Thứ Năm, 8 tháng 6, 2023

Tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ, yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới

Bảo vệ chính trị nội bộ là một trong những nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; có ý nghĩa sống còn đối với sinh mệnh của Đảng, sự sống còn của chế độ và lợi ích quốc gia-dân tộc. Đảng ta xác định: Bảo vệ chính trị nội bộ chính là bảo vệ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, bảo đảm cho cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Bảo vệ chính trị nội bộ luôn là yêu cầu khách quan, nhiệm vụ cần kíp, cấp bách hiện nay, bởi vì: (1) Bảo vệ chính trị nội bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là mỗi khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, Đảng ta đều đề ra chủ trương, biện pháp bảo vệ chính trị nội bộ cho phù hợp với tình hình, yêu cầu nhiệm vụ nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, Nhà nước và thành quả cách mạng; phê phán những quan điểm sai trái, thù địch, phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội. (2) Thực hiện nghiêm chế độ, thủ tục, quy định, quy chế quản lý cán bộ, đảng viên trong nội bộ, giữ gìn kỷ luật phát ngôn, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật nội bộ của Đảng. Đảng ta coi đây là khâu có ý nghĩa quyết định đối với việc tổ chức triển khai, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. (3) Nghiên cứu, phát hiện và xử lý kịp thời những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất, những đối tượng bị các tổ chức phản động móc nối, lôi kéo, mua chuộc cài cắm vào nội bộ ta. Không để sơ hở, lộ lọt, mất thông tin, bí mật quốc gia để các thế lực thù địch lợi dụng viết bài, tung tin xấu, độc, chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ. (4) Mấu chốt của bảo vệ chính trị nội bộ là nắm chắc tình hình chính trị nội bộ của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và tổ chức đảng, giải quyết thỏa đáng những vấn đề vướng mắc, thực hiện tốt chủ trương lấy phòng ngừa, chủ động giữ vững bên trong là chính. Đại hội XIII của Đảng đã xác định bài học kinh nghiệm về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là “làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ...”. Đồng thời, xác định “tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chú trọng nắm vấn đề chính trị hiện nay. Chủ động đấu tranh, phòng ngừa có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị, nhất là các thông tin xấu, độc trên mạng xã hội. Kiên quyết đấu tranh xử lý nghiêm những cán bộ có động cơ sai trái, tư tưởng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, những cán bộ, đảng viên, những người lợi dụng phương tiện thông tin đại chúng, internet, mạng xã hội để xuyên tạc, kích động, gây mất đoàn kết nội bộ”. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI xác định: Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; các biện pháp bảo vệ bí mật, bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động của Đảng, Nhà nước và quân đội. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động xâm nhập, cài cắm, móc nối, phá hoại nội bộ của các thế lực thù địch, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để xây dựng Quân đội ta tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Phương châm của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là chủ động phòng ngừa là chính, kịp thời phát hiện, xử lý dứt điểm những vi phạm của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ; thận trọng đánh giá, khách quan khi giải quyết các vấn đề chính trị nội bộ. Trong xem xét lịch sử chính trị với những vấn đề chính trị hiện nay, thì xem xét vấn đề chính trị hiện nay là chính; giữa bản thân với quan hệ gia đình thì bản thân là chính; giữa quản lý đầu vào với xử lý đầu ra thì quản lý đầu vào là chính; giữa xử lý với sử dụng thì sử dụng là chính. Qua đó, giải đáp được các câu hỏi: Hiện tại người cán bộ, đảng viên như thế nào, có đủ tiêu chí, tiêu chuẩn chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ, có đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới hay không?. Trong thời gian qua, các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương, Quân ủy Trung ương đến tổ chức cơ sở đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; nắm chắc tình hình, rà soát, thẩm tra vấn đề lịch sử chính trị và chính trị hiện nay nên công tác bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đề bạt cán bộ, phục vụ kịp thời, hiệu quả công tác nhân sự. Kết quả nổi bật của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là đã góp phần quan trọng khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội cũng như củng cố niềm tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và quân đội; cán bộ, chiến sĩ quân đội cùng toàn Đảng, toàn dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo vệ chính trị nội bộ vẫn còn những hạn chế nhất định cần phải tiếp tục giải quyết tốt hơn, nhất là khắc phục sự bị động, lúng túng trong rà soát, thẩm tra, xác minh, thẩm định, kết luận về tiêu chuẩn chính trị của các đối tượng; nắm và quản lý tình hình chính trị nội bộ sâu sát, kịp thời hơn. Thực hiện các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước của một số cơ quan, đơn vị, cá nhân cần nghiêm túc hơn, không để xảy ra sơ hở, mất cảnh giác, kể cả ở cơ quan, đơn vị, vị trí trọng yếu, cơ mật. Cùng với đó, phải phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ ở một số cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên, chặt chẽ hơn. Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường, nhất là tác động, ảnh hưởng tiêu cực của cuộc xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, điều đó đặt ra nhiều vấn đề mới cho công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới. Vì vậy, cần nghiên cứu, thực hiện các yêu cầu để góp phần: (1) Hạn chế đến mức thấp nhất những tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ tình hình thế giới, khu vực đến tâm lý, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và một số tác động tiêu cực đến tình hình chính trị nội bộ. (2) Giải quyết kịp thời những vấn đề mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ. (3) Xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ vi phạm các tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất đạo đức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của công tác bảo vệ chính trị nội bộ, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; củng cố và nâng cao uy tín; xây dựng niềm tin của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. Để làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần thực hiện tốt một số nội dung sau: Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai đồng bộ, toàn diện các giải pháp, biện pháp cụ thể, khả thi để nâng cao hơn nữa trình độ nhận thức, hiểu biết về vị trí, vai trò, nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy. Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Ba là, chấp hành nghiêm và thực hiện đầy đủ, hiệu quả các quy định của Đảng, Nhà nước, quân đội về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác cán bộ, nhất là các quy định về bảo mật, không để lộ, lọt, mất thông tin; không viết bài, đưa tin, phát ngôn sai quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gây dư luận xấu trong xã hội và trong quân đội; thực hiện nghiêm Quy định số 126-QĐ/TW ngày 28-2-2018 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về quy định những điều đảng viên không được làm. Thực hiện tốt các phương châm trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ nhằm không bỏ sót những người có năng lực, trình độ trong quá trình thực hiện công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Bốn là, thường xuyên thực hiện tốt công tác nắm tình hình, rà soát chính trị nội bộ. Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và có biện pháp sử dụng, quản lý cán bộ, đảng viên phù hợp đối với những trường hợp có vấn đề chính trị. Thực hiện tốt hơn nữa việc kê khai bổ sung lý lịch đảng viên, kiểm tra thẻ đảng, hộ chiếu, các giấy tờ liên quan đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ; kê khai các hoạt động đi ra nước ngoài, quan hệ với nước ngoài của cán bộ, đảng viên để kịp thời phát hiện vi phạm và uốn nắn. Năm là, tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức, bố trí cán bộ làm công tác bảo vệ an ninh ở các cấp. Chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Nâng cao hơn nữa vai trò của cơ quan, cán bộ chuyên trách, kiêm nhiệm làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Nâng cao ý thức trách nhiệm, niềm vinh dự, tự hào của cán bộ, đảng viên được bổ nhiệm, đề bạt, cử đi học, ra nước ngoài. Đồng thời, xem xét kỹ lưỡng về mặt chính trị, nhất là việc nhận xét, đánh giá bảo đảm của cơ quan bảo vệ an ninh theo phân cấp. Bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung hết sức quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị. Với sự quyết tâm cao, công tác bảo vệ chính trị nội bộ sẽ tiếp tục đạt được những kết quả tốt góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.

Đấu tranh chống sự phá hoại, xuyên tạc lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện từ mùa xuân năm 1930 và đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, nhờ đó đất nước Việt Nam “có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(1). Hiện thực lịch sử vẻ vang đó được toàn dân tộc thừa nhận, tự hào và bạn bè quốc tế khâm phục, quý trọng. Đó là sự thật, không ai có thể phủ nhận. Nhưng vẫn có những thế lực thù địch, phản động ở trong nước và ở nước ngoài cố tình xuyên tạc lịch sử Đảng hòng hạ thấp và chống phá sự lãnh đạo của Đảng. 1. Có một số thế lực cố tình phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và tầm vóc, giá trị lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Họ coi đó chỉ là sự “ăn may” của cộng sản, Việt Minh. Thực tế lịch sử đã khẳng định Cách mạng Tháng Tám là kết quả tổng hợp của các phong trào cách mạng diễn ra liên tục suốt 15 năm với sự lãnh đạo của Đảng từ cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, phong trào dân chủ 1936-1939 đến phong trào giải phóng dân tộc 1939-1945. Trong phong trào giải phóng dân tộc, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã phát triển, hoàn thiện đường lối, đặt mục tiêu giành độc lập dân tộc lên hàng đầu; xây dựng lực lượng chính trị rộng lớn, đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Việt Minh; xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng rộng khắp trên cả nước; xác định phương pháp đấu tranh đi từ khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi nghĩa giành độc lập và chính quyền; dự báo và nắm bắt thời cơ cách mạng. Đó là những điều căn bản và quyết định thắng lợi của cách mạng. Điểm nổi bật có giá trị lý luận và thực tiễn của Cách mạng Tháng Tám là Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xử lý đúng đắn vấn đề tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ. Thời cơ bảo đảm cho cách mạng nổ ra và giành thắng lợi là: Cao trào cách mạng của nhân dân cả nước phát triển mạnh mẽ (Đảng đã phát động cao trào kháng Nhật cứu nước ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945); kẻ địch lâm vào khủng hoảng, hoang mang, mất sức chiến đấu (Pháp chạy, Nhật hàng Đồng minh); các tổ chức đảng và Việt Minh đủ mạnh trên cả nước, quyết tâm lãnh đạo đưa quần chúng vào hành động cách mạng. Cùng với nắm bắt thời cơ, Đảng đã chỉ rõ nguy cơ: Quân Đồng minh (Anh và Trung Hoa dân quốc) kéo vào giải giáp quân Nhật và lợi dụng danh nghĩa đó để xâm chiếm Việt Nam; lợi dụng sự thất bại của Nhật, quân Pháp quay lại áp đặt sự cai trị như trước ngày 9-3-1945. Đảng đã lãnh đạo cách mạng thắng lợi trước khi quân Đồng minh vào và trước khi quân Pháp quay lại. Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, Tuyên Quang từ ngày 14 đến 15-8-1945 quyết định tổng khởi nghĩa với nguyên tắc chỉ đạo: Tập trung, thống nhất, kịp thời và nhanh chóng giành thắng lợi trong nửa cuối tháng 8-1945. Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã xóa bỏ chế độ thuộc địa gần một thế kỷ và chế độ quân chủ phong kiến hàng nghìn năm, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc, kỷ nguyên độc lập, tự do với bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. 2. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ (1945-1954) do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo là cuộc kháng chiến thần thánh với những chiến công vẻ vang mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”. Bạn bè quốc tế nhắc đến Điện Biên Phủ gắn liền với Việt Nam-Hồ Chí Minh-Võ Nguyên Giáp. Vậy mà đến nay vẫn có thế lực cố tình xuyên tạc. Họ cho rằng có thể tránh được cuộc chiến tranh "nếu phía Việt Nam không hiếu chiến". Sự thật đã bác bỏ quan điểm sai trái đó. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa”. Lập trường hòa bình và sự nhân nhượng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa rất rõ ràng. Khi kháng chiến diễn ra ở Nam Bộ, ngày 6-3-1946, Hồ Chí Minh đã ký với J.Sainteny, Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Hà Nội bản Hiệp định Sơ bộ cho phép 15.000 quân Pháp ra miền Bắc thay thế quân đội Trung Hoa dân quốc; Pháp công nhận Việt Nam là quốc gia tự do có Chính phủ, Nghị viện, quân đội và tài chính riêng trong liên bang Đông Dương và thuộc khối liên hiệp Pháp. Đó là sự nhân nhượng rất lớn nhưng cần thiết mặc dù Pháp chưa công nhận Việt Nam độc lập và còn phải ở trong khối liên hiệp Pháp. Nhân nhượng đó thể hiện mong muốn hòa bình và quan hệ thân thiện với nước Pháp. Để thúc đẩy quá trình đó, ngày 25-4-1946, đoàn Quốc hội Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu thăm nước Pháp. Ngày 31-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội thăm chính thức nước Pháp với mong muốn hòa bình và hợp tác giữa hai nước. Ngày 6-7-1946, cuộc đàm phán Việt-Pháp bắt đầu ở Fontainebleau (Pháp). Do phía Pháp không thành thật muốn đàm phán nên giải pháp hòa bình không thành. Trước khi trở về nước ngày 14-9-1946, Hồ Chí Minh ký bản Tạm ước với Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Moutet nhân nhượng một số quyền lợi của Pháp ở Việt Nam. Ngày 18-10-1946, về đến cảng Cam Ranh, Hồ Chí Minh gặp Cao ủy Pháp D’Argenlieu trao đổi về thực hiện Tạm ước 14-9. Sau khi ra miền Bắc, quân đội Pháp liên tiếp gây hấn, vi phạm Hiệp định Sơ bộ 6-3. Ngày 20-11-1946, Valluy, Quyền Cao ủy Pháp, ra lệnh cho quân Pháp tấn công Hải Phòng. Ở Hà Nội, quân Pháp trắng trợn dùng vũ lực và đòi kiểm soát thành phố. Trước hành động chiến tranh của Pháp, dân tộc Việt Nam buộc phải chiến đấu bảo vệ nền độc lập non trẻ. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, Hồ Chí Minh nhiều lần gửi thư cho Chính phủ, Quốc hội Pháp mong muốn chấm dứt chiến sự, nối lại đàm phán nhưng phía Pháp không đáp lại. Bàn tay hòa bình của Việt Nam đưa ra nhưng phía Pháp đã không đáp lại bằng thái độ hòa bình. Chính phủ Pháp đã lao sâu vào cuộc chiến tranh mà chính người Pháp gọi là chiến tranh phi nghĩa, “chiến tranh bẩn thỉu” để cuối cùng nhận lấy thất bại đau đớn. 3. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) phải vượt qua nhiều gian khổ, hy sinh mới đi đến Ngày toàn thắng 30-4-1975, thực hiện khát vọng hòa bình, độc lập hoàn toàn và thống nhất Tổ quốc. Chính giới Hoa Kỳ và các tướng lĩnh Mỹ thừa nhận hành vi chiến tranh của họ ở Việt Nam, những bài học và nguyên nhân thất bại của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Nhiều cựu binh Mỹ đã trở lại Việt Nam có lời sám hối về cuộc chiến tranh phi nghĩa của Chính phủ Mỹ và những tội ác do họ gây ra, mong muốn được góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh, nhất là sự tàn phá của chất độc da cam/dioxin. Vậy mà vẫn có những tiếng nói lạc lõng, trắng trợn, coi chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là cuộc “nội chiến” giữa phe cộng sản và phe quốc gia. Đó là sự xuyên tạc lố bịch nhất. Năm 1950 mở đầu sự can thiệp của Mỹ khi tàu chiến Mỹ đến cảng Sài Gòn và ngày 19-3-1950, 30 vạn nhân dân Sài Gòn biểu tình chống Mỹ can thiệp. Sau thảm bại của Pháp ở Điện Biên Phủ (7-5-1954), tháng 6-1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng trong Chính phủ Bảo Đại do Pháp dựng lên từ ngày 13-6-1949. Đó là sự chuẩn bị để Mỹ thay thế Pháp ở Việt Nam. Sau Hiệp định Geneva được ký kết (tháng 7-1954), Việt Nam tạm chia làm hai miền với Vĩ tuyến 17. Ở miền Nam, Mỹ chính thức thay chân Pháp khi quân Pháp rút hết về nước (28-4-1956). Mỹ dựng lên chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Ngô Đình Diệm làm Tổng thống, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, từ chối hiệp thương với miền Bắc để tổng tuyển cử thống nhất đất nước như quy định của Hiệp định Geneva, mưu toan chia cắt lâu dài nước Việt Nam. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Mỹ dựng lên là bất hợp pháp, giả hiệu; là phản dân, hại nước. Ngụy là giả. Vì vậy, chính quyền và quân đội do Mỹ xây dựng được gọi là ngụy quyền, ngụy quân. Họ không đại diện cho quốc gia, dân tộc dù họ tự gọi mình là "chính phủ quốc gia", “chính nghĩa quốc gia”. Ngày 13-5-1957, tại Mỹ, Ngô Đình Diệm trắng trợn tuyên bố: “Biên giới của Hoa Kỳ kéo dài đến Vĩ tuyến 17”(2). Lời tuyên bố đó và cả hành động thực tế đã cho thấy bản chất của một chính quyền tay sai, bán nước, công cụ chiến tranh của Mỹ, hoàn toàn lệ thuộc vào Mỹ suốt đến sau này. Khi chính quyền đó không đáp ứng được lợi ích của Mỹ thì Mỹ sẵn sàng gạt bỏ, “thay ngựa giữa dòng”. Cái chết bi thảm của Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu trong cuộc đảo chính ngày 1-11-1963 đã chứng tỏ điều đó. Mỹ đã lần lượt thất bại trong mô hình thực dân mới ở miền Nam Việt Nam; trong “Chiến tranh đặc biệt” 1961-1964, “Chiến tranh cục bộ” 1965-1968 và “Việt Nam hóa chiến tranh” 1969-1975. Có những hành động chiến tranh vô cùng tàn bạo của Mỹ như rải chất độc hóa học hủy diệt sự sống ở miền Nam (10-8-1961); ném bom miền Bắc từ ngày 5-8-1964; ồ ạt đưa quân Mỹ tham chiến ở miền Nam (8-3-1965); sử dụng lượng vũ khí lớn ở Thành cổ Quảng Trị; ném bom hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972. Cuối cùng, quân Mỹ đã thất bại, chấp nhận ký Hiệp định Paris (27-1-1973), rút hết quân Mỹ về nước. Cách mạng Việt Nam phát triển, đánh sập ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. 4. Vào những năm 1988-1991, các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Do chủ nghĩa xét lại, cơ hội, sự suy thoái trong các Đảng Cộng sản cầm quyền và sự phản bội đã dẫn tới sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch, phản động ở Việt Nam cho rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội đã thất bại. Họ coi việc truyền bá lý luận Mác-Lênin vào Việt Nam, thành lập Đảng Cộng sản, lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là sai lầm. Họ đòi Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ sự lãnh đạo, thực hiện chế độ đa đảng và đa nguyên chính trị, xóa bỏ con đường xã hội chủ nghĩa. Đảng đã tỏ rõ bản lĩnh, trí tuệ và kinh nghiệm thực tiễn, đề ra các nguyên tắc chỉ đạo đổi mới kiên định con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Bác Hồ dứt khoát lựa chọn từ năm 1930; trung thành và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, bác bỏ đa nguyên, đa đảng. Đảng đề ra "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" (1991) và bổ sung, phát triển năm 2011. Nhờ vậy, công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế phát triển, chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững, hội nhập quốc tế và đối ngoại ngày càng mở rộng, đời sống về mọi mặt của nhân dân không ngừng được nâng cao. Việt Nam vẫn vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Năm 2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công bố tác phẩm quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Đó là công trình tổng kết quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong thời kỳ đổi mới, làm sáng tỏ mục tiêu, mô hình chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, các giải pháp và quy luật đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với lý luận khoa học và thực tiễn Việt Nam, đóng góp vào kho tàng lý luận về chủ nghĩa xã hội trên thế giới. Bản chất của chủ nghĩa xã hội Việt Nam là vì nhân dân, vì con người. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người”(3). Đất nước và dân tộc Việt Nam do Đảng lãnh đạo đang phát triển mạnh mẽ, vững chắc trên con đường đúng đắn dựa trên cơ sở khoa học và hiện thực. Mọi sự phá hoại, xuyên tạc lịch sử Đảng và sự lãnh đạo của Đảng không cản trở được khát vọng hòa bình, độc lập, thống nhất, hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam. ------------ (1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, H.2021, tập I, trang 25. (2) "Ngoại giao Việt Nam 1945-2000", NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, H.2002, trang 477. (3) Nguyễn Phú Trọng: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, H.2022, trang 21./.

Đâu phải một đảng “đẻ ra” tham nhũng

Tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là hiện tượng mang tính xã hội, tồn tại ở các quốc gia, do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra, không phân biệt chế độ xã hội, thể chế chính trị nào, chế độ đa đảng hay một đảng lãnh đạo. Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam có những bước tiến quan trọng, rất đáng ghi nhận. Thế nhưng, với những âm mưu, thủ đoạn thâm độc, các thế lực thù địch vẫn ra sức phủ nhận thành quả phòng, chống tham nhũng của Đảng và dân tộc Việt Nam. Chúng quy chụp rằng: Tham nhũng ở Việt Nam là hệ quả của việc Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo và việc phòng, chống tham nhũng thực chất chỉ là một cuộc thanh trừng nội bộ. Đây là luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ. 1. Mới đây, RFA đăng bài viết “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: Thay đổi thể chế”. Bài viết có nhiều nội dung lật lọng, đả kích, cho rằng: Việt Nam từ nhiều năm qua ra quyết tâm chống tham nhũng nhưng vẫn có hàng trăm cán bộ cấp cao bị kỷ luật bằng nhiều hình thức do tham nhũng. Liệu có diệt được tham nhũng trong thể chế hiện hành hay không? Trên cơ sở đó, tác giả bài viết hồ đồ “hiến kế”, cho rằng ở Việt Nam muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi hoàn toàn cơ chế hiện tại. Với ý đồ tương tự, một số bài viết đăng trên báo mạng nước ngoài đặt điều cho rằng, ở Việt Nam nên có sự cạnh tranh lãnh đạo giữa các đảng phái mới có thể phát hiện ra những “ung nhọt” hạn chế, yếu kém của nhau; qua đó mới giúp công tác phòng, chống tham nhũng chuyển biến thực chất. Cùng với đó, chúng còn vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam đang ở thế “lưỡng nan đối nghịch” với hàm ý chống tham nhũng nhưng ngại thay đổi thể chế chính trị, rồi giả danh những người yêu nước để hiến kế “một cách nghĩa hiệp”... Các bài viết trên cũng tập trung phủ nhận kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta. Chúng rêu rao, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã và đang ra sức phát động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nhưng đều không thành công, thậm chí, tình trạng này ngày càng gia tăng rộng khắp. Bởi “bới” chỗ nào cũng ra tham nhũng, sờ đến đâu thì kỷ luật cán bộ đến đấy. Viện dẫn bằng chứng cho những suy diễn đó, chúng chắp vá một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên được phát hiện trong thời gian gần đây, rồi quy chụp hiện tượng thành bản chất, quy chụp những sự vụ đơn lẻ thành lỗi hệ thống. Những lập luận, suy diễn trên hoàn toàn thiếu cơ sở; với mưu đồ gây nhiễu loạn thông tin dư luận, gây bất lợi cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở Việt Nam. Bởi vì, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là hiện tượng mang tính xã hội, tồn tại ở các quốc gia, do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra, không phân biệt chế độ xã hội, thể chế chính trị nào, chế độ đa đảng hay một đảng lãnh đạo. Có nghĩa, ở bất cứ nơi nào có quyền lực và quyền lực chính trị mà bị tha hóa, lạm dụng thì nơi ấy sinh ra tham nhũng. Nói đến nhà nước là nói đến quyền lực - một quyền lực to lớn và sự lạm quyền, lộng quyền, quyền lực có nguy cơ bị “tha hóa” là điều dễ xảy ra; tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh của quyền lực”. Tham nhũng là “căn bệnh” của nhà nước, có nhà nước là có tham nhũng, có chăng chỉ khác nhau ở mức độ nghiêm trọng. 2. Lịch sử nhân loại cho thấy, chế độ một đảng lãnh đạo hoàn toàn không phải là “cha đẻ” của tệ nạn tham nhũng, suy thoái, biến chất trong giới cầm quyền. Mà thực chất, tham nhũng là tệ nạn nhức nhối, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới; trong số đó, đa số là các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng lãnh đạo, tam quyền phân lập, do giai cấp tư sản lãnh đạo. Không ít quốc gia theo chế độ đa đảng, tình trạng tham nhũng diễn ra trong hệ thống công quyền đã trở thành mối nguy hại lớn, thậm chí đã leo đến tận các nguyên thủ quốc gia. Từ năm 1995, Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) đã công bố chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) hằng năm (dựa trên dữ liệu từ 13 nguồn bên ngoài, bao gồm Ngân hàng Thế giới, Diễn đàn Kinh tế thế giới, rủi ro tư nhân, các công ty tư vấn và các tổ chức khác). Đây là chỉ số toàn cầu hàng đầu về tham nhũng trong khu vực công, cung cấp một cái nhìn tổng thể hằng năm về mức độ tham nhũng tương đối ở 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Điều đó cho thấy, tham nhũng là vấn nạn chung của mọi quốc gia, chứ không thuộc bất cứ đất nước, hay bộ máy chính quyền nào. Để phòng, chống tham nhũng hiệu quả, các quốc gia trên thế giới đều xây dựng cho mình những chiến lược dài hạn với thái độ và phương thức tiến hành rất quyết liệt, mạnh mẽ. Ví như, Trung Quốc ban hành các văn bản quy định về giáo dục đạo đức và xây dựng tác phong liêm chính trong cán bộ đảng và nhà nước. Luật Chống tham nhũng (năm 1989) của Singapore cho phép tòa án tịch thu tài sản của công chức nếu họ không giải thích được nguồn gốc tài sản đó. Thái Lan yêu cầu các cơ quan chức năng phải xem xét tất cả đơn thư tố giác của người dân về tham nhũng, dù có ký tên hay không ký tên. Một số nước như Brazil, Colombia, Singapore... thiết lập các đường dây nóng để thu nhận tin tức về tội phạm nói chung và tham nhũng nói riêng. Thực tế đó cho thấy, dù là quốc gia nào, chế độ nào, thời kỳ nào cũng đều sinh ra tham nhũng và tình trạng này hoàn toàn không phải là “con đẻ” của chế độ một đảng lãnh đạo. Do đó, việc một số cá nhân, tổ chức thù địch, thiếu thiện chí cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là “căn bệnh nan y”, chỉ xảy ra ở các quốc gia do Đảng Cộng sản lãnh đạo hay ở quốc gia do một đảng lãnh đạo, cầm quyền là hoàn toàn không đúng với thực tế và hòng hiện thực những thủ đoạn chính trị thâm độc, xấu xa. Trước hết, chúng hướng đến việc tạo nên sự hoài nghi, hoang mang, dao động, gây lầm tưởng tham nhũng phức tạp là do chế độ một đảng lãnh đạo, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ. Đồng thời, thông qua đó, các đối tượng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng và toàn xã hội; mà trực tiếp, trước hết là sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. 3. Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cho thấy, cùng với quyết tâm xây dựng bộ máy nhà nước dựa trên pháp trị, các triều đại phong kiến Việt Nam rất quan tâm đến việc phòng, chống tham nhũng. Hơn một nghìn năm trước, Triều Lý (1009-1225) đã đề ra những quy định khắt khe và rất cụ thể để ngăn ngừa và trừng trị hành vi tham ô, ăn trộm của công của quan lại. Đến Triều Lê Sơ, Bộ luật Hồng Đức có 722 điều, trong đó có hơn 40 điều liên quan đến việc phòng, chống tham nhũng. Các triều đại kế tiếp, việc chống tham nhũng được coi trọng; quan tâm ngăn ngừa, loại bỏ các mối quan hệ thân tộc, gia đình, đồng hương, bè cánh, tránh tình trạng bao che, thông đồng để thực hiện những hành vi tham nhũng... Đặc biệt, trong lịch sử dân tộc Việt Nam còn lưu truyền một lễ hội quan trọng thường được tổ chức dịp đầu năm - Lễ hội “Thề không tham nhũng”. Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định tham nhũng, tiêu cực là “giặc nội xâm”; một trong các nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, phải kiên quyết đấu tranh loại ra khỏi đời sống xã hội. Đảng ta kiên định, phải chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, tiêu cực; xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, lãng phí, hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng. Kết hợp giữa xây và chống, phòng ngừa gắn liền với xử lý nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng; không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” trong chống tham nhũng ở Việt Nam. Đặc biệt, thời gian qua, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Đảng, Nhà nước tiến hành một cách công khai, minh bạch, quyết liệt từ Trung ương đến cơ sở. Hàng loạt cán bộ cấp cao sai phạm thuộc diện Trung ương và địa phương quản lý đều bị xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội. Kết quả đánh giá tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (giai đoạn 2012-2022) được Bộ Chính trị tổ chức vào ngày 30/6/2022, cho thấy: Chỉ trong 10 năm qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, trong đó có 33 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng... Đây thực sự là những con số biết nói và là minh chứng sinh động nhất cho việc Đảng Cộng sản Việt Nam không khoan nhượng với “giặc nội xâm” và trong chế độ một đảng lãnh đạo, tham nhũng luôn bị đấu tranh loại bỏ đến tận cùng. Quyết tâm phòng, chống tham nhũng trong thời gian tới, cũng được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần bày tỏ, khẳng định: “Phải tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, quyết liệt, thường xuyên, liên tục, với quyết tâm cao hơn, mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn”. 4. Kết quả phòng, chống tham nhũng giúp Việt Nam không ngừng ổn định, phát triển, tạo thế và lực của đất nước trên trường quốc tế. Đặc biệt, từ kết quả phòng, chống tham nhũng, niềm tin của nhân dân dành cho Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa được nâng lên. Tuy nhiên, phòng, chống tham nhũng là cuộc chiến phức tạp, còn kéo dài với nhiều gian khổ, hiểm nguy nên tinh thần là phải tiếp tục làm, làm quyết liệt, làm tập trung, dứt điểm; đòi hỏi sự kiên quyết, kiên trì, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Để thực hiện điều đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng phải nêu cao tinh thần, dũng khí đấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, quyết liệt chống chủ nghĩa cá nhân, xem đó là “thang thuốc hay nhất”, “thang thuốc thánh” để phòng, chống tham nhũng như Bác Hồ từng căn dặn. Có như vậy thì Đảng mới từng bước trưởng thành, tiến bộ, hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang mà dân tộc giao phó. Đó cũng chính là cách mà mỗi tổ chức, cá nhân góp phần đấu tranh đẩy lùi, tẩy trừ, thủ tiêu mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá cách mạng của các thế lực thù địch./.

TÌNH VÀ TIỀN LÀ HAI YẾU TỐ CẦN VÀ ĐỦ


Tiền bạc và hạnh phúc luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, có tình yêu nhưng thiếu tiền thì khó mà giữ, khó duy trì được hạnh phúc, nhưng nhiều tiền mà cuộc sống thiếu vắng tiếng cười thì nhiều tiền cũng chả để làm gì. Chúng ta chỉ nên quý trọng tiền bạc chứ không nên tôn sùng.


Đồng tiền kiếm được bằng mồ hôi nước mắt thì ta phải quý trọng, để tiêu pha một cách tiết kiệm hợp lý, tránh hoang phí, cũng không nên vì đồng tiền mà xem nhẹ mọi giá trị trong cuộc sống. Khi nghèo khổ ta chỉ mong sao cho có nhiều tiền, nhưng khi cuộc sống đủ đầy ta lại khát khao nhiều thứ lắm. Có những thứ có tiền cũng không bao giờ có thể mua nổi, vậy nên ta chọn cách sống hài hòa là tốt hơn cả. 


Bạn cũng thấy đấy thời gian vừa qua một số đại gia đã phải tra tay vào còng số 8, nghĩ cho cùng cũng vì họ tôn sùng tiền quá, để rồi họ phải sống những ngày tháng tăm tối trong chốn lao tù, để rồi sự nghiệp bao đời tiêu tan hết. Vậy thì tiền nhiều để làm gì ? Tiền nhiều như thế thì có nghĩa lý gì ? Giá như những nhân tài đó mà có đạo Đức nhỉ, họ sẽ giúp ích nhiều cho xã hội  lắm, cuộc sống của họ sẽ thật nhiều ý nghĩa .


Nhiều khi tôi cứ mơ ước giá tôi có tài kiếm tiền nhỉ ? Trước hết tôi sẽ có cuộc sống thật thoải mái, tôi sẽ đem những đồng tiền chân chính mà mình kiếm được để giúp đỡ, tạo điều kiện cho anh em bà con, còn nữa ta sẽ đi giúp cho những mảnh đời bất hạnh trong xã hội, thật sự là hạnh phúc biết bao nhiêu. 


Cho đi càng nhiều thì bạn càng hạnh phúc, cuộc đời của bạn sẽ trở nên vô cùng đáng sống. Việc làm tốt đẹp hay xấu xa của bạn nó không chỉ ảnh hưởng đến bản thân bạn,  mà còn ảnh hưởng đến cả gia đình anh em dòng họ, tiếng thơm còn mãi tiếng xấu bao đời không thể gột rửa. 


Tóm lại : Không có tiền thì khó có được hạnh phúc trọn vẹn, sẽ thật khổ sở lao đao, đôi khi khiến chúng ta hèn kém đi. Nhưng có thật nhiều tiền không biết sử dụng đúng ý nghĩa của đồng tiền chưa chắc đã hạnh phúc. Tình và tiền là hai tố không thể tách rời, phải nói một cách chắc chắn và thực tế là như thế. 


Vậy làm thế nào để có cuộc sống hạnh phúc? Rất đơn giản: Xoá chữ 'TÔI', bỏ cái tôi ích kỷ đi. Xoá chữ 'MUỐN', bỏ lòng tham sân si đi. Tham thì thâm.  Ở đời biết đủ là hạnh phúc. Sống trên đống tiền mà tâm luôn bất an, ăn không ngon ngủ không yên thì liệu có hạnh phúc ? Tiền bạc là như cầu thiết yếu của cuộc sống. Đồng tiền giúp con người  cảm thấy tự tin đem đến cuộc sống ấm no. Tuy nhiên, khi bị đồng tiền chi phối, muốn tích trữ thật nhiều tiền sẽ làm cho con người ta trở nên tham lam, gian ác,ích kỷ, bất hiếu và cái giá tất yếu sẽ phải trả không bao giờ là rẻ.

TÔI LÀ MỘT ĐẢNG VIÊN


Hình ảnh ông Mai Đức Chung ăn vội gói xôi trước giờ lên đường đi tập huấn chuẩn bị cho World Cup nữ. Dù đã hơn 70 tuổi, cái tuổi đáng lẽ phải đang vui vầy với con cháu, nhưng với ông, tình yêu với bóng đá Việt Nam mới là tình yêu mãnh liệt.


Còn nhớ, khi được hỏi về việc tại sao vẫn nhận lời dẫn dắt đội tuyển Việt Nam khi nền bóng đá đang có dấu hiệu đi xuống, ông đáp: "Tôi là một người Đảng viên, trong lúc "dầu sôi lửa bỏng" này, chẳng ai nhận thì tôi nhận thôi. Thắng tôi nhận, thua tôi chịu trách nhiệm, đánh đổi bằng danh tiếng tôi cũng chấp nhận. Cả đời tôi sống thế rồi, sá gì chỉ một trận đấu này".


Khâm phục ông và chúc ông luôn dồi dào sức khỏe, đầy nhiệt huyết và tiếp tục dìu dắt đội tuyển bóng đá nữ Việt Nam giành kết quả tốt trong kỳ World Cup sắp tới. Người hâm mộ cả nước luôn đồng hành cùng ông và những nữ "Chiến binh Sao vàng".

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC SỨ MỆNH LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM


Chính sách khai thác thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam cùng với giai cấp công nhân Việt Nam đã ra đời từ rất sớm, trước cả sự ra đời của giai cấp tư sản Việt Nam và là giai cấp trực tiếp đối kháng với tư bản thực dân Pháp. Đây cũng chính là điểm khác biệt của giai cấp công nhân Việt Nam với giai cấp công nhân thế giới, đó chính là ở một đất nước không có chế độ tư bản chủ nghĩa chưa có giai cấp tư sản thì giai cấp công nhân đã rất đông và đang ngày càng không ngừng lớn mạnh. Giai cấp công nhân Việt Nam phát triển chậm, mặc dù số lượng ít, trình độ nghề nghiệp thấp, còn mang nhiều tàn dư của tâm lý và tập quán nông dân, song giai cấp công nhân Việt Nam đã nhanh chóng vươn lên đảm đương vai trò lãnh đạo cách mạng ở nước ta.

Một trong những cống hiến vĩ đại nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin là phát hiện và làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân - giai cấp tiên tiến nhất, triệt để cách mạng nhất, giai cấp duy nhất có khả năng lãnh đạo các tầng lớp nhân dân lao động bị áp bức bóc lột tiến hành cách mạng vô sản, thực hành cuộc cải biến cách mạng, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa, tiến tới xã hội cộng sản chủ nghĩa. Bởi lẽ giai cấp công nhân có những trách nhiệm nổi bật như:

Giai cấp công nhân có địa vị kinh tế - xã hội khách quan nên là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản, là giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, đại diện cho lực lượng sản xuất mới mang tính chất xã hội hóa cao. Với tính cách như vậy giai cấp công nhân là lực lượng quyết định xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Giai cấp công nhân có khả năng đoàn kết, tổ chức giai cấp và quần chúng nhân dân lao động thành một lực lượng xã hội hùng mạnh để tiến hành cuộc cải biến cách mạng xóa bỏ xã hội cũ, xây dựng chế độ mới tốt đẹp.

Giai cấp công nhân có khả năng nhận thức, ý thức về vai trò, vị trí của giai cấp mình, có khả năng trở thành người quản lý trực tiếp phương thức sản xuất tiến bộ hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Ngày nay kẻ thù của CNXH đang ra sức tấn công vào học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, chúng cho rằng giai cấp công nhân ngày nay đã “teo đi”, đã tan biến vào các giai tầng khác trong xã hội bởi địa vị kinh tế xã hội của giai cấp công nhân đã thay đổi nhiều. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình dù có trải qua những bước thăng trầm nhưng nó vẫn tiếp tục diễn ra theo quy luật khách quan của lịch sử. Thực tế lịch sử cách mạng thế giới cho thấy, giai cấp công nhân đã và đang, sẽ vươn lên nắm quyền lực nhà nước. Bởi lẽ giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất đại diện cho lực lượng sản xuất hiện đại, cho phương thức sản xuất tiên tiến. Giai cấp công nhân là giai cấp đại diện cho lợi ích và quyền lực của nhân dân của nhân loại.

Nói rằng hiện nay giai cấp công nhân ngày càng ít về số lượng là không đúng thực tế. Trong nền sản xuất hiện đại, sự thâm nhập ngày càng sâu rộng của đội ngũ trí thức vào giai cấp công nhân ngày càng tăng. Đội ngũ công nhân được tri thức hóa ngày càng chiếm số lượng đông trong giai cấp công nhân. Sự phát triển của lực lượng sản xuất trong xã hội tư bản không những không làm giảm mà trái lại còn làm gia tăng số lượng và chất lượng giai cấp công nhân. Tuy nhiên điều quyết định việc hoàn thành sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân chủ yếu không phải là số lượng, mặc dù số lượng là cần thiết mà trên thực tế sức mạnh của giai cấp công nhân lớn hơn nhiều so với số lượng của giai cấp mình, nếu giai cấp công nhân thống nhất được nội bộ giai cấp mình và thực hiện được sự liên minh chặt chẽ với quần chúng lao động bị áp bức.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, cũng như sự biến đổi cơ cấu xã hội của giai cấp công nhân đã làm cho diện mạo của giai cấp công nhân hiện đại trong xã hội tư bản không giống như những mô tả của C. Mác trong thế kỷ XIX. Thế nhưng, với những biến đổi đó mà đi đến kết luận giai cấp công nhân không còn bản chất cách mạng nữa là sai lầm cả về chính trị và khoa học. Công nhân hiện nay dù có cổ phiếu, cũng chẳng làm thay đổi được địa vị làm thuê và bị bóc lột trong xã hội tư bản. Họ không trở thành “nhà tư bản” theo cách tuyên truyền của các lý luận gia tư sản, mà chỉ là “nhà tư bản” đối với chính mình. Chế độ cổ phiếu thật sự là phương pháp hữu hiệu cột chặt người lao động và bắt họ lệ thuộc hơn nữa vào giới chủ. Hy vọng thay đổi địa vị người lao động trở thành người chủ thật sự ở các nước tư bản chủ nghĩa chỉ là ảo tưởng, là hành động tự lừa dối. Việc mua bán cổ phiếu ở các nước tư bản đã tạo nên cái gọi là hiệu ứng của cải, làm cho “tư bản giả” ngày càng tăng lên so với thực tế. Điều đó càng nói lên tính chất ăn bám của CNTB độc quyền, chứ chẳng phải CNTB đã là CNTB nhân dân như người ta cố tình tô vẽ.

Cùng với sự phát triển của dân tộc, giai cấp công nhân Việt Nam đã có nhiều thay đổi, phát triển cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu và vai trò trong xã hội. Thông qua chính đảng tiền phong của mình, giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp duy nhất lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo xã hội, đưa sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng XHCN đến thắng lợi. Vai trò lãnh đạo, bản chất cách mạng, tính tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam không hề thay đổi. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” ở Việt Nam trong giai đoạn mới, cấp thiết phải xây dựng giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nhất là việc nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

TẠO “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” VỮNG CHẮC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG


Tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian mạng là một đòi hỏi tất yếu, vừa mang tính cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài.


Xây dựng “thế trận lòng dân” là bài học quý trong quá trình dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, bài học đó vẫn còn nguyên giá trị. Hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã tạo nên không gian mạng rộng khắp, mà ở đó con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian, thời gian. Chính vì vậy, tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian này vừa là vấn đề cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Trong những năm qua, “thế trận lòng dân” ở từng địa bàn có lúc còn chưa vững chắc; niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước có thời điểm giảm sút… Xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, chúng triệt để lợi dụng mạng xã hội để xuyên tạc, chống phá ta; kích động biểu tình, bạo loạn. Thống kê gần đây cho thấy, bình quân hằng tháng các thế lực thù địch phát tán hơn 130.000 bài viết, video, clip xuyên tạc trên mạng xã hội. Chúng tận dụng tính năng phát trực tuyến của mạng xã hội làm công cụ phát tán thông tin xấu, độc. Chúng tung tin giả, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội hòng gây mất ổn định chính trị và ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội. 


Chúng ta không thể phủ nhận, không gian mạng đem lại cho con người rất nhiều tiện ích, nhất là khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố trở thành xu hướng tất yếu của nhân loại. Việc sử dụng mạng xã hội là nhu cầu chính đáng của mỗi tổ chức, cá nhân.


Để không gian mạng hoạt động theo chiều hướng tích cực, trước hết chúng ta phải nâng cao nhận thức của các cấp, ngành và mỗi công dân về vị trí, vai trò của mạng xã hội và tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian này. 


Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hành lang pháp lý, nhằm tạo ra một không gian mạng lành mạnh, hữu ích, góp phần quan trọng vào sự phát triển đất nước. Đồng thời phải có chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, răn đe những hành vi, thủ đoạn lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; sử dụng  không gian mạng kích động, lôi kéo, xuyên tạc sự thật; phá hoại an ninh quốc gia - trật tự an toàn xã hội, gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và quân đội. 


Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng và Ban Chỉ đạo bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong xây dựng “thế trận lòng dân”. Phát huy tốt vai trò cơ quan tuyên giáo, các cơ quan thông tấn báo chí trong việc cung cấp thông tin, kịp thời định hướng dư luận trước những sự kiện lớn, các vấn đề được xã hội quan tâm. 


Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, định hướng cho nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ có đủ sức “đề kháng”, “miễn dịch” trước các thông tin xấu, độc, xuyên tạc sự thật, các vấn đề tiêu cực trên mạng xã hội. Khuyến khích, động viên để các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp và mỗi công dân tham gia mạng xã hội tuân thủ đúng pháp luật, có tri thức, văn hóa. Cần có cơ chế để nhân dân tham gia giám sát, đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch, những vấn đề tiêu cực trên  không gian mạng và cổ vũ cái tốt, cái tích cực, theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”.


Có thể khẳng định, tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian mạng là một đòi hỏi tất yếu, khách quan, đồng thời vừa mang tính cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo./.

NHỚ VỀ CHA!


Cha nằm lại chiến trường Quảng Trị

Mẹ vững lòng chung thủy sắt son

Cho dù biển cạn núi mòn

Một tay mẹ đã nuôi con nên người.

Mẹ kể lại vào thời chống Mỹ

Biết bao người không chỉ riêng cha

Rời trường đại học tham gia

Tòng quân đánh giặc quyết thà hy sinh.

Đoàn tàu chở chiến binh buổi ấy

Nắng hạ tràn vang dậy nhạc ve

Mẹ buồn đứng dưới hàng me

Tiễn đoàn quân giữa chiều hè Thủ đô.

Người đi giữ sắc cờ Tổ quốc

Con ra đời không được gặp cha

Trên đầu tóc đã sương pha

Bay trong chiều hạ nhạt nhòa gió mưa.

Những dòng chữ như vừa mới viết

Mẹ vẫn còn giữ nếp vẹn nguyên

Dòng thư xưa gửi lời nguyền

Từ mùa hè ấy nhen lên lửa hồng.

Con đã đến bên dòng Thạch hãn

Có mẹ cùng với bạn thăm cha

Đất trời Quảng Trị yên hòa

Phượng hồng nhớ buổi người ra chiến trường.

Thơ: Ngọc Lan

THƯỜNG XUYÊN TĂNG CƯỜNG CỦNG CỐ, BẢO VỆ TRẬN ĐỊA VĂN HÓA-TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

Thực tiễn hơn 93 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh rằng: Nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; là truyền thống văn hóa quý báu của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Chúng ta có được những thành quả như ngày nay, nhất là những thành tựu sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, là nhờ sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển của thời đại. Trong bối cảnh hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị đang ra sức chống phá, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, công kích nền tảng tư tưởng của Đảng ta, hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân ta vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Trước tình hình đó, tăng cường củng cố, bảo vệ trận địa văn hóa - tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thực tiễn hiện nay cần nhận diện rõ những âm mưu, thủ đoạn, các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động trên mặt trận văn hóa - tư tưởng. Các thế lực thù địch, phản động đang ra sức lợi dụng, xuyên tạc, tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng, nhằm bác bỏ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng. Do đó, trong thời gian tới, để tăng cường củng cố, bảo vệ trận địa văn hóa - tư tưởng của Đảng, tiếp tục đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cần chú trọng thực hiện tốt một số định hướng, giải pháp sau:

Một là, luôn chủ động nắm bắt tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của chúng. Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, vì vậy, ngoài hình thức đấu tranh truyền thống, cần bổ sung những hình thức đấu tranh mới, phù hợp với từng giai đoạn, thời điểm, lĩnh vực thực hiện đấu tranh trực tiếp, trực diện trên không gian mạng, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội; xây dựng đội ngũ kiểm soát thông tin chuyên nghiệp…

Hai là, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Khẳng định tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đây là nhiệm vụ chính trị vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài, không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan Đảng, Nhà nước, mà còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

 Ba là, khẳng định vững chắc quan điểm có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn của Đảng ta, đó là: kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Muốn vậy, trước hết, phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó vận dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta, để những nội dung, quan điểm của học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có sức sống mới, được hiện thực hóa, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước, nhất là trong tình hình mới hiện nay.

  Bốn là, xây dựng các tổ chức Đảng thực sự trong sạch vững mạnh, chú trọng công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng; phát huy dân chủ, đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và xã hội. Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

 Năm là, tăng cường các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để phát hiện sớm, ngăn chặn tận “gốc” nguồn phát tán những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn các trang mạng độc hại; đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về truyền thông, báo chí, nhất là quản lý thông tin trên internet và mạng xã hội; hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý các hoạt động trên không gian mạng, tạo căn cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý các trường hợp vi phạm. Đồng thời, xây dựng mới các trang mạng, báo chí có nội dung đấu tranh, tuyên truyền sâu rộng, bám sát thực tiễn, với lập luận sắc bén về mọi vấn đề, lĩnh vực của đất nước, từng bước giành thế chủ động về thông tin tư tưởng, lý luận trên internet.

Sáu là, thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, tăng cường bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; phát huy cao nhất sức mạnh toàn dân để bảo vệ vững chắc trận địa văn hóa - tư tưởng của Đảng, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm, lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ; tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức, tạo sức đề kháng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trước các thông tin xấu, độc trên không gian mạng, từ đó chủ động đấu tranh phản bác. Tích cực tìm kiếm, nhân rộng những mô hình hay, cách làm mới, sáng tạo, những điển hình tiên tiến, những cá nhân có thành tích xuất sắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tăng cường nghiên cứu trên quan điểm khách quan, khoa học những tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, tiến bộ, những tinh hoa văn hóa của nhân loại, từ đó chắt lọc, tiếp thu và vận dụng vào thực tiễn điều kiện Việt Nam./.

                                                                                                     VHT.

 

 

NHẬN DIỆN ĐÚNG SỰ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY

 

Trong thời gian qua, để tuyên truyền những quan điểm sai trái, thù địch, các thể lực phản động, thù địch đã sử dụng rất nhiều thủ đoạn, phương thức, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, thâm độc và nguy hiểm hơn, có tác động đến mọi tầng lớp xã hội. Nội dung, bản chất của các quan điểm sai trái, thù địch là tấn công, đả kích trực diện nền tảng tư tưởng của Đảng, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Giả danh mác xít, “giả khoa học” để tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phủ nhận những thành tựu to lớn đã đạt được của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế. Lợi dụng, cường điệu hóa những hạn chế, khuyết điểm của Đảng và hệ thống chính trị trong lãnh đạo, quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội để quy kết cho rằng: Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng chính là nguyên nhân gốc rễ của những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình xây dựng xã hội mới. Bôi nhọ lãnh tụ, xuyên tạc lý lịch, thân thế, sự nghiệp các lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước để đi đến phủ nhận con người, phủ nhận hệ tư tưởng mác xít và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thể lực thù địch viết bài phát tán trên không gian mạng xã hội nhằm thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để thông qua các đối tượng này trực tiếp phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng Cộng sản Việt Nam, vào mục tiêu, con đường tiến liên chủ nghĩa xã hội của nước ta.

Về hình thức tuyên truyền chống phá, các thế lực thù địch, phản động sử dụng các phương tiện truyền thông, Internet, blog, mạng xã hội, sự dụng hàng chục đài phát thanh chương trình Việt ngữ, hàng trăm báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, hàng ngàn Website, blog,… để phát tán những thông tin xấu độc, xuyên tạc, chống phá gây tác động xấu đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chúng lập ra nhiều trang web mạo danh các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các bộ, ngành, đoàn thể, địa phương, một số nhân vật được xã hội chú ý hoặc nhân danh “đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”, “bảo vệ môi trường”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo”, “phản biện xã hội”, “hiến kế cho Đảng”,… để bình luận, xuyên tạc, hạ thấp uy tín, làm mất niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước. Các thế lực thù địch, phản động đưa lên mạng xã hội và Internet những mặt trái của xã hội, khai thác những thông tin tiêu cực, không chính thống, sai trái để hướng lái, dẫn dắt dư luận theo chiều hướng tiêu cực, làm cho người đọc mơ hồ, mất cảnh giác nhằm mục đích tạo nên sự hoài nghi, phản kháng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, từ đó, chuyển dần sang tư tưởng sai trái, thù địch, phản động. Chúng xuất bản các ấn phẩm có nội dụng xấu độc; biên soạn nhiều tài liệu, video lồng ghép nội dung xuyên tạc, bóp méo sự thật. Các thế lực thù địch tổ chức viết nhiều tài liệu, “tác phẩm” dưới dạng văn học nhằm vu cáo, bôi nhọ, tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, từ đó nhằm xóa bỏ học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Nội dụng thông tin tuyên truyền xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch hết sức đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, xã hội, xây dựng Đảng,… trong đó tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng bài xích, bác bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tấn công vào những vấn đề nguyên tắc, then chốt, những luận điểm cơ bản nhất, như phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta; phê phán quy luật giá trị thặng dư; bác bỏ chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà nền tảng là bác bỏ bản chất cách mạng và khoa học của lý luận về hình thái kinh tế - xã hội; phủ nhận lý luận khoa học về chủ nghĩa xã hội và xuyên tạc mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chúng xuyên tạc nhằm “hạ bệ” tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận nội dung, giá trị tư tưởng của Người; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh để gián tiếp phủ nhận tư tưởng của Người, cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh. Xuyên tạc, phủ nhận quan điểm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Đảng ta. Các thế lực thù địch đồng nhất đổi mới chính trị với thay đổi chế độ chính trị. Phủ nhận, bôi đen những thành tựu trong quá trình đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta; cường điệu, thổi phồng, khoét sâu những tiêu cực, khuyết tật, khiếm khuyết tạo cái nhìn bi quan, đen tối về tình hình đất nước. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi xóa bỏ sở hữu toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, phủ nhận và xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Cổ xúy phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, đòi lực lượng vũ trang phải trung lập về chính trị; phủ nhận bản chất cách mạng và nhân dân của lực lượng vũ trang; chia rẽ quân đội nhân dân với công an nhân dân, chia rẽ quân đội và công an với nhân dân. Thúc đẩy hình thành các tổ chức “xã hội dân sự trá hình”, từ đó cho ra đời các tổ chức chính trị đối lập ở Việt Nam. Lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo… để chống phá cách mạng Việt Nam.

Đại hội của Đảng đã đề cập trực tiếp và nhấn mạnh việc quản lý và phát triển thông tin trên không gian mạng, trong đó có việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Trong thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục chĩa mũi nhọn tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng sử dụng không gian mạng là một mặt trận chính để chống phá ta, do vậy, công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần bảo vệ, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. Giữ vững trận địa tư tưởng, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cấp thiết của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở tạo sức mạnh tổng hợp làm thất bại âm mưu thân độc của các thế lực thù địch bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

                                                                                                      VHT.

 

NHẬN DIỆN ĐÚNG MỘT SỐ BIỂU HIỆN SAI TRÁI, LỆCH CHUẨN TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 

Bên cạnh việc tiếp nhận thông tin tích cực từ các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Tiktok, Youtube, Instargram…, qua quan sát thói quen sử dụng Internet của nhiều người, chúng ta không khó để nhận thấy không ít người đã và đang bị mạng xã hội “dẫn dắt” một cách thái quá, dẫn đến sự “tha hóa”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” - thường xuyên có cái nhìn tiêu cực và quy mọi vấn đề, sự kiện, hiện tượng xã hội thành “màu xám”. Chẳng hạn, mới đây, vụ việc 4 nữ tiếp viên hàng không bị phát hiện và tạm giữ khi vô tình vận chuyển trái phép hơn 11kg ma túy tổng hợp. Sau khi cơ quan điều tra khởi tố vụ án, nhưng chưa khởi tố bị can - cho 4 nữ tiếp viên tại ngoại, ngay sau đó đã xuất hiện không ít những bình luận, “phán xét”, rằng một trong những cô tiếp viên hàng không “có gia thế khủng”, “có tài sản kếch xù”… Vì thế, họ mới được “miễn tội”!? Thực tế thì sao? Câu trả lời đó là sau một tháng 4 nữ tiếp viên được tại ngoại, cơ quan điều tra đã tiến hành bóc gỡ đường dây vận chuyển, bắt 65 đối tượng có liên quan. Từ ví dụ trên có thể thấy, bất cứ hiện tượng, sự việc nào từ thực tiễn đời sống đều có thể bị lợi dụng, xuyên tạc, bôi nhọ hoặc suy diễn - quy chụp trên không gian mạng… Mạng xã hội cho phép người dùng được thoải mái bày tỏ chính kiến, quan điểm, thái độ; cùng với đó là tính “ẩn danh”, “bình đẳng” khi sử dụng nút “like”, “bình luận”... Vì không phải chịu trách nhiệm pháp lý hay kỹ thuật khi bày tỏ quan điểm yêu ghét cá nhân, nên nhiều người tha hồ nói - viết - chia sẻ lên mạng xã hội những gì mình thích, những gì mình cho là “hay”, là “đúng”, trong khi không đủ kỹ năng, trình độ để phân tích thông tin, thông điệp mà các thế lực thù địch, phần tử xấu cố tình tạo dựng, lan tỏa. Do đó, người dùng mạng xã hội nếu không được trang bị kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng để tự xây dựng ý thức “đề kháng”, sẽ rất dễ rơi vào bẫy “tin giả”. Từ đó gây nên những hệ lụy khôn lường, vô hình trung tiếp tay cho các tin giả, tin tiêu cực, gây hoang mang dư luận xã hội. Theo dõi mạng xã hội trong thời gian qua, chúng ta nhận thấy có những biểu hiện tiêu cực sau:

Một là, thời gian sử dụng mạng xã hội quá nhiều khiến người dùng trở nên mệt mỏi, trầm cảm, xa rời hiện thực đời sống, quên đi đời sống thực với biết bao điều phong phú; chỉ đắm chìm vào số lượng “like”, “comment” trong các bài viết, hình ảnh, video mình đã đưa lên.

Hai là, luôn có thái độ tranh luận, bình luận một cách quá khích, luôn thích bày tỏ chính kiến, quan điểm ở các diễn đàn, các nhóm, các trang cá nhân khác. Luôn cố tỏ ra mình đúng, giỏi, được người khác tán dương; ngộ nhận - tự tạo cho mình một “vị thế”, “quyền lực ảo” trên không gian mạng.

Ba là, có những biểu hiện lệch chuẩn văn hóa trên mạng xã hội. Thậm chí có những lĩnh vực không thuộc kiến thức chuyên môn của mình cũng “nhảy vào” bình luận, tranh luận - chủ yếu là những điều được sao chép, cóp nhặt qua Google. Những bình luận xuất phát từ nhận thức lệch chuẩn đã góp phần tạo hiệu ứng và “lèo lái” dư luận theo những định hướng tiêu cực của kẻ xấu. Nguy hiểm hơn, nhiều người còn tiếp tay bằng việc đăng tải các bài viết xuyên tạc, clip cắt ghép với tâm lý, thái độ cực đoan, công kích tôn giáo, văn hóa, đạo đức xã hội và cả hệ thống pháp luật. Xu thế “chửi bới”, hùa theo “bầy đàn”, tấn công, bóc phốt, “chửi lấy sao, lấy số” lấn át dòng thông tin chính thống, chủ lưu, tạo ra bức tranh tiêu cực về tình hình an ninh - kinh tế - xã hội của đất nước. Ở một cấp độ cao hơn, sau khi thể hiện bản thân ở các diễn đàn, trang cá nhân, một số người sử dụng mạng xã hội nổi tiếng còn quay ra tấn công các cơ quan chính quyền bằng nhiều hình thức.

Bốn là, rất dễ trở thành người sống “hai mặt”. Ở ngoài đời biểu hiện và sinh hoạt chuẩn mực, nhưng khi lên mạng lập nick ẩn danh, tha hồ “hô mưa, gọi gió” tranh luận, bàn tán từ việc sửa vỉa hè cho đến chủ trương chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước. Việc cộng đồng mạng “tung hô”, “thả like”, “tích cực bình luận” khiến cho người dùng mạng xã hội ẩn danh cảm thấy bản thân “vẻ vang, sang trọng”, cảm thấy mình có “quyền lực”, dần dần khiến họ “tự chuyển biến”.

Năm là, từ việc sống không chân thành, một bộ phận sử dụng mạng xã hội là công chức, viên chức, nhà báo, bác sỹ, người của công chúng quên đi vị trí công việc chuyên môn và trách nhiệm nghề nghiệp. Có thể, một hiện tượng cá nhân sau khi “nổi danh, nổi tiếng” trên mạng, cũng như không ít diễn viên, người mẫu, ca sĩ đã tranh thủ kiếm tiền bằng việc quảng cáo - chủ yếu là “thổi phồng”, sai sự thật cho các nhãn hàng, sản phẩm. Một số khác lại “chuyên tâm” đăng tải các bài viết, thông tin nhằm mục đích “bóc phốt, “dìm hàng”, công kích, kẻ cả, chê bai các nhãn hàng, cơ sở du lịch, doanh nghiệp… Thực chất, đây là những biểu hiện “tống tiền” các cá nhân và công ty, doanh nghiệp khi thấy họ có “sự cố truyền thông”.

Sáu là, lợi dụng những tiện ích vượt trội của Internet, các thế lực thù địch đã xây dựng nhiều trang thông tin có nội dung xấu độc nhằm lôi kéo, kích động, xuyên tạc, bóp méo sự thật để chống phá Đảng, chế độ và Nhà nước ta. Các trang này được thiết kế sử dụng tiếng Việt với nhiều hình thức thông tin với tên bài “nhạy cảm” nhằm thu hút người dân trong nước truy cập, rồi sau đó xen lồng vào các thông tin phản động, chống đối. Những trang này thường “lập lờ đánh lận con đen” - kết hợp đưa những thông tin chính thức được cơ quan truyền thông công bố rồi “trộn lẫn” với nội dung, hình ảnh xuyên tạc, sai trái, phản động nhằm chống phá Đảng và chế độ. Không ít người sử dụng Internet, mạng xã hội bị “dẫn dụ” và “đánh lừa” bởi những thông tin “thật - giả lẫn lộn” này.

Bảy là, một số ít người có học hàm, học vị, nhưng chỉ vì bất mãn hoặc có cái nhìn phiến diện nên thường xuyên đăng tải, phát tán trên các trang web cá nhân những lời lẽ gắn mác “trách nhiệm”, “tâm huyết” dưới dạng “thư ngỏ”, “góp ý”, nhưng thực chất là đi ngược lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng...

Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay mỗi công dân càng cần phải nâng cao ý thức “tự phản tỉnh” khi tham gia vào cộng đồng mạng. Cùng với tỉnh táo nhận diện mưu đồ thâm độc của các thế lực thù địch, cần phải phân biệt rõ các quan điểm sai trái với những ý kiến phản biện chính đáng, tâm huyết… Muốn vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta phải xây dựng, củng cố và phát triển vững mạnh “thế trận lòng dân” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng./.

                                                                                                 VHT.

 

ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA LUÔN KIÊN ĐỊNH CON ĐƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

 Ngay trong Chính cương vắn tắt do Hồ Chí Minh soạn thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đã nêu: "Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản". Chính cương Đảng Lao động Việt Nam được thông qua tại Đại hội lần thứ II của Đảng tháng 2-1951 cũng nêu: "Cách mạng Việt Nam hiện nay là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội". Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ năm 1991 kết luận: "Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã là bài học xuyên suốt cách mạng nước ta". Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 một lần nữa khẳng định: "Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử".

Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đảng ta đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Từ năm 1991 đến nay, tình hình thế giới và trong nước đã có những biến đổi to lớn và sâu sắc. Nhiều vấn đề mới nảy sinh, nhiều nội dung liên quan được Đảng ta nhận thức sâu sắc và giải quyết có hiệu quả, trong đó có nhận thức về xu thế phát triển của lịch sử và tính đúng đắn của việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được phản ánh trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bổ sung, phát triển năm 2011. Trong đó, Cương lĩnh khẳng định: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội".

Trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và từ thực tiễn công cuộc đổi mới vừa qua, Đảng ta nhận thức rõ hơn việc xác định đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì đây là định hướng để Đảng và Nhà nước ta hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách nhằm hiện thực hóa mục tiêu chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta. Trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, Đảng ta xác định tám đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, đó là: "Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới". Những đặc trưng trên là kết quả của đổi mới nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn Việt Nam, là thành quả kết hợp hài hòa giữa "cái phổ biến" và "cái đặc thù", thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng, mang sắc thái riêng của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam và sẽ được từng bước hiện thực hóa trong cuộc sống.

Mục tiêu tổng quát để khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng và văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc. Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta ra sức phấn đấu cho mục tiêu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Để thực hiện thành công các mục tiêu trên, cần quán triệt các phương hướng và nhiệm vụ cơ bản sau: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.           

Trong quá trình thực hiện các định hướng nêu trên, “chúng ta cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn: Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”, đặc biệt là mối quan hệ mới được Đai hội lần thứ XIII của Đảng bổ sung là mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta, cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi Đảng và nhân dân ta phải nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt, có hiệu quả, tuyệt đối không được cực đoan, phiến diện.

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta là người lãnh đạo công cuộc đổi mới, sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, chính là làm cho mục tiêu này thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội với những hình thức, bước đi và biện pháp phù hợp, tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được, sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm nhằm đạt những thành tựu to lớn và vững chắc hơn trong việc thực hiện những mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp mà Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra. Đặc biệt là hết sức tránh nôn nóng, phiến diện, cực đoan, duy ý chí.

Thực tiễn cách mạng nước ta trong hơn 93 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là quá trình thực hiện và hoàn thiện dần mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và dân tộc đã lựa chọn. Một lần nữa chúng ta khẳng định: đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta và nhân dân ta. Đó là tuyên ngôn chính trị mang tầm chiến lược phát triển của đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; là mục tiêu, lý tưởng và tình cảm của Đảng và dân tộc ta; là nền tảng lý luận, chính trị, tư tưởng, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị nước ta hiện nay cũng như trong tương lai; đồng thời phải tích cực, chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, phản động, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Vì thế, phải làm cho nhân dân ta tin tưởng vững chắc vào con đường xã hội chủ nghĩa, vào một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc; đồng thời phải tích cực đấu tranh và phản bác những quan điểm sai trái, phản động, xuyên tạc về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam./.

                                                                                                                     

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH CÓ HIỆU QUẢ PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG XÃ HỘI

 Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị đang tăng cường tán phát các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, bổ sung, hoàn thiện nội dung, phương thức đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng xã hội trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, không gian mạng phát triển như vũ bão, thông qua “thế giới ảo”, các thế lực thù địch không đơn thuần sử dụng các phương pháp truyền thống, chúng triệt để lợi dụng không gian mạng xã hội để chống phá với các hình thức, phương thức ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Do vậy, đòi hỏi nội dung, phương thức đấu tranh của chúng ta cũng phải đổi mới, bổ sung, từng bước hoàn thiện cho phù hợp. Nội dung, phương thức đóng vai trò rất quan trọng trong đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Nội dung đấu tranh phong phú, phương thức đa dạng, biện pháp phù hợp, cụ thể, sáng tạo thì công tác đấu tranh mới có hiệu quả cao.

Hai là, thực hiện có hiệu quả các giải pháp công nghệ, xử lý nghiêm các vi phạm trên không gian mạng. Cùng với các giải pháp tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, cần đẩy mạnh thực hiện các giải pháp công nghệ như: Bảo vệ tốt thông tin cá nhân, kỹ thuật phát tán thông tin trên không gian mạng, kỹ thuật phân tích điều tra, ngăn chặn, bóc gỡ khóa tài khoản của đối phương,… có vị trí rất quan trọng, góp phần quyết định thắng lợi trong đấu tranh phòng, chống, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng hiện nay.

Ba là, cần xác định công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài, tránh tư tưởng xem nhẹ, buông lỏng, mất cảnh giác. Công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi, phản bác các thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần xác định là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, lâu dài, khó khăn và quyết liệt, do vậy cần tuyệt đối tránh tư tưởng xem nhẹ, lơ là, buông lỏng, mất cảnh giác. Cần lấy chính các phương tiện truyền thông mới và không gian mạng làm phương tiện và nền tảng chủ đạo để khắc chế thủ đoạn dùng không gian mạng để chống phá ta của các thể lực thù địch theo phương châm “lấy độc trị độc”, tận dụng những ưu thế của phương tiện truyền thông mới để phản tuyên truyền lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch.

Bốn là, giữ vững và phát huy vai trò nòng cốt, chủ lực của hệ thống cơ quan chuyên trách đấu tranh tư tưởng, lý luận. Giữ vững và phát huy vai trò nòng cốt, chủ lực của hệ thống cơ quan chuyên trách đấu tranh tư tưởng, lý luận, các cơ quan tuyên giáo, báo chí của Đảng; mở rộng các kênh, lực lượng thông tin rộng khắp, làm chủ không gian thông tin trong nước và không gian mạng. Có cơ chế chỉ đạo thông tin thống nhất, hiệp đồng thông tin đồng bộ, tác chiến thường trực, đa dạng, đa tuyến. Kết hợp thông tin phản bác của các cơ quan báo chí chính thống với các kênh truyền thông khác, theo phương thức lấy thông tin chủ đạo từ các cơ quan báo chí làm thông tin nguồn để lan tỏa trên không gian mạng, tận dụng tính năng siêu kết nối xã hội của các phương tiện truyền thông mới, truyền thông xã hội, tích hợp tính năng chia sẻ thông tin của các báo, tạp chí điện tử đến một số ứng dụng truyền thông xã hội lớn. Kết hợp các giải pháp về nội dung với các giải pháp kỹ thuật, các biện pháp nghiệp vụ an ninh bao gồm việc chặn lọc, vô hiệu hóa, đấu tranh với các nhà cung cấp các phương tiện truyền thông xã hội nước ngoài, gỡ bỏ thông tin xấu độc, răn đe, xử lý hình sự để tạo hiệu quả đấu tranh tổng lực.

Năm là, xây dựng hệ thống bài viết chuyên luận chuyên sâu phản bác những quan điểm sai trái, thù địch bằng lý luận và thực tiễn khoa học với hệ thống luận cứ, luận chứng chặt chẽ, có sức thuyết phục. Chú trọng xây dựng hệ bài chuyên luận chuyên sâu phê phán, phản bác, bẻ gãy từ gốc những luận điệu xuyên tạc, những quan điểm sai trái, thù địch bằng lý luận và thực tiễn khoa học với hệ thống luận cứ, luận chứng chặt chẽ, có tính thuyết phục cao giúp độc giả hiểu sâu sắc, thấy rõ bản chất vấn đề, từ đó có niềm tin khoa học vững chắc vào nền tảng tư tưởng của Đảng.

Sáu là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về công tác đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng xã hội. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về công tác đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng xã hội theo định hướng, chỉ đạo thống nhất; đồng thời, giao mỗi ban ngành, đoàn thể, địa phương, đơn vị phải xây dựng lực lượng, hệ thống, kế hoạch tuyên truyền. Thường xuyên nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng, trong các tổ chức đoàn thể, khắc phục tình trạng mơ hồ về chính trị trong cán bộ, đảng viên và trong quần chúng nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ “tính hai mặt” của mạng xã hội, hiểu biết đầy đủ những thủ đoạn hoạt động và nội dung chống phá của các thế lực thù địch, mức độ nguy hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và đề cao trách nhiệm trong đấu tranh là vấn đề hết sức quan trọng.

Bảy là, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức, đa dạng hình thức đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng xã hội. Đổi mới nội dung, phương thức đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh,… trên mạng xã hội; trong đó chú trọng tuyên truyền, giáo dục truyền thống, định hướng giá trị, bồi dưỡng bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho thế hệ trẻ một cách khoa học, thiết thực, sâu rộng, có tính thuyết phục cao, qua đó nâng cao khả năng đề kháng và phản bác của cán bộ, đảng viên và người dân trước những luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái, thù địch./.

                                                                                                     VHT.

NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Trước yêu cầu bức thiết của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Đảng ta nhận thức sâu sắc và thể hiện rõ quan điểm về phát triển kinh tế độc lập tự chủ, kinh tế biển, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế; bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi công dân Việt Nam đối với lịch sử dân tộc, là nhân tố quan trọng bảo đảm cho dân tộc ta phát triển bền vững.

Phát huy vai trò của các đoàn thể chính trị - xã hội và của nhân dân đối với xây dựng quân đội. Mặt khác, cần tiếp tục nâng cao nhận thức, đề cao trách nhiệm của cơ quan chính trị các cấp trong quân đội, nhất là cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cấp. Tăng cường giáo dục chủ nghĩa yêu nước, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp, đội ngũ cán bộ chính trị, chính ủy, chính trị viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng và lối sống trong sáng, có kiến thức, năng lực tư duy và khả năng tổ chức hoạt động thực tiễn; xây dựng cơ quan chính trị các cấp vững mạnh. Đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu phát triển lý luận gắn với tổng kết thực tiễn và làm tốt chức năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước để có đường lối, chủ trương lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo trong xây dựng quân đội và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Tiếp tục điều chỉnh tổ chức, cơ cấu quân đội, bảo đảm cơ cấu cân đối giữa bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, dân quân tự vệ; lực lượng thường trực và dự bị động viên; giữa các đơn vị chiến đấu với cơ quan chiến dịch, chiến lược, các học viện nhà trường; giữa binh chủng hợp thành và các quân binh chủng, ngành. Hoàn thành phương án tổ chức các học viện nhà trường; hệ thống bệnh viện; các đơn vị bảo đảm, phục vụ; các cơ sở sản xuất, sửa chữa quốc phòng; các đoàn kinh tế - quốc phòng. Xã hội hoá một số công tác bảo đảm hậu cần để giảm quân số thường trực. Tiếp tục đầu tư nghiên cứu tổ chức quân đội theo hướng tinh, gọn, nhẹ, mạnh và cơ động, thí điểm tổ chức lữ đoàn bộ binh, xây dựng các đơn vị đặc nhiệm, có sức mạnh chiến đấu cao, phù hợp các điều kiện hoạt động thời bình và sẵn sàng mở rộng khi có chiến tranh và yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH

 

Phòng chống Chiến l­ược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta hiện nay nhằm ngăn ngừa, đẩy lùi, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong những năm qua, công tác phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ đã thu được những kết quả nhất định, giữ vững được ổn định chính trị xã hội, xử lý tốt các tình huống bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch gây ra.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn đang ráo riết thực hiện Chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ với những phương thức, thủ đoạn mới tinh vi, xảo quyệt trên tất cả các lĩnh vực. Để thực hiện tốt các nội dung tuyên truyền, giáo dục trên, cần tập trung lãnh đạo đẩy mạnh công tác giáo dục quốc phòng an ninh cho các đối tượng theo phân cấp, chú ý đối tượng quần chúng nhân dân; giải quyết căn bản các vấn đề kinh tế xã hội các điểm nóng, nhất là các bức xúc của Nhân dân, không để các thế lực thù địch lợi dụng kích động quần chúng biểu tình, bạo loạn, gây mất ổn định chính trị.

Nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, định hướng tư tưởng, giúp đồng bào theo đạo, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, bạn bè quốc tế có nhận thức đúng đắn về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thấy được tiềm năng phát triển và hội nhập quốc tế nói riêng, cả nước nói chung; hiểu rõ lịch sử, văn hóa, phong trào cách mạng của quê hương năm tấn; tranh thủ rộng rãi sự đồng tình, ủng hộ của Nhân dân thế giới với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tạo môi trường thuận lợi, mở rộng hội nhập kinh tế, văn hóa, giáo dục gắn liền với việc nâng cao ý thức cảnh giác, đối phó kịp thời với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, lợi dụng sự hội nhập để thâm nhập, xây dựng lực lượng tiến hành biểu tình, bạo loạn lật đổ.

KẾT HỢP CHẶT CHẼ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VỚI BẢO ĐẢM QUỐC PHÒNG AN NINH VÀ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

 

Phát triển kinh tế xã hội đi đôi với tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng phải được thực hiện chặt chẽ, toàn diện trên từng địa bàn lãnh thổ, trong các chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, các chương trình dự án, các hoạt động kinh tế đối ngoại, giữ vững độc lập, tự chủ trong hợp tác kinh tế quốc tế. Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội phải kết hợp chặt chẽ với công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ; an ninh văn hoá, tư tưởng; an ninh thông tin. Phát hiện đấu tranh, ngăn chặn các thế lực thù địch thông qua hợp tác kinh tế, văn hoá, giáo dục; tác động làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế, từng bước chuyển hoá chính trị; giữ vững hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước Xây dựng, củng cố quốc phòng an ninh nâng cao sức mạnh quốc phòng của đất nước, thực chất là xây dựng sức mạnh tổng hợp của quốc phòng, bao gồm xây dựng tiềm lực quốc phòng, xây dựng lực lượng quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng; phương thức đấu tranh quốc phòng; lãnh đạo, quản lý quốc phòng; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Để nâng cao sức mạnh quốc phòng của đất nước cần tổ chức triển khai đồng bộ, có hiệu quả các biện pháp: Tăng cường công tác giáo dục quốc phòng an ninh, nâng cao ý thức trách nhiệm của toàn dân, của cả hệ thống chính trị về thực hiện nhiệm vụ củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh bảo vệ Tổ quốc; kết hợp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ với tăng cường tiềm, thế trận quốc phòng; nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang nhân dân đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cả thời bình và khi có chiến tranh; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý Nhà nước đối với quốc phòng an ninh; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, chủ động tạo môi trường hòa bình, ổn định và lợi thế cho xây dựng, củng cố quốc phòng.

Song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, chúng ta phải luôn luôn tăng cường cảnh giác, tích cực, chủ động trong nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng – an ninh, trong đó giữ vững chủ quyền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam phải luôn được đặt lên hàng đầu. Cần phải xác định nhiệm vụ bảo vệ đất nước là nhiệm vụ của toàn dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, trình độ và thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.