Chủ Nhật, 4 tháng 6, 2023

Diễn biến hoà bình trên không gian mạng

Hiện nay, công nghệ thông tin, không gian mạng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi và xảo quyệt. Chúng thiết lập các trang website, blog, mở các “diễn đàn”, “câu lạc bộ”, phát tán các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu, độc để chống phá. Thủ đoạn chính của chúng là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết Quân đội với nhân dân.Qua đó, thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và Quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu,băng hoại đạo đức xã hội. Các thông tin được chúng nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật - giả, tốt - xấu, khó nhận diện, trở nên cực kỳ nguy hiểm. Quân đội là một trong những đối tượng chúng chống phá quyết liệt, vì đây là lực lượng chủ yếu, nòng cốt bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Vì vậy chúng ta cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong cơ quan, đơn vị; đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Muốn đấu tranh có hiệu quả, cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ đảng viên và cán bộ chủ trì các cấp; chủ động cung cấp thông tin, định hướng nhận thức tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân; tích cực ứng dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, khai thác có hiệu quả công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng. 1. Đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực, chống nguy cơ tụt hậu về ktế. 2. Nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nắm chắc mọi diễn biến không để bị động, bất ngờ. 3. Xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc cho toàn dân. 4. Xây dựng cơ sở chính trị, xã hội vững mạnh về mọi mặt 5. Chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang ở địa phương vững mạnh 6. Xây dựng, luyện tập các phương án, các tình huống chống “DBHB”, bạo loạn lật đổ của địch. 7. Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân lao động.

Nhận diện hoạt động các tà đạo, tạp đạo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự

 Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo. Theo thống kê chưa đầy đủ cho thấy Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo (trong hàng nghìn tín ngưỡng thì tín ngưỡng phổ biến là thờ cúng ông bà tổ tiên và tín ngưỡng thờ Mẫu). Suốt chiều dài lịch sử của đất nước, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo luôn là một bộ phận không thể tách rời của đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân Việt Nam.

Phòng chống diễn biến hoà bình trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá

Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của Đảng luôn diễn ra trong bối cảnh phức tạp, khó khăn. Trong từng thời điểm cụ thể, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những khó khăn, vướng mắc, những vấn đề mới nảy sinh để tăng cường, quyết liệt chống phá ta bằng hàng loạt các luận điệu, thủ đoạn mới, tinh vi, xảo quyệt. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, khi Đảng và Nhà nước ta chủ động đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và xã hội, các thế lực thù địch đã tìm mọi cách để bóp méo, bịa đặt với mục đích cản trở sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới; xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phá hoại Đảng và chế độ, làm tan rã mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa chính là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính. Từ đó, chú trọng một số vấn đề cụ thể là: Một là, cấp ủy, lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành phải không ngừng nâng cao nhận thức trong cuộc đấu tranh này; phải xác định rõ, quá trình tổ chức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” Hai là, trước những sự kiện chính trị, nhất là các vụ việc phức tạp, nhạy cảm tác động đến tư tưởng của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân. Ba là, nâng cao trách nhiệm xã hội, trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp. Bốn là, khắc phục sự yếu kém trong quản lý những nội dung thông tin trên mạng./.

Với sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và trong xã hội cùng ý chí quyết tâm chiến đấu cao, nhất định toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta sẽ đấu tranh làm thất bại mọi mưu đồ của địch, góp phần giữ vững ổn định chính trị, đẩy mạnh phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, tăng cường quốc phòng - an ninh, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

 

THỰC TẾ MỚI VÀ THÁCH THỨC MỚI CỦA ĐẤU TRANH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG

      Đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng-lý luận hiện nay đang diễn ra trong bối cảnh mới, có nhiều thuận lợi mới và không ít khó khăn, thách thức mới đối với việc bảo vệ những quan điểm lý luận của Đại hội XIII của Đảng. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là động lực, nguồn lực quan trọng để chúng ta vững bước đi lên. Điều đó làm cho công tác lý luận có một cơ sở thực tế mới, có một “cốt vật chất” vững chắc để thực hiện những nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, tình hình trong nước hiện nay vẫn còn tồn tại một số vấn đề đáng được quan tâm giải quyết và cũng là những khó khăn đối với công tác lý luận và đấu tranh lý luận.  Cùng những thách thức từ bên ngoài tác động vào Việt Nam không hề nhỏ. Đó là những nghịch lý, những diễn biến khó lường và khó dự báo của thế giới hiện nay. Ngay cả những giá trị cao đẹp và đích thực mà nhân loại dày công tạo dựng, vun đắp như hòa bình, độc lập, chủ quyền, công bằng, tiến bộ xã hội... cũng bị các thế lực thù địch, phản động dùng mọi mưu mô đánh phá. Đã thế, có một tình hình là thông tin về mọi mặt đời sống chính trị-kinh tế-văn hóa-xã hội ở mọi nơi trên thế giới và trong nước, cả mặt thuận và mặt trái, đều có thể hấp thụ được qua nhiều cách, nhiều chiều trên nhiều phương diện. Việc nghe, việc nhìn cũng như suy nghĩ của mỗi người trong điều kiện thông thoáng bên trong, mở cửa, hội nhập với bên ngoài hôm nay đã khác hôm qua. Tất cả điều đó tác động đến công tác lý luận nói chung và tác động trực tiếp đến cuộc đấu tranh lý luận nói riêng và đưa đến THỰC TẾ MỚI VÀ THÁCH THỨC MỚI CỦA ĐẤU TRANH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG -LÝ LUẬN TRONG MỘT GIAI ĐOẠN MỚI HIỆN NAY

Người đứng đầu đang ở đâu?

 

Những năm qua, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam đạt nhiều kết quả quan trọng, toàn diện, khiến dư luận nhân dân phấn khởi, đồng lòng ủng hộ và nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận.

Tạo “sức đề kháng”, “miễn dịch” mạnh mẽ trước hoạt động của các tà đạo hiện nay.

     Đấu tranh và kịp thời ngăn chặn các tà đạo ở nước ta hiện nay, đòi hỏi các cơ quan chức năng cần thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, đặc biệt là quản lý và định hướng các sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng địa phương, thuần phong mỹ tục của dân tộc và phù hợp với luật pháp. Tăng cường xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần phong phú, lành mạnh cho mọi người dân nhằm tạo “sức đề kháng”, “miễn dịch” mạnh mẽ trước hoạt động của các tà đạo. Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về đường lối quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Chủ động triển khai nắm tình hình, dự báo kịp thời mọi âm mưu, hoạt động lôi kéo, thu hút người tham gia các hội nhóm tà đạo để triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh. Kịp thời phát hiện, phối hợp giải quyết dứt điểm các hoạt động tụ họp nhóm hoặc có hoạt động liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo không được cơ quan chức năng cho phép để vận động quần chúng giải tán, đồng thời cô lập, răn đe những kẻ cầm đầu, cốt cán trong hội nhóm tà đạo. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo giáo dân, kết hợp với thực hiện công bằng xã hội, không ngừng nâng cao trình độ dân trí, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm ổn định an ninh chính trị, an toàn xã hội tại địa phương, nhất là vùng đồng bào theo đạo. 

TRĂN TRỞ CỦA ĐBQH VÀ TÂM TƯ, NGUYỆN VỌNG, MONG MỎI CỦA CÁN BỘ, CHIẾN SĨ TOÀN QUÂN

 Phát biểu tại phiên họp Quốc hội chiều 31-5, đại biểu Trịnh Xuân An (đoàn Đồng Nai) đề nghị cần tiếp tục quan tâm lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đầu tư thích đáng để xây lực lượng vũ trang, xây dựng Quân đội ngày càng vững mạnh, tạo điều kiện để Quân đội thực hiện tốt 3 chức năng (đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất), vừa tham gia phát triển kinh tế-xã hội, vừa bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng. Đặc biệt, cần chú trọng hỗ trợ về thu nhập, tiền lương cho cán bộ, chiến sĩ yên tâm công tác. Đại biểu Trịnh Xuân An dẫn chứng, mức lương của đồng chí quân nhân chuyên nghiệp (QNCN) lái xe tăng chỉ bằng một nửa thu nhập của tài xế xe công nghệ Grab-như vậy thì rất thiệt thòi...

Trăn trở của đại biểu Quốc hội cũng là tâm tư, nguyện vọng, mong mỏi của cán bộ, chiến sĩ toàn quân cùng tất cả người thân, gia đình và hàng triệu người hiểu thực tế cuộc sống, công tác, làm nhiệm vụ đặc thù, đặc biệt của cán bộ, chiến sĩ Quân đội.
Mặc dù Đảng, Nhà nước đã rất quan tâm đến Quân đội, nhân dân hết lòng yêu thương, sẻ chia với Quân đội, nhưng những vất vả, gian khổ, hy sinh của bộ đội và gia đình họ, cho dù trong thời bình cũng không thể kể hết. Không chỉ trực 24/24 giờ tại đơn vị mà bộ đội phải luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống, sẵn sàng làm nhiệm vụ ứng cứu, giúp đỡ nhân dân phòng, chống thiên tai, cứu hộ-cứu nạn, khắc phục các sự cố, thảm họa... trong bất kể thời gian, địa điểm, sự hiểm nguy nào. Phần lớn quân nhân cùng gia đình chịu rất nhiều thiệt thòi về tình cảm vì bộ đội thường biền biệt xa nhà, ít được gặp bố mẹ, vợ con, ngay cả khi ốm đau, hoạn nạn... Bộ đội cũng không thể chọn nơi công tác và chọn việc nhẹ nhàng; sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì, luôn xông pha vào những nơi gian khổ, nguy hiểm nhất-nhiều đồng chí đã không thể trở về. Lao động của Quân đội là lao động xương máu!
Thế nhưng, thu nhập và thực tế mức sống của đội ngũ sĩ quan, QNCN, nhất là những quân nhân tuổi dưới 40, không bằng người làm nghề tự do như thợ xây, thợ mộc, thậm chí còn không bằng người đánh giày, rửa xe, bán hàng nước vỉa hè...
Thoạt nghe tưởng bộ đội "sướng vì lương cao". Nhưng hiện nay tổng lương của sĩ quan thiếu tá đã 15 năm công tác chỉ khoảng 12 triệu đồng/tháng, trừ tiền ăn (vì phải trực, làm việc 24/24 giờ tại đơn vị) và các khoản phải nộp theo quy định của pháp luật thì chỉ còn gần 10 triệu đồng. Mức thu nhập này không bằng làm thợ xây với tiền công từ 400.000 đến 500.000 đồng/8 giờ làm việc, thấp hơn cả sinh viên mới ra trường làm trong các doanh nghiệp ở gần nhà.
Thu nhập của sĩ quan cấp úy, của các đồng chí QNCN còn thấp hơn! Rất khó tránh khỏi tâm tư khi các thượng tá, đại tá đã 30 năm cống hiến, công tác xa nhà mà lương chưa bằng tân cử nhân làm việc trong các doanh nghiệp trả tiền công tương xứng với cống hiến của người lao động.
Điều không phải ai cũng biết, đó là: Ngoài tiền lương, đại đa số quân nhân không có khoản thu nhập khác, cũng không thể làm thêm, làm giúp việc nhà; đồng thời, việc công tác xa đã phát sinh rất nhiều chi phí: Đi lại, thuê người trông con nhỏ, đưa đón con đi học, gia đình làm việc gì cần đến người đàn ông cũng phải thuê; nhiều đồng chí lấy vợ xa quê còn phải thuê nhà, tiết kiệm đến lúc nghỉ hưu cũng chưa mua được mảnh đất an cư (dù pháp luật đã quy định từ lâu, nhưng sĩ quan, QNCN vẫn chưa được hưởng phụ cấp nhà ở; số được hỗ trợ về nhà ở xã hội và được mượn, thuê nhà công vụ cũng rất ít)... Phải chăng vì thế mà sĩ quan, QNCN thường vất vả và nghèo hơn bạn cùng trang lứa? Chưa kể việc bộ đội đưa vợ con đi du lịch, đi chơi thì... hiếm vô cùng!
Chính thực tế trên đã khiến nhiều sĩ quan, QNCN khó lấy vợ, số thí sinh đăng ký học các trường Quân đội ngày càng giảm, ít người giỏi có nguyện vọng vào bộ đội... Đây là điều rất đáng suy ngẫm, đáng lo, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức mạnh của Quân đội!
Vẫn biết Bộ đội Cụ Hồ luôn có phẩm chất cao đẹp là sẵn sàng cống hiến, hy sinh, vì nhân dân quên mình...
Vẫn biết Đảng, Nhà nước, nhân dân luôn quan tâm chăm lo cho Quân đội nói chung và đời sống của cán bộ, chiến sĩ nói riêng.
Tuy nhiên, thực tiễn đời sống, thu nhập của sĩ quan, QNCN đang có nhiều khó khăn, bất cập, cần sớm giải quyết để bảo đảm công bằng xã hội, đồng thời giúp các quân nhân yên tâm công tác; quan trọng hơn là tạo động lực thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào Quân đội-nhân tố có vai trò quyết định xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Quy luật sinh tồn dân tộc ta từ buổi bình minh lịch sử là dựng nước đi đôi với giữ nước. Muốn giữ được nước thì phải lo giữ từ khi nước chưa nguy. Nhìn ra thế giới thì thấy, việc chăm lo quân đội, củng cố quốc phòng vừa là nhiệm vụ chiến lược, vừa là đòi hỏi cấp bách!

ĐÀI Á CHÂU TỰ DO, CỐ TÌNH XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ CỦA CUỐN SÁCH VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

 Gần đây trên trang Đài Á Châu tự do, cố tình xuyên tạc, phủ nhận giá trị của cuốn sách với tiêu đề: “Sách chống tham nhũng của Tổng Bí thư: In cho ai đọc?”. Đây là những luận điệu sai trái nhằm hạ thấp uy tín của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng ta, cũng như những giá trị mà cuốn sách đem lại.

Cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của đồng chí Bí thư Nguyễn Phú Trọng là cuốn sách có ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt cả về lý luận và thực tiễn đối với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tác phẩm thể hiện tư tưởng xuyên suốt, nhất quán của người đứng đầu Đảng về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, rèn luyện đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Tuy nhiên, gần đây trên trang trên trang Đài Á Châu tự do cố tình xuyên tạc, phủ nhận giá trị của cuốn sách với tiêu đề: “Sách chống tham nhũng của Tổng Bí thư: In cho ai đọc?”. Đây là những luận điệu sai trái nhằm hạ thấp uy tín của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng ta, cũng như những giá trị mà cuốn sách đem lại.
Thực tiễn cho thấy, trong thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, mà trực tiếp và thường xuyên là Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, ngày càng đi vào chiều sâu. Cuốn sách của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đề cập toàn diện, xuyên suốt và nhận diện rõ nguyên nhân của nham nhũng, tiêu cực, để có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực. Đây là một cuốn sách rất có giá trị, đúc kết lại những bài viết, bài phát biểu, kết luận, bài nói chuyện, kể cả những chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, thể hiện rõ được ý chí, nguyện vọng, đường lối mà Đảng ta đã, đang và sẽ triển khai. Sự ra đời của cuốn sách cho thấy quyết tâm lớn của Đảng, Nhà ta trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; đồng thời tiếp tục cổ vũ, khích lệ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Vì vậy, luận điệu cho rằng: “Chống tham nhũng, tiêu cực mãi chỉ là khẩu hiệu, hình thức”, hay “cuốn sách không có giá trị” là hoàn toàn vô căn cứ.

NGƯỜI DẪN LỐI CHO DÂN TỘC

 Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc không chỉ được nhân dân trong nước mà cả quốc tế thừa nhận. Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân ta. Tuy nhiên, vẫn có những luận điệu lạc lõng, phủ nhận vai trò đóng góp và tư tưởng của Người.

Cả cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Hồ Chí Minh gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc, kiên định con đường độc lập dân tộc và CNXH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Trên phương diện quốc tế, Người đã đóng góp toàn tâm, toàn ý cho sự nghiệp đấu tranh chống bất công, tạo động lực cho phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa, dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống thực dân, đế quốc kiểu cũ trên toàn thế giới.
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã vinh danh Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Mặc cho sự thừa nhận của tổ chức quốc tế có uy tín hàng đầu thế giới hiện nay, các thế lực phản động, thù địch, cơ hội vẫn không từ thủ đoạn, bôi đen sự thật, trắng trợn xuyên tạc, vu cáo sự nghiệp, tư tưởng của Người.
Thông qua “loa truyền thông”, những kẻ tự xưng là “yêu nước”, “dân chủ”, “có tiếng nói phản biện” đã bịa đặt thông tin về đời tư, về ngày sinh, về những người thân trong gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh, về nguồn gốc của Người, nhằm hạ bệ thần tượng. Những kẻ này còn xuyên tạc và phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh khi cho rằng, “tư tưởng Hồ Chí Minh là sự du nhập tư tưởng ngoại lai vào Việt Nam”; “Hồ Chí Minh là nhà dân tộc chủ nghĩa chứ không phải là người cộng sản”; “Hồ Chí Minh đi trên cỗ xe Nho giáo đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin”; “tư tưởng Hồ Chí Minh là tư biện, lý thuyết, giáo điều, sao chép, máy móc”; “Chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã lỗi thời, không phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay”…
Thực tế, cả cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều vì dân, vì nước, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam cũng như những dân tộc bị áp bức trên thế giới. Vì lo cho dân, cho nước, cho dân tộc, Người gác qua niềm vui, quyền lợi riêng tư của bản thân, gia đình mình. Từ khi quyết định rời bến cảng Nhà Rồng (1911), ra đi tìm đường cứu nước, Người đã vượt qua biết bao gian khổ, quyết tâm tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Sự nghiệp đó, công lao đó, được lịch sử ghi nhận. Việc bịa đặt, bôi đen đời tư, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hành vi xấu xa, không có lương tri, không thể chấp nhận được.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nắm lấy tinh thần, bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, có bổ sung trong quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; về thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chú trọng xây dựng và chỉnh đốn Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh; về xây dựng, tập hợp lực lượng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong các hình thức mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi…
Nghị quyết 09-NQ/TW, ngày 18/2/1995 của Bộ Chính trị (khóa VII) đã khẳng định: “Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên CNXH ở các nước thuộc địa và phụ thuộc”.
Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với tiến trình cách mạng Việt Nam là không thể phủ nhận, bởi đó là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong 93 năm qua, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930). Đại hội IX của Đảng (tháng 4/2001) khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Hiện nay, các thế lực thù địch ngày càng đẩy mạnh chiến dịch, thủ đoạn, hình thức từ bên ngoài, cấu kết và phối hợp với đối tượng phản động, cơ hội chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nước để chuyển tải, truyền bá thông tin sai lệch, bịa đặt, vu khống, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, đặc biệt là chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Việc chủ động phòng, chống sự xuyên tạc sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng trở nên bức thiết.
Bên cạnh xây dựng lực lượng nòng cốt, chuyên trách để vạch trần và phản biện nhanh với luận điệu xuyên tạc, vu khống, cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, nâng cao tính hấp dẫn trong dạy và học môn tư tưởng Hồ Chí Minh, lan tỏa mạnh mẽ gương điển hình học Bác, góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong Đảng và trong xã hội; trở thành nhu cầu tự thân, nền nếp của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị và cá nhân. Khi đó, không luận điệu xằng bậy nào có thể làm lu mờ hình tượng, tư tưởng Hồ Chí Minh trong lòng mỗi người dân và cả dân tộc Việt Nam.

HỒI ỨC CỦA NHỮNG THƯƠNG BINH NẶNG: LÍNH ĐẶC CÔNG VÀ NHỮNG LẦN LÀM " LỄ TRUY ĐIỆU SỐNG"

 Cùng đoàn và là đồng hương với ông Vĩnh, ông Phạm Bá Bảy (SN 1950), quê ở Sao Đỏ, TP. Chí Linh vẫn còn vẻ rắn rỏi, linh hoạt của một người lính đặc công. Năm hai mươi tuổi, với nhiệt huyết của tuổi trẻ, sau khi học xong nghề cơ điện, chàng thanh niên ấy lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc.

Ban đầu, tổ chức định sắp xếp ông làm nhiệm vụ lái xe tăng. Tuy nhiên, xét thấy nguyện vọng của ông là được tham gia vào một đơn vị đặc công với sức khoẻ loại tốt, cấp trên đã đồng ý.
“Ngày đấy còn trẻ, khí thế và nhiệt huyết lắm. Với lại, khi còn ở nhà, tôi đã ngưỡng mộ những người lính đặc công. Họ giỏi, nhanh nhẹn, gan dạ và bí hiểm, hay nói cách khác là “xuất quỷ nhập thần” nên khi đi bộ đội, tôi đã ghi rõ nguyện vọng được tham gia vào lực lượng đặc công”, ông Bảy tự hào.
Chiến dịch Tây Nguyên (tháng 3-1975) là chiến dịch mở đầu cuộc tiến công chiến lược, đã tiêu diệt và đập tan toàn bộ hệ thống phòng ngự của Mỹ ngụy ở Tây Nguyên; tạo ra thời cơ và điều kiện thuận lợi phát triển thành cuộc tổng tiến công chiến lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Sân bay Hoà Bình (nay là sân bay Buôn Mê Thuột) là địa bàn có vị trí rất quan trọng, lợi hại, địch sử dụng làm nơi đổ quân, đổ phương tiện, tập trung lực lượng đi ứng cứu các nơi hoặc phản kích đánh chiếm lại mục tiêu đã bị mất.
Trung đoàn Đặc công 198 đảm nhận nhiệm vụ đánh chiếm sân bay Hòa Bình. Khi đó, ông Phạm Bá Bảy được biên chế vào Tiểu đoàn 27, một trong những đơn vị được giao nhiệm vụ đánh vào điểm khó khăn nhất, quan trọng nhất của địch ở Sân bay Hoà Bình.
Quanh căn cứ mục tiêu có nhiều lớp hàng rào, xen kẽ giữa các lớp rào là bãi mìn. Lớp tường đất bao quanh căn cứ đắp cao và dày, các lô cốt và các ụ súng cũng được bố trí ngay trong tường đất hướng mũi súng ra ngoài. Hai hầm chỉ huy của Trung đoàn trưởng bằng bê tông xây chìm xuống đất...
Chỉ cho chúng tôi xem thương tích và những mảnh kim khí vẫn còn nằm lại trên thân thể, người lính đặc công Phạm Bá Bảy kể: “Lính đặc công chỉ mặc bộ quần áo cộc, đeo vài quả lựu đạn, dao găm, khẩu súng để bí mật chui sâu vào trận tuyến của địch.
Do vậy, trước khi lên đường làm nhiệm vụ, chúng tôi đã được anh em trong đơn vị làm “Lễ truy điệu sống” rồi”. Là lính đặc công lại làm nhiệm vụ trinh sát, có thể nói, ông và đồng đội là những người đi mở đường đầu tiên. Giữa những “hàng rào mìn” rộng lớn và dày đặc, đi đến đâu họ cũng phải gỡ mìn đến đấy. Nguyên tắc của lính đặc công là khi bước không bao giờ đặt cả bàn chân xuống đất mà phải đặt từ từ bằng gót, nhẹ nhàng. Khi phát hiện mìn phải tìm cách phân biệt loại mìn và tháo gỡ. Bởi chỉ một sơ suất thôi thì không có lần thứ 2 để sửa chữa...
Vì là vị trí cực kỳ quan trọng của cả ta và địch nên cuộc chiến đấu càng gay go, ác liệt hơn. Tranh giành nhau từng vị trí. Tương quan lực lượng giữa ta và địch lớn, địch mạnh, ta yếu. Cũng vì vậy nên chỉ đánh một tối là hết đạn dược và lương thực. Trong khi đó, xe tăng của ta bị địch chặn, chưa vào được đến nơi để hỗ trợ. Cố cầm cự sang đến ngày thứ ba, gần 1/3 đơn vị đã hy sinh. Sau tiếng nổ dữ dội vào đêm ngày thứ ba, ông Bảy ngất lịm, mảnh kim khí găm khắp cơ thể.
“Tuy nhiên, sau 7 ngày đêm chiến đấu, ta đã chiếm giữ hoàn toàn sân bay, đánh tan hàng chục đợt phản kích của địch”, ông nói.
Trở lại cuộc sống đời thường với thương tật 1/4, sức khoẻ giảm sút rất nhiều, mất sức lao động, ông mở một quán nước nho nhỏ để tạo niềm vui và cũng là kiếm thêm thu nhập, đỡ đần vợ chăm lo cho con cái. Với những gì đã trải qua của cuộc đời mình, ông hiểu rõ giá trị của “hoà bình”. Trong những quyển sách của con, ông thường ghi dòng chữ “Bố hy sinh để nâng cánh cho các con đi đến những ước mơ”...

Đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, làm việc cầm chừng, sợ sai...hiện trạng đáng lo ngại đối với đội ngũ cán bộ, công chức

    Đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, làm việc cầm chừng, sợ sai không dám làm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp thời gian qua đã được đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhắc nhở, được dư luận xã hội, cử tri và Nhân dân cả nước quan tâm, có cả sự động viên, khích lệ, đầy ý thức xây dựng; có cả sự trăn trở, băn khoăn, lo lắng. Theo đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cũng rất chú ý, ra sức “bới lông tìm vết”, tìm kiếm, thêu dệt, tán phát thông tin xấu, độc trên mạng xã hội; thi nhau xuyên tạc, bôi đen sự thật nhằm chống phá công tác cán bộ của Đảng, Nhà nước ta, trực tiếp chống phá Hội nghị Trung ương 7 khóa XIII (giữa nhiệm kỳ); Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV và sự điều hành của Chính phủ về các nội dung phát triển kinh tế – xã hội. Đùn đẩy, né tránh trách nhiệm... là hiện trạng đáng lo ngại, gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh, cảnh báo đối với đội ngũ cán bộ, công chức về trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao trước Tổ quốc, trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Chính hiện trạng này nhắc nhở chúng ta phải đề luôn cao cảnh giác, hết sức đề phòng kẻ xấu việc lợi dụng Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV để thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới, phát triển đất nước; thực nghị quyết Đại hội XIII của Đảng mà các thế lực thù địch chủ mưu. Hơn thế, cần phải đặc biệt chú ý đến hệ lụy từ những tác động của 4 nguy cơ đe dọa Cách mạng Việt Nam mà Đảng ta đã chỉ ra. Hiện trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, làm việc cầm chừng, sợ sai không dám làm là biểu hiện tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; đã và đang gây ra nhiều hệ lụy xấu, làm chậm tiến trình phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm minh trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, địa phương để xảy ra tình trạng tiêu cực; trước hết xử lý trách nhiệm người đứng đầu có ý nghĩa rất quan trọng trong việc cảnh tỉnh, cảnh báo, giáo dục cán bộ, công chức hiện nay.

Sẵn sàng ứng phó thiên tai

 

Cùng với thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, lực lượng “sao vuông” Thủ đô luôn thể hiện vai trò nòng cốt, tích cực tham gia công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn.

Thành tích cao nhờ nỗ lực luyện rèn

 

Từ sáng sớm, các chiến sĩ của Đại đội 9, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 692 (Sư đoàn 301, Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội) đã hoàn thành mọi công tác chuẩn bị cho buổi kiểm tra "3 tiếng nổ", kết thúc khóa huấn luyện chiến sĩ mới. Hồi hộp xen lẫn háo hức, các chiến sĩ trong loạt bắn thứ nhất vào khu vực nhận đạn, cơ động vào tuyến bắn sẵn sàng chờ lệnh.

Nhân lên tình yêu quê hương, biển, đảo

 

Tại Hải đoàn 32, Bộ tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3 vừa phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức Hành trình “Thanh niên Khánh Hòa vì biển, đảo quê hương” năm 2023.

Thi đua phải thực chất, hình thức

 

Có thể khẳng định, các phong trào thi đua đã tạo khí thế, quyết tâm, động lực để cán bộ, chiến sĩ toàn quân vượt khó, hăng hái thi đua lập thành tích, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được giao.

Hướng vào khắc phục khâu yếu

 

Đảng ủy, chỉ huy Lữ đoàn Pháo binh 16 (Quân khu 4) luôn xác định, duy trì và thực hiện tốt Phong trào Thi đua Quyết thắng chính là yếu tố quyết định đến việc hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Cần xây dựng mô hình lối sống văn hóa gia đình trong xã hội đương đại hiện nay

Gia đình của lớp người thời kinh tế thị trường sống tiện nghi, tốc độ và vô cảm trong lối sống phần đông của con người hôm nay. Dù xã hội đang thức dậy và khuyến khích những tấm gương sáng về lòng từ thiện, lòng nhân ái bao dung, sống vì cộng đồng… nhưng chưa đủ mạnh để thu hút giới trẻ đi theo. Lớp người mới thích làm ít hưởng nhiều, sống bất cần ai, bất cần đời, cái tôi là vũ trụ, hưởng thụ bản thân đòi hỏi cao, đây là con đường dẫn đến mọi tội ác trong đó có tội xâm hại trẻ em để hưởng lạc thỏa mãn bản thân. Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật để tìm ra các giải pháp xây dựng văn hóa gia đình và chống xâm hại trẻ em. Xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam trong xã hội công nghệ cần: không chạy theo thành tích, không khuyên dạy giới trẻ những bài học lý thuyết giáo điều, mà hướng đến cụ thể giải quyết những khó khăn bế tắc của lớp người mới bằng việc làm cụ thể như giải quyết tâm tư tình cảm, công việc làm kiếm sống, đào tạo nghề, hướng nghiệp…Xã hội cần hướng nghiệp cho lớp trẻ, phải không ngừng nâng cao dân trí, chống các khuynh hướng bảo thủ giáo điều, để xây dựng một xã hội có nhiều gia đình văn hóa, văn minh hội nhập, quốc tế hóa. Mô hình lối sống giới trẻ của gia đình Việt Nam đương đại là: "Gia đình văn hóa, văn minh Dân tộc truyền thống và đương đại. Gia đình an vui sống lành mạnh, phát triển văn hóa dân tộc và tính quốc tế". Xây dựng lối sống văn hóa gia đình của giới trẻ trong xã hội đương đại là nền tảng của mọi giá trị đạo đức nhân văn, kiến tạo một xã hội bình yên để phát triển con người, phát triển đất nước giàu mạnh. Phát triển nền kinh tế thị trường cùng với xây dựng vững chắc nền văn hóa nghệ thuật đương đại Việt Nam, xây dựng văn hóa gia đình, dân tộc truyền thống và đương đại.

KỶ NIỆM 112 NĂM NGÀY BÁC HỒ RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC (5/6/1911 - 5/6/2023)!

CUỘC HÀNH TRÌNH
VĨ ĐẠI VÌ ĐỘC LẬP CHO DÂN TỘC, TỰ DO CHO NHÂN DÂN!
“Hành trình của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc hành trình vĩ đại để tìm đường, mở đường và dẫn đường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Mỗi bước đi của Người trong hành trình ấy đều gắn liền với những quyết định trọng đại, những mốc son lịch sử của cách mạng Việt Nam…”.

“Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi”!
Nước mất, nhà tan. Nhân dân chịu hai tầng áp bức, bóc lột. Những cuộc nổi dậy, các trào lưu yêu nước, các cuộc khởi nghĩa nổ ra liên tục nhưng đều thất bại, hoặc chìm trong biển máu hoặc dần đi đến thoái trào… Tất cả hiện trạng ấy đã đặt ra cho lịch sử một câu hỏi lớn về con đường đấu tranh đúng đắn nhất, phù hợp nhất với dân tộc, với bối cảnh Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Sinh ra trong tình cảnh ấy, cũng thấm thía hơn ai hết cái tình cảnh trớ trêu ấy; hơn nữa, lại mang trong mình trái tim yêu nước, thương nòi thiết tha bậc nhất, người thanh niên Nguyễn Tất Thành chưa khi nào thôi trăn trở, thôi nung nấu ý định tìm ra con đường cứu nước, cứu dân. Vậy nên, với tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ và đặc biệt là với mong ước tột cùng là “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu”, ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành dưới tên gọi Văn Ba, làm phụ bếp trên con tàu của Pháp Latouche - Tréville, đã rời bến cảng Sài Gòn bắt đầu cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước. Ngày 6-7-1911, con tàu cập cảng Marseille, Pháp, từ đây mở ra chương khởi đầu trên hành trình tìm kiếm con đường đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi họa ngoại xâm của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành.
Khi đánh giá về sự kiện lịch sử này, có người cho rằng đây là “một sự đổi mới đầy dũng cảm”. Còn các nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Thị Hồng Nhung thì cho rằng: Chỉ có lòng yêu nước mãnh liệt, ý chí kiên định về giải phóng dân tộc, giải phóng Nhân dân khỏi cảnh áp bức, lầm than và lòng quả cảm mới đưa Nguyễn Tất Thành tới một lựa chọn dứt khoát, khác biệt mọi người. Chuyến đi là một quyết định mang tính lịch sử, một sự kiện mới rất đặc biệt chưa từng xảy ra. Điểm đặc biệt của chuyến đi lịch sử này, trước hết nằm ở “định hướng đi”: trước những cách thức cũ, hướng đi cũ, sang phương Đông hay lên phía Bắc mà các bậc cha anh đã chọn đều không mang lại kết quả hay thắng lợi cuối cùng; thì việc lựa chọn sang phương Tây mà trực tiếp là sang Pháp đã “phản ánh một tư duy vượt trội, rõ ràng, mạnh bạo, dám đi tới tận nơi phát sinh của vấn đề để tìm cách giải quyết vấn đề. Đó là sự khác biệt sâu sắc trong định hướng ra đi của Nguyễn Tất Thành với các thế hệ cha anh đi trước”.
Cùng với chọn “hướng đi” là xác định “mục đích đi”. Cũng theo các nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Thị Hồng Nhung, bỏ qua những ý kiến mang tính suy diễn, không phản ánh đúng thực chất mục đích chuyến đi, thì hầu hết các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều thống nhất cho rằng, Nguyễn Tất Thành xuất dương là nhằm đi tìm con đường cứu nước cho dân tộc. Điều này xuất phát từ lòng yêu nước được trao truyền, hun đúc trong dòng máu gia đình, quê hương, cũng như xuất phát từ ý thức dân tộc và đặc biệt là từ hoài bão “phải có danh gì với núi sông” của tuổi trẻ. Bản thân Người cũng đã nhiều lần nói rõ mục đích chuyến đi của mình khi trả lời báo chí. Chẳng hạn, năm 1919, khi phóng viên báo Y Chê Pao (xuất bản ở Thiên Tân, Trung Quốc ngày 20-9-1919) hỏi về mục đích đến Pháp để làm gì, Người đã trả lời: để đòi những quyền tự do mà Việt Nam phải được hưởng, với phương châm là luôn luôn tiến lên phía trước tùy theo sức mạnh của mình. Hay năm 1923, khi trả lời tạp chí “Ngọn lửa nhỏ” tại Matxcơva, Người giải thích: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái... tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”… Nói tóm lại, mục đích cuối cùng và cao cả nhất không gì khác là tìm ra con đường cứu nước thoát khỏi họa ngoại xâm, cứu dân thoát khỏi cảnh áp bức lầm than.

Song, nói thì dễ nhưng để có bước chân đầu tiên trên hành trình ấy lại cần một quyết tâm rất lớn, với một trái tim kiên nghị và quả cảm, một tinh thần dám dấn thân và sẵn sàng hy sinh, một lòng nồng nàn yêu nước, luôn đau đáu vì nước, vì dân… Quyết định bước chân lên con tàu Latouche - Tréville của con người nhỏ bé ngày ấy và lần đầu xa Tổ quốc, một mình đối diện với đại dương mênh mông, mịt mờ của thời cuộc khi ấy, ít ai ngờ lại trở thành bước đi của lịch sử. Đó là hành trình đầy gian khổ, hiểm nguy và gắn với vô số các sự kiện, các mốc lịch sử nổi bật trong hành trình giải phóng dân tộc của Người.
Dù “Tổ quốc đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi”. Đó là đòi hỏi tất yếu của lịch sử đối với con người sẽ làm nên lịch sử - làm thay đổi vận mệnh đất nước, thậm chí là làm ảnh hưởng mạnh mẽ tới thế giới sau này - với tư cách là Người viết lại “lịch sử chế độ thực dân” trong thế kỷ XX, như chính người Pháp đã thừa nhận “Con người thanh niên mảnh khảnh và đầy sức sống này có thể là người sẽ đặt chữ thập cáo chung lên nền thống trị của chúng ta ở Đông Dương” (dự cảm của Paul Arnoux - một mật thám Pháp chuyên theo dõi Nguyễn Ái Quốc kể từ sau sự kiện bản “Yêu sách của Nhân dân An Nam” và khi nghe Nguyễn Ái Quốc nói chuyện ở hội trường Hooctiquyntơ, Pari)

“Người đi tìm hình của nước”
“Cuộc hành trình đời người” kéo dài suốt 3 thập kỷ (1911-1941) đã đưa người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc qua nhiều quốc gia, để vừa lao động kiếm sống, vừa không ngừng quan sát, tìm hiểu, chiêm nghiệm và nhận thức thực tiễn. Ví như, Người từng cảm khái khi đứng dưới chân tượng Nữ thần Tự do tại New York, Mỹ vào một ngày cuối tháng 12-1912: “Ánh sáng trên đầu thần Tự do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân tượng thần Tự do thì người da đen đang bị chà đạp... Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc?”. Đồng thời, Người tích cực tìm hiểu các phong trào đấu tranh của Nhân dân lao động ở nhiều nước tư bản và thuộc địa, từ đó, không ngừng học hỏi, đánh giá và tìm kiếm con đường đấu tranh đúng đắn, khoa học để giải phóng dân tộc ta.

Trong suốt 30 năm bôn ba, đã có nhiều dấu mốc quan trọng, tác động đến cuộc đời hoạt động của Người. Sau khi sang Pháp, Nguyễn Tất Thành vừa làm vừa học và sau này gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Đến giữa năm 1919, chính giới Pháp Pari và chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương, Việt Nam, bắt đầu xôn xao về một nhân vật có tên là Nguyễn Ái Quốc - người đại diện cho “Hội những người yêu nước An Nam tại Pháp”, ký tên dưới “Bản yêu sách của Nhân dân An Nam” gửi đến đại biểu các nước thắng trận Chiến tranh thế giới thứ nhất tham dự hội nghị hòa bình họp tại lâu đài Versailles, ngoại ô thủ đô Pari. “Bản Yêu sách của nhân dân An Nam” yêu cầu Chính phủ Pháp: (1) Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị; (2) Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong Nhân dân An Nam; (3) Tự do báo chí và tự do ngôn luận; (4) Tự do lập hội và hội họp; (5) Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương; (6) Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ; (7) Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật; (8) Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ…
Từ sự kiện này, Bộ Nội vụ Pháp đã xác định: “Cuộc điều tra về phong trào tuyên truyền chống Chính phủ trong các giới Việt Nam ở Pari để ủng hộ “Bản Yêu sách của Nhân dân An Nam” cho phép rút ra kết luận rằng, hiện nay linh hồn của phong trào đó chính là Nguyễn Ái Quốc, Tổng thư ký Hội những người Việt Nam yêu nước”. Đồng thời, có nhận định cho rằng, “lần đầu tiên trong lịch sử, có một người Việt Nam tuyên bố trước toàn thế giới chủ trương giành độc lập cho dân tộc mình; lần đầu tiên trong lịch sử, có một người Việt Nam dám bóc trần những tội ác của bọn thực dân Pháp ngay ở Paris”. Cũng từ đó mà “Chính cái tên Nguyễn Ái Quốc bản thân nó có sức hấp dẫn lạ kỳ”!
Có thể nói, Hồ Chí Minh là con người của hành động. Theo nhiều nhà nghiên cứu, triết lý hành động Hồ Chí Minh, trước hết xuất phát từ trong tư tưởng, truyền thống văn hóa Việt Nam. Trong đó, điều nhân lõi nhất của triết lý nhân sinh truyền thống Việt Nam đã trở thành nền tảng cho mọi quan điểm và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh là triết lý về ở đời và làm người. Đồng thời, triết lý hành động của Người cũng chịu ảnh hưởng của các nhà tư tưởng lớn của dân tộc, như Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” gắn với triết lý “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”; hay Lý Thường Kiệt với “Nam quốc sơn hà” đã khảng khái khẳng định chủ quyền quốc gia dân tộc… Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chiêm nghiệm: “Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề... là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức”! Cũng bởi xuất phát từ yêu nước, thương dân, đau đáu trước cảnh nước mất, nhà tan nên chàng trai trẻ Nguyễn Tất Thành mới quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.
Bởi vậy, hành trình ra đi tìm đường cứu nước suốt 30 năm là minh chứng sống động về con người hành động hay triết lý hành động Hồ Chí Minh. Đó là chủ nghĩa yêu nước, là tinh thần dân tộc, là khát khao độc lập cho dân tộc, tự do cho Nhân dân… Tất cả, đã dẫn dắt Người đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học và đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. Có thể khẳng định, “hành trình của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc hành trình vĩ đại để tìm đường, mở đường và dẫn đường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Mỗi bước đi của Người trong hành trình ấy đều gắn liền với những quyết định trọng đại, những mốc son lịch sử của cách mạng Việt Nam”. Đó là hành trình tìm lại “hình” của nước, hay tìm lại “sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai” - tìm lại truyền thống lịch sử - văn hóa hào hùng để làm điểm tựa cho một tương lai rạng rỡ Việt Nam; cũng đồng thời là khẳng định quyền tự quyết dân tộc để vẽ lại hình chữ S tươi mới trên bản đồ nhân loại. Đó cũng chính là “thế đi đứng”, là “cách vin hoa” mà mỗi người Việt Nam hôm nay luôn tự hào, vốn được đặt nền móng từ cách đây 112 năm, khi người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời bước chân đầu tiên từ bến Nhà Rồng.
(Bài viết có sử dụng một số tư liệu trong cuốn “Hồ Chí Minh - Hành trình vì độc lập dân tộc (1911-1945). NXB Chính trị quốc gia Sự Thật - 2022)./.
Yêu nước ST.

Tư tưởng Hồ CHí Minh “Nước lấy dân làm gốc”- là tư tưởng vì nhân dân, vì con người

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, là kết quả của sự kết hợp giữa tư tưởng lấy "dân làm gốc" ra đời trong truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc và học thuyết Mác- Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong đấu tranh cách mạng. Kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa lý luận và thực tiễn - Chủ tich Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc” lên một tầm cao mới vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nhân văn sâu sắc. Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa, sáng tạo đúng đắn về vai trò của quần chúng cho nên Người tập hợp, đoàn kết đông đảo nhân dân, phát huy được vai trò của họ trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Quan điểm cơ bản trong tư tưởng của Người về vai trò quần chúng nhân dân là: "Dân là gốc của một nước, nước lấy dân làm gốc". Đây chính là chân lý mà Người đúc kết được sau bao năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài và tổng kết từ thực tiễn cách mạng trong nước. Bác khẳng định:“Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân” . “Trong cuộc kháng chiến kiến quốc lực lượng chính là ở dân”. “Cách làm là dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho dân” . "Gốc có vững cây mới bền, Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" . Từ quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra sức mạnh của nhân dân trong sự cấu kết với cộng đồng dân tộc, giai cấp với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Có dân là có tất cả đã trở thành phương pháp luận trong tư tưởng của Người. “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong” . Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong lịch sử dựng nước, giữ nước đều do nhân dân quyết định. Nhà quân sự lỗi lạc, đại văn hào Nguyễn Trãi đã từng nói:“Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, thuận lòng dân thì sống, nghịch lòng dân thì chết”. Đảng ta cũng khẳng định rằng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân và quan điểm “lấy dân làm gốc” trở thành tư tưởng thường trực để lãnh đạo đất nước hơn 80 năm qua "lực lượng của dân rất to, khả năng của dân thật phi thường". Vì thế, trong kháng chiến kiến quốc, muốn thắng lợi được kẻ thù thì phải huy động sức mạnh của toàn dân, biết phát huy tinh thần của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn Đảng ta là: "Phải gần gũi nhân dân, dựa vào lực lượng của nhân dân, xa rời dân thì tài tình mấy cũng không làm gì được" . Nhưng để lực lượng dân trở thành một khối thống nhất cả trong tư tưởng và hành động thì chúng ta phải đoàn kết nhau lại, vì sự đoàn kết của nhân dân là vô địch, không một kẻ thù nào có thể chia cắt được. Thực tiễn lịch sử Việt Nam ta mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước đã chứng tỏ điều đó. Sự nghiệp vẻ vang của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, v.v. chính cũng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Tuy nhiên dưới chế độ phong kiến, vai trò của quần chúng bị lu mờ, và chính bản thân quần chúng cũng không nhận thức được sức mạnh của mình. Các triều đại liên tiếp đổi thay, chính quần chúng là người quyết định sự biến đổi ấy, từ thực tiễn đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Dân trí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống nổi", "Sự đồng tâm của đồng bào đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại" Đoàn kết là sức mạnh, đó là nguyên nhân của mọi thành công, mọi thắng lợi trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công” . Sự đoàn kết càng mở rộng thì sự thành công càng chắc chắn, cho nên trong quá trình lãnh đạo cách mạng Bác luôn coi trọng sự đoàn kết nhân dân, xem đó là vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Và đó cũng là lý do để Người quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất đoàn kết xã hội thành một khối thống nhất chống ngoại xâm. Với quan điểm “Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân” là một tư duy hoàn toàn mới trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Đó chính là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng nước ta. Quan điểm này đã trở thành cơ sở lý luận cho mọi hoạt động của tổ chức và cá nhân trong xã hội nhằm phát huy vai trò sáng tạo, tích cực của quần chúng. Xuất phát từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem mình là người phục vụ quần chúng, chịu trách nhiệm trước quần chúng. Người nghiêm khắc phê phán những biểu hiện của tệ quan liêu, xa dân, khinh dân, đặc biệt là thói kiêu ngạo “quan cách mạng”, ra lệnh, ra oai, “không tin dân” để dẫn đến chỗ “dân không tin” làm hại đến uy tín của Đảng, của Chính phủ. Trong điện gửi các cán bộ chính quyền và đoàn thể miền Nam Trung Bộ năm 1950, Người phê bình: “...Máy móc, ép buộc đồng bào, nhiều việc quá trình độ, dân không hiểu, không thích. Đã thấy sai lầm mà không kịp thời sửa chữa, kịp thời báo cáo. Dùng thói quan liêu, chỉ biết ra lệnh, ép buộc dân chúng đóng góp” . Khẳng định vai trò của quần chúng nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, Đảng, Nhà nước và mỗi cán bộ, đảng viên có trách nhiệm giác ngộ, tập hợp, đoàn kết nhân dân lại rồi dẫn đường cho họ đi vào hoạt động cách mạng, nhằm đem lại lợi ích thiết thực cho dân. Người khẳng định: “Đảng ta là một đảng cầm quyền...phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, theo Người ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Đảng ta không còn lợi ích nào khác. Mục đích của Đảng là phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, để phục vụ tốt mục đích trên thì Đảng phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Mọi cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước đều là công bọc của nhân dân. Người viết: “Nước ta là Nhà nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ, trong bộ máy cách mạng từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch nước đều phân công làm đầy tớ cho dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt niềm tin tuyệt đối vào nhân dân, ngay cả khi cách mạng đang ở trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” Người vẫn một lòng tin tưởng vào nhân dân. Người cho rằng “có dân sẽ có tất cả”, “có dân việc gì cũng làm được” và Người thường xuyên động viên nhắc nhở:“chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ”. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người không chỉ tin tưởng vào sức mạnh phi thường của nhân dân mà còn tin tưởng vào cả tấm lòng yêu nước, ý chí, quyết tâm, lòng dũng cảm và sự trung thành tuyệt đối vào Đảng của nhân dân. Người khẳng định: “nhân dân ta rất anh dũng, dũng cảm, hăng hái cần cù. Từ ngày có Đảng nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng...Dù khó khăn mấy nhân dân ta nhất định thắng lợi…” Vì thế, Bác rất tôn trọng người lao động, theo Bác, tôn trọng người lao động là phải gần gũi nhân dân, hòa cùng nhân dân, không được tự tách ra khỏi dân, không được đặt mình cao hơn dân. Người dạy cán bộ, đảng viên “Từ nơi quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng. Có gần gũi, hòa cùng nhân dân thì mới hiểu được dân, đồng cảm với dân, nắm được tâm tư tình cảm của dân... Hòa cùng nhân dân còn để giác ngộ, lãnh đạo nhân dân thúc đây xã hội phát triển theo chiều hướng có lợi cho nhân dân”. Đánh giá đúng vai trò của quần chúng nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là bí quyết thắng lợi của mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và do nhân dân xây dựng. Nghĩa là phải phát huy tinh thần làm chủ, sáng tạo của dân; nhân dân phải được tham gia một cách trực tiếp vào công việc quản lý, sản xuất và đời sống của mình; phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến của dân thông qua hệ thống chính trị ở cơ sở. Người luôn nhắc nhở “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải đè đầu dân...”. “Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh” . Tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng vì nhân dân, vì con người. Dựa vào dân, tin vào lực lượng, trí tuệ của nhân dân, chăm lo cho cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân là tạo nên sức mạnh đoàn kết và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Đó chính là nền tảng của công cuộc đổi mới và phát triển mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang lãnh đạo nhân dân thực hiện. Suy ngẫm về tư tưởng Hồ Chí Minh “Nước lấy dân làm gốc” trong bối cảnh toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang quyết tâm cao độ đưa Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI vào cuộc sống, quyết tâm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên; xây dựng đội ngũ cán bộ; xác định trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan đơn vị. Với yêu cầu, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Tạo sự chuyển biến thực sự rõ nét, khắc phục những yếu kém tồn tại, củng cố thêm niềm tin với Đảng… Trong không khí cùng cả nước thi đua lập thành tích cao nhất chào mừng kỷ niệm 67 năm cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 trước anh linh của Người và các anh hùng liệt sỹ cán bộ, đảng viên chúng ta nguyện suốt đời đi theo con đường mà Bác và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn trong những năm 30 của thế kỷ trước, góp phần nhỏ bé của mình xây dựng thành công một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”

Lối sống và những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng lối sống con người mới xã hội chủ nghĩa hiện nay

Có thể nói, lối sống là một hình thức biểu hiện của văn hóa. Nói đến lối sống là nói đến cả khía cạnh văn minh nhân loại và truyền thống của một dân tộc, cả các giá trị phổ quát và cả các giá trị phù hợp với điều kiện lịch sử của từng thời kỳ nhất định. Lối sống hiểu một cách chung nhất là một tập hợp những nét cơ bản, tiêu biểu, ổn định của các hình thức hoạt động sống đặc trưng cho mỗi dân tộc, quốc gia, vùng địa lý, nhóm xã hội và cá nhân trong những điều kiện chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội cụ thể. Đó là cách thức hoạt động, ứng xử của chủ thể (cá nhân, tập thể) để đáp ứng nhu cầu sống, từ ăn, mặc, ở, đi lại, tái tạo giống nòi đến học hành, vui chơi, giao tiếp và thoả mãn nhu cầu trí tuệ, thẩm mỹ,vv..; từ hoạt động kinh doanh, chính trị, văn hoá đến việc tổ chức đời sống cá nhân, gia đình và xã hội. Lối sống người Việt Nam được hình thành do điều kiện địa lý, kinh tế, chính trí, trước hết là tâm lý và văn hoá dân tộc Việt Nam. Vì vậy, lối sống người Việt Nam chính là sự hoá thân của các đặc điểm truyền thống dân tộc, mang những nét riêng bản sắc con người và văn hoá Việt Nam. Có nhiều yếu tố cấu thành nên lối sống, có thể kể ra một vài thành tố quan trọng nhất của nó như: Cách thức lao động, làm ăn, kinh doanh; Các phong tục tập quán; Cách thức giao tiếp, ứng xử của con người; Quan niệm về đạo đức và nhân cách... Như vậy, lối sống chịu sự quy định của phương thức sản xuất xã hội và toàn bộ những điều kiện sống của con người. Nhưng nó không phải là sản phẩm thụ động bởi lối sống của con người là do con người tạo ra mà con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, vừa là chủ thể sáng tạo ra hoàn cảnh sống của chính mình. Do đó, lối sống có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến phương thức sản xuất và toàn bộ đời sống xã hội. Giống như một số nước phương Đông khác, đời sống tinh thần xã hội Việt Nam truyền thống dựa trên nền tảng vật chất là nền sản xuất nhỏ. Trải qua hàng nghìn năm phát triển lối sống truyền thống ít nhiều có sự biến đổi chứ không phải bất di bất dịch. Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến nay, dân tộc ta đã bước vào thời kỳ bảo vệ độc lập và phát triển đất nước trong thế giới hiện đại. Sau khi giành được độc lập, dân tộc ta đã tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) và đế quốc Mỹ (1955 - 1975) để bảo vệ nền độc lập, thống nhất của tổ quốc. Bước vào thời kỳ CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lối sống của con người Việt Nam tất yếu phải có sự thay đổi. Bước chuyển về mặt sản xuất vật chất xã hội đã phức tạp, bước chuyển về mặt lối sống càng phức tạp hơn. Đặc biệt, lối sống truyền thống, vốn dựa trên nền sản xuất tiểu nông, có nhiều nhân tố không tương hợp với tính chất của kinh tế thị trường. Có thể nói, ngoài mặt tích cực thì mặt trái của kinh tế thị trường có tác động tiêu cực làm phai nhạt lối sống tình nghĩa, làm rạn vỡ tinh thần tập thể, sự ổn định gia đình, đồng thời làm nảy sinh lối sống cá nhân chủ nghĩa, lối sống gấp, trụy lạc, vv… Trong lĩnh vực đạo đức: Trong thời kỳ cách mạng dân tộc, dân chủ trước đây, đạo đức xã hội hướng tới việc đề cao ý thức cộng đồng, nhấn mạnh tinh thần hy sinh cá nhân phục vụ lợi ích tập thể là “trung với Đảng, hiếu với dân”, “cần kiệm liêm chính chí công vô tư”, là nét đẹp lý tưởng của con người có đạo đức mẫu mực. Hiện nay, những chuẩn mực đạo đức đó vẫn được phát huy cho phù hợp với thời kỳ mới. Đó là, Các khái niệm luân lý như “kính lão”, “tôn sư”, “trọng trưởng”, “tín nghĩa”, “chung thủy”, “hiếu thảo”, các nhu cầu về quan hệ gia đình, dòng họ, làng xóm, quan hệ trong làm ăn, cư trú...đang dần dần mang thêm diện mạo mới. Giá trị đạo đức được đánh giá không chỉ trên phương diện quan hệ giữa người với người trong sinh hoạt đời thường, mà chuyển dần về cái gốc của nó là quan hệ giữa con người với lao động sản xuất. Tài năng trong lao động được coi trọng và được xem là phẩm chất đạo đức. Người tốt phải là người biết làm giàu chính đáng cho mình, đồng thời giúp đỡ người khác thoát khỏi cảnh nghèo khó. Sự quan tâm đến người khác không chỉ dừng ở lời nói, mà phải được thể hiện thành hành động cụ thể. Đó chính là xu thế vận động tích cực của giá trị đạo đức. Trong nền kinh tế thị trường, ý thức đạo đức đối với lao động đã thay đổi. Bất cứ lao động nào, làm việc gì, nghề gì, bằng sức lao động của mình đem lại hiệu quả cao, bảo được đời sống của bản thân và gia đình, đóng góp đống góp tích cực cho xã hôi không trái với pháp luật đều được xem như là lao động có ích, được thừa nhận và có giá trị xã hội như nhau về mặt đạo đức. Một quan niệm mới về đạo đức và một lối sống mới hình thành, đó làđạo đức hướng tới hành động, hướng vào hiệu quả công việc, hướng vào sự hình thành và phát triển cá nhân, như một chủ thể mang nhân cách khẳng định cá nhân, cá tính, ý thức về vai trò chủ thể, con người làm quen với lối sống thiết thực, khẩn trương, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm, có trách nhiệm với bản thân và xã hội. Hiện nay, trong xã hội mới – xã hội chủ nghĩa, người được coi là có đạo đức, có tinh thần yêu nước, phải là người có năng lực để lao động tự giác, làm việc hết mình vì trách nhiệm với mình và với xã hội. Đạo đức trong xã hội mới còn có biểu hiện tích cực thông qua những hành động cụ thể như: nghĩa cử đền ơn đáp nghĩa đối với những người có công, gia đình thương binh liệt sĩ, những người cô đơn, những người mắc bệnh hiểm nghèo... đã nói lên tình cảm đạo đức cao đẹp, sự cố kết cộng đồng của dân tộc ta. Trên thực tế, đạo đức xã hội nước ta hiện nay vừa có mặt tích cực vẫn có mặt tiêu cực, đang cản trở sự phát triển. Từ góc nhìn văn hóa, yếu tố tiêu cực đang có xu hương biểu hiện ngày càng tăng. Mặc dù, nó không hiện hữu nhưng đang có tính phổ biến, có thể phá hủy, bào mòn những nền tảng tinh thần đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Đó là, chủ nghĩa cá nhân và sự suy thoái trong quan niệm sống trong một phận không nhỏ, cán bộ, đảng viên đang có chiều hướng gia tăng. Từ đó, nó làm nảy sinh tâm lý sống thực dụng, đề cao một chiều các giá trị vật chất, thói vụ lợi, vị kỷ, ích kỷ, xem đồng tiền là thước đo của giá trị. Bên cạnh đó, những mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng đang có những tác động đến đạo đức lối sống trong toàn xã hội. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay là tệ quan liêu, tham nhũng, nhũng nhiễu, hách dịch dân... của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vì lợi ích cá nhân đã làm xói mòn niềm tin của dân đối với Đảng, Nhà nước. Hiện nay, nước ta đang đẩy mạnh CNH, HĐH vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, Theo quan điểm của Đảng ta những đức tính của con người Việt Nam cần phải xây dựng, phát triển trong giai đoạn cách mạng mới là, có tinh thần yêu nước, bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, phấn đấu vì độc lập dân tộc, vì Chủ nghĩa xã hội.