Lần đầu tiên những bản đồ cổ giúp chứng minh chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa do Việt kiều Trần Thắng sưu tầm được trưng bày ở Mỹ.
Chủ Nhật, 4 tháng 6, 2023
ANH CHÀNG NGƯỜI MỸ GỐC VIỆT CHỨNG MINH TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM KHIẾN CẢ NƯỚC MỸ NGHIÊNG MÌNH THÁN PHỤC !
Chúng ta đều là người chiến thắng
Trung tướng Lê Nam Phong đã rời cõi tạm, còn tôi vẫn khôn nguôi nhớ vị Tư lệnh Sư đoàn 7, người chỉ huy mũi tiến công chủ yếu trên hướng Đông năm 1975, góp phần đập tan “cánh cửa thép” Xuân Lộc để quân ta tiến vào nội đô Sài Gòn.
Trận đánh quyết định
Sau Tết Nguyên đán năm 2022, hay tin bệnh tình Trung tướng Lê Nam Phong trở nặng, chúng tôi vội đến thăm. Ông mệt nhiều nhưng vẫn tỉnh táo. Xưa, tính ông vốn nóng nảy nhưng luôn hài hước với giọng xứ Nghệ thân quen. Nay, bệnh tình mệt nhọc thế mà khi tỉnh lại, ông vẫn hài hước như xưa. Tôi hỏi: “Sao bố ở viện lâu thế?”. Ông hóm hỉnh: “Bà nhà tau hay hờn. Mỗi lần bà hờn, tau vô đây vài ngày. Hết hờn, hết giận lại về. Có chi mô. Cả đời trận mạc, xa nhau. Giờ hòa bình, đời nào tau muốn rời bà ấy!”.
Thấy ông tỉnh táo, tôi gợi chuyện Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Năm ấy, Tư lệnh Sư đoàn 7 Lê Nam Phong được giao chỉ huy mũi tiến công chủ yếu hướng Đông chiếm Xuân Lộc, phòng tuyến cuối cùng của địch. Và ông hào hứng kể về trận đánh ác liệt trong thời khắc quyết định, xốc tới dinh lũy cuối cùng.
Ngày đó, Sư đoàn 7 đang đà tiến công Đà Lạt thì nhận lệnh gấp rút quay về xuôi. Ngày 3-4-1975, ông có mặt tại Sở chỉ huy Quân đoàn 4 (đóng ở bờ sông La Ngà) nhận nhiệm vụ. Tại đây, cuộc họp của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn bàn cách đánh Xuân Lộc diễn ra. “Cần hiểu Xuân Lộc là mắt xích phòng ngự quan trọng nhất trong toàn bộ phòng tuyến vòng ngoài cuối cùng nội đô Sài Gòn. Dù chúng không biết ý định ta đánh, nhưng Tổng thống Thiệu đã sử dụng những viên tướng chỉ huy giỏi nhất, đổ vào đây khoảng 50% lực lượng bộ binh, 60% pháo binh và hầu hết xe tăng, thiết giáp cùng lực lượng dự bị. Chúng đoán quân ta ở phía Bắc đang trên đà tiến vào chứ không nghĩ quân chủ lực Miền đủ sức tiến đánh và đánh từ phía trong khi ta có 3 sư đoàn chủ lực và các đơn vị chiến đấu khác đã sẵn sàng”, Trung tướng Lê Nam Phong cho biết.
Nhận rõ thời cơ đến, ta quyết định mở chiến dịch theo phương án tập trung binh, hỏa lực mạnh đột phá Xuân Lộc. Đánh được Xuân Lộc “giập đầu” thì toàn bộ Quân khu 3, Quân đoàn 3 địch rã đám. Ngày 4-4, Sư đoàn 7 đã có mặt tại vị trí tập kết, chuẩn bị mọi mặt tiến công hướng chủ yếu, đánh thọc sâu, chiếm giữ Sở chỉ huy Sư đoàn 18 ngụy. “Nhiệm vụ này vô cùng khó khăn vì thời gian tương đối gấp. Đảng ủy Sư đoàn phân tích kỹ thuận lợi, khó khăn, xây dựng quyết tâm, làm tốt mọi công tác chuẩn bị, đúng giờ nổ súng”, ông nhớ lại.
Theo hiệp đồng, đúng 5 giờ 40 phút sáng 9-4, các hướng, mũi ta nổ súng tiến công. Từ ngày 9 đến 11-4, hướng chủ yếu Sư đoàn 7 tiến công liên tục. Ta chiếm được một số mục tiêu, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giữ những bàn đạp quan trọng, nhưng không lường hết quân địch đông, liên tục tăng viện, hỏa lực mạnh, công sự, hầm hào, boong ke kiên cố. Sau 3 ngày tiến công đột phá nhưng ta chưa xóa sổ được lực lượng địch, chưa đánh giá đúng sức kháng cự của chúng, gây ra thương vong lớn. Ta nhanh chóng tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm và tìm cách đánh khác. Đó là tổ chức lực lượng đánh cắt rời Xuân Lộc với Biên Hòa tại điểm Dầu Giây, đánh chặn và ghìm chân địch ở Túc Trưng, cắt Đường số 1 và 20, cắt đứt Xuân Lộc với Bàu Cá, không cho địch co cụm, tiếp tế chi viện, không cho địch rút về Đường số 2 đi hướng Bà Rịa...
Liên tục hơn 11 ngày đêm chiến đấu, Quân đoàn 4 phối hợp với các lực lượng đã giải phóng Xuân Lộc. Từ đây, cửa ngõ hướng Đông Sài Gòn mở toang, 5 cánh quân ta siết chặt vòng vây, xốc tới dinh lũy cuối cùng của địch.
![]() |
Cắm cờ thấp vẫn là cờ chiến thắng |
Khi tôi hỏi trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông nhớ nhất điều gì, Trung tướng Lê Nam Phong cười, bảo: “Nhiều lắm. Nhớ anh em đồng đội. Nhớ nhất là cắm cờ Giải phóng thấp phía dưới nhưng vẫn vui sướng!”.
Tuy tổn thất đáng kể trong trận Xuân Lộc nhưng lúc ấy “một ngày bằng 20 năm”, quân ta khí thế bừng bừng xốc tới, không gì cản được. Ngày 29-4-1975, Sư đoàn 7 nhận nhiệm vụ mới. Trước lúc xuất quân, Tư lệnh Quân đoàn 4 Hoàng Cầm trao Cờ “Quyết chiến, Quyết thắng”, chỉ thị Tư lệnh Sư đoàn 7 Lê Nam Phong cắm cờ lên nóc Dinh Độc Lập. “Lúc đó, tau dõng dạc: “Thay mặt cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 7, tôi xin hứa sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”, ông kể.
Chỉ tiếc là khi đến Biên Hòa, địch còn nhiều ổ đề kháng ẩn nấp trong thành phố, nhà cao tầng chống trả quyết liệt. Đơn vị nhanh chóng vượt qua các chướng ngại, vượt cầu Ghềnh thẳng tiến Sài Gòn. Nhưng cầu nhỏ và yếu quá, xe tăng, thiết giáp không thể qua được, ông hạ lệnh chuyển hướng tiến quân, đi tắt ra xa lộ Biên Hòa. Sáng 30-4, dòng người đổ về chen kín xa lộ khiến bộ đội, xe pháo cơ động rất chậm. Lập tức, ông nhảy khỏi xe thiết giáp, trao đổi nhanh với Chính ủy Nguyễn Văn Thái, gọi chiến sĩ dùng xe gắn máy chở ông lách qua dòng người chạy thẳng vào Dinh Độc Lập. “Đến cầu Thị Nghè, gặp Trợ lý tác chiến Sư đoàn, tau hỏi ngay: “Đại đội 7 có cắm cờ được không”? Lắc đầu: “Quân đoàn 2 cắm rồi. Xe tăng của Đại đội 7 vào trễ 30 phút”. Một phút tiếc nuối hiện lên. Ngước thấy cờ Giải phóng tung bay trên nóc dinh, ông nói: “Quân đoàn 2 cắm cờ trên cao thì ta cắm cờ thấp, đều là “Quyết chiến, Quyết thắng” cả. Tất cả chúng ta đều là người chiến thắng!”.
Một buổi huấn luyện tìm kiếm cứu nạn cùng “trợ thủ đặc biệt”
Đợt thực tập tốt nghiệp cùng các chú chó nghiệp vụ là cơ hội tốt để học viên thực hành các nội dung tình huống tìm kiếm cứu nạn sát với thực tế, mục tiêu, yêu cầu đào tạo.
Vừa qua, Trường Trung cấp 24 Biên phòng cử học viên Khóa 10 Trung cấp đào tạo huấn luyện viên và chó nghiệp vụ phát hiện ma túy, tìm kiếm cứu nạn đi thực tập tại các đồn biên phòng thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên. Đây cũng là khóa đầu tiên của nhà trường được đi thực tập nội dung tìm kiếm cứu nạn trên địa bàn biên giới. Trong đó, đội thực tập tại Đồn Biên phòng Mường Pồn gồm 10 đồng chí (1 giáo viên hướng dẫn, 1 đội trưởng, 1 cán bộ thú y, 7 học viên) và 7 chó nghiệp vụ.
Theo Thiếu tá Nguyễn Văn Nghĩa, Chủ nhiệm Bộ môn Tìm kiếm cứu nạn, Trường Trung cấp 24 Biên phòng, đồng thời là giáo viên hướng dẫn đội thực tập, ngay sau khi hành quân đến đơn vị an toàn, Đồn Biên phòng Mường Pồn đã tạo mọi điều kiện để đội nhanh chóng ổn định chỗ ăn ở cho người, chó nghiệp vụ và triển khai thực hiện kế hoạch thực tập.
Trong quá trình thực tập, đội chú trọng tổ chức duy trì huấn luyện các nội dung, tình huống tìm kiếm cứu nạn trong sạt lở đất, đá, sập đổ công trình xảy ra trên địa bàn biên giới thuộc Đồn Biên phòng Mường Pồn quản lý. Sau 3 tháng thực tập, học viên đã nắm chắc được các nội dung, yêu cầu đề ra. Ngoài ra, đội cũng đưa học viên và chó nghiệp vụ phối hợp với cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Mường Pồn tham gia tuần tra đường biên, mốc quốc giới, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, giúp nhân dân trên địa bàn phát triển kinh tế, phòng, chống cháy rừng...
Báo Quân đội nhân dân Điện tử xin giới thiệu một số hình ảnh về một buổi huấn luyện tìm kiếm cứu nạn của đội thực tập tại Đồn Biên phòng Mường Pồn:
![]() |
| Theo tình huống giả định, một vụ sạt lở đất, đá nghiêm trọng vừa xảy ra trên địa bàn bản Pá Chả, xã Mường Pồn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, làm sập 3 nhà dân và khiến 2 người bị mắc kẹt trong đống đổ nát. Ngay sau khi nhận được thông tin, Chỉ huy đồn giao nhiệm vụ cho đội thực tập cử lực lượng và chó nghiệp vụ xuống hiện trường, tổ chức công tác tìm kiếm cứu nạn. Trong ảnh: Trung tá Nguyễn Đình Thuần, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Mường Pồn giao nhiệm vụ cho đội thực tập. |
![]() |
| Đội thực tập nhanh chóng cơ động tới hiện trường. |
![]() |
![]() |
| Theo tình huống giả định, khu vực sạt lở nằm cách Đồn Biên phòng Mường Pồn khoảng 5km. Do địa hình phức tạp nên trong nội dung huấn luyện, đội kết hợp nội dung hành quân đường dài để tăng sức bền cho học viên cũng như chó nghiệp vụ. |
![]() |
| Ngay sau khi tiếp cận hiện trường, chỉ huy đội tập hợp học viên để quán triệt về yêu cầu, nhiệm vụ và phân công các vị trí để học viên và chó nghiệp vụ tiến hành công tác tìm kiếm cứu nạn. Từ vài ngày trước, đội đã cử người đi bố trí một số áo, quần ở khu vực huấn luyện để chó nghiệp vụ đánh hơi. |
![]() |
![]() |
| Học viên đưa chó nghiệp vụ vào khu vực sạt lở. |
![]() |
| Chỉ trong chốc lát, chó nghiệp vụ đã phát hiện vị trí có nguồn hơi người bị vùi lấp, liên tục cào đất để báo hiệu. |
![]() |
![]() |
| Học viên sử dụng cờ để báo cáo cho người chỉ huy, sau đó cắm cờ đánh dấu vị trí có nguồn hơi người để các lực lượng cứu hộ tiến hành đào bới. |
![]() |
| Một chú chó nghiệp vụ khác cũng phát hiện vị trí có nguồn hơi người bị vùi lấp còn lại. |
![]() |
Phút nghỉ giải lao của học viên và những “trợ thủ đặc biệt”. Để tăng chất lượng huấn luyện tìm kiếm cứu nạn trong đợt thực tập, giáo viên và chỉ huy đội thường xuyên thay đổi khu vực giả định có sự cố cũng như các tình huống sự cố khác nhau. |
![]() |
| Kết thúc mỗi buổi huấn luyện, đội kiểm tra sức khỏe và cho các chú chó nghiệp vụ ăn theo tiêu chuẩn quy định. |
Một cái nhìn về Marx từ trong lòng xã hội
tư bản
Chúng ta không nên xem thường công
trình của Marx chỉ bởi những gì mà người ta gây ra, dựa trên tư tưởng của ông,
trong thế kỷ 20. Những tư tưởng của ông đặc biệt hữu ích cho chúng ta ở thời điểm
hiện tại.
Tư tưởng của Marx luôn có mục tiêu
thực tiễn hoặc chính trị. Chúng ta không nên quên rằng ông không chỉ là nhà triết
học mà còn là nhà sử học, nhà xã hội học và nhà kinh tế học. Không có ai ngoài
ông giữ một vai trò tiên phong như thế trong việc ứng dụng triết học vào chính
trị. Tuy nhiên phải luôn nhớ rằng, không nên đồng hóa tất cả những gì có mác
“chủ nghĩa Marx” với tư tưởng của riêng bản thân Marx.
– Thế giới của Sophie, Jostein
Gaarder.
Dưới đây là góc nhìn của một người
thuộc thể chế tư bản chủ nghĩa về Karl Marx và hệ tư tưởng của ông, được đăng
trên The Book of Life. Cheshire biên dịch.
Hầu hết mọi người đều đồng tình rằng,
cần phải cải thiện hệ thống kinh tế của chúng ta bằng cách nào đó. Bởi nó đang
đe dọa hành tinh của chúng ta thông qua việc tiêu thụ sản phẩm quá mức. Nó khiến
chúng ta bị xao lãng bởi những quảng cáo không liên quan. Nó bỏ mặc những người
khốn khổ trong sự đói khát và thiếu thốn dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. Và nó cũng
gây ra các cuộc chiến tranh vô cớ. Mặc dù vậy, chúng ta lại thường kịch liệt
bác bỏ những ý tưởng của một nhà phê bình nổi tiếng và đầy tham vọng dành cho hệ
thống kinh tế này, Karl Marx.
Nói thẳng ra, những phương thuốc
mà Marx đưa ra để chữa trị các căn bệnh thế giới, như đã kể bên trên, giờ đây
nghe có vẻ hơi điên rồ. Dẫu sao, chúng ta cũng không nên quá nhanh chóng hắt hủi
Marx như vậy. Chúng ta nên xem ông như một người chỉ dẫn. Những phân tích của
ông về những mặt bất cập của Chủ nghĩa tư bản sẽ giúp chúng ta tiến tới một
tương lai hứa hẹn hơn.
Trong thời của Marx, Chủ nghĩa tư
bản vẫn đang trong đà phát triển, nhưng ông là một trong những nhà phê bình
kinh tế – chính trị thông minh và có nhận thức sâu sắc nhất. Ông đã chỉ ra vài
‘căn bệnh’ của Chủ nghĩa tư bản như sau:
1. Công việc hiện đại bị ‘tha hóa’
Một trong những tầm nhìn vĩ đại nhất
của Marx, được giải bày trong quyển Bản thảo kinh tế – triết học 1844, đó là
lao động có thể là một trong những nguồn vui lớn nhất của chúng ta. Đối với
Marx, lao động là vinh quang, chính vì thế khi thấy hầu hết nhân loại đắm mình
vào những công việc khốn khổ và buộc phải chịu đựng chúng, ông đã rất tức giận.
Để có thể toàn ý với công việc,
Marx viết rằng, người lao động phải thấy được bản thân mình trong những đồ vật
mà họ tạo ra. Tốt hơn hết, lao động nên cung cấp cho chúng ta một cơ hội để
phơi bày những gì tốt đẹp bên trong chúng ta (ví như, sự sáng tạo, sự khắc khổ
của chúng ta), in hằn chúng vào những thù hình bền vững, trường tồn như đồ vật
hoặc dịch vụ độc lập với chúng ta. Ngày qua ngày, công cuộc lao động của chúng
ta nên – nếu mọi thứ đi đúng hướng – tự biến cải chính nó từng chút một, bởi vì
nó cho phép chúng ta cô đọng và để lại dấu ấn về những phẩm chất tốt đẹp của
chúng ta.
Hãy nghĩ về người làm ra chiếc ghế
này: thẳng thắn, mạnh mẽ, chân thật và thanh lịch. Người làm ra nó không hẳn sẽ
luôn có những phẩm chất ấy: đôi khi anh ta hoặc cô ấy có thể đã bức bối, tuyệt
vọng, do dự. Tuy nhiên, chiếc ghế sẽ chỉ hằn lại những mặt tích cực trong tính
cách của anh ta hoặc cô ấy. Đó là lý do vì sao Marx nghĩ rằng lao động là lý tưởng,
là vinh quang. Nhưng ông cũng quan sát thấy trong thế giới hiện đại, ngày càng
khan hiếm những công việc có những đặc điểm cho phép chúng ta nhìn thấy những
phẩm chất tốt đẹp của mình trong công cuộc lao động.
Một phần là vì công việc hiện đại
ngày càng được chuyên môn hóa. Có thể dễ dàng kể ra những công việc loại này bằng
những cái tên rất kỳ cục mà người ta đặt cho chúng: chuyên gia về công nghệ bao
bì, nhân viên phổ biến thức uống, kỹ thuật viên ăn kiêng, kiến trúc sư thông
tin, … Những công việc này phải mất nhiều năm đào tạo để có thể làm chủ, giúp
cho nền kinh tế hiện đại đạt được hiệu quả cao, nhưng nó cũng cho thấy ngày
càng khó để một người công nhân thấy được tính thực tiễn trong những công việc
mà mình làm. Anh ta hoặc cô ấy ngày càng mất cảm giác về những ý nghĩa thực sự
mà mình đóng góp cho nhân loại.
Theo quan điểm của Marx, từ sâu thẳm
bên trong, chúng ta đều là những người đa tài. Chúng ta không sinh ra chỉ để
làm duy nhất một việc. Tất cả chỉ là do nền kinh tế – vì mục đích tham lam của
nó – ép buộc chúng ta phải hy sinh thân mình vào một ngành học duy nhất, làm
cho chúng ta trở nên (theo cách nói của Marx) “đơn điệu và phụ thuộc” và “bị
bào mòn về tinh thần lẫn thể chất, dần biến thành một cái máy”. Trong Bản thảo
kinh tế – triết học 1844, lần đầu tiên Marx lập luận rằng công việc hiện đại dẫn
đến sự tha hóa – Entfremdung trong tiếng Đức.
Trong thâm tâm, chúng ta đa tầng,
phức tạp hơn những gì nền kinh tế hiện đại cho phép: bên dưới vẻ ngoài điềm
tĩnh của kế toán viên kia có thể đang che giấu một nỗi khao khát lớn lao về
nghiệp làm vườn. Nhiều nhà thơ hẳn đã từng có mong muốn dấn thân vào ngành công
nghiệp một vài năm.
Marx nhận ra sự đa năng của chúng
ta. Sự chuyên môn hóa có thể là một yêu cầu cấp thiết về kinh tế nhưng nó cũng
có khả năng mang trong mình sự phi nhân.
Marx cũng muốn giúp chúng ta tìm
thấy nhiều ý nghĩa hơn trong công việc của mình. Theo Marx, công việc trở nên
có ý nghĩa hơn qua một trong hai cách. Hoặc nó giúp người lao động trực tiếp giảm
bớt đau khổ cho người khác, hoặc nó giúp chính họ, và theo một cách hữu hình sẽ
làm tăng niềm vui cho người khác. Những công việc đáp ứng một cách hoàn hảo những
tiêu chí này thực sự rất khan hiếm, như bác sĩ hoặc một ngôi sao opera chẳng hạn.
Nhưng thường thì mọi người bỏ việc
và bảo rằng: tôi không thấy được mục tiêu rõ ràng của công việc bán hàng, hoặc
một chiến dịch thiết kế quảng cáo đồ nội thất sân vườn, hoặc dạy tiếng Pháp cho
những đứa trẻ vốn chẳng muốn học. Khi công việc dần trở nên vô nghĩa, chúng ta
dần cảm thấy sự dày vò – ngay cả với một công việc mang lại mức lương ổn định.
Marx đang đưa ra bản phác thảo đầu tiên, một câu trả lời để làm thế nào chúng
ta có thể cải cách nền kinh tế; chúng ta cần một hệ thống kinh tế cho phép nhiều
người trong chúng ta giảm bớt được đau khổ hoặc gia tăng niềm vui. Sâu thẳm
trong tâm, chúng ta muốn cảm nhận được rằng chúng ta đang giúp đỡ mọi người.
Chúng ta phải cảm thấy chúng ta đang giải quyết các nhu cầu đích thực – chứ
không phải chỉ phục vụ những ham muốn ngẫu nhiên.
Marx đã nhận thấy được có rất nhiều
công việc giúp họ có được thu nhập, nhưng lại không giúp họ gặt hái được nghị lực.
Trí khôn và kỹ năng của họ dần tiêu tan. Họ không thể chỉ trỏ vào một thứ gì đó
và nói: Tôi đã làm ra nó, nó đại diện cho con người tôi. Khá đau đớn khi mọi
người làm những công việc trông có vẻ hào nhoáng, ví như một người chuyên duyệt
tin tức hoặc một người mẫu thời trang. Ngày qua ngày, nó có vẻ thú vị. Nhưng dần
dà qua nhiều năm, nó không tạo nên bất cứ thứ gì. Những nỗ lực của họ không được
tích lũy. Công việc của họ không có một mục tiêu dài hạn để hướng tới. Cho dù
có cống hiến sau bao năm, nghỉ việc là coi như mất tất cả. Điều này trái ngược
với những công việc đại loại như kiến trúc sư chẳng hạn; một kiến trúc sư có thể
lao động trong 5 năm với một dự án lớn – dù cho hàng triệu chi tiết trong công
việc có thể gây phiền nhiễu, bực bội cho chính họ, nhưng tựu chung lại, họ vẫn
hoàn thành được một thành tích để đời. Và tất cả những ai dự phần trong đó,
cũng đều sẽ sẻ chia chí hướng và mục đích sống. Lao động của họ tất yếu phải
đem lại một thứ gì đó thực sự tồn tại. Và họ hiểu rõ điều đó.
2. Công việc hiện đại luôn bấp
bênh
Chủ nghĩa tư bản khiến con người
thành một thứ dễ bị thay thế và vứt bỏ; công nhân bị rút gọn thành một nhân tố
nhỏ bé trong chuỗi sản xuất và có thể bị thay thế, bị vứt đi không thương tiếc
khi mà công nghệ ngày càng phát triển, giúp tiết kiệm chi phí và giảm thiểu thời
gian tốt hơn hẳn. Một công việc ổn định đơn giản không tồn tại trong Chủ nghĩa
tư bản. Và như Marx đã am tường, tương tự như mong ước có được những mối quan hệ
bền chặt, chúng ta cũng mong muốn có được một công việc đảm bảo nguồn thu nhập
về lâu dài cho mình. Chúng ta không muốn bị vứt bỏ một cách tùy tiện như thế,
chúng ta kinh hãi với ý niệm bị bỏ rơi. Marx biết rõ mỗi chúng ta đều có hạn sử
dụng lâu dài hơn thế, tất cả phụ thuộc vào chi phí và nhu cầu. Đầy lòng trắc ẩn,
Marx đã thấm đẫm những khát vọng, ham muốn ấy của dân lao động. Chủ nghĩa cộng
sản – như một sự thấu hiểu về cảm xúc – là một lời hứa rằng chúng ta luôn có một
chỗ đứng bên trong trái tim của thế giới này, rằng chúng ta sẽ không bị đuổi cổ
ra ngoài. Điều này mang tính nhân văn rất sâu sắc.
3. Công nhân chỉ được trả lương rẻ
mạt trong khi giới tư bản ngày càng giàu thêm
Đây có lẽ là mối quan ngại lớn nhất
của Marx về Chủ nghĩa tư bản. Cụ thể, ông tin rằng giới tư bản thu hẹp lương của
người lao động càng nhiều càng tốt để vắt kiệt lấy lợi nhuận – ông gọi đây là
“sự tích lũy nguyên thủy” (primitive accumulation) hoặc Ursprüngliche
Akkumulation trong tiếng Đức. Những người công nhân ngày càng rơi vào bước đường
cùng, và rất khó để họ có thể đứng lên biểu tình chống đối hay thay đổi để
thích nghi. Không chỉ bởi sự tuyệt vọng khi đối mặt với nạn thất nghiệp, mà còn
bởi chi phí sinh hoạt bao giờ cũng tăng lên theo sau sự tăng trưởng của đồng
lương, một vòng lẩn quẩn, một âm mưu của giới tư bản. Cuộc sống hiện đại cũng
mang lại những thách thức mới khiến cho giai cấp vô sản trở nên bần cùng hơn:
phải sống các khu ổ chuột đông đúc, bệnh tật, tỉ lệ tội phạm chốn thị thành
tăng cao, mắc phải thương tích khi làm việc trong nhà máy. Tóm lại, Marx viết,
người dân lao động có thể bị bóc lột đến cùng kiệt.
4. Chủ nghĩa tư bản rất không ổn định
Từ rất lâu trước khi xảy ra cuộc Đại
khủng hoảng hoặc trước khi có các sàn giao dịch chứng khoán, Marx nhận ra rằng
các hệ thống tư bản chủ nghĩa được đặc trưng bởi một chuỗi chu kỳ khủng hoảng.
Một phần cũng bởi các nhà tư bản tìm đủ mọi cách để tăng lợi nhuận, ví dụ như đầu
cơ tích trữ hay bán phá giá, và điều này gây hậu quả trực tiếp đến hệ thống giá
cả và gián tiếp đến thị trường việc làm. Tuy nhiên, sự bất ổn của Chủ nghĩa tư
bản không chỉ bởi cuộc ganh đua lợi nhuận của con người. Theo Marx, Chủ nghĩa
tư bản vốn mang trong mình mầm mống sự cáo chung của chính nó, giống như “một phù
thủy đã mất đi quyền năng kiểm soát ma giới, và không thể triệu hồi sức mạnh từ
chúng thông qua các câu thần chú được nữa”.
Điều trớ trêu ở đây, Marx đã chỉ
ra rằng, những cuộc khủng hoảng trong Chủ nghĩa tư bản không phải do thiếu hụt,
mà là do thừa thải; chúng ta đã tạo ra quá nhiều thứ. Các nhà máy và hệ thống của
chúng ta quá năng suất, có thể mang lại cho bất cứ ai trên hành tinh này một
chiếc xe, một căn nhà, một suất trong một ngôi trường tử tế hay một bệnh viện tốt.
Chỉ cần một số ít người trong chúng ta làm việc là đủ. Nhưng chúng ta lại không
làm vậy, không ai trong chúng ta chịu giải phóng bản thân mình để tìm lấy sự tự
do, an nhàn. Marx nghĩ rằng điều này thật vô lý, đây hẳn là hệ quả có được từ
hình thức khổ dâm bệnh hoạn nào đấy.
Vào những năm 1700, để có thể nuôi
sống một quốc gia, hầu như tất cả mọi người ở độ tuổi lao động đều phải làm việc
thật cật lực. Nhưng ngày nay, một quốc gia phát triển hầu như không cần đến một
cá nhân nào để phục vụ cho nông nghiệp cả. Ngay cả trong công nghiệp, cũng chả
cần đến một nhân công nào để chế tạo nên một chiếc xe. Điều này sinh ra nạn thất
nghiệp, và chúng ta coi đây là một điều khủng khiếp, một căn bệnh trầm trọng.
Tuy nhiên, theo quan điểm của Marx, thất nghiệp lại là một dấu hiệu của thành
công: nó cho thấy năng lực sản xuất của chúng ta đã tăng trưởng đến mức khó
tin. Công việc xưa kia yêu cầu cả trăm nhân công thì bây giờ chỉ cần duy nhất một
cỗ máy. Ấy vậy nhưng chúng ta lại luôn xem thất nghiệp như một lời nguyền, một
sự thất bại. Theo logic, mục đích của nền kinh tế là càng ngày càng phải tạo điều
kiện cho càng nhiều người trong chúng ta thất nghiệp, và chúng ta nên tôn vinh
điều này hơn là xem nó như một sự thất bại, bởi nó cho thấy sự tiến bộ vượt bậc
của nền kinh tế.
Marx tin rằng, bởi vì chúng ta
không chịu phân phối của cải đồng đều cho tất cả mọi người, không chịu tán
dương và tận hưởng sự an nhàn mà thất nghiệp mang lại, ấy vậy nên chúng ta mới
phải gánh chịu nỗi phiền muộn, lo âu, bất ổn, bất hạnh. “Xã hội như đang lùi bước
trở về trạng thái man rợ nhất thời”, ông viết, “Và tại sao? Đó là bởi có quá
nhiều nền văn minh hiện hữu… quá nhiều ngành công nghiệp, quá nhiều nền thương
mại”.
5. Chủ nghĩa tư bản cũng gây hại
cho giới tư bản
Mặc dù đôi khi Marx gọi các nhà tư
bản và tư sản là những kẻ hút máu (vampires), hay những người anh em thù hiềm
(hositle brothers), nhưng ông không hoàn toàn nghĩ họ là những kẻ xấu. Trên thực
tế, ông tin rằng họ cũng là nạn nhân của hệ thống tư bản chủ nghĩa. Ví dụ, ông
đã có được một cảm thức sâu sắc về những nỗi u sầu và những đau đớn thầm kín ẩn
sâu phía sau những cuộc hôn nhân của giới tư sản. Vào thời của ông, tầng lớp
trưởng giả hay kể về gia đình mình một cách tôn kính và tràn đầy tình cảm.
Nhưng Marx lập luận rằng mối hôn nhân của họ thực ra chỉ là một sự hợp tác, nới
rộng kinh doanh. Những thương vụ hôn nhân thế này như một cách để cánh đàn ông
tập trung tiền bạc, dùng nó để kiểm soát vợ và con cái của mình. Một gia đình
tư sản thoạt nhìn có vẻ lý tưởng, nhưng thật ra lại đầy rẫy áp lực, sự đàn áp
và phẫn uất, nơi đó những con người sống cùng nhau không phải vì tình yêu mà vì
lý do kinh tế. Marx nghĩ rằng, đây không phải điều họ thực sự muốn. Ông đơn giản
tin rằng Chủ nghĩa tư bản ép buộc con người đặt vấn đề kinh tế vào trung tâm của
cuộc sống, do đó họ không còn biết tới những mối quan hệ sâu sắc và chân thành.
Ông gọi xu hướng tâm lý này là “chủ nghĩa tôn thờ vật chất” (Warenfetischismus)
bởi nó khiến chúng ta đề cao vật chất, những thứ không hề mang giá trị khách
quan nào, ngoài việc cổ vũ chúng ta sử dụng lăng kính lợi ích kinh tế để soi rọi
lên những mối quan hệ của chúng ta.
Đây là một khía cạnh quan trọng
khác trong công trình của Marx: ông dấy lên mỗi chúng ta một cảm thức về sự ảnh
hưởng đầy xảo quyệt, tinh vi của nền kinh tế, về cái cách nó nhuốm màu lên tư
tưởng của chúng ta về mọi vấn đề.
Nền kinh tế tạo ra một thứ mà Marx
gọi là hệ tư tưởng. Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức (1845), ông viết, “tư tưởng
của giai cấp cầm quyền trong mỗi thời đại sẽ chính là tư tưởng thống trị trong
thời đại ấy”. Xã hội tư bản là nơi mà phần lớn mọi người, dù giàu hay nghèo, đều
tin rằng chuẩn mực để đánh giá mọi thứ, tất cả mọi giá trị của chúng, đều liên
can ít nhiều đến hệ thống kinh tế: ví như một kẻ vô công rỗi nghề là một kẻ vô
giá trị, hoặc nếu chúng ta cứ đơn giản làm việc thật cật lực thì chúng ta sẽ có
thể vươn lên, hay việc sở hữu càng nhiều sẽ càng khiến ta hạnh phúc, và rằng
chúng ta sẽ thẩm định giá trị của mọi thứ (bao gồm cả con người) bằng tiền.
Tóm lại, một trong những điều tồi
tệ nhất của chủ nghĩa tư bản không phải là việc có những kẻ tham nhũng đầu sỏ –
hiện tượng này hiện hữu ở bất kỳ hệ thống thứ bậc nào của loài người – mà là ở
việc những lý tưởng tư bản đã dạy tất cả chúng ta phải luôn lo âu, sống cạnh
tranh, rập khuôn, và tự mãn một cách chính trị.
*
Một điều đáng chú ý là Marx viết rất
ít về Cộng sản, hay một hệ thống Cộng sản nên trông như thế nào. Ông tin rằng
những gì ông viết chủ yếu để mô tả, chứ không hẳn quy định chính xác, về những
gì sắp xảy ra. Khi bị chỉ trích vì những dự đoán khá mơ hồ của ông (ví dụ như
chắc hẳn sẽ có một “chế độ độc tài của giai cấp vô sản”), ông đã chế giễu rằng
ông không muốn viết các công thức nấu ăn “cho các cửa hàng ẩm thực trong tương
lai”. Có lẽ ông đã rất khôn ngoan vì đã ngộ ra được sự khó đoán về thị hiếu trong
tương lai, cả về ẩm thực lẫn chính trị.
Tuy nhiên, chúng ta đã có được cái
nhìn thoáng qua về giấc mơ thiên đường của Marx ẩn chứa trong các tác phẩm của
ông. Tuyên ngôn Cộng sản mô tả một thế giới vắng bóng tài sản tư hữu hay thừa kế,
với một mức thuế thu nhập ngày càng tăng cao, có được sự kiểm soát tập trung
trong các ngành ngân hàng, truyền thông và ngành công nghiệp vận tải, và có được
một hệ thống giáo dục cộng đồng miễn phí cho tất cả trẻ em. Marx cũng mong đợi
rằng một xã hội cộng sản sẽ cho phép mọi người phát triển nhiều nhất có thể tất
cả các khả năng bẩm sinh của mình. Trong Hệ tư tưởng Đức, ông viết rằng “trong
xã hội cộng sản… hôm nay tôi có thể làm việc này, rồi ngày mai chuyển sang một
việc khác, ví như đi săn bắn vào buổi sáng, bắt cá vào buổi chiều, chăn nuôi
gia súc vào buổi tối, ngồi đàm đạo phê bình sau bữa ăn tối, chỉ bởi do tôi có
trí tuệ, tôi không cần phải là một thợ săn, ngư dân, mục phu hay nhà phê bình
toàn thời gian”. Chúng ta sẽ được khám phá và phát triển toàn diện trên mọi mặt
– sự sáng tạo, trí tuệ của chúng ta, cái thiện và cả sự hung tàn bên trong
chúng ta – và tất cả mọi người đều sẽ có chút ít thời gian để thử sức với triết
học.
Từ những tên tuổi được trọng vọng
cho đến thường dân vào thời của Marx hẳn đã cười nhạo với suy nghĩ rằng những
tư tưởng của ông có thể tái lập thế giới. Tuy nhiên chỉ vài thập kỷ sau đó nó
đã trở thành sự thật: những tác phẩm của ông đã trở thành nền móng cho một số hệ
tư tưởng và những phong trào trọng đại của thế kỷ 20.
Tuy nhiên chúng ta không nên xem
thường công trình của Marx chỉ bởi những gì mà người ta gây ra, dựa trên tư tưởng
của ông, trong thế kỷ 20. Những tư tưởng của ông đặc biệt hữu ích cho chúng ta ở
thời điểm hiện tại. Giống như nhiều người trong chúng ta, ông muốn hiểu tại sao
trong nền kinh tế hiện đại, sự sung túc, giàu có về vật chất dường như luôn kéo
theo rất nhiều đau khổ. Ông đã rất kinh ngạc bởi sức mạnh của Chủ nghĩa tư bản,
cái cách mà nó làm cho “thiên nhiên phải khuất phục trước loài người… san bằng
toàn bộ lục địa để canh tác, thay đổi dòng chảy một con sông, mọi tấc đất đều
có dấu chân con người”. Nhưng ông cũng nhận ra rằng Chủ nghĩa tư bản không làm
cho chúng ta hạnh phúc hơn, khôn ngoan hơn hay tử tế hơn – nó không thể dẫn lối
cho chúng ta, giúp chúng ta trở nên có nhân tính hơn hoặc giúp ta phát triển
hoàn thiện bản thân mình.
Xét qua những thất bại của các chế
độ được gầy dựng dựa trên chủ nghĩa Marx trước đó, có vẻ như mọi thứ không thể
trở nên cấp tiến hơn bằng cách thực hiện các cuộc cách mạng như Marx dự đoán. Nhưng
chúng ta vẫn nên suy nghĩ một cách nghiêm túc về những vấn đề rất sâu sắc của
Chủ nghĩa tư bản mà Marx đã chỉ ra.
Đã từ rất lâu, khi tự nhận mình là
Marxist, điều này sẽ đồng nghĩa với việc bạn đồng tình với một phần nào đó tư
tưởng của Marx: những giải pháp của ông cho những căn bệnh thế giới. Và chỉ bởi
vì chúng thật kỳ quặc và điên rồ, nên tất cả những tư tưởng khác của ông đều bị
đem đi vứt xó. Nhưng Marx như một vị bác sĩ thiên tài trong thời buổi y học mới
chớm nở. Ông đã sớm nhận ra bản chất của căn bệnh, tuy nhiên ông lại chẳng có ý
niệm gì về việc chạy chữa nó. Ông đã đề ra một số hành động nhất định có vẻ khá
hợp lý trong những năm 1840, nhưng ngày nay chúng không giúp ích gì mấy.
Vào thời điểm lịch sử này, chúng
ta nên là những người Marxist, theo nghĩa tán thành với chuẩn đoán của ông về
những vấn đề hiện tại. Nhưng sau đó ta phải ra ngoài và tìm ra phương thuốc thực
sự hiệu quả. Nghe có vẻ trêu người, nhưng những phương thuốc này thực sự tồn tại,
chúng nằm rải rác trong bài báo nghiên cứu này, hay trong quyển sách kinh tế
kia, tuy nhiên chúng lại luôn bị giới hạn trên các phương tiện thông tin đại
chúng.
Chúng ta cần phải xem xét làm thế
nào để xây dựng một nền kinh tế không chỉ mang lại cho chúng ta sự thịnh vượng
mà còn mang lại mối quan hệ tốt đẹp hơn với thiên nhiên, với tiền tệ, với những
người khác và với cả chính chúng ta. Chúng ta không cần một chế độ độc tài của
giai cấp vô sản, nhưng chúng ta cần phải xem xét lại tại sao chúng ta lại phân
chia giá trị công việc và những gì chúng ta cần có để thoát ra khỏi nó. Chúng
ta không nên bãi bỏ chế độ tư hữu, nhưng chúng ta cần phải tạo ra một mối quan
hệ thận trọng và đáng tin hơn trong vấn đề tiền tệ và tiêu dùng. Và chúng ta cần
phải bắt đầu cải cách Chủ nghĩa tư bản, không phải chỉ đơn giản bằng cách lật đổ
ban lãnh đạo các ngân hàng mà bằng cách làm cho nó hoạt động trôi chảy hơn
thông qua lý trí của chính chúng ta. Chỉ khi đó chúng ta mới thực sự có thể vẽ
nên một nền kinh tế không chỉ đạt năng suất cao và tiến bộ, mà còn thúc đẩy sự
tự do và nghĩa vụ ở mỗi người.
Như chính Marx đã tuyên bố, “các
triết gia chỉ mới diễn giải thế giới theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, mục
đích là phải thay đổi nó kìa”.
Nguyễn
Trọng Luật (NCS2018)
Nguồn:
SPIDERUCOMOM
Bản chất và chiêu trò chống phá của những kẻ phản động người Việt
ở hải ngoại
Tính đến nay, có hơn 4,5 triệu người
Việt Nam định cư ở nước ngoài, sinh sống tại 103 quốc gia và vùng lãnh thổ,
trong đó ở Mỹ là 2,1 triệu người (tính đến năm 2016). Đại bộ phận trong số họ
là những người sinh sống lương thiện, tham gia xây dựng cuộc sống mới ở nước sở
tại và tích cực đóng góp xây dựng quê hương đất nước.
Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận ôm hận thù cá nhân, nuối tiếc chế
độ Việt Nam cộng hòa đã bị sụp đổ vào ngày 30/4/1975, ra sức chống phá Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam. Điều đáng nói, đã có những người nhẹ
dạ cả tin ở trong nước bị bọn chúng mua chuộc, dụ dỗ và xúi giục tiến hành các
hoạt động chống phá...
Có thể điểm mặt một số tổ chức phản động hung hăng chống phá Nhà
nước Việt Nam như: “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tự xưng, do tên cựu
trung úy ngụy Sài Gòn Đào Minh Quân cầm đầu. Đây là một tổ chức không
được bất kỳ tổ chức, quốc gia nào công nhận, nhưng vẫn huênh hoang là được 26
chính phủ, quốc gia thừa nhận và bảo lãnh. Tổ chức này tụ họp nhau trên một
vùng sa mạc ở nước Mỹ, có trụ sở cộng đồng là một cửa hiệu được một chủ hàng
chăm sóc sắc đẹp và bán quần áo đứng ra thuê hộ, ở Nam California. Về lực lượng
quân sự, mặc dù không có một binh tốt nào thuộc quyền, nhưng chúng cũng tự
phong hàm tướng cho nhau. Có thể vạch rõ, đây là một tổ chức phản động hết sức
vô văn hóa, bởi lẽ, chửi tục, văng bậy là thứ ngôn ngữ được chúng sử dụng
thường xuyên, mỗi khi xuất hiện trên cộng đồng mạng. Tiền thân của chúng là tổ
chức "Tân Dân chủ" thành lập năm 1991, trụ sở đặt tại 2807 Anaheim,
California 92814 (Mỹ), thực chất đây là một tổ chức khủng bố.
Đảng Việt Tân là một tổ chức khủng bố khác, do Hoàng Cơ Minh (đã
bị tiêu diệt trên đất Lào, trong cuộc hành quân Đông tiến 2) thành lập tháng
9/1982. Tổ chức này, tuy có tên là "đảng Việt Tân” nhưng thực ra chúng
hoạt động tại Mỹ như một hội đoàn theo quy chế "unincorporated
association” (hội đoàn không đăng ký pháp nhân). Mặc dù chúng đưa ra tuyên ngôn
bất bạo động, nhưng luôn thực hiện việc tuyên truyền, mua chuộc, kích động và
tiếp tay cho các phần tử phản động nội địa biểu tình gây bạo loạn. Dưới sự chỉ
đạo, kích động và tài trợ của Việt Tân, những năm gần đây nhiều cuộc biểu tình,
gây bạo loạn đã xảy ra ở miền Nam và Bắc miền Trung. Các tổ chức này đang ra
sức phát triển lực lượng, phô trương thanh thế và tiến hành nhiều hoạt động vừa
ngấm ngầm, vừa công khai hết sức thâm độc, chống phá điên cuồng công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Không ít kẻ nhẹ dạ cả tin ở trong
nước bị chúng mua chuộc, lường gạt tiến hành các hoạt động chống phá Nhà nước,
khi rơi vào phòng lao lý, ân hận thì đã muộn. Vì vậy, cảnh giác là bài học
không lúc nào thừa đối với mỗi người dân.
Xét trên phương diện tài chính, các tổ chức phản động này đều thực
hiện dưới hình thức quyên góp, nhưng thực chất là thực hiện các trò lừa đảo,
bắt chẹt để thu tiền của đồng bào ta ở hải ngoại. Chẳng hạn, đảng Việt Tân đã
từng dựa vào hệ thống kinh doanh phở Hòa làm cơ quan kinh tài. Để có tiền,
chúng kêu gọi đồng bào hải ngoại đến ăn phở và thực hiện các hành vi lừa đảo,
lường gạt một cách trắng trợn. Ví dụ, thực chất của chiến dịch Đông tiến 1 là
việc Việt Tân đưa một nhóm tay chân về vùng rừng núi biên giới Thái Lan giáp
Lào dưới vỏ bọc công nhân liên doanh lâm nghiệp, cho mặc áo quần áo rằn ri, đeo
ba lô, tay cầm súng lăn lê, bò toài để quay phim, chụp ảnh rồi đem về Mỹ tuyên
truyền rằng đã thành lập được nhiều khu chiến. Trò lừa đảo bịp bợm này sau đó
bị lật mặt. Vì thế, nhiều người ở hải ngoại gọi mặt trận do Hoàng Cơ Minh cầm
đầu là “mặt trận tái nạm béo”. Nhằm chống đỡ búa rìu dư luận từ bà con hải
ngoại, chúng liều lĩnh tiến hành chiến dịch Đông tiến 2, với kết cục, toàn bộ
140 tên đều bị bộ đội và dân quân Lào tiêu diệt hoặc bắt sống...
Nắm trong tay một lượng tiền nhờ lừa đảo mà có, các tổ chức này
tiến hành rất nhiều chiêu trò vừa ngấm ngầm, vừa công khai chống cộng, chống
phá Nhà nước Việt Nam. Chiêu trò hàng đầu của chúng là ra sức tuyên truyền,
kích động, lôi kéo, cưỡng ép cộng đồng người Việt ở hải ngoại và kích động một
số kẻ bất mãn trong nước chống phá Nhà nước Việt Nam một cách điên cuồng. Chúng
tuyên truyền xuyên tạc đủ điều, bằng đủ thứ ngôn ngữ hết sức xằng bậy và thô
tục. Vì sao bọn chúng điên cuồng chống phá Nhà nước Việt Nam đến
thế? Điều này bắt nguồn từ các lý do: Một mặt, hầu hết bọn chúng là những
kẻ từng là lính thuộc đội quân đánh thuê, hoặc là thân nhân của đội quân đó,
những kẻ từng ôm chân thực dân đế quốc, nay bị thất sủng. Từ địa vị những kẻ
"ăn trên ngồi trốc", nay trở thành những kẻ tha phương cầu thực, nên
vẫn ôm ấp hận thù một cách điên cuồng và mù quáng. Mặt khác, sau khi Liên Xô và
Đông Âu sụp đổ, chúng cho rằng, đây là thời cơ ngàn năm có một để thực hiện ảo
tưởng gây bạo loạn lật đổ chế độ XHCN và phục hồi thây ma Việt Nam cộng
hòa đã bị thối rữa từ lâu.
Chúng tiến hành các hoạt động cài cắm lực lượng, lôi kéo, kích
động, tài trợ cho những phần tử nhẹ dạ cả tin gây bạo loạn, khủng bố trong
nước. Đây là một hoạt động hết sức nguy hiểm, thủ đoạn của chúng là móc nối
những phần tử bất mãn, cung cấp tiền, tài liệu tuyên truyền xuyên tạc chế độ,
kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế. Chúng
thường tung tin, thổi phồng một số hiện tượng tiêu cực, yếu kém của cán bộ các
cấp. Chúng lợi dụng triệt để mọi sơ hở trong quản lý kinh tế, đất đai, sự cố về
môi trường do hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gây ra để kích động, tài
trợ tiền cho các hoạt động biểu tình chống phá. Điển hình là các hành động biểu
tình quá khích diễn ra ở nhiều nơi và kéo dài sau sự cố môi trường do Công ty
Formosa gây ra ở miền Trung. Nguy hiểm hơn, chúng còn tổ chức, tài trợ cho nhóm
15 tên tiến hành các hoạt động đốt kho tạm giữ xe vi phạm luật giao thông ở
Đồng Nai, đặt bom xăng ở sân bay Tân Sơn Nhất... đã bị cơ quan bảo vệ pháp luật
Việt Nam trừng trị nghiêm khắc.
Chúng ra sức tuyên truyền xuyên tạc sự thật, nói xấu lãnh tụ, bôi
nhọ hình ảnh đất nước và kêu gọi lật đổ chế độ. Lợi dụng sự quản lý thiếu chặt
chẽ, thời gian qua, chúng trơ tráo tung ra các video xuyên tạc lịch sử dân tộc,
nói xấu lãnh tụ, kích động biểu tình, đòi lật đổ chế độ, với đủ thứ ngôn từ thể
hiện sự ngông cuồng và ảo tưởng.
Nói tóm lại, các tổ chức phản động do những kẻ ngông cuồng và ảo
tưởng cầm đầu, được nuôi dưỡng bởi những đồng tiền lừa đảo, bất chính của một
bộ phận cộng đồng người Việt ở hải ngoại đang bày ra đủ loại chiêu trò chống
phá Nhà nước và cuộc sống yên lành của nhân dân, nhưng chắc chắn sẽ bị toàn
Đảng, toàn quân và toàn dân ta đánh bại hoàn toàn. Điều quan trọng là chúng ta
cần vạch trần bộ mặt thật và những chiêu trò chống phá để nhân dân hiểu rõ, nêu
cao tinh thần cảnh giác, không mắc phải các mưu đồ thâm độc, xảo quyệt của
những kẻ phản bội lợi ích của dân tộc./.
CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU TRÒ XUYÊN TẠC
VẤN ĐỀ “DÂN CHỦ”,
“ NHÂN QUYỀN” CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG
VIỆT NAM
Dân chủ, nhân quyền là những vấn đề nhạy
cảm và phức tạp, phản ánh bản chất, thể chế chính trị của mỗi quốc gia. Do vậy,
các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề này để chống phá các nước XHCN, trong
đó có Việt Nam. Trong lúc, chúng ta tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng thì hằng ngày, hằng giờ các thế
lực thù địch đang gia tăng các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Một
trong những thủ đoạn tinh vi của chúng là dùng chiêu bài “dân chủ”, “nhân
quyền”. Chúng cho rằng, chỉ có thông qua “dân chủ”, “nhân quyền” mới có thể làm
suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, phá bỏ được nền dân chủ XHCN ở
Việt Nam.![]()
Mới
đây, ngày 17/02, trên trang Blog Danlambao, đài RFA, VOA, BBC tiếng Việt có
đăng một số bài viết kêu gọi đòi cải thiện tình hình nhân quyền ở Việt Nam nhân
Hội nghị Đối thoại nhân quyền giữa Việt Nam - Liên minh châu Âu. Bên cạnh đó,
chúng lợi dụng vụ việc Phạm Chí Dũng (một phần tử chống đối chính trị) bị bắt
và vụ việc xảy ra tại Đồng Tâm để vu cáo Việt Nam là gia tăng đàn áp người bất
đồng chính kiến, bắt giữ người bảo vệ nhân quyền. Chúng yêu cầu chấm dứt đàn áp
xã hội dân sự, sửa đổi Bộ Luật Hình sự và trả tự do ngay lập tức cho các tù
nhân lương tâm…
Có
thế thấy, những trường hợp mà các thế lực thù địch gọi là “tù nhân lương tâm”,
“nhà bất đồng chính kiến” đã và đang bị cơ quan bảo vệ pháp luật Việt Nam bắt
giữ, thực chất là những công dân đã vi phạm pháp luật Việt Nam và họ phải chịu
trách nhiệm là hoàn toàn chính xác, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật. Do
vậy, đòi trả tự do cho những công dân Việt Nam vi phạm pháp luật là hành động
trắng trợn, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng
công ước quốc tế.
Chiêu
bài này đã trở nên cũ rích, nhưng dù có “nhai đi, nhai lại” thì vẫn không thể
làm lung lay được ý chí, niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà
nước và chế độ XHCN. Măc dù vậy, chúng vẫn coi đây là khâu đột phá của chiến
lược “Diễn biến hòa bình”, một công cụ hữu hiệu trong chính sách đối ngoại,
thông qua đó để lừa phỉnh, dụ dỗ một số người nhẹ dạ, cả tin, tạo ra cớ để can
thiệp vào công việc nội bộ, phê phán Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền.
Bên cạnh đó, một số phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đã nhen nhóm
tổ chức ra cái gọi là “Đảng dân chủ nhân dân”, “Tổ chức 8406”, “Hội kêu oan”,
“Hội nhà báo độc lập”, “Hội nối vòng tay lớn”, “Tổ đồng thuận”... Họ tự xưng là
những người có “sứ mệnh” ra tuyên ngôn đấu tranh đòi tự do, dân chủ, nhân quyền
ở Việt Nam. Các phương thức, thủ đoạn chủ yếu mà chúng thường sử dụng là tuyên
truyền xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm quyền con người, ra sức
tuyên truyền về dân chủ tư sản.
Gần đây, các thế lực phản động còn chú trọng phát triển các Bolog,
facebook, hình thành “xã hội ảo”, “công dân ảo” và sử dụng các trang mạng xã
hội, nhằm phát tán, thu gom, lưu trữ các tài liệu phản động, kích động những
người bất mãn với xã hội viết bài xuyên tạc, bôi nhọ cán bộ, công kích cấp ủy
đảng, chính quyền địa phương với mức trả thù lao rất cao. Thông qua các diễn
đàn công khai như hội thảo, các buổi tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với các cơ
quan, tổ chức của Việt Nam có chức năng giải quyết vấn đề dân chủ, nhân quyền
để họ đưa ra các tuyên bố, thư ngỏ, lập bản kiến nghị, kêu gọi ký tên ủng hộ
các quan điểm sai trái. Lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền tác động trên
lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, kích động đồng bào ở vùng sâu, vùng xa gây mất ổn
định chính trị, tạo cớ can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của ta, gây sức
ép buộc Việt Nam phải chấp nhận các yêu sách về vấn đề dân chủ, nhân quyền của
Mỹ và phương Tây.
Có thể nói, hành động chống phá của chúng ít
nhiều gây ra sự phân tâm, hoài nghi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất
là đồng bào dân tộc thiểu số, một số tôn giáo vì thiếu hiểu biết, thiếu thông
tin đã suy giảm niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN ở nước ta.
Do vậy, trước âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, phần tử cơ
hội chính trị, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải luôn nêu cao tinh thần
cảnh giác và có biện pháp đấu tranh hiệu quả, coi trọng công tác xây dựng,
chỉnh đốn đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI, XII). Tăng
cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống
chủ nghĩa cá nhân, tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, xây dựng, củng cố các tổ
chức cơ sở đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Đồng thời kiên quyết
đấu tranh vạch trần các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch, các thông tin
thêu dệt, bịa đặt, bóp méo sự thật trên không gian mạng.
Cần phải khẳng định lập trường nhất quán, trước sau như một của
Đảng và Nhà nước ta về phát huy quyền dân chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực.
Tích cực đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống cho đồng bào các dân
tộc thiểu số. Có chính sách đầu tư, hỗ trợ các vùng dân tộc, miền núi, vùng đặc
biệt khó khăn, nắm và vận động nhân dân đề cao trách nhiệm công dân, giải quyết
tốt các mâu thuẫn nảy sinh, xây dựng sự đồng thuận trong xã hội, luôn giữ vững
định chính trị, không để xảy ra mất ổn định./.














