Chủ Nhật, 4 tháng 6, 2023

Thực hành dân chủ trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Thực hành dân chủ trong Đảng là tiến trình thực hiện những quy định, nguyên tắc… của Đảng nhằm bảo đảm quyền của đảng viên một cách thường xuyên, liên tục; trở thành chế độ, nền nếp trong mọi sinh hoạt và hoạt động của Đảng, hướng đến và bảo đảm sự tập trung, thống nhất, tạo sự đoàn kết, nhất trí, tăng cường năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng.

Vì quan niệm dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ, cho nên dân chủ trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất cũng là quyền làm chủ của mỗi đảng viên trong mọi hoạt động của Đảng, là sự bình đẳng của tất cả đảng viên trước Điều lệ, các nghị quyết và các quy định của Đảng. Nếu dân chủ là “của quý báu nhất của nhân dân” thì dân chủ trong Đảng cũng là “của quý báu nhất” của Đảng; thực hành dân chủ trong Đảng cũng là “cái chìa khóa vạn năng” giúp Đảng vượt qua mọi khó khăn, thách thức để hoàn thành sứ mệnh, nhiệm vụ chính trị vẻ vang. 

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở rộng thực hành dân chủ trong Đảng là điều cần thiết, bởi lẽ đảng viên của Đảng phải làm việc, lãnh đạo theo phong cách dân chủ, tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ thì mới xây dựng được nước ta là nước dân chủ, chế độ dân chủ, Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Theo đó, Đảng “phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình; phải gom góp ý kiến của đảng viên để giúp đỡ Trung ương chuẩn bị Đại hội Đảng cho thật tốt”. Ngược lại, sự mất dân chủ trong Đảng sẽ dẫn đến tình trạng mất đoàn kết và làm nảy sinh các thói xấu, rất nguy hại như “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”, “trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm”, “thậm thà thậm thụt”.

Người nhấn mạnh, Đảng ta phải được tổ chức một cách dân chủ. Điều đó có nghĩa là, tất cả mọi công việc của Đảng đều được toàn thể các đảng viên tham gia, hoàn toàn bình quyền và không có ngoại lệ nào, tiến hành trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu; đồng thời, tất cả những người có trách nhiệm trong Đảng, tất cả các ban lãnh đạo và các cơ quan của Đảng đều được bầu ra, đều có trách nhiệm phải báo cáo và có thể bị bãi miễn nếu không hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề mấu chốt của thực hành dân chủ trong Đảng chính là phải thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, còn được gọi là “dân chủ tập trung”. Dân chủ tập trung không chỉ là nguyên tắc lãnh đạo, mà còn là chế độ lãnh đạo của đảng cầm quyền. “Tập thể lãnh đạo là dân chủ”, “cá nhân phụ trách là tập trung” và “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung”. Khẳng định vai trò quan trọng của nguyên tắc dân chủ tập trung đối với thực hành dân chủ trong Đảng, Người chỉ rõ: “Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc.

Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc.

Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”. Như vậy, trong điều kiện một đảng cầm quyền thì tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách vừa là nguyên tắc lãnh đạo, vừa là biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ. Đồng thời, sức mạnh của Đảng được tạo dựng bởi đội ngũ cán bộ, nên muốn mở rộng dân chủ trong Đảng thì công tác cán bộ phải thực sự dân chủ, công tâm, minh bạch. 

Người nhấn mạnh, thực hành dân chủ là cơ sở để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Thực hành dân chủ trong Đảng, từ Trung ương đến cơ sở, là nền tảng vững chắc để xây dựng một Đảng đoàn kết, thống nhất, trở thành hạt nhân, động lực xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính vì vậy, trong bản Di chúc thiêng liêng, Người căn dặn và yêu cầu “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi”. 

Thấm nhuần những lời căn dặn của Người, Đảng ta chủ trương tăng cường thực hiện dân chủ trong mọi sinh hoạt của Đảng, coi đây là cơ sở quan trọng để tạo dựng và phát triển sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, tạo nên sức mạnh của Đảng. Đảng chủ trương nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy và chi bộ; tạo điều kiện để mọi đảng viên, dù ở cương vị nào cũng được bình đẳng thực hiện quyền và trách nhiệm của mình, được tham gia quyết định công việc của Đảng, được chất vấn, tự phê bình và phê bình trong phạm vi tổ chức về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp; trong đó, có quyền được thông tin, thảo luận, nêu ý kiến riêng, được bảo lưu ý kiến và trình bày ý kiến trong tổ chức đảng.

HAIVAN

NÂNG CAO SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG VÀ ĐẢNG VIÊN TRONG VIỆC BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

NÂNG CAO SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG VÀ ĐẢNG VIÊN TRONG VIỆC BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng ta ngày càng tinh vi, phức tạp. Từ thực tế đó đặt ra yêu cầu là cần nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai, thù địch để định hướng công tác tư tưởng, bảo vệ tính khoa học, cách mạng, và đúng đắn của nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Nội dung sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, bảo vệ nhân dân, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo vệ công cuộc đổi mới. Việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, là nhiệm vụ hàng đầu, thường xuyên trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam.

Nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, cần gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó xây là cơ bản, chống phải quyết liệt, hiệu quả, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố và tăng cường niềm tin vào chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững đoàn kết, thống nhất trong Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, “tự diễn biến, tự chuyển hóa”, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, phát huy sức mạnh toàn dân tộc; đẩy mạnh công cuộc đổi mới, bảo vệ tổ quốc, sớm đưa đất nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn, phương thức tấn công của các thế lực thù địch

Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần nhận diện rõ những âm mưu, thủ đoạn, phương thức, hình thức, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị tấn công vào nền tảng tư tưởng, cương lĩnh đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta, thể hiện trên những vấn đề sau:

Thứ nhất, các thế lực tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng để phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ định con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội. Các thế lực thù địch đẩy mạnh tuyên truyền, cổ xuý du nhập các trào lưu tư tưởng cực đoan: chủ nghĩa dân tuý, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan từ bên ngoài kết hợp với kích động chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái từ bên trong nhằm thúc đẩy “tự diễn biến” “tự chuyển hoá” trong hệ thống chính trị và xã hội.

Thứ hai, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa; cổ xuý “phi chính trị hoá” lực lượng vũ trang; phủ nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đối lập kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa; quy kết chế độ hiện nay mắc “lỗi hệ thống”...

Thứ ba, xuyên tạc tình hình đất nước, rêu rao cái gọi là “khủng hoảng toàn diện”, “tình thế hiểm nghèo”; cường điệu, vu khống khoét sâu các vấn đề xã hội, tôn giáo, dân tộc, nhân quyền, đất đai… nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ tư, ngụy tạo, tô vẽ, thổi phồng những yếu kém, khuyết điểm của một số tổ chức, cá nhân cán bộ, đảng viên quy kết thành bản chất của Đảng cầm quyền, kích động đối lập Đảng, nhà nước với nhân dân.

Thứ năm, xâm nhập vào nội bộ của ta, tiếp cận, lôi kéo, mua chuộc nhằm phân hoá nội bộ, dựng “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng. Đẩy mạnh tìm kiếm những phần tử thoái hoá biến chất trong hàng ngũ cán bộ Đảng viên để tán phát các quan điểm sai trái, phản động.

Thứ sáu, phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá trong hội nhập quốc tế của Đảng ta với các chiêu bài như “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước kia, cổ xuý chủ nghĩa ly khai. Chúng triệt để lợi dụng các vấn đề chủ quyền biển đảo để tung tin thất thiệt làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo của Đảng và Nhà nước ta.

Nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ rất quan trọng, đóng góp vào quá trình xây dựng, phát triển của Đảng ta. Trong suốt quá trình phát triển đất nước, đặc biệt 5 năm qua, nhất là sau khi có Nghị quyết 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị khóa XII về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, công việc này được triển khai bài bản, hệ thống, nhất quán và đặc biệt là rất quyết liệt từ Trung ương đến địa phương.

Thực tiễn cách mạng của Đảng ta chỉ rõ, ở bất kỳ giai đoạn cách mạng nào, công tác tư tưởng, lý luận luôn đứng ở vị trí hàng đầu trong các mặt công tác của Đảng. Không thể có quyết định lãnh đạo đúng đắn để có thể hoạt động lãnh đạo hiệu quả nếu không có cơ sở lý luận đúng.

Trong bối cảnh mới của tình hình thế giới và khu vực, trên cơ sở nhận rõ âm mưu chiến lược, chiến thuật, thủ đoạn, chiêu trò, biện pháp, phương thức, phương tiện của các thế lực thù địch chống phá ta trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận, Đảng ta đã xác định: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch là nhiệm vụ trọng yếu, có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Vai trò của các tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên

Trong công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, tiến đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tổ chức cơ sở đảng có vị trí, vai trò ngày càng quan trọng.

Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng từ cơ sở; lãnh đạo các tổ chức của hệ thống chính trị, các tổ chức kinh tế, xã hội, lãnh đạo cán bộ, đảng viên và nhân dân ở cơ sở; lãnh đạo các lĩnh vực của đời sống xã hội, đảm bảo cho các hoạt động ở cơ sở theo định hướng chính trị của Đảng. Với vị trí và vai trò đó, tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới cần phải được thể hiện ở các nội dung sau:

Thứ nhất, triển khai thực hiện chủ trương của cấp ủy cấp trên về nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân.

Thứ hai, tổ chức quán triệt đến các tổ chức đảng trực thuộc và cán bộ, đảng viên chủ trương, kế hoạch, biện pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thủ địch.

Thứ ba, lãnh đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở, bảo đảm tổ chức đảng và hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh, thực hiện công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới tại cơ sở.

Thứ tư, thông qua vai trò của cán bộ, đảng viên, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cấp ủy, người đứng đầu, tạo động lực và sự lan tỏa cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch tại cơ sở.

Thứ năm, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên để nhân rộng, phát triển những cách làm hay, những mô hình tiêu biểu, đồng thời kịp thời điều chỉnh, uốn nắn những cá nhân, tổ chức, đoàn thể thực hiện chưa tốt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái ở cơ quan, đơn vị mình.

Qua việc kiểm tra, giám sát đó, kịp thời phát hiện những hạn chế, khuyết điểm của các cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện nhiệm vụ; tuyên dương, nhân rộng những cách làm hay, những mô hình sáng tạo, hiệu quả.

Nền tảng tư tưởng của Đảng là một bộ phận quan trọng, đồng thời cũng là nhân tố căn bản, cốt lõi, tạo cơ sở, tiền đề quyết định mọi hoạt động xây dựng, sinh hoạt và lãnh đạo của một Đảng. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch là yêu cầu tất yếu để xây dựng và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh.

 

Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn, để Đảng “là đạo đức, là văn minh” trong giai đoạn hiện nay

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” có quá trình hình thành và phát triển gần một thế kỷ, vẫn vẹn nguyên giá trị, soi sáng công tác xây dựng Đảng hiện nay. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh việc nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.

Xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh” là vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy. Cương lĩnh của Đảng khẳng định, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh một trong 5 quan điểm chỉ đạo, đó là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng”. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay cần tập trung vào một số nội dung sau:

Thứ nhất, tiếp tục kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ lý luận chính trị. Xao nhãng, lười biếng, ngại học tập là một khuyết điểm rất lớn, “khác nào người thầy thuốc chỉ đi chữa người khác mà bệnh nặng trong mình thì quên chữa” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã răn dạy. Phải chữa cái bệnh chủ quan mà nguyên nhân là kém lý luận, khinh lý luận hoặc lý luận suông; đồng thời, phải bỏ tư tưởng học để lấy bằng cấp. Lý luận phải thống nhất với thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Trên nền tảng của một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng, cái cốt tủy về đạo đức và văn minh của Đảng là phải kiên định đường lối đổi mới vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thể hiện khát vọng phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường, bước tới đài vinh quang, cùng nhịp bước và sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng của toàn dân tộc.

Thứ hai, Đảng phải luôn luôn quán triệt quan điểm “theo đúng đường lối nhân dân” như Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần chỉ dạy. Đảng phải quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tài sản lớn nhất, có giá trị nhất của Đảng là lòng dân. Xác định sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát huy vai trò làm chủ, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân là thước đo quan trọng nhất của một đảng đạo đức, văn minh. Đảng ta nhiều lần khẳng định, chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử; toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, sự tồn vong của chế độ và của Đảng. Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII nhấn mạnh: “Từ trước đến nay, bất cứ việc gì đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, của toàn Đảng, được nhân dân và toàn Đảng đồng lòng góp sức thì nhất định thắng lợi”.

Thứ ba, để Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” thì mỗi cán bộ, đảng viên phải là những người đạo đức, văn minh. Với trọng trách là những người ưu tú nhất của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc, mỗi cán bộ, đảng viên phải tu thân, chính tâm, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, nâng cao năng lực trí tuệ, bản lĩnh, trau dồi, rèn luyện, bồi dưỡng phong cách gần gũi quần chúng, dân chủ, nêu gương trong công việc; phải hằng ngày, suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, chống chủ nghĩa cá nhân, nói đi đôi với làm, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị; trung thực, trách nhiệm, gắn bó với nhân dân.

Mỗi cán bộ, đảng viên luôn trau dồi, rèn luyện, bồi dưỡng phong cách gần gũi quần chúng, gắn bó với nhân dân_Ảnh: Tư liệu

Bản lĩnh của cán bộ, đảng viên trước mọi tình huống phức tạp, khó khăn là phải biết bảo vệ cái đúng, cái tốt, cái đẹp; chống cái sai, cái xấu, cái ác, cái giả dối; “phò chính trừ tà”. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng bảo đảm không để lọt vào cấp ủy những cán bộ nhát gan, dễ bảo, “đập đi, hò đứng”, “thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi, theo gió bẻ buồm, không có khí khái”, không dám chịu trách nhiệm, tranh công, đổ lỗi. Bản lĩnh của mỗi cán bộ, đảng viên là dám tự phê bình và phê bình đồng chí mình, tự chỉ trích, dám chịu trách nhiệm trước nhân dân, sẵn sàng từ chức khi nhân dân không còn tín nhiệm. Đảng ta chỉ rõ: “Sức mạnh của Đảng, của mỗi đảng bộ và đảng viên không chỉ ở ưu điểm mà còn ở chỗ nhận rõ và sửa chữa bằng được những vấn đề tồn tại, những sai lầm, khuyết điểm và tự vượt

”. Đó chính là sự kiên định, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh lên chính bản thân mình”.

Với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” phải nhận thức sâu sắc về các nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để chủ động đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kiên quyết, kiên trì với quyết tâm chính trị cao trong việc tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Quán triệt và triển khai Nghị quyết Đại hội XIII về xây dựng “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải “đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng. Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng. Tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức. Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức, tạo ảnh hưởng sâu rộng trong Đảng và ngoài xã hộivề Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” trong giai đoạn hiện nay.

HAIVAN

Kỷ niệm 112 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911 - 5-6-2023):

 

Kỷ niệm 112 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911 - 5-6-2023):

 

Nước mất, nhà tan. Nhân dân chịu hai tầng áp bức, bóc lột. Những cuộc nổi dậy, các trào lưu yêu nước, các cuộc khởi nghĩa nổ ra liên tục nhưng đều thất bại, hoặc chìm trong biển máu hoặc dần đi đến thoái trào… Tất cả hiện trạng ấy đã đặt ra cho lịch sử một câu hỏi lớn về con đường đấu tranh đúng đắn nhất, phù hợp nhất với dân tộc, với bối cảnh Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

 

Sinh ra trong tình cảnh ấy, cũng thấm thía hơn ai hết cái tình cảnh trớ trêu ấy; hơn nữa, lại mang trong mình trái tim yêu nước, thương nòi thiết tha bậc nhất, người thanh niên Nguyễn Tất Thành chưa khi nào thôi trăn trở, thôi nung nấu ý định tìm ra con đường cứu nước, cứu dân. Vậy nên, với tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ và đặc biệt là với mong ước tột cùng là “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu”, ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành dưới tên gọi Văn Ba, làm phụ bếp trên con tàu của Pháp Latouche - Tréville, đã rời bến cảng Sài Gòn bắt đầu cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước. Ngày 6-7-1911, con tàu cập cảng Marseille, Pháp, từ đây mở ra chương khởi đầu trên hành trình tìm kiếm con đường đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi họa ngoại xâm của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành.

 

 “Cuộc hành trình đời người” kéo dài suốt 3 thập kỷ (1911-1941) đã đưa người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc qua nhiều quốc gia, để vừa lao động kiếm sống, vừa không ngừng quan sát, tìm hiểu, chiêm nghiệm và nhận thức thực tiễn. Ví như, Người từng cảm khái khi đứng dưới chân tượng Nữ thần Tự do tại New York, Mỹ vào một ngày cuối tháng 12-1912: “Ánh sáng trên đầu thần Tự do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân tượng thần Tự do thì người da đen đang bị chà đạp... Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc?”. Đồng thời, Người tích cực tìm hiểu các phong trào đấu tranh của Nhân dân lao động ở nhiều nước tư bản và thuộc địa, từ đó, không ngừng học hỏi, đánh giá và tìm kiếm con đường đấu tranh đúng đắn, khoa học để giải phóng dân tộc ta.

Trong suốt 30 năm bôn ba, đã có nhiều dấu mốc quan trọng, tác động đến cuộc đời hoạt động của Người. Sau khi sang Pháp, Nguyễn Tất Thành vừa làm vừa học và sau này gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Đến giữa năm 1919, chính giới Pháp Pari và chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương, Việt Nam, bắt đầu xôn xao về một nhân vật có tên là Nguyễn Ái Quốc - người đại diện cho “Hội những người yêu nước An Nam tại Pháp”, ký tên dưới “Bản yêu sách của Nhân dân An Nam” gửi đến đại biểu các nước thắng trận Chiến tranh thế giới thứ nhất tham dự hội nghị hòa bình họp tại lâu đài Versailles, ngoại ô thủ đô Pari. “Bản Yêu sách của nhân dân An Nam” yêu cầu Chính phủ Pháp: (1) Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị; (2) Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong Nhân dân An Nam; (3) Tự do báo chí và tự do ngôn luận; (4) Tự do lập hội và hội họp; (5) Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương; (6) Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ; (7) Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật; (8) Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ…

 

Từ sự kiện này, Bộ Nội vụ Pháp đã xác định: “Cuộc điều tra về phong trào tuyên truyền chống Chính phủ trong các giới Việt Nam ở Pari để ủng hộ “Bản Yêu sách của Nhân dân An Nam” cho phép rút ra kết luận rằng, hiện nay linh hồn của phong trào đó chính là Nguyễn Ái Quốc, Tổng thư ký Hội những người Việt Nam yêu nước”. Đồng thời, có nhận định cho rằng, “lần đầu tiên trong lịch sử, có một người Việt Nam tuyên bố trước toàn thế giới chủ trương giành độc lập cho dân tộc mình; lần đầu tiên trong lịch sử, có một người Việt Nam dám bóc trần những tội ác của bọn thực dân Pháp ngay ở Paris”. Cũng từ đó mà “Chính cái tên Nguyễn Ái Quốc bản thân nó có sức hấp dẫn lạ kỳ”!

 

Có thể nói, Hồ Chí Minh là con người của hành động. Theo nhiều nhà nghiên cứu, triết lý hành động Hồ Chí Minh, trước hết xuất phát từ trong tư tưởng, truyền thống văn hóa Việt Nam. Trong đó, điều nhân lõi nhất của triết lý nhân sinh truyền thống Việt Nam đã trở thành nền tảng cho mọi quan điểm và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh là triết lý về ở đời và làm người. Đồng thời, triết lý hành động của Người cũng chịu ảnh hưởng của các nhà tư tưởng lớn của dân tộc, như Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” gắn với triết lý “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”; hay Lý Thường Kiệt với “Nam quốc sơn hà” đã khảng khái khẳng định chủ quyền quốc gia dân tộc… Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chiêm nghiệm: “Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề... là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức”! Cũng bởi xuất phát từ yêu nước, thương dân, đau đáu trước cảnh nước mất, nhà tan nên chàng trai trẻ Nguyễn Tất Thành mới quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.

 

Bởi vậy, hành trình ra đi tìm đường cứu nước suốt 30 năm là minh chứng sống động về con người hành động hay triết lý hành động Hồ Chí Minh. Đó là chủ nghĩa yêu nước, là tinh thần dân tộc, là khát khao độc lập cho dân tộc, tự do cho Nhân dân… Tất cả, đã dẫn dắt Người đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học và đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. Có thể khẳng định, “hành trình của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc hành trình vĩ đại để tìm đường, mở đường và dẫn đường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Mỗi bước đi của Người trong hành trình ấy đều gắn liền với những quyết định trọng đại, những mốc son lịch sử của cách mạng Việt Nam”. Đó là hành trình tìm lại “hình” của nước, hay tìm lại “sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai” - tìm lại truyền thống lịch sử - văn hóa hào hùng để làm điểm tựa cho một tương lai rạng rỡ Việt Nam; cũng đồng thời là khẳng định quyền tự quyết dân tộc để vẽ lại hình chữ S tươi mới trên bản đồ nhân loại. Đó cũng chính là “thế đi đứng”, là “cách vin hoa” mà mỗi người Việt Nam hôm nay luôn tự hào, vốn được đặt nền móng từ cách đây 112 năm, khi người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời bước chân đầu tiên từ bến Nhà Rồng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”

 

Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” trước hết thể hiện ở bản chất và mục đích của Đảng, “đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”. Một đảng đạo đức, văn minh không phải là một tổ chức để làm quan phát tài, mà phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mục đích của người cách mạng là để làm đầy tớ cho nhân dân, một người đầy tớ xứng đáng, trong sạch, trung thành chứ không phải là mục đích thăng quan phát tài”. Nói cách khác, đạo đức cách mạng cao nhất của Đảng và mỗi đảng viên là chí công vô tư. Đảng viên phải thật thà, trung thành, hăng hái; trọng lợi ích của cách mạng hơn tính mệnh của mình; phải hy sinh lợi ích của mình cho Đảng, cho Tổ quốc và dân tộc. Bất kỳ lúc nào, bất kỳ việc gì, người cán bộ, đảng viên đều phải tính đến lợi ích chung, phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của Tổ quốc lên trên hết, trước hết.

Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” thể hiện ở bản lĩnh, dũng khí, sự trung thựcthẳng thắn, “không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”. Đảng phải giữ chủ nghĩa cho vững, thành thực trong chính trị với nội dung căn cốt là “đoàn kết và thanh khiết từ to đến nhỏ”.

Bản lĩnh, dũng khí của Đảng không chỉ là gan dạ trước kẻ thù, trong xà lim, án chém, mà còn là dám tự phê bình và phê bình, cả trong nội bộ Đảng và trước nhân dân. Đảng phải biết tự chỉ trích, thành thực trong nhận khuyết điểm, sai lầm để sửa đổi, tự tiến bộ. Đảng không tự phê bình, tự chỉ trích thì không bao giờ tiến bộ được. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng nhân dân, sửa chữa khuyết điểm, để đưa công việc ngày càng tiến bộ, chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ quần chúng nhân dân phê bình. Người nhấn mạnh, một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng; một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó, là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính.

Cùng với thái độ chân thành, không che giấu khuyết điểm và thừa nhận khuyết điểm, Đảng còn phải luôn luôn xem xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã được thi hành như thế nào, đi vào cuộc sống đến đâu. Đây là một khía cạnh quan trọng thuộc về tư cách của đảng chân chính cách mạng. Đảng là đạo đức, văn minh chỉ khi các nghị quyết, chỉ thị của Đảng đi vào cuộc sống, được tổ chức triển khai hiệu quả trong thực tiễn. Không che giấu khuyết điểm, dám tự chỉ trích và luôn luôn xem xét lại công tác của Đảng là một cách tự hoàn thiện mình. Đó là một khía cạnh thể hiện văn hóa của Đảng, giá trị của Đảng.

Đảng là đạo đức, là văn minh, tức là phải hiểu dân, học dân, hỏi dânthuận lòng dân, “theo đúng đường lối nhân dân”; “từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”; “phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, một đảng văn minh là khi lời nói và việc làm của đảng phải làm cho nhân dân tin, nhân dân phục, nhân dân yêu; ngược lại, mất lòng tin của nhân dân là mất tất cả, bởi “Ý DÂN LÀ TRỜI. Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành. Làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại”. Người nhấn mạnh, việc gì đúng với nguyện vọng của nhân dân thì đều được quần chúng nhân dân ủng hộ và hăng hái đấu tranh; và như vậy, mới thật sự là một phong trào quần chúng. Đảng phải nhận thức sâu sắc được rằng, tư tưởng và hành động của Đảng là vì nhân dân và Đảng mạnh là do sự ủng hộ của nhân dân. Sự lãnh đạo của Đảng không phải là một đặc quyền theo kiểu “đảng trị”, mà là thực hiện sứ mệnh phục vụ nhân dân. Đảng “không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề, nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”.

Một trong những biểu hiện có giá trị nhất của một đảng đạo đức, văn minh là thực hành dân chủ theo đúng nghĩa “chế độ ta là chế độ dân chủ, dân là chủ và dân làm chủ”. Dân chủ là làm cho người dân có năng lực làm chủ, biết thụ hưởng và dùng quyền làm chủ, dám nói, dám làm, dám phê bình Đảng. Dân chủ là cái chìa khóa vạn năng giúp Đảng có thể giải quyết được mọi khó khăn. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân”.

Thuận lòng dân là không làm việc theo lối quan liêu, “quan” chủ; đồng thời, tuyệt đối không “theo đuôi quần chúng”, mà phải “làm theo cách quần chúng”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”. Tuyệt đối không làm việc theo cách đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo. Bởi vì, “làm theo cách quan liêu đó, thì dân oán. Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng không phải làm quan, sai khiến quần chúng mà phải làm đầy tớ cho quần chúng và phải làm cho ra trò, nếu không quần chúng sẽ đá đít. Muốn như thế phải gần quần chúng, học quần chúng, lãnh đạo quần chúng, cái gì lợi cho quần chúng thì làm, hại cho quần chúng thì tránh. Xa quần chúng là hỏng, cần phải nhớ nhiệm vụ của Đảng là làm đầy tớ cho quần chúng”.

Đạo đức và văn minh của Đảng thể hiện ở tư duy khoa học, cách mạngđổi mới, sáng tạo, tầm nhìn về tương lai, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của thế giới. Theo V.I. Lê-nin, người cộng sản phải có dũng khí nhìn vào sự thật, phải có gan vứt bỏ những nhận thức của ngày hôm qua không phù hợp với tình hình diễn biến của ngày hôm nay, phải biết “thay đổi sách lược, chọn một con đường khác để đi tới đích của chúng ta, nếu con đường cũ, trong một thời gian nhất định nào đó, xem ra không thích hợp nữa, không đi theo được nữa”. Đó chính là phương châm hành động “dĩ bất biến ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện trong suốt sự nghiệp cách mạng của mình. Về nguyên tắc, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là bất di bất dịch, nhưng sách lược phải được thực hiện một cách mềm dẻo. “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác... Ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Thế giới ngày càng đổi mới, nhân dân ngày càng tiến bộ; vì vậy, Đảng phải có đủ gan góc, đủ tinh thần phụ trách để quyết định phương hướng chính trị mới, thay đổi cách thức công tác và đấu tranh, dám bỏ những khẩu hiệu và những nghị quyết đã cũ, không hợp thời, đưa những nghị quyết và khẩu hiệu mới thay vào. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “tình hình khách quan thay đổi hàng giờ hàng phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng, hôm sau đã không hợp thời, nếu ta không tỉnh táo kiểm điểm những tư tưởng hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình thế, ta sẽ bị bỏ rơi, bị các bạn tỉnh táo nhanh nhẹn hơn vượt đi trước”.

Kết hợp đức trị với pháp trị” là một nét đẹp tiêu biểu về đạo đức, văn minh của một đảng chân chính cách mạng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “sửa chữa sai lầm, cố nhiên cần dùng cách giải thích thuyết phục, cảm hóa, dạy bảo. Song không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt. Lầm lỗi có việc to, việc nhỏ. Nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, hoàn toàn không dùng xử phạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng”. Người chỉ rõ, pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, dù cho có đang nắm giữ cương vị nào. Tính nghiêm minh của pháp luật kết hợp với giữ vững nguyên tắc, kỷ luật của Đảng từ trên xuống dưới để nhất trí về tư tưởng và hành động là một biểu hiện và phương thức hành động của một đảng đạo đức, văn minh.

HAIVAN

Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

 

Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

 

Gắn bó mật thiết với nhân dân là quy luật tồn tại, phát triển và hoạt động của Đảng Cộng sản, bởi đó là cội nguồn sức mạnh của Đảng, bảo đảm sự thành công của cách mạng. Là đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã cổ vũ, tập hợp, đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo toàn dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức để giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước; đồng thời, kiên định đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phát triển phồn vinh và hạnh phúc.

 

Từ những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh; từ việc thấm nhuần sự gắn bó mật thiết với nhân dân là yêu cầu khách quan, nhất quán đối với Đảng cầm quyền và dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng góp phần phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiền phong, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chú trọng xây dựng văn hóa chính trị trong Đảng. Các cấp ủy, tổ chức cơ sở Đảng không chỉ “tăng cường giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ có chức có quyền ở các cấp, các ngành sống gương mẫu, có trách nhiệm với chức trách, nhiệm vụ; có trách nhiệm với dân, nói đi đôi với làm để nhân dân tin tưởng noi theo” mà còn đồng thời thực hiện nghiêm ngặt các quy định về kiểm tra và giám sát, về thực thi kỷ luật Đảng, kiểm soát quyền lực trong Đảng, trong hệ thống chính trị, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng...

 

Nhờ đó mà những thành tựu đạt được của Việt Nam về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế đã chứng minh trên thực tế là để giải phóng mình, để được sống tự do, hạnh phúc và thụ hưởng những giá trị cao cả nhất của quyền con người, quyền công dân trong một quốc gia hòa bình, độc lập và thống nhất, nhân dân rất cần Đảng dẫn đường, lãnh đạo. Đồng thời, để hoàn thành trọng trách vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, Đảng cũng cần phải gắn bó mật thiết với nhân dân - nguồn sức mạnh nội lực của Đảng. Thực tế, những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng không chỉ làm cho đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày một cải thiện; sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố, tăng cường; vị thế của Việt Nam trong khu vực, trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao mà còn góp phần củng cố niềm tin yêu và gắn bó của nhân dân với Đảng, cũng như thừa nhận vai trò độc quyền lãnh đạo của Đảng.

 

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, về việc Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân nói riêng, thì tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên với những biểu hiện: quan liêu, cửa quyền, tham ô, tham nhũng, sách nhiễu dân, nhóm lợi ích… trong các cơ quan công quyền, trong các tập đoàn kinh tế lớn và ngay tại các địa bàn cơ sở đã trở thành trở lực, lực cản đối với sự phát triển đất nước; đã làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng và chế độ, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Bộ phận không nhỏ những cán bộ, đảng viên suy thoái này đã không nghiêm túc thực hiện các nguyên tắc về xây dựng Đảng, không chú trọng rèn luyện phẩm chất đạo đức, không thường xuyên tự phê bình và phê bình… nên đã sa vào chủ nghĩa cá nhân. Họ không chỉ cho mình đặc quyền “ăn trên, ngồi trốc”, lợi dụng, lạm dụng quyền lực được trao để mưu cầu lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm mà còn xa rời nguyên tắc Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, khiến nhân dân thất vọng.

 

Bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái này đã quên mình phải là những người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, đã quên đi trách nhiệm của “đầy tớ” là làm “công bộc” của dân, cho dân. “Công bộc” chính là phải gần dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của dân; là hết lòng, hết sức gánh vác việc nước, toàn tâm, toàn ý phụng sự nhân dân với tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư chứ không phải là miệng nói vì dân, nhưng việc làm thì là “quan chủ”, là “quan phụ mẫu của dân”. Hơn nữa, trong cơ chế Đảng vừa lãnh đạo cầm quyền, các tệ nạn: Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác, không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao; quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; độc đoán, chuyên quyền, lợi ích nhóm, tham ô, tham nhũng và đi liền cùng đó là sự quan liêu, lãng phí, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân,... (vốn là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân) đã từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo nhiều lần. Vấn nạn này dường như chưa được ngăn chặn, đẩy lùi và tiếp tục được chỉ ra trong Văn kiện Đại hội XI, XII, XIII của Đảng, trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”… và đó chính là hiểm họa, là tác hại khôn lường đến mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.

 

Trong khi đó, các thế lực thù địch thường lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc; thường khai thác tối đa các phương tiện truyền thông, mạng xã hội để tuyên truyền, kích động, khoét sâu một số hạn chế trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, nhất là vin vào sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Vì thế, một trong những bài học kinh nghiệm được rút ra trong 5 năm thực hiện Đại hội XII của Đảng chính là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng…; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Nhân dân là cội nguồn sức mạnh của Đảng

 

Nhân dân là cội nguồn sức mạnh của Đảng

 

Hiểu sâu sắc những chỉ dẫn của V.I.Lênin: “Một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất” đối với Đảng là “tự cắt đứt mối liên hệ với quần chúng” và  Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp vô sản, nhưng “chỉ là một bộ phận nhỏ của giai cấp vô sản và giai cấp vô sản lại cũng chỉ là một bộ phận nhỏ trong quần chúng nhân dân”, nên Đảng chỉ làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình khi gắn bó với nhân dân, lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh khẳng định: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc”.

 

Sự khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động, chứ không mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào” và “nhiệm vụ của Đảng ta là một lòng, một dạ phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác” chính là biểu hiện của sự thống nhất giữa mục tiêu và lợi ích của Đảng với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân; là cơ sở, nền tảng vững chắc của mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Quan điểm này không chỉ làm rõ vị thế Đảng vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, thể hiện rõ sự thống nhất lợi ích giữa Đảng với nhân dân mà còn đồng thời khẳng định nhân dân chính là cội nguồn sức mạnh nội lực của Đảng, làm nên sức mạnh của Đảng.

 

Thực tế quá trình vận động thành lập Đảng cũng như xuyên suốt hơn 90 năm xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiền phong của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã luôn thấm nhuần quan điểm của V.I.Lênin: “Sống trong lòng quần chúng. Biết tâm trạng của quần chúng. Biết tất cả. Hiểu quần chúng. Biết đến với quần chúng, giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng và những lời dặn của Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn (“nước lấy dân làm gốc”, “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước”) và Nguyễn Trãi (“việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, “chở thuyền cũng là dân và lật thuyền cũng là dân”) để thực hiện nghiêm nguyên tắc tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, coi đó là yêu cầu tất yếu, là nhu cầu tự thân của Đảng.

 

Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phụng sự, nên trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, chiến tranh hay hòa bình thì Đảng cũng luôn thấm nhuần quan điểm: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ” và mọi công tác của Đảng luôn phải đứng về phía quần chúng, nên “vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh để gắn bó mật thiết với nhân dân, phấn đấu cho lợi ích của nhân dân. Hơn nữa, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của những người con ưu tú nhất của giai cấp và dân tộc, nên theo Người thì “bộ tham mưu” ấy khác với các đảng phái chính trị về bản chất. Vì “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng” và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng phải vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân, cho nên hướng về nhân dân, gắn bó mật thiết và phát huy dân chủ để động viên mọi lực lượng của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng luôn được Đảng thống nhất trong tư tưởng cũng như hành động.

 

Để củng cố, giữ vững và phát huy nguồn sức mạnh nội lực của nhân dân và nhất là dựa vào nhân dân để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu các cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng (trong đó có nguyên tắc tự phê bình và phê bình; gắn bó mật thiết với nhân dân) mà Người còn yêu cầu tất cả cán bộ các cơ quan Đảng, chính quyền, cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân... đều phải tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Đồng thời, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải luôn tu dưỡng đạo đức cách mạng, thực hiện “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, để phòng và đấu tranh chống các tệ nạn/căn bệnh quan liêu, mệnh lệnh “Xa nhân dân… Khinh nhân dân… Sợ nhân dân… Không hiểu biết nhân dân… Không yêu thương nhân dân”, độc đoán, chuyên quyền, lợi dụng chức vụ, quyền hành được giao để hách dịch, sách nhiễu/ lừa phỉnh/ dọa nạt nhân dân.

 

Theo Người, để gắn bó mật thiết với nhân dân, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải luôn thấm nhuần chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; sẵn sàng học hỏi nhân dân; tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo… sẵn lòng cầu tiến bộ, sẵn chí phụng sự nhân dân”, để nhân dân tin yêu và gắn bó. Đồng thời, trong mọi mặt công tác, mỗi người cần phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa nói và làm, nêu gương làm trước để không chỉ lãnh đạo, chỉ đạo đúng, tổ chức nhân dân thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội sát hợp thực tế, mà còn phải luôn luôn quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần hàng ngày của nhân dân, để không ngừng nâng cao chất lượng đời sống cho nhân dân…

 

Luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, học hỏi nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; đồng thời, phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đúng, trong 9 thập niên xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nỗ lực phấn đấu làm tròn nhiệm vụ như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Mục đích của Đảng được gói gọn “trong 8 chữ là: ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tiếp Thủ tướng Australia

 


Chiều 4-6, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã tiếp Thủ tướng Australia Anthony Albanese đang có chuyến thăm chính thức Việt Nam từ ngày 3 đến 4-6.

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng hoan nghênh Thủ tướng Anthony Albanese lần đầu tiên sang thăm chính thức Việt Nam trên cương vị Thủ tướng; nhấn mạnh cùng với chuyến thăm Việt Nam tháng 4-2023 của Toàn quyền Australia David Hurley, chuyến thăm lần này của Thủ tướng Anthony Albanese đã góp phần tạo xung lực mới cho quan hệ Đối tác chiến lược trong bối cảnh hai nước đang kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1973-2023). Chủ tịch nước đánh giá cao Australia luôn dành cho Việt Nam nguồn ODA ổn định và đã tích cực hỗ trợ Việt Nam phòng, chống dịch bệnh Covid-19 thông qua việc kịp thời hỗ trợ vaccine với số lượng lớn.

 

Thủ tướng Anthony Albanese bày tỏ ấn tượng trước sự thay đổi của Việt Nam sau mỗi lần trở lại thăm; khẳng định Việt Nam luôn là đối tác ưu tiên hàng đầu của Australia trong khu vực và mong muốn không ngừng phát triển quan hệ hợp tác với Việt Nam; cho biết Việt Nam sẽ có một vị trí ưu tiên trong Chiến lược Kinh tế Đông Nam Á đến năm 2040 mà Australia đang xây dựng.

Hai nhà lãnh đạo bày tỏ hài lòng trước sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ hai nước sau 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân hai nước và đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới; nhất trí tăng cường hơn nữa tin cậy chính trị giữa hai nước, coi đây là cơ sở quan trọng cho việc phát triển quan hệ hai nước lên tầm cao mới trong thời gian tới. Hai bên vui mừng trước các thành tựu nổi bật trên các lĩnh vực, nhất là về chính trị - đối ngoại, quốc phòng, an ninh, kinh tế - thương mại - đầu tư, giáo dục - đào tạo, văn hóa, du lịch, thể thao, lao động, khoa học công nghệ, giao lưu nhân dân, hợp tác địa phương…

Thủ tướng Anthony Albanese vui mừng thông báo Australia vừa quyết định hỗ trợ 105 triệu AUD cho Việt Nam để thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực ứng phó với biến đổi khí hậu và chuyển đổi năng lượng; Đại học RMIT sẽ tăng đầu tư tại Việt Nam lên thành 250 triệu AUD; Đại học Tây Sydney sẽ cấp học bổng cho sinh viên Việt Nam và khu vực. Thủ tướng Albanese cũng hoan nghênh việc các hãng hàng không của Việt Nam là Vietnam Airlines và Vietjet vừa mở thêm các đường bay thẳng tới các thành phố lớn của Australia, góp phần thúc đẩy hợp tác kinh tế, du lịch và gia tăng các hoạt động giao lưu giữa nhân dân hai nước.

 


Củng cố niềm tin, sự cần thiết trong công tác đấu tranh lý luận hiện nay

     Đấu tranh lý luận trong giai đoạn mới, thời đại bùng nổ thông tin 4.0...Cần thiết là phải hướng vào chủ đích đó là củng cố niềm tin, sao cho toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân tin vào sự tất thắng của sự nghiệp cách mạng, quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một điều rất hiển nhiên là triển vọng phát triển của đất nước phụ thuộc đáng kể vào tư tưởng và nhận thức của con người. Khi tư tưởng đã thông, thống nhất một cách nghĩ sẽ biến ý chí thành hành động, làm cho triệu người đồng lòng, chung sức, tạo thành lực lượng vật chất to lớn thúc đẩy xã hội tiến lên. Yếu tố cốt lõi đưa tới thống nhất tư tưởng và hành động là niềm tin. Niềm tin trong mỗi con người là sự chắt lọc từ nhận thức và nằm trong chiều sâu nhận thức, nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với việc định hướng tư tưởng và định hướng hành động. Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân là keo gắn trong Đảng và giữa Đảng với nhân dân, tạo thành động lực to lớn giúp chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Xác lập và củng cố niềm tin cho cán bộ, nhân dân, điều cần thiết nhất là phải nâng cao trình độ giác ngộ, trình độ hiểu biết cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, đối với chúng ta, chỉ có tình cảm là không đủ, mà phải là tình cảm cách mạng dựa trên cơ sở lý luận khoa học vững chắc. Có như vậy mới định hướng đúng cho mỗi người khi gặp những điều kiện và biến cố phức tạp trong một thế giới đầy xáo động, ngổn ngang, bất trắc khôn lường. Có như vậy mới đủ kiên định trước mọi thử thách của thời cuộc./

Phòng chống “diễn biến hoà bình” trong quân đội hiện nay

Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào độc lập dân tộc mang tính toàn cầu, là chiến lược phản cách mạng, phá hoại toàn diện trên các lĩnh vực, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, quân sự, không giới hạn thời gian, không gian, nhằm đẩy đối phương suy yếu, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, rối loạn nội bộ rồi tự sụp đổ. Trong đó, chống phá về chính trị - tư tưởng là trọng tâm; đồng thời, coi trọng và đi sâu chống phá nội bộ Đảng cộng sản, chính quyền, chuyển hóa đội ngũ cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, “phi chính trị hóa quân đội và công an”. Để phòng chống “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta hiện nay, cần làm tốt những giải pháp cơ bản sau: Một là: Thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội và từng đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của bộ đội. Do đó, sức mạnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta đều bắt nguồn từ một niềm tin vững chắc với bản lĩnh chính trị vững vàng. Đó là niềm tin sắt đá vào con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn, niềm tin tất thắng vào mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội đã tạo nên sức mạnh vĩ đại trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Quân đội và Nhân dân ta. Để nâng cao bản lĩnh chính trị, cũng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng trong quân đội, trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong mọi tình huống, đặc biệt trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị. Nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho bộ đội. Hai là: Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xây dựng mọi phương án chiến đấu, luyện tập thành thạo các phương án không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra. Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, luyện tập và thành thạo các phương án chiến đấu là một trong những nhân tố bảo đảm cho các đơn vị trong quân đội đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống. Ba là: Thường xuyên củng cố và phát huy vai trò các tổ chức, quản lý chặt chẽ đơn vị về mọi mặt thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Phòng chống “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, của cả hệ thống chính trị, trước hết là ở các đơn vị cơ sở trong quân đội./.



Một số thủ đoạn trong chiến lược "Diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Đối với Việt Nam, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đặc biệt sau khi thực hiện đổi mới thành công, nước ta vẫn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch càng tập trung chống phá, mức độ ngày càng gia tăng, tính chất ngày càng nguy hiểm; lĩnh vực tập trung nhất là chính trị, tư tưởng, văn hóa; mục tiêu là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, âm mưu của các thế lực thù địch càng ngày lộ rõ và tập trung chủ yếu vào một số thủ đoạn sau: Phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm chuyển hóa ý thức hệ, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân phai nhạt lý tưởng, xa rời lập trường giai cấp. Đây là lĩnh vực có tính nhạy cảm nhất và nó có tầm quan trọng hàng đầu, thay đổi ý thức hệ dẫn đến thay đổi chế độ là con đường ngắn nhất, nhanh nhất, ít tốn kém nhất. Vì vậy, các thế lực thù địch tập trung chống phá bằng nhiều thủ đoạn; tập trung công kích chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng cho rằng đó là tư tưởng chủ quan thoát li thực tế. Từ đó, chúng công kích, bôi xấu học thuyết chuyên chính vô sản, tuyên truyền “Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước chuyên chế” “Nhà nước cực quyền”. Lợi dụng tình hình sau những vụ việc phức tạp như vấn đề biển Đông, chúng xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng trong bảo vệ độc lập chủ quyền. Tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật gây khó khăn cho ta trong việc ban hành các chính sách phát triển kinh tế, xã hội, điển hình như việc Quốc hội họp thông qua Luật đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, Luật an ninh mạng ... Sử dụng chiêu bài dân chủ nhân quyền đả kích chế độ, thể chế chính trị; khuyến khích cải tổ, đa nguyên, đa đảng. Lợi dụng những thiếu sót từ nội bộ Đảng, làm cho Đảng mất uy tín, mất hiệu lực lãnh đạo, mất đoàn kết dẫn đến tan rã về tổ chức. Chúng cho rằng, phá hoại tổ chức Đảng và cán bộ lãnh đạo Đảng là mục tiêu then chốt để lật đổ chính quyền cơ sở, tiến tới lật đổ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch ở nước ngoài tích cực cài cắm, xây dựng lực lượng, móc nối với bọn phản động trong nước thu thập thông tin, tập trung vào những sơ hở của ta trong việc ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, chúng đưa thông tin sai lệch kích động nhân dân đứng lên đấu tranh nhằm hạ uy tín của Đảng. Lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; trong thực hiện chính sách ở một số địa phương kích động nhân dân biểu tình, bạo loạn, đập phá cơ sở hạ tầng gây thiệt hại cho chính quyền; tung tin thất thiệt làm cho nhân dân mất lòng tin đối với Đảng. Dàn dựng, đưa tin bịa đặt về bí mật theo kiểu hé lộ những “thâm cung bí sử” trong Đảng làm gia tăng các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm cho nội bộ Đảng mất đoàn kết, chia rẽ, giảm sút hiệu lực lãnh đạo, phá vỡ đoàn kết thống nhất trong Đảng. Chúng tìm cách biến những mâu thuẫn thuẫn thông thường trong xã hội thành mâu thuẫn giữa nhân dân với cán bộ, chính quyền; biến mâu thuẫn không cơ bản thành mâu thuẫn cơ bản đối kháng; biến các vụ khiếu kiện thành các vụ biểu tình bạo loạn quy mô lớn chống đối chính quyền các cấp.

Thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược "diễn biến hòa bình” ngày càng tinh vi, phức tạp, khó nhận biết. Vì vậy, nghiên cứu, phân tích làm rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng trước công luận để mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân nhận biết. Từ đó nâng cao cảnh giác góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu của chúng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa là vấn đề quan trọng hàng đầu của mọi cấp, mọi ngành trong giai đoạn hiện nay. Để đấu tranh làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, một biện pháp cấp bách, quan trọng là cần tận dụng triệt để không gian mạng tăng cường đấu tranh, chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch. Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài, biến không gian mạng thành vũ khí của tất cả mọi người đập tan âm mưu của các thế lực thù địch bảo vệ và nâng cao uy tín của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ Đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì; tích cực tuyên truyền, định hướng thông tin cho cán bộ, Đảng viên và nhân dân nhận thức đúng đắn về quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Coi trọng công tác kiểm tra giám sát, có biện pháp ngăn chặn kịp thời biểu hiện suy thoái chính trị, tư tưởng đạo đức, lối sống./.

Diễn biến hoà bình trên lĩnh vực văn hoá

“Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa là sự chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị không phù hợp, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực, làm tha hóa con người, dẫn tới biến chất xã hội. Thời gian qua, nhiều biểu hiện của “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” xuất hiện trong đời sống, ở các tầng lớp xã hội. Đó là hiện tượng suy đồi đạo đức, gia tăng lối sống vị kỷ, sự vô cảm, tâm lý cũng như hành động sùng ngoại... Đặc biệt, với sự phổ biến của các phương tiện truyền thông mới, trên mạng xã hội, một bộ phận giới trẻ đã có nhiều lời nói, hành động, thái độ cổ xúy cho những biểu hiện lệch lạc trong lối sống. Tệ nạn mê tín dị đoan, việc lợi dụng tín ngưỡng, tâm linh, ngoại cảm để trục lợi, các hủ tục, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội… có chiều hướng gia tăng. Trong sáng tác, biểu diễn, phổ biến các tác phẩm văn học, nghệ thuật có không ít tác phẩm và hoạt động chưa thể hiện được tính tiên tiến và bản sắc dân tộc. Xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam là một trong những nội dung quan trọng nhằm phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”. Trong những năm qua, đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác xây dựng đạo đức, lối sống được ban hành và triển khai thực hiện, như Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16-7-1998, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Chỉ thị số 27-CT/TW, ngày 12-1-1998, của Bộ Chính trị khóa VIII về “Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội”; Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 27-7-2010, của Ban Bí thư về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại, gây hủy hoại đạo đức xã hội”; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”…

Việc thấm nhuần quan điểm của Đảng về chống “diễn biến hòa bình”, đồng thời, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp các cấp, ngành tạo ra sức mạnh tổng hợp trong phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa. Qua đó góp phần xây dựng môi trường lành mạnh để phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là trụ cột trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

  Khẳng định rằng, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xác định: Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một trụ cột trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Đây là yêu cầu tất yếu, khách quan, là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng và chế độ. Vì vậy, phải kiên quyết, kiên định, kiên trì, đấu tranh trực diện, không khoan nhượng với tham nhũng, tiêu cực; bảo đảm “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”. Trong cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” vừa xuất bản, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là một việc làm cần thiết, tất yếu, là một xu thế không thể đảo ngược” Đồng chí Tổng Bí thư đã cương quyết chỉ đạo: Phải tiến hành thật kiên quyết, kiên trì, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu bất kỳ một sức ép nào của bất cứ tổ chức, cá nhân nào. Ai ngại đấu tranh, không làm được thì đứng sang một bên…Thực tế đã chứng minh, trong những năm qua, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả mang tính đột phá với rất nhiều vụ án, vụ việc được phát hiện, xử lý nghiêm khắc từ Trung ương đến cơ sở. Nhận rõ thực tế đằng sau nhiều vụ tham nhũng, tiêu cực, nhất là những vụ đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thường có bóng dáng của một số cán bộ đứng đầu đơn vị, địa phương, ngành, thậm chí cả cán bộ Trung ương, Đảng, Nhà nước ta đã kiên quyết chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, thanh tra, điều tra làm rõ và xử lý nghiêm khắc, triệt để; kiên quyết không để sót lọt người vi phạm và những cán bộ làm ngơ, dung túng, tiếp tay, bao che...Càng khẳng định công tác Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một trụ cột trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Diễn biến hoà bình trên không gian mạng

Hiện nay, công nghệ thông tin, không gian mạng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi và xảo quyệt. Chúng thiết lập các trang website, blog, mở các “diễn đàn”, “câu lạc bộ”, phát tán các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu, độc để chống phá. Thủ đoạn chính của chúng là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết Quân đội với nhân dân.Qua đó, thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và Quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu,băng hoại đạo đức xã hội. Các thông tin được chúng nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật - giả, tốt - xấu, khó nhận diện, trở nên cực kỳ nguy hiểm. Quân đội là một trong những đối tượng chúng chống phá quyết liệt, vì đây là lực lượng chủ yếu, nòng cốt bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Vì vậy chúng ta cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong cơ quan, đơn vị; đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Muốn đấu tranh có hiệu quả, cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ đảng viên và cán bộ chủ trì các cấp; chủ động cung cấp thông tin, định hướng nhận thức tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân; tích cực ứng dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, khai thác có hiệu quả công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng. 1. Đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực, chống nguy cơ tụt hậu về ktế. 2. Nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nắm chắc mọi diễn biến không để bị động, bất ngờ. 3. Xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc cho toàn dân. 4. Xây dựng cơ sở chính trị, xã hội vững mạnh về mọi mặt 5. Chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang ở địa phương vững mạnh 6. Xây dựng, luyện tập các phương án, các tình huống chống “DBHB”, bạo loạn lật đổ của địch. 7. Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân lao động.