Thứ Bảy, 3 tháng 6, 2023

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH– LÃNH TỤ VĨ ĐẠI TRỌN ĐỜI HY SINH CHO ĐẤT NƯỚC VÀ HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN

 

        Hồ Chí Minh không chỉ để lại cho dân tộc ta một sự nghiệp cách mạng vĩ đại, mà còn để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta một di sản cao quý, đó là tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức cao đẹp, suốt đời hy sinh phấn đấu quên mình cho đất nước và hạnh phúc của nhân dân. Trong con người Hồ Chí Minh có đầy đủ phẩm chất hội tụ của một lãnh tụ thiên tài, đồng thời Người còn là hiện thân của một lãnh tụ kiểu mới của nhân dân: Vĩ đại mà không cao xa; thanh cao mà vô cùng giản dị, gần gũi, thân thiết và gắn bó với quần chúng; hết lòng, hết sức chăm lo cho sự nghiệp độc lập dân tộc, thống nhất đất nước; mong muốn xây dựng một nước Việt Nam mạnh giàu; nhân dân ta có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Người thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân và chính bản thân Người là tấm gương tiêu biểu.

Nhớ lại những năm, tháng đất nước ta bị đô hộ bởi giặc ngoại xâm, nhân dân cực khổ, lầm than chịu thân phận của kiếp người nô lệ, Hồ Chí Minh đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Vượt qua muôn trùng khó khăn, thử thách, Hồ Chí Minh đã hiến dâng trọn đời mình cho dân tộc, như Người đã tự sự: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo là vì mục đích đó”. Cả cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người chỉ có một tâm nguyện và ham muốn: “...ham muốn đến tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”; cho đến khi phải từ biệt thế giới này, Người chỉ tiếc: “...tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Chính ham muốn và mục đích vô cùng cao đẹp ấy, đã tạo cho Người một ý chí và nghị lực vô cùng mãnh liệt để: “Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”; đó là điểm tựa giúp Người vượt qua mọi khổ ải, khó khăn, dẫn dắt nhân dân ta đến bến bờ hạnh phúc. Hình ảnh của Hồ Chí Minh là hình ảnh của một lãnh tụ vĩ đại về trí tuệ lãnh đạo, mẫu mực về mối liên hệ thân thiết, gắn bó với nhân dân, hết lòng thương yêu nhân dân, dựa vào dân, vì “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, vì sức mạnh của nhân dân là vô địch, do đó phải “lấy dân làm gốc”. Người nói:

“Dễ mười lần không dân cũng chịu;

Khó trăm lần dân liệu cũng xong”.

Trên quan điểm đó, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở từ người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, đến mỗi cán bộ, đảng viên, đều phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, phải chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Người phân tích: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Cho nên, mỗi cán bộ, đảng viên phải làm tốt trách nhiệm: “là người lãnh đạo và là người đầy tớ thật sự trung thành của nhân dân”; cán bộ phải gần dân, hiểu nguyện vọng của dân, để kịp thời giúp đỡ và “giải quyết các mắc mớ ở nơi dân”. Người đả phá quyết liệt những tư tưởng quan liêu, xa dân, lên mặt “quan cách mạng”, cơ hội, cậy quyền thế, “đè đầu, cưỡi cổ nhân dân”.

Sinh thời, trên cương vị đứng đầu Đảng, Nhà nước, dù bận nhiều công việc, nhưng để hiểu dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn bố trí tiếp dân tại Phủ Chủ tịch; dành thời gian để đi xuống cơ sở, tìm hiểu, “lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người không quan trọng. Những chuyến công tác về địa phương trực tiếp làm việc với nhân dân, đã giúp Người nắm sát công việc, hiểu đúng tình hình, từ đó đưa ra những quyết định chỉ đạo đúng đắn, hợp lý, hợp tình, phù hợp với thực tiễn. Mặt khác, các cuộc gặp gỡ giữa Người với các tầng lớp đồng bào, là dịp để đồng bào trao đổi, bày tỏ tâm tư nguyện vọng với người đứng đầu Nhà nước, đồng thời là nguồn động viên to lớn đối với nhân dân, là cơ sở thắt chặt hơn niềm tin giữa Đảng với dân.

Với Hồ Chí Minh, không bao giờ Người coi mình đứng cao hơn nhân dân, mà chỉ tâm niệm suốt đời là người phục vụ trung thành và tận tuỵ của nhân dân, “như một người lính vâng mệnh quốc dân ra trước trận”. Đối với nhân dân, từ các vị nhân sĩ trí thức đến bà con lao động, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức vô song, là tượng đài toả ra ánh sáng của một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn, ai cũng thấy ở Người sự gần gũi, ấm áp tình thương và sự bao dung, nếp sống giản dị và đức tính khiêm nhường. Cuộc đời Người coi khinh sự xa hoa, không ưa chuộng những nghi thức trang trọng. Từ lúc làm thợ ảnh ở ngõ Côngpoăng (Pari –Thủ đô nước Pháp), đến khi làm Chủ tịch nước ở Thủ đô Hà Nội, Người vẫn sống một cuộc đời thanh bạch, tao nhã. Hòa bình lập lại, Người về Hà Nội, ngôi dinh thự của Phủ toàn quyền Đông Dương được lấy làm Phủ Chủ tịch, nhưng Người chỉ dùng khi tiếp khách là nguyên thủ nước ngoài. Ngôi nhà sàn đơn sơ, chỉ có hai phòng nhỏ là nơi Người vừa ở vừa làm việc. Phương tiện sinh hoạt của một vị Chủ tịch nước chỉ là một chiếc giường đơn, một tủ quần áo, một chiếc máy thu thanh, một đôi dép lốp, hai bộ ka-ki… một sự giản dị thật vĩ đại, bởi vì Người đã hy sinh tất cả cho Tổ quốc, cho nhân dân.

Nói về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, về tinh thần tận tuỵ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân của Người, Đảng ta khẳng định: “Cuộc đời của Hồ Chủ tịch trong như ánh sáng. Đó là tấm gương tuyệt vời về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng nhân đạo và yêu mến nhân dân thắm thiết, đạo đức chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị. Tư tưởng và đạo đức của Người mãi mãi soi sáng và nâng cao tâm hồn chúng ta”.

Thời gian đã hơn 50 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa, ghi nhớ công lao vĩ đại của vị lãnh tụ kính yêu, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tích cực thi đua lập thành tích, thiết thực chào mừng kỷ niệm 133 năm ngày sinh của Người; quyết tâm hoàn thành thắng lợi chỉ tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra. Nhớ đến Người, các thế hệ người Việt Nam mãi mãi tự hào về một con người bất tử, như Đảng ta đã khẳng định: “Dân tộc ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.

NGƯỜI ANH HÙNG 53 LẦN ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ "DŨNG SỸ DIỆT MỸ"

 Anh hùng Trịnh Tố Tâm sinh năm 1945, tại thôn Mỹ Cầu, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội). Năm 1965, ông viết thư xin gia nhập quân ngũ, tình nguyện vào chiến đấu tại chiến trường miền Nam, và được điều động vào chiến trường Quảng Trị - Thừa Thiên.

Từ năm 1967 đến năm 1970, Anh hùng Trịnh Tố Tâm tham gia chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên, ông đã chỉ huy đơn vị mình đánh 58 trận, diệt 1.500 tên địch (trong đó có 700 tên lính Mỹ), phá hủy 61 xe quân sự, đánh bật 19 đoàn tầu hỏa, đánh sập 28 cầu, cống. Riêng ông diệt 272 tên địch (trong đó có 185 lính Mỹ), bắn rơi và phá hủy 3 máy bay lên thẳng.

Với những chiến công lớn, Trịnh Tố Tâm đã được tặng thưởng 5 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng Nhất, 2 hạng Nhì, 2 hạng Ba) và 53 lần được công nhận là “Dũng sỹ”. Ngày 20-9-1971, Trịnh Tố Tâm được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh Hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Năm 1996, Anh hùng Trịnh Tố Tâm mắc bệnh hiểm nghèo do ảnh hưởng của chất độc hóa học trong thời gian tham gia chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên và qua đời hưởng Thọ 51 tuổi.




Anh hùng Trịnh Tố Tâm sinh năm 1945, tại thôn Mỹ Cầu, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội). Năm 1965, ông viết thư xin gia nhập quân ngũ, tình nguyện vào chiến đấu tại chiến trường miền Nam, và được điều động vào chiến trường Quảng Trị - Thừa Thiên.

Từ năm 1967 đến năm 1970, Anh hùng Trịnh Tố Tâm tham gia chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên, ông đã chỉ huy đơn vị mình đánh 58 trận, diệt 1.500 tên địch (trong đó có 700 tên lính Mỹ), phá hủy 61 xe quân sự, đánh bật 19 đoàn tầu hỏa, đánh sập 28 cầu, cống. Riêng ông diệt 272 tên địch (trong đó có 185 lính Mỹ), bắn rơi và phá hủy 3 máy bay lên thẳng.

Với những chiến công lớn, Trịnh Tố Tâm đã được tặng thưởng 5 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng Nhất, 2 hạng Nhì, 2 hạng Ba) và 53 lần được công nhận là “Dũng sỹ”. Ngày 20-9-1971, Trịnh Tố Tâm được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh Hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Năm 1996, Anh hùng Trịnh Tố Tâm mắc bệnh hiểm nghèo do ảnh hưởng của chất độc hóa học trong thời gian tham gia chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên và qua đời hưởng Thọ 51 tuổi.



KHÔNG GÌ LÀ KHÔNG THỂ NẾU NHƯ BẠN QUYẾT TÂM

Năm 2015 tốt nghiệp trung học phổ thông Làm việc cho hãng Honda. Thấy công việc vất vả nên bỏ. Năm 2016, Tuấn vào Cà Mau đi nuôi tôm thuê bị bạn bè chê bai là “a da nâu nuôi tôm “. Nên lại về quê học nghề điện công nghiệp...Và rồi lại thấy không ổn. Đến tháng 11 năm 2021, Tuấn quyết định tham gia khóa học Luyện thi tiếp viên hàng không. Để có tiền trang trải, Tuấn phải vừa học vừa chạy shiper. Tuy có hơi vất vả nhưng Tuấn vẫn rất kiên trì tham gia đầy đủ các buổi học. Đầu năm 2022, Tuấn trúng tuyển vị trí nhân viên mặt đất. Trong thời gian làm tiếp viên mặt đất. Tuấn đã thi lại TOEIC lần 2. Lần này, Tuấn đạt được 660 điểm, điều mà Tuấn rất tự hào.Tháng 7 năm 2022, Tuấn đã tham gia thi tuyển tiếp viên hàng không và cuối cùng ước mơ cất cánh bay lên bầu trời của Tuấn đã trở thành sự thật. Tuấn chính thức trở thành Tiếp Viên Hàng Không của hãng hàng không Vietnam Airlines. Tất cả những nỗ lực và sự kiên trì của Tuấn đã được đền đáp.

LỜI DẠY CỦA BÁC HỒ VỀ ĐẠO ĐỨC

 

Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính

Thiếu một mùa, thì không thành trời

Thiếu một phương, thì không thành đất

Thiếu một đức, thì không thành người.

CHIẾN ĐẤU ĐẾN VIÊN ĐẠN CUỐI CÙNG

 Anh hùng Dương Văn Nội (1932 – 1947) là người dân tộc Kinh, quê ở xã Tiên Tân, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Anh được giác ngộ sau khi theo bố mẹ lên Hà Nội tìm và tham gia cách mạng, làm đội viên đội giao thông liên lạc khu - Thăng Long, Hà Nội.

Tháng 3/1947, đơn vị của anh được giao nhiệm vụ chốt tại khu vực chợ Giang Xá, cách Hà Nội 16km để ngăn chặn quân Pháp lấn chiếm ra vùng tự do. Sáng 2/4/1947, Dương Văn Nội cùng các chiến sĩ trong trung đội phục kích đoàn xe chở quân của địch trên đê sông Đáy thuộc địa phận xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây.

Cuộc chiến diễn ra quyết liệt. Đơn vị của Dương Văn Nội đã phá hủy một số xe vận tải quân sự, tiêu diệt 50 tên địch, riêng anh diệt được 3 tên địch. Song do lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch, quân Pháp tràn lên đánh trả dữ dội. Anh hùng Dương Văn Nội đã bị địch bao vây, nhưng không đầu hàng mà chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và anh dũng hy sinh khi mới 15 tuổi. ST

 Ngày 05/06/1911 bác ra đi tìm đường cứu nước tại bến cảng Nhà Rồng với cái tên Văn Ba và nghề làm phụ bếp. Bác ra đi tìm đường cứu nước với một trái tim cháy bỏng : " Giành tự do cho đồng bào tôi , Độc lập cho tổ quốc tôi " Đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu " Đêm xa nước đầu tiên, ai nỡ ngủ .Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương. trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở , xa nước rồi càng hiểu nước đau thương ... " 


HUYỀN THOẠI VỀ NỮ ANH HÙNG QUÊ HƯƠNG ĐẤT ĐỎ

Võ Thị Sáu sinh năm 1933, tại huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, là một nữ du kích trong Chiến tranh Việt - Pháp ở Việt Nam, người nhiều lần thực hiện các cuộc mưu sát nhắm vào các sĩ quan Pháp và những người Việt cộng tác với chính quyền thực dân Pháp tại miền Nam Việt Nam.

Sau khi quân Pháp tái chiếm vùng Đất Đỏ vào cuối năm 1945, các anh trai của cô đã thoát ly gia đình, hoạt động kháng chiến cho phong trào Việt Minh. Cô đã bỏ dở việc học, ở nhà giúp mẹ cha kiếm sống và bí mật tiếp tế cho các anh, vốn công tác trong Chi đội Giải phóng quân của tỉnh Bà Rịa.

Năm 1946, cô theo anh trai là Võ Văn Me vào khu kháng chiến, và trở thành liên lạc viên của Đội Công an xung phong Đất Đỏ. Năm 1947, cô chính thức trở thành đội viên Công an xung phong Đất Đỏ khi mới 14 tuổi. Từ đó, cô tham gia nhiều trận tập kích bằng lựu đạn, ám sát các sĩ quan Pháp và Việt gian cộng tác với quân Pháp; đặc biệt là trận tập kích bằng lựu đạn tại lễ kỷ niệm Quốc khánh Pháp ngày 14 tháng 7 năm 1949 tại Đất Đỏ, gây được tiếng vang trong vùng.

Vào tháng 12 năm 1949, trong một chuyến công tác tại Đất Đỏ, cô đã bị quân Pháp bắt được. Một số tài liệu khác ghi cô bị bắt vào tháng 2 năm 1950, sau khi cô và đồng đội dùng lựu đạn tập kích giết chết Cả Suốt và Cả Đay, là hương chức người Việt cộng tác đắc lực với quân Pháp, ở ngay phiên chợ Tết Canh Dần tại chợ Đất Đỏ.

Sau khi bị bắt, cô lần lượt bị đưa đi thẩm vấn và giam giữ tại các nhà tù Đất Đỏ, khám đường Bà Rịa và khám Chí Hòa. Tháng 4 năm 1950, tòa án binh của quân đội Pháp đã đưa cô ra xét xử với tội danh làm chết một sĩ quan Pháp và 23 người Việt cộng tác với Pháp.

Vào thời điểm xử án, cô chưa tròn 18 tuổi, vì vậy các luật sư bảo vệ cô căn cứ vào điểm này để tranh biện nhằm đưa cô thoát khỏi án tử hình. Mặc dù vậy, tòa án binh Pháp vẫn tuyên tuyên án tử hình Võ Thị Sáu. ST

VÌ SAO?

 


Bạn hỏi vì sao đất nước này

Ngày đêm khói lửa vẫn hăng say

Tóc tang lòng vẫn không cay đắng

Gánh nặng đường xa chẳng chuyển lay?

Có lẽ nghìn năm đã dạn dày

Anh hùng xưa để giống hôm nay

Khổ đau nhiều mới yêu thương lắm

Quen vượt trùng dương lái vững tay.

Thù bạn đời nay có khác xưa

Nghĩa tình e sớm nắng chiều mưa?

Chợ trời thật giả đâu chân lý?

Hàng hoá lương tâm cũng thiếu thừa?

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.

Chuyện cô du kích xóm Lai Vu

Rắn quấn bên chân vẫn bắn thù:

“Mỹ hại trăm nhà, lo diệt trước

Rắn, mình em chịu, có sao đâu!”.

Chân lý, mặt trời soi sáng mãi

Lỗi lầm âu cũng bóng mây qua

Lương tâm đều vẫn trong như ngọc

Tình nghĩa anh em lại một nhà.

Thơ: Tố Hữu

Tháng 2/1967.

Lời Bác dạy ngày này năm 1952

 Ngày 04/6/1952

Lao động là sự nghiệp quang vinh, vẻ vang, vui thú và anh dũng”.

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Bài viết: “Đạo đức lao động”; đăng trên Báo Cứu quốc, số 2092, ngày 04 tháng 6 năm 1952: “Trước kia người ta cho lao động là việc nặng nề, xấu hổ. Nay lao động là sự nghiệp quang vinh, vẻ vang, vui thú và anh dũng”. Trong những năm kháng chiến, kiến quốc vô cùng khó khăn và gian khổ để đảm bảo cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân thi đua lao động thì kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công.

Lời kêu gọi: “Lao động là sự nghiệp quang vinh, vẻ vang, vui thú và anh dũng” có ý nghĩa to lớn, không chỉ động viên, cổ vũ tinh thần hăng say lao động của đồng bào cả nước mà còn khẳng định giá trị của lao động là vốn quý, lao động là thiêng liêng; lao động vừa tạo ra của cải vật chất, vừa phát triển con người toàn diện. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dân lao động cả nước đã nêu cao truyền thống cần cù, siêng năng ra sức ngày đêm lao động sản xuất nâng cao đời sống, bảo đảm lương thực cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp giành thắng lợi, mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Nhờ có đức tính siêng năng, cần cù lao động mà dân tộc ta, mỗi chúng ta không sợ khó, sợ khổ, biết bền bỉ, nhẫn nại trong học tập, lao động sản xuất…

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, là tư tưởng chỉ đạo, động viên, cổ vũ để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, lao động sáng tạo, tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Hơn 70 năm qua, cùng với thực hiện tốt chức năng của “đội quân chiến đấu, đội quân công tác”, quân đội ta luôn tích cực, chủ động thực hiện chức năng “đội quân lao động sản xuất” và thu được những kết quả quan trọng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn thấm nhuần lời dạy của Bác đẩy mạnh tăng gia sản xuất để tự túc phần nào, nhằm giảm bớt gánh nặng của nhân dân. Phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng và nắm vững chủ trương, quan điểm của Đảng, toàn quân tiếp tục phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng, thực sự là “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất” giỏi trong thời kỳ mới. Xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

st

Thứ Sáu, 2 tháng 6, 2023

Một số giải pháp xây dựng thế trận lòng dân trên không gian mạng

Ngày 10/8/2022, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược An toàn, An ninh mạng quốc gia, chủ động ứng phó với các thách thức từ không gian mạng đến năm 2025, tầm nhìn 2030 theo Quyết định số 964/QĐ-TTg. Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và mạng internet, không gian mạng đã trở thành một môi trường rất quan trọng cho hoạt động tình báo, phản gián và tấn công gián điệp. Việc xây dựng thế trận lòng dân trên không gian mạng giúp bảo vệ an ninh quốc gia, đảm bảo an toàn thông tin, tránh các hoạt động phá hoại, tấn công mạng và bảo vệ chủ quyền trên không gian mạng.Trên không gian mạng, "thế trận lòng dân" bao gồm việc xây dựng một mối quan hệ tốt giữa Đảng, chính phủ, các tổ chức chính trị và người dân thông qua các hoạt động truyền thông, giáo dục và tương tác trực tuyến. 

Một số giải pháp xây dựng thế trận lòng dân trên không gian mạng như sau:

Trước hết, cần phải nâng cao nhận thức của nhân dân về tầm quan trọng của việc xây dựng thế trận lòng dân trên không gian mạng. Điều này có thể được thực hiện thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục và hướng dẫn cho nhân dân về cách thức hoạt động trên mạng, từ đó giúp cho họ có thể tránh được những thông tin sai lệch, tin giả, đồng thời có thể đóng góp vào việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và nhà nước. Một số biện pháp cụ thể là:

- Cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác: Để nâng cao nhận thức của nhân dân về tầm quan trọng của việc xây dựng thế trận lòng dân trên không gian mạng, chính phủ và các tổ chức có liên quan cần cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về các mối đe dọa an ninh mạng, những hậu quả có thể xảy ra nếu không xây dựng được thế trận lòng dân trên không gian mạng.

- Tổ chức các cuộc tập huấn, đào tạo: Chính phủ và các tổ chức có liên quan nên tổ chức các cuộc tập huấn, đào tạo về an ninh mạng và xây dựng thế trận lòng dân trên không gian mạng cho cộng đồng, nhất là các đối tượng trẻ tuổi và người dân nông thôn.

- Sử dụng mạng xã hội, các kênh truyền thông: Sử dụng mạng xã hội và các kênh truyền thông là một cách hiệu quả để truyền tải thông điệp về tầm quan trọng của việc xây dựng thế trận lòng dân trên không gian mạng.

- Tăng cường hợp tác với các tổ chức phi chính phủ: Các tổ chức phi chính phủ có vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của nhân dân về vấn đề an ninh mạng. Chính phủ cần tăng cường hợp tác với các tổ chức này để tạo ra các chiến dịch thông tin hiệu quả và lan tỏa thông điệp đến cộng đồng.

- Xây dựng các chương trình giáo dục: Tạo ra các chương trình giáo dục về an ninh mạng và xây dựng thế trận lòng dân trên không gian mạng cho học sinh và sinh viên là một trong những giải pháp hiệu quả để nâng cao nhận thức của nhân dân về tầm quan trọng của việc xây dựng thế trận lòng dân trên không gian mạng.

- Tổ chức các hoạt động tuyên truyền: Các hoạt động tuyên truyền như cuộc thi, triển lãm hoặc các sự kiện có liên quan đến an ninh mạng và xây dựng thế trận lòng dân trên không gian mạng có thể được tổ chức để thu hút sự chú ý của cộng đồng và nâng cao nhận thức của họ.

Bên cạnh đó, xây dựng thế trận lòng dân trên không gian mạng cần đòi hỏi việc tăng cường giám sát và kiểm soát trên mạng, để đảm bảo rằng thông tin được truyền tải là đúng đắn, chính xác và đúng nguồn gốc. Các công cụ và kỹ thuật mới như máy tính, phần mềm, công cụ tìm kiếm và mạng xã hội đang được sử dụng để lan truyền thông tin sai lệch, phân biệt chủng tộc, tôn giáo, quốc gia và thậm chí cả những thông tin sai trái về Đảng và nhà nước.

Do đó, việc tăng cường giám sát và kiểm soát trên mạng là rất quan trọng. Điều này có thể được thực hiện thông qua các phương tiện công nghệ, giúp cho chính quyền và các cơ quan có thể giám sát và kiểm soát hoạt động của các cá nhân, tổ chức hoạt động trên mạng một cách chặt chẽ hơn.

Ngoài ra, cần phải đào tạo và cập nhật kiến thức cho các cán bộ, nhân viên trực tiếp tham gia vào việc giám sát, kiểm soát trên mạng. Điều này giúp họ có thể nắm bắt được các thông tin cần thiết và phát hiện ra các thông tin sai lệch, đồng thời giúp cho các cơ quan có thể đưa ra các biện pháp phù hợp để khắc phục.

Đồng thời, ngoài việc tăng cường giám sát và kiểm soát trên mạng, việc tuyên truyền, giáo dục trên mạng cũng rất quan trọng trong việc xây dựng thế trận lòng dân trên không gian mạng. Điều này có thể được thực hiện thông qua các trang thông tin điện tử, mạng xã hội, kênh truyền hìnhđể phổ biến thông tin về Đảng, nhà nước, chủ trương, chính sách, luật pháp và đạo đức.

Các hoạt động tuyên truyền, giáo dục trên mạng cần được thiết kế một cách khoa học, hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng nhân dân khác nhau, đảm bảo tính tương tác, tính giác quan tốt và tính thực tiễn. Ngoài ra, cần phải sử dụng các phương tiện truyền thông mới nhất để phát huy tối đa hiệu quả tuyên truyền, giáo dục trên mạng.

Đối với các trang thông tin điện tử, cần tạo ra các nội dung bài viết, video, hình ảnh mang tính chất sống động, gần gũi với cuộc sống của nhân dân, từ đó giúp cho nhân dân dễ tiếp thu và lưu giữ thông tin.

Đối với các mạng xã hội, cần phải thiết kế các trò chơi, thử thách, hay câu đố có tính giải trí cao, giúp người dân vui vẻ và thích thú trong quá trình tiếp nhận thông tin về Đảng, nhà nước, chủ trương, chính sách, luật pháp và đạo đức.

Ngoài ra, việc sử dụng kênh truyền hình, radio và các phương tiện truyền thông khác cũng rất quan trọng trong việc tuyên truyền, giáo dục trên mạng. Những kênh truyền thông này có thể đưa ra các chương trình đặc biệt, bản tin, phóng sự, tài liệu để giới thiệu về Đảng, nhà nước, chủ trương, chính sách, luật pháp và đạo đức.

Ngoài ra, việc tăng cường tuyên truyền, giáo dục trên mạng cũng phải được kết hợp với các hoạt động truyền thống như tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm, giao lưu trực tuyến để trao đổi, thảo luận và chia sẻ các kinh nghiệm, kiến thức về các vấn đề liên quan đến Đảng, nhà nước, chủ trương, chính sách, luật pháp và đạo đức.

Tầm quan trọng của việc xây dựng thế trận lòng dân trên không gian mạng

"Thế trận lòng dân” trên không gian mạng là sự tin tưởng của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; quản lý, điều hành của Nhà nước về phát triển, vận hành trong sạch, lành mạnh không gian mạng; là phương thức, động lực phát triển kinh tế, xã hội và các vấn đề xã hội trên không gian mạng mà không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của người dân.

Hiện nay, không gian mạng đang phát triển với tốc độ chóng mặt, có sự tham gia của rất nhiều người dùng trên toàn thế giới. Cùng với đó, có rất nhiều nội dung, thông tin được đăng tải lên mạng, từ các trang web, blog, diễn đàn, mạng xã hội, v.v. Tuy nhiên, không phải tất cả các thông tin đó đều mang tính chất tích cực và đúng đắn. Ngược lại, có rất nhiều thông tin sai lệch, thậm chí là hoàn toàn sai sự thật, với mục đích lôi kéo, dụ dỗ, hoặc gây chia rẽ trong xã hội.Các cuộc tấn công mạng của các nhóm tội phạm cũng đang trở thành mối đe dọa ngày càng lớn đối với các tổ chức và doanh nghiệp trên toàn thế giới. Ví dụ, vào tháng 5 năm 2017, cuộc tấn công Ransomware WannaCry đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho hàng nghìn cơ quan, tổ chức trên khắp thế giới, bao gồm cả các cơ quan chính phủ và các tổ chức giáo dục, y tế.

Trên không gian mạng, thông tin và tin tức có thể được chia sẻ một cách rất nhanh chóng. Tuy nhiên, điều đó cũng có thể dẫn đến sự lan truyền nhanh chóng của thông tin sai lệch và tin tức giả, gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho người đọc. Ví dụ, trong thời gian đại dịch Covid-19, đã có nhiều thông tin sai lệch và tin tức giả được chia sẻ trên mạng xã hội, gây ra sự hoang mang và lo ngại cho người dân.Không gian mạng ở Việt Nam đang phát triển rất nhanh, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại điện tử, dịch vụ trực tuyến và mạng xã hội.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đó là các vấn đề an ninh mạng đang trở nên phức tạp hơn, gây ra nhiều mối đe dọa và rủi ro cho an ninh quốc gia, an toàn thông tin và quyền lợi của người dân.Một trong những diễn biến chính trên không gian mạng ở Việt Nam hiện nay là tình trạng tấn công mạng. Các cuộc tấn công mạng có thể đến từ các hacker chuyên nghiệp, các nhóm tội phạm mạng, hoặc thậm chí là các quốc gia khác. Những cuộc tấn công này có thể nhằm vào các cơ quan chính phủ, các công ty lớn, ngân hàng, trang thông tin điện tử, hoặc thậm chí là các cá nhân. Mục đích của những cuộc tấn công mạng này thường là để đánh cắp thông tin, phá hoại hệ thống, hoặc gây ảnh hưởng đến uy tín và danh tiếng của các tổ chức, cơ quan hay cá nhân bị tấn công.

Ngoài ra, việc lợi dụng không gian mạng để phát tán các thông tin sai lệch, tin giả, thông tin phản động, hay các hình thức tác động thông tin khác đang trở thành vấn đề nghiêm trọng. Các tác động này có thể làm mất niềm tin của người dân vào Đảng và Chính phủ, và dẫn đến các rủi ro xã hội khác. Đã có việc sử dụng các tài khoản giả mạo để tung ra các thông tin sai lệch, phản động về các vấn đề nhạy cảm như chủ quyền biển đảo, biên giới... Các tài khoản giả mạo thường được tạo ra với tên, hình ảnh và thông tin cá nhân của người dân thật nhằm gây sự tin tưởng của người đọc.

Từ đó, các tin tức, bài viết, hoặc những phát ngôn thiếu chính xác, thiếu căn cứ được đăng tải trên các trang mạng xã hội, trang web tin tức hoặc diễn đàn để gây sự chú ý của người dùng mạng. Một số trường hợp, các tài khoản giả mạo còn được sử dụng để tạo ra các cuộc trò chuyện, thảo luận giả tạo nhằm gây ảnh hưởng đến quan điểm của người đọc hoặc đưa ra những ý kiến không có căn cứ để xuyên tạc, bôi nhọ những cá nhân, tổ chức, đảng phái cụ thể. Các hoạt động này không chỉ ảnh hưởng đến ý thức cộng đồng mà còn ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Do đó, việc xây dựng thế trận lòng dân trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam càng trở nên cấp bách.

Trong bối cảnh này, chính phủ và các tổ chức an ninh mạng đang nỗ lực để ngăn chặn các mối đe dọa an ninh mạng, đảm bảo an toàn thông tin và xây dựng thế trận lòng dân trên không gian mạng. Các biện pháp được áp dụng như kiểm soát các trang web, mạng xã hội, giám sát mạng, tăng cường đào tạo và nâng cao nhận thức về an ninh mạng.Với sự phát triển của công nghệ thông tin, việc lọc bỏ, ngăn chặn các thông tin sai lệch, có hại trên mạng càng trở nên khó khăn hơn. Việc này đòi hỏi sự hợp tác của nhiều bên, đồng thời cũng yêu cầu các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm cùng phối hợp nhau để đảm bảo sự an toàn trên không gian mạng.

Một số nhiệm vụ cấp bách về an ninh mạng và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng

 

Vấn đề phát triển và làm chủ không gian mạng đã trở thành một trong những nhiệm vụ cấp bách được nhiều quốc gia đặc biệt quan tâm. Chính vì vậy, bảo đảm an ninh mạng và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng đang là ưu tiên hàng đầu được thể hiện rõ trong các quan điểm, chiến lược và hành động cụ thể của các quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Để thực hiện có hiệu quả về an ninh mạng, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng cần triển khai một số nhiệm vụ cấp bách sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng và bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Quy định rõ trách nhiệm của cấp uỷ và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, chính quyền các cấp trong tổ chức triển khai và thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an toàn an ninh mạng, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thông tin, truyền thông và an ninh mạng; quản lý chặt chẽ các hoạt động cung cấp, sử dụng dịch vụ viễn thông, Internet tại Việt Nam; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các ngành chức năng trong quản lý nhà nước về an ninh mạng. Xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử trên không gian mạng; cơ chế trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, đơn vị chủ quản hệ thống thông tin với các ban, ngành chức năng, doanh nghiệp an ninh mạng và quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước trên lĩnh vực này.

Thứ ba, tăng cường quản lý hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, nhất là trang thông tin điện tử, báo điện tử theo quy định của pháp luật; kịp thời định hướng để báo chí tuyên truyền có hiệu quả, cung cấp thông tin chính thống đến cán bộ, đảng viên và nhân dân về các sự kiện phức tạp, nhạy cảm, nhất là các sự kiện được dư luận quan tâm. Xây dựng quy chuẩn văn hóa của những người đưa thông tin lên mạng, như không đưa tin thất thiệt, không rõ nguồn lên mạng…; đồng thời, phải có chế tài đối với những người vi phạm, đưa tin thất thiệt, gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng, xã hội.

Thứ tư, làm tốt hơn nữa công tác thông tin tư tưởng để có thể “làm chủ” không gian mạng. Lực lượng Tuyên giáo, các cơ quan truyền thông cần tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức về an ninh mạng cho người dùng; tăng cường thông tin chính thống, cổ vũ cái tốt, nhân rộng các điển hình; chủ động trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.

Thứ năm, kiện toàn tổ chức, xây dựng và phát triển lực lượng chuyên trách an ninh mạng, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng ngày càng tinh nhuệ, hiện đại, làm chủ thời cuộc, làm chủ công nghệ, chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; sẵn sàng đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia trên vùng lãnh thổ mới. Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút, trọng dụng, đãi ngộ, phát triển đội ngũ chuyên gia giỏi, có phẩm chất đạo đức tốt làm việc trong các cơ quan, tổ chức bảo đảm an toàn, an ninh mạng.

Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực an toàn, an ninh mạng, tác chiến không gian mạng, tác chiên điện tư, công nghệ thông tin; tích cực tham gia các hoạt động duy trì hoà bình, ổn định và phát triển an ninh mạng của các tổ chức quốc tế, hướng tới xây dựng giải pháp toàn cầu đối với an ninh mạng và chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. 

Quan điểm của Đảng, Nhà nước về an ninh mạng và bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng

 

Để đảm bảo an ninh mạng và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, Đảng và Nhà nước ta ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật, trong đó nổi bật là Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược An ninh mạng quốc gia; về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Luật An ninh mạng, Luật An toàn thông tin mạng, mang tính chỉ đạo chiến lược cho công cuộc bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Nhờ đó, bước đầu hình thành hệ thống pháp luật và cơ sở vật chất cho việc bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin quốc gia, không gian mạng quốc gia.

Quan điểm của Đảng, Nhà nước về an ninh mạng và các vấn đề bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng thể hiện sự nhất quán về nguyên tắc Ðảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; đồng thời thể hiện bước phát triển kịp thời về tư duy, sự đổi mới về nhận thức của Ðảng đối với công cuộc bảo vệ đất nước trong tình hình không gian mạng phát triển đa chiều và xuyên quốc gia. Quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về vấn đề này được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 29-NQ/TW, Nghị Quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng và Chiến lược an ninh mạng quốc gia, như sau:

Một là, an ninh mạng và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, vừa cấp bách, vừa lâu dài của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Không gian mạng là vùng lãnh thổ đặc biệt của quốc gia được xác định bằng phạm vi không gian do Nhà nước quản lý, kiểm soát bằng chính sách, pháp luật và năng lực công nghệ có vai trò quan trọng như những vùng lãnh thổ khác (đất liền, hải đảo, vùng biển, vùng trời).

Với những đặc tính vượt trội như tốc độ truyền tải, tìm kiếm thông tin nhanh, khả năng lưu trữ thông tin lớn, liên kết cộng đồng không giới hạn về không gian, thời gian; không gian mạng đang là môi trường “lý tưởng” cho các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, phát tán thông tin giả, kích động biểu tình, gây rối trật tự an toàn xã hội hòng thực hiện hoạt động “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nhân dân. Hoạt động tội phạm và những hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng ngày càng gia tăng về số vụ, thủ đoạn và tính chất, mức độ nguy hiểm, gây thiệt hại nghiêm trọng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Việt Nam thường xuyên nằm trong top 3 quốc gia bị tấn công mạng nhiều nhất năm 2018 (theo số liệu thống kê của Kaspersky security network) và là quốc gia có tỷ lệ gặp phải mã độc tống tiền cao nhất Châu Á Thái Bình Dương năm 2019 (theo Báo cáo ngày 24/6/2020 của Microsoft, về các mối đe doạ bảo mật).

Chính vì vậy, bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách cần phải triển khai đồng bộ, quyết liệt, thường xuyên, liên tục, bền bỉ trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh.

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị đồng sức, đồng lòng quyết tâm giữ vững an ninh quốc gia trên không gian mạng, trật tự an toàn xã hội, phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hiệu quả các hành vi xâm phạm an ninh mạng quốc gia; xác lập, quản lý và bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, góp phần bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và lợi ích quốc gia – dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước nhanh và bền vững. Luôn nêu cao cảnh giác, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia- dân tộc trên không gian mạng; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Hai là, phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” góp phần xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trên không gian mạng.

“Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” nên việc xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc từ cơ sở là yêu cầu cấp thiết trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc trên bất kỳ vùng lãnh thổ nào. Kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn coi trọng, vun đắp cho sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố sự đồng thuận và lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước trong mọi lĩnh vực và trên mọi mặt trận.

Công cuộc bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng cũng không nằm ngoài quỹ đạo ấy. Để củng cố và phát huy sức mạnh của “thế trận lòng dân” trên không gian mạng cần quy tụ và phát huy cho được sức mạnh nội sinh của mỗi con người, của tập thể và của cả dân tộc; tuyên truyền, giáo dục, định hướng cho mỗi cá nhân hiểu được lợi ích cũng như tác hại tiền ẩn trên không gian mạng, nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động phòng tránh và khả năng tự xử lý tình huống khi bị tiến công trên không gian mạng. Mỗi tài khoản trên không gian mạng là một chiến sĩ và mỗi bài viết tuyên truyền, đấu tranh phản bác là những vũ khí sắc bén bắn thẳng vào thế lực thù địch.

“Thế trận lòng dân” là nền tảng gốc rễ để xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững chắc. Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lễ thành lập lực lượng công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng) vào tháng 3/1959 “Công an và Quân đội là hai cánh tay của Nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính.

Vì vậy, càng phải đoàn kết chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, ra sức phát triển ưu điểm, khắc phục những tư tưởng không đúng”, lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đã phối hợp chặt chẽ với nhau xây dựng, bố trí lực lượng, tiềm lực, thiết lập thế trận an ninh liên hoàn trên không gian mạng trên tinh thần “trinh sát kịp thời, ngăn chặn hiệu quả, phòng thủ vững chắc, sẵn sàng chiến đấu”.

Ba là, xây dựng lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ “tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng: … an ninh mạng và đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao …”.

Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng được bố trí tại Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức quản lý hệ thống thông tin về an ninh, chủ quyền quốc gia. Đây là một trong số những lực lượng đang được Đảng, Nhà nước quan tâm, ưu tiên nguồn lực để xây dựng và đào tạo tiến nhanh lên “hiện đại”, làm chủ công nghệ thông tin, thích ứng kịp thời, thậm chí là vượt trước thời đại, nhạy bén với những tình huống bất ngờ, thủ đoạn tinh vi, chủ động đấu tranh có hiệu quả.

Để công tác bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng đạt hiệu quả, lực lượng chuyên trách tại các đơn vị phải chủ động liên kết, phối hợp chặt chẽ với nhau trong hành động, tác chiến, thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công, phân nhiệm rõ ràng đến từng cấp, từng lực lượng. Theo đó, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội theo chức năng, nhiệm vụ của Bộ Công an; hoạt động tác chiến trên không gian mạng theo chức năng, nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng; bảo đảm an toàn thông tin mạng theo chức năng, nhiệm vụ của Bộ Thông tin và Truyền thông và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm, luận điệu, thông tin sai trái theo chức năng, nhiệm vụ của Ban Tuyên giáo Trung ương.

Bốn là, đẩy mạnh công tác đối ngoại trong an ninh mạng và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng

An ninh mạng là vấn đề toàn cầu tác động trực tiếp đến sự hoà bình, ổn định, và phát triển của mỗi quốc gia. Vì vậy, việc tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế trên không gian mạng là hết sức cần thiết, tạo vành đai an ninh bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Việt Nam ủng hộ và sẵn sàng hợp tác với các đối tác nhằm xây dựng một môi trường không gian mạng hòa bình, ổn định, an toàn, vì người dân và phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, chú trọng vận dụng linh hoạt, đúng đắn quan điểm của Đảng, Nhà nước về “đối tác, đối tượng” trên không gian mạng, tranh thủ “đối tác” để thiết lập quan hệ quốc tế rộng rãi, đề cao tinh thần chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và xử lý kịp thời các hoạt động chống phá của “đối tượng”. 

Năm là, kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ chuyển đổi số quốc gia với nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng

Phát triển kinh tế số là một trong những xu thế lớn trên thế giới được nhiều quốc gia nghiên cứu, ứng dụng. Tại Việt Nam, xu hướng số hóa được triển khai mạnh mẽ ở mọi lĩnh vực hướng tới mục tiêu chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số. Bước đầu xây dựng và phát triển hạ tầng thông tin viễn thông, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển đổi, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt là những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo nền tảng thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số.

Đầu tư, ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực gắn liền với đầu tư cho công tác an ninh mạng, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Phát huy ý chí tự lực, tự cường, phát huy mạnh mẽ nhân tố con người, con người là trung tâm là chủ thể, là nguồn lực chính để xây dựng và sớm hình thành ngành công nghệ mạng Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam từng bước làm chủ về công nghệ, thiết kế, chế tạo các sản phẩm công nghệ mang thương hiệu “Việt Nam”, hạn chế tối đa sự phụ thuộc vào các sản phẩm công nghệ nước ngoài.

Kinh tế số, xã hội số phát triển manh mẽ đặt ra hai vấn đề. Kinh tế phát triển đồng nghĩa với việc sẽ có sự đổi mới, cải tiến về kỹ thuật, công nghệ là tiền đề quan trọng để đổi mới công nghệ an ninh mạng, góp phần nâng cao năng lực xử lý tình huống, phát hiện đấu tranh với các thế lực trên không gian mạng.

Song song với những lợi ích trên, sự phát triển nhanh chóng của kinh tế số, xã hội số làm gia tăng nguy cơ xâm phạm hệ thống an ninh mạng, xâm phạm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Vì vậy, phát triển quốc gia số, kinh tế số, xã hội số phải luôn đi liền với bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Mọi hoạt động kinh tế trong thời đại công nghiệp 4.0 phải tuyệt đối tuân thủ luật pháp quốc tế, luật pháp Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự vào cuộc quyết liệt của các ban, bộ, ngành, địa phương và đặc biệt là sự tích cực, chủ động trong vai trò nòng cốt của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng luôn được giữ vững góp phần quan trọng bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Kết cấu hạ tầng viễn thông được xây dựng khá đồng bộ, công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi từ Trung ương đến địa phương; kinh tế số được hình thành và phát triển nhanh dần trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế. Kịp thời kiểm soát các hoạt động lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền, phát tán các quan điểm thù địch, sai trái chống phá Đảng, Nhà nước, kích động tập trung đông người gây rối an ninh, trật tư.

Trước, trong và sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng, các lực lượng chuyên trách đã gỡ bỏ hàng trăm trang web, hàng nghìn nhóm, tài khoản mạng xã hội phát tán thông tin xuyên tạc, đả kích lãnh đạo Đảng, Nhà nước; xuyên tạc, bịa đặt về công tác nhân sự của Đảng; gỡ bỏ bài viết và xử phạt hành chính các đối tượng lợi dụng mối quan tâm của cộng đồng về công tác phòng chính dịch Covid-19 nhằm xuyên tạc những nỗ lực của Đảng, Chính phủ và toàn hệ thống chính trị trong công tác phòng, chống dịch bệnh và đánh cắp thông tin, dữ liệu cá nhân của người dùng.

Tuy nhiên, tình hình mất an toàn thông tin mạng tại một số nơi còn diễn ra phức tạp; công tác an ninh mạng, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng còn nhiều vấn đề đang đặt ra: Đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ còn nhiều thách thức; công tác nắm tình hình, dự báo chiến lược quốc phòng, an ninh có lúc chưa thật chủ động; công tác quản lý, đảm bảo an toàn thông tin, an ninh mạng còn hạn chế.

Bên cạnh đó, việc chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu tất yếu khách quan nhằm mang lại cơ hội cho phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng đặt ra những thách thức với công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng.

Với xu hướng Internet kết nối vạn vật và các hệ thống, hoạt động tấn công mạng của các thế lực thù địch, tội phạm mạng sẽ ngày càng gia tăng, không chỉ dừng lại ở mục đích thu thập thông tin bí mật, mà còn phá hoại cơ sở dữ liệu, hạ tầng công nghệ thông tin, thậm chí trở thành những loại vũ khí nguy hiểm, có sức tàn phá nặng nề, xâm phạm đến chủ quyền lợi ích quốc gia, dân tộc trên không gian mạng.

Những thách thức đặt ra từ vấn đề an ninh mạng


Đối với Việt Nam đã xuất hiện nhiều cuộc tấn công mạng với quy mô lớn, cường độ cao, de doạ trực tiếp đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Hoạt động tội phạm mạng và những hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng ngày càng gia tăng về số vụ, thủ đoạn và tính chất mức độ nguy hiểm, gây thiệt hại nghiêm trọng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Thời gian qua, tại Việt Nam phát hiện trên 3.000 trang web, blog, tài khoản mạng xã hội và gần 100 hội, nhóm trên mạng xã hội facebook, thường xuyên đăng tải thông tin chống Đảng, Nhà nước, kích động gây rối an ninh, trật tự. Các thế lực thù địch, phản động, tội phạm mạng đang triệt để không gian mạng để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, tuyên truyền chống phá chế độ, kích động biểu tình, bạo loạn, thực hiện “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”, xâm phạm chủ quyền của nước ta trên không gian mạng.

Trong thời gian đại dịch bệnh COVID-19 bùng phát, không gian mạng tiếp tục là môi trường chủ yếu để các thế lực thù địch, đối tượng phản động, chống đối phát tán thông tin bịa đặt về tình hình dịch bệnh, xuyên tạc, đả kích sự chỉ đạo, điều hành trong phòng, chống dịch bệnh của Chính phủ và chính quyền các cấp. Những hoạt động đó đã tác động tiêu cực tới tư tưởng, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân; gây tâm lý hoang mang, nghi ngờ, làm suy giảm lòng tin vào chế độ xã hội chủ nghĩa và vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

Tình hình trên đòi hỏi phải nhận thức đầy đủ, đúng đắn về vai trò quan trọng của an ninh mạng và các thách thức, mối đe doạ từ không gian mạng đối với đất nước ta, từ đó, có định hướng chiến lược, quyết tâm mạnh mẽ trong nhận thức và hành động nhằm nâng cao năng lực bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Bảo vệ an ninh mạng và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng có quan hệ biện chứng chặt chẽ, bảo vệ an ninh mạng là nền tảng, cơ sở quan trọng góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và ngược lại, tạo thành hệ thống chiến lược nhằm bảo đảm vững chắc an ninh quốc gia, góp phần bảo vệ vững Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

LÁ VỤ.

 Thư giãn cuối tuần🤣

Dạo nài ông xuống tinh thần lắm, ăn ngủ thất thường mà khám bệnh không ra.

Lác đác có vài ông bạn vừa hưu đã tạch,  khiến bà lo lắng đẫy.

Gặp ai, bà cũng than thở về bệnh tình của ông. Hôm rồi gặp lái xe cũ của ông trong một tiệc cưới, nhân chú lái xe hỏi thăm sức khoẻ ông thế là bà túm lại kể nể luôn. Lái xe mới cười cười bảo bà rằng ôi chị ơi, em biết bệnh của anh nhà rồi, chị về bảo anh cứ uống vài bát lá vụ là ổn hết...Nhưng trong thời gian uống lá này Sếp phải kiêng sinh hoạt vợ chồng. 


SAI SÓT CỦA THƯỢNG ĐẾ

Ông vua xe hơi, Henry Ford sau khi qua đời, được đưa lên Thiên đường. Tại cổng Thiên đường có Thánh Peter chờ sẵn để đón Ford. 

    Vừa gặp Ford, Thánh Peter cho biết: 

    - Ford, hồi còn sống, ngươi đã làm nhiều việc công ích cho xã hội - như sáng chế phương pháp làm việc dây chuyền cho kỹ nghệ xe hơi làm thay đổi cả thế giới. Với thành quả như vậy, ngươi sẽ được một ân huệ là có thể chuyện trò với bất cứ ai trên Thiên đường này.


Lời Bác dạy ngày này năm 1955

 Ngày 03/6/1955

Theo lời Bác:

   “Đồng bào miền Bắc tuy có khó khăn do chiến tranh để lại, nhưng ai cũng an cư lạc nghiệp, được hưởng tự do dân chủ và phấn đấu cho một tương lai vẻ vang. Cho nên đồng bào miền Bắc càng phải thương xót và phải giúp đỡ đồng bào miền Nam đấu tranh”.

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong bài viết: “Nhà triệu phú biến thành người ăn xin”, ký tên C.B, đăng trên Báo Nhân dân, số 457, ngày 03 tháng 6 năm 1955. Trong điều kiện chiến tranh, đất nước tạm thời chia cắt hai miền Nam - Bắc, ở miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng và đi lên xây dựng một chế độ xã hội mới - chế độ xã hội chủ nghĩa. Còn đồng bào miền Nam bắt đầu bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhiều gia đình mất hết nhà cửa, của cải, mất tự do, trở thành nghèo đói. Thấu hiểu hoàn cảnh của đồng bào miền Nam, Bác Hồ viết bài “Nhà triệu phú biến thành người ăn xin” nhằm kêu gọi tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trong khó khăn, hoạn nạn, với tinh thần “lá lành đùm lá rách”, chia sẻ những khó khăn của nhân dân miền Nam trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Lời kêu gọi của Bác có ý nghĩa vô cùng lớn lao không chỉ động viên, cổ vũ đồng bào miền Bắc vượt lên những khó khăn, thách thức để khắc phục hậu quả của chiến tranh mà còn cảm thông, chia sẻ trước những khó khăn, hy sinh của đồng bào miền Nam, biến tình cảm thương xót thành hành động cách mạng, tích cực tăng gia sản xuất, trở thành hậu phương lớn cho miền Nam, không tiếc sức người, sức của để chi viện, ủng hộ giúp đỡ đồng bào miền Nam cả về tinh thần và vật chất để đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Đồng thời, động viên, khích lệ tinh thần hăng say chiến đấu, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của quân và dân miền Nam.

Ngày nay, chiến tranh đã lùi xa, song lời Bác dạy vẫn còn giá trị thực tiễn sâu sắc. Thực hiện lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước vẫn luôn phát huy truyền thống đoàn kết, cùng hướng về đồng bào mỗi khi bị thiên tai, hoạn nạn, bão lũ... với tinh thần “thương người như thể thương thân ”, “chia sẻ ngọt bùi”“lá lành đùm lá rách”… đó chính là đạo lý, là truyền thống, là nghĩa cử cao đẹp, thể hiện tinh thần đoàn kết, nhân văn, nhân đạo cao cả của dân tộc ta và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, là quân đội của dân, do dân, vì dân. Quán triệt và thực hiện lời Bác dạy, quân đội đã phát huy tốt tinh thần “đồng cam, cộng khổ”; đoàn kết một lòng trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã trở thành một biểu tượng cao đẹp về tinh thần thương yêu đồng chí, đồng đội, là lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng. Ngày nay, quân đội đã và đang thực hiện có hiệu quả chức năng đội quân công tác, tham gia tích cực các hoạt động tuyên truyền, ủng hộ, giúp đỡ, đồng bào gặp khó khăn, các chiến sỹ nơi vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo cả về vật chất, tinh thần và sức lực, cho dù phải hy sinh tính mạng. Những việc làm ý nghĩa đó càng tô thắm thêm truyền thống của quân đội và làm sáng mãi phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới. 

St

TÔI SẼ LÀM TẤT THẢY VÌ DÂN

 

Bác thế đó bình yên và giản dị

Lẽ đời thường đức độ tựa như ai

Nhưng bên trong là cả tháp kỳ đài

Xây nguyên khối ly lai từng đức hạnh. 

Bác thế đó mà hào quang sức mạnh

Nghiêng bàn cân gồng gánh non sông

Dáng đơn sơ mà sức tỏa Lạc Rồng

Ôm mộng nước vì non sông bách tính. 

Mái đầu trắng tâm sáng trong kiên định

Đốt lửa lòng chân chính vì dân

Phơi ruột gan bằng một trái tim trần

Dâng nhiệt huyết vì lòng dân ngóng đợi. 

Bậc sĩ phu với tấm lòng vời vợi

Theo Bác Hồ thẳng tới tương lai

Tuổi thêm cao chí khí vẫn anh tài

Xây hình nước bằng nối dài nhân cách.

Đấng Minh quân giản đơn và trong sạch

Nguyện một lòng cải cách Đảng ta

Bậc Thánh nhân soi rõ lũ ma tà

Ôm nhiệt huyết chẳng tha bầy tham nhũng. 

Bác thế đó trí hùng oai uy dũng

Tâm sạch trong hướng đúng đi lên

Quyết gột trong lấy đức làm nền

Tỏa khí tiết mang tên nước Việt. 

Bác thế đó giản đơn và thân thiết

Sống trong dân chỉ biết vì dân

Cả một đời nguyện xả tấm thân

Vì nghĩa Đảng trọng trân lời Bác Hồ dạy.

Bác thế đó nỗi niềm sâu bỏng cháy

“Tôi sẽ làm tất thảy vì dân”

Lời của bác như Đức Phật trong ngần

Cháy hồn nước vì dân cần có Đảng.