc tư tưởng của Người. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đó là: “Kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn”./.
------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.88
(2) Phạm Ngọc Anh, Tư tưởng Hồ Chí Minh-không thể phủ nhận, Tạp chí Lý luận chính trị, số 11-2013, tr.60
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.301
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.260./.
Ảnh: Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Hà Giang, tháng 3-1961.
Yêu nước ST.

“DÂN THỤ HƯỞNG” KHÔNG PHẢI LÀ KHẨU HIỆU SUÔNG!

     Văn kiện Đại hội XIII của Đảng bổ sung thêm chủ trương “dân thụ hưởng” vào nội dung dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”!
     Đây là sự khẳng định nhất quán tư tưởng lấy dân làm gốc, người dân là chủ thể, là mục đích, là trung tâm của mọi quá trình phát triển. Thế nhưng trên một số trang mạng, thế lực thù địch và những kẻ phản động cố tình xuyên tạc rằng, phương châm “dân thụ hưởng”, hay “lấy dân làm gốc” mà Đảng, Nhà nước ta đặt ra là không thực chất, chỉ là mị dân. Nhưng cho dù kẻ xấu có xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận thực tế rằng, người dân Việt Nam đã và đang thực sự thụ hưởng thành quả cách mạng...

Cố tình xuyên tạc
với mưu đồ xấu
     Có thể nói phương châm “dân thụ hưởng” đã được thể hiện rõ trong mục tiêu, đồng thời cũng đã được triển khai thực hiện trong suốt quá trình cách mạng XHCN tại Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng trong mục tiêu vì hạnh phúc của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rất rõ: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Rõ ràng hưởng thụ đầy đủ lợi ích cả về vật chất, tinh thần là khát vọng của người dân, là mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của cách mạng XHCN và đang được hiện thực hóa trên đất nước ta. Từ sự cùng khổ của người dân một nước thuộc địa, bị đặt dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc, trải qua chiến tranh đau thương, mất mát, đến nay người dân Việt Nam đã thực sự sống trong tự do, hòa bình, độc lập, thống nhất, đời sống ngày càng đi lên.
     Thế nhưng trong suốt những năm qua, các thế lực thù địch, phản động luôn cố tình phủ nhận những thành quả ấy. Lợi dụng tình hình công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực khiến một số cán bộ cấp cao vướng vào tham nhũng, tiêu cực nên bị kỷ luật, buộc phải từ chức hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự, lực lượng thù địch đã rêu rao rằng chỉ có “quan cộng sản” mới có nhà lầu, xe hơi, cuộc sống sung sướng, được hưởng thụ và cho rằng “dân thụ hưởng chỉ là ru ngủ dân...". 
     Ở đây, chúng ta phải khẳng định rằng những kẻ cơ hội chính trị và lực lượng thù địch không phải là không biết, không nhìn thấy những thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà người dân Việt Nam ngày ngày được thụ hưởng. Tuy nhiên, chúng cố tình xuyên tạc sự thật; thấy cây mục cho rằng cả cánh rừng phải chặt bỏ; lấy hiện tượng quy chụp bản chất; lấy sự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ, đảng viên để suy diễn về phẩm chất đạo đức của toàn bộ đội ngũ cán bộ, đảng viên...

Sự thật không thể
phủ nhận
     Có thể nói, việc “dân thụ hưởng” thành quả cách mạng tại Việt Nam là sự thật không thể phủ nhận. Sự hưởng thụ của người dân Việt Nam toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đảng, Nhà nước luôn thực hiện nhất quán chủ trương gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; gắn kết giữa chính sách phát triển kinh tế với chính sách phát triển xã hội; dân chủ ngày càng được mở rộng, mỗi người dân luôn được tạo điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình. Người dân thực sự là người chủ đất nước, bao nhiêu lợi ích, bao nhiêu quyền hành đều ở nhân dân. Chính người dân là người làm chủ quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng XHCN, đồng thời người dân cũng trực tiếp thụ hưởng giá trị to lớn của quá trình đó.
     Chúng ta thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước. Đảng, Nhà nước luôn tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của công dân. Đảng ta luôn đặt quyền lợi của nhân dân vào trung tâm các quyết sách, đường lối, với mục đích tối thượng là người dân được thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển đất nước. Điều đó được thể hiện qua hàng loạt con số biết nói: Năm 2021, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,703, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển.
     Báo cáo hạnh phúc thế giới (World Happiness Report-WHR) năm 2023 công bố ngày 20-3-2023 cho thấy chỉ số hạnh phúc của Việt Nam đã tăng 12 bậc, từ vị trí 77 vào năm 2022 lên vị trí 65 trong năm 2023. Hạnh phúc là mục tiêu cơ bản của con người. Đại hội đồng Liên hợp quốc đã công nhận mục tiêu này và kêu gọi cách tiếp cận toàn diện, công bằng và cân bằng hơn đối với tăng trưởng kinh tế nhằm thúc đẩy hạnh phúc và phúc lợi của tất cả mọi người. Các tiêu chí được đánh giá gồm: GDP bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ trung bình, quyền tự do lựa chọn cuộc sống, sự rộng lượng và nhận thức về tham nhũng.
     Cùng với đó, Liên hợp quốc đánh giá Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Chỉ số bất bình đẳng giới (GII) của Việt Nam tiếp tục được cải thiện vào năm 2021, đạt 0,296, xếp hạng 71 trong số 170 quốc gia. Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên áp dụng chuẩn nghèo đa chiều và hoàn thành trước 10 năm mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo. Mức sống tăng lên, sức khỏe của người dân được cải thiện nên tuổi thọ tăng qua các năm, chỉ số sức khỏe cả nước tăng từ 0,822 (năm 2016) lên 0,826 (năm 2020). Chỉ số giáo dục của Việt Nam là 0,618 vào năm 2016 và 0,640 vào năm 2020. Chỉ số thu nhập là 0,624 vào năm 2016 và 0,664 vào năm 2020. Như vậy có thể thấy, mặc dù là nước đang phát triển có xuất phát điểm rất thấp, nhưng các chỉ số cơ bản cho quyền lợi và sự thụ hưởng của người dân tại Việt Nam đều tăng dần qua từng năm, cho thấy đời sống của người dân Việt Nam đang đi lên một cách bền vững.
     Theo tạp chí thương mại hàng đầu thế giới CEOWORLD (Mỹ), chất lượng sống của Việt Nam được cải thiện đáng kể. CEOWORLD đánh giá, Việt Nam có tổng số điểm là 78,49 và xếp hạng 62/165 quốc gia vào năm 2021. Thứ hạng chỉ số chất lượng sống được CEOWORLD dựa trên nhiều tiêu chí như: Chi phí sống; sự ổn định kinh tế-chính trị; môi trường làm việc; bình đẳng thu nhập; hệ thống giáo dục; hệ thống y tế...

Động lực
để dân tin Đảng
     Có thể thấy, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng phát triển kinh tế vì mục tiêu con người, thực hiện nhất quán quan điểm gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế vì con người, xây dựng thiết chế chính trị, hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền XHCN, quản lý đất nước, xã hội, mang lại những điều tốt đẹp cho con người. Vì vậy, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện. Mỗi một người dân Việt Nam đang hằng ngày, hằng giờ được thụ hưởng môi trường hòa bình, ổn định, yên tâm lao động sản xuất và thừa hưởng chính thành quả đó. Trong xu thế đi lên của đất nước, ai cũng được tạo cơ hội phát triển, không ai bị bỏ lại phía sau. Người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị ảnh hưởng của bão lũ, thiên tai khiến đời sống còn khó khăn thì Đảng, Nhà nước có chính sách an sinh xã hội, toàn xã hội đều chung tay giúp đỡ. Mục đích cuối cùng là để mỗi người dân Việt Nam đều được bình đẳng tận hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” đúng như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
     Như thế, “dân thụ hưởng” không dừng lại trên lý thuyết, trong nghị quyết, giấy tờ hay khẩu hiệu suông để hô hào mà được thể hiện sinh động, thuyết phục trong hiện thực đời sống mỗi người dân Việt Nam. Dù những phần tử cơ hội chính trị, thế lực thù địch có cố tình bóp méo, xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận được sự thật rằng đời sống của người dân Việt Nam đang ngày càng đi lên. Đó chính là động lực để người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; nỗ lực lao động, cống hiến để đất nước ngày càng phát triển thì những giá trị mà mỗi người được thụ hưởng sẽ ngày càng lớn hơn./.
Yêu nước ST.