Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2023

Phát huy giá trị của văn hóa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay.

 Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, soi đường cho mọi công việc nói chung, trong đó có công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để Đảng càng văn minh, nhân văn, cần tiếp tục nhận thức sâu sắc giá trị đặc biệt của văn hóa, đạo đức trong đời sống xã hội, trong xây dựng hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với nhân dân làng Kon Rờ Bàng, xã Vinh Quang (thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum)_Nguồn: baokontum.com.vn

1- Từ lâu văn hóa đã trở thành bộ phận không thể thiếu trong đời sống của mỗi quốc gia - dân tộc, mỗi con người. Nói đến văn hóa là nói đến hệ giá trị chân, thiện, mỹ có giá trị soi đường cho các hoạt động, các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng,... Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”(1). Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, theo đó văn hóa cũng là nền tảng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi(2). Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc”.

Sức mạnh điều tiết của văn hóa không chỉ dừng lại ở phạm vi đạo đức, ứng xử trong quan hệ cộng đồng, quan hệ con người với con người, hay trong bản thân mỗi con người, không chỉ dừng lại ở việc tạo nên sự hài hòa cụ thể, mà cao hơn, văn hóa còn phát huy tác dụng trong điều chỉnh các quan hệ lớn, tạo nên sự phát triển cân đối, hài hòa, đồng bộ giữa các lĩnh vực quan trọng của đời sống, của mỗi quốc gia - dân tộc. 

Thực chất của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng mang hệ giá trị văn hóa điều tiết, tác động tích cực đến sự chính danh, trong sạch, vững mạnh của Đảng, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta. Văn hóa thẩm thấu, chi phối công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Hệ giá trị của văn hóa là tổ hợp của yếu tố truyền thống, kết hợp với yếu tố hiện đại và sự kết tinh tinh hoa văn hóa thế giới. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và cả dân tộc nên càng phải tạo lập hệ giá trị văn hóa trong Đảng để xây dựng, củng cố, nâng cao bản lĩnh, tầm trí tuệ, sức mạnh nội sinh, khả năng tự đề kháng, kiến tạo xây dựng mô hình tổ chức hợp lý, khoa học, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tác động mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội hiện nay.

Hệ giá trị văn hóa trong Đảng thể hiện ở một số nội dung, như: 1- Bản lĩnh vững vàng của Đảng trước những khó khăn, thử thách; 2- Xác định đúng quyết sách chính trị để lãnh đạo đất nước phát triển bền vững; 3- Mục tiêu, lý tưởng của Đảng luôn hướng đến chăm lo cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Ngoài lợi ích của giai cấp, dân tộc, Đảng ta không có một lợi ích nào khác; 4- Đạo đức của Đảng, đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên luôn là “công bộc” tận tụy phục vụ nhân dân; 5- Các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Do đó, các tổ chức cơ sở đảng, đảng viên phải nắm vững nội dung của hệ giá trị văn hóa trong Đảng để phấn đấu, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức cách mạng, nêu cao tính đảng, trách nhiệm trong xây dựng các tổ chức cơ sở đảng vững mạnh toàn diện, phát huy vai trò hạt nhân chính trị. Thực tiễn cho thấy, khi Đảng đạt tới tầm cao của văn hóa, của đạo đức, văn minh,... thì Đảng cầm quyền sẽ hiệu quả, trường tồn, phát huy tốt vai trò lãnh đạo đối với đất nước. Khẳng định sứ mệnh và sự cống hiến vĩ đại của Đảng đối với Tổ quốc và dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh(3). Đây được coi là mẫu số chung, giá trị phổ quát đặt ra cho các tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt, nỗ lực phấn đấu để Đảng ta luôn biểu trưng cho đạo đức, văn hóa, lương tâm, danh dự của cả dân tộc. Đó là cơ sở để nhân dân tin yêu Đảng, ủy thác vai trò lãnh đạo chính trị cho Đảng đối với sự nghiệp cách mạng hiện nay.

2- Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, Đảng ta ngày càng nhận thức đầy đủ vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng văn hóa trong Đảng - yếu tố tạo nên sức mạnh nội sinh của Đảng. Đầu tư cho xây dựng văn hóa trong Đảng thực chất là đầu tư cho công tác xây dựng Đảng, nâng tầm văn hóa, đạo đức của Đảng. Đảng trong sạch, vững mạnh sẽ tác động tích cực đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, giữ vững vai trò lãnh đạo đối với đất nước, dân tộc, phát triển đúng định hướng.

Công tác xây dựng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết được Đảng ta quan tâm xây dựng, phát huy tính dân chủ, dựa trên những căn cứ khoa học để đưa ra những quyết định chính xác, kịp thời, phản ánh nhu cầu cấp thiết từ cuộc sống, thuận lòng dân. Cấp ủy các cấp đã coi trọng khâu chỉ đạo tổ chức thực hiện nghị quyết, làm rõ trách nhiệm cá nhân, tổ chức phối hợp hành động chặt chẽ nên chủ trương, nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, mang lại lợi ích cho nhân dân.

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn được Đảng ta quan tâm chỉ đạo, thực hiện toàn diện trên các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, xác định rõ quan điểm, nguyên tắc, phương châm, giải pháp sát hợp với tình hình thực tiễn. Từ Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 26-6-1992, của Hội nghị Trung ương 3 khóa VII, “Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng”; Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 2-2-1999, của Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”; đến Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII đã ban hành các nghị quyết, kết luận về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; trong đó, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”” (Kết luận số 21-KL/TW). Đây là những dấu mốc rất quan trọng khẳng định Đảng ta luôn kiên định, kiên quyết, kiên trì và tập trung trí tuệ, tâm sức cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nhờ đó công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt được những kết quả tích cực, góp phần xây dựng, chỉnh đốn các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên luôn giữ vững phẩm chất, tư cách của người đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Nhiệm kỳ Đại hội XI, Đảng ta thẳng thắn nhìn nhận công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được khắc phục thì sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc(4)...

Công tác xây dựng Đảng về đạo đức được Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm chỉ đạo, nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có chuyển biến tích cực. Điểm mới của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trên cơ sở đó, các cấp ủy, tổ chức đảng đã cụ thể hóa thành các tiêu chí phù hợp với thực tiễn của từng đảng bộ để giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên. Bởi vậy, “Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã đề cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống; gương mẫu đi đầu, tận tụy với công việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”(5).

Các tổ chức đảng đã quan tâm xây dựng văn hóa, từ việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, xác định chức năng, nhiệm vụ, quy chế hoạt động, mối quan hệ công tác; xây dựng đoàn kết, thống nhất, phối hợp tổ chức thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả,... đến hành vi ứng xử có văn hóa với nhân dân trong thực thi công vụ của các tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên.

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng ta đã ban hành 14 nghị quyết và 1 quy định, trong đó có 4 nghị quyết về công tác xây dựng Đảng, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức đảng quán triệt, tổ chức thực hiện. Các quy định về công tác cán bộ ngày càng đồng bộ, chặt chẽ hơn, làm cơ sở để nâng cao chất lượng công tác cán bộ, kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền. Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” đã bổ sung những nội dung mới, chỉ ra tệ chạy chức, chạy quyền, coi đây là hành vi tham nhũng trong công tác cán bộ. Công tác kiểm tra, giám sát đã có những đổi mới về nội dung, phương pháp, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên; kiên quyết kiểm tra, kết luận, thi hành kỷ luật một số cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Thực tế, giai đoạn 2013 - 2020, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 131 nghìn đảng viên. Riêng trong nhiệm kỳ Đại hội XII, đã thi hành kỷ luật hơn 87 nghìn cán bộ, đảng viên, trong đó có hơn 3.200 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng; đã thi hành kỷ luật hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (trong đó có 27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, hơn 30 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang(6).

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, kết quả đạt được, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn bộc lộ một số hạn chế sau:

Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng văn hóa trong các tổ chức đảng. Do đó, khâu chỉ đạo, tổ chức thực hiện ở một số tổ chức đảng thiếu quyết liệt, biểu hiện chùng xuống, chất lượng, hiệu quả thấp. “Việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt và thực hiện một số nghị quyết còn chậm, chưa quyết liệt, chưa hiệu quả”(7).

Thực tiễn cho thấy, “một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác  - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”(8).

Một số tổ chức đảng chưa chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức nên chưa quan tâm đúng mức đến giáo dục, rèn luyện, quản lý cán bộ, đảng viên, nhất là giáo dục nâng cao nhận thức trách nhiệm, bổn phận, lòng tự trọng, ý thức, tinh thần phục vụ nhân dân, sự miễn dịch với tham nhũng, tiêu cực. Một số tổ chức đảng xem nhẹ công tác tự phê bình và phê bình, tiến hành một cách hình thức, chưa quyết liệt, hiệu quả thấp; chưa chú trọng xây dựng văn hóa phê bình. Một số cấp ủy có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ, bè phái, cục bộ địa phương trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị; một số cán bộ, đảng viên thiếu tiên phong, gương mẫu, nói không đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước.

Mặc dù việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy có chuyển biến tích cực, nhưng “việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy ở một số nơi thiếu kiên quyết, đồng bộ và chưa đạt mục tiêu đề ra... Tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa thật sự gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”(9).

Trong khâu đề bạt, bổ nhiệm cán bộ còn có tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội(10). Đây là phản văn hóa, cần nhận diện, khắc phục, đẩy lùi trong thời gian tới, góp phần làm lành mạnh, nâng cao chất lượng công tác cán bộ.

Những hạn chế trên có nguyên nhân, như một số tổ chức đảng, người đứng đầu cấp ủy chưa nhận thức đúng vai trò, tính cấp thiết của xây dựng văn hóa trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng; một số cấp ủy năng lực tổ chức, kiến tạo, tổ chức thực hiện xây dựng văn hóa trong tổ chức đảng còn hạn chế, thiếu chủ động, thiếu những cách làm sáng tạo; một số cán bộ, đảng viên tinh thần trách nhiệm yếu, chưa thực sự tiên phong, gương mẫu, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, đi ngược lại những chuẩn mực đạo đức, văn hóa.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Pa Chải (tỉnh Điện Biên) giúp đồng bào phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, góp phần xây dựng nông thôn mới, củng cố mối quan hệ đoàn kết, gắn bó quân dân_Ảnh: TTXVN

3- Để phát huy giá trị của văn hóa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên về xây dựng văn hóa trong Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tư tưởng không đúng đắn thì công tác ắt sai lầm”(11). Cần nhận thức rằng, xây dựng văn hóa trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng là góp phần xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, nâng tầm lãnh đạo, vị thế cầm quyền của Đảng. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng tác động biện chứng, làm tiền đề cho nhau; xây dựng Đảng là cơ sở, điều kiện của chỉnh đốn Đảng, ngược lại chỉnh đốn Đảng góp phần làm cho công tác xây dựng Đảng đạt chất lượng, hiệu quả hơn. Văn hóa thẩm thấu tác động đến năm mặt của công tác xây dựng Đảng, từ việc xác định đúng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết; xây dựng đạo đức của Đảng - đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên đến việc xây dựng hệ thống tổ chức, bộ máy đồng bộ, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đặc biệt, yếu tố văn hóa góp phần giúp cán bộ, đảng viên nhận diện được hệ giá trị chân - thiện - mỹ, thức tỉnh lương tâm, phân biệt được đúng, sai để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ và hoàn thiện nhân cách. Coi nhẹ yếu tố văn hóa sẽ làm cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng dễ lệch chuẩn, sai phạm ở một số tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.

Hai là, coi trọng giáo dục, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng cho mỗi cán bộ, đảng viên.

Công tác giáo dục, rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng, thực chất là tác động văn hóa để mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao tính đảng, nhận thức được trách nhiệm, bổn phận của bản thân để phấn đấu, rèn luyện. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết và yêu cầu, “mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi”(12). Giáo dục, rèn luyện phải thông qua giao nhiệm vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ để từng đảng viên đối chiếu với tiêu chuẩn, nhiệm vụ được giao để phấn đấu, rèn luyện; đồng thời, các tổ chức đảng phải thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Mục đích của tự phê bình và phê bình là giúp nhau phát huy ưu điểm, khắc phục những nhận thức, hành vi chưa đúng, “một mặt là để sửa chữa cho nhau. Một mặt là để khuyến khích nhau, bắt chước nhau”(13). Từ chiều sâu bản chất của văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý, phải hướng vào phê bình việc chứ không phải phê bình người. Người còn căn dặn: “Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán ghét”(14). Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên hằng ngày phải đối chiếu, “tự soi, tự sửa” để hoàn thiện nhân cách, tiến bộ trưởng thành. Tự soi, tự sửa chính là bản lĩnh văn hóa của người cộng sản, dám nhận diện “thứ giặc trong lòng” để đấu tranh loại bỏ. Đây là cuộc chiến cam go, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên trì, dũng cảm mới có thể chiến thắng, vượt qua.

Giáo dục, tác động từ góc độ văn hóa để mỗi cán bộ, đảng viên thấu cảm, lan tỏa tình yêu thương đồng chí. Tinh thần nhân đạo, nhân văn là bản chất của Đảng ta; là mạch nguồn xuyên suốt của chủ nghĩa Mác  - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là cơ sở lô-gíc nội tại để Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát: “Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”(15). Do đó, mọi sự kèn cựa, đố kỵ, ganh tỵ ở một số cán bộ, đảng viên sẽ được nhường chỗ cho tình thương và lòng nhân ái. Tiếp tục tổ chức cho cán bộ, đảng viên học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh từ những điều nhỏ nhất, bình dị nhất. Đây cũng là kênh để cán bộ, đảng viên luôn có ý thức phấn đấu, rèn luyện, không chủ quan, tự mãn, bằng lòng với kiến thức, kết quả phấn đấu của mình.

Song hành với coi trọng giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, cần gắn với đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, “thứ giặc trong lòng không mang gươm, mang súng”, dễ dàng làm tha hóa nhân cách, đưa người ta đi xuống dốc. Từ thực tiễn lãnh đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(16).

Ba là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, có khát vọng cống hiến.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(17). Hiệu quả văn hóa thẩm thấu đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cao hay thấp tùy thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ, cấp ủy. Trước bối cảnh mới, đội ngũ cán bộ phải tích cực học tập nâng cao phẩm chất, bản lĩnh, trình độ kiến thức các mặt, xây dựng tầm nhìn biện chứng để đủ sức giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực tiễn; đủ sức kiến tạo tổ chức thực tiễn có hiệu quả.

Hơn lúc nào hết, đội ngũ cán bộ phải thâu thái được yếu tố văn hóa, bởi đó là hệ điều tiết để nâng cao nhận thức, hành vi, năng lực tổ chức hành động luôn vì lợi ích của Đảng, của tập thể và nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn gương mẫu, trong sạch về nhân cách, nói không với tiêu cực, tham nhũng, luôn lắng nghe, học hỏi, gần gũi với nhân dân. Bởi, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không thể lãnh đạo được nhân dân. Cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Gương mẫu là tiêu chí, thước đo văn hóa của người cán bộ. Thực tế cho thấy, khi cán bộ đã “nhúng chàm”, mất uy tín thì chất lượng lãnh đạo, quản lý hạn chế, thậm chí bất lực. Bởi vậy, cần “coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng và danh dự của cán bộ để hình thành văn hóa không chạy chức, chạy quyền”(18). Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên cần coi trọng xây dựng văn hóa tiết kiệm theo tinh thần Kết luận số 21-KL/TW. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn phấn đấu, rèn luyện, bởi “cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra”(19). Trong tình hình hiện nay, đội ngũ cán bộ cần thực hiện tốt “6 dám” theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng: dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám nói, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách,... Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Bộ Chính trị, “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ” đã đề cập đến văn hóa từ chức, do đó, đã đến lúc cán bộ có sai phạm, khuyết điểm, không hoàn thành nhiệm vụ được giao phải có bản lĩnh xin từ chức - đó là dũng khí, lòng tự trọng của cán bộ. Đây là vấn đề bình thường trong công tác cán bộ. Qua đó, kịp thời bổ sung những cán bộ có phẩm chất, tài năng đảm nhận các công việc của tổ chức phân công, không để khoảng trống quyền lực trong lãnh đạo, quản lý. Để xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, nâng cao tính chuyên nghiệp, đủ khả năng làm việc trong điều kiện hội nhập quốc tế, từng cán bộ phải nỗ lực, phấn đấu; đổi mới mạnh mẽ các khâu của công tác cán bộ, nhất là đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ hợp lý.

Bốn là, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng gắn với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, kiểm soát quyền lực.

Đây là giải pháp nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Các tổ chức đảng cần nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng (cấp ủy, ban thường vụ, sinh hoạt đảng bộ, sinh hoạt chi bộ) nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên. Không để một đảng viên nào đứng ngoài sự quản lý của tổ chức đảng. Sinh hoạt đảng phải đi vào thực chất, bài bản, bảo đảm nguyên tắc, phong phú về nội dung, hình thức sinh hoạt. Đội ngũ cấp ủy viên cơ sở, nhất là bí thư cấp ủy phải nâng cao tính đảng, tính chuyên nghiệp trong điều hành sinh hoạt đảng, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong tranh luận, thảo luận, gắn với kỷ luật, kỷ cương. Có phát huy dân chủ mới giúp cho cấp ủy có thêm thông tin, tri thức, kinh nghiệm để đưa ra các quyết định chính xác, hợp lòng dân. Cần tạo ra không gian văn hóa trong tổ chức đảng để đảng viên hiến kế, chia sẻ, đoàn kết, có trách nhiệm xây dựng tổ chức đảng.

Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng. Đảng ta khẳng định, không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo. Từ thực tiễn lãnh đạo, quản lý Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết, “kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”(20). Công tác kiểm tra, giám sát là công cụ hữu hiệu để xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch vững mạnh, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên; qua đó, giúp cho cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, cán bộ, đảng viên phát huy ưu điểm, khắc phục, phòng tránh các khuyết điểm, sai phạm. Ngoài việc tăng cường kiểm tra, giám sát đối với cấp ủy thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, ủy ban kiểm tra các cấp cần chủ động tăng cường kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, nhằm kịp thời giáo dục, ngăn chặn các khuyết điểm, sai phạm của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, không để các dấu hiệu vi phạm từ chưa nghiêm trọng đến nghiêm trọng, từ một người liên quan đến nhiều người. Ủy ban kiểm tra cần hướng vào kiểm tra những điểm nóng, người đứng đầu, những lĩnh vực dễ xảy ra vi phạm để xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát nhằm giáo dục, cảnh báo cho các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Kiên quyết xử lý kỷ luật những tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cố tình vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, như tham nhũng, tiêu cực, thao túng quyền lực... Xây dựng văn hóa kiểm tra công tâm, khách quan, minh bạch, giáo dục, răn đe, đúng người, đúng việc, không gây oan sai, thể hiện thấu tình đạt lý, tính nhân văn sâu sắc. Đồng thời, coi trọng việc giám sát, kiểm soát quyền lực đối với cán bộ nắm giữ các chức vụ chủ chốt, các lĩnh vực dễ nảy sinh vi phạm. Quyền lực phải được “nhốt trong lồng” thể chế, cơ chế. Đây là biện pháp mạnh cần được tăng cường, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan để giảm thiểu, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới. “Khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe để kiểm soát tham nhũng”(21)

Năm là, dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Nhân dân là cơ sở chính trị của Đảng, Nhà nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn: “Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(22). Do đó, cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay cần sự đóng góp tích cực, trách nhiệm của nhân dân. Đây là vấn đề mang tính quy luật, sống còn của Đảng. Bởi “Họ chẳng những trông thấy những người tốt, việc tốt, mà họ cũng trông thấy những người xấu, việc xấu trong Đảng”(23). Yếu tố văn hóa chính là sự tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; tôn trọng, cầu thị, lắng nghe, tiếp thu, khắc phục, sửa chữa những góp ý đúng đắn của nhân dân. Bởi, tầm trí tuệ, tai mắt của nhân dân rất tinh tường, nhìn nhận, đánh giá cán bộ, đảng viên khá chính xác; ai có trách nhiệm, làm việc có hiệu quả, ai làm tắc trách, quan liêu, nhũng nhiễu dân đều được nhân dân đánh giá. Vì vậy, xác lập cơ chế để thu thập, tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân là hết sức cần thiết để xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Cần kết hợp các kênh góp ý, như nhân dân trực tiếp góp ý, phản ánh, thông qua hội nghị góp ý phê bình cho cán bộ, đảng viên thông qua hòm thư góp ý hoặc thông qua tổ chức đại diện, như Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng... Đây là cơ sở để tổ chức đảng có thêm thông tin, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo, xây dựng tổ chức đảng, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên hiệu quả, nhất là trong điều kiện mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động hiện nay.

Cần khẳng định, sự hiện diện của văn hóa trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng là yêu cầu khách quan, nội tại, mang tính quy luật, do đó đặt ra cho toàn Đảng, cấp ủy các cấp và mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn nêu cao tính đảng, lương tâm, danh dự, trách nhiệm của người cộng sản để phấn đấu, rèn luyện. Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta”, đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh phải “đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa(24); để Đảng ta mãi mãi trường tồn, giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với đất nước, dân tộc./.

----------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 3, tr. 458
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. XXV
|(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 403
4) Xem: Nguyễn Quang Dương: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày
12-1-2022,   https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/tiep-tuc-day-manh-xay-dung-chinh-don-dang-va-he-thong-chinh-tri-trong-sach-vung-manh-dap-ung-yeu-cau-nhiem-vu-trong-thoi-ky-moi

(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 174 – 175
(6) Xem: Hạnh Nguyên: “Phòng, chống tham nhũng ngày càng quyết liệt, đi vào chiều sâu và toàn diện”, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 29-6-2022, https://nhandan.vn/phong-chong-tham-nhung-ngay-cang-quyet-liet-di-vao-chieu-sau-va-toan-dien-post703074.html
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 90
(8), (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 168, 184
(10) Xem: Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 114
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 672
(13), (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 279, 272
(15), (16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 668, 672
(17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 313
(18) Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”
(19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 145
(20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5 tr. 327
(21) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. II, tr. 146
(22), (23) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr. 338, 302
(24) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 29

 PHÁT TRIỂN VỮNG CHẮC QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO

Nhận lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHDCND Lào Thongloun Sisoulith, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm chính thức CHDCND Lào từ ngày 10 đến 11-4-2023.

Chuyến thăm chính thức của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tới CHDCND Lào nhằm tiếp tục triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, trọng tâm là kênh quan hệ và hợp tác nhà nước. Đây cũng là chuyến thăm chính thức Lào đầu tiên của đồng chí Võ Văn Thưởng sau khi được Quốc hội khóa XV bầu làm Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam vào ngày 2-3-2023 vừa qua.

Việc Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng chọn nước bạn Lào anh em là quốc gia thăm chính thức đầu tiên sau khi nhậm chức không chỉ thể hiện Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn trước sau như một, coi trọng và dành ưu tiên cao nhất cho việc củng cố và vun đắp mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Lào, mà còn cho thấy tính chất đặc biệt "có một không hai" trong quan hệ giữa hai nước, cho thấy nỗ lực của hai Đảng, hai Nhà nước trong việc duy trì đà phát triển quan hệ song phương.

Chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh mối quan hệ hợp tác giữa hai nước Việt Nam - Lào đang trên đà phát triển hết sức tốt đẹp, các thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, các tuyên bố chung nhân chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước, các hiệp định hợp tác giữa hai chính phủ đang được hai bên tích cực triển khai và đạt được nhiều kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực.

Quan hệ chính trị giữa hai nước tiếp tục chặt chẽ, ổn định, với nhiều hình thức, tạo được lòng tin chính trị cao, giữ vai trò nòng cốt, định hướng trong tổng thể quan hệ hợp tác của Việt Nam và Lào trong các lĩnh vực khác.

Hợp tác quốc phòng an ninh tiếp tục được củng cố. Hai bên phối hợp chặt chẽ đảm bảo an ninh trật tự dọc biên giới, phòng, chống tội phạm xuyên biên giới; phối hợp tìm kiếm, quy tập và hồi hương hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Lào trong các thời kỳ chiến tranh…

Hợp tác đầu tư của Việt Nam sang Lào đang có những chuyển biến tích cực. Việt Nam tiếp tục là một trong 3 nhà đầu tư lớn nhất tại Lào với tổng vốn đăng ký khoảng trên 5,3 tỷ USD. Các dự án đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam tại Lào như trong lĩnh vực viễn thông, ngân hàng, nông nghiệp hoạt động hiệu quả, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Lào và được các lãnh đạo của bạn đánh giá cao.

Tổng kim ngạch thương mại song phương Việt Nam - Lào năm 2022 đạt 1,703 tỷ USD, tăng 24,1% so với năm 2021, vượt chỉ tiêu đề ra. Để hỗ trợ Lào phát triển lâu dài, Việt Nam đã mở thị trường 100 triệu dân cho Lào, tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để Lào xuất, nhập khẩu hàng hóa qua tất cả các cảng biển của Việt Nam.

Việt Nam và Lào cũng đang phối hợp nghiên cứu và thúc đẩy tìm kiếm nguồn vốn, các nhà đầu tư để triển khai các dự án trọng điểm như Đường cao tốc Viêng Chăn - Hà Nội, đường sắt Viêng Chăn - Thakhek - Tân Ấp - Vũng Áng, nâng cấp quốc lộ số 8 đoạn phía Lào và các tuyến đường quan trọng khác… Sau khi hoàn thành, các công trình này đi vào hoạt động sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa và đi lại của người dân hai nước.

Hợp tác giáo dục, phát triển nguồn nhân lực và đào tạo nghề tiếp tục được hai bên đặc biệt quan tâm, nhất là nguồn nhân lực trình độ cao. Việt Nam và Lào cũng tích cực triển khai các dự án nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và phát triển nhân lực giai đoạn 2021 – 2030… Năm 2022, có hơn 14.000 sinh viên Lào đang học tập tại Việt Nam, trong khi Việt Nam có 180 sinh viên học tập tại Lào.

Bên cạnh đó, Việt Nam và Lào cũng phối hợp chặt chẽ, hiệu quả tại các diễn đàn đa phương, nhất là trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, Liên hợp quốc, Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu (ASEM) và các cơ chế hợp tác tiểu vùng Mekong, góp phần nâng cao vị thế hai nước trên trường quốc tế…

Trong hai ngày thăm chính thức Lào lần này, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Thongloun Sisoulith cùng các nhà lãnh đạo khác của Lào sẽ kiểm điểm, đánh giá mối quan hệ hợp tác giữa hai Đảng, hai nước trong thời gian qua; trao đổi, thống nhất những định hướng, chủ trương và các biện pháp lớn nhằm thúc đẩy đưa mối quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước trong năm 2023 và những năm tiếp theo ngày càng sâu sắc, hiệu quả và thực chất hơn.

Hai bên dự kiến cũng sẽ trao đổi về tình hình thế giới và khu vực nổi bật gần đây, sự phối hợp giữa hai nước tại các diễn đàn quốc tế và trong việc giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế có liên quan đến mỗi nước và quan hệ hai nước.

Chuyến thăm chính thức đầu tiên của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tới CHDCND Lào trên cương vị mới cũng diễn ra trong bối cảnh người dân Lào anh em đang nô nức chuẩn bị đón Tết cổ truyền dân tộc Boun Pi May.

Điều này càng thể hiện rõ hơn tính chất đặc biệt của mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, đồng thời chắc chắn sẽ tạo động lực mạnh mẽ, giúp phát triển vững chắc, làm sâu sắc hơn quan hệ và sự hợp tác Việt Nam-Lào trong năm 2023 và những năm tới, đáp ứng mong mỏi và lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như trên thế giới.


 VIỆT NAM VÀ UAE ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ TOÀN DIỆN

Tại các cuộc trao đổi trong khuôn khổ chuyến thăm làm việc tại Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) từ ngày 5 đến 6/4, Bộ trưởng Công thương Nguyễn Hồng Diên nhấn mạnh: Việt Nam chủ trương thúc đẩy hội nhập kinh tế sâu rộng, trong đó có việc đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do.

Đánh giá cao tiềm năng và cơ hội từ Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện giữa Việt Nam và UAE (CEPA), Bộ trưởng nêu rõ, hai bên có thể khởi động đàm phán CEPA ngay sau khi dự thảo các điều khoản tham chiếu được phê duyệt, với mục tiêu đưa hiệp định vào thực thi sớm nhất có thể.

Trong cuộc làm việc với Quốc vụ khanh phụ trách Thương mại quốc tế, thuộc Bộ Ngoại thương UAE, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên khẳng định UAE là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam tại khu vực Trung Đông-Bắc Phi.

Bộ trưởng đề nghị hai bên tăng cường trao đổi đoàn, tìm hiểu cơ hội hợp tác, nhất là về thương mại và đầu tư, nghiên cứu và thúc đẩy thiết lập cơ chế hợp tác chứng nhận Halal để tạo điều kiện cho hoạt động xuất nhập khẩu nông sản.

Làm việc với Bộ trưởng Năng lượng và Cơ sở hạ tầng UAE, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên khẳng định, Việt Nam mong muốn hợp tác chặt chẽ với UAE, không chỉ về năng lượng truyền thống, mà còn về phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo.

Về CEPA, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cho biết, Việt Nam đang sản xuất nhiều ngành hàng quan trọng của khu vực và thế giới; UAE có thế mạnh với tư cách là một cảng trung chuyển, trung tâm tài chính và logistics.

Việc kết hợp thế mạnh của hai bên sẽ tạo đà tăng trưởng thương mại và đầu tư. Việt Nam đã hoàn thành nghiên cứu khả thi về CEPA.

Hai bên cũng đã xúc tiến thảo luận về dự thảo điều khoản tham chiếu của Hiệp định để có thể bắt tay vào đàm phán thực chất.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, Bộ trưởng Công thương Việt Nam và Quốc vụ khanh phụ trách Thương mại quốc tế, Bộ Ngoại thương UAE, đã ký Tuyên bố cấp Bộ trưởng về việc khởi động đàm phán CEPA ngay sau khi Việt Nam hoàn tất thủ tục trong nước./.

 TÌM LẠI THAO TRƯỜNG 

Những người cao tuổi càng già càng nặng lòng với những kỷ niệm tuổi thanh xuân. Những người lính từng tham gia kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tuổi 70 cũng vậy, mỗi ngày một nhớ chiến trường và nhớ cả tuổi thanh xuân ra trận. Nhớ đến “cái thuở ban đầu” đời lính, chúng tôi lại nhớ các thao trường huấn luyện năm xưa-năm 1971.

Cùng chung nỗi nhớ thao trường, vừa qua, một nhóm cựu sinh viên-chiến sĩ khu vực Hà Nội chúng tôi đã lên đường tiền trạm, tìm đến Huyện ủy Việt Yên (Bắc Giang) “đặt vấn đề” xin sự trợ giúp thông tin về các địa bàn đóng quân xưa để tổ chức một chuyến đi tìm lại thao trường cũ.

Gặp đồng chí Nguyễn Hồng Đức, Phó bí thư Thường trực Huyện ủy, thật bất ngờ, cả tổ tiền trạm chúng tôi được hưởng trọn vẹn niềm vui của người lính trở về sau chiến tranh. Với giọng thảng thốt, đồng chí nói: “Sao các chú lại có cái ý định nên thơ là vậy? Các chú về đây với huyện Việt Yên này, với chúng cháu sẽ là một sự kiện văn hóa, một vinh dự lớn, một niềm tự hào, một cơ hội cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên các xã đến mà nhìn, mà nghe các chú kể về một thời kỳ lịch sử quê mình. Các chú là những nhân chứng của chiến tranh và những người làm nên chiến thắng. Vậy thì “Áo gấm không tội gì mà đi đêm”! Huyện sẽ tổ chức đón tiếp, chào mừng, các chú không phải lo kinh phí. Năm tháng các chú vào quân ngũ cũng là năm cháu mới chào đời. Các chú đến được càng đông vui huyện càng mừng. Việt Yên hôm nay đã khác hoàn toàn so với năm bảy mốt...”.

Xung quanh bàn tiệc trưa, tổ công tác tiền trạm chúng tôi được Huyện ủy phác thảo luôn chương trình lễ hội hồi hương trở lại thao trường. Một vị đại tá có nghiệp vụ thiết kế đồ họa phác luôn lên màn hình máy tính logo hội quân. Đó là hình ảnh con tàu hỏa nhả khói chạy băng băng xuyên qua những cánh đồng ngập nước mênh mông. Một hình ảnh có thật, mang đầy tính biểu tượng, nhìn rất gợi nhớ. Có thể đấy chính là con tàu chở lính sinh viên năm 1971 từ Hà Nội lên Bắc Giang bàn giao cho các đơn vị huấn luyện. Lính sinh viên Hà Nội ra quân đúng những tuần lũ lụt. Các cánh đồng vùng châu thổ sông Hồng chỉ còn nhú lên vài ngọn lúa lơ thơ...

Ngày đó, xuống tàu, chúng tôi tỏa về các thao trường: Yên Thế, Quế Võ, Việt Yên, Tân Yên. Sư đoàn 325 đã cấp tốc huấn luyện cho chúng tôi kỹ, chiến thuật bộ binh, chuẩn bị quân số bổ sung cho chiến dịch sắp tới. Chính trên mảnh đất Việt Yên (Hà Bắc khi đó) năm đó, chúng tôi được nhận những cú hích đầu tiên, định đoạt cho cả cuộc đời sau này. Chúng tôi lần đầu tiên bóp cò, nổ phát súng đầu tiên của đời lính. Phát súng nhắm vào bia, tính điểm. Trái bộc phá gói lần đầu tiên tập đánh vào lỗ châu mai. Cũng trên mảnh đất ấy, nhiều chàng lính sinh viên chúng tôi được hưởng nụ hôn đầu tiên, vì không có doanh trại, đơn vị phải trọ trong dân. Thao trường của chúng tôi là những chân ruộng mạ, những vạt đồi bạch đàn. Chúng tôi phải tỏa đi các gia đình xin tre về dựng bếp ăn đại đội và dựng mô hình lô cốt, xe tăng địch. Nhiều mái nhà dân còn dột nát, mái nhà võng xuống theo từng cơn mưa, đang chờ sửa chữa, nhưng các bà mẹ Việt Yên vẫn nén lòng để cho chúng tôi chặt đi những cây tre cuối cùng, đem về dựng trại.

Nói về tình quân dân thì dân gian có câu thành ngữ quen thuộc là “nhường cơm sẻ áo”. Đối với chúng tôi khi đó, thành ngữ đó theo nghĩa đen chỉ đúng một nửa. Bởi bà con không phải “sẻ áo”, vì quân trang chúng tôi đầy đủ, chưa hết mùi hồ. Riêng cơm ăn thì độn ngô quá nhiều, bà con trông thấy thương tình lại luộc khoai giấu cho “các con” vào ba lô con cóc. Hình ảnh bà bầm trong thơ Tố Hữu những năm kháng chiến chống thực dân Pháp lại sống lại trong tâm trí chúng tôi: “Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm”. Ngay trong các gia đình chúng tôi đóng quân cũng có nhiều gia đình liệt sĩ, quân nhân. Đơn vị chúng tôi trở thành những đứa con chung của đại gia đình Việt Yên.

Cuối năm 1972, có mấy gia đình Tân Yên nửa đêm bật khóc, vì nghe tin toàn bộ trung đội chúng tôi đóng quân ở đó bị B-52 đánh, hy sinh. Mấy cô gái ôm nhau khóc, động viên nhau “chôn chặt mối tình đầu”. Chỉ đến khi hòa bình, bà con mới biết đó là tin giả...


HOA NỞ TRÊN TRẬN ĐỊA

 Mùa xuân năm 1972, chiến trường Quảng Trị bỗng có phút bình yên hiếm hoi, không tiếng súng, không tiếng bom. Như có gì thôi thúc, tôi bật dậy, rời hầm trú ẩn, cầm chiếc máy ảnh với mong muốn ghi lại được những khoảnh khắc diệu kỳ nơi chiến địa.

Cảnh vật xung quanh căn cứ vẫn như mọi ngày. Những mảng rừng bị rải chất độc hóa học héo khô, queo quắt. Tôi đi về phía đơn vị xe tăng trú quân gần khu rừng bị đánh bom tọa độ tối hôm trước. Gió đưa khét lẹt mùi khói, mùi thuốc súng. Những cây cổ thụ to cao bị đổ, thân và cành lá vẫn đang âm ỉ cháy, bốc khói, vung vương vãi. Một cảm giác về sự tang tóc như muốn dìm hết cảm xúc trong tôi.
Đến nơi, trong lúc thăm hỏi, bỗng nhiên một chiến sĩ vẻ mặt rạng ngời, hớn hở nhảy từ trên xe tăng xuống. Sau đó, anh chạy đến một gốc cây, nâng niu một nhánh lan rừng. Giữa chiến trường ác liệt chỉ có đạn, bom, máu và nước mắt; nơi sự sống luôn đứng trước bờ vực của hủy diệt… thì bông hoa mang một giá trị cao đẹp của sự trường tồn; một niềm tin về cuộc sống tươi đẹp tương lai. Giây phút nhìn thấy hình ảnh đó, tôi nín thở nâng máy lên, lấy khẩu độ, tốc độ rồi bấm máy. Khuôn mặt và nụ cười tươi rói của người chiến sĩ nằm gọn trong khung hình. Phía sau, bên chiếc xe tăng là đồng đội anh, những nụ cười trên các khuôn mặt còn ám mùi mồ hôi và khói súng. Tất cả đã lan tỏa trong không gian một luồng sinh khí tươi vui.
Sau đó, bức ảnh cùng với nhiều tấm hình khác tôi chụp năm 1972 được gửi về tuyến sau. Rất may, dù “hành quân” qua nhiều chiến trường, nó vẫn về an toàn cùng chủ nhân đến ngày hôm nay.

CHỐNG PHÁ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, CHIÊU TRÒ CŨ, THỦ ĐOẠN MỚI

 Tái diễn những điệp khúc sai lầm

Kể từ khi chủ nghĩa Mác ra đời và trở thành hệ tưởng của giai cấp vô sản, đóng vai trò thống trị trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, các thế lực thù địch không lúc nào ngưng nghỉ sự phản kích, chống phá, phủ nhận học thuyết khoa học, cách mạng và tầm ảnh hưởng sâu rộng của học thuyết này.
Các đợt sóng công kích, chống phá chủ nghĩa Mác – Lênin của mọi loại “kẻ thù lớn nhỏ” của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin liên tiếp được tổ chức, nhưng kỳ lạ thay, sau mỗi lần như thế, bản chất khoa học, cách mạng, tiếng vang và tầm ảnh hưởng của học thuyết này không những được tái khẳng định, mà còn được lan tỏa mạnh mẽ, sâu rộng hơn với tinh thần mới, sức sống mới.
Gần đây ở nước ta, với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch đã và đang triển khai rộng khắp một chiêu trò mới, tấn công toàn diện, từ nhiều phía vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; chống phá Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ XHCN. Trong đó, mặt trận then chốt là chính trị tư tưởng; đòn đánh chủ yếu là hạ thấp uy tín, vị thế, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.
Trong chiều sâu của sự tàn phá và tác hại khôn lường của âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam thì khâu đột phá là xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, bôi đen, hạ thấp vai trò, tầm ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây được xem là một trong những thủ đoạn mới, tinh vi với nhiều kịch bản nham hiểm nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước; chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước, Quốc hội với Quân đội, Công an và Nhân dân với nội dung, hình thức mới được các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng, chúng ta không thể xem thường.
Mưu sâu, kể hiểm của các thế lực thù địch là làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đối tượng mà các thế lực thù địch tập trung chống phá là khá toàn diện; trong đó đội ngũ trí thức được họ đặc biệt quan tâm với tham vọng: lực lượng này sẽ tạo ra sự “khô đảng, nhạt đoàn, thờ ơ chính trị” trên diện rộng để từng bước làm phai nhạt hệ tư tưởng vô sản; tạo ra sự đứt gãy từ những tác động, ảnh hưởng của Đảng đối với thế hệ trẻ và nhân dân, từ đó dễ bề ngăn chặn sự lan tỏa, tầm ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong xã hội; đặc biệt là lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Qua đó, thể hiện hóa ý đồ phục hồi hệ tư tưởng tư sản; làm cho ưu thế của CNTB, cũng như văn hóa phương Tây tràn vào Việt Nam, dần dần chiếm địa vị thống trị đời sống tinh thần xã hội Việt Nam.
Kịch bản chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng và tác hại
Các thế lực thù địch đã và đang triệt để khai thác mạng xã hội và áp dụng các chiêu trò cũ, thủ đoạn mới rất thâm độc là “diễn biến hòa bình” – lấy kết quả, kinh nghiệm đúc rút từ những thành công trong việc đánh sập CNXH ở Liên Xô và Đông Âu từ những năm 90 của thế kỷ XX để áp dụng vào Việt Nam; ra sức gây sự hỗn loạn về tư tưởng; đặc biệt là sự thờ ơ chính trị cộng sản, tẩy chay, phản kích chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngay trong nội bộ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; những người đã từng có vị thế, vai trò chủ chốt trong hệ thống chính trị. Trong đó, đối tượng họ đặc biệt quan tâm lôi kéo, mua chuộc là một số cán bộ hưu trí và doanh nhân bất mãn, bất đồng quan điểm chính trị, đối lập về hệ tư tưởng với Đảng; có thái độ “phủ nhận sạch trơn” thành quả của chế độ XHCN khi quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế của họ bị xung đột.
Sự hỗn loạn về tư tưởng diễn ra theo hình thức tiêu cực, đã kích thích sự “xám hối”, “nhận thức lại”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở những người này đến mức thể hiện sự kích động “vượt qua lằn ranh đỏ”: vi phạm quy định những điều đảng viên không được làm; coi thường chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Cùng với đó, họ “bơm tin giả”, “mớm mồi”, “xúi giục” những người này phát ngôn lệch chuẩn, tán phát các tin, bài, video clip có nội dung sai trái, gây nhiễu loạn đời sống văn hóa, tinh thần xã hội cốt để bôi đen chế độ XHCN. Đó là cách hành xử mà họ muốn tạo ra, ở một chừng mực nhất định, họ đã đạt được một số kết quả, rõ nhất là tạo ra hiện tượng phân rã về mặt tổ chức, sự phân hóa đối tượng cán bộ, đảng viên ở một số cơ quan, đơn vị “chậm tiến”, “không hoàn thành tốt nhiệm vụ”; làm mất đi tính chất thiêng liêng, cao quý của danh hiệu đảng viên, nhất là những người có uy tín trong tổ chức đảng, đã gục ngã bởi “viên đạn bọc đường của thời cơ chế thị trường” và chủ nghĩa cá nhân. Những người này đã “tự thú sai lầm” về việc cả đời tin tưởng và đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tin vào đường lối đổi mới của Đảng.
Trong số cán bộ vi phạm kỷ luật có người đã từng giữ chức vụ cao cấp trong bộ máy của Đảng, Nhà nước ta; thậm chí có người là giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, đã từng làm công tác tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch là tinh vi, thâm độc và nguy hiểm vì họ biết lợi dụng tình thế, đánh vào sự tự tôn, tự trọng, tự cao, tự ái của những người đã từng có chức, có quyền khi mất chức; sử dụng uy tín của những người có danh tiếng đã “thất sủng” để gây ảnh hưởng tiêu cực trong nhân dân; tạo ra thái độ, hành vi “chán ngán” chính quyền, chế độ; đã phát ngôn thiếu ý thức xây dựng, nhất là sự bày tỏ quan điểm không hài lòng về các sự việc liên quan trực tiếp đến lợi ích của mình.
Từ đó, họ quy kết mọi sai lầm của Đảng, Nhà nước về một khuyết điểm chung, lớn nhất là do Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Các phát ngôn và hành vi thiếu chuẩn mực cũng từ đây mà “tuôn ra”; thậm chí vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng do coi thường chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối đổi mới của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Đây là mảnh đất mầu mỡ để “nảy chồi tư tưởng dân chủ”, phục hưng “cuộc cách mạng nhân dân” mà điểm mấu chốt là làm rối loạn nhận thức, gây ra các “cuộc đấu khẩu”, “đấu lý” trên mặt trận chính trị tư tưởng nguy hiểm, nhất là trên mạng xã hội. Họ đã bám vào sự việc có thật là sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu, để tấn công Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Hơn thế, biết cách lựa chọn những vấn đề nóng, được xã hội đặc biệt quan tâm để tập trung chống phá; huy động, tập hợp các đối tượng bất mãn, hướng trọng tâm, trọng điểm vào chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, “xoáy” vai trò lãnh đạo của Đảng; con đường đi lên CNXH ở nước ta, nội dung Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Việc tách rời và đối lập chủ nghĩa Mác – Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh là một điểm nhấn. Luận điểm nổi nhất mà họ tập trung xuyên tạc là: “Chủ nghĩa Mác – Lênin là một học thuyết ngoại lai”, “ra đời ở châu Âu; mà châu Âu lại không phải là Việt Nam nên nó xa lạ với Việt Nam”, v.v.. Từ đó, họ kích động các phần tử bất mãn “quay lưng”, chống phá Đảng ta. Hơn thế, họ còn cổ suý cho việc nhận thức lại sự khác biệt, tính chất xa vời của chủ nghĩa Mác – Lênin đối với điều kiện hoàn cảnh của Việt Nam để “tẩy chay chủ nghĩa Mác – Lênin”, “chỉ nên giữ lại tư tưởng Hồ Chí Minh” nhưng thực chất là phủ nhận cả hai.
Tư tưởng độc hại này đã và đang được tán phát trên không gian mạng, tạo ra luồng dư luận tiêu cực, gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập và làm tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đặc biệt, khi sự “bán tín bán nghi” tồn tại trong đầu óc một số người dân là rất nguy hiểm và chính nó đang tạo ra nguy cơ trực tiếp hủy hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta; để lại khoảng trống và các khe hở trong công tác tư tưởng, làm cho các thế lực thù địch dễ dàng lợi dụng, phản kích chủ nghĩa Mác – Lênin mà không tốn nhiều công sức.
Yêu cầu khách quan, nhiệm vụ cấp bách
Yêu cầu khách quan, nhiệm vụ cấp bách lúc này đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải ra sức nêu cao cảnh giác cách mạng. Tuyệt đối không để âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” có cơ hội phát triển, lây lan, tiêm nhiễm, phá hoại mặt trận tư tưởng – lý luận của Đảng ta. Không được để những thói hư, tật xấu nảy nở, cũng như sự xâm nhập trái phép của các sản phẩm văn hóa độc hại, lối sống thực dụng của phương Tây thẩm thấu, ngấm sâu vào cuộc sống của dân cư, cán bộ, chiến sĩ; nhất là ảnh hưởng tiêu cực đến thế hệ trẻ, bắt đầu từ việc coi thường học tập, nghiên cứu lý luận chính trị, sao nhãng việc học tập các môn lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối của Đảng. Tuyệt đối không để xảy ra tình trạng “khô đảng, nhạt đoàn, thờ ơ chính trị” trong lớp trẻ – chủ nhân xây dựng và bảo vệ đất nước. Bằng mọi cách, chúng ta phải bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần tập trung bảo vệ những giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng thấm sâu vào nhận thức, hành động của mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân.
Chúng ta không chỉ tái khẳng định lại giá trị, ý nghĩa của hệ thống tri thức, đặc biệt là các khái niệm, phạm trù, quy luật, nguyên lý, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn phải ra sức đổi mới, phát triển sáng tạo cả ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là Triết học Mác – Lênin, Kinh tế chính trị học Mác – Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học.
Việc bổ sung mới những kiến thức sinh động từ đời sống thực tiễn cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng; làm cho những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có thêm sức sống mới; lấy cái đúng để đập tan các luận điểm sai trái, xuyên tạc, bôi nhọ bản chất khoa học, cách mạng của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân.
Trong một chuỗi công việc cần làm để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, việc trước tiên là đầu tư một cách căn cơ công tác nghiên cứu cơ bản, chiến lược; bổ sung, phát triển, làm sống động chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng. Đưa được kết luận khoa học về những luận điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin đến nay vẫn còn nguyên giá trị; nghĩa là ở thời các ông và thời nay đều đúng. Đồng thời, phải chỉ ra một số luận điểm của các ông đến nay không còn phù hợp, cần phải bổ sung, phát triển, làm sâu sắc hơn bằng chính thực tiễn cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Theo đó, hệ thống giáo trình, giáo khoa, tài liệu học tập, tuyên truyền, giáo dục chính trị cũng cần phải chuẩn hóa lại, nâng cao hơn nữa tầm tư tưởng, trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân. Sau đó, rất cần triển khai nghiên cứu cơ bản, chuyên sâu về âm mưu, thủ đoạn, những biến thái mới của “diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới để đề xuất giải pháp khắc chế nó.
Rõ ràng là, để “chống” hiệu quả phải đặc biệt coi trọng “xây”; để “đấu tranh, phản bác” thành công, phải chủ động, tích cực nghiên cứu, bổ sung, phát triển toàn diện chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng là phương cách hữu hiệu nhất để “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay./.

KỶ LUẬT CỦA QUÂN ĐỘI LÀ KỶ LUẬT TỰ GIÁC VÀ NGHIÊM MINH

 


Hình ảnh cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” in đậm trong lòng Nhân dân được tạo dựng không chỉ từ những chiến công vẻ vang của một quân đội anh hùng mà còn bởi nhiều yếu tố. Một phần quan trọng trong những yếu tố đó chính là ý thức kỷ luật tự giác, nghiêm minh của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ được tôi luyện trong suốt chiều dài xây dựng, chiến đấu và trưởng thành; hun đúc, tạo nền xây dựng nên những phẩm chất tốt đẹp của một đội quân trung hiếu, của người quân nhân cách mạng. 


V.I.Lênin cho rằng: "Trong chiến tranh “kẻ nào có kỹ thuật cao hơn, có trình độ tổ chức và kỷ luật cao hơn… thì kẻ đó sẽ chiến thắng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua"; “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm, vì vậy kỷ luật phải nghiêm minh”.


Xuất phát từ sứ mệnh lịch sử, QĐNDVN mang trong mình dòng máu, bản chất giai cấp công nhân, bất luận trong điều kiện hoàn cảnh nào cũng luôn luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của ĐCS Việt Nam. Do đó, bản chất kỷ luật của QĐNDVN mang bản chất kỷ luật của Đảng và của giai cấp công nhân, đó là "kỷ luật tự giác, nghiêm minh". Tự giác có thể hiểu  là tự mình hiểu mà làm, không cần nhắc nhở, đốc thúc; tự giác không phải là kỹ năng bẩm sinh tự nhiên mà nó đòi hỏi phải có quá trình giáo dục, học tập, rèn luyện; là sự kết hợp từ phía bản thân và phía bên ngoài, nó biểu hiện ở nhiều góc độ, trong ý nghĩ, hành động, ứng xử với chính mình và với người xung quanh; phải trải qua một quá trình giáo dục lâu dài, liên tục, có chọn lọc, tạo nên những thói quen, trở thành ý thức trong suy nghĩ và hành vi của con người. Nghiêm minh là nghiêm ngặt và rõ ràng, áp dụng cho mọi người, ai cũng như ai và trong mọi trường hợp, sự nghiêm minh không có ngoại lệ, nghiêm minh chính là sự thể hiện thái độ với những nguyên tắc được đặt ra, đối với các cá nhân, tổ chức, khi có sai phạm thì sẽ luôn bị xem xét, xử lý nghiêm minh".


Với bản chất, truyền thống kỷ luật của QĐND  được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ dày công xây dựng, bồi đắp, tuy có tính ổn định, bền vững, song không phải là "nhất thành bất biến", nó luôn vận động phát triển không ngừng, cùng với sự phát triển đi lên trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Nếu chúng ta sao nhãng đến xây dựng, tăng cường đoàn kết và tính "kỷ luật tự giác và nghiêm minh" trong quân đội, để tồn tại các "mầm mống" làm nảy sinh vi phạm kỷ luật ở các đơn vị, sẽ trở thành mảnh đất màu mỡ cho các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị lợi dụng chống phá và "biến cái đơn lẻ thành cái bản chất", sẽ gây tổn hại đến hình ảnh cao quý "Bộ đội cụ Hồ".

Trung Thành 30A ST

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

 

Vấn đề dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc luôn có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; là cội nguồn sức mạnh và là động lực to lớn để giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Kết hợp nhuần nhuyễn luận điểm: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng “Dân là gốc” của ông cha ta và từ thực tiễn phong trào cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết nên chân lý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Thấm nhuần lời dạy của Người, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chăm lo, xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, coi đó là nền tảng vững chắc, có vai trò quyết định mọi thành công của cách mạng Việt Nam.

Ra đời trong cao trào cách mạng của quần chúng, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam là quân đội của dân, do dân, vì dân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam; thường xuyên được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện. Suốt chặng đường 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, QĐND Việt Nam luôn được sự chăm lo, đùm bọc của nhân dân, sát cánh cùng toàn dân đánh giặc, giữ nước, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Thực hiện chức năng đội quân chiến đấu, đội quân lao động sản xuất, đội quân công tác, cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; tích cực tham gia xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự gắn bó máu thịt với nhân dân. Quân đội luôn là lực lượng tiên phong trong việc tuyên truyền, quán triệt tư tưởng đại đoàn kết toàn dân; làm tốt việc kết nghĩa với cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương; kiên trì tuyên truyền, vận động nhân dân nhận rõ âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch hòng chia rẽ đại gia đình các dân tộc Việt Nam, chia rẽ lương giáo, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; chủ động phối hợp với các lực lượng nắm chắc tình hình, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xử lý có hiệu quả các tình huống phức tạp, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng xa... Trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhất là những lúc khó khăn, hoạn nạn, thiên tai, sự có mặt của cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam đều trở thành chỗ dựa cho cấp ủy, chính quyền địa phương và niềm tin cho nhân dân.

Cùng với việc thường xuyên rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu; xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Những năm qua, quân đội luôn thể hiện vai trò là thành viên tích cực của MTTQ Việt Nam; gương mẫu thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước; tích cực tham gia tuyên truyền, vận động nhân dân, xây dựng và củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, chính quyền các cấp; tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa phương củng cố tổ chức, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đặc biệt là ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số... Với hàng chục đoàn kinh tế - quốc phòng, hàng trăm tổ đội công tác và cán bộ tăng cường cơ sở, những hoạt động thiết thực đó không ngừng tô thắm truyền thống vẻ vang của QĐND Việt Nam anh hùng, phẩm chất tốt đẹp "Bộ đội Cụ Hồ - Bộ đội của dân” trong thời kỳ mới.

Là “thành viên đặc biệt” của MTTQ Việt Nam, QĐND Việt Nam luôn quán triệt, triển khai thực hiện tốt các nghị quyết, các chương trình hành động, phong trào thi đua yêu nước, như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Ngày vì người nghèo”, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới"… và thực hiện chính sách hậu phương quân đội, các hoạt động từ thiện, nhân đạo.

Trên cơ sở các phong trào, các cuộc vận động cách mạng của cả nước, từng cơ quan, đơn vị và các tổ chức quần chúng trong quân đội đã có các phong trào, các cuộc vận động mang lại hiệu quả thiết thực, như: “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong toàn quân; “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo” của Bộ đội Biên phòng, “Thanh niên Quân đội làm theo lời Bác” của tuổi trẻ toàn quân; “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” của Phụ nữ Quân đội; “Lao động giỏi, lao động sáng tạo” của Công đoàn Quốc phòng... Có thể khẳng định, các phong trào, các cuộc vận động cách mạng của Đảng, Nhà nước và MTTQ Việt Nam đã được quân đội hưởng ứng và tham gia tích cực, đạt hiệu quả cao, mang lại ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc, góp phần xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở các địa phương, nhất là ở các địa bàn chiến lược trọng yếu, vùng biên giới, biển, đảo, vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo.

Thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm”, cùng với việc triển khai các cuộc vận động, các phong trào cách mạng của Đảng, Nhà nước, MTTQ và địa phương, các đơn vị trong toàn quân đã thực hiện tốt Chương trình “Kết hợp quân - dân y”, đào tạo hàng nghìn cán bộ y tế cho vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, biên giới, hải đảo; tổ chức khám bệnh, tư vấn sức khỏe, cấp thuốc miễn phí cho nhân dân, tặng trang thiết bị cho các cơ sở y tế địa phương.

Trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân; không ngừng tu dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ sẵn sàng chiến đấu, rèn luyện nếp sống chính quy, xây dựng chuẩn mực đạo đức của người quân nhân cách mạng, tiêu chí phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới; tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân - dân, tham gia xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh; không để các tư tưởng, quan điểm sai trái làm ảnh hưởng tới khối đại đoàn kết toàn dân tộc; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ nhân dân, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Về khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam hiện nay.

 Đến nay, Việt Nam đã xây dựng và nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với 17 nước. Các mối quan hệ này đã và đang đóng góp quan trọng, tạo điều kiện vững chắc giúp bảo đảm, củng cố môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ lợi thế của các đối tác để bảo vệ, phát triển đất nước nhanh và bền vững, cũng như nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, từng bước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sang thăm chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa _Ảnh: Tư liệu

Lý thuyết về đối tác chiến lược

Trong quan hệ quốc tế, mặc dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong nước và quốc tế bàn về đối tác chiến lược nói chung và các mối quan hệ đối tác chiến lược cụ thể, bất kể quãng thời gian khá dài kể từ khi quan hệ đối tác chiến lược đầu tiên xuất hiện vào năm 1992 (Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ)(1) và số lượng ngày càng gia tăng của các mối quan hệ này, nhưng đến nay dường như vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm “đối tác chiến lược”. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, đây là mô hình liên kết mới trong quan hệ quốc tế, trở nên thịnh hành kể từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, được thiết lập theo cấu trúc mới để đạt được các mục tiêu dài hạn(2)Về đặc điểm, nhà nghiên cứu Vi-đi-a Nác-đa-ni (Vidya Nakdarni) cho rằng, quan hệ đối tác chiến lược: 1- Được hình thành thông qua các tuyên bố, thỏa thuận, ghi nhớ, trong đó chỉ rõ các mục tiêu xây dựng và tăng cường quan hệ nhiều mặt; 2- Thiết lập các cơ chế hoặc liên kết chính thức cấp chính phủ hoặc phi chính phủ nhằm thúc đẩy đối ngoại kênh 1 và kênh 2(3); 3- Thể chế hóa các cơ chế gặp gỡ lãnh đạo cấp cao và các cấp làm việc khác nhằm xác định lợi ích và quan tâm chung, giải quyết các vấn đề cụ thể; 4- Phát triển quan hệ trong lĩnh vực quốc phòng thông qua tập trận chung, các giải pháp xây dựng lòng tin,...; 5- Cam kết đẩy mạnh hợp tác kinh tế; 6- Tăng cường sự hiểu biết về văn hóa của mỗi nước thông qua việc trao đổi giao lưu thế hệ trẻ và tổ chức các hội chợ văn hóa(4). Một số học giả chỉ ra ba đặc điểm của quan hệ đối tác chiến lược, bao gồm: 1- “Không có giới hạn về không gian và thời gian”; 2- “Không hạn chế về đối tượng áp dụng”; 3- “Không hạn chế về lĩnh vực hợp tác, và không nhất thiết phải mang nội dung an ninh - quân sự”(5)Về tính chất, quan hệ đối tác chiến lược mang tính “toàn diện”, “có đi, có lại”, “chia sẻ”, “dài hạn” và “giải quyết các thách thức khu vực và toàn cầu”(6)Về hình thức, do tính chất đa phương và đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế, quan hệ đối tác chiến lược được thể hiện dưới các hình thức, như đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược có lựa chọn theo từng lĩnh vực, đối thoại chiến lược,...

Việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược cần dựa vào một số điều kiện quan trọng, như các bên bình đẳng, tôn trọng thể chế chính trị, hệ tư tưởng và giá trị xã hội; các bên quyết tâm chính trị để xây dựng quan hệ đối tác chiến lược; tương đồng về mục đích, mục tiêu và thậm chí có thể chia sẻ lợi ích sống còn, đặc biệt trong duy trì an ninh, bảo đảm thịnh vượng và phát huy vai trò, vị thế trên trường quốc tế; thống nhất nhận thức về cách tiếp cận và nguyên tắc xây dựng đối tác chiến lược cũng như cơ sở pháp lý, nội dung, khuôn khổ, cơ chế bảo đảm triển khai hiệu quả; chia sẻ tầm nhìn về các lĩnh vực hợp tác, đặc biệt là trong các lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược, những vấn đề chính trị khu vực và toàn cầu(7).

Tóm lại, quan hệ đối tác chiến lược là một dạng thức quan hệ có tầm quan trọng lớn và có tính chiến lược, dài hạn giữa các quốc gia với nhau hoặc giữa quốc gia với tổ chức quốc tế xuất hiện sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc nhằm xây dựng các cơ chế, kế hoạch, công cụ để đẩy mạnh hợp tác trên các lĩnh vực mà các bên ưu tiên. Mối quan hệ này không phải luôn luôn cố định mà có thể được tăng cường, chuyển biến với các nội hàm hợp tác khác nhau, tùy thuộc vào bối cảnh quốc tế cũng như tình hình của mỗi nước, lợi ích và quyết tâm, ý chí chính trị của mỗi bên trong từng giai đoạn.

Một số quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam hiện nay

Chủ trương đưa quan hệ với các đối tác, đặc biệt là các đối tác quan trọng, đi vào chiều sâu được Đảng và Nhà nước ta đề ra từ Đại hội X của Đảng (năm 2006), tiếp tục khẳng định qua các kỳ Đại hội XI của Đảng (năm 2011), Đại hội XII của Đảng (năm 2016) và Đại hội XIII của Đảng (năm 2021). Trước đó, Đại hội IX của Đảng (năm 2001) ghi nhận bước chuyển quan trọng trong tư duy đối ngoại, thể hiện tinh thần trách nhiệm và uy tín của Việt Nam khi khẳng định: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”(8). Đại hội X của Đảng (năm 2006) tiếp tục nhấn mạnh “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế”(9), đồng thời đặt mục tiêu “Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiếp lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững”(10). Như vậy, tại Đại hội X của Đảng, khái niệm “quan hệ đối tác” được đề cập ở “mức độ cao hơn, sâu sắc hơn, chất lượng hơn và toàn diện hơn”. Đại hội XIII của Đảng đưa ra định hướng hoạt động đối ngoại, đó là: “Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và đối tác quan trọng khác”(11). Với chủ trương được xác định nhất quán và mạnh mẽ như vậy, việc xây dựng nội hàm của dạng thức quan hệ đối tác chiến lược là vô cùng quan trọng. Quan hệ đối tác chiến lược là một dạng thức quan hệ đối ngoại, các bên tham gia đều có nhu cầu tăng cường hợp tác, coi trọng và chú ý hơn tới lợi ích chiến lược của nhau, có hợp tác sâu rộng, gắn kết về lợi ích và hướng tới lòng tin chiến lược.

Tính đến nay, mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam bao gồm 17 nước: Nga (năm 2001), Ấn Độ (năm 2007), Trung Quốc (năm 2008); Hàn Quốc (năm 2022), Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Xin-ga-po (năm 2013); Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin (năm 2015); Nhật Bản, Tây Ban Nha (năm 2009); Anh (năm 2010), Đức (năm 2011); I-ta-li-a, Pháp (năm 2013), Ô-xtrây-li-a (năm 2018) và Niu Di-lân (năm 2020). Trong số 17 nước trên, việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam với một số nước, như Trung Quốc, Đức và Xin-ga-po(12) có một số nội dung đáng chú ý. Cụ thể:

Về quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc: Kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ vào năm 1991 đến nay, hợp tác Việt Nam - Trung Quốc đã trải qua nhiều dấu mốc lịch sử quan trọng. Đặc biệt vào tháng 6-2008, nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã ra Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc nhằm thiết lập “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” trên cơ sở phương châm 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần bốn tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Trong thời gian qua, quan hệ Việt Nam - Trung Trung Quốc có những bước tiến lớn cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trên tất cả các lĩnh vực.

Về chính trị - ngoại giao, đặc điểm nổi bật trong quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Trung Quốc là sự tin cậy và hữu nghị, biểu hiện qua các cuộc tiếp xúc của lãnh đạo cấp cao hai nước được thực hiện thường xuyên với hình thức đa dạng, thể hiện tính chất đặc thù của mối quan hệ truyền thống tốt đẹp và tầm quan trọng của mỗi nước trong chính sách đối ngoại của mỗi nước. Năm 2017, ngay sau Đại hội XIX của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Việt Nam là quốc gia đầu tiên mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đến thăm chính thức. Năm 2022, sau Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là nhà lãnh đạo cấp cao nước ngoài đầu tiên thăm chính thức Trung Quốc. Với sự tương đồng về thể chế chính trị, hệ tư tưởng, lịch sử và truyền thống gắn bó lâu dài giữa hai nước, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước đã chia sẻ nhận thức chung quan trọng, góp phần củng cố, tăng cường sự tin cậy chính trị, giải quyết các bất đồng tồn tại và thúc đẩy hợp tác toàn diện, lành mạnh, ổn định trên các lĩnh vực.

Hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư luôn chiếm vị trí quan trọng trong mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc. Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã và đang là đối tác thương mại lớn nhất, đồng thời là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam. Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á và đối tác lớn thứ sáu của Trung Quốc trên thế giới(13). Tính đến tháng 9-2022, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Trung Quốc đạt 131,7 tỷ USD, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm 2021. Về đầu tư, tính đến tháng 9-2022, với 3.486 dự án có tổng số vốn đăng ký đạt 22,44 tỷ USD, Trung Quốc tiếp tục xếp thứ 6/139 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam(14). Vấn đề thâm hụt thương mại cũng được hai bên quan tâm thúc đẩy và đưa vào Tuyên bố chung để được xử lý thỏa đáng, nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Đối với vấn đề biên giới lãnh thổ, trên cơ sở các văn kiện được hai bên ký kết vào năm 2009(15) về biên giới trên đất liền giữa hai nước, biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được duy trì hòa bình, ổn định. Bên cạnh đó, hai bên tiếp tục phối hợp chặt chẽ để xử lý thỏa đáng và kịp thời các vấn đề phát sinh. Mặc dù tình hình trên Biển Đông xuất hiện một số nhân tố phức tạp, hai bên vẫn duy trì các kênh đối thoại, đàm phán, nỗ lực kiểm soát bất đồng trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.

Trong khuôn khổ các tổ chức và diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, như Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Liên hợp quốc,... với mục tiêu bảo đảm hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác tại khu vực và trên thế giới, hai bên tích cực phối hợp hiệu quả, ủng hộ chủ nghĩa đa phương và ủng hộ lẫn nhau tham gia các tổ chức đa phương khu vực và quốc tế.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tặng Thủ tướng Đức Olaf Scholz bức thư pháp với nội dung: "Hòa bình - Hữu nghị cùng phát triển" tại đền Ngọc Sơn, Hà Nội_Ảnh: TTXVN

Về quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Đức: Năm 2021 đánh dấu 10 năm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Đức và ghi nhận nhiều bước phát triển vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực.

Đối với chính trị - ngoại giao, điểm nổi bật trong quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Đức là sự tin cậy và đánh giá cao lẫn nhau thể hiện qua các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước được tiến hành thường xuyên hơn so với giai đoạn trước khi thiết lập quan hệ đối tác chiến lược. Tháng 11-2022, Thủ tướng Đức Ô. Sôn (Olaf Scholz) đã thăm chính thức Việt Nam, sau khi thăm Nhật Bản và Trung Quốc, thể hiện tầm quan trọng của Việt Nam trong chính sách đối ngoại của Đức. Bên cạnh đó, hai nước đã thiết lập và duy trì các cơ chế hợp tác đa dạng trên các lĩnh vực, bao gồm: Tham vấn chính trị thường niên cấp Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Tham vấn chính phủ về hợp tác phát triển, Đối thoại cấp cao về kinh tế, Đối thoại về nhà nước pháp quyền, Ủy ban hỗn hợp về hợp tác kinh tế, Ủy ban hỗn hợp về hợp tác khoa học - công nghệ,... nhằm thực hiện các kế hoạch hành động chiến lược được hoạch định theo từng giai đoạn.

Hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư được đánh giá là điểm sáng trong quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Đức. Với ưu thế là đầu tàu của Liên minh châu Âu (EU) và là nước có tiềm lực kinh tế mạnh mẽ, Đức luôn là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam, với các chỉ số hết sức ấn tượng khi trong nhiều năm, Đức là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong EU; đặc biệt, năm 2020, Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Đức tại khu vực Đông Nam Á.

Hợp tác về quốc phòng - an ninh giữa hai nước có nhiều bước phát triển tích cực trong những năm qua. Năm 2003, Việt Nam đã cử tùy viên quốc phòng thường trú tại Thủ đô Béc-lin và Đức cử tùy viên quốc phòng tại Thái Lan kiêm nhiệm Việt Nam. Tháng 9-2019, Đức chính thức cử tùy viên quốc phòng thường trú tại Việt Nam. Triển khai “Định hướng đối với khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” được Đức thông qua vào tháng 9-2020, tháng 1-2022, lần đầu tiên trong lịch sử, khinh hạm FGS Bayern với hơn 200 thành viên của hải quân Đức đã thăm Việt Nam.

Trên các tổ chức và diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, Việt Nam và Đức hợp tác hiệu quả và chặt chẽ với nhiều minh chứng sống động. Việt Nam luôn là cầu nối để Đức mở rộng quan hệ hợp tác với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Đức luôn ủng hộ mạnh mẽ mối quan hệ Việt Nam - EU. Năm 2019, với sự ủng hộ tích cực của Đức, Việt Nam và EU đã ký kết Hiệp định thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (EVIPA). Năm 2020, trên cương vị cùng là Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam là Chủ tịch ASEAN và Đức là Chủ tịch luân phiên của EU, Việt Nam và Đức đã thúc đẩy thành công việc nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược ASEAN - EU và thành lập Nhóm những người bạn của UNCLOS năm 1982, thu hút sự tham gia của hơn 100 quốc gia thành viên.

Về quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Xin-ga-po: Với truyền thống tốt đẹp giữa hai nước trong quá khứ, gắn kết bởi sự tương đồng trong văn hóa và lợi ích song trùng ở khu vực và trên thế giới, Việt Nam và Xin-ga-po đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Xin-ga-po Lý Hiển Long vào tháng 9-2013, đặt nền tảng cho những bước phát triển vững vàng và toàn diện trong mối quan hệ này. Khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Xin-ga-po tiếp tục được nhấn mạnh với nội hàm mới vào năm 2022 khi hai nước ra Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ đối tác chiến lược và hợp tác cùng phục hồi sau đại dịch COVID-19.

Điểm sáng trong quan hệ hai nước chính là sự tin cậy, gắn bó và sẻ chia, là nền tảng định hướng cho quan hệ hai nước. Tháng 2-2022, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc là lãnh đạo cấp Nhà nước đầu tiên đến thăm Xin-ga-po sau đại dịch COVID-19 và Việt Nam là quốc gia đầu tiên mà Tổng thống Xin-ga-po Ha-li-ma Y-a-cốp (Halimah Yacob) thăm cấp nhà nước sau khi Xin-ga-po mở cửa trở lại (tháng 10-2022). Trước đó, Chủ tịch Quốc hội Xin-ga-po Tan Chuan-Jin đã thăm chính thức Việt Nam (tháng 5-2022), thể hiện rõ nét nhất thứ tự ưu tiên trong chính sách đối ngoại của hai nước. Nhiều cơ chế hợp tác, như tham vấn hằng năm giữa hai Bộ Ngoại giao, đối thoại quốc phòng đã được xác lập và thực hiện để thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược hai nước.

Hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư luôn là điểm nhấn trong quan hệ hai nước. Xin-ga-po hiện là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á. Xin-ga-po đang có hơn 3.000 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam với tổng số vốn đạt hơn 70,16 tỷ USD(16). Dự án Khu công nghiệp Việt Nam - Xin-ga-po (VSIP) được triển khai mạnh mẽ và hiệu quả ở 12 tỉnh, thành phố của Việt Nam, là hình ảnh biểu tượng trong hợp tác kinh tế của hai nước.

Hợp tác quốc phòng - an ninh ngày càng được thúc đẩy với các hoạt động phong phú không chỉ mang ý nghĩa quan trọng đối với hai nước, mà còn nhằm hỗ trợ, ứng phó hiệu quả với các nguy cơ an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống trong khu vực và trên toàn cầu, như phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia; chống cướp biển; chống khủng bố;... Tháng 3-2016, Xin-ga-po là nước đầu tiên cử tàu hải quân RSS ENDURANCE với 81 thủy thủ thăm cảng quốc tế Cam Ranh (Khánh Hòa). Tháng 2-2022, Việt Nam và Xin-ga-po đã ký kết Hiệp định về hợp tác quốc phòng song phương, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quan hệ giữa hai nước.

Trên các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, hai nước đã phối hợp hiệu quả và chia sẻ lập trường chung của ASEAN đối với các vấn đề an ninh khu vực, nỗ lực duy trì tinh thần đoàn kết và vai trò trung tâm của ASEAN trong các vấn đề khu vực. Ngoài ra, sự kiện Đối thoại Shangri-La hằng năm - một diễn đàn cấp cao về an ninh khu vực châu Á và quốc tế - được tổ chức tại Xin-ga-po là dịp quan trọng để Việt Nam khẳng định quan điểm, lập trường về các vấn đề an ninh khu vực, nhằm góp phần thúc đẩy xây dựng lòng tin và nền tảng để duy trì hòa bình, bảo đảm phát triển.

Đánh giá về quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam

Trên cơ sở những phân tích về lý thuyết, nội hàm và thực tiễn về quan hệ đối tác chiến lược trong quan hệ quốc tế nói chung và của Việt Nam nói riêng, cũng như những phân tích về quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam với Trung Quốc, Đức và Xin-ga-po, có thể nhận xét như sau:

Thứ nhất, các khuôn khổ đối tác chiến lược của Việt Nam được chính thức thiết lập thông qua hình thức văn bản chính trị quan trọng là Tuyên bố được ký kết bởi các lãnh đạo cấp cao Việt Nam và lãnh đạo cấp cao các nướcĐối tác chiến lược đầu tiên của Việt Nam được thiết lập với Nga nhân dịp Tổng thống Nga Vla-đi-mia Pu-tin thăm chính thức Việt Nam năm 2001 và  hai bên cùng ra “Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Liên bang Nga”. Gần đây nhất, tháng 7-2020, nhân dịp kỷ niệm 45 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Niu Di-lân, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cùng Thủ tướng Niu Di-lân Gia-xin-đa A-đơn (Jacinda Ardern) đã ký kết “Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam - Niu Di-lân”.

Thứ hai, các khuôn khổ đối tác chiến lược của Việt Nam đều hướng tới các mục tiêu quan trọng, lâu dài, có tầm chiến lược và ý nghĩa quan trọng đối với mỗi bên. Điều thường được nhấn mạnh đầu tiên trong các văn bản thỏa thuận về khuôn khổ đối tác chiến lược Việt Nam và các nước là mục tiêu làm sâu sắc hơn sự hiểu biết và lòng tin cậy lẫn nhau thông qua các hoạt động, như thường xuyên trao đổi các đoàn lãnh đạo cấp cao, bao gồm cả các chuyến thăm chính thức song phương và tiếp xúc bên lề các diễn đàn quốc tế và khu vực; hình thành các cơ chế hợp tác đa dạng giữa các cơ quan Đảng, các bộ, ngành thuộc Quốc hội, Chính phủ và các địa phương hai nước.

Thứ ba, các quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam mang tính toàn diện và linh hoạt bao gồm các hợp tác trên nhiều lĩnh vực, như chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, khoa học - công nghệ, văn hóa,... Tuy nhiên, tùy thuộc vào thế mạnh và mong muốn của mỗi nước mà các lĩnh vực có thứ tự ưu tiên khác nhau.  Ví dụ, trong quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam với Đức, Nhật Bản,... Việt Nam và các đối tác tập trung khai thác hợp tác thúc đẩy đầu tư, chuyển giao khoa học - công nghệ, thương mại, viện trợ phát triển,... Với Niu Di-lân, hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp đóng vai trò then chốt. Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam (tháng 11-2022), Thủ tướng Niu Di-lân Gia-xin-đa A-đơn đã nhấn mạnh, với thế mạnh và truyền thống trong sản xuất và xuất khẩu lương thực, Niu Di-lân và Việt Nam là đối tác “trời sinh” trong lĩnh vực nông nghiệp và cả hai cam kết thúc đẩy quan hệ đối tác trong lĩnh vực quan trọng này. Trong quan hệ với Nga, Việt Nam ưu tiên các lĩnh vực mà Nga đã có quan hệ hợp tác truyền thống và thế mạnh như quốc phòng - an ninh. Tương tự, quan hệ trong lĩnh vực quốc phòng là một trong các lĩnh vực ghi nhận nhiều bước phát triển có ý nghĩa trong quan hệ chiến lược Việt Nam - Ấn Độ.

Thứ tư, các quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam, mặc dù được thiết lập song phương, nhưng bao gồm cả những nội hàm đa phương quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam và các đối tác phối hợp chặt chẽ trên các diễn đàn khu vực và quốc tế, góp phần giải quyết các vấn đề toàn cầu, như biến đổi khí hậu, đói nghèo, bất bình đẳng và đóng góp vào duy trì hòa bình, an ninh quốc tế, thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Các khuôn khổ đối tác chiến lược, toàn diện chính là điều kiện thuận lợi để Việt Nam và các đối tác tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thống nhất quan điểm, phối hợp lập trường tại các tổ chức và diễn đàn đa phương từ cấp độ khu vực (ASEAN, APEC) đến liên khu vực (Diễn đàn hợp tác Á - Âu - ASEM) và toàn cầu (Liên hợp quốc, WTO).

Kiểm tra tấm wafer - nguyên liệu để sản xuất sản phẩm cho chất bán dẫn tại Công ty TNHH Hana Micron Vina 100% vốn đầu tư của Hàn Quốc ở tỉnh Bắc Giang_Ảnh: TTXVN

Thứ năm, mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam đã và đang mang lại nhiều kết quả có ý nghĩa cho Việt Nam trên các phương diện duy trì an ninh, phát triển kinh tế và nâng cao uy tín, vị thế của đất nước. Về an ninh, thông qua các cơ chế trong quan hệ đối tác chiến lược với các nước, căng thẳng, bất đồng và tranh chấp đã và đang được các bên liên quan kiềm chế, xử lý phù hợp; các vấn đề bảo vệ chủ quyền và biên giới lãnh thổ đang được bảo đảm. Về kinh tế, số liệu về đầu tư và thương mại giữa Việt Nam với phần lớn đối tác chiến lược là tích cực và khả quan. Trong 5 tháng đầu năm 2022, trong tổng số 79 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Xin-ga-po đang đứng đầu với tổng số vốn đạt gần 3 tỷ USD, chiếm 25,3% tổng số vốn đầu tư vào Việt Nam; tiếp đến là Hàn Quốc, với trên 2,06 tỷ USD(17)Về vị thế, trên các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, Việt Nam không chỉ là một thành viên tích cực và có trách nhiệm, mà còn là nước chủ động, tham gia đề xuất các sáng kiến, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và ủng hộ. Trên cương vị là thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021, Việt Nam đề xuất một số văn kiện và đã được thông qua, như Nghị quyết về gia hạn các cơ chế tòa án còn tồn đọng và bảo vệ kết cấu hạ tầng thiết yếu; Tuyên bố Chủ tịch về tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, tăng cường quan hệ giữa Liên hợp quốc với các tổ chức khu vực trong thúc đẩy xây dựng lòng tin và giải quyết hậu quả bom mìn; Tuyên bố báo chí về vụ tấn công khủng bố ở In-đô-nê-xi-a; Tuyên bố Hà Nội về phụ nữ, hòa bình và an ninh; Ngày quốc tế phòng, chống dịch bệnh (ngày 27-12) hằng năm... Mới đây, Việt Nam được bầu làm thành viên Hội đồng Chấp hành của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) nhiệm kỳ 2021 - 2025, Hội đồng Thống đốc Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), Hội đồng Khai thác bưu chính của Liên minh Bưu chính thế giới (UPU), Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC) nhiệm kỳ 2023 - 2027, Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025.

Có thể thấy, xét trên góc độ lý thuyết và thực tiễn, khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược là một dạng thức mới của quá trình hợp tác quốc tế thời kỳ sau Chiến tranh lạnh với các đặc điểm và nội hàm thuận lợi cho hợp tác quốc tế. Do vậy, mô hình hợp tác này đã dần trở nên thịnh hành và được xem như là một xu hướng triển khai trong chính sách đối ngoại của các quốc gia. Thực tiễn xây dựng và triển khai các quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam đã chứng minh tính hiệu quả của những mô hình này. Tuy nhiên, mức độ hiệu quả không giống nhau với tất cả các cặp quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam. Những nghiên cứu về các nội dung khác liên quan, như các nhân tố thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược; cách tiếp cận trong triển khai đối tác chiến lược của Việt Nam; phân tích, đánh giá sâu về từng cặp quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam... cần tiếp tục được tiến hành để gợi mở những điều chỉnh và bổ sung trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong thời gian tới./.

------------------------------

(1) Lucyna Czechowska - Andriy Tyushka - Agata Domachowska - Karoline Gawron-Tabor - Joanna Piechowiak-Lamparska: States, Organizations and Strategic Partnerships (Tạm dịch: Các quốc gia, tổ chức và quan hệ đối tác chiến lược), Nxb. Edward Elgar Publishing, 2019
(2) Thomas S. Wilkins: “Russo-Chinese Strategic Partnership: A New Form of Security Cooperation?” (Tạm dịch:  Quan hệ đối tác chiến lược Nga - Trung Quốc: Một hình thức hợp tác an ninh mới?), Tạp chí Contemporary Security Policy, ngày 10-9-2008, https://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/13523260802284365
(3) Đối ngoại kênh 1 - kênh đối ngoại chính thức của Nhà nước với hình thức chủ yếu là đàm phán, thương lượng; đối ngoại kênh 2 - chủ thể là các chuyên gia, học giả, viện nghiên cứu (think-tanks)
(4) Vidya Nadkarni: Strategic Partnerships in Asia: Balancing without alliances (Tạm dịch: Quan hệ đối tác chiến lược ở châu Á: Cân bằng mà không cần liên minh), Nxb. Routledge London và New York, 2010, tr. 48
(5) Nguyễn Vũ Tùng - Hoàng Anh Tuấn: Quan hệ đối tác chiến lược trong quan hệ quốc tế, Học viện Quan hệ quốc tế, 2006, tr. 49 - 50
(6) Renard, T.: “The EU and its strategic partners: a critical assessment of the EU’s strategic partnerships” (Tạm dịch: Liên minh châu Âu và các đối tác chiến lược: Đánh giá quan trọng về quan hệ đối tác chiến lược của Liên minh châu Âu), trong S. Biscop - R. G. Whitman (Chủ biên): The Routledge Handbook of European Security (Tạm dịch: Sổ tay Routledge về an ninh châu Âu), Nxb. Routledge London và New York, 2013, tr. 302 - 314
(7) Xem: Lê Thế Mẫu: “Nhận diện quan hệ đối tác chiến lược trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện tử, ngày 8-8-2016, http://tapchiqptd.vn/vi/binh-luan-phe-phan/nhan-dien-quan-he-doi-tac-chien-luoc-trong-ky-nguyen-toan-cau-hoa-va-hoi-nhap-quoc-te/9196.html
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 119
(9), (10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 112
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 163
(12) Trung Quốc là quốc gia láng giềng, nước lớn và là Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; Đức là quốc gia có trị trí quan trọng hàng đầu trong Liên minh châu Âu; Xin-ga-po là quốc gia Đông Nam Á, thành viên trong Cộng đồng ASEAN
(13) Xem: Phạm Sao Mai: “Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có ý nghĩa hết sức quan trọng”, Đài Truyền hình Việt Nam điện tử, ngày 30-10-2022, https://vtv.vn/chinh-tri/chuyen-tham-trung-quoc-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-co-y-nghia-het-suc-quan-trong-20221030090608468.htm
(14) Xem: Tuấn Trang: “Việt Nam - Trung Quốc: Duy trì đà phát triển ổn định và tích cực”, Báo Thế giới và Việt Nam điện tử, ngày 26-10-2022, https://baoquocte.vn/viet-nam-trung-quoc-duy-tri-da-phat-trien-on-dinh-va-tich-cuc-203389.html
(15) Nghị định thư phân giới cắm mốc trên đất liền, Hiệp định về quy chế quản lý biên giới trên đất liền, Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu biên giới trên đất liền
(16) Xem: Thông tấn xã Việt Nam: “Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Xin-ga-po đạt hiệu quả cao”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 17-10-2022, https://dangcongsan.vn/multimedia/infographic/quan-he-doi-tac-chien-luoc-viet-nam-singapore-dat-hieu-qua-cao-622112.html
(17) Xem: Cục Đầu tư nước ngoài: “Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 5 tháng đầu năm 2022”, Trang Thông tin điện tử đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, ngày 7-6-2022, https://fia.mpi.gov.vn/Detail/CatID/457641e2-2605-4632-bbd8-39ee65454a06/NewsID/901567d4-a6da-4326-a223-830ce1ebdd05/MenuID