Thứ Ba, 1 tháng 8, 2023

Nghĩ sao???

Bộ Y, bộ Giáo nghĩ sao

Hai từ "Bát nháo..." lẽ nào lặng thinh?

Được nêu lên sóng truyền hình

Ghế trên thiên tử giật mình hay chưa 😂😂😂


HIỂU MÌNH LÀ AI



Chỉ cần được đi dự World Cup, để lá Cờ Đỏ sao vàng và Quốc ca Việt Nam vang rền tung bay trên giải bóng đá hàng đầu thế giới đã là một vinh dự lớn lao ngoài sự mong đợi. Bóng đá Nữ Việt Nam đã quá xuất sắc, quá tuyệt vời cho đến thời điểm hiện tại, những người hâm mộ bóng đá Việt Nam chắc hẳn cũng đang rất tự hào về những gì mà các cô gái cũng như HLV Mai Đức Chung đã làm được.


Đội tuyển bóng đá nữ đã phấn đấu hết mình bằng niềm đam mê, bằng sự cố gắng không biết mệt mỏi của cả thầy và trò, được sự quan tâm liên đoàn bóng đá, sự cổ vũ nhiệt tình của khán giả nước nhà, đội bóng đã nữ mới có được những thành tích cao nhất trong khu vực. Còn để cùng đẳng cấp với bóng đá nữ trên thế giới thì còn phải phấn đấu rèn luyện nhiều. 


Kết quả 3-0 rồi 2-0 rồi 7-0 không có gì ngạc nhiên, không có gì đáng trách, biết rõ mình là ai, để có cách ứng xử phù hợp không làm tổn thương các em. Rất mong HLV Mai Đức Chung có thật nhiều sức khoẻ, và chúc bóng đá Nữ Việt Nam nói riêng, bóng đá Việt Nam nói chung sẽ tiếp tục toả sáng và chinh phục những đỉnh cao mới.

Ngăn chặn chiêu trò lợi dụng góp ý xây dựng dự thảo các văn kiện đại hội đảng để chống phá

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn

Trong lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị đại hội đảng các cấp, nhất là Đại hội XIII của Đảng, một trong những nội dung quan trọng được Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương nhấn mạnh đó là, phải chủ động phòng ngừa, cảnh giác, ngăn chặn, đấu tranh, không để tác động, chi phối bởi những thông tin không chính thức, thông tin giả, xấu độc, bịa đặt, xuyên tạc trên internet, mạng xã hội… Đặc biệt trong việc tổ chức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo các văn kiện đại hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhiều lần yêu cầu cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể cần nêu cao tinh thần cảnh giác, ý thức tự “đề kháng”, năng lực phản bác của nhân dân trong cuộc đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn, luận điệu sai trái nhằm phá hoại đại hội đảng của các thế lực thù địch...

Sở dĩ người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta nhấn mạnh vấn đề này bởi trên thực tế có một số phần tử cơ hội chính trị, được các thế lực thù địch, phản động hà hơi, tiếp sức, lợi dụng công việc hệ trọng này để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chúng cho rằng thời điểm diễn ra đại hội đảng các cấp, nhất là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII là thời cơ cần lợi dụng tối đa để chống phá. Thông qua mạng xã hội, các trang web của bọn phản động lưu vong, một số báo mạng xưa nay vốn thiếu thiện chí với Việt Nam ở hải ngoại, chúng ra sức tuyên truyền xuyên tạc, tác động nhằm "nắn dòng dư luận" tiến tới mục tiêu làm chệch hướng đường lối, chủ trương của Đảng ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Những quan điểm sai trái, những luận điệu xuyên tạc, phản động ấy không chỉ là “lời nói gió bay” mà còn được họ soạn thảo thành những tài liệu mạo danh, nặc danh dài hàng trăm trang chứa đựng thông tin xấu độc... rồi tán phát trên một số trang mạng. Bằng những thủ đoạn rất tinh vi, các thế lực thù địch, phản động còn móc nối, lôi kéo và dùng chính những phần tử thoái hóa, biến chất ngay trong nội bộ ta lợi dụng việc đóng góp vào dự thảo các văn kiện đại hội đảng để xuyên tạc sự thật, công kích, chống phá ta, dưới nhiều hình thức như: “Thư ngỏ”, “thư trao đổi”; “thư góp ý”… Nội dung mà chúng tập trung là xuyên tạc tình hình đất nước; làm lu mờ những thành quả cách mạng, thổi phồng những tồn tại, hạn chế trong phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh... của đất nước, rồi quy kết đổ lỗi nguyên nhân của những hạn chế ấy là do thể chế chính trị, sự yếu kém trong thực hiện vai trò lãnh đạo, từ đó làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào Đảng ta; xuyên tạc, bịa đặt những thông tin liên quan đến công tác nhân sự đại hội;... Chúng cho rằng đại hội lần này là thời cơ để Việt Nam đổi mới thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng lập luận rằng nếu Việt Nam vẫn chỉ có độc nhất một đảng lãnh đạo thì không thể nói tới một nền dân chủ chân chính... Nhìn vào những bản góp ý được chuẩn bị công phu, lập luận không kém phần logic với những câu từ được trau chuốt bóng bẩy ấy, nếu ai đó non kém về nhận thức chính trị, sẽ rất dễ lầm tưởng và cho đấy là sự góp ý trách nhiệm, tâm huyết. Nhưng thực chất đó là những luận điệu hết sức sai trái và cực kỳ nguy hiểm.

Mục tiêu của những giọng điệu ấy vẫn không gì khác là hòng đánh lừa dư luận, lôi kéo những người thiếu bản lĩnh, nhẹ dạ, cả tin theo ý đồ chính trị của chúng, sâu xa hơn là phủ nhận tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ XHCN mà nhân dân ta đang dày công xây dựng. Cách thức thể hiện những nội dung ấy cũng không có gì mới, có chăng chỉ là sự thay đổi cách diễn đạt bằng những “xảo ngữ”, ngôn từ hoa mỹ, bóng bẩy nhằm tăng thêm độ tinh vi, thâm hiểm trong mưu đồ chống phá để dễ bề đánh lừa dư luận... Nhưng mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc ấy đã và đang bị vô hiệu hóa, bởi cùng với phát huy dân chủ, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc, luôn tỉnh táo, đề cao cảnh giác, không mơ hồ, ảo tưởng trước mọi chiêu trò chống phá.

Góp ý xây dựng dự thảo các văn kiện đại hội đảng - công việc hệ trọng

Cần khẳng định rằng mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ, tâm huyết, sự sáng tạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, các tầng lớp nhân dân góp ý xây dựng dự thảo các văn kiện của Đảng, là chủ trương đúng đắn và là việc làm cụ thể khẳng định bản chất của chế độ ta. Phát huy dân chủ, huy động sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân cũng là bài học kinh nghiệm quý báu rút ra từ thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến"; "thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn". Phát huy dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với tinh thần ấy, Đảng ta xác định tổ chức lấy ý kiến xây dựng dự thảo văn kiện đại hội đảng các cấp, đặc biệt là Đại hội XIII của Đảng là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; là công việc rất hệ trọng, mang tính quyết định đến tương lai phát triển của đất nước.

Bởi vậy, trong Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, yêu cầu rõ: “Công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng phải thực hiện phương châm kế thừa, ổn định, đổi mới, sáng tạo và phát triển; phát huy dân chủ đi đối với giữ vững nguyên tắc, siết chặt kỷ luật, kỷ cương...”. Tại các kỳ họp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương và nhiều cuộc làm việc với lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng luôn nhấn mạnh: "Việc lấy ý kiến đóng góp tại đại hội đảng bộ các cấp và của các tầng lớp nhân dân là hết sức quan trọng, thể hiện ý Đảng, lòng dân, có giá trị thực tiễn phong phú, sinh động để Trung ương nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện dự thảo các văn kiện...". Vì vậy, việc lấy ý kiến của các cấp ủy, tổ chức đảng và nhân dân phải vừa sâu, vừa rộng; các ý kiến phải đóng góp thiết thực, nâng cao chất lượng các dự thảo văn kiện, thể hiện rõ sự tâm huyết, trách nhiệm với Đảng, với đất nước. Tổ chức tốt việc xin ý kiến nhân dân vào các dự thảo văn kiện của Đảng cũng là biện pháp thiết thực nhằm ngăn chặn những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng công việc ý nghĩa này để chống phá.

Chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh

Thực tế đòi hỏi các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan chức năng cần phải quan tâm tạo điều kiện thuận lợi nhất để cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nghiên cứu; thể hiện quan điểm, thái độ, chính kiến của mình đối với từng nội dung trong dự thảo các văn kiện. Mặt khác, tổ chức đảng, từng cơ quan, đơn vị, địa phương cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền cung cấp cho người dân đầy đủ thông tin cần thiết, định hướng để người dân hiểu đúng mục đích, ý nghĩa của công việc hệ trọng này. Cần coi việc giúp cán bộ, đảng viên và người dân hiểu đúng, nhận thức đầy đủ về dự thảo các văn kiện là phương cách tốt nhất để nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động phát hiện, đấu tranh kịp thời với mọi tư tưởng, quan điểm sai trái.

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân, khi tiếp cận với những thông tin, tài liệu tán phát trên mạng cần phải tỉnh táo nhận diện đâu là thông tin tốt, đâu là thông tin xấu, đâu là thông tin có cơ sở, đâu là thông tin xuyên tạc, bịa đặt; tránh bị cuốn theo những giọng điệu mỹ miều, xảo trá của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội mà dẫn tới tư tưởng hoài nghi, hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin với Đảng và chế độ.

Cùng với tổ chức chặt chẽ việc đóng góp ý kiến, cần tổ chức tốt việc tổng hợp, tiếp thu ý kiến của đại hội đảng bộ các cấp để hoàn thiện, nâng cao chất lượng các dự thảo văn kiện, trình Trung ương xem xét thông qua, sau đó xin ý kiến nhân dân trước khi trình Đại hội XIII của Đảng. Trong tổng hợp và ghi nhận những ý kiến đóng góp của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, các cơ quan chức năng cần có sự nhìn nhận, đánh giá, phân tích kỹ lưỡng, thận trọng, tuyệt đối không để kẻ xấu lợi dụng công việc ý nghĩa này để thực hiện những mục đích cá nhân, kích động chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; chống phá Đảng, nhà nước và nhân dân ta.

Bằng các biện pháp nghiệp vụ, nhất là những biện pháp kỹ thuật công nghệ, các lực lượng chức năng cần chủ động phát hiện những nội dung xấu độc trên mạng xã hội, những trang mạng tán phát thông tin, tài liệu xấu độc, mạo danh, nặc danh, lợi dụng việc góp ý xây dựng dự thảo các văn kiện đại hội đảng để xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, từ đó tổ chức đấu tranh ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với những tổ chức, cá nhân liên quan theo pháp luật.

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực - quyết tâm chính trị không thể đảo ngược của Đảng Cộng sản Việt Nam

Với tinh thần “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, “không kể đó là ai”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự vào cuộc của nhân dân và cả hệ thống chính trị, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta đã trở thành quyết tâm chính trị và đạt nhiều kết quả quan trọng, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, các tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Đó là một xu thế không thể đảo ngược!

Tham nhũng là một hiện tượng tồn tại khá phổ biến trong xã hội có phân chia giai cấp, có nhà nước. Không riêng gì ở Việt Nam mà bất kỳ một quốc gia hay chế độ chính trị nào trên thế giới, ít nhiều cũng đều có vấn nạn này. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ ba căn bệnh: tham ô, lãng phí, quan liêu là những thứ giặc nội xâm bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân mà ra. Vì vậy, ngay từ khi mới giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện và dự báo về mối nguy hại của các căn bệnh trên gắn với nhà nước, với người có chức, có quyền, nhất là bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí và được Người diễn đạt bằng thuật ngữ “bất liêm”, ngày nay chúng ta gọi là tham nhũng, tiêu cực. Người coi tham ô, lãng phí là tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội, vì bản chất của tham ô là lấy của công làm của tư, là gian lận, tham lam, tham ô là trộm cướp. Người phạm tội đó dù ở cương vị nào cũng phải đem ra xét xử theo đúng pháp luật để đề cao phép nước. Bản án tử hình dành cho Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu (năm 1950) về việc lợi dụng chức quyền nhận hối lộ, tham ô, sa đọa, vừa thể hiện sự nghiêm minh, vừa tỏ rõ quyết tâm của Đảng, Chính phủ trong phòng, chống tham nhũng ngay từ rất sớm.

Trong giai đoạn cả nước đang dồn sức cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, dù phải tập trung cao độ cho các nhiệm vụ nặng nề, khó khăn, cấp bách của cách mạng, nhưng Đảng ta luôn quan tâm đến công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Ngày 26/4/1962, Bộ Chính trị (khóa III) đã ban hành Nghị quyết số 51-NQ/TW “Về cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”. Sau hơn một năm thực hiện, để mở rộng nội dung quản lý nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, ngày 24/7/1963, Bộ Chính trị (khóa III) đã ban hành Nghị quyết số 85-NQ/TW “Về cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”.

Khi cả nước bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhận thấy “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực ngày càng gia tăng nghiêm trọng, cho nên trong văn kiện các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc đều đề cập đến vấn đề phòng, chống tham nhũng. Tại Đại hội XI, Đảng ta chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp”. Đến Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”. Cùng với đó, chỉ riêng trong 10 năm (2012 - 2022), “Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã đã ban hành hơn 250 văn bản về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và phòng, chống tham nhũng; Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 300 luật, pháp lệnh, nghị quyết; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành hơn 2.000 nghị định, quyết định. Các bộ, ngành, địa phương ban hành hàng nghìn văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời thể chế hóa và triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng về quản lý kinh tế - xã hội, phòng, chống tham nhũng”. Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) Đảng ta đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị do Tổng Bí thư làm Trưởng ban. Tiếp đó, tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII), Đảng ta quyết định thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng ở tất cả 63 tỉnh, thành phố do đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy làm Trưởng ban. Điều đó cho thấy, Đảng và Nhà nước ta chưa bao giờ sao nhãng, mà luôn luôn đặt cảnh báo về nguy cơ và sự tác hại của tham nhũng ở mức độ cao nhất; là chỗ dựa vững chắc, là bảo đảm về mặt chính trị và tạo động lực to lớn và do đó, đây là nhân tố hàng đầu quyết định sự thành công của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua.

Không chỉ dừng lại ở các chỉ thị, nghị quyết, các văn bản pháp luật đã được ban hành mà quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng được thể hiện bằng hành động quyết liệt và hiệu quả. Trong 10 năm (2012 - 2022), “đã xử lý kỷ luật 2.740 tổ chức đảng và hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có hơn 190 cán bộ diện Trung ương quản lý (có 04 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 36 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương; hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang); qua thanh tra, kiểm tra, kiến nghị xử lý trách nhiệm gần 44.700 tập thể, cá nhân, chuyển cơ quan điều tra, xử lý gần 1.200 vụ việc có dấu hiệu tội phạm”. Cùng với đó, công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế cũng được tiến hành một cách kiên quyết, không khoan nhượng. Cũng trong 10 năm qua, “các cơ quan tiến hành tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 19.546 vụ/33.868 bị can, truy tố 16.699 vụ/33.037 bị can; xét sơ thẩm 15.857 vụ/30.355 bị cáo về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế; khởi tố, điều tra 2.657 vụ/5.841 bị can, truy tố 2.628 vụ/6.199 bị can, xét sơ thẩm 2.439 vụ/5.647 bị cáo về tội tham nhũng. Tính riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã khởi tố, điều tra 4.200 vụ/7.572 bị can về tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế, trong đó có 455 vụ/1.054 bị can về tội tham nhũng”5. Kết quả đó khẳng định chủ trương, quyết tâm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là hoàn toàn đúng cả về lý luận và thực tiễn, phù hợp với thực tiễn khách quan, xu thế thời đại và được nhân dân đồng tình ủng hộ.

Tuy nhiên, với dã tâm và âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch, phản động ra sức xuyên tạc, phủ nhận cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước. Chúng rêu rao rằng: cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng chỉ là sự đấu đá, tranh giành quyền lực, thanh trừng nội bộ giữa các phe nhóm trong Đảng. Số cơ hội chính trị thì bày tỏ hoài nghi và cho rằng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mạnh thì lấy đâu cán bộ để làm việc; rằng, làm mạnh tay sẽ lợi bất cập hại, gây cản trở sự phát triển, làm nhụt chí sáng tạo của cán bộ, đảng viên. Đáng tiếc là, trước kết quả phòng, chống tham nhũng, một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện sợ trách nhiệm, xuất hiện tư tưởng “bàn lùi”,... không dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và không dám dũng cảm đấu tranh với các biểu hiện tham nhũng, tiêu cực, v.v.

Phải khẳng định rằng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là vấn đề tất yếu khách quan của mọi nhà nước và chế độ xã hội, nhằm không ngừng thúc đẩy sự phát triển. Đối với nước ta, thực hiện tốt vấn đề này không chỉ góp phần quan trọng xây dựng Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, mà còn củng cố niềm tin vững chắc của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Trước quyết tâm chính trị của Đảng, trên thực tế, phòng, chống tham nhũng đã trở thành “cao trào”, là trách nhiệm chính trị lớn lao của cán bộ, đảng viên đối với Đảng, Nhà nước, Nhân dân và vận mệnh của đất nước. Không chỉ những cán bộ, đảng viên suy thoái, sa vào tham nhũng bị xử lý theo quy định của pháp luật, mà một số đồng chí cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước đã dũng cảm nhận trách nhiệm và tự nguyện từ chức khi để cấp dưới tham nhũng gây hậu quả nghiêm trọng. Điều đó khẳng định, đây là bước tiến vượt bậc trong công tác phòng, chống tham nhũng, là sự thay đổi trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên trước vận mệnh của đất nước.

Cho đến nay, chúng ta có thể khẳng định rằng, công cuộc phòng, chống tham nhũng được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả tích cực, rõ rệt, thực chất hơn. Kết quả lớn nhất mà chúng ta đạt được trong cuộc chiến “chống giặc nội xâm” này không chỉ củng cố niềm tin của nhân dân, mà còn tạo lòng tin vững chắc của cộng đồng quốc tế vào sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước trong phòng, chống tham nhũng. Giáo sư Vladimir Kolotov, Giám đốc Viện Hồ Chí Minh tại Đại học Quốc gia St. Petersburg, nhận xét: “Chiến dịch “đốt lò” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một tầm nhìn chiến lược quan trọng bắt đầu được thực hiện từ lâu. Tình hình đang thay đổi, tình hình tham nhũng đang thay đổi và công tác phòng, chống tham nhũng cũng đang thay đổi,...”. Còn trang tin Times of India khẳng định: “Việt Nam đã cung cấp một bài học quý giá mà các quốc gia có thể noi theo khi tham nhũng là vấn nạn phổ biến trên toàn cầu”. Và sau Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012 - 2022, Trang tin Bloomberg, nhận xét: “Hội nghị tổng kết 10 năm cuộc chiến chống tham nhũng của Việt Nam đã mở ra giai đoạn mới trong cuộc chiến chống tham nhũng với sự tham gia của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại các địa phương. Các vụ xử lý kỷ luật các quan chức cấp cao vừa qua cho thấy quyết tâm của Đảng và các cơ quan pháp luật trong cuộc chiến chống tham nhũng với tinh thần không khoan nhượng, không vùng cấm, không ngoại lệ”.

Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, “trên - dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”, được tiến hành một cách kiên trì, nhân văn, bài bản, thuyết phục với tinh thần không khoan nhượng, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã trở thành phong trào, “xu thế không thể đảo ngược”, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Nhờ đó, tham nhũng đang từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi và có chiều hướng thuyên giảm, góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo động lực mới, khí thế mới để toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đồng thời, là minh chứng rõ nhất bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc về công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay.

Bóc mẽ chiêu thức bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ nhằm mưu đồ “phi đảng hóa” Quân đội

Thời gian gần đây, lợi dụng một số quân nhân cấp tá, cấp tướng bị xử lý hình sự do vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, các thế lực thù địch, phản động ra sức rêu rao, vu cáo "Quân đội ta đã thoái hóa, biến chất...". Từ đó, chúng ra sức tuyên truyền rằng, “không cần phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ vì vô nghĩa”.

Đây là một trong những chiêu thức nguy hiểm được các thế lực thù địch ưu tiên khai thác, triệt để sử dụng nhằm tấn công trực diện để hạ bệ “thần tượng Hồ Chí Minh” trong Quân đội-một sự biến dạng đầy gian xảo của âm mưu, thủ đoạn "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội.  

Đủ chiêu trò xuyên tạc, bôi nhọ danh hiệu cao quý của Quân đội ta

Trong tâm thức Bộ đội Cụ Hồ và người dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đẹp nhất, là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, vị lãnh tụ rất đỗi gần gũi, thân thương. Bác không chỉ là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mà còn là lãnh tụ tinh thần, niềm tin yêu, biểu tượng cao quý, thiêng liêng, nguồn cội của sự quy tụ, tập hợp, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc; dẫn dắt quân và dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc. Nhờ có Bác, nhân dân ta có được cuộc sống hòa bình, hạnh phúc; đất nước ta có cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế to lớn như ngày nay.

Bộ đội ta rất vinh dự, tự hào được mang tên Bác kính yêu. Quân đội ta được thừa hưởng những tài sản đồ sộ và vô giá, được Bác trao truyền, để lại, luôn mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp của người quân nhân cách mạng, được cô đọng, kết tinh trong danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ trọn đời vì nước, vì dân. Vì lẽ đó, phẩm chất và hình tượng Bộ đội Cụ Hồ mang giá trị biểu trưng độc đáo, đặc sắc, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần của Quân đội và nhân dân ta.

Với tầm ảnh hưởng sâu rộng và sự lan tỏa ngày càng to lớn của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế, điều đó đã làm cho các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị lo sợ, bất an. Họ hiểu rằng, chừng nào ở nước ta còn có Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, thì chừng ấy, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội không thể thực hiện được.

Vì vậy, để bảo tồn “sự sống” của mình, các thế lực chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta đã cấu kết với nhau, tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ, xóa bỏ vai trò, sức mạnh và tầm ảnh hưởng to lớn của Quân đội ta trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một trong những chiêu thức xảo quyệt nhất mà các thế lực thù địch ráo riết thực hiện là xuyên tạc, bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ. Mục đích của chiêu trò này nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội ta.

Đây là chiêu thức họ đã và đang rắp tâm thực hiện nhằm hủy hoại thanh danh, uy tín, vị thế của Bộ đội Cụ Hồ; làm suy giảm sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta, tước bỏ công cụ bạo lực sắc bén, chỗ dựa vững chắc nhất, tin cậy, trung thành nhất của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Chiêu thức nguy hiểm này được các thế lực thù địch ưu tiên khai thác, triệt để sử dụng nhằm tấn công trực diện để hạ bệ “thần tượng Hồ Chí Minh” thông qua mưu đồ “phi đảng hóa” Quân đội-một sự biến dạng đầy gian xảo của âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội đã xuất hiện cuối những năm 90 của thế kỷ 20 ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Về bản chất, “phi đảng hóa” hay “phi chính trị hóa” Quân đội chỉ là tên gọi khác nhau nhưng cùng mục đích là tách Quân đội ta ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội ta từ xa lạ đến xa lìa nhân dân, trở nên cô lập, bị vô hiệu hóa bởi mắc mưu “diễn biến hòa bình”.

Điều đó cho thấy, "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội là hai hiện tượng có chung bản chất, thể hiện sự công khai chống phá trắng trợn với tính chất nguy hại vô cùng to lớn của việc thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, hướng lái Quân đội ta chỉ “tuân theo pháp luật”, chỉ phục vụ Tổ quốc, không phục vụ Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho Quân đội ta cũng giống như quân đội Liên Xô rơi vào tình trạng “lầm đường lạc lối”, mất sức chiến đấu, trở thành đội quân vô dụng, cho dù có đầy đủ vũ khí tối tân, hiện đại nhưng không thể bảo vệ được Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa, không thể bảo vệ thành quả cách mạng của Liên Xô.

Để thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, các thế lực thù địch đã tìm mọi cách bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, đối lập phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ ngày nay với phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Chúng rêu rao rằng, sau khi Cụ Hồ đi vào “thế giới vĩnh hằng”, “Đảng Cộng sản Việt Nam đã chiếm thế thượng phong”, trở nên “độc quyền, toàn trị”, thì theo đó, hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ cũng dần bị “biến dạng, méo mó, không còn thiêng liêng như trước đây”. Thậm chí có kẻ xuyên tạc rằng, ngày nay, Bộ đội Cụ Hồ “chỉ còn lại là cái bóng không hồn”, “một cái tên gọi hồi tưởng của quá khứ” vì Quân đội nhân dân Việt Nam “bị nền kinh thế thị trường nuốt chửng, lợi ích vật chất chi phối và chủ nghĩa cá nhân đã bao phủ bóng đen lên Bộ đội Cụ Hồ”(?!).

Những kẻ xấu đã “vơ đũa cả nắm”, lấy hiện tượng quy về bản chất, lấy ví dụ cụ thể để đơm đặt, thêu dệt thành sự việc phổ biến, cố tình thổi phồng, khoét sâu khuyết điểm của một số quân nhân cấp tá, cấp tướng bị xử lý hình sự do vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, để vu cáo, nói xấu Quân đội ta...

Giải quyết song hành hai nhiệm vụ “xây” và “chống” để giữ vững hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ

Với những chiêu thức nêu trên, các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta muốn thực hiện mục tiêu kép đó là: Làm suy yếu bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội ta; dọn đường cho âm mưu bạo loạn lật đổ, “cách mạng màu”, thực hiện “diễn biến hòa bình”; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Điều ảo tưởng của họ chỉ có thể diễn ra và đạt được mục đích khi họ thực hiện thành công thủ đoạn “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội, xuyên tạc, bôi đen phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng.

Hơn lúc nào hết, chúng ta cần ý thức sâu sắc sự cần thiết phải đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội ta. Bài học kinh nghiệm về xây dựng quân đội trên thế giới kể từ khi chủ nghĩa xã hội hiện thực sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu từ những năm 90 của thế kỷ 20 luôn nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta hãy đề cao cảnh giác, không cho phép các thế lực thù địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ dưới mọi hình thức; không được phép để xảy ra hiện tượng “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội trước mọi tình huống.  

Việc đấu tranh, làm thất bại âm mưu "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch nhất thiết phải gắn chặt với việc bền bỉ giữ vững, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới. Điều đó đặt ra vô cùng cấp bách, cần thiết đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam; đặc biệt quan tâm hơn nữa nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.

Đây là nhiệm vụ “xây” trong mối quan hệ mật thiết với “chống”, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự khẳng định “còn Đảng còn mình”, “còn Bộ đội Cụ Hồ là còn chân lý, niềm tin và lẽ phải”, bởi nó liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ, lợi ích quốc gia, dân tộc và uy tín, vị thế, danh dự Bộ đội Cụ Hồ.

Đây cũng là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ bức thiết hàng đầu của công tác tham mưu, đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thực hiện hiệu quả Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, góp phần đưa Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới” được hiện thực hóa trong cuộc sống. 

Có thể nói rằng, “xây” đi đôi với “chống” vừa là áp lực, đồng thời là động lực để Quân đội ta hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Kết quả thực hiện nhiệm vụ này được quy định bởi chất lượng, hiệu quả phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và đấu tranh phòng, chống "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội trong tình hình mới. Sự non kém của mặt này sẽ làm suy giảm mặt kia và ngược lại.

Cho nên, giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và đấu tranh phòng, chống "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội là hai nhiệm vụ song hành, chung một mục tiêu, làm cho Quân đội ta luôn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là cái gốc vững chắc nhất, vũ khí sắc bén nhất, tạo nên sức mạnh nội sinh vô cùng mạnh mẽ để Quân đội ta bách chiến, bách thắng trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, nhất là những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp trong tình hình mới.

Không thể xuyên tạc nhiệm vụ của Ban Tuyên giáo Trung ương

Việc xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đi đến đòi xóa bỏ chủ nghĩa xã hội để đi theo con đường tư bản chủ nghĩa là điều mà các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, phản động thường xuyên muốn làm; đã và đang tiếp tục tiến hành.

Những luận điệu phản động, thâm độc

Một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Tuyên giáo Trung ương theo Quyết định số 88-QĐ/TW của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Ban Tuyên giáo Trung ương do đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư ký ngày 1/12/2022 là “Tham mưu công tác tuyên truyền, giáo dục, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về học tập, nghiên cứu về ý nghĩa vai trò, tầm quan trọng, sự cần thiết học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” (Quyết định số 88-QĐ/TW). Cho nên, dù là thực thi nhiệm vụ theo Quyết định số 113-QĐ/TW ngày 9/7/2012 của Bộ Chính trị khóa XI về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Tuyên giáo Trung ương hay theo Quyết định số 88-QĐ/TW, thì các vụ chức năng của Ban Tuyên giáo Trung ương cũng luôn làm đúng, làm tròn nhiệm vụ được giao như nội dung đã nêu trên.

 Thực tế, việc nghiên cứu, tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự tham mưu, chỉ đạo hệ thống truyền thông, báo chí, xuất bản, báo cáo viên, tuyên truyền miệng (gọi chung là các cơ quan tuyên truyền của Đảng) trong quá trình  tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong việc nâng cao nhận thức về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng, sự cần thiết học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều đã, đang và tiếp tục được triển khai sâu rộng từ Trung ương đến địa phương.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch lại coi việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi việc các cơ quan tuyên truyền của Đảng tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; về việc thấu triệt để vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là “tuyên truyền cái chủ nghĩa Mác - Lênin đã chết yểu từ lâu”, là “tuyên truyền láo vì làm gì có tư tưởng Hồ Chí Minh” hay “dù chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đưa đất nước đến tụt hậu và tham nhũng tràn lan, song “tuyên giáo” vẫn ra rả phải kiên định, phải bảo vệ, vì đó là nền tảng tư tưởng của Đảng”… Không dừng ở đó, các thế lực thù địch còn cho rằng, việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người ở Việt Nam theo chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương chính là một kiểu “tuyên truyền không có ý thức, bất chấp thủ đoạn”; là “việc tuyên truyền ở cấp độ thấp kém để lôi kéo đối tượng tiếp nhận thông tin một cách lệch lạc”...

Việc xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đi đến đòi xóa bỏ chủ nghĩa xã hội để đi theo con đường tư bản chủ nghĩa là điều mà các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, phản động thường xuyên muốn làm; đã và đang tiếp tục tiến hành. Đồng thời, Việt Nam lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là điều mà họ thường xuyên chống phá bằng các chiêu trò xuyên tạc, kích động, bẻ cong sự thật…

Tất yếu phải kiên định chủ nghĩa mác - lênin, tư tưởng hồ chí minh

Trước những luận điệu phản động, thâm độc này, cần phải khẳng định rằng:

Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đã kiên cường đấu tranh và giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước, trong các cuộc chiến tranh ở hai đầu biên giới Tây Nam và phía Bắc để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nếu không có chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của một Đảng Mácxít Lêninnít trong sạch, vững mạnh thì không thể có những thành tựu mà đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã đạt được về mọi mặt trong những thập niên qua cũng như “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như hiện nay”(1) như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định.

Vì thế, việc mỗi cá nhân, tập thể cần phải nghiên cứu, học tập, quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người - coi đó là nhu cầu tự thân, tự giác; việc các cơ quan tuyên truyền của Đảng tham mưu, chỉ đạo, đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cả hệ thống chính trị - coi đó là một nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài chính là để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thấm nhuần và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào thực tiễn cuộc sống. Thực tế, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh sẽ giúp mỗi người có được thế giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa, phương pháp luận khoa học; bồi dưỡng, củng cố lý tưởng cách mạng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin; giúp rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị để sống và làm người cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Cho nên, thế giới càng đổi thay, mọi khó khăn, thách thức càng diễn tiến khó lường, thì các cơ quan tuyên truyền của Đảng càng phải chủ động, kịp thời tham mưu, chỉ đạo tăng cường công tác tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cả hệ thống chính trị. Thông qua đó, để mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền; mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị: 1) Trung thành, kiên định lý tưởng cách mạng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn từ trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, tháng 2/1930; 2) Chủ động phòng, chống, đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; 3) Phòng và chống các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, sự "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong mỗi người, mỗi tổ chức, địa phương, cơ quan, đơn vị từ sớm, từ xa; 4) Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn, để kịp thời giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống một cách khách quan, logic, biện chứng.  

Trong bối cảnh tình hình và nhiệm vụ cách mạng ngày càng phải đối diện với nhiều khó khăn, phức tạp hơn trước; công tác phòng và chống sự suy thoái, biến chất, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ cũng phải đối diện với nhiều thủ đoạn, nhiều bẫy "dân chủ", "nhân quyền"; đòi quyền "tự do", xã hội dân sự, đa nguyên, đa đảng, tam quyền phân lập… hơn trước, thì  các cơ quan tuyên truyền của Đảng càng phải tham mưu, chỉ đạo và đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch chủ động và sắc bén hơn. Mọi cấp ủy, cán bộ, đảng viên trong cả hệ thống chính trị càng phải chủ động nhận diện đúng, kịp thời âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị để kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của chúng.

Trước mỗi luận điệu xuyên tạc, công kích về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và đòi xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bôi nhọ Ban Tuyên giáo Trung ương và các cơ quan tuyên truyền của Đảng trong việc thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thì công tác tuyên truyền, đấu tranh và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh càng phải thể hiện rõ giá trị không thể phủ nhận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đối với con đường cách mạng Việt Nam, với tiến trình phát triển của sự nghiệp cách mạng, để góp phần củng cố sự thống nhất, vững chắc trong nội bộ Đảng; để hạn chế và chống lại sự tấn công của các thế lực thù địch từ bên ngoài, đồng thời, ngăn chặn sự suy thoái, biến chất, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" từ bên trong và bác bỏ/xử lý những thông tin sai lệch, xuyên tạc về Đảng, về chủ nghĩa xã hội bằng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và bằng hiện thực sinh động của cách mạng Việt Nam hơn 93 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Gần nhất, có thể thấy sự ổn định về chính trị, sự phát triển về kinh tế, văn hóa, an sinh xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… của Việt Nam trong 37 năm đổi mới và hội nhập quốc tế trên cơ sở kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam chính là minh chứng bác bỏ những thông tin sai lệch, bịa đặt, vu khống, quy chụp của các thế lực thù địch về các cơ quan tuyên truyền của Đảng đã “tuyên truyền sai”, “tuyên truyền láo” không đúng sự thật về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Rõ ràng, việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng; việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cả hệ thống chính trị mà Ban Tuyên giáo Trung ương, các cơ quan tuyên truyền của Đảng đã, đang và tiếp tục tham mưu, chỉ đạo và tổ chức thực hiện là đúng đắn.

Mọi luận điệu xuyên tạc, bẻ cong sự thật, bôi nhọ Ban Tuyên giáo Trung ương, các cơ quan tuyên truyền của Đảng đều là phản động, là nhằm xuyên tạc về lý tưởng của Đảng, về chủ nghĩa xã hội… để chống phá Đảng và chế độ. Điều đó cũng có nghĩa là, Đảng và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, chứ không phải do Đảng đã “cưỡng chế” nhân dân “phải chấp nhận chủ nghĩa ngoại lai cộng sản Mác - Lênin” và “tư tưởng Hồ Chí Minh” để “tự chiếm quyền lãnh đạo”, để “duy trì sự độc tài cai trị đất nước”. Đồng thời, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh dần trở thành nhu cầu tự thân, nền nếp của mỗi cá nhân, mỗi tập thể, chứ không phải Đảng “bắt ép nhân dân phải học tập và làm theo Hồ Chí Minh dù nhân dân không muốn” như các thế lực thù địch đã quy chụp, vu khống!.

Các cơ quan tuyên truyền của đảng càng phải kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(2) và “chế độ cộng sản là ai cũng no ấm, sung sướng, tự do; ai cũng thông thái và có đạo đức. Đó là một xã hội tốt đẹp vẻ vang. Trừ những bọn phản động quá sá, thì chắc ai cũng tán thành chế độ cộng sản”(3). Thực tế, “chế độ xã hội cũng phát triển từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ nghĩa và ngày nay gần một nửa loài người đang tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ cộng sản chủ nghĩa. Sự phát triển và tiến bộ đó không ai ngăn cản được”(4) và thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới là sự thật lịch sử không thể phủ nhận.

Cho nên, không phải ngẫu nhiên trong hành trình khảo nghiệm thực tiễn cuộc sống, các tổ chức mô hình Nhà nước, các cuộc cách mạng để tìm ra con đường cứu nước phù hợp yêu cầu của lịch sử cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh lại đúc kết và khẳng định rằng: “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”(5); còn Pháp thì “cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức”(6), cho nên, để tất cả quần chúng nhân dân đều được thụ hưởng giá trị thực sự của độc lập, tự do, dân chủ… thì chắc chắn cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không thể đi theo con đường cách mạng tư sản mà phải là con đường cách mạng vô sản như Cách mạng Tháng Mười Nga đã thành công. Và cũng vì thế, sau khi quyết định đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, người chiến sĩ cộng sản quốc tế, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã không chỉ sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam mà Người còn lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành sự nghiệp cách mạng theo đúng mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được đề ra trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (2/1930).

Vì mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội là giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người; là tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện trong một chế độ xã hội hòa bình, hữu ái, không có áp bức, bóc lột, bất công, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn… thực sự vì con người, cho nên chế độ xã hội đó không chỉ là khát vọng, mong ước tốt đẹp của nhân dân Việt Nam mà là của cả nhân loại tiến bộ. Tuy nhiên, vì những điều kiện cụ thể của mình, Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa…) phù hợp điều kiện cụ thể của đất nước, chứ không phải là bỏ qua những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đồng thời, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nhất định phải trải qua một thời kỳ quá độ (nhằm chuẩn bị điều kiện vật chất, kỹ thuật, đời sống tinh thần của chủ nghĩa xã hội; tạo sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội…), chứ không phải là các cơ quan tuyên truyền của Đảng đã “lừa bịp đưa ra những cột mốc hoang tưởng để lừa gạt người dân” như các thế lực thù địch xuyên tạc.

Thực chất, thời kỳ thời kỳ quá độ theo C.Mác là “giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia”(7). Đó “không phải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên những cơ sở của chính nó, mà trái lại là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do đó là một xã hội, về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức, tinh thần - còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra”(8), mà chính là “thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”(9). Còn theo V.I.Lênin thì “không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, có một thời kỳ quá độ nhất định. Thời kỳ đó không thể không bao gồm những đặc điểm hoặc đặc trưng của cả hai kết cấu kinh tế xã hội ấy. Thời kỳ quá độ ấy không thể nào lại không phải là một thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản đang giãy chết và chủ nghĩa cộng sản đang phát sinh, hay nói một cách khác, giữa chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn, và chủ nghĩa cộng sản đã phát sinh nhưng vẫn còn rất non yếu”(10).

Vì thế, đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là sự lựa chọn của lịch sử từ năm 1930. Thực tế, từ những năm 60 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng, dù phải “xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh vốn là thuộc địa, một nước nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh xâm lược tàn phá. Hoàn cảnh ấy, cố nhiên gây cho chúng tôi rát nhiều khó khăn. Song, những thắng lợi bước đầu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cho phép chúng tôi tin tưởng chắc chắn ở sự cần thiết và khả năng của một nước như nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách thắng lợi không phải qua con đường phát triển tư bản chủ nghĩa”(11), chứ không phải chủ nghĩa xã hội là “thiên đường ảo”, nên các cơ quan tuyên truyền của Đảng đã “vẽ ra một cái bánh đẹp đẽ để câu giờ cho Đảng” như các thế lực thù địch đã bịa đặt.

Cuối cùng, có thể khẳng định rằng: Trong 9 thập niên Đảng lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành sự nghiệp cách mạng, kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dù vẫn còn hạn chế, thách thức trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, bổ sung và hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam, song giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với con đường cách mạng Việt Nam, với sự phát triển trường tồn của dân tộc là không thể phủ nhận.

Từ những kết quả đạt được trên thực tế, có thể thấy, dù mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu có sụp đổ, song con đường đi lên chủ nghĩa xã hội theo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam lựa chọn từ năm 1930 là phù hợp và đúng đắn.

Đặc biệt, chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng là một xã hội hướng tới các giá trị đích thực vì con người; trong xã hội đó, không có “sự cạnh tranh chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm”, không có kiểu “cạnh tranh bất công, cá lớn nuốt cá bé” và nhất là không có việc chỉ vì “lợi nhuận mà bóc lột chà đạp lên phẩm giá con người” như lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người mà Ban Tuyên giáo Trung ương, các cơ quan tuyên truyền của Đảng đã tham mưu, chỉ đạo, tiến hành tuyên truyền, đấu tranh và bảo vệ (thường xuyên, liên tục, lâu dài) là quan trọng và cần thiết. Đó mới là sự thật và sự thật này bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, bôi đen, đầy sự kích động của các thế lực thù địch./.