Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2023

BÁC BỎ MỘT SỐ QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.”; quan điểm này đã được Đảng ta khẳng định trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ những nguồn gốc rõ ràng, mang tính cách mạng và khoa học; được Đảng ta xác định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

Tuy nhiên, gần đây ở trong nước và nước ngoài, một số người nêu danh “nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh”, đã truyền bá luận điểm Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là chủ nghĩa dân tộc. Họ giải thích tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc, không có tư tưởng đấu tranh giai cấp, không có tư tưởng về cách mạng xã hội chủ nghĩa. Từ sự nhận thức phiến diện, họ rút ra kết luận:

- Tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin vì tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc, còn chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận đấu tranh giai cấp.

- Tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam vì tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc, còn đường lối của Đảng là theo tư tưởng đấu tranh giai cấp “tả khuynh” của Quốc tế Cộng sản và của lãnh tụ các Đảng cộng sản lớn.

Thông qua lịch trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh cùng những điều chỉnh Người nói về tư tưởng của mình, chúng ta hãy xem luận điểm trên có phải là “tìm tòi sự thật” hay là sự xuyên tạc lịch sử?

Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, nghĩa tình nhân đức và thiết tha yêu nước. Người được chứng kiến sự tàn bạo của thực dân, phong kiến và bản thân cũng lớn lên trong khổ đau, hoạn nạn. Vì thế, Hồ Chí Minh sớm có lòng yêu nước, thương dân. Hồ Chí Minh khâm phục tinh thần xả thân vì nước của các bậc tiền bối trong cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám, trong phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh... nhưng với nhãn quan chính trị độc lập và sáng suốt, Người không tán thành con đường cứu nước của các cụ vì mỗi con đường đó đều có hạn chế, khó có thể đi đến thành công. Hồ Chí Minh đi tìm con đường cứu nước mới với hành trang chỉ là chủ nghĩa yêu nước truyền thống và một trí tuệ mẫn tiệp. Trải qua gần mười năm bôn ba khắp bốn biển năm châu, nung nấu chí hướng cứu nước cứu dân, vừa lao động cùng những người anh em chung cảnh ngộ, vừa hoạt động cách mạng, vừa học hỏi các tư tưởng mới..., nhận thức của Hồ Chí Minh chuyển biến từng bước. Mùa thu năm 1920, Hồ Chí Minh được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Luận cương của Lênin chỉ rõ cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Đó là chân lý của thời đại, là giải đáp tuyệt vời điều Hồ Chí Minh đang trăn trở, tìm tòi. Từ đây, Hồ Chí Minh xác định muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Cũng từ đây, Hồ Chí Minh tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết bất hủ chỉ ra con đường giải phóng giai cấp vô sản và các giai cấp lao động khác, giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng con người, trở thành một trong những nhà sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

Sự chuyển biến tư tưởng từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước theo lập trường giai cấp vô sản là một quá trình hợp quy luật. Đúng như đồng chí Phạm Văn Đồng coi việc chủ nghĩa yêu nước truyền thống Hồ Chí Minh bắt gặp chữ nghĩa Mác - Lênin là cuộc “hẹn gặp lịch sử”, hoàn toàn không phải như có người cố tình xuyên tạc rằng đó là một sự lai ghép cưỡng bức, vội vàng giữa cái cây truyền thống với cái mầm ngoại nhập”, tạo thành một “ảo ảnh”, mang “tính chất huyền diệu”... !

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết về quá trình đó như sau:

Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác- Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.

Tiếp thụ chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh không thụ động, mà dùng lập trường, quan điểm, phương pháp Mác - Lênin, vận dụng và phát triển những nguyên lý, quy luật chung của cách mạng thế giới vào đặc điểm tình hình các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Những luận điểm về chủ nghĩa đế quốc như một con đỉa có hai vòi, tính chủ động và khả năng thành công trước của cách mạng thuộc địa, nội dung chủ yếu của cách mạng thuộc địa, quy luật thành lập Đảng ở các nước thuộc địa, v.v...là những cống hiến lý luận to lớn của Hồ Chí Minh đối với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới.

Ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã khẳng định đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Phải chỉ rõ rằng Hồ Chí Minh đánh giá cao động lực của chủ nghĩa dân tộc, nhưng chủ nghĩa dân tộc theo quan niệm của Hồ Chí Minh không phải là chủ nghĩa dân tộc theo lập trường phong kiến hay tư sản, mà đây là chủ nghĩa dân tộc theo lập trường vô sản.

Hồ Chí Minh đã nghiên cứu kỹ các cuộc cách mạng trên thế giới, đánh giá tính chất từng cuộc cách mạng ở từng nước, để tìm con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Với cách mạng Mỹ, Người cho rằng: “Trong lời tuyên ngôn của Mỹ có câu rằng, giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ăn cho sung sướng... Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân chúng phải đạp đổ Chính phủ ấy đi, và gây nên Chính phủ khác. Nhưng bây giờ Chính phủ Mỹ lại không muốn cho ai nói đến cách mạng, ai đụng đến Chính phủ. Về cách mạng tư sản Pháp, Người chỉ rõ: “tư bản nó dùng chữ Tự do, Bình đẳng, Đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến. Khi dân đánh đổ phong kiến rồi, thì nó lại thay phong kiến mà áp bức dân. Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mạng không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kì thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Với Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mạng Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ, rồi lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mạng để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới. Người xác định cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười. Với tác phẩm Đường cách mạng thì đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh đã được xác định về cơ bản.

Trong những năm 20 thế kỷ XX, Hồ Chí Minh ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng. Cùng với việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã chuẩn bị về đường lối cho cách mạng Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, nước ta từ khi Pháp xâm lược đã trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Trong xã hội đó, chứa đựng cả mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp nhưng mâu thuẫn dân tộc nổi lên gay gắt nhất, giải phóng dân tộc là mục tiêu cơ bản và trước hết, chống đế quốc và tay sai giải phóng dân tộc đã đã bao hàm nội dung giải phóng giai cấp nhưng chưa triệt để. Muốn củng cố thành quả của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng con người, phải thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người nói: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” và chủ trương: “chúng ta đã hy sinh làm cách mạng, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mạng rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một số ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”. Chủ nghĩa xã hội theo Hồ Chí Minh là một xã hội mọi người dân đều có cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do; đất nước được hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nội dung nổi bật và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể khẳng định rằng: con đường hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống, được kết hợp với tư tưởng cách mạng tiên tiến Mác - Lênin trở thành tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người ở Việt Nam theo lập trường giai cấp công nhân.

Đầu năm l930, Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì Hội nghị thành lập Đảng. Người trình bày dự thảo Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt, được Hội nghị của Đảng thông qua, trở thành Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Tuy còn “vắn tắt” nhưng cương lĩnh đã nêu lên những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.

Cương lĩnh đầu tiên của Đảng tuy mới là “vắn tắt”, nhưng đã bao quát được những vấn đề có ý nghĩa định hướng về chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam. Nội dung Cương lĩnh vừa thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa phù hợp với hoàn cảnh và yêu cầu của cách mạng Việt Nam.

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã lấy chủ nghĩa - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Song có thời gian do hạn chế về nhận thức, nên một số đồng chí không quán triệt đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng của Hội nghị thành lập Đảng. Từ năm 1936, nhất là từ Hội nghị Trung ương sáu tháng 11 - 1939 đến Hội nghị Trung ương tám tháng 5 - 1941, đường lối cách mạng của Đảng ta đã trở lại quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và từ đó đường lối của Đảng ta luôn luôn thấm nhuần tư tưởng của Người.

Bằng nhãn quan chính trị sắc, Đại hội XIII của Đảng vẫn tiếp tục khẳng định phải “kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam”[1]

Những sử liệu trên, dù mới chỉ được dẫn ra chưa đầy đủ và còn sơ lược, cũng đã chứng tỏ những luận điệu như: tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là chủ nghĩa dân tộc, không có nội dung đấu tranh giai cấp; tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam... chỉ là một sự bóp méo sự thật, xuyên tạc lịch sử của những kẻ có mưu đồ chính trị đen tối. Hơn bao giờ hết, mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ra sức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự trong sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh ngày cảng trường tồn và phát triển.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG Sự tật, Tập 1, tr.40

VIỆT NAM CHỦ ĐỘNG, KIÊN QUYÊT, KIÊN TRÌ ĐẤU TRANH TRÊN MẶT TRẬN NGOẠI GIAO, GÓP PHẦN GIỮ VỮNG CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO THIÊNG LIÊNG CỦA TỔ QUỐC

 

Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận cấu thành chủ quyền quốc gia, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đồng thời, là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh, là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước. Kế thừa và phát triển truyền thống dựng và giữ nước của dân tộc, nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách về biển, đảo. Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là quản lý, khai thác đi đôi với bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển, làm cho đất nước giàu mạnh.

Quán triệt sâu sắc chủ trương, quan điểm của Đảng về biển, đảo Việt Nam, cùng với công tác tuyên truyền, đấu tranh trên thực địa và chính trị, công tác đấu tranh trên mặt trận đối ngoại đã được thực hiện một cách chủ động, kiên quyết và kiên trì, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước. Trong công tác đối ngoại, Việt Nam đã chủ động nêu vấn đề Biển Đông trong các cuộc tiếp xúc ở tất cả các cấp với nhiều nước, tại các diễn đàn đa phương như Hội nghị các cấp ASEAN, Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) và các hội nghị quốc tế khác.

Chủ động xây dựng và lưu hành tại Liên hợp quốc các tài liệu khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bác bỏ và phản đối các hành động sai trái, xâm phạm chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Các hoạt động ngoại giao kênh học giả được triển khai đa dạng và đồng bộ; các cuộc hội thảo thu hút hàng trăm học giả, nhà nghiên cứu hàng đầu về Biển Đông.

Ngay khi có những tình huống nảy sinh trên biển, vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, chúng ta đã chủ động, kiên quyết và kiên trì đấu tranh với các bên liên quan để bảo vệ các quyền và lợi ích quốc gia Việt Nam ở Biển Đông. Vụ việc Trung Quốc hạ đặt trái phép dàn khoan Hải Dương - 981 (HD981) và các biện pháp đấu tranh của Việt Nam, trong đó có đấu tranh trên mặt trận ngoại giao là minh chứng sống động thể hiện quan điểm chủ động, kiên quyết và kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc.

Với vị thế là quốc gia hướng biển, có vị thế địa - chính trị, địa - kinh tế then chốt, nằm ở vị trí xung yếu về mặt trận an ninh, quốc phòng. Việt Nam có nhiều lợi thế và không ít thách thức trong công cuộc đưa đất nước trở thành “quốc gia mạnh về biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn” như Chiến lược phát triển bền vững  kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 do Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Khoá XII đã đề ra.

BỒI DƯỠNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG CHO THẾ HỆ TRẺ TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Thế hệ trẻ trong quân đội là lực lượng xung kích, đi đầu trong thực hiện nhiệm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước trong thời kỳ mới, góp phần to lớn vào sự nghiệp trưởng thành, chiến thắng của Quân đội, xứng đáng với lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng".

Thông qua lời dạy của Bác Hồ đã toát lên lập trường, bản lĩnh chính trị và sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta. Lập trường, bản lĩnh và sức mạnh đó được thể hiện cụ thể ở danh hiệu mà nhân dân đã tặng cho quân đội ta là: "Bộ đội Cụ Hồ". "Bộ đội Cụ Hồ" là bộ đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; là một di sản, một giá trị tinh thần và đạo đức cao quý, một thành tựu tốt đẹp mà lớp lớp các thế hệ cha anh đã dày công vun đắp, xây dựng. Thế hệ trẻ quân đội ngày nay phải luôn luôn trân trọng, học tập và phát huy tinh thần truyền thống đó trong thời kỳ mới.

Tuy nhiên, bên cạnh thực tế đáng tự hào đó, vẫn còn tình trạng một bộ phận thế hệ trẻ trong quân đội có những dấu hiệu sa sút ý chí chiến đấu, suy giảm niềm tin, thoái hóa về đạo đức, lối sống,... làm ảnh hưởng đến bản chất cách mạng trong sáng và uy tín của “Bộ đội Cụ Hồ”. Trong khi đó, ở một số đơn vị, có lúc, có nơi, việc chăm lo vun đắp bản chất, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ bị xem nhẹ hoặc thiếu tính hiệu quả.

Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ chính trị của quân đội ta có bước phát triển mới. Quân đội thực hiện các chức năng của đội quân chiến đấu, đội quân lao động sản xuất, đội quân công tác và làm nhiệm vụ quốc tế trong hoàn cảnh mới khác rất nhiều với giai đoạn cách mạng trước đây. Đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, vừa đứng trước những thời cơ, vận hội, vừa phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Mặt trái của kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế tác động rất mạnh đến nhận thức, tâm tư, tình cảm của từng người. Sự giao thoa văn hóa giữa môi trường quân đội với bên ngoài bên cạnh yếu tố tích cực cũng không tránh khỏi ảnh hưởng tiêu cực từ những dòng văn hóa xấu độc, xa lạ với bản chất, truyền thống văn hóa của dân tộc nói chung và của quân đội nói riêng. Hơn nữa, quân đội ta còn là một đối tượng chủ yếu trong chiến lược "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch. Âm mưu “phi chính trị hóa" quân đội của chúng thực chất là nhằm triệt tiêu bản chất, truyền thống cách mạng, vô hiệu hóa vũ khí chính trị - tinh thần sắc bén, từ đó vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội ta.

Phát huy bản chất truyền thống của Quân đội, trước những khó khăn, thách thức, những năm qua quân đội ta vẫn phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của mình, xứng đáng là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ quân đội vẫn luôn luôn có mặt ở những nơi khó khăn, gian khổ nhất, sát cánh cùng cấp uỷ đảng, chính quyền và nhân dân các địa phương làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cùng nhân dân xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, đẩy mạnh sản xuất, xoá đói giảm nghèo, phòng chống thiên tai, bão lũ,... Những hành động đó đã làm ngời sáng thêm bản chất cách mạng của “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.

Vì vậy, việc chăm lo xây dựng, bồi dưỡng bản chất cách mạng cho thế hệ trẻ trong quân đội là một yêu cầu vừa mang tính thường xuyên, lâu dài, vừa là đòi hỏi bức thiết, trước mắt, mà tổ chức Đảng, người chỉ huy, cơ quan chức năng các cấp đều phải hết sức quan tâm.

Trước hết, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị - tư tưởng nâng cao lòng yêu nước, giáo dục sâu sắc lòng yêu CNXH, đưa tình cảm cao quý đó lên một tầm cao mới - yêu Tổ quốc Việt Nam độc lập, thống nhất, XHCN. Giáo dục các quân nhân lòng trung thành vô hạn và niềm tin không gì lay chuyển được vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn; giữ gìn và phát huy tinh hoa bản sắc dân tộc. Đó là quá trình xây dựng làm cho thế hệ trẻ quân đội nắm vững mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội nhân dân trong thời kỳ mới; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹ lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ CNXH, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ gìn sự ổn định chính trị và môi trường hoà bình, phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Mục tiêu trên đây phản ánh sự thống nhất biện chứng giữa quyền lợi giai cấp và quyền lợi dân tộc, giữa độc lập dân tộc và CNXH, giữa dân tộc và quốc tế. Để có được bản chất cách mạng trên, lãnh đạo và chỉ huy các cấp cần chăm lo giáo dục để thế hệ trẻ quân đội luôn luôn đứng vững trên nền tảng chính trị của Đảng, bảo vệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong bối cảnh hiện nay, giáo dục chính trị - tư tưởng phải luôn bám sát sự phát triển mới của thực tiễn cách mạng, chú trọng đi sâu phân tích để cán bộ, chiến sĩ có nhận thức đầy đủ hơn về thời cơ và nguy cơ, nhất là những khó khăn, thách thức đặt ra đối với đất nước, quân đội, trực tiếp là đối với thế hệ trẻ trong quân đội, từ đó chủ động ngăn ngừa những tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược " diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội ta. Phải coi trọng đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, phê phán sâu sắc những quan điểm sai trái, những luận điệu tuyên truyền lừa bịp của các thế lực phản động, thù địch; đấu tranh, uốn nắn kịp thời những nhận thức lệch lạc, những hành vi và thói quen không phù hợp với bản chất cách mạng và truyền thống vẻ vang của quân đội.

Giáo dục bản chất, truyền thống quân đội phải gắn liền với giáo dục lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử quân đội, lịch sử và truyền thống đơn vị, đồng thời coi trọng giáo dục truyền thống địa phương, nơi sinh trưởng của cán bộ, chiến sĩ và nơi đứng chân của đơn vị. Bởi lẽ quá khứ, hiện tại và tương lai là một dòng chảy liên tục. Tuy nhiên, giáo dục không phải chỉ để ca ngợi quá khứ, mà như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói, phải làm cho quá khứ sống lại đẹp đẽ hơn bao giờ hết trong bản anh hùng ca của hiện tại.

Giáo dục truyền thống cần coi trọng giáo dục gương đấu tranh cách mạng của các đảng viên tiền bối và gương chiến đấu của các anh hùng, dũng sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân ta. Đặc biệt là cần học tập tấm gương và cuộc đời hoạt động của Bác Hồ, đây là một yêu cầu cấp thiếp đối với sự nghiệp giáo dục,  rèn luyện các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội, phù hợp với nguyện vọng và tình cảm thiêng liêng của quân đội ta đối với Bác. Vì Người là kết tinh những giá trị tinh thần, văn hóa của nhân dân ta, dân tộc ta qua suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Ở Bác, tinh hoa của dân tộc được kết hợp với chủ nghĩa Mác - Lênin - đỉnh cao của tư tưởng nhân loại trong thời đại mới. Người là tấm gương tuyệt vời về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng nhân đạo và yêu mến nhân dân, chí công vô tư, khiêm tốn giản dị... thực hiện tốt những yêu cầu nội dung giáo dục đó, mới động viên và khơi dậy được mạnh mẽ  lòng tự hào dân tộc, tình cảm thiêng liêng gắn bó của thế hệ trẻ quân đội đối với Đảng, với lãnh tụ, với quân đội và đơn vị mình, từ đó củng cố quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Cùng với giáo dục chính trị - tư  tưởng, giáo dục lịch sử, truyền thống, phải coi trọng trau dồi thường xuyên về đạo đức cách mạng cho bộ đội. Bởi lẽ, nhịp sống trong cơ chế thị trường tác động rất mạnh đến thị hiếu, tác phong, lối sống, đạo đức của tuổi trẻ. Hiện nay, do cơ cấu giai cấp trong xã hội có sự phát triển, xuất thân của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội cũng biến đổi theo, vì vậy nhận thức, tư tưởng của mỗi người cũng đa dạng, phức tạp hơn. Thậm chí, so với trước đây, ngày nay sự nhìn nhận, đánh giá về nhân cách, phẩm giá của con người cũng có những thay đổi, phát triển mới. Tuy nhiên, không vì thế những giá trị đạo đức truyền thống như: chủ nghĩa tập thể, tinh thần sống mình vì mọi người, trọng danh dự, tình đồng chí đồng đội, "đồng cam cộng khổ", sẵn sàng nhường thuận lợi cho bạn, nhận khó khăn về mình, v.v., từng được bao thế hệ cán bộ chiến sĩ trân trọng giữ gìn, lại bị coi nhẹ hay hạ thấp đi. Ngày nay, quân đội ta vẫn còn khó khăn, thiếu thốn; còn phải tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ không kém phần gay go, phức tạp, thậm chí phải đổ máu, hy sinh vì lợi ích Tổ quốc và nhân dân. Để làm được nhiệm vụ đó, cần luôn quán triệt quan điểm" xây đi đôi với chống"; tích cực đấu tranh với những biểu hiện chạy theo cuộc sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, coi vật chất, lợi ích cá nhân, cụ bộ nặng hơn danh dự, nhân  cách quân nhân. Kỷ luật quân đội phải được tôn trọng và duy trì nghiêm túc, tự giác, không dung thứ  cho những hành vi trái với luật pháp và điều lệnh quân đội. Việc giáo dục sâu rộng về đạo đức cách mạng, phong cách Hồ Chí Minh cần phải được tiến hành một cách  rộng khắp, thường xuyên, sâu sắc đối với thế hệ trẻ trong quân đội.

Để xây dựng bản chất cách mạng cho thế hệ trẻ trong quân đội, đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp phải luôn luôn là tấm gương sáng về nhân cách để mọi người noi theo. Thực hiện những di huấn quý báu của Bác Hồ, người chỉ huy các cấp phải thực sự phấn đấu để có "trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung", "giàu sang không thể quyến rũ, uy vũ không thể khuất phục"; người cán bộ chính trị phải thực sự "thân thiết như người chị, công bình như người anh". Bởi lẽ, thế hệ trẻ thường học không chỉ trong sách vở, mà chủ yếu học trong đời thường, nhất là từ đội ngũ đảng viên, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ chính trị trực tiếp tại đơn vị.

Ngoài ra, để bồi dưỡng bản chất cách mạng cho thế hệ trẻ trong quân đội, các đơn vị, cơ quan, nhà trường quân đội, dù đóng quân trên địa bàn nào, cũng cần chú trọng thắt chặt mối liên hệ với cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể và nhân dân địa phương, làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục thanh niên, tăng cường bồi dưỡng lòng yêu nước XHCN, bản chất, truyền thống cách mạng của Đảng, của dân tộc, bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân cho thế hệ trẻ, tạo điều kiện thuận lợi để thanh niên khi bước vào quân ngũ có nhận thức đúng, tình cảm tốt đẹp về quân đội, từ đó xác định động cơ tham gia xây dựng quân đội đúng đắn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”.

Sự sai trái của luận điểm “chế độ một đảng không chống được tham nhũng”

 Để xuyên tạc, phủ nhận những tiến bộ trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền cho luận điểm “chế độ một đảng cầm quyền không thể chống được tham nhũng”(!). Đây là luận điểm rất sai trái, cần kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

Những năm qua, với quan điểm “phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp đẩy mạnh cuộc đấu tranh này. Với tinh thần kiên quyết, kiên trì, công khai, minh bạch, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được tiến hành một cách bài bản, đạt được những kết quả tích cực.

Tuy nhiên, thực hiện mưu đồ chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch đã lợi dụng các trang mạng xã hội và kênh truyền thông không thiện chí với Việt Nam để lan truyền những thông tin xuyên tạc, bóp méo tình hình chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta. Một mặt, họ cho rằng các hoạt động phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay “chỉ là để mị dân”, hay “Đảng Cộng sản Việt Nam không thật sự quyết tâm chống tham nhũng”(!). Mặt khác, trước kết quả phòng, chống tham nhũng thời gian qua, nhiều tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật, hoặc xử lý hình sự do tham nhũng, họ lại cho rằng “tham nhũng là sản phẩm của chế độ chính trị ở Việt Nam”(!) và “Việt Nam càng chống tham nhũng thì tham nhũng càng nhiều, bởi đó là căn bệnh kinh niên của thể chế chính trị một đảng cầm quyền”(!). Từ đây, họ kêu gọi phải thay đổi thể chế chính trị, thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì mới có thể chống được tham nhũng. Cổ súy cho khuynh hướng này, ngày 24/6/2022, Đài Á châu tự do (RFA) đăng bài viết “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: thay đổi thể chế” xuyên tạc công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta; trong đó, họ nêu câu hỏi mang tính kích động chính trị, rằng: “Liệu có diệt được tham nhũng trong thể chế hiện hành hay không?”(!). Từ đó đưa ra “lời khuyên”: Việt Nam nên từ bỏ chế độ chính trị hiện hành để chuyển sang chế độ tư bản chủ nghĩa mới chống được tham nhũng. Những luận điểm kiểu này thực sự nguy hiểm, dễ làm cho người dân lầm tưởng tham nhũng gắn liền với thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa và do chế độ một đảng cầm quyền gây ra; qua đó, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên và gây nên nguy cơ bất ổn về chính trị trong xã hội.

Cần khẳng định dứt khoát rằng, luận điểm coi tham nhũng là “căn bệnh kinh niên” của chế độ xã hội chủ nghĩa, của chế độ một đảng cầm quyền và “chế độ một đảng không chống được tham nhũng” là hoàn toàn sai cả về lý luận và thực tiễn. Trên phương diện lý luận, một mặt, tệ nạn tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực; ở đâu có quyền lực, ở đó có nguy cơ xảy ra tham nhũng, một khi quyền lực bị lạm dụng. Tham nhũng là “căn bệnh” của nhà nước, do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra; có nhà nước là có tham nhũng, không phân biệt nhà nước đó là xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, đi theo thể chế chính trị đa đảng hay một đảng. Mặt khác, nếu quyền lực được kiểm soát chặt chẽ với cơ chế quản lý, phòng ngừa đồng bộ, ngày càng hoàn thiện, thì quyền lực sẽ không thể bị lạm dụng; người có quyền lực sẽ “không thể,” “không dám”, “không muốn” và “không cần” tham nhũng, tình trạng tham nhũng sẽ được kiểm soát và hạn chế tối đa. Do đó, chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng và cũng không phải là không thể chống được tham nhũng. Trên phương diện thực tiễn, ở các nước theo chế độ tư bản chủ nghĩa, duy trì chế độ đa đảng, tham nhũng vẫn tồn tại; thậm chí một số nguyên thủ quốc gia (như ở: Tunisia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippin, Indonesia, Pakixtan, Brazil,…) cũng dính vào tội tham nhũng. Mới đây, Phó Tổng thống Argentina, 01 Phó Chủ tịch Nghị viện châu Âu cũng bị cáo buộc dính vào tham nhũng. Chẳng thế mà Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) hằng năm đều công bố chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) trong khu vực công, để cung cấp cái nhìn tổng quát về mức độ tham nhũng tương đối của 180 quốc gia và vùng lãnh thổ; trong đó, chủ yếu là các nước, vùng lãnh thổ đi theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, thực hiện chế độ đa đảng. Nhìn vào bảng xếp hạng CPI năm 2021 (công bố đầu năm 2022) có thể thấy rất rõ quốc gia nào cũng có tham nhũng, khác nhau chỉ ở mức độ nghiêm trọng, bởi không có quốc gia nào đạt được điểm 100 (tức là không có tham nhũng). Những nước đứng đầu bảng xếp hạng CPI là Đan Mạch, Phần Lan và New Zealand, cũng chỉ đạt 88 điểm, nghĩa là vẫn có tham nhũng. Còn những nước đứng cuối bảng là Somalia, Syria và Nam Sudan chỉ đạt từ 11 đến 13 điểm, đều là các nước theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Bảng xếp hạng còn cho biết trong 10 năm qua (kể từ năm 2012), 23 quốc gia và vùng lãnh thổ đã giảm đáng kể về chỉ số CPI, trong đó có các nước như Australia, Canada và Mỹ. Điều đó cho thấy tham nhũng ở những nước này trong 10 năm qua có xu hướng gia tăng.

Thực tiễn ở nước ta cũng cho thấy, ngay từ những ngày đầu thành lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết liệt lên án những biểu hiện của sự tha hóa quyền lực nhà nước trong không ít cán bộ, đảng viên có chức, có quyền. Người coi tham ô, tham nhũng là thứ “giặc nội xâm”. Người viết: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”1. Người yêu cầu: “chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận”2, phải kiên quyết đấu tranh, quét sạch. Với cương vị là Đảng cầm quyền, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta chưa bao giờ buông lỏng nhiệm vụ chống tham nhũng, tiêu cực. Tại Đại hội VII, Đảng ta đã khẳng định tham nhũng, tiêu cực là một trong bốn nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, cần phải quyết liệt xóa bỏ. Để công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng có bước đột phá, Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) của Đảng đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban. Với cơ chế đó, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện bài bản, quyết liệt, đồng bộ, có bước đột phá, khẳng định quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong cuộc đấu tranh này với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai và không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”.

Để khắc phục những sơ hở, bất cập trước đây làm phát sinh tiêu cực, tham nhũng, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện bước đi rất bài bản bằng việc ban hành và đưa vào tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, quy định của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực3, nhằm “nhốt” quyền lực vào trong “lồng” cơ chế. Công tác phát hiện, xử lý tham nhũng đã được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện một cách quyết liệt, công khai, minh bạch. Theo tổng kết của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, trong giai đoạn 2012 - 2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; đã kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 04 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 29 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương; 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến tháng 6/2022, đã thi hành kỷ luật 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (cao gấp 04 lần so với nhiệm kỳ khóa XI và bằng gần một nửa số cán bộ cấp cao bị xử lý của nhiệm kỳ khóa XII); trong đó, có 08 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương, 20 sĩ quan cấp tướng. Hoạt động phòng, chống tham nhũng từng bước được mở rộng ra cả khu vực ngoài nhà nước và sang cả lĩnh vực chống tiêu cực. Nhờ đó, tình trạng tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố thêm niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước ta.

Những kết quả cụ thể đó đã tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao; đồng thời, là bằng chứng thuyết phục bác bỏ mọi sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực xấu, thù địch. Con số 93% người dân được hỏi trong cuộc điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành thời gian qua, bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã nói lên điều đó. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam còn nhận được sự ghi nhận, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế. Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế, trong một thập kỷ qua, Việt Nam đã tăng hơn 30 bậc về chỉ số CPI, năm 2021 tăng 03 bậc trong bảng xếp hạng so với năm 2020. Cơ quan đầu mối quốc gia của Tổ chức Minh bạch quốc tế tại Việt Nam là Hướng tới Minh bạch (TT) cũng khẳng định: “Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng kể trong phòng, chống tham nhũng nhờ nỗ lực to lớn của Đảng và Nhà nước”. Trước những kết quả mang tính đột phá trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam, đại diện nhiều doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam cũng có những đánh giá tích cực. Ông Thomas Bo Pedersen, Tổng Giám đốc Công ty Mascot Việt Nam và Lào nhận xét: “Điều này cho thấy Đảng và Chính phủ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực rất quyết liệt và theo một cách có hệ thống. Tôi cho rằng, đây là động thái đúng đắn và cho tôi hy vọng rằng tham nhũng, tiêu cực sẽ không diễn ra khi thấy Đảng và Chính phủ xử lý tham nhũng, tiêu cực quyết liệt như thế cũng như nhìn thấy hậu quả nếu tham nhũng, tiêu cực”. Ông Kenneth Atkinson, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Anh quốc tại Việt Nam (BritCham Vietnam) nhấn mạnh: “Tôi cho rằng những hành động mạnh mẽ này của Việt Nam rất đáng hoan nghênh, đặc biệt lần này là với ngay cả những quan chức cấp cao. Đây là một động thái tích cực và hy vọng rằng sẽ được duy trì”.

Tham nhũng là một hiện tượng xã hội, gắn liền với quyền lực nhà nước, nên không thể xóa tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn. Đó là điều mà cả thế giới đều nhận thấy. Ở nước ta, mặc dù cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với ý chí, quyết tâm và trách nhiệm cao; với tinh thần đấu tranh không “ngừng”, không “nghỉ” như chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; với sự nỗ lực phấn đấu, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của chúng ta chắc chắn sẽ đạt được kết quả cao hơn nữa. Tham nhũng, tiêu cực nhất định sẽ bị ngăn chặn, đẩy lùi; những luận điệu sai trái cho rằng “Đảng ta không có quyết tâm chống tham nhũng”, hoặc “cơ chế một đảng lãnh đạo cầm quyền không chống được tham nhũng” nhất định sẽ không còn chỗ đứng.

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ MỘT TẤT YẾU KHÁCH QUAN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐẤT NƯỚC

 

Thực tiễn vận động của nền kinh tế thế giới những năm gần đây cho thấy, mô hình phát triển nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô từ trung tâm, trong  bối cảnh ngày nay, là mô hình hợp lý hơn cả. Mô hình này, về đại thể có thể đáp ứng những thách thức của sự phát triển.

Ở nước ta, việc thực hiện mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong thực tế, chẳng những là nội dụng của công cuộc đổi mới mà còn là công cụ, là phương thức để nước ta đi tới mục tiêu xây dựng Chủ nghĩa xã hội.

Nền kinh tế nước ta hiện nay đang trong giai đoạn quá độ, chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, nghiên cứu, xem xét những đặc điểm của nó là một vấn đề rất có ý nghĩa. Nhận thức được tính phức tạp của giai đoạn quá độ, chúng ta sẽ tránh được những sai lầm chủ quan nóng vội, duy ý chí hoặc những khuynh hướng cực đoan, máy móc, sao chép, chấp nhận nguyên bản kinh tế thị trường từ bên ngoài vào.

 Như chúng ta đã biết, trong nền kinh tế tập trung, bao cấp, mọi chức năng kinh tế - xã hội của nền kinh tế đều được triển khai trong quá trình kế hoạch hoá ở cấp độ quốc gia. Tính bao cấp của nhà nước đối với các hoạt động của sản xuất, lưu thông, phân phối… khá nặng nề. Lợi ích kinh tế, đặc biệt là lợi ích cá nhân người lao động, một động lực trực tiếp của hoạt động sản xuất xã hội chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế, sự vận động của nền kinh tế nhìn chung là chậm chạp, kém năng động.

 Kể từ đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đến nay, theo đường lối đổi mới, đất nước ta đã từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa. Qua gần 35 năm thực hiện, chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng cho phép chúng ta điều chỉnh và bổ sung nhận thức, làm cho quan nịêm về chủ nghĩa xã hội ngày càng cụ thể; đường lối chủ trương, chính sách ngày càng đồng bộ, có căn cứ khoa học và thực tiễn. Những thành tựu đó, trong một chừng mực nhất định cũng gián tiếp tác động đến việc năng động hoá nền kinh tế đất nước.

Nếu  như trước đây, nền kinh tế nước ta chỉ có một kiểu sở hữu tương đối thuần nhất với hai thành phần quốc doanh và tập thể, thì nay, cùng với thành phần sở hữu chủ đạo là sở hữu Nhà nước, còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác. Những hình thức sở hữu đó, trong tổng thể nền kinh tế là những bộ phận khách quan, có khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng và năng động của nền kinh tế thị trường.

Trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc chúng ta bước đầu sử dụng thị trường như là một công cụ, phương thức đã đem lại những kết quả tích cực cả về phương diện thực tiễn và phương diện nhận thức.

Tuy nhiên, nhận ra sức mạnh của cơ chế thị trường bao nhiêu, chúng ta lại càng hiểu rõ hơn bấy nhiêu mặt trái của nó đối với sự vận động của đời sống xã hội. Sự tăng trưởng kinh tế đương nhiên là một mục tiêu của phát triển xã hội, có khả năng tạo ra điều kiện để giải quyết các vấn đề xã hội. Nhưng tăng trưởng kinh tế không phải lúc nào cũng đi liền với tiến bộ xã hội. Do vậy, để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” thì nền kinh tế thị trường nhất thiết phải có sự quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa.

Tiếp tục phát huy hơn nữa vai trò của báo chí, xuất bản trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới

 Những năm tới, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tăng cường hoạt động; lợi dụng triệt để các thành tựu khoa học - kỹ thuật của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là internet, mạng xã hội để chống phá; cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ ngày càng cam go, quyết liệt. Vì vậy, để phát huy hơn nữa vai trò các cơ quan báo chí, xuất bản cùng với các cơ quan của Đảng, Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, cần thực hiện đồng bộ các chủ trương, giải pháp; trong đó, tập trung vào một số nội dung sau:

Một là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng, quản lý báo chí, xuất bản. Trước hết, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý cần kịp thời, nhạy bén, bảo đảm tính khoa học, thuyết phục, có lý, có tình, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra. Tập trung chỉ đạo, định hướng cho các cơ quan báo chí, xuất bản từ Trung ương đến địa phương quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa, văn nghệ và báo chí, xuất bản; nhận thức rõ ý nghĩa, vai trò của công tác báo chí, xuất bản đối với việc nâng cao đời sống tinh thần của quần chúng nhân dân và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang. Thực hiện tốt nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Các ban, bộ, ngành, cấp ủy, chính quyền địa phương cần xây dựng cơ chế cung cấp thông tin kịp thời cho báo chí, xuất bản để tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là về những vấn đề, vụ việc phức tạp, nhạy cảm được dư luận quan tâm; nắm bắt và giải quyết kịp thời những vấn đề mới nảy sinh, không tạo ra “khoảng trống thông tin” để các thế lực thù địch lợi dụng, tán phát thông tin sai sự thật.

Hai là, nâng cao nhận thức, xác định rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm của báo chí, xuất bản trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Các cơ quan báo chí, xuất bản cần thấu triệt tầm quan trọng đặc biệt, yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Trên cơ sở đó, tập trung nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nhất là trình độ lý luận và phương pháp đấu tranh tư tưởng, lý luận; ngăn chặn và đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ nhà báo, phóng viên, biên tập viên. Trước mắt, cần quán triệt, tổ chức triển khai có hiệu quả Kế hoạch số 154-KH/BTGTW, ngày 10/6/2022 của Ban Tuyên giáo Trung ương về triển khai phong trào thi đua “Xây dựng môi trường văn hóa trong các cơ quan báo chí” và Kế hoạch số 156-KH/BTGTW, ngày 14/6/2022 của Ban Tuyên giáo Trung ương về tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý, chấn chỉnh hoạt động báo, tạp chí, trang thông tin điện tử, mạng xã hội trong giai đoạn hiện nay. Xây dựng cơ chế để khen thưởng kịp thời, nhằm động viên, cổ vũ, tôn vinh các nhà báo, người làm xuất bản có thành tích trong thông tin, tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo động lực thôi thúc họ đi sâu tìm tòi, nghiên cứu, có những bài viết, xuất bản phẩm sâu sắc, chất lượng, đạt hiệu quả cao.

Ba là, tăng cường vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo, ban biên tập các cơ quan báo chí, xuất bản. Để thực hiện tốt giải pháp này, người đứng đầu cơ quan báo chí, xuất bản cần nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình, nhất là trách nhiệm trong việc quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về tính Đảng, tính chiến đấu của báo chí cách mạng. Thực hiện “nói đi đôi với làm”, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tận tụy, tâm huyết với công việc. Có hiểu biết sâu sắc về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; nhận diện rõ đối tượng đấu tranh, đối tượng tác động, âm mưu, nội dung chống phá, chiêu thức, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong từng giai đoạn, thời điểm, để lãnh đạo, chỉ đạo, có phương thức đấu tranh, chặt chẽ, hiệu quả, không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Bốn là, coi trọng hơn nữa công tác xây dựng tổ chức bộ máy, cán bộ, nâng cao chất lượng các chuyên trang, chuyên mục. Các cơ quan báo chí, xuất bản cần đặc biệt chú trọng xây dựng và phát triển tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, mở các chuyên trang, chuyên mục về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, để tổ chức thực hiện thành công nhiệm vụ quan trọng, có tính chất sống còn này. Đồng thời, tập trung xây dựng lực lượng, đơn vị chuyên trách để xác định rõ trách nhiệm, chỉ tiêu cũng như tổ chức thực hiện nhiệm vụ một cách chuyên nghiệp, hiệu quả. Những phóng viên, biên tập viên chuyên trách phải là những người “vừa hồng, vừa chuyên”, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật cao, có nhiệt tình, quyết tâm và trách nhiệm cao trong công việc; có hiểu biết sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng, nội dung của công tác này; có trình độ lý luận chính trị cao; nghiệp vụ công tác báo chí giỏi, có phương pháp đấu tranh khoa học. Chú trọng xây dựng mạng lưới cộng tác viên là các chuyên gia, nhà lý luận, nhà khoa học có uy tín; có chế độ, chính sách đãi ngộ hợp lý, linh hoạt theo hướng lâu dài, hiệu quả.

Tăng cường thời lượng, nâng cao chất lượng các chuyên trang, chuyên mục (từ bình luận, chuyên luận tới phỏng vấn, ghi nhanh, phiếm chỉ,...); tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo khoa học để thu hút các nhà khoa học, nhà lý luận có uy tín đưa ra các luận cứ có sức thuyết phục để nâng cao hiệu quả công tác này. Qua đó, quyết liệt đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho báo chí cách mạng thực sự là “vũ khí sắc bén” trong sự nghiệp “phò chính, trừ tà”, bảo vệ chính nghĩa, đồng hành với lẽ phải, lên án cái xấu, cái ác, chống lại những nhận thức, hành động sai trái, phi nghĩa; một lòng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân.

Năm là, đổi mới nội dung, phương pháp tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Công tác thông tin, tuyên truyền trên báo chí, xuất bản phải quán triệt nguyên tắc gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền thông tin tích cực, chính thống theo tinh thần “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”, tạo hiệu ứng truyền thông nâng cao nhận thức về những giá trị tốt đẹp của con người, cộng đồng, chế độ xã hội ở nước ta, bảo đảm mỗi tác phẩm báo chí, xuất bản phẩm thực sự là một công cụ tăng cường nhận thức, củng cố niềm tin của nhân dân đối với đất nước và có giá trị định hướng về nhận thức, tư tưởng đối với bạn đọc.

Đa dạng hóa hình thức thông tin tuyên truyền; huy động sự tham gia thống nhất, hiệp đồng tác chiến của các loại hình báo chí, xuất bản; các “binh chủng” khác, tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Coi trọng xây dựng báo chí truyền thông - xuất bản hiện đại, đa phương tiện, bắt kịp xu hướng trong thời đại công nghệ số. Đây vừa là một thách thức, vừa là một yêu cầu, nhiệm vụ rất cao đối với ngành, từng cơ quan và đội ngũ người làm báo chí, xuất bản nước ta hiện nay.

Tranh thủ các kênh để đưa báo chí, xuất bản phục vụ kiều bào ta ở nước ngoài và người nước ngoài quan tâm đến Việt Nam, nhất là đối với kênh thông tin đối ngoại lý luận nhằm đưa hệ tư tưởng tiến bộ, khoa học, cách mạng và lý luận về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam đến với bạn bè trên thế giới, góp phần thu hẹp sự khác biệt, thiếu thiện chí; gia tăng sự hiểu biết, đồng thuận, tạo dựng sự ủng hộ đối với Đảng, đất nước ta. Đây là một phương cách đấu tranh chủ động với các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, từ sớm, từ xa, nhằm tạo nên một mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận rộng khắp, khoa học và cách mạng, đẩy lùi những luận điệu, quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ những giá trị tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. CST

Vai trò của báo chí, xuất bản trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

 Trước hết, báo chí, xuất bản đã tích cực thông tin, tuyên truyền, có nhiều xuất bản phẩm có chất lượng về mảng nội dung nghiên cứu lý luận, chính trị; khẳng định tính đúng đắn, khoa học, cách mạng; tăng cường, củng cố niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng; làm cho hệ tư tưởng của Đảng giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Các cơ quan báo chí, trước hết là các báo chủ lực1; một số nhà xuất bản chuyên về sách lý luận, chính trị, pháp luật2,... đã đầu tư về nhân lực, điều kiện vật chất - kỹ thuật, xây dựng kế hoạch tuyên truyền về chủ đề xây dựng Đảng, góp phần đưa các chủ trương, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Đặc biệt, một số ấn phẩm tiêu biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã được xuất bản, nhất là việc xuất bản cuốn sách: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (tháng 02/2022) đã nhận được nhiều ý kiến đánh giá cao của độc giả, học giả trong nước và bạn bè quốc tế; góp phần nâng tầm tư duy lý luận của Đảng, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, cung cấp kịp thời cơ sở khoa học cho việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thứ hai, các cơ quan báo chí, xuất bản đã tập trung thông tin, tuyên truyền về đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chủ trương, kế hoạch phát triển đất nước của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành; phân tích, làm rõ tính đúng đắn của đường lối, chính sách để cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu, nắm vững và triển khai có hiệu quả. Đồng thời, phát huy vai trò giám sát, phản biện, làm rõ những vấn đề còn băn khoăn liên quan đến tình hình kinh tế - xã hội của đất nước; kịp thời biểu dương, cổ vũ những mô hình, điển hình, kinh nghiệm, cách làm tốt trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo sức lan tỏa, cổ vũ các phong trào thi đua yêu nước.

Báo chí, xuất bản cũng tích cực phản ánh, tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; gắn tuyên truyền nội dung này với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; khẳng định quyết tâm của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Qua đó, không chỉ cung cấp thông tin đến người dân, mà còn phản bác các thông tin xuyên tạc về quyết tâm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước; tăng cường niềm tin của người dân vào công lý, vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

Thứ ba, các cơ quan báo chí, xuất bản có nhiều chương trình, bài viết, xuất bản phẩm phân tích, làm rõ tầm quan trọng của việc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Thứ tư, báo chí, xuất bản thông tin, tuyên truyền góp phần quan trọng xây dựng và phát triển, truyền bá hệ giá trị quốc gia, văn hóa, gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, nhất là sau khi có các nghị quyết, chỉ thị, hội nghị của Đảng về văn hóa. Trong đó, khẳng định vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của đất nước, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đạt nhiều thành quả quan trọng, phát triển toàn diện, hướng đến giá trị Chân - Thiện - Mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; đóng góp vào việc gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước.

Thứ năm, các cơ quan báo chí, xuất bản dành nhiều tác phẩm đấu tranh trực diện với luận điệu sai trái, xuyên tạc về vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” tại Việt Nam; tập trung phân tích, khẳng định, chứng minh cơ sở pháp luật đúng đắn của Việt Nam - quốc gia có chủ quyền, có các quy định, chính sách cụ thể, rõ ràng đối với vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền. Một số cơ quan báo chí chủ lực mở và duy trì chuyên mục; liên tục tăng cường, nâng cao chất lượng thông tin về nội dung này, không chỉ thực hiện bằng tiếng Việt, mà còn bằng các tiếng dân tộc thiểu số, ngoại ngữ để giúp thông tin lan tỏa tới đồng bào dân tộc và cộng đồng người Việt ở nước ngoài cũng như bạn bè quốc tế.

Bên cạnh những kết quả đạt được, báo chí, xuất bản nước ta còn bộc lộ một số hạn chế về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, chấp hành định hướng tuyên truyền của cơ quan chức năng. Sức thuyết phục, tính lý luận, “bút chiến” trong nội dung thông tin, tuyên truyền, đấu tranh phản bác chưa cao. Phương thức thông tin, tuyên truyền, đấu tranh phản bác có lúc, có cơ quan báo chí, xuất bản còn khô cứng, thiếu hấp dẫn, chưa phù hợp với đối tượng bạn đọc và xu thế phát triển thông tin của truyền thông mạng xã hội, v.v. CST

Đẩy mạnh phản bác luận điệu xuyên tạc chính sách Quốc phòng Việt Nam

 Đến nay, Việt Nam đã bốn lần công bố Sách trắng Quốc phòng, trong đó thể hiện rõ mục tiêu: tạo lập, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để xuyên tạc, phủ nhận một cách vô căn cứ. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá chính sách quốc phòng Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng hiện nay.

Những năm qua, cùng với quan điểm, đường lối quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được thể hiện nhất quán trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng, Việt Nam đã công bố Sách trắng Quốc phòng, trong đó nêu rõ chủ trương “Bốn không”1, thể hiện rõ sự công khai, minh bạch tính chất của nền quốc phòng Việt Nam là hòa bình và tự vệ; phương châm nhất quán là kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đồng thời, tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung; tăng cường sự hiểu biết và xây dựng lòng tin của các quốc gia khác với Việt Nam.

Tuy nhiên, bất chấp sự thật, các thế lực thù địch đã không từ thủ đoạn nào để công kích, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam. Họ cho rằng, chính sách quốc phòng nói chung, chủ trương “bốn không” của Đảng, Nhà nước ta nói riêng đã lỗi thời, lạc hậu, không còn phù hợp với tình hình thực tiễn; “không liên minh quân sự”, “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” là Việt Nam đã “từ bỏ bạo lực cách mạng trong bảo vệ đất nước”, là “tự trói tay, chân mình”, “tự cô lập mình”, đi ngược lại xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực Biển Đông, các thế lực thù địch cho rằng, với chính sách quốc phòng hiện nay thì Việt Nam không thể giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Do đó, chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc, v.v.

Cần khẳng định rõ, những luận điệu trên hoàn toàn vô căn cứ, xuyên tạc trắng trợn chính sách quốc phòng của Việt Nam. Bởi, quan điểm nhất quán xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta là: “Bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định”2. Điều 4, Luật Quốc phòng năm 2018 xác định: “Thực hiện đối ngoại quốc phòng phù hợp với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chống chiến tranh dưới mọi hình thức; chủ động và tích cực hội nhập, mở rộng hợp tác quốc tế, đối thoại quốc phòng, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”3. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 nêu rõ: “Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia”4. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc”5.

Trên thực tế, Việt Nam luôn nỗ lực thực thi đúng chính sách quốc phòng đã đề ra, tích cực thực hiện cam kết trở thành quốc gia thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng với hơn 100 nước trên thế giới, trong đó có 05 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và tất cả các nước lớn trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, Quân đội nhân dân Việt Nam đã cử hơn 510 lượt cán bộ, nhân viên với 03 lượt bệnh viện dã chiến và Đội Công binh số 1 đến thực hiện nhiệm vụ tại Phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei và Trụ sở Liên hợp quốc, được Liên hợp quốc cùng cộng đồng quốc tế đánh giá cao, tạo uy tín, vị thế, đưa Việt Nam trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021 với số phiếu bầu rất cao (192/193 phiếu tán thành). Đây là minh chứng thể hiện rõ mong muốn, thiện chí của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam trong thực thi chính sách quốc phòng mà không một thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận.

Tuy nhiên, để đẩy mạnh đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, sự xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam trong tình hình hiện nay, cần thực hiện tốt những nội dung cơ bản sau:

Một là,  đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức và làm rõ tính đúng đắn của chính sách quốc phòng Việt Nam hiện nay. Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa, bằng nhiều nội dung, hình thức, biện pháp phong phú, sáng tạo; trong đó, chú trọng thông tin, tuyên truyền về quan điểm, đường lối quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, Luật Quốc phòng, Sách trắng Quốc phòng Việt Nam. Tập trung làm rõ cơ sở khoa học, khẳng định tính chính nghĩa, hòa bình và tự vệ của chính sách quốc phòng Việt Nam. Để đạt hiệu quả, cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu, đánh giá, dự báo chính xác tình hình, kịp thời cung cấp thông tin khách quan, chính thống về hoạt động quân sự, quốc phòng; những vấn đề phức tạp, nhạy cảm trong nước, khu vực và quốc tế, nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết, cách tiếp cận đúng cho nhân dân, kiều bào ta ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế về chính sách quốc phòng Việt Nam. Thông qua đó, không ngừng củng cố lòng tin của các quốc gia về đất nước, con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Đồng thời, nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo 35 các cấp; phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, nhất là lực lượng nòng cốt, chuyên sâu ở các cơ quan, đơn vị để hình thành mạng lưới sâu rộng, hùng hậu tham gia đấu tranh làm thất bại mọi thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch đối với chính sách quốc phòng Việt Nam.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn cho thấy, một trong những mục tiêu của các thế lực thù địch là phá hoại đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta; phủ nhận, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng; chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động quân sự, quốc phòng, tiến tới “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, tạo tiền đề cho chuyển hóa thể chế chính trị ở Việt Nam. Để làm thất bại mưu đồ của chúng, vấn đề tiên quyết đối với nước ta hiện nay là phải: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”6. Tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện cơ chế, phương thức lãnh đạo của Đảng và hệ thống luật pháp của Nhà nước về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đảm bảo đồng bộ, thống nhất, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh. Đồng thời, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn đòi đa nguyên, đa đảng, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch.

Ba là, làm rõ chủ trương huy động mọi nguồn lực, tăng cường sức mạnh quốc phòng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mớiHiện nay, vấn đề mà các thế lực thù địch tập trung công kích nhiều nhất là chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam và hô hào đòi chúng ta phải liên minh, liên kết với nước ngoài. Song, thực tiễn lịch sử đã minh chứng, chúng ta luôn giành thắng lợi trước mọi kẻ thù xâm lược và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì đã biết phát huy cao độ ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh nội lực của toàn thể dân tộc. Vì vậy, để đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, cần làm cho mọi người hiểu rõ chủ trương tăng cường sức mạnh quốc phòng phải dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế. Đồng thời, xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, tạo thành sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước. Đây là nhiệm vụ quan trọng và kế sách giữ nước từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình; đồng thời, phản bác luận điệu “tự cô lập mình” của các thế lực thù địch. Do đó, cần tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế với chiến lược đối ngoại linh hoạt, mềm dẻo, có nguyên tắc, tăng đối tác, giảm đối tượng, tạo thế đan xen lợi ích chiến lược giữa nước ta với các nước, nhất là các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nước láng giềng và các nước trong khu vực; tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, lệ thuộc. Tích cực củng cố tình hữu nghị, đoàn kết quốc tế, thúc đẩy quan hệ, hợp tác quốc phòng, tăng cường tiềm lực để xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; góp phần củng cố lòng tin chiến lược giữa Việt Nam với các nước, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và Quân đội ta trên trường quốc tế.

Chính sách quốc phòng Việt Nam thể hiện rõ truyền thống yêu chuộng hòa bình, nhân văn, nhân đạo và thiện chí của Việt Nam, không chỉ góp phần xây dựng, củng cố niềm tin, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, mà còn làm phá sản mọi sự chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch.CST

Nhận thức đúng mục tiêu chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

 

“Diễn biến hòa bình” là chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa. Về bản chất, so với các chiến lược và mục tiêu trong thời kỳ chiến tranh lạnh, chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống đến cùng chủ nghĩa xã hội và không thay đổi. Trong tình hình và thời cơ mới, chiến lược này chỉ thay đổi phương thức và thủ đoạn, đó là “chiến thắng không cần chiến tranh”, “không đánh mà thắng”, hoặc “cuộc cách mạng nhung”, “cách mạng màu”, có nghĩa là, về bản chất sâu xa, họ vẫn tiến hành một cuộc chiến tranh, nhưng như họ đã từng tuyên bố, đó là một cuộc “chiến tranh không có khói súng”. Điều đó có nghĩa là mục đích cuối cùng của chiến lược  “diễn biến hòa bình” là xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa. Để đạt được điều đó, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch xác định các mục tiêu cơ bản sau:

Một là, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin để thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản trong các nước xã hội chủ nghĩa. Các nhà lý luận của chiến lược “diễn biến hòa bình” cho rằng, tư tưởng là lĩnh vực có tầm quan trọng hàng đầu, vì vậy, mục tiêu phải đạt được là tước bỏ vũ khí tư tưởng của đối phương và coi đó là khâu đột phá của chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Hai là, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trong các nước xã hội chủ nghĩa. Luận điệu được sử dụng thường xuyên là đảng cộng sản độc quyền là “độc tài”, là “bóp nghẹt dân chủ”, vì thế phải thay bằng chế độ chính trị đa đảng! Từ đó, tìm mọi cách nhen nhóm các lực lượng phản động chống đối, cơ hội chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa.

Ba là, gây mất ổn định về chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa. Thủ đoạn thường xuyên được sử dụng là lợi dụng, kích động những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ lôi kéo một bộ phận quần chúng vào các cuộc bạo loạn chính trị. Các thế lực thù địch bỏ ra nhiều công sức và cả tiền bạc để lôi kéo, tập hợp “những người bất đồng chính kiến”, thực chất là những phần tử chống chủ nghĩa xã hội, phủ nhận sự lãnh đạo của đảng cộng sản, dùng họ làm “cơ sở”, “nội ứng” cho việc thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”.

Bốn là, làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế.

Năm là, chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị phương Tây, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực và tha hóa con người, dẫn tới biến chất cả một xã hội.

Sáu là, “phi chính trị hóa” để vô hiệu hóa quân đội và công an.

Những mục tiêu cơ bản trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu để các thế lực thù địch thực hiện được thì điều không tránh khỏi là họ sẽ đạt đến mục đích cuối cùng là xóa bỏ chủ nghĩa xã hội.

BỮA CƠM TRANH THỦ CỦA BỘ ĐỘI TA Ở ĐIỆN BIÊN PHỦ

Có một câu chuyện cảm động,trong chiến dịch này, Bộ đội mình hy sinh nhiều quá, một lần buổi sáng anh nuôi nấu ăn cho gần một trăm người, đến bữa ăn tối anh nuôi nấu ăn như buổi sáng gánh lên trận địa, thì chỉ có một phần ba nhận phần của mình, còn hai phần ba đã hy sinh vì thế còn thừa rất nhiều cơm, thấy thế anh nuôi ôm mặt khóc.

- Chúng mày đâu hết rồi, chúng mày chê cơm Tao nấu à ! 

-  Cả đơn vị không ai cầm được nước mắt, chiến tranh khốc liệt quá, thương vong nhiều quá !

- - -

Năm sáu(56)ngày đêm khoét núi ngủ hầm mưa dầm cơm vắt

Máu trộn bùn non gan không núng trí không mòn

Chín năm làm một Điện Biên, nên vành hoa đỏ lên thiên sử vàng. Thơ: Tố Hữu



P/S: Chiến dịch Điện Biên Phủ (07.5.1954 - 07.5.2017) là một chiến dịch điển hình trong lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta đánh thắng quân viễn chinh Pháp có tiềm lực quân sự mạnh, vũ khí trang bị hiện đại. Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc với thắng lợi hoàn toàn thuộc về Nhân dân Việt Nam. Chiến thắng vĩ đại ở Điện Biên Phủ không những ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son rực sáng nhất trong thế kỷ XX, mà ý nghĩa và tầm vóc của sự kiện lịch sử trọng đại này không hề phai mờ, trái lại, những bài học lịch sử vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Giải pháp đấu tranh làm thất bại thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta hiện nay

 Thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta là mối nguy hại thực sự, gây ra nhiều khó khăn và tạo lực cản lớn để Việt Nam tiếp cận và tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức sâu sắc và tiến hành đồng bộ các giải pháp đấu tranh kịp thời, hiệu quả; trong đó, tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, tiến hành tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, tạo chuyển biến sâu sắc về nhận thức của mọi tổ chức, lực lượng trong cuộc đấu tranh này. Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ đưa lại cho mỗi người dân được hưởng thụ các sản phẩm vật chất và tinh thần của nhân loại với chi phí rẻ hơn, tiện nghi và phong phú hơn. Nó cũng làm cho con người rất dễ rơi vào tình trạng không phân biệt được cái đúng và cái sai; cái tốt và cái xấu; cái thực và cái hư; khó phân biệt quan điểm đúng đắn với quan điểm sai trái, xuyên tạc, v.v. Do vậy, công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng phải tạo ra được nhận thức đầy đủ, đúng đắn và thống nhất trong mỗi tổ chức, cá nhân về âm mưu, thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng này để chống phá cách mạng nước ta; tuyệt đối không mơ hồ, ảo tưởng, mất cảnh giác. Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị (khóa XII) về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, xác định: tránh mọi biểu hiện bàng quan, thiếu tự tin, thụ động, nhưng không chủ quan, nóng vội, duy ý chí. Vì vậy, cần khắc phục triệt để các biểu hiện giản đơn khi cho rằng, Cách mạng công nghiệp 4.0 chỉ thuần túy là vấn đề khoa học và công nghệ hiện đại, không liên quan đến vấn đề chính trị nên không tác động, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng này để chống phá cách mạng Việt Nam.

Mặt khác, phải nhận thức rõ cuộc đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng này để chống phá cách mạng nước ta hiện nay của các thế lực thù địch là vấn đề rất khó khăn và phức tạp. Điều đó, trực tiếp liên quan đến sự mất còn của chế độ, vận mệnh của dân tộc nên cần phải được lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chặt chẽ trên cơ sở nhận thức đầy đủ, sâu sắc của mọi tổ chức, lực lượng. Chỉ có nhận thức đúng mới có thái độ và trách nhiệm cao trong tham gia cuộc đấu tranh với những thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta hiện nay. Từ đó, mới bảo đảm cho nhiệm vụ này được tiến hành một cách chủ động, tích cực, có hiệu quả và khắc phục được những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn.

Thứ hai, tích cực bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực toàn diện cho lực lượng chuyên trách đấu tranh chống địch lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta. Đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng Việt Nam là một bộ phận quan trọng hợp thành cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và là yêu cầu, nhiệm vụ cấp thiết của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hiện nay. Tham gia cuộc đấu tranh này là trách nhiệm chính trị của các cấp, các ngành, không phải là công việc, nhiệm vụ của riêng ai. Trong khi đó, điều kiện, khả năng thu thập, xử lý thông tin và kỹ năng sử dụng, làm chủ các phương tiện kỹ thuật hiện đại ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân ta còn hạn chế. Vì vậy, để giữ thế chủ động, đấu tranh kịp thời, có chất lượng và hiệu quả, đòi hỏi phải xây dựng được lực lượng chuyên trách, có năng lực chuyên môn, trình độ về mọi mặt để giữ vai trò nòng cốt, xung kích trong cuộc đấu tranh này. Thực tiễn đã chứng minh, lực lượng chuyên trách cũng như bất kỳ cá nhân, tổ chức, lực lượng nào cũng đều không thể đấu tranh có hiệu quả với những quan điểm, tư tưởng, lý luận sai trái với một bản lĩnh chính trị hèn yếu, một nền tảng lý luận nghèo nàn, một hệ thống tri thức không đầy đủ, trình độ ngoại ngữ và công nghệ thông tin yếu kém, ít am hiểu những vấn đề thực tiễn xã hội đang diễn ra, v.v. Vì vậy, vấn đề vừa mang tính cấp thiết, vừa cơ bản lâu dài là cần phải bồi dưỡng lực lượng chuyên trách trong đấu tranh tư tưởng, lý luận một cách toàn diện để họ trở thành những người có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, trình độ, tư duy, lý luận cao, có phương pháp luận nhạy bén, sắc sảo, am hiểu thời cuộc; mục tiêu xa hơn là trở thành những “chuyên gia” giỏi về lý luận, những cây “bút chiến” sắc bén. Trong đó, chú trọng bồi dưỡng chuyên biệt cho lực lượng này, bảo đảm cho họ thành thạo về công nghệ thông tin, làm chủ các phương tiện kỹ thuật hiện đại, sử dụng tốt ngoại ngữ để thu thập, tiếp nhận và xử lý nhanh chóng các thông tin, các tình huống đặt ra.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện các chính sách và khung pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức tích cực tham gia đấu tranh. Đấu tranh với thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá Đảng và Nhà nước ta, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là một cuộc chiến rất cam go, nhạy cảm và phức tạp; liên quan đến cả “sinh mệnh chính trị” của người tham gia đấu tranh. Điều đó đặt ra và đòi hỏi phải xây dựng và thường xuyên rà soát, bổ sung, hoàn thiện cơ chế quản lý, cách thức tổ chức, bảo đảm phát huy cao nhất ý thức, trách nhiệm chính trị của mỗi cá nhân, tổ chức để họ tham gia tích cực, hiệu quả vào cuộc đấu tranh đầy cam go này. Trong đó, cần quan tâm chính sách đãi ngộ thỏa đáng, tạo điều kiện về mọi mặt, cả về bảo vệ chính trị, bảo vệ “sinh mệnh chính trị” của những người tham gia; chú trọng cung cấp thông tin đầy đủ, nhiều chiều và có định hướng đúng để phản bác quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch. Đồng thời, tăng cường hơn nữa vai trò quản lý của Nhà nước, trách nhiệm của các tổ chức và từng cá nhân trong sử dụng mạng xã hội; thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, triệt để Luật An ninh mạng và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để nhận diện, ngăn chặn, bóc gỡ các thông tin, tài liệu có nội dung phản động do các thế lực thù địch tuyên truyền, tán phát trên không gian mạng. Cơ quan chức năng các cấp cần quản lý chặt chẽ, đúng quy định việc truy cập, khai thác thông tin trên mạng xã hội, internet và phòng, chống việc lộ lọt thông tin bí mật nhà nước, bí mật quân sự mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để chống phá, xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước. CST

Nhận diện thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch

 Trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ mang tính đột phá, như: trí tuệ nhân tạo, internet của vạn vật, máy tính lượng tử, điện toán đám mây, hệ thống dữ liệu cực lớn và nhanh,... đã làm không gian mạng thay đổi sâu sắc cả về chất và lượng. Dựa trên thế mạnh của không gian mạng, hoạt động truyền thông được các thế lực thù địch tận dụng triệt để, tạo nên sự hỗn loạn, nhiễu loạn thông tin trong xã hội với mưu toan làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta dao động về tư tưởng, mất phương hướng về chính trị để “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Chúng tận dụng tối đa các phương tiện thông tin đại chúng, công nghệ kỹ thuật số, các phương tiện trực tuyến, các diễn đàn, hội nghị quốc tế, các sự kiện chính trị, xã hội trong nước,... để xuyên tạc và tuyên truyền các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch.

Các thế lực thù địch lợi dụng hệ thống thông tin mạng toàn cầu với lượng thông tin lớn, có thể tán phát cả trong và ngoài nước, tốc độ truyền tin nhanh, truy cập dễ dàng, thỏa mãn nhu cầu nghe - nhìn,… để xây dựng hàng loạt các trang thông tin, blog có nội dung lôi kéo, kích động, chống phá, phủ nhận nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm và vai trò lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta. Các trang tin này được thiết kế sử dụng tiếng Việt với nhiều hình thức thông tin hấp dẫn, nhằm thu hút, lôi kéo người truy cập, lợi dụng vào đó để cài các thông tin có tính chất phản động, chống đối để gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội, nhất là trước các vấn đề có tính nhạy cảm, làm cho mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ dễ có cái nhìn lệch lạc về lịch sử, xã hội và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; từ đó, bị lung lạc niềm tin và có những hành động đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Một trong những thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang “ưa chuộng” là làm giả các website, blog mạo danh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lão thành cách mạng, v.v. Đáng chú ý là, để tạo lòng tin cho người đọc và thu hút nhiều người truy cập, quản trị các website này đã cung cấp nhanh và đúng những thông tin mà báo chí chính thống tại Việt Nam đã đăng, sau khi thu hút được số lượng lớn người truy cập, chúng cài dần các thông tin xấu độc, theo tỷ lệ tăng dần cả về số lượng và mức độ bịa đặt, bóp méo sự thật. Từ các trang mạng này, nhiều người truy cập sẽ mắc mưu và bị động, lúng túng khi tiếp nhận thông tin, dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc và hành vi sai trái. Chúng thường triệt để sử dụng mạng xã hội, như: Facebook, Twitter, Yahoo,... để nhanh chóng kết nối các thành viên, truyền bá tư tưởng phản động, tung tin bịa đặt, gây tâm lý hoang mang, dao động trong xã hội.

Trong lĩnh vực quân sự, tận dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các loại vũ khí thế hệ mới được tạo ra, như: vũ khí năng lượng, gen sinh học, rô bốt tác chiến,... với những tính năng vượt trội, có sự nhảy vọt về chất sẽ làm cho các hình thái, tính chất, quy mô, phương thức và thủ đoạn tác chiến của các cuộc chiến tranh trong tương lai trở nên tinh vi, nguy hiểm, mức độ sát thương lớn gấp nhiều lần so với các cuộc chiến tranh trước đây. Thực tế này, làm cho người dân, cũng như mỗi quân nhân có trạng thái tâm lý căng thẳng, bất an, lo lắng. Và nó trở thành một trong những “cái cớ” mà các thế lực thù địch lợi dụng để tuyên truyền cho quan điểm “vũ khí luận”, nhằm tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí hiện đại, khuếch trương sức mạnh khoa học và quân sự của chủ nghĩa tư bản, xuyên tạc bản chất mối quan hệ giữa con người và vũ khí, v.v. Thực trạng trên, đặt ra nhiều vấn đề phức tạp và những khó khăn trong đấu tranh với thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay. CST