Thứ Năm, 1 tháng 6, 2023

CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA, TÍCH CỰC TIẾN CÔNG TRONG CÔNG TÁC BẢO VỆ AN NINH TƯ TƯỞNG VĂN HÓA

 

Cơ sở khoa học của tư tưởng này xuất phát từ tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Bảo vệ an ninh văn hóa, tư tưởng là một nội dung quan trọng trong bảo vệ an ninh quốc gia nên nó cũng cần tuân theo tư tưởng chỉ đạo chung này. Bên cạnh đó, do đặc điểm, tính chất của đối tượng bảo vệ trong công tác bảo vệ an ninh văn hóa tư tưởng là sự ổn định và phát triển của nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa nên công tác bảo vệ an ninh văn hóa, tư tưởng phải nhấn mạnh yêu cầu phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính. Vấn đ văn hóa, tư tưởng đều là mục tiêu số một mà các thế lực thù địch và các loại tội phạm tập trung tiến hành các hoạt động phá hoại tiến tới làm thay đổi thể chế chính trị, chế đ kinh tế trong nước. Xử lý những vấn đ về an ninh văn hóa, tư tưởng luôn rất nhạy cảm, dễ bị các phần tử xấu lợi dụng đ vu cáo, xuyên tạc, gây rối, làm mất uy tín chính trị của Đảng và Nhà nước, chính vì vậy yêu cầu giữ vững bên trong là chính được đặt lên hàng đầu.

Thực tiễn công tác bảo vệ an ninh văn hóa, tư tưởng trong những năm qua đã chứng minh tính đúng đắn của tư tưởng chủ động phòng ngừa, chủ động tấn công trong đó lấy phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính trong công tác bảo vệ  an ninh văn hóa, tư tưởng. Cũng chính nhờ quán triệt tốt quan điểm chỉ đạo trên mà trong những năm qua tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của chúng ta được giữ vững, việc nhấn mạnh yêu cầu giữ vững bên trong là chính hoàn toàn phù hợp với thực tế của công tác bảo vệ an ninh văn hóa, tư tưởng.

Đối với công tác bảo vệ an ninh văn hóa, tư tưởng thì toàn cầu hoá tạo điều kiện cho sự hợp tác quốc tế trên lĩnh vực an ninh, tạo điều kiện thuận lợi cho các quốc gia trong việc xử lý các tình huống có liên quan tới yếu tố nước ngoài, giúp chúng ta có cơ sở pháp lý để tiến hành công tác nghiệp vụ an ninh. Nhưng theo đó là sự khó khăn trong việc phát hiện đối tượng đấu tranh, trong việc áp dụng các biện pháp nghiệp vụ bí mật, trong xử lý các vấn đề liên quan đến quốc tế. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những ưu thế về kinh tế từng bước tạo sức ép, truyền bá lối sống và giá trị văn hoá phương Tây và ràng buộc ta về chính trị.

 

BIỂU HIỆN TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA DIỄN BIẾN RẤT PHỨC TẠP

 

Biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” công khai, nguy hiểm hơn theo xu hướng “ly khai Đảng”, thành lập tổ chức chính trị đối trọng với Đảng, thành phần ngày càng đa dạng, có xu hướng liên kết trong nội bộ với ngoài xã hội, trong nước với ngoài nước. Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đang bộc lộ rất phức tạp, sai phạm, vi phạm kỷ luật Đảng, thậm chí vi phạm pháp luật trong cán bộ, đảng viên gia tăng. “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tiếp tục diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả trí thức, luật sư, cán bộ lão thành, văn nghệ sĩ, nguyên cán bộ cao cấp, tướng lĩnh lực lượng vũ trang.

Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ công khai, nguy hiểm hơn theo xu hướng “ly khai Đảng”, thành lập tổ chức chính trị đối trọng với Đảng, thành phần ngày càng đa dạng, có xu hướng liên kết trong nội bộ với ngoài xã hội, trong nước với ngoài nước. Biểu hiện củа“tự diễn biến”, “tự chuyển hóа”trên lĩnh vực này là sự sùng bái, chạy theо văn hóа, lối sống phương Tây; xa rời các giá trị văn hóа, đạо đức truyền thống, đặc biệt là các giá trị văn hóа, đạо đức xã hội chủ nghĩа; có hành vi xuyên tạc lịch sử, phủ nhận nền văn hóа cách mạng; đề cао chủ nghĩа cá nhân, lối sống thực dụng; thương mại hóа các hоạt động văn hóа, đánh mất bản sắc văn hóа dân tộc... “Tự diễn biến” về văn hóа, xã hội, đạо đức, lối sống thường khởi đầu chо “tự diễn biến” về chính trị tư tưởng.

Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, vi phạm kỷ luật Đảng, thậm chí vi phạm pháp luật trong cán bộ, đảng viên gia tăng; một số đảng viên không chấp hành các quy định của Đảng, tuyên bố công khai từ bỏ Đảng và kích động “từ bỏ Đảng Cộng sản”; tình trạng mâu thuẫn nội bộ, mất đoàn kết đang là những vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc phá hoại nội bộ; lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra với tính chất, mức độ rất nghiêm trọng.

Nguy hiểm hơn, một số cán bộ, đảng viên “tự chuyển hóa”, tự nguyện, sẵn sàng cộng tác, chủ động liên hệ với Cơ quan đặc biệt nước ngoài, phản động lưu vong để hoạt động chống phá; một bộ phận cán bộ có tư tưởng lừng chừng, hai mặt, chờ thời cơ có lợi cho cá nhân. Lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra với tính chất, mức độ rất nghiêm trọng.

BIỂN ĐÔNG ĐẶT RA NHIỀU THÁCH THỨC TỚI AN NINH QUỐC GIA

 

Tranh chấp chủ quyền và cạnh tranh thế chiến lược, tranh giành ảnh hưởng, lợi ích của các nước lớn ở Biển Đông ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường không chỉ đe dọa hòa bình, ổn định khu vực, chủ quyền của Việt Nam mà còn đặt ra nhiều thách thức, hệ lụy đối với an ninh quốc gia Việt Nam.

Tại Biển Đông hiện đang tồn tại 02 nhóm mâu thuẫn lớn; mâu thuẫn về tranh chấp chủ quyền đang diễn biến phức tạp và khó giải quyết do liên quan nhiều bên (05 nước, 06 bên) với quan điểm khác biệt cả về chủ quyền, lợi ích và cách thức giải quyết tranh chấp, nhất là khác biệt về quan điểm, chủ trương của Trung Quốc với các bên có tranh chấp còn lại.

Biển Đông không chỉ đơn thuần là tranh chấp chủ quyền mà đan xen với đó là sự cạnh tranh chiến lược, tranh giành ảnh hưởng và lợi ích của hầu hết các nước lớn trên thế giới, đặc biệt là sự tranh giành thế chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Thực tế quan hệ giữa các nước lớn và quan hệ Mỹ - Trung những năm gần đây đã phản ánh rõ, mỗi khi cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung diễn ra gay gắt thì vấn đề Biển Đông cũng diễn biến phức tạp, căng thẳng, hoạt động của Trung Quốc và sự can dự của các nước lớn vào vấn đề Biển Đông đều gia tăng.

Hai nhóm mâu thuẫn trên khiến tình hình Biển Đông còn diễn biến phức tạp, kéo dài, không thể giải quyết trong ngắn hạn và trung hạn, tiếp tục là yếu tố quan trọng chi phối môi trường an ninh trong khu vực, trực tiếp tác động, ảnh hưởng tới lợi ích, ANQG, môi trường đối ngoại của các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam. Sự bế tắc trong giải quyết giữa các bên có tranh chấp ở Biển Đông và sự can dự mạnh mẽ của các nước lớn làm phát sinh những nguy cơ về xung đột cục bộ trên biển, xu hướng chạy đua vũ trang trong khu vực. Bệnh cạnh đó, những căng thẳng ở Biển Đông còn kéo theo hàng loạt các hệ lụy khác như tác động, ảnh hưởng, làm chậm đà phát triển kinh tế biển của đất nước, nhất là các hoạt động dầu khí, nghề cá; những đe dọa về an ninh ngay trong nội địa như các đối tượng phản động, cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, tiến hành các hoạt động chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết, kích động biểu tình, bạo loạn, phá hoại.

“Dân thụ hưởng” không phải là khẩu hiệu suông

 Có thể nói phương châm “dân thụ hưởng” đã được thể hiện rõ trong mục tiêu, đồng thời cũng đã được triển khai thực hiện trong suốt quá trình cách mạng XHCN tại Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng trong mục tiêu vì hạnh phúc của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rất rõ: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Rõ ràng hưởng thụ đầy đủ lợi ích cả về vật chất, tinh thần là khát vọng của người dân, là mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của cách mạng XHCN và đang được hiện thực hóa trên đất nước ta. Từ sự cùng khổ của người dân một nước thuộc địa, bị đặt dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc, trải qua chiến tranh đau thương, mất mát, đến nay người dân Việt Nam đã thực sự sống trong tự do, hòa bình, độc lập, thống nhất, đời sống ngày càng đi lên.

Thế nhưng trong suốt những năm qua, các thế lực thù địch, phản động luôn cố tình phủ nhận những thành quả ấy. Lợi dụng tình hình công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực khiến một số cán bộ cấp cao vướng vào tham nhũng, tiêu cực nên bị kỷ luật, buộc phải từ chức hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự, lực lượng thù địch đã rêu rao rằng chỉ có “quan cộng sản” mới có nhà lầu, xe hơi, cuộc sống sung sướng, được hưởng thụ và cho rằng “dân thụ hưởng chỉ là ru ngủ dân...". Ở đây, chúng ta phải khẳng định rằng những kẻ cơ hội chính trị và lực lượng thù địch không phải là không biết, không nhìn thấy những thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà người dân Việt Nam ngày ngày được thụ hưởng. Tuy nhiên, chúng cố tình xuyên tạc sự thật; thấy cây mục cho rằng cả cánh rừng phải chặt bỏ; lấy hiện tượng quy chụp bản chất; lấy sự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ, đảng viên để suy diễn về phẩm chất đạo đức của toàn bộ đội ngũ cán bộ,

Có thể nói, việc “dân thụ hưởng” thành quả cách mạng tại Việt Nam là sự thật không thể phủ nhận. Sự hưởng thụ của người dân Việt Nam toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đảng, Nhà nước luôn thực hiện nhất quán chủ trương gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; gắn kết giữa chính sách phát triển kinh tế với chính sách phát triển xã hội; dân chủ ngày càng được mở rộng, mỗi người dân luôn được tạo điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình. Người dân thực sự là người chủ đất nước, bao nhiêu lợi ích, bao nhiêu quyền hành đều ở nhân dân. Chính người dân là người làm chủ quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng XHCN, đồng thời người dân cũng trực tiếp thụ hưởng giá trị to lớn của quá trình đó.

Chúng ta thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước. Đảng, Nhà nước luôn tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của công dân. Đảng ta luôn đặt quyền lợi của nhân dân vào trung tâm các quyết sách, đường lối, với mục đích tối thượng là người dân được thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển đất nước. Điều đó được thể hiện qua hàng loạt con số biết nói: Năm 2021, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,703, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển.

Báo cáo hạnh phúc thế giới (World Happiness Report-WHR) năm 2023 công bố ngày 20-3-2023 cho thấy chỉ số hạnh phúc của Việt Nam đã tăng 12 bậc, từ vị trí 77 vào năm 2022 lên vị trí 65 trong năm 2023. Hạnh phúc là mục tiêu cơ bản của con người. Đại hội đồng Liên hợp quốc đã công nhận mục tiêu này và kêu gọi cách tiếp cận toàn diện, công bằng và cân bằng hơn đối với tăng trưởng kinh tế nhằm thúc đẩy hạnh phúc và phúc lợi của tất cả mọi người. Các tiêu chí được đánh giá gồm: GDP bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ trung bình, quyền tự do lựa chọn cuộc sống, sự rộng lượng và nhận thức về tham nhũng.

Cùng với đó, Liên hợp quốc đánh giá Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Chỉ số bất bình đẳng giới (GII) của Việt Nam tiếp tục được cải thiện vào năm 2021, đạt 0,296, xếp hạng 71 trong số 170 quốc gia. Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên áp dụng chuẩn nghèo đa chiều và hoàn thành trước 10 năm mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo. Mức sống tăng lên, sức khỏe của người dân được cải thiện nên tuổi thọ tăng qua các năm, chỉ số sức khỏe cả nước tăng từ 0,822 (năm 2016) lên 0,826 (năm 2020). Chỉ số giáo dục của Việt Nam là 0,618 vào năm 2016 và 0,640 vào năm 2020. Chỉ số thu nhập là 0,624 vào năm 2016 và 0,664 vào năm 2020. Như vậy có thể thấy, mặc dù là nước đang phát triển có xuất phát điểm rất thấp, nhưng các chỉ số cơ bản cho quyền lợi và sự thụ hưởng của người dân tại Việt Nam đều tăng dần qua từng năm, cho thấy đời sống của người dân Việt Nam đang đi lên một cách bền vững.

Theo tạp chí thương mại hàng đầu thế giới CEOWORLD (Mỹ), chất lượng sống của Việt Nam được cải thiện đáng kể. CEOWORLD đánh giá, Việt Nam có tổng số điểm là 78,49 và xếp hạng 62/165 quốc gia vào năm 2021. Thứ hạng chỉ số chất lượng sống được CEOWORLD dựa trên nhiều tiêu chí như: Chi phí sống; sự ổn định kinh tế-chính trị; môi trường làm việc; bình đẳng thu nhập; hệ thống giáo dục; hệ thống y tế...

Có thể thấy, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng phát triển kinh tế vì mục tiêu con người, thực hiện nhất quán quan điểm gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế vì con người, xây dựng thiết chế chính trị, hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền XHCN, quản lý đất nước, xã hội, mang lại những điều tốt đẹp cho con người. Vì vậy, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện. Mỗi một người dân Việt Nam đang hằng ngày, hằng giờ được thụ hưởng môi trường hòa bình, ổn định, yên tâm lao động sản xuất và thừa hưởng chính thành quả đó. Trong xu thế đi lên của đất nước, ai cũng được tạo cơ hội phát triển, không ai bị bỏ lại phía sau. Người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị ảnh hưởng của bão lũ, thiên tai khiến đời sống còn khó khăn thì Đảng, Nhà nước có chính sách an sinh xã hội, toàn xã hội đều chung tay giúp đỡ. Mục đích cuối cùng là để mỗi người dân Việt Nam đều được bình đẳng tận hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” đúng như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Như thế, “dân thụ hưởng” không dừng lại trên lý thuyết, trong nghị quyết, giấy tờ hay khẩu hiệu suông để hô hào mà được thể hiện sinh động, thuyết phục trong hiện thực đời sống mỗi người dân Việt Nam. Dù những phần tử cơ hội chính trị, thế lực thù địch có cố tình bóp méo, xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận được sự thật rằng đời sống của người dân Việt Nam đang ngày càng đi lên. Đó chính là động lực để người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; nỗ lực lao động, cống hiến để đất nước ngày càng phát triển thì những giá trị mà mỗi người được thụ hưởng sẽ ngày càng lớn hơn. đảng viên...


'Dân chủ' hay 'phản dân chủ'?

 Trong thực hiện “diễn biến hòa bình” những năm gần đây, một số kẻ nhân danh các tổ chức phản động thông qua các trang web có địa chỉ ở nước ngoài lại rộ lên vấn đề dân chủ với những giọng điệu cũ mèm. Chúng cho rằng, việc một số người tụ họp, móc nối, sử dụng các trang web để bày tỏ chứng kiến, tuyên truyền về tình hình Việt Nam là thực hiện quyền tự do dân chủ, tự do báo chí... Và vì thế chúng gọi những hành vi ấy là “đấu tranh cho dân chủ” và những người đó là “nhà hoạt động dân chủ”; “nhà dân chủ”... Chúng cho rằng việc Nhà nước Việt Nam bắt giữ, xử lý những “nhà hoạt động dân chủ” là vi phạm dân chủ, nhân quyền.

Mặc dù đã quá lỗi thời nhưng khi nghe những giọng điệu ấy, dư luận cả trong và ngoài nước vẫn rất bất bình. Cần phải nói ngay rằng, do bị chi phối bởi những động cơ và mục đích xấu xa là chống phá cách mạng Việt Nam nên những kẻ thù địch đang cố tình hiểu sai về một nền dân chủ chân chính, tiến bộ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng.

Ngay từ khi nước nhà vừa giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân …”. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh nền dân chủ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tập trung xây dựng là một nền dân chủ mà ở đó quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân được gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời nhau và được thể hiện rõ nét trong các quan hệ giữa thành viên với cộng đồng, cá nhân với xã hội, công dân với Nhà nước.

Với tư cách là người làm chủ xã hội, công dân Việt Nam không chỉ có quyền mà còn phải có trách nhiệm, nghĩa vụ tham gia xây dựng, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước là hội tụ ý chí, nguyện vọng, trí tuệ của toàn dân. Bài học “lấy dân làm gốc” mà Đảng ta đã đúc kết là sự thể hiện cô đọng tư tưởng dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong nhiều văn kiện, đặc biệt là trong Cương lĩnh (1991) xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội Đảng ta đã xác định “Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân…”.

Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, ở Việt Nam dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương; dân chủ phải được thể chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm. Mọi hành vi đi ngược lại chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng đều bị coi vi phạm pháp luật, là phản dân chủ. Ranh giới giữa dân chủ với phi dân chủ là rất mong manh. Nếu không có luật pháp để quản lý, điều tiết thì dân chủ rất dễ bị biến dạng thành những hành vi phản dân chủ. Sẽ là rất nguy hiểm nếu dân chủ tách rời pháp luật. Ở Việt Nam không thể có thứ dân chủ vô tổ chức, dân chủ đứng ngoài pháp luật. Mọi công dân, mọi tổ chức phải có bổn phận nói và làm theo đúng chuẩn mực, hợp hiến và hợp pháp. Vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chính Những hành vi trực tiếp liên lạc, cấu kết với một số tổ chức phản động và nhóm người Việt lưu vong ở nước ngoài nhằm tuyên truyền xuyên tạc, mưu toan chống phá hòng lật đổ chính quyền nhân dân của một số đối tượng trong thời gian qua là vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam. Đó hoàn toàn là hành vi phản dân chủ, phá hoại dân chủ chứ đâu phải là “đấu tranh cho dân chủ” hay “nhà dân chủ” như các thế lực thù địch rêu rao.


BÁC HỒ - NGƯỜI CHA THÂN YÊU CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 

Quân đội nhân dân Việt Nam do Bác Hồ sáng lập đã có một lịch sử vẻ vang trên 3/4 thế kỷ. Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, quân đội ta đã thực hiện xuất sắc lời dạy ân cần của Bác - người cha thân yêu của lực lượng vũ trang: “Trung với Nước, hiếu với Dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội, từ 34 chiến sĩ đầu tiên trong “Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân” thành lập giữa núi rừng Việt Bắc trong những ngày sục sôi cách mạng, từ các tướng lĩnh xông pha trận mạc, cầm quân đánh giặc suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đã qua, và trong số họ đã có không ít các bậc danh tướng được lịch sử tôn vinh… cho đến các thế hệ tiếp nối, trưởng thành trong hòa bình và xây dựng, trong đổi mới và hội nhập hiện nay, ai ai cũng tự hào về truyền thống vẻ vang, oanh liệt của quân đội ta. Đã từ lâu, danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” đã trở thành niềm kiêu hãnh của quân đội, của mỗi quân nhân cách mạng và của toàn dân, bởi mối liên hệ máu thịt “quân với dân như cá với nước”, bởi “nhân dân là cha, là mẹ sinh thành, dưỡng dục quân đội”.

Được làm “Bộ đội Cụ Hồ”, lại có “người anh Cả” là Đại tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp - “Văn võ song toàn”, đó là niềm hạnh phúc rất đỗi thiêng liêng trong cuộc đời của mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội.

Cũng đã từ lâu, danh xưng “Bộ đội Cụ Hồ” và “người anh Cả” đã trở thành một biểu trưng cao quý, một nét văn hóa độc đáo để nói về giá trị nhân văn của quân đội ta. Tình cảm của Bác Hồ với bộ đội và bộ đội với Bác Hồ là một tình cảm đặc biệt, hiếm có giữa lãnh tụ với chiến sĩ, đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, một lòng một dạ vì Nước vì Dân và giữa các chiến sĩ với lãnh tụ như đàn con với người cha của mình. Tình cảm của Bác với bộ đội rất đỗi đời thường, rất đỗi con người, giản dị mà vĩ đại, bền bỉ sâu lắng, vượt thời gian, trở thành huyền thoại.

GS, TS. Hoàng Chí Bảo - baotanghochiminh.vn

Bác Hồ thăm một đơn vị miền Nam tập kết năm 1957.                                      

ST: Đứcb12#TrT

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG ĐỐI TƯỢNG XUYÊN TẠC

 


Sáng 30-5, TAND huyện Bá Thước (Thanh Hóa) xử sơ thẩm, tuyên phạt Nguyễn Thị Ngân (tức Ngân gà, 44 tuổi, ngụ huyện Bá Thước) 13 tháng tù về tội chống người thi hành công vụ, bảy tháng tù về tội cố ý gây thương tích. Tổng hợp hình phạt chung là 20 tháng tù.


Bản án dành cho Nguyễn Thị Ngân đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ từ dư luận và cũng mang tính răn đe xã hội đối với những ai còn có thái độ hống hách, coi thường kỷ cương phép nước.


Thế nhưng, đối với đám kền kền “việt tân”, bản án này lại khiến họ cảm thấy không mấy vui vẻ, thậm chí còn tỏ ra hậm hực, so sánh một cách khập khiễng. Trên trang fanpage của mình “việt tân” than vãn rằng: Một người phụ nữ “đòi hôn đến ch*ết” CSGT đã bị xử 20 tháng tù! Ngược lại, rất nhiều CSGT vẫn bình an sau khi “tác động vật lý”, “mặt va vào gậy”, “giơ cao chân” khiến người dân thương tích.


Đám kền này không hiểu hay cố tình không hiểu chuyện nên “cắn càn”. Lực lượng công an giao thông là người thi hành công vụ, việc họ phải sử dụng phương tiện, lực lượng để ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật là vấn đề được luật pháp cho phép và đương nhiên không thể so sánh với hành vi chống người thi hành công vụ. Những trường hợp mà họ phải “thượng cẳng chân hạ cẳng tay” cũng chẳng oan uổng gì vì những người đó có thái độ chống đối, bất tuân pháp luật.


Nhưng có lẽ, pháp luật của Việt Nam quá nhân văn nên mới để đám kền kền như “việt tân” săm soi vấn đề này. Còn ở các xứ sở mà họ gọi là thiên đường mặt đất như Mỹ và phương Tây, chỉ cần người dân ho he, có biểu hiện khác thường là lập tức cảnh sát họ sẽ có những biện pháp mạnh tay để trấn áp, thậm chí có trường hợp tử vong do cảnh sát có những tác động vật lý mạnh hoặc bị ăn kẹo đồng.


Cho nên ở Mỹ và phương Tây, không khó để nhận thấy hiện tượng này. Nhưng lạ thay, chưa khi nào đám kền kền “việt tân” dám mở mồm lên án, thậm chí trong số ít các nạn nhân do cảnh sát gây thương vong có cả những người Việt Nam. Rõ ràng “việt tân” là thể loại hèn, chuyên đeo bám, nịnh đầm mẫu quốc để nhận vài đồng bạc lẻ để phản bội quê hương, đất nước.


## ST<Duy Quý>. TtT

TỈNH TÁO, NHẠY BÉN TRONG CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 

----------------------------------------

Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay luôn coi công tác lý luận là bộ phận quan trọng, là nhân tố hàng đầu cấu thành hoạt động lãnh đạo của Đảng.

Có thể nói, sinh mệnh của Đảng cũng như sự thành bại của sự nghiệp cách mạng có liên quan chặt chẽ với hoạt động lý luận của Đảng. Điều này được minh chứng hùng hồn qua những chặng đường lịch sử vẻ vang của cách mạng nước ta. Nền tảng công tác lý luận của chúng ta là Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, công tác lý luận còn được tổng kết, đúc rút từ thực tiễn. Chính thực tiễn cùng với sự đổi mới không ngừng trong tư duy lý luận là điều kiện và cơ sở để công tác lý luận phát triển và những vấn đề lý luận ngày càng được làm giàu thêm.


Một vấn đề rất quan trọng cần nhận rõ, lý luận chính trị là bộ môn khoa học luôn phải đối diện với những quan điểm, luận thuyết trái ngược nên công tác lý luận có nhiệm vụ là đấu tranh chống các quan điểm sai trái và những tư tưởng lệch lạc. Lý luận, đặc biệt là lý luận chính trị lúc nào cũng dựa trên lập trường của một giai cấp nhất định và đấu tranh lý luận là một mặt trận quan trọng trong những cuộc đấu tranh giai cấp. Cuộc đấu tranh lý luận không chỉ xoay quanh vấn đề cốt lõi nhất của lý luận mà thường gắn với những vấn đề thực tiễn, nhất là những biến động của đời sống xã hội. 


Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng-lý luận hiện nay đang diễn ra trong bối cảnh mới, có nhiều thuận lợi mới và không ít khó khăn, thách thức mới đối với việc bảo vệ những quan điểm lý luận của Đại hội XIII của Đảng. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là động lực, nguồn lực quan trọng để chúng ta vững bước đi lên. Điều đó làm cho công tác lý luận có một cơ sở thực tế mới, có một “cốt vật chất” vững chắc để thực hiện những nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, tình hình trong nước hiện nay vẫn còn tồn tại một số vấn đề đáng được quan tâm giải quyết và cũng là những khó khăn đối với công tác lý luận và đấu tranh lý luận. 


Bên cạnh đó, những thách thức đối với công tác lý luận từ bên ngoài tác động vào Việt Nam cũng không hề nhỏ. Đó là những nghịch lý, những diễn biến khó lường và khó dự báo của thế giới hiện nay. Ngay cả những giá trị cao đẹp và đích thực mà nhân loại dày công tạo dựng, vun đắp như hòa bình, độc lập, chủ quyền, công bằng, tiến bộ xã hội... cũng bị các thế lực thù địch, phản động dùng mọi mưu mô đánh phá. Đã thế, có một tình hình là thông tin về mọi mặt đời sống chính trị-kinh tế-văn hóa-xã hội ở mọi nơi trên thế giới và trong nước, cả mặt thuận và mặt trái, đều có thể hấp thụ được qua nhiều cách, nhiều chiều trên nhiều phương diện. Việc nghe, việc nhìn cũng như suy nghĩ của mỗi người trong điều kiện thông thoáng bên trong, mở cửa, hội nhập với bên ngoài hôm nay đã khác hôm qua. Tất cả điều đó tác động đến công tác lý luận nói chung và tác động trực tiếp đến cuộc đấu tranh lý luận nói riêng. 

Từ những vấn đề đó đặt ra cho cuộc đấu tranh tư tưởng-lý luận hiện nay là chúng ta phải kế thừa những cách thức và phương pháp vốn có, đồng thời phải có cách làm đổi mới, sáng tạo để tìm ra được những luận cứ sắc bén. Điều căn bản là thấy hết những yêu cầu mới đặt ra đối với cuộc đấu tranh lý luận hiện nay. Những yêu cầu đó thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:


Một là, trong cuộc đấu tranh lý luận, cần nhận rõ sự phức tạp trên con đường cách mạng nước ta vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trên con đường đó, chúng ta gặp không ít khó khăn, không ít lực cản. Có những khó khăn do chính bản thân chúng ta không lường hết, khó khăn nội tại do chủ quan, duy ý chí hoặc do bảo thủ, trì trệ dẫn tới sự đình đốn, thậm chí vấp ngã. Từ đó dẫn tới sự lúng túng và thiếu lý lẽ, thậm chí bế tắc trong lập luận. Sự kiện ở Liên Xô trước đây và Đông Âu-những nơi mà CNXH hiện thực tưởng như rất vững chắc nhưng đã bị tan rã một cách nhanh chóng-đã cho chúng ta bài học sâu sắc cả về tính phức tạp của thế giới đương đại và những trắc trở, khó khăn trên con đường đi tới tương lai của loài người.


Thực tiễn quá trình cách mạng của chúng ta hiện nay cũng chứa đựng những vấn đề không đơn giản. Phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện toàn cầu hóa, mở cửa hội nhập quốc tế là những nhiệm vụ tất yếu mà chúng ta đang tiến hành. Mặc dù chúng ta luôn giữ định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) nhưng phát triển kinh tế thị trường càng mạnh thì tính tự phát của khuynh hướng tư bản chủ nghĩa cũng sẽ tăng lên. Chúng ta lại đang ở thời kỳ quá độ, trong đó nền kinh tế và cả xã hội cũng có những vấn đề quá độ đan xen nhau, rất khó rạch ròi. Quá trình mở cửa hội nhập, chủ động làm ăn với các nước tư bản chủ nghĩa lại sử dụng những giải pháp và cách thức phát triển của chủ nghĩa tư bản để xây dựng CNXH đặt ra nhiều thách thức đối với công tác lý luận và đặc biệt là công tác đấu tranh về lý luận để bảo vệ những nguyên lý và quan điểm, định hướng của chúng ta.


Hai là, phải xuất phát từ tư duy khoa học và sáng tạo trong cuộc đấu tranh lý luận; để có sức thuyết phục, mọi lý lẽ được sử dụng phải mang tính khoa học và sáng tạo. Chúng ta đều thấy rằng, một mặt, lý thuyết về CNXH và xã hội XHCN được hình thành một cách khoa học, có khảo sát, phân tích thấu đáo trên cơ sở vận dụng những quy luật khách quan. Nhưng mặt khác, đôi khi chúng ta không chú ý hoặc vô tình bỏ qua một vấn đề quan trọng là những luận thuyết về CNXH được xác lập dựa vào những phương pháp trừu tượng rất cao. Phải tìm tòi và gạt bỏ các vấn đề, các yếu tố đặc thù, hoặc không cơ bản để đi sâu vào lý giải những vấn đề cốt lõi. 


Tính trừu tượng cao của CNXH khoa học chính là những nguyên lý chung nhất, mang tính phổ biến nhất có thể áp dụng cho mọi nơi, mọi nước. Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng để xây dựng CNXH, không thể không tính đến những điều kiện đặc thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về sự vận dụng một cách sáng tạo như thế. Trên cơ sở nắm bắt sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học, tinh thần biện chứng và nhân đạo của học thuyết Mác-Lênin, Bác Hồ đã vận dụng sáng tạo học thuyết đó cùng với việc kế thừa chủ nghĩa yêu nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại để đưa ra những tư tưởng phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường cho cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi, trở thành nền tảng tư tưởng bền vững của dân tộc và có sức lan tỏa ra thế giới.


Ba là, trong đấu tranh lý luận không được phiến diện, tuyệt đối hóa một chiều và không công thức hóa. Phiến diện và tuyệt đối hóa sẽ dẫn tới làm mất đi tính khoa học của lý luận và tính phong phú của thực tế, làm cho lý luận bị ngưng đọng và không đủ uyển chuyển để tìm ra những luận cứ đấu tranh. Như khi luận bàn về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng ta có lúc đánh giá, nhìn nhận quá cao tác dụng “mở đường” của quan hệ sản xuất; lúc khác thì chỉ để ý đến vấn đề lợi ích, đến việc phát huy các yếu tố của lực lượng sản xuất nên coi nhẹ, thậm chí quên mất việc quan hệ sản xuất phù hợp một cách chủ động và tích cực đối với lực lượng sản xuất. Khi nói về kết cấu và bản chất của CNXH, đôi khi chúng ta mô tả nó một cách công thức đơn giản, hời hợt, sơ lược, coi như không có mâu thuẫn; không nhìn thấy hết và không quan tâm hết đến các hệ thống lợi ích khác nhau của các tầng lớp xã hội. Tất cả những điều đó đã vô tình hạ thấp vị trí và vai trò của hệ tư tưởng XHCN và trên thực tế sẽ tạo ra những cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.


Bốn là, đấu tranh lý luận cần lấy căn cứ từ thực tiễn, quan tâm đến vấn đề của thực tiễn đặt ra. Nếu trong đấu tranh lý luận mà cứ đi theo công thức định sẵn, không chú ý đến các vấn đề mới nảy sinh trong kinh tế, không để tâm đến tâm trạng xã hội và tình cảm của nhân dân thì không thể đủ sức thuyết phục. Một khi công tác tư tưởng, lý luận cứ theo một khuôn khổ cứng nhắc, không đề cập đến những vấn đề thực tiễn đang nảy sinh vào hoạt động của mình thì nhất định các tư tưởng lý luận xa lạ sai lệch sẽ xen vào. Trong những dạng thức tư tưởng dễ xâm nhập vào quần chúng, phải kể đến ý thức tư tưởng tiểu tư sản. Ý thức tiểu tư sản thường được “tái sinh” từ sự chủ quan của công tác tư tưởng nói chung và công tác đấu tranh lý luận nói riêng; từ những vi phạm nguyên tắc XHCN trong sản xuất, phân phối và trong cả sinh hoạt đời sống đã động chạm đến lợi ích vật chất, quyền lợi của quần chúng lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người mở đầu cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa tự giải phóng khỏi ách kìm kẹp của chủ nghĩa thực dân, đứng lên giành chính quyền, xây dựng xã hội mới. Trên từng bước đường đổi mới gặp vô vàn khó khăn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chứng minh một cách rõ ràng cho quần chúng hiểu được những điều cụ thể, từng công việc cần làm và sẽ làm được nếu tất cả mọi người cùng giác ngộ, cùng quyết tâm, đồng lòng, chung sức.


Năm là, đấu tranh lý luận phải hướng vào chủ đích là củng cố niềm tin, sao cho toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân tin vào sự tất thắng của sự nghiệp cách mạng, quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một điều rất hiển nhiên là triển vọng phát triển của đất nước phụ thuộc đáng kể vào tư tưởng và nhận thức của con người. Khi tư tưởng đã thông, thống nhất một cách nghĩ sẽ biến ý chí thành hành động, làm cho triệu người đồng lòng, chung sức, tạo thành lực lượng vật chất to lớn thúc đẩy xã hội tiến lên. Yếu tố cốt lõi đưa tới thống nhất tư tưởng và hành động là niềm tin. Niềm tin trong mỗi con người là sự chắt lọc từ nhận thức và nằm trong chiều sâu nhận thức, nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với việc định hướng tư tưởng và định hướng hành động. Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân là keo gắn trong Đảng và giữa Đảng với nhân dân, tạo thành động lực to lớn giúp chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.


Để xác lập và củng cố niềm tin, điều cần thiết nhất là phải nâng cao trình độ giác ngộ, trình độ hiểu biết cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, đối với chúng ta, chỉ có tình cảm là không đủ, mà phải là tình cảm cách mạng dựa trên cơ sở lý luận khoa học vững chắc. Có như vậy mới định hướng đúng cho mỗi người khi gặp những điều kiện và biến cố phức tạp trong một thế giới đầy xáo động, ngổn ngang, bất trắc khôn lường. Có như vậy mới đủ kiên định trước mọi thử thách của thời cuộc.

-------------------------------------------------

GS, TS VŨ VĂN HIỀN, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương   

NGUỒN: Báo QĐND#ST.TRƯỜNG TỒN

KHI NÀO THÌ "TINH HOA ĐẤT VIỆT" MỚI ĐƯỢC "TRỞ VỀ CỐ HƯƠNG"?

         Trước đây, khi đất nước bị g.iặc Mỹ xâm lược, họ là những người theo Mỹ chà đạp lên những người dân vô tội. Khi đất nước giành được độc lập, cũng là họ chạy trốn khỏi đất nước vì sợ phải lao động công ích, phải đi cải tạo. Đến nay, khi đất nước giàu mạnh, cũng chính là họ lại muốn quay lại nơi mà họ đã dứt áo ra đi. Khôn như thế thì bao giờ mới qua miền cực lạc được?
     Họ còn cho rằng những người từng sống sót khi qua đất Mỹ là những "tinh hoa đất Việt". Cơ mà những "tinh hoa đất Việt" đó nhưng Mỹ cũng chỉ coi là "dân tị nạn", những kẻ ở đáy của xã hội Mỹ. Chính vì đã hết giá trị lợi dụng trên đất Mỹ nên có lẽ họ đã trở nên nhớ quê hương. 
     Thật tiếc, đến lúc họ nhận ra mọi điều thì cũng là lúc nhận thức của người dân Việt Nam ngày càng cao nên không bao giờ chấp nhận những người từng bán đứng đất nước mà lại muốn quay trở lại. Vì vậy các vị cũng bớt ảo tưởng đi nhé.
     P/s: Theo mọi người thì cái "tinh hoa" ở đây là gì, chứ theo tôi thì đây là "tinh hoa" trong bộ môn đu xà./.
Yêu nước ST.

Khoảng trống thông tin ở cơ sở - mối nguy của Đảng: Bài 3: Lấp khoảng trống thông tin ở cơ sở (Tiếp theo và hết)

Trong thế giới thông tin đa chiều, tốt-xấu đan xen, việc định hướng dư luận xã hội, lấp khoảng trống thông tin ở cơ sở cần những giải pháp tổng thể, căn cơ từ các cơ quan chức năng và người dân.

Còn nhiều khó khăn

Ở hai bài viết trước, chúng tôi đã phản ánh việc người dân chưa mặn mà với các thông tin chính thống. Lý giải nguyên nhân, đồng chí Đinh Kiên Cường, Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Minh Hóa (Quảng Bình) nhận định: “Mặt bằng dân trí thấp, đặc biệt là ở những vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, là một trong những rào cản lớn trong việc truyền tải thông tin đến với cơ sở”.

Ở một khía cạnh khác, đội ngũ cán bộ được giao phụ trách công tác thông tin, tuyên truyền, quản trị các trang, nhóm; đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên ở cơ sở cơ bản đều kiêm nhiệm nhiều công việc, vì vậy rất khó để kịp thời thông tin, định hướng dư luận trên địa bàn khi xảy ra vụ việc, hoặc cao hơn là tổ chức lực lượng đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng chí Nguyễn Duy Hải, Phó bí thư Thường trực Đảng ủy xã Nghi Phong (Nghi Lộc, Nghệ An) chia sẻ: “Địa phương đã xây dựng được đội ngũ báo cáo viên, thông tin viên từ xã xuống tận các thôn. Tuy nhiên, để những hạt nhân này phát huy hiệu quả thì cần phải quan tâm hỗ trợ thêm về kinh phí, phụ cấp, nhất là giảm bớt áp lực trong công việc. Ví dụ, đồng chí Bí thư Đoàn xã, bên cạnh kiêm nhiệm báo cáo viên thì còn phải gánh thêm 3 nhiệm vụ khác. Một mình đảm nhiệm 4 vai thì thật khó để cùng lúc hoàn thành tốt nhiệm vụ".

Đến các thôn trên địa bàn các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình... nhiều cán bộ cấp thôn cơ bản tuổi cao nên việc sử dụng điện thoại thông minh, tham gia thông tin, tuyên truyền trên không gian mạng rất hạn chế, thậm chí có đồng chí chưa tham gia mạng xã hội bao giờ. Số cán bộ, đảng viên trẻ ở cơ sở sử dụng mạng xã hội, blog cá nhân trong đăng tải, chia sẻ các thông tin chính thống chưa thường xuyên, còn việc đấu tranh trực diện với những luồng thông tin xấu độc, thù địch thì rất hiếm.

Một trong những khó khăn ảnh hưởng lớn đến công tác thông tin, tuyên truyền của Đảng, khiến thông tin bị pha trộn, thật-giả khó phân biệt là số lượng tài khoản mạng xã hội, hội, nhóm trên không gian mạng rất lớn, gia tăng với tốc độ nhanh chóng; được tạo lập trên nhiều nền tảng khác nhau như: Facebook, TikTok, Zalo, Viber, Telegram... Những đối tượng lừa đảo, thù địch hoạt động ẩn danh, sử dụng nhiều thủ đoạn để che giấu thông tin, lập nhiều tài khoản cùng lúc để hoạt động; hầu hết được lập trên các dịch vụ do nước ngoài cung cấp, áp dụng nhiều công nghệ bảo mật (mã hóa, ẩn danh...) và bảo vệ quyền riêng tư của người dùng... “Do vậy, việc rà soát, xác minh các tài khoản, thu thập tài liệu, chuyển hóa chứng cứ chứng minh đối tượng tạo lập, sử dụng gặp nhiều khó khăn”-đồng chí Lê Văn Tâm, Trưởng phòng Tuyên truyền-Báo chí-Xuất bản, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Nghệ An cho biết.

Quả thực hiện nay, quy định pháp luật xử lý đối tượng chưa đủ sức răn đe, nhất là đối với hành vi tán phát, tạo dựng tin giả, tin sai sự thật, tuyên truyền lối sống “giang hồ mạng”, cổ xúy những trào lưu trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước. Đồng chí Đào Xuân Yên, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa cho biết: “Hiện nay chưa có quy định nào về việc xác định danh nghĩa của cá nhân với tài khoản mạng xã hội. Đây là sơ hở để các đối tượng lợi dụng những logo của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và cả cán bộ, đảng viên để đánh lừa dư luận. Sau khi xác minh được đối tượng, việc củng cố tài liệu, chứng cứ để gắn trách nhiệm về hành vi trên không gian mạng cho đối tượng gặp nhiều khó khăn. Nhiều đối tượng ngoan cố chối cãi, không chịu thừa nhận hành vi. Bởi vậy, muốn xử lý được đối tượng phải có sự phối hợp đồng thời nhiều lực lượng tổ chức bắt quả tang trong quá trình đối tượng đang có hành vi vi phạm pháp luật”.

Tuy nhiên, lãnh đạo nhiều địa phương cũng thẳng thắn nhận rõ: Nhiều cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu một số địa phương, đơn vị chưa nhận thức sâu sắc, chưa quan tâm một cách đầy đủ về công tác thông tin, tuyên truyền của Đảng; bảo vệ nhân dân trước những thông tin xấu độc; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Công tác nắm bắt, đánh giá, dự báo tình hình, tham mưu định hướng chỉ đạo hoạt động, tổ chức đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở một số địa phương, đơn vị có lúc, có nơi vẫn chưa thực sự kịp thời, nhất là liên quan đến vụ việc phức tạp, nhạy cảm.

Một số địa phương, cơ quan, đơn vị trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ còn xảy ra sai sót, khi xảy ra sự việc xử lý chậm và không dứt điểm, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc. Số ít cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý các cấp có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thể hiện sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, tham nhũng, lãng phí, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ của Đảng.

Định hướng thông tin từ sớm, từ xa

“Điều chúng tôi cần là những thông tin cảnh báo sớm trên không gian mạng về các thủ đoạn lừa đảo, âm mưu thù địch, xuyên tạc, kích động từ các cơ quan chức năng để nhân dân cảnh giác; cảnh báo những thông tin xấu độc để mọi người nhận diện, từ đó không tin, không nghe theo. Vừa qua, những thông tin cảnh báo từ Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an và công an các địa phương gửi tin nhắn trực tiếp đến điện thoại từng người dân là một cách làm hay cần duy trì thường xuyên”. Đó là mong muốn không chỉ của đảng viên Nguyễn Văn Thoại (74 tuổi) ở thôn Trung Ngoại, xã Hoằng Yến (Hoằng Hóa, Thanh Hóa) mà còn là ý kiến của nhiều cán bộ, đảng viên và nhân dân khi chúng tôi gặp gỡ, tiếp xúc, trò chuyện trong quá trình khảo sát.

Nhìn lại việc lôi kéo, tập hợp lực lượng, kích động biểu tình trái phép, chống đối, gây rối, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự xã hội tại một số địa phương như trong các vụ lợi dụng vấn đề môi trường tại Formosa Hà Tĩnh, phản đối dự thảo Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt, Luật An ninh mạng... có thể thấy rằng: Sự vào cuộc, định hướng thông tin, dẫn dắt dư luận xã hội của hệ thống báo chí cách mạng rất chậm, thậm chí rơi vào lúng túng, nhiều tờ báo im lặng trong khoảng thời gian đầu. Đó chính là “thời cơ vàng” để các thế lực thù địch lợi dụng lôi kéo, xúi giục nhân dân qua các nền tảng mạng xã hội.

“Từ vụ việc trên, nếu chúng ta chủ động dự báo sát tình hình dư luận trong nhân dân, tổ chức lực lượng, đặc biệt là các cơ quan truyền thông, báo chí tăng tần suất, các lớp thông tin để tuyên truyền, định hướng nhân dân nắm rõ chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, đồng thời vạch rõ những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đối với ổn định, phát triển của quê hương, đất nước từ sớm, từ xa, tôi tin nhân dân sẽ đồng tình, ủng hộ”, đồng chí Đinh Kiên Cường chia sẻ.

Tuy nhiên, để thực hiện tốt giải pháp trên, ngoài nỗ lực của các cơ quan truyền thông, báo chí thì cấp ủy, chính quyền các địa phương cần chủ động, đổi mới phương thức truyền thông và hình thức cung cấp thông tin cho báo chí bảo đảm tính công khai, minh bạch, đáp ứng tốt nhu cầu thông tin của các cơ quan báo chí; thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 21-3-2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác truyền thông chính sách; các bộ, ngành, cơ quan làm công tác truyền thông chính sách cần phối hợp chặt chẽ, kịp thời, hiệu quả hơn nữa...

Một giải pháp quan trọng nữa là phải khéo phát huy vai trò của đội ngũ các báo cáo viên, tuyên truyền viên ở cơ sở. Đây là lực lượng nòng cốt gắn bó trực tiếp với nhân dân, vừa tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân, vừa lắng nghe những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, kịp thời phản ánh cho các cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Có nhiều cách làm ở cơ sở được đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên triển khai như: Thông qua các buổi họp dân; các trang, nhóm trên mạng xã hội; loa truyền thanh địa phương... để tuyên truyền, vận động người dân. Tuy nhiên, nhiều báo cáo viên kỹ năng, kinh nghiệm còn ít nên cách thức tuyên truyền cứng nhắc, rập khuôn, chưa chắt lọc, chưa gắn sát với thực tiễn đời sống, vì vậy chưa lôi cuốn được người dân dõi theo, lan tỏa. Đồng chí Lê Anh Tuấn, Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Hoằng Hóa (Thanh Hóa) thừa nhận: “Lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên ở cơ sở dù số lượng đông nhưng chưa mạnh, một phần vì kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, một phần do chế độ đãi ngộ thấp nên việc lựa chọn được những báo cáo viên giỏi, tâm huyết, có uy tín, có trình độ và năng lực thuyết phục cao thật sự khó khăn”.

Qua khảo sát, ở các địa phương, các ban, ngành, đoàn thể, chính quyền từ huyện đến cơ sở đều lập fanpage, nhóm Zalo... để đăng tải những bài viết tuyên truyền chủ trương, chính sách mới và cảnh báo những thông tin xấu độc từ mạng xã hội. Song chúng tôi nhận thấy, chỉ số ít fanpage thu hút người dân quan tâm, số còn lại có nội dung nghèo nàn, thông tin không cập nhật thường xuyên nên lượng người theo dõi ít, không phát huy được hiệu quả. Nguyên nhân do cán bộ phụ trách kiêm nhiệm nhiều việc và phần lớn không được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp. Đây là một giải pháp tốt để tập hợp nhân dân trên không gian mạng nhưng chưa được cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư cả con người, vật chất một cách đúng mức nên thực sự rất đáng tiếc!

Cùng với những giải pháp trên, theo đồng chí Trần Minh Hạnh, Phó trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Diễn Châu (Nghệ An), cơ quan chức năng cần nghiên cứu các chế tài đủ mạnh để răn đe, xử lý những hành vi vi phạm, gây hại như lưu trữ, cung cấp, đăng tải, tán phát tin giả, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, nói xấu, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước trên internet, mạng xã hội...

Lãnh đạo các địa phương thống nhất cho rằng: Để lấp khoảng trống thông tin ở cơ sở, mỗi cán bộ, đảng viên phải công khai danh tính khi tham gia mạng xã hội, trở thành một tuyên truyền viên trên không gian mạng, vừa gương mẫu trong lời nói và việc làm, vừa lan tỏa thông tin chính thống, định hướng dư luận xã hội. Đối với người dân, trong vai trò vừa là đối tượng tiếp nhận thông tin trên không gian mạng, vừa là chủ thể sáng tạo nội dung số, cần nêu cao ý thức, tự trang bị kiến thức về pháp luật, bộ lọc văn hóa tốt, ứng xử văn minh, lịch sự trong tranh luận, phản biện, có năng lực về tin tức, đánh giá được độ tin cậy của thông tin trên truyền thông xã hội. Có như vậy, việc khai thác, sử dụng mạng xã hội mới hiệu quả, thiết thực.

Thay lời kết

Lấp khoảng trống thông tin ở cơ sở, chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, kịp thời cung cấp thông tin chính thống đến toàn dân đang là vấn đề rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, trong đó có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền; sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan chức năng, truyền thông, báo chí và đội ngũ cán bộ, đảng viên, lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên. Thông qua đó góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, điều hành quản lý của Nhà nước. Khi Đảng, Nhà nước, toàn quân, toàn dân ta trở thành khối đoàn kết, thống nhất vững chắc, chung một ý chí xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc thì mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch sẽ trở nên vô nghĩa.

                                             KHÁNH TRÌNH - MINH TÚ - DUY THÀNH - qdnd.vn - 13.05.2023

Khoảng trống thông tin ở cơ sở - mối nguy của Đảng - Bài 2: Hệ lụy từ việc tiếp nhận thông tin sai lệch

Tiếp nhận thông tin sai lệch trên mạng xã hội dù vô tình hay có chủ đích cũng gây ra những hậu quả khó lường, làm thay đổi nhận thức, hành vi của người dân, gây khó khăn đối với công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp.

Những “độc tố” từ mạng xã hội

Nhìn anh Lê Văn Trung ở xã Hoằng Trường (Hoằng Hóa, Thanh Hóa) với khuôn mặt hốc hác, đôi mắt trũng sâu vì thiếu ngủ lâu ngày, ít ai nghĩ rằng anh mới gần 40 tuổi. Là ngư dân, công việc thường ngày của anh là làm bạn với sóng biển. Quãng thời gian 2 năm trở lại đây, con trai lớn của anh Trung bắt đầu sử dụng điện thoại thông minh và chẳng biết từ bao giờ, cậu học đâu kiểu ăn nói hỗn hào, hành xử không coi ai ra gì; thách thức nhau trên mạng, đánh nhau ngoài đời thực và bị công an xử lý theo quy định. Tìm hiểu, anh Trung mới biết, con trai anh thường vào các trang mạng xã hội, xem những phần tử giang hồ, xăm trổ đầy mình, nói năng tục tĩu, thách thức trên mạng... “Đau lắm! Những thứ tốt đẹp nó không học mà những thói hư, tật xấu nó lại học nhanh thế. Giờ tôi nói, nó có nghe đâu?”-anh Trung nói mà nước mắt rịn ra nơi khóe mắt.

Bi kịch do ảnh hưởng bởi “giang hồ mạng” như gia đình anh Lê Văn Trung là một hệ lụy đáng buồn từ việc tiếp nhận thông tin thiếu chuẩn mực của giới trẻ trên các nền tảng mạng xã hội. Có thể thấy, thời gian qua, hiện tượng “giang hồ mạng” mọc lên như nấm, các tài khoản thường đăng những clip hoặc livestream với số đông thanh niên xăm trổ đầy mình, chửi thề, hành động bạo lực, thể hiện lối sống bất cần đời, khoe khoang giàu có, kiếm tiền dễ dàng... tạo cho không ít người trẻ ngộ nhận những việc làm này được khuyến khích nên tích cực bình luận, chia sẻ. Từ đó, ảnh hưởng tiêu cực đến thái độ, hành vi của giới trẻ khi giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, đặc biệt là lối suy nghĩ sẵn sàng dùng bạo lực, bất chấp tất cả để giải quyết mâu thuẫn, hệ lụy cho xã hội thật khó lường hết!

Cho đến bây giờ, ông Nguyễn Doãn Minh (72 tuổi), ở phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội vẫn chưa hết bàng hoàng vì nghe theo những lời quảng cáo trên mạng xã hội để tự mua thuốc về điều trị bệnh đái tháo đường với giá gần 5 triệu đồng. Ông Minh bộc bạch: “Có bệnh thì vái tứ phương, tôi ở nhà, xem trên mạng xã hội thấy quảng cáo thuốc cam kết giảm đường huyết sau một liệu trình điều trị. Tôi thêm tin tưởng vì xem trên mạng thấy có bác sĩ ở bệnh viện uy tín tư vấn, người sử dụng thuốc trước đó khỏi bệnh, có địa chỉ rõ ràng nên đồng ý mua. Nào ngờ, đó chỉ là thông tin giả mạo, sau một tuần dùng thuốc, bệnh tình tôi không thuyên giảm mà đường huyết tăng lên, cơ thể mệt mỏi, cảm giác khó thở về đêm và sáng sớm. May mà người thân đưa tôi vào viện cấp cứu kịp thời, nếu chậm thì hậu quả khó lường”.

Gần đây, Công an tỉnh Quảng Bình đã ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 5 triệu đồng/trường hợp đối với TNTA và NTHA, đều trú tại phường Bắc Lý, TP Đồng Hới vì có hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt. Tại cơ quan chức năng, TNTA thừa nhận, trước đó, trong quá trình tham gia từ thiện ở vùng lũ huyện Lệ Thủy, tuy tiếp nhận thông tin không đầy đủ nhưng vẫn đăng tải thông tin có cả trăm người chết do lũ lụt. Thông tin bịa đặt trên nhanh chóng được lan truyền trên không gian mạng khiến người dân hết sức hoang mang, lo lắng... Đó không chỉ là bài học cho những đối tượng trên mà đau xót hơn là các giá trị xây dựng cộng đồng văn minh bị xô đổ, khiến chuyện sinh-tử của hàng trăm người dân trong lũ lụt trở thành một trò đùa!

Còn nhiều “độc tố” tràn lan trên các nền tảng xuyên biên giới như: Khiêu dâm, mại dâm trá hình; hướng dẫn những trò chơi mạo hiểm; hướng dẫn cách tự tử; lừa đảo việc nhẹ lương cao; đầu tư online; mua-bán thuốc chữa bệnh... khiến bao người tin theo và bao cảnh đời điêu đứng vì nạn tin giả, tin độc hại.

Điểm một vài hệ lụy trên để thấy rằng: Bên cạnh những mặt tích cực mà “mặt trận thông tin” mạng xã hội đem lại giúp gắn kết, chia sẻ thông tin; tạo nhiều cơ hội giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm trong đời sống thì còn muôn nẻo hệ lụy từ việc tiếp nhận thông tin sai lệch trên “thế giới thực-ảo” với người dân. Có thể nói, từ sự lệch lạc trong nhận thức về các vấn đề chính trị-xã hội được đưa lên mạng xã hội, dẫn đến nhiều sai lầm trong hành vi của một bộ phận người dân, tạo nên những mối nguy về bất ổn xã hội trên tất cả các lĩnh vực. Những “cơn bão mạng” có thể khiến một cá nhân phải tìm đến cái chết để giải thoát, một doanh nghiệp phải phá sản và nguy hại hơn, nó khiến một quốc gia rơi vào bất ổn...

Nguy hại là giảm niềm tin vào Đảng

Năm 2018, khi Quốc hội bàn thảo về Dự luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt và Dự luật An ninh mạng, lợi dụng khi các cơ quan chức năng chưa cung cấp đầy đủ thông tin chính thống về hai dự luật trên đến với người dân thì trên mạng xã hội xuất hiện nhiều ý kiến cho rằng: Đây là những dự luật “bán nước”, “bịt miệng nhân dân”... từ đó, kêu gọi nhân dân thể hiện “lòng yêu nước” bằng việc hưởng ứng xuống đường biểu tình, tuần hành phản đối với những chiêu trò mới như gây kẹt xe ở các đô thị, biểu tình trên mạng, hô hào các tổ chức phản động tổ chức biểu tình ở nước ngoài... Những lời kêu gọi trên được tán phát một cách nhanh chóng trên các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới, một bộ phận người dân nhẹ dạ cả tin, a dua theo trào lưu, xuống đường biểu tình, tụ tập quấy rối, làm mất an ninh trật tự xã hội ở Bình Thuận và một số địa phương. Trong rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự việc trên, thẳng thắn thừa nhận rằng: Có một bộ phận nhân dân đã suy giảm niềm tin vào chính quyền, đội ngũ cán bộ ở cơ sở, rộng hơn là giảm niềm tin vào những chủ trương, quyết sách lớn của Đảng, Nhà nước nên khi các phần tử xấu kích động, lôi kéo thì dễ dàng tin, nghe theo.

Thời gian gần đây, lợi dụng công nghệ cao, các đối tượng giả danh cán bộ thực thi pháp luật để gọi điện, nhắn tin lừa đảo người dân. Nhiều người sợ bị liên lụy đến pháp luật nên đã làm theo hướng dẫn của những kẻ lừa đảo, đến khi tiền mất mới trình báo cơ quan chức năng thì mọi việc đã muộn. “Điều đáng nói ở đây, không chỉ có các nhóm tội phạm lợi dụng công nghệ cao lừa đảo nhân dân mà đằng sau thủ đoạn này là mục đích nhằm hạ bệ hình ảnh cán bộ ở các cơ quan thực thi pháp luật ở nước ta; làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ của Đảng”, đồng chí Lê Thị Kim Hằng, Trưởng ban Tuyên giáo Thị ủy Nghi Sơn (Thanh Hóa) chia sẻ.

Khi Đảng ta đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhiều cán bộ, nhiều vụ việc tham nhũng, hối lộ, lợi dụng chính sách để trục lợi có quy mô lớn bị xử lý theo pháp luật thì trên các nền tảng xuyên biên giới, các thế lực thù địch tuyên truyền, cho rằng: Đây thực chất là "thanh trừng nội bộ", là "cuộc đấu đá phe phái, triệt hạ lẫn nhau"... Từ đó kêu gọi "muốn chống tham nhũng thực chất phải thay đổi chế độ, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập"...

Câu chuyện không dừng lại ở các trang mạng, với phương châm “mưa dầm thấm lâu”, “nói mãi những điều sai, khoét sâu vào khuyết điểm” để người dân tưởng đó là đúng. Hậu quả, nhiều cán bộ, đảng viên của Đảng ở cơ sở cứ hằng ngày thẩm thấu những thông tin xấu độc khiến tâm trí hoang mang. Cán bộ, đảng viên còn vậy, nói gì đến người dân. Đây là điều đáng suy ngẫm. Rõ ràng, trong tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã có phần “lung lay” dù “gốc” chưa bật! Trao đổi xung quanh vấn đề này, đồng chí Phạm Ngọc Cảnh, Phó trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Nghệ An cho rằng: “Tác động xấu từ những thông tin sai lệch, thiếu kiểm chứng, bịa đặt, vu khống, xuyên tạc... có thể dẫn đến những hậu quả trực tiếp, tức thì, nhưng cũng có những hậu quả lâu dài tích tụ vào ứng xử, lối sống, dần dần phá vỡ những hệ giá trị văn hóa và đạo đức tốt đẹp trong xã hội ở Việt Nam, sâu xa hơn là làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, để đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Từ việc mất niềm tin đến hành động trở cờ, chuyển hóa chế độ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn”.

Như vậy, hệ lụy từ việc tiếp nhận thông tin sai lệch sẽ khó lường nếu tổ chức đảng, chính quyền các cấp không kịp thời lấp những khoảng trống thông tin ở cơ sở. Đó cũng là nội dung cốt lõi chúng tôi sẽ bàn trong bài viết tiếp theo.

 "Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc". (Tổng Bí thư NGUYỄN PHÚ TRỌNG)

(còn nữa)

KHÁNH TRÌNH - MINH TÚ - DUY THÀNH - qdnd.vn - 12.05.20

“Ấm mình, lạnh người”

Chúng ta đều biết, tham nhũng (tham ô, nhũng nhiễu) là hiện tượng xã hội tiêu cực, xấu xa mà thời nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có; đó là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực. Các quốc gia tồn tại và phát triển vững mạnh đều quan tâm và tiến hành đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả”. Từ việc nhận diện đúng bản chất về tham nhũng, tiêu cực, trong bài viết “Của công, của riêng” đăng trên Tạp chí Cộng sản từ 45 năm trước, đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã vạch rõ hiện tượng chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, lợi dụng cương vị, quyền hạn để tham ô, chiếm dụng của công, “kéo áo người đắp bụng mình” gây nên những hệ lụy nghiêm trọng…

Mở đầu bài viết, đồng chí Nguyễn Phú Trọng khái quát “Ngay từ thuở xa xưa, những hiện tượng “cha chung không ai khóc”, “của mình thì để, của rể thì bòn”, “kéo áo người đắp bụng mình”... đã bị nhân dân ta phê phán gay gắt. Phê phán là phải thôi, bởi vì những hiện tượng đó biểu hiện tư tưởng ích kỷ, cá nhân, không phù hợp với tinh thần tương thân tương ái của những con người vốn gắn bó chặt chẽ với cộng đồng như những con ong không bao giờ rời bầy, lìa tổ…”.

Trong thời kỳ phong kiến, thực dân, đế quốc, kẻ mạnh áp bức, bóc lột người yếu thế, những hiện tượng phi đạo đức, phi nhân tính trên tồn tại còn có thể lý giải là do thể chế, đặc thù xã hội. Tuy nhiên, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, với những chiến sĩ tiên phong đấu tranh cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mang danh cao đẹp người cộng sản thì không thể chấp nhận được việc “…vẫn có những cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ, đảng viên giữ những cương vị phụ trách trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước chưa nêu cao ý thức tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ của công, thậm chí còn có những hành vi tham ô, chiếm dụng của công…”; “Quen thân nhau, họ “móc ngoặc” trao đổi cho nhau hàng hóa, vật tư của Nhà nước, của tập thể theo kiểu “ông mất chân giò, bà thò chai rượu” để “giúp” nhau thỏa mãn những yêu cầu riêng, lợi ích riêng…”; “Có những người lợi dụng sơ hở trong công tác quản lý của Nhà nước, ăn cắp của công, xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa một cách trắng trợn. Thôi thì “sống chết mặc bay”, miễn sao lợi dụng của công đắp điếm cho mình càng được nhiều càng tốt (!). Đó là chưa kể một số người sống theo phương châm “của người bồ tát của ta lạt buộc”, thu vén các thứ cho riêng mình, nhưng thờ ơ, vô trách nhiệm trong việc giữ gìn, bảo vệ tài sản chung, làm hư hỏng, mất mát, hoặc sử dụng một cách vô tội vạ tài sản chung, gây lãng phí rất nghiêm trọng…”.

Như chúng ta đã biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh- Người Cộng sản mẫu mực là một tấm gương trong sáng về đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Người sống một cuộc đời vô cùng thanh cao, giản dị và tiết kiệm. Ngay cả khi giữ những cương vị cao nhất của Đảng và Nhà nước ta, Người cũng tuyệt nhiên không có một ham muốn cá nhân nào, không đòi hỏi một chút lợi lộc riêng tư nào. Trái lại, Người luôn nêu cao ý thức quý trọng, tiết kiệm của công, tiết kiệm ngay trong việc ăn, ở, mặc, tiêu dùng hằng ngày; tiết kiệm từng mẩu bút chì, từng mảnh giấy viết, xót tiếc từng hạt gạo, hạt cơm rơi vãi, từng ngọn điện bị dùng phí phạm. Người thường nói: “Mỗi thứ của cải chúng ta làm ra phải tốn bao nhiêu mồ hôi và sức lao động…”. Người phê phán nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên phạm vào tham ô, lãng phí. Người gọi những hành động tham ô, lãng phí là “tội ác xấu xa”, “là hành động trộm cắp mà ai cũng phải thù ghét, phải trừ bỏ”; tham ô, lãng phí “là thứ giặc ở trong lòng”, “giặc nội xâm”, “là kẻ thù nguy hiểm”. Thời điểm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới được thành lập, trong điều kiện kháng chiến kiến quốc vô cùng khó khăn, gian khổ, Trần Dụ Châu- nguyên Đại tá, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu đã vì lợi ích cá nhân, thoả mãn lạc thú cá nhân mà đang tâm cắt xén chế độ của cán bộ, chiến sĩ, tham nhũng tiền, quân trang quân dụng, chuyên quyền, độc đoán, sống xa hoa, hưởng lạc trên sự hy sinh xương máu của chiến sĩ, đồng bào. Bản án tử hình đầu tiên cho hành vi tham nhũng là lời răn đe nghiêm khắc với những cán bộ, đảng viên, nhân viên công quyền trong chế độ mới. Đây cũng là bài học chua xót, đắt giá, hồi chuông cảnh tỉnh cho việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Gần nửa thế kỷ đã qua, sự nghiệp cách mạng đã gặt hái nhiều thắng lợi, thành quả tốt đẹp. Nước CHXHCN Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng, khẳng định được vai trò, vị thế quan trọng trên trường quốc tế. Nhưng do xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân, vị kỷ, “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, những hiện tượng, hành vi tiêu cực mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vạch ra từ năm 1978, vẫn tồn tại ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, thậm chí là ở những người giữ chức vụ lãnh đạo cao trong các cơ quan của Đảng, nhà nước, gây nên những hệ lụy nghiêm trọng. Tham nhũng, tiêu cực, xét về bản chất là hành vi cướp đoạt, trộm cắp, tìm mọi cách sở hữu những thứ có giá trị không thuộc về mình. Có nguồn gốc sâu xa từ ý chí bản năng của động vật thời nguyên thuỷ, các hành vi tham nhũng, tiêu cực, lấy của công làm của tư, “ấm mình, lạnh người” cần phải thanh lọc, loại trừ vĩnh viễn trong chế độ xã hội tiến bộ xã hội chủ nghĩa, đặc biệt trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Kết thúc bài viết chỉ với hơn hai nghìn chữ mà nội dung đề cập đến vấn đề trọng tâm, cốt yếu có sức mạnh xuyên thời gian, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của tổ chức Đảng, chế độ, đồng chí Nguyễn Phú Trọng đặt ra câu hỏi ngỏ: “Là những người phấn đấu theo đạo đức cách mạng, mỗi chúng ta nghĩ gì và làm gì để góp phần khắc phục những hiện tượng sai sót kể trên?”.

Trong những năm qua, đặc biệt là từ năm 2013, khi Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được thành lập, trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được tiến hành ráo riết, quyết liệt, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, đạt nhiều kết quả toàn diện, tích cực, rõ rệt, được nhân dân hoan nghênh, đồng tình, ủng hộ, được dư luận quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Các cơ quan chức năng đã chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai để “không dám” tham nhũng, tiêu cực; hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể” tham nhũng, tiêu cực; tăng cường công khai, minh bạch, giám sát, kiểm soát quyền lực, xây dựng văn hoá liêm chính, tiết kiệm để “không muốn”, “không cần” tham nhũng tiêu cực. Tuy nhiên, thực tiễn chứng minh, phòng chống tiêu cực mà trọng tâm là phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, tức là trị tận gốc của tham nhũng. Do đó, cùng với cơ chế, thể chế, quy định của pháp luật thì rất cần đến tinh thần tự giác, chủ động rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, nghiêm túc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, thể hiện rõ khí chất tiền phong, gương mẫu của người cộng sản. Có như thế, cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta chắc chắn sẽ thắng lợi, niềm tin của nhân dân ngày càng được củng cố, tăng cường tạo nền tảng vững chắc để Đảng vững mạnh, đất nước phát triển, dân tộc trường tồn…

                                                                                                 Cẩm Ninh - baophutho.vn - 16.05.2023