Thứ Sáu, 2 tháng 6, 2023

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN “LÀM PHAI NHẠT NIỀM TIN”

 

Dùng thông tin để đánh vào niềm tin, làm cho niềm tin cách mạng của nhân dân, của người trẻ tuổi bị phai nhạt, qua đó “tẩy não”, định hướng tới hành động đấu tranh bất bạo động, từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng, từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là âm mưu xuyên suốt của các thế lực thù địch. Nhận diện thủ đoạn của các thế lực thù địch là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Một trong những thủ đoạn thâm độc mà các thế lực thù địch tiến hành là triệt để dựa vào những thông tin xảy ra trong nước, nhất là thông tin về đời sống chính trị, sau đó suy diễn, quy chụp và bôi xấu chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng. Những đối tượng thường sử dụng phương thức này thông qua Đài châu Á Tự do (RFA); BBC tiếng Việt; Đài Phát thanh quốc tế Pháp (RFI)... Bên cạnh đó, nhiều tài khoản mạng xã hội trên YouTube, Facebook… và các blogger (những người viết blog và đăng trên internet) cũng dùng phương thức này.

Gần đây nhất RFA suy diễn phát biểu của một đồng chí lãnh đạo Đảng tại buổi tiếp xúc cử tri rằng: “Việc bật đèn xanh để cán bộ từ chức và rút lui khỏi hệ thống là cách phe Đảng chặt đứt vây cánh của những phe đối lập, nhằm thâu tóm toàn bộ quyền lực”. Như vậy, chúng đã bỏ qua đối tượng tham nhũng, tiêu cực, phần quan trọng nhất trong câu nói mà đồng chí lãnh đạo Đảng đề cập là: “Cho nên khuyến khích là thôi. Nếu đã vi phạm rồi, thấy tay nhúng chàm rồi, thì tốt nhất là xin thôi đi”; “Cán bộ không làm được việc thì tốt nhất là rút lui trong danh dự”…

Hay như sau khi bế mạc Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, cả RFA và RFI, BBC đều đăng tải nhiều bài viết, trích dẫn ý kiến đánh giá phủ nhận kết quả cuộc họp. Ví dụ, chúng cho rằng, việc Ban Chấp hành Trung ương lấy phiếu tín nhiệm đối với các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư khóa XIII chỉ là “tuồng cũ, kép cũ”. Trên tài khoản Hội Anh em dân chủ, Nguyễn Văn Đài “đưa ra căn cứ” cho rằng, nhân dân phải được biết về kết quả lấy phiếu tín nhiệm ấy vì nó không phải là bí mật quốc gia. Nếu nhân dân không được biết năng lực, uy tín những người “phục vụ mình” thì việc Đảng tuyên bố vì lợi ích của nhân dân chỉ là nói suông.

Nghiên cứu bài phát biểu khai mạc Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, chúng ta thấy chúng cố tình lờ đi những vấn đề định hướng có tính mấu chốt nhất. Như về việc lấy phiếu tín nhiệm là: “... giúp các đồng chí được lấy phiếu tín nhiệm “tự soi”, “tự sửa”, tiếp tục phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống và không ngừng nâng cao trách nhiệm nêu gương, trình độ, năng lực công tác, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng”. Phát biểu rõ nghĩa đến từng chi tiết mà chúng vẫn xuyên tạc, bóp méo thì không thể chấp nhận được.

Thủ đoạn tiếp theo mà các thế lực thù địch hay sử dụng đó là vin vào các vụ việc cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, bị ra tòa, bị phạt tù để quy đồng, đổ cho “lỗi hệ thống”. Ví dụ như chúng ra sức tuyên truyền, bảo vệ Trịnh Xuân Thanh, một quan chức tham nhũng, tiêu cực phải hầu tòa.

Thủ đoạn nữa chúng thường xuyên thực hiện là thêu dệt các câu chuyện của cán bộ lãnh đạo để bôi nhọ, nói xấu. Đặc biệt, chúng thường xuyên đưa thông tin nhập nhèm về đời tư, về mối quan hệ và tài sản của lãnh đạo. Hay là thường xuyên đăng tải những clip về Cảnh sát giao thông, Cảnh sát cơ động 141 xử lý người vi phạm để quy chụp rằng, bản chất của Công an Việt Nam là lợi dụng quyền lực pháp luật, bắt người vi phạm chung chi, nếu không sẽ lập biên bản xử phạt nặng theo chế tài, quy định hiện hành. Hoặc chúng lợi dụng những vụ việc xảy ra trong quân đội để lôi kéo, kích động người dân không cho con em thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự.

Một thủ đoạn khác rất nguy hiểm của các thế lực thù địch là ra sức bôi nhọ các thương hiệu hàng hóa Việt Nam, nhất là những mặt hàng xuất khẩu. Bên cạnh thủ đoạn này, chúng còn móc nối với các phần tử cơ hội chính trị, những kẻ trở cờ, bất đồng chính kiến trong nước để lôi kéo ra nước ngoài học tập miễn phí hoặc tài trợ tiền, tài liệu, thậm chí là vũ khí để chống đối lực lượng chức năng. 

Trong điều kiện thông tin trên không gian mạng và mạng xã hội tràn lan, chưa có khả năng kiểm soát dứt điểm thì những thông tin xấu độc từng phút, từng giây tác động tới người dân. Để phòng, chống những âm mưu của các thế lực thù địch, mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao cảnh giác, không làm lọt, lộ các thông tin bảo mật theo quy định của pháp luật. Các cấp ủy cơ sở cần nắm chắc diễn biến tư tưởng, kịp thời tổng hợp thông tin và phổ biến, định hướng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Tổ chức Đoàn các cơ quan, đơn vị, địa phương, nhất là tổ chức Đoàn các học viện, nhà trường cần có chương trình hoạt động để thu hút, tập hợp thanh niên hướng tới phát triển khoa học công nghệ và tổ chức chương trình tình nguyện, không để sinh viên, thanh niên bị tiêm nhiễm thông tin xấu độc và bị lôi kéo, tiếp tay cho thế lực thù địch.

Bên cạnh đó, việc đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng được các cấp, ngành, địa phương quan tâm thực hiện, song cần chú trọng chỉ rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam, đối với Đảng Cộng sản Việt Nam để cán bộ, đảng viên, nhân dân nắm rõ. Đó chính là cách phòng, chống “diễn biến hòa bình” hiệu quả nhất.



QUYẾT CHỐNG "GIẶC NỘI XÂM"

 

Người xưa có câu: “Quốc dĩ dân vi bản, dân dĩ thực vi tiên”, nghĩa là: Nước lấy dân làm gốc, dân lấy ăn làm đầu. Nói cho dễ hiểu là nhân dân quan trọng như gốc của cây, cây không thể không có gốc, nếu gốc không vững chắc thì cây không thể phát triển tốt và tồn tại vững bền. Được nhân dân đồng lòng, đồng sức ủng hộ thì nước mới mạnh và muốn nhân dân đồng thuận ủng hộ thì phải chăm lo cho cuộc sống của nhân dân.


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Đặc biệt, Người nhắc nhở rất ngắn gọn, dễ hiểu mà vô cùng sâu sắc, trở thành nguyên tắc hành động đối với các cơ quan, tổ chức, mọi cán bộ cách mạng: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, phải tiền phong, gương mẫu. Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. Việc gì có lợi cho dân dù nhỏ nhất vẫn phải cố gắng làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ nhất cũng phải tránh. 


Theo quan điểm ấy, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn tiền phong, gương mẫu, nói đi đôi với làm; luôn phấn đấu vì nhân dân, đất nước nên quy tụ được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc-nhân tố quyết định để đánh thắng những kẻ thù xâm lược. 


Tuy nhiên, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật và nói rõ sự thật, chúng ta nhận thấy hiện nay, việc huy động sức mạnh lòng dân để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước đang gặp phải những rào cản từ một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất với các biểu hiện: Nói, viết và làm không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; kén chọn chức danh, vị trí công tác, chọn nơi có nhiều lợi ích, việc dễ làm; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi khó khăn; chỉ tập trung giải quyết những vấn đề có lợi cho mình...


Nhân dân không khỏi tâm tư trước tình trạng một số cán bộ, công chức "giàu thần tốc" không phải từ thu nhập chính đáng. Rồi trong thời kháng chiến, rất nhiều con cháu cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước xung phong vào quân ngũ, xông pha nơi gian khổ, hiểm nguy nhưng bây giờ ngày càng ít con cháu cán bộ cấp cao tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc xông pha nơi khó khăn, gian khổ. Một số cán bộ không những nuông chiều con cháu thái quá mà còn tìm cách ưu ái để con cháu được thăng tiến “thần tốc”, được công tác ở những vị trí nhàn nhã...


Ở góc độ khác, có những cán bộ, đảng viên không chỉ vô trách nhiệm mà còn vô liêm sỉ, trục lợi trên nỗi đau khổ của người dân (mà vụ án liên quan đến Công ty Việt Á và vụ lợi dụng những chuyến bay giải cứu đồng bào ở nước ngoài trong lúc cao điểm dịch Covid-19, với hàng chục, hàng trăm cán bộ, đảng viên vi phạm đã và đang bị nghiêm trị-là điển hình của loại cán bộ thoái hóa, biến chất).  


Quần chúng cũng không khỏi bất bình trước hiện tượng một số cán bộ ưu ái và bảo kê cho "doanh nghiệp sân sau"; doanh nghiệp ngang nhiên sai phạm mà cán bộ sở tại, lực lượng chức năng vẫn phớt lờ "cho qua" dù người dân nhiều lần phản ánh, kiến nghị cần kiểm tra, xử lý.


Tư tưởng tính toán thực dụng, háo danh, hám lợi, làm gì cũng chỉ đặt lợi ích của bản thân và gia đình mình lên trên hết, trước hết là biểu hiện rõ nhất của chủ nghĩa cá nhân-kẻ thù nguy hại số một đối với mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng. Đây chính là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, thổi phồng nhằm chống phá cách mạng, gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng và chế độ ta. Chính vì vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải ra sức đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân bởi đó chính là "giặc nội xâm", là kẻ thù của những người cách mạng, là nguy cơ làm suy yếu Đảng, giảm lòng tin của quần chúng đối với Đảng


Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, nhất là chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đang được Đảng ta tiến hành mạnh mẽ với quyết tâm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai", được nhân dân rất đồng tình, ủng hộ. Đó là phương thức vô cùng quan trọng để giữ vững và củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ-giữ vững "thế trận lòng dân". Tuy nhiên, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn hiện hữu là thực tế cần được nghiêm túc xem xét, đề ra giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn và quyết liệt đấu tranh, khắc phục hiệu quả, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: Tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa nhân dân với Đảng và chính quyền, tạo thành sức mạnh to lớn, vô địch để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, đất nước ta ngày càng phát triển, phồn vinh. Kiên quyết đấu tranh loại bỏ những phần tử hư hỏng, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống.


Ngày 1-8-2022, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã ban hành Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTW về một số nội dung về công tác phòng, chống tiêu cực, trong đó xác định rõ 19 nhóm hành vi tiêu cực của cơ quan, tổ chức, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức (trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị) phải tập trung đấu tranh, xử lý. Việc quy định rõ những hành vi vi phạm này là hết sức cần thiết, có tác dụng cảnh báo, răn đe để cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức soi xét lại hành vi của mình nhằm tránh vi phạm; đồng thời làm cơ sở cho nhân dân giám sát, phòng, chống các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức từ cấp trung ương tới cơ sở. Mong rằng, tổ chức đảng các cấp quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm hướng dẫn này để phòng, chống hiệu quả tham nhũng, tiêu cực và những hành vi là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, qua đó giữ vững và củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng và chính quyền để thế trận lòng dân thêm vững chắc.



LÀM TẤM GƯƠNG CHO QUẦN CHÚNG NOI THEO

 Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định xây dựng một Nhà nước Việt Nam kiểu mới, đó là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Người tuyên bố dứt khoát: "Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ". Như vậy, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ phản ánh mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước và nhân dân trong chế độ chính trị - xã hội nhất định.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: "Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ"). Chính vì điều này mà theo Người, ở nước ta, mọi quyền hành và lực lượng đều là của nhân dân, từ nhân dân mà ra, "bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân", "Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân".

Có thể tóm gọn, nội dung cơ bản và cốt lõi nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là: Nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị - xã hội, thể chế chính trị dân chủ phải bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, nhân dân là người có quyền quyết định vận mệnh của quốc gia - dân tộc. Và Người cũng căn dặn với cán bộ, đảng viên, rằng "Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta".

Trong thực tiễn, trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta đã hiện thực hóa quan điểm "lấy dân làm gốc" và thực hành dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong đời sống xã hội. Từ nội dung ban đầu của quan điểm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (1-2021), quan điểm này đã được hoàn thiện hơn với việc bổ sung 2 nội dung là "dân thụ hưởng", "dân giám sát". Đấy cũng có thể xem như là một nguyên tắc trong hoạt động của Đảng ta với đầy đủ nội dung là: "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng".

Từ quan điểm này để thấy mục tiêu quan trọng cuối cùng của mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta là đều hướng tới lợi ích của nhân dân. Cho nên, trước việc các thế lực thù địch, phản động luôn cố tình xuyên tạc rằng quan điểm "lấy dân làm gốc", hay nội dung "dân thụ hưởng" mà Đảng, Nhà nước ta đặt ra chỉ là hình thức, là khẩu hiệu suông để hô hào, là "chiêu trò" mị dân… thì trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên là phải làm thế nào để các tầng lớp nhân dân thấu hiểu và hiểu đúng vấn đề.

Để cho các tầng lớp hiểu đúng vấn đề thì hoàn toàn không có gì khó nếu mỗi cán bộ, đảng viên biết gương mẫu trong lối sống, biết hy sinh quyền lợi, lợi ích cá nhân và luôn hướng về những gì có lợi cho đất nước, cho nhân dân. Cho nên, "một bộ phận không nhỏ" cán bộ, đảng viên suy thoái, mà lâu nay chúng ta hay đề cập, chính là bộ phận "tự diễn biến, tự chuyển hóa" phải được nhận diện sớm để không làm suy giảm niềm tin của nhân dân.

Cần phải thấy các đối tượng phản động luôn tận dụng triệt để các tiêu cực, sai phạm của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý để xuyên tạc rằng "đầy tớ của nhân dân" thì có cuộc sống sung sướng, hưởng thụ, có tài sản kếch xù, và chủ thể đích thực được thụ hưởng là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, có chức có quyền.

Mục đích cuối cùng của các đối tượng phản động không có gì khác ngoài việc tạo ra khoảng cách giữa nhân dân và đội ngũ cán bộ trong hệ thống của Đảng và bộ máy Nhà nước. Sâu xa hơn, chính là thông qua sự chia rẽ đó để xuyên tạc mục tiêu của Đảng, gây mất đoàn kết, làm suy giảm tinh thần cách mạng và dẫn đến kích động các tầng lớp nhân dân chống lại Nhà nước do chính mình lập ra.

Nói bảo vệ thành trì cách mạng, thực ra với mỗi cán bộ, đảng viên thì cũng rất đơn giản, đấy là bằng việc nỗ lực rèn luyện bản thân, thực hành "cần, kiệm, liêm, chính", gương mẫu trong lối sống, để trở thành một tấm gương cho quần chúng noi theo.

NHẬN DIỆN MỘT SỐ THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC, BÓP MÉO LỊCH SỬ ĐẢNG

 Lịch sử càng lùi xa, các chứng nhân lịch sử dần không còn; với ngày càng nhiều những sự kiện quan trọng xảy ra trong thực tiễn, ký ức, nhận thức, tư tưởng con người có thể bị phai mờ về một số nội dung, sự kiện lịch sử. Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch, phản động thường ra sức cắt xén, thêm bớt, đánh tráo khái niệm, xét lại lịch sử, “đổi trắng thay đen”, bôi nhọ lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Trong bối cảnh công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu, cùng với những thuận lợi cơ bản, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã đạt được, đất nước ta cũng phải đối diện với những khó khăn và trở lực không nhỏ. Các thế lực thù địch trong nước và ngoài nước không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” hòng gây bạo loạn, lật đổ, chống phá cách mạng Việt Nam. Một trong những thủ đoạn thâm độc, tinh vi của chúng là tấn công vào nền tảng lịch sử của Đảng, hòng xuyên tạc lịch sử cách mạng Việt Nam.

Thông qua các bài viết, nhân danh cái gọi là các “công trình khoa học”, các diễn đàn, hội thảo,... viện lý do nghiên cứu làm rõ lịch sử, các thế lực thù địch, phản động ra sức tấn công vào lịch sử Đảng. Chúng xoáy vào một số sự kiện lịch sử, một số thời đoạn của lịch sử, với những đánh giá sai lệch, hoặc thổi phồng sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, bịa đặt, bôi nhọ các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử,... hòng phủ nhận những thành quả cách mạng của Đảng ta, nhân dân ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

Các thế lực thù địch, phản động ra rả mấy luận điệu mang tính chủ quan, khiên cưỡng, như Đảng Cộng sản Việt Nam dựa trên nền tảng tư tưởng “du nhập”, “vay mượn” từ bên ngoài; Việt Nam đã “độc lập từ tháng 3-1945”, những người cộng sản Việt Nam và Việt Minh “cướp công” trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945; thổi phồng những sai lầm của Đảng trong cải cách ruộng đất; đánh giá sai lệch về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968; phê phán Việt Nam đưa quân sang “xâm lược Cam-pu-chia” năm 1979 (!?),...

Bám vào sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, các thế lực thù địch, phản động rêu rao rằng: chủ nghĩa Mác - Lê-nin là sai lầm từ trong bản chất chứ không phải do nhận thức và vận dụng sai(?!); chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phải là sản phẩm của thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam là “một sai lầm của lịch sử”, “đã kìm hãm sự phát triển của đất nước”(!?),...

Bên cạnh đó, cũng xuất hiện một số cách nhìn, nghiên cứu sai trái, thiển cận, cả những dấu hiệu của căn bệnh lười học tập, nghiên cứu lý luận, điển hình như biện luận rằng dân tộc Việt Nam không cần thiết tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để giành nền độc lập trọn vẹn, tiến tới thống nhất đất nước, mà Việt Nam vẫn có thể thực hiện được sự thống nhất đất nước theo mô hình của Đức ở châu Âu...; có hiện tượng đáng ngại là xuất hiện những ý kiến “đánh giá lại lịch sử”; ngại viết, ngại nói về lịch sử Đảng, cho rằng viết về Đảng là “không khách quan”, “không khoa học”; đòi xem xét, đánh giá lại những vấn đề lịch sử, thậm chí còn hàm hồ cho rằng những nhân vật phản diện cũng là những “người yêu nước”(!?)... Những luận điệu xuyên tạc, những nhận định lệch lạc, sai lầm, ấu trĩ về lịch sử Đảng, lịch sử đấu tranh cách mạng, lịch sử dân tộc diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại, kéo dài với nhiều hình thức, nhiều biểu hiện, vừa ráo riết, vừa âm thầm; đáng quan ngại nhất là được che đậy dưới chiêu bài “khách quan”, “khoa học”.

Hiện nay, tận dụng lợi thế của các phương tiện truyền thông xã hội có hiệu ứng rất lớn, rất nhanh; sự kiểm duyệt thông tin khó khăn; có thể thực hiện từ xa, ít bị định chế bởi các biên giới cứng, các thế lực phản động, thù địch, phần tử định kiến triệt để lợi dụng kênh thông tin này để phát tán, tuyên truyền sai sự thật nhiều vấn đề lịch sử hòng gây hoang mang, dao động, hoài nghi, ngả nghiêng trong nhận thức, tư tưởng; kích động sự hận thù giữa nhóm người này với nhóm người kia, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hơn ai hết, các thế lực thù địch, phản động thừa biết rằng, xuyên tạc, bóp méo, bôi đen lịch sử Đảng chính là đánh phá trực tiếp vào cơ sở thực tiễn, cơ sở chính trị, vào nền tảng lịch sử của Đảng. Lịch sử thuộc về những gì đã qua, ngày càng ít người biết đến, nên việc bịa đặt, dàn dựng, đưa ra các “thuyết âm mưu”,... dễ dàng hơn rất nhiều so với tấn công vào các vấn đề hiện tại - những vấn đề mà tự kết quả, hiệu quả, các con số thống kê có thể lập tức phản bác những ý đồ, âm mưu đen tối. Do đó, các thế lực thù địch, phản động coi lịch sử là một địa hạt, mặt trận quan trọng để tấn công trực tiếp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Bài học từ sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu cho thấy, việc nhận thức không đúng về lịch sử, hoài nghi về lịch sử, xem xét lại lịch sử có thể gây ra những hậu quả khôn lường.

Nhận thức sâu sắc những vấn đề đó, trong giai đoạn hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam kịp thời đề ra đường lối, chủ trương và có sự chỉ đạo hành động đúng đắn, quyết liệt, là “kim chỉ nam” cho công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền lịch sử Đảng. Quan điểm của Đảng khẳng định rõ, việc củng cố, tăng cường nhận thức về lịch sử Đảng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân luôn là đòi hỏi thường xuyên, cấp bách, tất yếu trong công tác tư tưởng của Đảng; đồng thời, có vị trí rất quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 28-8-2002 của Ban Bí thư, “Về tăng cường và nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”, khẳng định: Nghiên cứu sâu sắc lịch sử Đảng là nhiệm vụ rất quan trọng nhằm làm rõ các chặng đường lịch sử và hoạt động đấu tranh của Đảng, tổng kết thực tiễn lịch sử dân tộc. Nghiên cứu lịch sử Đảng không chỉ nêu bật những thắng lợi, những thành tựu của cách mạng, mà còn phải chỉ ra, không tránh né, cả những sai lầm, khuyết điểm, làm sáng tỏ những bài học, những vấn đề lý luận của cách mạng Việt Nam, giáo dục truyền thống cách mạng của Đảng, bồi dưỡng tình cảm yêu nước, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ đổi mới. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, các cấp ủy từ Trung ương đến địa phương và toàn thể đảng viên nâng cao nhận thức, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng. Nghiên cứu, tổng kết lịch sử Đảng làm cho mọi cán bộ, đảng viên và toàn dân hiểu về Đảng, là giáo dục về Đảng; là tổng kết thực tiễn lịch sử, làm rõ lý luận về con đường cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm rõ bài học và lý luận về xây dựng Đảng là góp phần quan trọng vào công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng, lịch sử các đảng bộ địa phương và một số ngành và đoàn thể ở Trung ương do Bộ Chính trị, Ban Bí thư, ban thường vụ các cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo về mọi mặt.

Trước tình hình mới, nhất là trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng và bối cảnh cuộc đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc lịch sử ngày càng quyết liệt, công tác nghiên cứu, tuyên truyền lịch sử Đảng đứng trước những yêu cầu, thử thách mới. Ngày 18-1-2018, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW, “Về tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng” với những yêu cầu mạnh mẽ, đặc biệt nhấn mạnh phải đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức, trước hết là của người đứng đầu, về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng; chủ động đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc lịch sử Đảng.



PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 Với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước ta, lợi dụng internet và mạng xã hội, thời gian qua, một số cá nhân, tổ chức phản động đã “mượn gió bẻ măng”, lộng ngôn xuyên tạc, phủ nhận thành quả đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Những ý kiến xuyên tạc lạc lõng, ác ý

Những năm gần đây, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, diễn biến phức tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn; chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Đại dịch Covid-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết quốc gia hơn hai năm qua.

Sự kiện Nga thực hiện chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine cũng tác động nhiều mặt đến đời sống chính trị và an ninh quốc tế. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông của một số quốc gia Đông Nam Á tiếp tục diễn biến phức tạp.

Lợi dụng bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, đường lối đối ngoại là một mặt trận mà họ quyết liệt chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành ngoại giao Việt Nam.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, nổi cộm như: “Chân trời mới media”, “Hội anh em dân chủ”... đã xuất hiện những quan điểm, ý kiến của cái gọi là “luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”, “người Việt yêu nước”... dưới các hình thức “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn cho Nhà nước Việt Nam”, “phản biện”, “kiến nghị”... nhằm phê phán, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt như: RFA, VOA, RFI, BBC... còn bịa đặt rằng “đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. Rồi họ đưa ra "lời khuyên" Việt Nam nên bỏ chính sách quốc phòng “4 không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”...

Sự nguy hại của những luận điệu phản động nêu trên dễ gây ra sự hoang mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và đường lối đối ngoại Việt Nam “đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống và bản sắc ngoại giao đó càng được bồi đắp, phát huy, tỏa sáng.

Từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện quan điểm, phương châm của đường lối đối ngoại, đó là: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” (Đại hội VII); “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội IX); “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI, Đại hội XII).

Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Những năm qua, trước các diễn biến phức tạp của thời cuộc, quan hệ ngoại giao của Việt Nam đã góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một số nước lớn tuy có lúc trải qua thăng trầm nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp của Việt Nam và luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời quyết tâm, kiên trì, kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều này luôn được cộng đồng quốc tế ủng hộ mạnh mẽ.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng, Nhà nước ta nói chung, trong đó có chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không” nói riêng là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đường lối đó có cơ sở lý luận, khoa học, thực tiễn, cơ sở pháp lý vững chắc, có sự tham khảo ý kiến của các tầng lớp nhân dân một cách dân chủ, công khai.

Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước, đặc biệt là các nước lớn luôn có xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau như: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ... Do đó, những luận điệu cho rằng việc “đi theo”, “liên minh” với nước này để chống nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo không những phản động, sai lầm mà còn thể hiện tư tưởng yếu hèn, trái với phương châm đối ngoại thêm bạn, bớt thù của Đảng ta.

Để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, trước hết cần bảo đảm tuyệt đối vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác ngoại giao. Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội, được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện đại hội của Đảng thời kỳ đổi mới. Thực tiễn đã minh chứng, đường lối, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tạo dựng một mạng lưới quan hệ rộng khắp, tranh thủ được nhiều yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, cần tăng cường hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia đối ngoại trong nghiên cứu, tham mưu, đóng góp vào việc xây dựng chính sách và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Tích cực đổi mới nội dung, phương thức thông tin đối ngoại, ứng dụng hiệu quả thành tựu công nghệ thông tin, truyền thông để tăng cường thông tin, quảng bá về đất nước, con người, thành tựu của Việt Nam và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta.

Cùng với những giải pháp căn cơ trên, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, cần chủ động phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá đường lối đối ngoại của Đảng. Kiên quyết không để các thế lực thù địch, cơ hội tập hợp lực lượng, gây rối chính trị, làm mất an ninh trật tự, gây rối loạn lòng dân, ảnh hưởng tới lợi ích đất nước.

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, internet, mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter, Telegram...), các cuộc hội thảo, hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội về những vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền, đối ngoại...

Tuyệt đối không để xảy ra sơ hở khiến kẻ thù có thể lợi dụng xâm nhập, thu thập bí mật, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch, kích động, xuyên tạc phá hoại đường lối đối ngoại đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta./.



TẠO LẬP "THẾ GIỚI SỐ AN TOÀN, LÀNH MẠNH CHO TRẺ EM"

 Sự phát triển của công nghệ thông tin, internet đã mang lại nhiều lợi ích cho trẻ em nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ và rủi ro cho các em. Một báo cáo nghiên cứu của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) cho thấy, cứ năm trẻ em và thanh, thiếu niên, thì có một người bị bắt nạt trên mạng. Đáng lo ngại, 3/4 trong số đó không biết tìm kiếm sự giúp đỡ ở đâu...

Thời gian qua, Đảng, Nhà nước cũng như cả hệ thống chính trị đã vào cuộc mạnh mẽ để bảo vệ tốt hơn cho trẻ em trên môi trường internet. Có thể thấy, hệ thống pháp luật về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng đã được Việt Nam quan tâm xây dựng, tạo cơ sở pháp lý quan trọng, như: Luật Trẻ em, Luật An toàn thông tin mạng, Luật Tiếp cận thông tin...

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một số văn bản quan trọng nhằm bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, như: Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030; Chương trình bảo vệ và hỗ trợ trẻ em tương tác lành mạnh, sáng tạo trên môi trường mạng giai đoạn 2021-2025. Bên cạnh đó, Việt Nam và các nước ASEAN đã thống nhất thông qua Tuyên bố về Bảo vệ trẻ em khỏi tất cả các hình thức bóc lột và lạm dụng trực tuyến trong ASEAN (năm 2019) và Tuyên bố về xóa bỏ bắt nạt trẻ em trong ASEAN trong đó có bắt nạt trẻ em trên môi trường trực tuyến (năm 2021).

Tuy nhiên, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, internet bên cạnh những lợi ích mà trẻ em nhận được qua việc học tập, giải trí..., thì trẻ em cũng đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ tiềm ẩn. Một trong những nguy cơ đó là việc trẻ em bị xâm hại qua môi trường mạng nguy hiểm không kém đời thực, những nội dung, hình ảnh được phát tán trên môi trường mạng có thể hiện hữu bất cứ lúc nào, gây tổn thương dai dẳng cho trẻ em.

“Theo ước tính trên thế giới, theo bất kỳ thời điểm nào trong ngày thì có khoảng 750 nghìn đàn ông đang tìm kiếm tình dục trực tuyến với trẻ em, con số này bằng 4 lần dân số của quận Ba Đình (Hà Nội) và hơn 3 triệu tài khoản đang được đăng ký trên 10 trang web lạm dụng tình dục trẻ em nguy hiểm nhất trên các trang web đen. Đây là con số đáng sợ. Do đó cần có hành động khẩn cấp” - Đây là thông tin đáng báo động được bà Lesley Miller, Phó Trưởng đại diện UNICEF tại Việt Nam chia sẻ tại hội nghị Hội thảo “Trẻ em trong thế giới số - Giải quyết rủi ro và thúc đẩy cơ hội” do Cục Trẻ em (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội) phối hợp với UNICEF tổ chức mới đây.

Theo báo cáo của Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em 111, năm 2022, Tổng đài tiếp nhận gần 420 cuộc gọi về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng và 18 lượt thông báo về các kênh/video clip có nội dung độc hại đối với trẻ em. Còn riêng năm tháng đầu năm 2023, Tổng đài tiếp nhận 128 cuộc gọi về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng và 3 lượt thông báo về các kênh/video clip có nội dung độc hại đối với trẻ em. Trong 128 cuộc gọi về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng có 124 cuộc gọi tư vấn, chiếm 3,6% trong số cuộc gọi tư vấn chuyên sâu của Tổng đài và 4 ca kết nối, can thiệp cho trẻ em bị xâm hại trên môi trường mạng. Đáng chú ý, trong 124 cuộc gọi tư vấn, có tới 30 cuộc gọi liên quan đến xâm hại tình dục trẻ em trên môi trường mạng, chiếm 24,2%...

Chia sẻ về những giải pháp nhằm bảo vệ, giải quyết các rủi ro mà trẻ em có thể gặp phải và thúc đẩy cơ hội phát triển lành mạnh cho trẻ em trong thế giới số, ông Nguyễn Ngọc Anh, chuyên gia Chương trình Bảo vệ trẻ em, Quỹ UNICEF tại Việt Nam cho biết: Qua đại dịch Covid-19, các gia đình và trẻ em phụ thuộc internet nhiều hơn để duy trì việc học tập, kết nối với cộng đồng, xã hội, kéo theo đó thì tình trạng trẻ em bị ảnh hưởng tiêu cực cũng cao hơn.

Những gì xảy ra trong môi trường trực tuyến phản ánh xã hội nói chung, cũng như những mối nguy hiểm mà trẻ em phải đối mặt trong gia đình, trường học, cộng đồng - những nơi đáng lý phải là môi trường an toàn cho trẻ em. “Vì vậy, các chiến lược giải quyết vấn đề bắt nạt trực tuyến, xâm hại và bóc lột trên mạng phải là một hợp phần của các chiến lược bảo vệ trẻ em rộng hơn nhằm giải quyết các hành vi bạo lực, xâm hại và bóc lột khác đang diễn ra thông qua các phương thức khác nhau” - ông Nguyễn Ngọc Anh nhấn mạnh. Bên cạnh đó, hợp tác và điều phối giữa các bên liên quan là chìa khóa thành công.

Nhấn mạnh cách tiếp cận đa bên rất quan trọng, theo ông Nguyễn Ngọc Anh, để bảo vệ trẻ em một cách hiệu quả, nhiều bên liên quan cần phải tham gia hành động: Chính phủ, xã hội dân sự, các chuyên gia làm việc với trẻ em, cha mẹ và bản thân trẻ em, cơ quan truyền thông. Hiện nay, UNICEF và Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) xây dựng Hướng dẫn bảo vệ trẻ em trong môi trường mạng dành cho doanh nghiệp, trong đó, đề ra các giải pháp mà các doanh nghiệp có thể thực hiện để bảo vệ và tôn trọng trẻ em, cũng như để các em sử dụng internet lành mạnh, sáng tạo.

Để bảo vệ và giảm thiểu những nguy cơ mà trẻ em có thể đối mặt trên môi trường internet, Cục trưởng Trẻ em Đặng Hoa Nam cho rằng, cần chung tay để tạo lập cuộc sống, môi trường thế giới số ngày càng an toàn, lành mạnh hơn với trẻ em. Thời gian tới, cần đánh giá nhanh và ở tầm chiến lược, dự báo, những kinh nghiệm, bài học của Việt Nam và quốc tế để có các giải pháp cụ thể hơn, thiết thực hơn nhằm bảo vệ trẻ em an toàn trên môi trường mạng, cũng như thúc đẩy các cơ hội để trẻ em có thể tham gia tích cực hơn trên môi trường mạng.../.


PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG CỘNG SẢN CẦM QUYỀN VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

 

Vấn đề Đảng Cộng sản cầm quyền, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và mối quan hệ giữa hai thành tố này trong hệ thống chính trị luôn bị các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước ra sức xuyên tạc, chống phá.

Việc nhận diện và đấu tranh vạch trần những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc về vấn đề này tuy không mới nhưng luôn có tính thời sự, bởi “chiêu trò cũ” nhưng “thủ đoạn mới” rất tinh vi, khó lường. Vì vậy, cần đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của chúng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Bằng những hình thức, phương tiện khác nhau, chúng xuyên tạc rằng: Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng thực chất “Đảng bao biện làm thay Nhà nước” và rằng “Chính phủ, Quốc hội làm theo sự chỉ đạo của đảng”, các tổ chức chính trị - xã hội khác trong hệ thống chính trị đều do Đảng lập nên và “theo đuôi đảng”…

Thực chất, những luận điệu trên là nhằm xuyên tạc mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản cầm quyền và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam với mục đích chính trị rõ ràng: Tạo “dư luận” làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; gây mất ổn định chính trị - xã hội, dẫn tới rối loạn, khủng hoảng và sụp đổ; thay đổi thể chế chính trị, xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và các thành tố khác trong hệ thống chính trị...

Nhận diện vấn đề trên là một hoạt động khó khăn, phức tạp. Bởi lẽ, chúng sử dụng những phương thức rất tinh vi, như: Cấu kết giữa các tổ chức, lực lượng lưu vong bên ngoài với các tổ chức, lực lượng, phần tử phản động, cơ hội chính trị trong nước. Bên ngoài, chúng đẩy mạnh các hoạt động “diễn biến hòa bình”, thông qua các hoạt động ngoại giao, như giao lưu kinh tế, văn hóa, đầu tư, viện trợ để hậu thuẫn, kích động chống phá bên trong làm chuyển hóa nội bộ. Trong nước, các tổ chức, lực lượng phản động, phần tử cơ hội chính trị tăng cường các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc; cung cấp thông tin cho các tổ chức, lực lượng bên ngoài; công khai chống phá, thách thức chính quyền; móc nối, nhận tài trợ từ bên ngoài, lập hội, nhóm chống đối trên internet, mạng xã hội, lôi kéo cán bộ, đảng viên, trí thức, văn nghệ sĩ, hưu trí, luật sư... tham gia.

Từ việc nhận rõ âm mưu, thủ đoạn, bản chất, phương thức và những biểu hiện cụ thể của những luận điệu xuyên tạc, chống phá về mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản cầm quyền và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, chúng ta khẳng định rằng, đó là những luận điệu xuyên tạc, vu cáo, bịa đặt, hoàn toàn sai trái, không có cơ sở.

Về mặt lý luận, chúng ta biết rằng, đảng cầm quyền là khái niệm thuộc về khoa học chính trị, dùng để chỉ một đảng chính trị đại diện cho giai cấp đang nắm quyền lực và lãnh đạo chính quyền nhà nước để tổ chức, quản lý đất nước và xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền” để chỉ rõ nguồn gốc, bản chất và nhấn mạnh vị thế, vai trò của Đảng với tư cách là tổ chức đảng duy nhất trong hệ thống chính trị ở Việt Nam nắm giữ quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền... phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Ở Việt Nam từ trước đến nay chưa có một đảng chính trị nào được tổ chức chặt chẽ, khoa học, được nhân dân hết lòng ủng hộ, giúp đỡ ngay từ khi mới ra đời như Đảng Cộng sản Việt Nam.

Vấn đề “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” lần đầu tiên được nêu ra tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (ngày 29-11-1991) và tiếp tục được khẳng định trong các văn kiện khác của Đảng qua các kỳ đại hội. Tại Hội nghị Trung ương 6, khóa XIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”. Theo đó, mục tiêu tổng quát là: “Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”.

Vai trò cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng được quy định trong Hiến pháp và Pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đảng cầm quyền thông qua sự lãnh đạo các cơ quan công quyền chứ không tự mình biến thành Nhà nước, đứng trên Nhà nước hoặc làm thay Nhà nước. Thực tế này bác bỏ quan điểm sai trái, thù địch khi đồng nhất quyền lực của Đảng với quyền lực của Nhà nước và mưu toan phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Đến lượt mình, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phát huy vai trò là trung tâm của hệ thống chính trị, sử dụng hệ thống pháp quyền xã hội chủ nghĩa để điều hành đất nước, quản lý xã hội và quản lý các tổ chức đảng, thanh tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của các đảng viên và các tổ chức đảng, kiểm soát sự hoạt động của Đảng trong khuôn khổ của hiến pháp và pháp luật.

Qua đây, có thể thấy rằng sự lãnh đạo của Đảng không phải là “độc đoán, chuyên quyền”, vì bên cạnh đó có sự tác động to lớn trở lại của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị. Điều này bác bỏ hoàn toàn luận điệu xuyên tạc rằng “Đảng đứng trên pháp luật”; Nhà nước, Quốc hội và các tổ chức chính trị - xã “theo đuôi đảng”, làm theo sự chỉ đạo của Đảng.

Về mặt thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng hơn 93 năm qua, đặc biệt là sau hơn 35 năm đổi mới, Đảng luôn xác định phương châm tiến hành đổi mới đồng bộ, đổi mới chính trị gắn với đổi mới kinh tế, đổi mới hệ thống chính trị cho từng bước đi với mỗi chặng đường thích hợp. Nhờ vậy, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.

Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, trở thành nước đang phát triển, hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ và sâu rộng. Kinh tế tăng trưởng cao và ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hóa, xã hội có bước phát triển mới; đời sống vật chất lẫn tinh thần của nhân dân từng bước được nâng lên; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được củng cố, kiện toàn; độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững và phát huy. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực ngày càng được nâng cao.

Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng: Vai trò cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, xã hội có những mặt, những khâu chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới. Trong mối quan hệ với tổ chức hoạt động của Nhà nước, vẫn còn tình trạng chồng chéo và buông lỏng quản lý nên hiệu quả lãnh đạo của Đảng vẫn chưa được phát huy ở mức tốt nhất; chưa phân rõ chức năng, quyền hạn giữa Đảng lãnh đạo với Nhà nước quản lý; bộ máy Đảng, bộ máy hành chính còn cồng kềnh, nhiều tầng nhiều nấc làm cho việc quản lý chưa thật nhanh nhạy và hiệu quả; vẫn còn những khe, kẽ để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng xuyên tạc chống phá.

Trong những năm tiếp theo, để tiếp tục đấu tranh vạch trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá về mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản cầm quyền và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong hệ thống chính trị. Từ đó, làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, các lực lượng, cán bộ, đảng viên và nhân dân về mối quan hệ tự nhiên, máu thịt không thể tách rời giữa Đảng - Nhà nước - nhân dân.

Để thực hiện tốt biện pháp này, nội dung tuyên truyền, giáo dục phải có trọng tâm, trọng điểm, phải là những nội dung cơ bản, cốt lõi của mối quan hệ để dễ nhớ, dễ thực hiện trong đấu tranh. Chú trọng giáo dục đường lối, quan điểm của Đảng trong giải quyết mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong hệ thống chính trị. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục thật nghiêm túc, sát với từng đối tượng, bảo đảm chặt chẽ, phù hợp và có chất lượng, nhưng không máy móc, sơ cứng và tránh được sự hình thức.

Hai là, thường xuyên nhận diện, kịp thời đấu tranh vạch trần những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản cầm quyền và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong điều kiện mới. Đây là biện pháp cần được tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm phát hiện những âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch, phản động. Từ đó, có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo và tiến hành đấu tranh phản bác kịp thời, tránh để biến tướng, kéo dài sẽ dẫn đến gặp nhiều khó khăn, phức tạp trong đấu tranh và hiệu quả không cao.

Để thực hiện tốt biện pháp này, cần thực hiện đồng bộ nhiều nội dung, trong đó phải đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận ở các trung tâm, viện nghiên cứu, các học viện, nhà trường trong cả nước. Đặc biệt, phát huy vai trò, trách nhiệm của các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành có trình độ lý luận chuyên sâu, có tri thức và kinh nghiệm trong đấu tranh tư tưởng, lý luận.

Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng để đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, lấy cơ quan tuyên giáo các cấp và lực lượng 35 làm nòng cốt. Đây là biện pháp quyết định đến chất lượng, hiệu quả của việc đấu tranh phản bác những luận điệu về mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản cầm quyền và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đó là sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo; cơ quan hướng dẫn chỉ đạo, điều hành, quản lý; cơ quan nghiên cứu; đội ngũ các nhà khoa học, chuyên gia; cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình...; trong đó, lấy cơ quan tuyên giáo các cấp và lực lượng 35 làm nòng cốt, chủ công để thực hiện đấu tranh đúng, trúng và hiệu quả.

Bốn là, bảo đảm tốt việc trang bị cơ sở vật chất, công cụ, phương tiện và công tác chính sách, bảo đảm môi trường thuận lợi cho công tác đấu tranh. Để bảo đảm đấu tranh hiệu quả, cần tăng cường đầu tư trang thiết bị, công nghệ, phương tiện cho các lực lượng tham gia đấu tranh, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho họ trong đấu tranh, nhất là trên không gian mạng, không gian báo chí, tuyên truyền và định hướng dư luận. Bên cạnh đó, cũng cần quan tâm đúng mức đến lực lượng trực tiếp, trực diện đấu tranh, gồm cả bảo đảm thông tin nội dung, chỉ đạo định hướng, các điều kiện bảo đảm vật chất và tinh thần... Trong đó, cần chú ý đến việc động viên khen - thưởng, chế độ chính sách bảo đảm nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và hiệu quả đấu tranh của lực lượng này.

Những quan điểm sai trái, thù địch về mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản cầm quyền và Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thuộc về cuộc đấu tranh ý thức hệ, nó diễn ra lâu dài, với nhiều phương thức, thủ đoạn thâm độc. Cho dù trong thực tiễn, chúng ta đã giải quyết mối quan hệ này tốt đến đâu thì chúng vẫn ra sức chống phá và không ngừng xuyên tạc. Cho nên, vấn đề nằm ở chỗ, chúng ta nhận thức được mặt tích cực, khắc phục những nhược điểm, hạn chế và có giải pháp đúng đắn giải quyết tốt mối quan hệ mật thiết này chính là cơ sở khoa học để đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch./.


NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA NGÀY QUỐC TẾ THIẾU NHI 01/6

 

Quốc tế thiếu nhi 1/6 được biết đến là ngày Tết dành cho trẻ em. Đây là dịp để trẻ được vui chơi, nhận những món quà ý nghĩa từ người thân. Tuy nhiên, lịch sử ra đời của ngày lễ này không phải ai cũng biết.

1. Lịch sử ra đời:

Vào rạng sáng ngày 1/6/1942, quân phát xít Đức bao vây làng Li-đi-xơ (Tiệp Khắc), chúng bắt 173 người đàn ông, 196 người phụ nữ và trẻ em. Tại đây, chúng đã tàn sát 66 người và đưa 104 em thiếu nhi vào trại tập trung, 88 em bị chết trong các phòng hơi độc, 9 em khác bị đưa đi làm tay sai cho bọn phát xít. Làng Li-đi-xơ không còn một bóng người.

Hai năm sau, ngày 10/6/1944, phát xít Đức lại bao vây thị trấn Ô-ra-đua (Pháp), chúng dồn 400 người vào nhà thờ, trong đó có nhiều phụ nữ và hơn 100 trẻ em, phóng hỏa đốt cháy một cách thảm thương.

Để tưởng nhớ đến hàng trăm trẻ em vô tội đã bị Đức Quốc Xã sát hại nhẫn tâm, năm 1949 Liên đoàn Phụ nữ dân chủ Quốc tế đã quyết định lấy ngày 1/6 hàng năm làm ngày quốc tế bảo vệ thiếu nhi, nhằm đòi chính phủ các nước phải nhận trách nhiệm về đời sống thiếu nhi, đòi giảm ngân sách quân sự để tăng ngân sách giáo dục, bảo vệ và chăm sóc thiếu niên, nhi đồng. Kể từ năm 1950, ngày 1/6 hàng năm trở thành ngày của thiếu nhi.

2. Ngày Quốc tế thiếu nhi ở Việt Nam:

Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em - Văn kiện pháp lý Quốc tế đầu tiên đề cập toàn diện đến các quyền trẻ em dựa trên nguyên tắc trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ và giúp đỡ đặc biệt.

Ở nước ta, ngay sau khi giành được độc lập, ngày 1/6 và Tết Trung thu (15/8 âm lịch) hàng năm đã thật sự trở thành ngày hội vui chơi tưng bừng của thiếu nhi cả nước.

Ngày Quốc tế Thiếu nhi đầu tiên (1/6/1950) trong giai đoạn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta đang trải qua thời kỳ cam go ác liệt nhất, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn nghĩ tới thiếu nhi cả nước và gửi thư chúc mừng các cháu thiếu niên, nhi đồng.

Từ đó, hàng năm cứ đến ngày Tết thiếu nhi và Tết Trung thu, thiếu nhi cả nước lại hân hoan đón thư chúc mừng của Bác Hồ.

PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÔNG TRÌNH “LÒNG DÂN - Ý ĐẢNG"

 

Sáu giờ sáng ngày 4-9-1969, trên sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam đã truyền đi bản Thông cáo đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Quốc hội, Hội đồng Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam báo tin cho đồng bào và chiến sĩ cả nước biết: Bác Hồ đã từ trần. Tin Bác Hồ-Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời đã chạm đến trái tim của toàn dân, làm xáo trộn tất cả sinh hoạt của đất nước.

Sinh thời, Người không muốn một sự tôn thờ, sùng bái cá nhân nào. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người còn căn dặn: “Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”(1). Nhưng trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam, ai cũng muốn lưu giữ hình ảnh Bác Hồ trong trái tim, lập bàn thờ Bác ngay trong gia đình. Bác đi theo thế giới của người hiền vào đúng thời điểm khói lửa ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, nỗi đau thương vô hạn ấy đã trở thành động lực mạnh mẽ để người dân cả nước đứng lên.

Thấu hiểu sâu sắc và thể theo nguyện vọng rất thiết tha của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết định: “Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch, chúng ta phải thực hiện đến mức tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng mộ của Người”(2). Quyết định của Bộ Chính trị đã đáp ứng ước nguyện của mọi người dân Việt Nam là được tận mắt trông thấy Bác, được thể hiện tấm lòng tôn kính và đời đời biết ơn đối với Người. Đặc biệt là đồng bào và chiến sĩ miền Nam đang ngày đêm trực tiếp đối mặt với quân thù mà chưa một lần được gặp Bác. Bạn bè khắp nơi trên thế giới mỗi khi tới Việt Nam cũng có dịp vào Lăng chiêm ngưỡng Bác-người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.Việc thiết kế và chuẩn bị thi công xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tiến hành khẩn trương ngay từ đầu năm 1970. Ngày 2-9-1973, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khởi công xây dựng. Bộ Quốc phòng và Bộ Kiến trúc được giao là lực lượng chủ công, nòng cốt trong quá trình tổ chức thi công. Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đã cử những chuyên gia giỏi sang Việt Nam giúp ta xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, coi việc giúp đỡ Việt Nam là nghĩa vụ, tình cảm quốc tế cao cả của những người cộng sản. Ngày 29-8-1975, chỉ sau hơn hai năm kể từ ngày khởi công xây dựng và sau hơn 3 tháng miền Nam hoàn toàn giải phóng, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được khánh thành trọng thể.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một kỳ đài lịch sử của thế kỷ 20, là công trình của tình hữu nghị Việt Nam-Liên Xô (nay là Liên bang Nga); công trình của “Lòng dân-ý Đảng”; của tinh thần đoàn kết toàn dân tộc. Một kỳ quan vĩ đại, một công trình có giá trị lịch sử, văn hóa, chính trị to lớn không phải ở sự nguy nga, tráng lệ mà bởi ở đó đang giữ gìn và phát huy một tư tưởng, đạo đức, phong cách của một con người đã đi vào sử sách của dân tộc và nhân loại trên thế giới, là biểu tượng, niềm tin của nhân dân Việt Nam.

Thấm thoát đã gần 54 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩnh biệt chúng ta và 48 năm khánh thành Công trình Lăng của Người, dòng người vào Lăng viếng Bác vẫn dài vô tận. Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, từ ngày 19-5-2001, nghi lễ chào cờ hằng ngày đã được tiến hành trang trọng trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hình ảnh của Tổ quốc với lãnh tụ được hòa quyện vào nhau, càng tôn thêm giá trị văn hóa, tinh thần và ý nghĩa chính trị của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.Từ khi mở cửa Lăng vào ngày 29-8-1975 đến nay, đơn vị đã đón tiếp, phục vụ chu đáo, an toàn gần 70 triệu lượt người, trong đó có hơn 10 triệu lượt khách quốc tế đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; hàng nghìn hoạt động quan trọng của Đảng, Nhà nước; các buổi mít tinh, diễu binh, diễu hành mừng những ngày lễ lớn của dân tộc; các sinh hoạt chính trị, văn hóa, nghệ thuật, giáo dục tư tưởng của những tổ chức chính trị, đoàn thể... nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, “Uống nước nhớ nguồn”; về thân thế, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lan tỏa tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tới toàn thể nhân dân và bạn bè quốc tế.

Mỗi dịp vào Lăng viếng Bác, trước anh linh của Người, mỗi chúng ta luôn cảm nhận được sự tinh thông, xúc động, lòng biết ơn sâu sắc, kính trọng Bác vô cùng và khắc ghi lời Bác dạy, quyết tâm phấn đấu, nỗ lực, khắc phục mọi khó khăn, nguyện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách, đi theo con đường mà Bác đã chọn. Đặc biệt, với lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam, gánh trên vai trách nhiệm cao cả được Đảng, Nhà nước, nhân dân tin yêu, được Bác tin tưởng giao phó, mỗi cán bộ, nhân viên, chiến sĩ đều đồng lòng, quyết tâm, nguyện cống hiến hết mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng mà Đảng và Bác đã chọn, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, giàu đẹp, nhân dân được ấm no, hạnh phúc, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ.Trong thực hiện nhiệm vụ chính trị đặc biệt: Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh của Ban Quản lý Lăng, Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, luôn được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ. Trong những năm qua, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, nhân viên, công chức, viên chức, người lao động của Ban Quản lý Lăng, Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng luôn nỗ lực phấn đấu vươn lên từng bước làm chủ vững chắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt, hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” xứng đáng với niềm tin yêu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân dành cho cán bộ, chiến sĩ, nhân viên, công chức, viên chức, người lao động bên Lăng Bác.



CẢI THIỆN LƯƠNG BỘ ĐỘI

 

Phát biểu tại phiên họp Quốc hội chiều 31-5, đại biểu Trịnh Xuân An (đoàn Đồng Nai) đề nghị cần tiếp tục quan tâm lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đầu tư thích đáng để xây lực lượng vũ trang, xây dựng Quân đội ngày càng vững mạnh, tạo điều kiện để Quân đội thực hiện tốt 3 chức năng (đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất), vừa tham gia phát triển kinh tế-xã hội, vừa bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng. Đặc biệt, cần chú trọng hỗ trợ về thu nhập, tiền lương cho cán bộ, chiến sĩ yên tâm công tác. Đại biểu Trịnh Xuân An dẫn chứng, mức lương của đồng chí quân nhân chuyên nghiệp (QNCN) lái xe tăng chỉ bằng một nửa thu nhập của tài xế xe công nghệ Grab-như vậy thì rất thiệt thòi...

Trăn trở của đại biểu Quốc hội cũng là tâm tư, nguyện vọng, mong mỏi của cán bộ, chiến sĩ toàn quân cùng tất cả người thân, gia đình và hàng triệu người hiểu thực tế cuộc sống, công tác, làm nhiệm vụ đặc thù, đặc biệt của cán bộ, chiến sĩ Quân đội.

Mặc dù Đảng, Nhà nước đã rất quan tâm đến Quân đội, nhân dân hết lòng yêu thương, sẻ chia với Quân đội, nhưng những vất vả, gian khổ, hy sinh của bộ đội và gia đình họ, cho dù trong thời bình cũng không thể kể hết. Không chỉ trực 24/24 giờ tại đơn vị mà bộ đội phải luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống, sẵn sàng làm nhiệm vụ ứng cứu, giúp đỡ nhân dân phòng, chống thiên tai, cứu hộ-cứu nạn, khắc phục các sự cố, thảm họa... trong bất kể thời gian, địa điểm, sự hiểm nguy nào. Phần lớn quân nhân cùng gia đình chịu rất nhiều thiệt thòi về tình cảm vì bộ đội thường biền biệt xa nhà, ít được gặp bố mẹ, vợ con, ngay cả khi ốm đau, hoạn nạn... Bộ đội cũng không thể chọn nơi công tác và chọn việc nhẹ nhàng; sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì, luôn xông pha vào những nơi gian khổ, nguy hiểm nhất-nhiều đồng chí đã không thể trở về. Lao động của Quân đội là lao động xương máu!

Thế nhưng, thu nhập và thực tế mức sống của đội ngũ sĩ quan, QNCN, nhất là những quân nhân tuổi dưới 40, không bằng người làm nghề tự do như thợ xây, thợ mộc, thậm chí còn không bằng người đánh giày, rửa xe, bán hàng nước vỉa hè...

Thoạt nghe tưởng bộ đội "sướng vì lương cao". Nhưng hiện nay tổng lương của sĩ quan thiếu tá đã 15 năm công tác chỉ khoảng 12 triệu đồng/tháng, trừ tiền ăn (vì phải trực, làm việc 24/24 giờ tại đơn vị) và các khoản phải nộp theo quy định của pháp luật thì chỉ còn gần 10 triệu đồng. Mức thu nhập này không bằng làm thợ xây với tiền công từ 400.000 đến 500.000 đồng/8 giờ làm việc, thấp hơn cả sinh viên mới ra trường làm trong các doanh nghiệp ở gần nhà.

Thu nhập của sĩ quan cấp úy, của các đồng chí QNCN còn thấp hơn! Rất khó tránh khỏi tâm tư khi các thượng tá, đại tá đã 30 năm cống hiến, công tác xa nhà mà lương chưa bằng tân cử nhân làm việc trong các doanh nghiệp trả tiền công tương xứng với cống hiến của người lao động.

Điều không phải ai cũng biết, đó là: Ngoài tiền lương, đại đa số quân nhân không có khoản thu nhập khác, cũng không thể làm thêm, làm giúp việc nhà; đồng thời, việc công tác xa đã phát sinh rất nhiều chi phí: Đi lại, thuê người trông con nhỏ, đưa đón con đi học, gia đình làm việc gì cần đến người đàn ông cũng phải thuê; nhiều đồng chí lấy vợ xa quê còn phải thuê nhà, tiết kiệm đến lúc nghỉ hưu cũng chưa mua được mảnh đất an cư (dù pháp luật đã quy định từ lâu, nhưng sĩ quan, QNCN vẫn chưa được hưởng phụ cấp nhà ở; số được hỗ trợ về nhà ở xã hội và được mượn, thuê nhà công vụ cũng rất ít)... Phải chăng vì thế mà sĩ quan, QNCN thường vất vả và nghèo hơn bạn cùng trang lứa? Chưa kể việc bộ đội đưa vợ con đi du lịch, đi chơi thì... hiếm vô cùng!

Chính thực tế trên đã khiến nhiều sĩ quan, QNCN khó lấy vợ, số thí sinh đăng ký học các trường Quân đội ngày càng giảm, ít người giỏi có nguyện vọng vào bộ đội... Đây là điều rất đáng suy ngẫm, đáng lo, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức mạnh của Quân đội!

Vẫn biết Bộ đội Cụ Hồ luôn có phẩm chất cao đẹp là sẵn sàng cống hiến, hy sinh, vì nhân dân quên mình...

Vẫn biết Đảng, Nhà nước, nhân dân luôn quan tâm chăm lo cho Quân đội nói chung và đời sống của cán bộ, chiến sĩ nói riêng.

Tuy nhiên, thực tiễn đời sống, thu nhập của sĩ quan, QNCN đang có nhiều khó khăn, bất cập, cần sớm giải quyết để bảo đảm công bằng xã hội, đồng thời giúp các quân nhân yên tâm công tác; quan trọng hơn là tạo động lực thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào Quân đội-nhân tố có vai trò quyết định xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Quy luật sinh tồn dân tộc ta từ buổi bình minh lịch sử là dựng nước đi đôi với giữ nước. Muốn giữ được nước thì phải lo giữ từ khi nước chưa nguy. Nhìn ra thế giới thì thấy, việc chăm lo quân đội, củng cố quốc phòng vừa là nhiệm vụ chiến lược, vừa là đòi hỏi cấp bách!


KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC Ở VIỆT NAM

 Mới đây, một tờ báo mạng có địa chỉ ở nước ngoài đăng bài viết “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: Thay đổi thể chế”, với những nội dung lật lọng, đả kích, cho rằng: Việt Nam từ nhiều năm qua đề ra quyết tâm chống tham nhũng nhưng vẫn có hàng trăm cán bộ cấp cao bị kỷ luật do rơi vào tham nhũng, tiêu cực. Liệu có diệt được tham nhũng trong thể chế hiện hành hay không? Rồi tác giả bài viết “hiến kế”, ở Việt Nam muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi hoàn toàn cơ chế hiện tại; mà trực tiếp là phải thực hiện đa đảng lãnh đạo; rồi ở Việt Nam nên có sự cạnh tranh lãnh đạo giữa các đảng phái mới có thể phát hiện được “ung nhọt” của nhau...

Cùng với đó, chúng còn vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam đang ở thế “lưỡng nan đối nghịch” với hàm ý chống tham nhũng nhưng ngại thay đổi thể chế chính trị,... Chúng còn chủ ý tung lên mạng xã hội nhiều bài viết, clip có nội dung bôi nhọ, phủ nhận nỗ lực và kết quả đấu tranh PCTNTC ở Việt Nam trong thời gian qua; cho rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam đã và đang ra sức phát động PCTNTC nhưng hoàn toàn không thành công; thậm chí, vấn nạn này ngày càng gia tăng rộng khắp... rồi quy chụp hiện tượng thành bản chất, cho rằng chế độ một Đảng lãnh đạo – chế độ xã hội chủ nghĩa là cha đẻ của tham nhũng...

Thực chất, đây là những chiêu trò tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch, nhằm gây hoài nghi, làm mất lòng tin trong nhân dân vào các cấp lãnh đạo, hệ thống chính quyền từ Trung ương đến cơ sở...

Nhìn lại dòng chảy lịch sử của dân tộc thấy rằng, công cuộc PCTNTC của Đảng ta luôn được đặc biệt chăm lo, nhưng ở một số thời điểm trước đây thì hiệu quả chưa thật toàn diện, vững chắc. Từ Đại hội XIII của Đảng đến này, lĩnh vực này đạt nhiều kết quả to lớn, toàn diện, vững chắc và có dấu ấn lịch sử. Với quyết tâm thực hiện "không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào", nhiều cán bộ bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trương ương Đảng, tướng lĩnh cao cấp trong lực lượng vũ trang... có sai phạm đều bị xử lý một cách nghiêm minh, đúng người, đúng tội. Đây là sự minh chứng thuyết phục cho quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước trong chống tham nhũng.

Quyết tâm chống “giặc nội xâm” của Đảng thể hiện rất rõ ở chỗ: Dù đã có Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI và XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhưng tại Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiếp tục ban hành Kết luận 21-KL/TW, ngày 25-10-2021 về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa”; với tinh thần đặt ra là: Đã kiên quyết rồi, phải kiên quyết hơn nữa, quyết liệt rồi quyết liệt hơn nữa, làm kiên trì, không có ngoại lệ, không có vùng cấm. Điều đó cho thấy, quyết tâm chính trị của Đảng ta là xuyên suốt, đặt ra những yêu cầu ngày càng cao hơn về tính chất, mức độ và mục đích cần đạt được; đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực bằng tinh thần “một mất - một còn” để bảo vệ Đảng, hệ thống chính trị và sự tồn vong của chế độ...

Như vậy, cuộc chiến chống “giặc nội xâm” của Đảng ta đạt được những bước tiến dài vững chắc, không chỉ được quần chúng tin tưởng, ghi nhận mà còn được bạn bè trên thế giới và tổ chức quốc tế đánh giá cao. Cũng bởi vậy, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Công tác PCTNTC đã trở thành xu thế không thể đảo ngược và có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả toàn diện, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội.

DỰ THẢO LUẬT PHÒNG THỦ DÂN SỰ: CHỦ ĐỘNG CHUẨN BỊ ĐỂ ỨNG PHÓ HIỆU QUẢ VỚI THIÊN TAI, THẢM HỌA!

     Dự thảo Luật Phòng thủ dân sự (PTDS) có nhiều quy định mới nhằm bảo đảm ứng phó kịp thời, hiệu quả trước thiên tai, thảm họa có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Những nội dung cơ bản của dự thảo Luật PTDS, như quy định về cấp độ PTDS, cơ quan chỉ đạo, điều hành PTDS, các biện pháp PTDS... đang được đông đảo người dân quan tâm!

Quy định cấp độ phòng thủ dân sự và các biện pháp ứng phó
     Tại Điều 6, dự thảo Luật PTDS quy định rõ cấp độ PTDS, đó là sự phân định mức độ áp dụng các biện pháp của từng cấp chính quyền trong phạm vi quản lý nhằm ứng phó, khắc phục kịp thời hậu quả sự cố, thảm họa; làm cơ sở xác định trách nhiệm, biện pháp, nguồn lực của các cấp chính quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đây là vấn đề mới mà các luật hiện hành chưa quy định; là cơ sở để phân công, phân cấp trách nhiệm của chính quyền từ cấp cơ sở đến Trung ương, nhằm phát huy phương châm “bốn tại chỗ” của địa phương; nâng cao tính chủ động của chính quyền các cấp trong việc nắm bắt thông tin, theo dõi, giám sát các nguy cơ, kịp thời phòng ngừa, ứng phó, khắc phục có hiệu quả với sự cố, thảm họa xảy ra trên phạm vi, địa bàn quản lý.

Thực tiễn công tác phòng, chống, ứng phó, khắc phục sự cố, thiên tai, dịch bệnh thời gian qua, nhất là đối với dịch Covid-19 cho thấy, nhiều biện pháp đã được quy định nhưng chưa đủ, chưa phù hợp và hiệu quả. Có biện pháp chưa được pháp luật quy định nhưng do yêu cầu cấp thiết đã được áp dụng và phát huy hiệu quả, như: Giãn cách xã hội, buộc sơ tán người, tài sản để bảo đảm an toàn; lực lượng phòng, chống, ứng phó, khắc phục thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh; nguồn lực, chính sách an sinh xã hội; khôi phục kinh tế... Vì vậy, rất cần có sự phân công, phân cấp trách nhiệm của chính quyền các cấp để kịp thời áp dụng những biện pháp phù hợp.

Căn cứ để xác định cấp độ PTDS được đưa ra tại khoản 3 Điều 6. Để xác định cấp độ PTDS, các cấp chính quyền trong phạm vi quản lý phải căn cứ vào 4 tiêu chí sau làm cơ sở quyết định các biện pháp ứng phó, khắc phục với các loại hình sự cố, thảm họa, bảo đảm kịp thời, hiệu quả: (1) Phạm vi ảnh hưởng, khả năng lan rộng và hậu quả có thể xảy ra của sự cố, thảm họa; (2) Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, xã hội, đặc điểm tình hình quốc phòng, an ninh của địa bàn chịu ảnh hưởng bởi sự cố, thảm họa; (3) Diễn biến, mức độ gây thiệt hại do sự cố, thảm họa gây ra; (4) Khả năng ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa của chính quyền địa phương và lực lượng PTDS.

Dự thảo Luật PTDS cũng quy định cụ thể từng cấp chính quyền được áp dụng biện pháp tương ứng ở mỗi cấp độ nhằm ứng phó kịp thời các tình huống PTDS. 

Ở cấp độ 1, dự thảo luật quy định chính quyền cấp huyện được áp dụng các biện pháp để ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa trong phạm vi quản lý, khi diễn biến, mức độ thiệt hại của sự cố, thảm họa vượt quá khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả của lực lượng chuyên trách và chính quyền cấp xã. Cụ thể, có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp sau: Sơ tán người, tài sản ra khỏi khu vực nguy hiểm; bảo đảm trang bị, phương tiện bảo vệ cá nhân, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nước uống và nhu yếu phẩm khác cho người trong khu vực xảy ra sự cố, thảm họa; cấm hoặc hạn chế người, phương tiện vào những khu vực nguy hiểm; phòng, chống cháy, nổ; bảo đảm an ninh trật tự tại khu vực xảy ra sự cố, thảm họa; tiêu tẩy, khử độc, khử khuẩn, vệ sinh môi trường; bảo vệ công trình PTDS đang bị sự cố.

Ở cấp độ 2, chính quyền cấp tỉnh được áp dụng các biện pháp ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa trong phạm vi địa bàn, khi diễn biến, mức độ thiệt hại của sự cố, thảm họa vượt quá khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả của chính quyền cấp huyện. Lúc đó sẽ áp dụng một số biện pháp được quy định tại Điều 23 dự thảo Luật: Thực hiện cách ly, giãn cách xã hội phù hợp với mức độ của sự cố, thảm họa trên địa bàn; chuyển đổi hình thức hoặc tạm dừng hoạt động của trường học, hoạt động tập trung đông người tại nơi công cộng, cơ sở vui chơi, giải trí, hoạt động kinh doanh dịch vụ không thiết yếu; hạn chế hoặc tạm dừng tổ chức lễ hội, nghi lễ tôn giáo, giải đấu thể thao, hoạt động văn hóa nghệ thuật, sự kiện có tập trung đông người; kiểm tra, kiểm soát hoạt động giao thông tại khu vực xảy ra sự cố, thảm họa; áp dụng các biện pháp bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng theo quy định của pháp luật.

PTDS cấp độ 3 là cấp độ cao nhất. Theo dự thảo luật, Thủ tướng Chính phủ sẽ áp dụng các biện pháp để ứng phó với tình huống PTDS trên địa bàn một hoặc một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khi diễn biến, mức độ thiệt hại của sự cố, thảm họa vượt quá khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả của chính quyền cấp tỉnh. Các biện pháp cụ thể được quy định tại Điều 23 và 24: Cách ly tập trung, giãn cách xã hội phù hợp với mức độ của sự cố, thảm họa trên địa bàn; tạm dừng một số hoặc tất cả hoạt động của trường học, hoạt động tập trung đông người tại nơi công cộng, cơ sở vui chơi, giải trí, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thiết yếu; tạm dừng tổ chức lễ hội, nghi lễ tôn giáo, sự kiện có tập trung đông người; hạn chế hoặc tạm dừng việc xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh nếu thấy cần thiết để bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ sức khỏe cộng đồng...

Thành lập cơ quan chỉ đạo, chỉ huy phòng thủ dân sự và quỹ phòng thủ dân sự
     Việc thành lập cơ quan chỉ đạo, chỉ huy PTDS được dự thảo luật quy định rõ tại Điều 35. Thực tế hiện nay, trong lĩnh vực liên quan đến PTDS ở Trung ương có 3 tổ chức, gồm: Ban chỉ đạo PTDS quốc gia; Ban chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai; Ủy ban Quốc gia ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn. Ban chỉ đạo PTDS quốc gia do Thủ tướng Chính phủ thành lập, giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong tổ chức, chỉ đạo, điều hành công tác PTDS trên phạm vi cả nước. PTDS là bộ phận của phòng thủ đất nước bao gồm các biện pháp phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh; phòng, chống, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa, thiên tai, dịch bệnh; bảo vệ nhân dân, cơ quan, tổ chức và nền kinh tế quốc dân.

Theo nội dung Quyết định số 55/QĐ-BCĐPTDS ngày 25-5-2022 của Trưởng ban chỉ đạo PTDS quốc gia (Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính), thì Ban chỉ đạo PTDS quốc gia có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ để bảo đảm phòng, chống, khắc phục hậu quả của chiến tranh; phòng, chống, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa, thiên tai, dịch bệnh; bảo vệ nhân dân, cơ quan, tổ chức và nền kinh tế quốc dân; hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và tài sản, ổn định đời sống nhân dân, đưa hoạt động kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trở lại bình thường. Do đó, việc hợp nhất 3 tổ chức: Ban chỉ đạo PTDS quốc gia; Ban chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai; Ủy ban Quốc gia ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn là cần thiết, bảo đảm tinh giản bộ máy chỉ đạo, chỉ huy hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tiễn. Tại Điều 35 của dự thảo luật đã quy định rõ về việc thành lập, chức năng, nhiệm vụ của Ban chỉ đạo PTDS quốc gia.

Đối với việc thành lập quỹ PTDS được quy định tại Điều 41 của dự thảo luật: Quỹ PTDS là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, được thành lập ở Trung ương và cấp tỉnh để huy động nguồn lực xã hội được hình thành trên cơ sở điều tiết từ các quỹ ngoài ngân sách có liên quan đến hoạt động PTDS, sử dụng để hỗ trợ hoạt động PTDS và ưu tiên hỗ trợ cho các hoạt động cứu trợ khẩn cấp về lương thực, nước uống, thuốc chữa bệnh và các nhu cầu cấp thiết khác cho đối tượng bị thiệt hại do sự cố, thảm họa; hỗ trợ tu sửa nhà ở, làm nhà ở, cơ sở y tế, trường học...

Quy định như vậy là phù hợp với tình hình thực tiễn, bảo đảm linh hoạt, kịp thời đáp ứng yêu cầu cấp thiết trong khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa. Bởi hoạt động PTDS có phạm vi rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực đời sống xã hội, xử lý những vấn đề quan trọng tầm quốc gia, trong thời gian cấp bách nhằm bảo vệ nhân dân, cơ quan, tổ chức và nền kinh tế quốc dân, như: Hoạt động phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh; phòng, chống, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa, thiên tai, dịch bệnh, môi trường... Hiện nay, có nhiều loại hình sự cố, thảm họa, nếu xảy ra mà không có nguồn tài chính được chuẩn bị sẵn thì sẽ khó thực hiện việc ứng phó, khắc phục hậu quả ngay nhằm góp phần hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng của sự cố, thảm họa.

Khi thành lập và có sẵn nguồn quỹ PTDS, thì dù sự cố, thảm họa bất ngờ xảy ra vẫn có ngay nguồn tài chính để thực hiện việc ứng phó, khắc phục, thực hiện các hoạt động cứu trợ khẩn cấp để giảm thiểu thiệt hại. Ví dụ, khi đại dịch Covid-19 bùng phát sẽ không phải thành lập quỹ vaccine phòng, chống Covid-19 mà vẫn có nguồn lực bảo đảm kịp thời cho việc này; nếu xảy ra động đất nghiêm trọng như tại Thổ Nhĩ Kỳ vừa qua cũng có ngay quỹ PTDS để ứng phó, khắc phục hậu quả và hỗ trợ nhân đạo...


Theo báo QĐND.
Yêu nước ST.

VƯỚNG MẮC KHIẾN CÁN BỘ KHÔNG DÁM LÀM NẰM TRONG SỰ MÂU THUẪN CỦA LUẬT!

         Tranh luận với đại biểu Trần Quốc Tuấn (Trà Vinh), đại biểu Trần Hữu Hậu (Tây Ninh) nhất trí rằng đang có một nhóm cán bộ, công chức sợ sai, đùn đẩy trách nhiệm. Nhưng đại biểu Trần Hữu Hậu đưa ra những phân tích sâu hơn về nguyên nhân dẫn tới tình trạng cán bộ, công chức sợ sai, đùn đẩy trách nhiệm như thế. Đại biểu Trần Hữu Hậu (Tây Ninh) cho rằng, nếu trong thực thi công vụ, để làm tốt chức trách nhiệm vụ của mình mà có các quy định, hành lang pháp lý rõ ràng, phù hợp thì chắc chắn rằng phần đông công chức, viên chức sẽ chỉ cần nỗ lực, sáng tạo, tìm ra cách làm hiệu quả hơn, không có gì phải sợ.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay, trong không ít việc, nếu quyết định thực hiện để đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn, để đem đến hiệu quả cho dân, cho nước thì phải vi phạm các quy định hiện hành, pháp luật của Nhà nước. “Do vậy, những người thấy làm sai quy đinh, sai luật, dù vì lợi ích chung mà không biết sợ thì có lẽ là “điếc không sợ súng” hoặc thiếu ý thức tổ chức kỷ luật”, đại biểu Trần Hữu Hậu nói. 

Từ đó, đại biểu Trần Hữu Hậu nêu ý kiến, việc bảo vệ người dám nghĩ, dám làm có vẻ bất khả thi, bởi trong nhiều trường hợp như vậy là bảo vệ việc làm sai quy định, trái pháp luật. Khi ấy lại cần có việc bảo vệ người bảo vệ người dám nghĩ dám làm. Cứ theo bậc thang thì có thể phải lên đến Quốc hội, vì cái vướng mắc làm cho họ không dám nghĩ, dám làm nằm trong sự chưa phù hợp, sự mâu thuẫn của các luật hiện hành. 

“Cũng vì thế, việc cấp dưới hỏi xin ý kiến cấp trên, chờ chỉ đạo của cấp trên, thậm chí được giao nhiệm vụ rõ ràng rồi, nhưng càng đi sâu vào thực hiện càng thấy vướng, nên lại chuyển ngược lên cấp trên xin ý kiến rồi mới làm trở thành phổ biến”, đại biểu Trần Hữu Hậu phân tích.

Theo đại biểu Trần Hữu Hậu, nhìn lại việc xây dựng, ban hành chính nghị định về khuyến khích, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm dường như cũng gần như vậy. Về vấn đề này, Bộ Chính trị đã có Kết luận 14, Hội nghị Trung ương 6 đã có Nghị quyết 28, Quốc hội đã giao nhiệm vụ trong Nghị quyết 75 năm 2022, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ tại Phiên họp thường kỳ tháng 2 năm 2023 và Công điện 280 đã giao Bộ Nội vụ khẩn trương thực hiện dự thảo nghị định báo cáo Chính phủ trong tháng 6. 

“Việc định hướng và chỉ đạo là rất rõ ràng. Nhưng sau 3 lần chỉnh sửa dự thảo và lấy ý kiến, Bộ Nội vụ thấy vướng rất nhiều quy định của pháp luật nên đang tham mưu, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội để có nghị quyết thí điểm khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm. Sau đó, Chính phủ mới ban hành nghị định”, đại biểu Trần Hữu Hậu nói.

Các cơ quan đều làm đúng, nhưng việc nóng hổi của dân, của nước lại đóng băng
Từ những phân tích trên, đại biểu Trần Hữu Hậu cho rằng, cần làm sao để cán bộ, công chức, viên chức các cấp không phải dám nghĩ, dám làm, không cần cấp trên phải khuyến khích, bảo vệ. Cán bộ, công chức, viên chức các cấp cần tập trung công sức và trí tuệ để năng động, sáng tạo thực hiện công việc của mình hiệu quả nhất cho dân, cho nước trong khuôn khổ các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Muốn như vậy, khi phát hiện luật, quy định chưa phù hợp thì tập trung sửa ngay với quy trình sao cho chặt chẽ, nhưng đơn giản, ngắn gọn.

Đại biểu Trần Hữu Hậu bày tỏ với phần trả lời chất vấn của Thủ tướng Chính phủ với câu hỏi của chính đại biểu: “Luật là do chúng ta. Trong thực tiễn đang vướng, mà vướng là do chúng ta đặt ra. Vậy thì chúng ta phải sửa”. 

Tuy nhiên, đại biểu Trần Hữu Hậu nhấn mạnh, để sửa những bất hợp lý do chính chúng ta đặt ra lại quá khó khăn. Có không ít những vấn đề khi đưa ra bàn, mỗi cán bộ, mỗi cơ quan liên quan đều có lý lẽ của mình và dường như đều đúng. Đáng tiếc là trong không ít trường hợp, khi hầu hết các cá nhân, đơn vị liên quan đều đúng, đều cố gắng thực hiện tốt nhất, đúng nhất theo chức năng, quyền hạn của mình thì có những việc nóng hổi của dân, của nước bị đóng băng.

"Chúng ta không thể chấp nhận những hiện tượng phi logic, ngược quy luật như vậy. Cái đúng đi với cái đúng phải mang đến sự thông thoáng, phải giúp đất nước phát triển, đáp ứng sự mong mỏi của nhân dân. Cái đúng đi với cái đúng không thể dẫn tới sự trì trệ, đến việc làm nghèo đất nước", đại biểu Trần Hữu Hậu nói.

Chúng ta đã đưa ra được giải pháp đúng là ban hành nghị quyết của Quốc hội nhằm tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, hay một luật sửa nhiều luật. Nhấn mạnh như vậy, đại biểu Trần Hữu Hậu đề nghị Quốc hội xem xét để có cách làm, trình tự, thủ tục phù hợp hơn nữa kịp thời tháo gỡ những vướng mắc phát sinh. Như vậy, cán bộ, công chức, viên chức bớt phải dám nghĩ, dám làm, tập trung sức lực, trí tuệ để năng động, sáng tạo làm tốt hơn chức trách, nhiệm vụ của mình trong sự thông thoáng của các quy định của pháp luật./.
Theo Báo QĐND.
Yêu nước ST.

"THI ĐUA LÀ YÊU NƯỚC, YÊU NƯỚC TA PHẢI THI ĐUA": ĐỘNG LỰC NỘI THÂN, SỰ TRÂN ÂN CAO ĐẸP!

     75 năm trước đây, ngày 11-6-1948, Bác Hồ ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc nhằm cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua khó khăn, thách thức, phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ “kháng chiến và kiến quốc”, quyết tâm đánh thắng giặc Pháp xâm lược. Lời kêu gọi của Bác thấm vào trái tim, khối óc của cán bộ, chiến sĩ; làm cho cả dân tộc Việt Nam “rũ bùn, đứng dậy sáng lòa”; bất kỳ già, trẻ, trai gái; sĩ, nông, công thương, binh; người giàu, nghèo, lớn, nhỏ; bất kỳ làm việc gì, ai ai cũng nhiệt thành hưởng ứng lời kêu gọi thiêng liêng của Bác; ra sức thi đua, trở thành chiến sĩ trên mặt trận kháng chiến, kiến quốc.
     “Lời kêu gọi Thi đua ái quốc” của Bác đã tiếp thêm sức mạnh, niềm tin cho các tầng lớp nhân dân, trở thành động lực mạnh mẽ để quy tụ, tập hợp, phát huy mạnh mẽ sức mạnh lòng dân, đưa vận nước, khí thế cách mạng ngày càng hưng vượng. Nhờ đó, các làng xã, xóm thôn, miền xuôi, miền ngược đều bừng lên khí thế mới, tinh thần mới, thi đua giết giặc lập công; quân và dân ta liên tiếp giành nhiều thắng lợi quan trọng, khiến kẻ thù hồn bay, phách lạc; thất bại thảm hại.
     Đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta, tinh thần thi đua ái quốc đã thấm sâu vào từng hoạt động quân sự; thể hiện sâu sắc trong phong trào Thi đua Quyết thắng. Nhờ đó, đã cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ phấn đấu vươn lên; chịu dựng gian khổ, hy sinh; “khoét núi, ngủ hầm; mưa dầm, cơm vắt; máu trộn bùn non; gan không núng, chí không sờn”. Vi thế, toàn quân đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. 
     Nhìn lại 75 năm thực hiện “Lời kêu gọi Thi đua ái quốc” của Bác; chúng ta thật phấn khởi, tự hào báo công với Bác, với Đảng. Phong trào Thi đua Quyết thắng trong toàn quân đã trở thành nét đẹp văn hóa quân sự, luôn đồng hành cùng với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ chính trị; đã đạt được thành quả thiết thực. Đó là phong trào thi đua: “Giết giặc lập công” trong kháng chiến chống Pháp, “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và “Thi đua quyết thắng” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kết quả phong trào Thi đua Quyết thắng thật to lớn, đã xuất hiện hàng nghìn đơn vị, hàng vạn cá nhân anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ quyết thắng, chiến sĩ thi đua, góp phần đưa chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam lên tầm cao mới, tỏa sáng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, trở thành nhân tố chính trị - tinh thần to lớn, ghi dấu ấn đậm nét trong sự phát triển, trưởng thành của Quân đội ta; đọng lại mãi mãi hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” cao quý.
     Những năm gần đây, công tác thi đua - khen thưởng có những bước đổi mới quan trọng; toàn quân đã gắn kết chặt chẽ với phong trào thi đua của cả nước; đã triển khai thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Chỉ thị số 788-CT/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương về Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” gắn với thực hiện Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới” và nhiều phong trào thi đua, cuộc vận động của các ngành, các đơn vị, địa phương nơi đơn vị đứng chân tổ chức. 
     Trong vườn hoa ngát thơm dâng Bác, tiêu biểu là các phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”; “Giành ba đỉnh cao Quyết thắng”, “Xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” của Thanh niên Quân đội; “Hai giỏi” của Phụ nữ Quân đội; “Năng suất, chất lượng, hiệu quả” của Công đoàn Quốc phòng; “Dạy tốt, học tốt, rèn nghiêm” của các nhà trường Quân đội và Cuộc vận động “Quản lý, khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông” của ngành Kỹ thuật, “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Quân đội chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau”… làm cho phẩm chất nhân cách, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” thêm ngời sáng, mãi ấm áp trong lòng dân.

     Phong trào Thi đua Quyết thắng trong Quân đội luôn là động lực to lớn, mạnh mẽ thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ toàn quân phấn đấu vượt khó vươn lên, hoàn thành tốt các chức năng, nhiệm vụ; góp phần xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh gắn với xây dựng củng cố “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân trong tình hình mới.
     Bên cạnh kết quả đạt được, công tác thi đua - khen thưởng và phong trào Thi đua Quyết thắng trong toàn quân thời gian qua còn một số hạn chế. Đó là nhận thức về vị trí, vai trò của công tác thi đua - khen thưởng của một số cấp ủy, chỉ huy chưa đầy đủ, còn biểu hiện hình thức, chưa quan tâm đúng mức đến việc phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng điển hình tiên tiến. Việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết phong trào thi đua của cơ quan chức năng chưa thường xuyên... Vì thế, đã làm giảm tác dụng của phong trào Thi đua Quyết thắng ở một số cơ quan, đơn vị.
Trước tác động của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, yêu cầu, nhiệm vụ mới của Quân đội ngày càng cao; để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, cán bộ, chiến sĩ toàn quân phải phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc Lời kêu gọi Thi đua ái quốc của Bác Hồ, đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng, tạo động lực mới, tinh thần mới để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước; luôn xứng đáng là “Bộ đội Cụ Hồ”, bộ đội của nhân dân. 
     Vì vậy, trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, toàn quân cũng cần phải thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Bác; tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về vị trí, vai trò của công tác thi đua - khen thưởng theo tư tưởng của Bác. Nâng cao nhận thức trách nhiệm của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy đơn vị và đội ngũ cán bộ các cấp về xây dựng mục tiêu, động cơ, ý thức phấn đấu, quyết tâm thi đua cho bộ đội với các hình thức phong phú, sinh động, phù hợp nhằm tuyên truyền hiệu quả công tác thi đua - khen thưởng tại đơn vị. Trong đó, lấy gương người tốt, việc tốt để giáo dục lẫn nhau có ý nghĩa động viên, khích lệ rất quan trọng. Cùng với đó, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với công tác thi đua - khen thưởng và phong trào Thi đua Quyết thắng.
     Trên cơ sở quán triệt sâu sắc Lời kêu gọi Thi đua ái quốc của Bác và căn cứ vào tính chất, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị cần đề ra nội dung, mục tiêu, chỉ tiêu thi đua cụ thể, phù hợp; thực hiện tốt “bốn cùng”: cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng chia sẻ trong đơn vị. Trong đó, chú trọng phát huy tốt vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ chủ trì và vai trò của cơ quan chính trị, Hội đồng thi đua - khen thưởng có ý nghĩa quyết định. Cùng với đó, rà soát, bổ sung, đổi mới phương thức tổ chức hoạt động thi đua - khen thưởng và phong trào Thi đua Quyết thắng, nhất là nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu, chỉ tiêu thi đua, xây dựng động cơ và quyết tâm thi đua đúng đắn, bồi dưỡng nhân sự là cơ sở để đột phá vào nhiệm vụ đột xuất, mặt yếu kém kéo dài, việc mới, việc khó. Kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực trong công tác thi đua - khen thưởng.
     Gắn chặt thi đua với khen thưởng, tạo động lực thúc đẩy phong trào Thi đua Quyết thắng trong các cơ quan, đơn vị; chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội và gia đình, hậu phương của cán bộ, chiến sĩ; bảo đảm cho các điển hình tiên tiến được phấn đấu, rèn luyện và phát triển lâu dài trong môi trường Quân đội; góp phần bảo đảm cho phong trào Thi đua Quyết thắng trong từng đơn vị đi đúng hướng, phát triển bền vững; mang lại hiệu quả thiết thực./.
Môi trường ST.

THẾ GIỚI VẤN ĐỀ -SỰ KIỆN: ĐỐI THOẠI SHANGRI-LA 2023: CĂNG THẲNG MỸ -TRUNG VÀ CẤU TRÚC AN NINH KHU VỰC!

     Đối thoại Shangri-La 2023 sẽ thảo luận vai trò các nước lớn như Mỹ và Trung Quốc với an ninh khu vực cũng như các cơ chế hợp tác an ninh nhằm duy trì hòa bình, ổn định khu vực!
     Đối thoại Shangri-La 2023, hay còn được gọi là Hội nghị cấp cao an ninh khu vực châu Á, diễn ra từ ngày 2 đến ngày 4-6 tại Singapore.
     Theo lịch trình, hội nghị sẽ thảo luận về vai trò của các nước lớn như Mỹ và Trung Quốc (TQ) với an ninh khu vực cũng như những cơ chế hợp tác nhằm duy trì hòa bình, ổn định cho khu vực.

Bộ trưởng Mỹ - Trung không gặp nhau: "Không bất ngờ"
     Đối thoại Shangri-La 2023 nóng với những tranh luận về căng thẳng Mỹ - Trung, trong bối cảnh TQ thẳng thừng từ chối lời mời của Mỹ. Giới quan sát đang chờ xem liệu sẽ diễn ra cuộc gặp giữa Bộ trưởng Quốc phòng TQ Lý Thượng Phúc và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd J. Austin bên lề Đối thoại hay không.
     Cựu quan chức quốc phòng Mỹ Drew Thompson - giảng viên cao cấp của Trường Chính sách công Lý Quang Diệu (ĐH Quốc gia Singapore) - nói rằng ông sẽ không bất ngờ khi không có cuộc gặp giữa đại diện Bộ Quốc phòng Mỹ - Trung, theo đài CNBC.
     “Bất kỳ cuộc gặp nào giữa ông Austin và Lý sẽ trấn an các quốc gia khác trong khu vực, nhưng tôi không nghĩ nó sẽ thay đổi động lực an ninh hoặc hạn chế được bất ổn” - ông Thompson nói.
     Ông Thompson cũng cho rằng để sắp xếp được một cuộc gặp với phía TQ thì Mỹ phải đồng ý với những điều kiện của TQ.
     Ông Lý bị Mỹ trừng phạt kể từ năm 2018 với cáo buộc mua thiết bị quân sự của Nga. Các quan chức Lầu Năm Góc cho biết những điều này không ngăn cản ông Lý gặp ông Austin.
     Tuy vậy, phía TQ cho rằng các lệnh trừng phạt đối với các quan chức TQ là một trở ngại để cải thiện mối quan hệ. Bộ Quốc phòng TQ đề nghị Washington dỡ bỏ lệnh trừng phạt đối với ông Lý và “tạo điều kiện thuận lợi cho đối thoại”, “ngay lập tức sửa chữa những hành vi sai trái” nếu muốn khôi phục liên lạc giữa quân đội hai nước.
     Theo GS Shen Dingli - chuyên ngành Quan hệ quốc tế tại ĐH Phúc Đán (TQ), TQ không muốn bị đánh giá thấp một khi gặp Mỹ, theo tờ The New York Times.
     “TQ muốn có một cuộc gặp dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau. Chúng tôi muốn Mỹ dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt và tìm kiếm một sự thỏa hiệp bằng cách nhượng bộ lẫn nhau” - GS. Shen nói.
     Các quan chức Mỹ muốn các đường dây liên lạc quân sự cởi mở với TQ. Vụ chiến đấu cơ TQ “tạt qua đầu” máy bay do thám Mỹ vào tuần trước cho thấy quân đội hai nước thường xuyên tuần tra các khu vực tranh chấp như Biển Đông, và có nguy cơ lớn xảy ra xung đột ngoài ý muốn.
     Tổng thống Mỹ Joe Biden đã từng nói về việc dựng lên các “lan can” để ngăn cạnh tranh giữa Mỹ và TQ dẫn đến khủng hoảng. Ông Austin cũng tỏ ra quan ngại khi phía TQ không muốn họp riêng bên lề Đối thoại Shangri-la và cho rằng việc thiếu liên lạc liên tục có thể dẫn đến “một sự cố có thể rất, rất nhanh chóng vượt tầm kiểm soát. Tuy nhiên, các quan chức TQ từ chối việc đối thoại và coi đây là nỗ lực của Mỹ nhằm ngăn chặn sự trỗi dậy của TQ.

Mạng lưới hợp tác an ninh dày đặc
     Theo ông Thompson, thế giới đang chứng kiện “sự xuất hiện của một cấu trúc an ninh khu vực” và “khu vực đang thực sự xích lại gần nhau vì lợi ích chung về an ninh và ổn định". Minh chứng là đã xuất hiện các sáng kiến hợp tác song phương và đa phương trong vài năm qua, đơn cử là việc nối lại Đối thoại Tứ giác an ninh (QUAD).
     Trao đổi với báo Pháp Luật TP.HCM, TS. Satoru Nagao của Viện nghiên cứu Hudson (Mỹ) cho rằng trong một thời gian dài hệ thống “trục và nan hoa” đã duy trì trật tự ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
     Trong hệ thống này, trung tâm là Mỹ và nhiều nan hoa là các đồng minh của Mỹ như Nhật, Úc, Đài Loan, Philippines, Thái Lan và Hàn Quốc. Tuy nhiên, với sự trỗi dậy mạnh mẽ và quyết đoán của TQ, đặc biệt là khi TQ chi tiêu rất nhiều cho quốc phòng thì dường như cấu trúc này dường như không đủ để duy trì an ninh khu vực.
     “Hệ quả là các mạng lưới hợp tác an ninh mới xuất hiện. Các đồng minh và đối tác của Mỹ hợp tác với nhau và chia sẻ gánh nặng an ninh với nhau. Nhiều thỏa thuận hợp tác an ninh song phương, ba bên, tứ giác hoặc đa phương khác, chẳng hạn như Mỹ-Nhật-Ấn, Nhật-Ấn-Úc, Úc-Anh-Mỹ, Ấn Độ-Úc-Indonesia, Ấn Độ-Úc-Pháp,...hay bộ tứ QUAD” - ông Satoru Nagao chia sẻ.
     Cũng bàn về vấn đề hợp tác nhóm này, trả lời phỏng vấn báo Pháp Luật TP.HCM, ThS Lục Minh Tuấn của nhóm nghiên cứu quốc tế của ĐH Ngoại ngữ – Tin học TP. Hồ Chí Minh cho rằng “sự xuất hiện các mô hình hợp tác gồm một số bên trực tiếp liên quan trong một vấn đề cụ thể (còn gọi là hợp tác nhóm) đại diện cho chủ nghĩa tiểu đa phương (minilateralism) thực tế không có gì mới ở khu vực này”.
     Có thể kể đến các cơ chế hợp tác như QUAD, AUKUS, cơ chế hợp tác tuần duyên giữa 5 nước ASEAN gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Brunei và Việt Nam (khối A5), Khu vực Tăng trưởng Đông ASEAN (BIMP-EAGA) hay tam giác phát triển CLV (Campuchia – Lào – Việt Nam), theo ThS Tuấn.
     “Sự tiếp tục phát triển của các chủ nghĩa tiểu đa phương thực tế chỉ giúp chuyên môn hóa và nâng cao các hợp tác đặc thù trong phạm vi một khu vực cụ thể thuộc nhóm các nước nhỏ có sự gắn kết địa lý hoặc cùng gặp thách thức an ninh chuyên biệt” - ThS Tuấn nhận định.

Quan hệ Mỹ - Trung có dấu hiệu tan băng?
     Gần đây, tại Hội nghị Thượng đỉnh G7 tại Hiroshima (Nhật), Tổng thống Mỹ Joe Biden đã dự đoán quan hệ Mỹ - Trung sẽ sớm tan băng.
     Mỹ và TQ cũng đã có nhiều cuộc gặp cấp cao và điều này dường như báo hiệu rằng hai nước đang cố gắng giảm căng thẳng, sau nhiều tháng các liên hệ cấp cao bị đóng băng làm dấy lên lo ngại về nguy cơ xảy ra xung đột, theo The New York Times.
     Hồi đầu tháng 5, Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Jake Sullivan đã gặp Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Văn phòng Ủy ban Công tác Đối ngoại Trung ương đảng Cộng sản TQ Vương Nghị tại Vienna (Áo).
     Sau đó, các quan chức thương mại cấp cao hai nước, đứng đầu là Bộ trưởng Thương mại Mỹ Gina Raimondo và Bộ trưởng Thương mại TQ Vương Văn Đào đã họp tại thủ đô Washington D.C. (Mỹ), đây là cuộc họp cấp nội các song phương đầu tiên của hai bên sau nhiều tháng.
     Tân Đại sứ TQ tại Mỹ Tạ Phong cũng đã đến Washington vào tuần trước, kết thúc khoảng thời gian vị trí này bị “bỏ trống” từ hồi tháng 1. Phát biểu khi đến Mỹ, ông hy vọng Mỹ sẽ đi cùng hướng, hợp tác với TQ để tăng cường đối thoại, quản lý sự khác biệt để mối quan hệ của chúng tôi sẽ trở lại đúng hướng./.

Yêu nước ST.