Thứ Năm, 3 tháng 8, 2023

THỂ CHẾ HOÁ ĐẦY ĐỦ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI

 

Chiều 2-8, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ chủ trì cuộc làm việc để cho ý kiến vào công tác tiếp thu, giải trình, chỉnh lý và một số nội dung lớn của dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).
Đồng chủ trì cuộc làm việc có các đồng chí Phó chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Khắc Định, Nguyễn Đức Hải, Thượng tướng Trần Quang Phương. Dự cuộc làm việc có Phó thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà; Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Y Thanh Hà; Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh; Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Hoàng Thanh Tùng; Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách Lê Quang Mạnh; Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Đặng Quốc Khánh; lãnh đạo các bộ, ngành và đại diện Thường trực các cơ quan của Quốc hội…
Theo báo cáo của Cơ quan thẩm tra, đến nay vẫn có 12 nội dung lớn trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) còn ý kiến khác nhau như: Phân loại đất, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, tiêu chí thu hồi và đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án nhà ở thương mại, công trình thương mại, công trình dịch vụ, khu vui chơi, giải trí, tổ hợp đa năng để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Bên cạnh đó là các vấn đề lớn như áp dụng phương pháp thặng dư để định giá đất hay mức phân bổ tối thiểu 10% nguồn thu từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất hằng năm của địa phương cho Quỹ phát triển đất.
Phát biểu kết thúc cuộc làm việc, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ ghi nhận, cảm ơn ý kiến của các đại biểu tại cuộc làm việc; đánh giá cao Thường trực Ủy ban Kinh tế đã tích cực, chủ động phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, các cơ quan, tổ chức hữu quan trong tiếp thu, chỉnh lý dự án luật; tổ chức thêm một số cuộc hội thảo ở cả Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
“Đến thời điểm này, sau khi tiếp thu ý kiến đóng góp của nhân dân, của đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ năm, chất lượng dự án luật đã được nâng cao một bước”, Chủ tịch Quốc hội nói.
Tuy nhiên, Chủ tịch Quốc hội cũng lưu ý, đến nay, dự án Luật Đất đai (sửa đổi) cũng vẫn còn những vấn đề có ý kiến khác nhau, phải đưa ra các phương án. Ngay cả các vấn đề đã chốt phương án nhưng cũng vẫn còn ý kiến khác nhau. “Những vấn đề còn lại đều là những vấn đề lớn, khó, then chốt, đòi hỏi Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải tiếp tục nỗ lực không ngừng nghỉ để có dự án luật có chất lượng tốt nhất”, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.
Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh tinh thần chung là phải bám sát, thể chế hóa đầy đủ nội dung của Nghị quyết 18-NQ/TW, ngày 16-6-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Đồng thời phải bám sát các quan điểm, nguyên tắc trong các thông báo kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để tiếp tục hoàn thiện dự án luật.
“Những vấn đề gì thể chế hóa Nghị quyết số 18 chưa đủ thì phải tiếp tục thể chế hóa cho đủ. Vấn đề nào chưa đúng với tinh thần Nghị quyết số 18 thì không đưa vào dự án luật”, Chủ tịch Quốc hội nêu rõ quan điểm.
Chủ tịch Quốc hội nêu ví dụ về các vấn đề thu hồi đất sau khi bố trí xong tái định cư; chính sách bảo đảm đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nhưng phải ngăn ngừa tình trạng đồng bào chuyển nhượng đất sau khi được giao đất lần 2; về điều kiện chuyển nhượng đất trồng lúa với hàm ý cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi nhận chuyển nhượng phải thành lập tổ chức kinh tế và có phương án sử dụng đất trồng lúa đúng mục đích, hạn chế tình trạng đầu cơ, thu gom đất trồng lúa; phân quyền cho địa phương quyết định chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa trên nguyên tắc rất thận trọng; vấn đề thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; phải quy định về giá đất, phương pháp tính giá đất trong luật; về hoạt động lấn biển…
Chủ tịch Quốc hội lưu ý thêm về những vấn đề rất khó như đất ở, thuê đất làm nhà ở cần phải có sự thống nhất với Luật Nhà ở; về nộp tiền một lần và thu tiền đất hằng năm bảo đảm tính khả thi và bảo đảm phương án tài chính của chủ đầu tư; các trường hợp nào đấu thầu, trường hợp nào đấu giá; vấn đề thu hồi đất và tiếp tục áp dụng trường hợp thỏa thuận; vấn đề phát triển cơ sở dữ liệu thông tin đất đai, thủ tục hành chính về đất đai; nghiên cứu thêm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không gian ngầm, công trình ngầm và phát triển thị trường bất động sản; tổng kết Nghị quyết thí điểm một số chính sách để tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, quy định vào dự án luật theo hướng giao Chính phủ tiếp tục tiến hành thí điểm như một phần của hồ sơ dự án luật.
Chủ tịch Quốc hội cũng yêu cầu dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) phải bảo đảm đồng bộ với các luật khác trong hệ thống pháp luật, nhất là với các dự án luật mà Quốc hội đang xem xét, quyết định; không sử dụng luật này làm thay chức năng của các luật khác.
Chủ tịch Quốc hội đề nghị Ủy ban Kinh tế phối hợp với Thường trực Ủy ban Pháp luật, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các cơ quan hữu quan khẩn trương hoàn thiện hồ sơ dự án luật, báo cáo một số vấn đề lớn tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự án luật, trình Hội nghị Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách và trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi trình Quốc hội xem xét, quyết định tại Kỳ họp thứ sáu cuối năm nay./.
Báo điện tử QĐND
Có thể là hình ảnh về 10 người và thiết bị chiếu sáng

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM

 

Hạnh phúc là giá trị bao trùm của nhân loại, mọi quốc gia, dân tộc đều lấy việc xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Ở Việt Nam, suốt chiều dài lịch sử, các triều đại đều lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy vậy, mỗi bước tiến trong quá trình xây dựng hạnh phúc của nhân dân Việt Nam các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách chống phá, phủ nhận.
1. Nhận diện những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận hạnh phúc của nhân dân Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động
Thứ nhất, trước hiện thực sinh động về hạnh phúc của nhân dân Việt Nam được thế giới thừa nhận, đánh giá cao thì các thế lực thù địch, phản động lại cố tình xuyên tạc, phủ nhận. Với luận điệu hết sức trắng trợn, chúng cho rằng, dân chủ Việt Nam là dân chủ giả hiệu, không mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Nhân dân Việt Nam không được hưởng quyền dân chủ và phát huy dân chủ. Chúng giở trò bài bác, kích động, cổ súy cho trào lưu dân túy và tự do vô chính phủ để phá hoại, phủ nhận hạnh phúc của nhân dân Việt Nam.
Thứ hai, chúng cố tình đổi trắng, thay đen khi cho rằng sự bất hạnh của nhân dân Việt Nam là do chế độ xã hội chủ nghĩa, do cán bộ, đảng viên tham nhũng, bòn rút của dân mà trở nên giàu có; cũng vì thế mà nhân dân ngày càng nghèo khó, phân tầng xã hội sâu sắc, khoảng cách giàu nghèo cách biệt.
Thứ ba, chúng đã không hiểu và cố tình không hiểu về hiện thực hạnh phúc của nhân dân Việt Nam. Đó là những tiến bộ và kỳ tích trong xóa đói, giảm nghèo được cả thế giới ngưỡng mộ cũng như niềm hạnh phúc hiện có của nhân dân Việt Nam mà nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới đang mơ ước, nhân dân được hưởng giá trị của hạnh phúc trong độc lập – tự do không lệ thuộc và bị chi phối bởi các thế lực bên ngoài. Đất nước Việt Nam đang ngày càng giàu mạnh, tươi đẹp hơn, trở thành điểm đến an toàn, hấp dẫn của nhân dân trên toàn thế giới ngay cả trong thời kỳ hậu Covid-19.
Thứ tư, nguy hại hơn là chúng còn ra sức xuyên tạc, phủ nhận những giá trị hạnh phúc quý báu của nhân dân Việt Nam đó là Tổ quốc độc lập, nhân dân được sống trong tự do, hạnh phúc. Cố tình gieo rắc, cổ súy cho lối sống thực dụng, xa hoa, trụy lạc, xa rời lý tưởng cách mạng và những giá trị nhân văn, nhân bản của con người cùng bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam; xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự đồng thuận xã hội nhằm phá hoại, phủ nhận cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.
Thứ năm, chúng cho rằng thể chế chính trị Việt Nam hiện nay là không phù hợp chuẩn mực quốc tế, chế độ một đảng lãnh đạo trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền, quốc gia nào một đảng cầm quyền thì quốc gia đó không có dân chủ, nhân dân nơi đó không được hưởng tự do, hạnh phúc. Từ đó phủ nhận thành quả cách mạng, vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận hiện thực cuộc sống độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam.
2. Hạnh phúc của nhân dân là giá trị vĩnh hằng, mục tiêu vươn tới của dân tộc Việt Nam, là kết quả công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, không thế lực nào có thể phủ nhận
Xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc là ước mơ ngàn đời của nhân dân Việt Nam, anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi từng mong ước: nơi thôn cùng, xóm vắng không có tiếng than thở của người già, không có tiếng khóc dỗi hờn của trẻ con. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cội nguồn hạnh phúc của nhân dân là nước được độc lập, tự do, hòa bình, cùng những điều bình dị mà nhân dân cần có là cơm ăn, áo mặc, có nhà để ở, được học hành; được ước mơ và khát vọng vươn tới địa vị làm chủ vì quốc gia dân giàu, nước mạnh.
Thời kỳ đổi mới để xây dựng hạnh phúc cho nhân dân, Đảng, Nhà nước tập trung đổi mới cơ chế, chính sách, phát huy cao độ tinh thần cống hiến vì đất nước của nhân dân. Tạo mọi điều kiện, cơ hội và động lực để phát huy nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu, là mục tiêu của sự phát triển. Tăng cường bảo đảm các điều kiện vật chất, tinh thần hướng tới “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa các giá trị truyền thống với giá trị hiện đại”(1) dựa trên cơ sở phát triển mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực kinh tế – xã hội, môi trường sinh thái, đời sống văn hóa tinh thần văn minh, lành mạnh.
Đảng đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong từng chiến lược phát triển đất nước. Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên nguồn lực cho công tác lãnh đạo, quản lý, các lĩnh vực then chốt, tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về chất lượng giáo dục, đào tạo. Làm tốt công tác tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ người tài; ứng dụng, phát triển khoa học - công nghệ… “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(2).
Tập trung đầu tư các nguồn lực, khơi dậy, phát huy mạnh mẽ sự đồng thuận xã hội, kết hợp hài hòa ý Đảng – lòng dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tạo dựng hạnh phúc lâu dài, bền vững cho cả dân tộc. Hiện hữu trên thực tế là hạnh phúc của nhân dân ta ngày càng được bảo đảm trên cơ sở tăng cường phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong mọi lĩnh vực đời sống, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”, đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh đáp ứng tốt hơn nhu cầu hạnh phúc của nhân dân.
3. Đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận bảo vệ hạnh phúc của nhân dân Việt Nam là mệnh lệnh từ trí tuệ, trái tim Việt Nam, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong thời kỳ mới
Giá trị Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của nhân dân Việt Nam ngày càng được khẳng định và trở thành chân lý thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Ngày nay, với định hướng đúng, khát vọng phát triển mạnh mẽ và quyết tâm chính trị cao, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhất định sẽ “lập nên thành tựu phát triển mới vì một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc ta”(3).
Hạnh phúc của nhân dân Việt Nam là hiện thực, không thể phủ nhận, không phải tự nhiên mà có, đó là cái giá hàng ngàn năm lịch sử hào hùng của dân tộc. Là sự hy sinh, cống hiến của Đảng, là kết tinh trí tuệ, xương máu của cán bộ, đảng viên và của các thế hệ người Việt Nam; vừa là xương máu, vừa là hoa hồng, là bản sắc hạnh phúc của nhân dân Việt Nam. Thành tựu xây đắp hạnh phúc của nhân dân Việt Nam là kết quả nỗ lực, phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân không có thế lực nào có thể bài bác, phủ nhận.
Do đó, trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động đang ngày đêm phá hoại cuộc sống độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải luôn nêu cao cảnh giác, phải đấu tranh kiên quyết và bền bỉ để phê phán, loại bỏ. Cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận để bảo vệ hạnh phúc của nhân dân Việt Nam còn rất lâu dài và ngày càng phức tạp. Cuộc đấu tranh này không chỉ đơn thuần là hành động lý trí mà đó chính là mệnh lệnh từ trí tuệ, trái tim của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân Việt Nam./.VTTĐ
Có thể là hình ảnh về 2 người

ĐẠI TƯỚNG LƯƠNG CƯỜNG: NÂNG CAO NHẬN THỨC, TRÁCH NHIỆM CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ VỀ NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC


Sáng 1-8, Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam chủ trì hội nghị giao ban Tổng cục Chính trị đánh giá kết quả công tác Đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT) tháng 7, triển khai nhiệm vụ công tác trọng tâm tháng 8-2023.
Dự hội nghị có Trung tướng Nguyễn Văn Gấu, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.
Báo cáo và các ý kiến phát biểu tại hội nghị thống nhất khẳng định: Trong tháng 7, hoạt động CTĐ, CTCT toàn quân đã bám sát nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng Đảng bộ Quân đội, tình hình thực tiễn, triển khai toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, hoàn thành tốt các nhiệm vụ.
Nổi bật là: Làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng ý thức trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ; kịp thời tuyên truyền, định hướng tư tưởng, dư luận trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Hoàn thành có chất lượng tổng kết 12 năm thực hiện Chỉ thị 124 của Thường vụ Quân ủy Trung ương; 10 năm thực hiện Đề án đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới; Hội thi cán bộ giảng dạy chính trị trong Quân đội và dân quân tự vệ cấp toàn quân năm 2023; Cuộc thi viết chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ 3-2023 với nhiều tác phẩm chất lượng tốt.
Tham mưu ban hành, triển khai Kết luận của Quân ủy Trung ương về kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2023; hoàn thành có chất lượng các cuộc kiểm tra, giám sát; lấy phiếu tín nhiệm đối với cấp ủy viên, cán bộ chỉ huy, quản lý các cấp; thực hiện công tác nhân sự, thăng quân hàm, nâng lương cán bộ chặt chẽ, đúng quy định.
Công tác bảo đảm an ninh, an toàn, dân vận, chính sách, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, hoạt động của các tổ chức quần chúng và hoạt động CTĐ,CTCT trong các nhiệm vụ được tiến hành chặt chẽ, hiệu quả. Toàn quân đã triển khai, thực hiện tốt các hoạt động Đền ơn đáp nghĩa dịp kỷ niệm 76 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27-7-1947/27-7-2023). Tình hình chính trị, tư tưởng toàn quân ổn định; cán bộ, chiến sĩ tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Cơ quan Tổng cục Chính trị tiếp tục giữ vững ổn định, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, chấp hành nghiêm chế độ quy định.
Phát biểu kết luận hội nghị, Đại tướng Lương Cường ghi nhận, đánh giá cao các cơ quan, đơn vị đã chủ động khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Về nhiệm vụ công tác tháng 8, Đại tướng Lương Cường yêu cầu các cơ quan, đơn vị trong tổng cục chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện chặt chẽ các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, trọng tâm là: Tăng cường công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng; nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội trong tình hình mới.
Đẩy mạnh tuyên truyền tổ chức các hoạt động kỷ niệm 78 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9; 79 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam; Ngày thành lập Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, 34 năm Ngày hội quốc phòng toàn dân (22-12-1989/22-12-2023). Tổ chức sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, triển khai nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chủ động, nhạy bén thông tin, tuyên truyền, định hướng tư tưởng, dư luận trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Đại tướng Lương Cường nhấn mạnh, toàn quân tiếp tục quán triệt, thực hiện Kết luận của Quân ủy Trung ương về kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2023. Tập trung cụ thể hóa chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư đối với cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, chiến sĩ - quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm; và tinh thần “7 dám”. Tổ chức các hội nghị phát hiện nguồn cán bộ Quân đội quy hoạch Ban chấp hành Trung ương khóa XIV và Lãnh đạo Bộ Quốc phòng nhiệm kỳ 2026-2031. Tiếp tục chỉ đạo rà soát, bổ sung phương án quy hoạch cán bộ chỉ huy, quản lý đơn vị trực thuộc Bộ.
Chỉ đạo thực hiện tốt các quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật, an toàn các cơ quan, đơn vị trong toàn quân. Khẩn trương hoàn thành báo cáo của Quân ủy Trung ương về kết quả thực hiện Nghị quyết số 25 của Ban chấp hành Trung ương, Kết luận số 43 của Ban Bí thư về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, đối với công tác dân vận trong tình hình mới”. Tham mưu ban hành Thông tư về việc điều chỉnh trợ cấp hằng tháng đối với quân nhân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc. Nghiên cứu, hoàn thiện nội dung về phụ cấp đặc thù; chủ trương, giải pháp hỗ trợ giải quyết chính sách, ổn định hậu phương quân đội.
Đại tướng Lương Cường lưu ý cần tiến hành chặt chẽ, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT trong thực hiện các nhiệm vụ, trọng tâm là sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; nghiên cứu đề xuất chính sách mang tính tổng thể cho các lực lượng thực hiện nhiệm vụ đặc thù. Làm tốt công tác chỉ đạo tổ chức đại hội công đoàn cấp trực thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và chuẩn bị các nội dung phục vụ Đại hội đại biểu Công đoàn Quân đội lần thứ X.
Tại hội nghị, Đại tướng Lương Cường trao Bằng khen tặng các tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc trong lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện thực hiện Chỉ thị số 124-CT/QUTW ngày 31-3-2011 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới và 10 năm thực hiện Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”.
Tin, ảnh: KIM ANH - TUẤN HUY/Báo QĐND
Ảnh: Đại tướng Lương Cường chủ trì Hội nghị giao ban.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản

Thứ Tư, 2 tháng 8, 2023

BÁC HỒ VÀ ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP TRONG NGÀY ĐỘC LẬP!

         Hôm ấy, khi bài Tiến quân ca vang lên và buổi lễ vừa dứt, một chiếc ô tô tiến sát vào chân kỳ đài. Xe đến đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bên có Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Khoảnh khắc lịch sử quý giá ấy được thu vào ống kính của Nghệ sĩ nhiếp ảnh Võ An Ninh.

Chiều ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Hôm ấy, khi bài Tiến quân ca vang lên và buổi lễ vừa dứt, một chiếc ô tô tiến sát vào chân kỳ đài. Xe đến đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bên có Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Khoảnh khắc lịch sử quý giá ấy được thu vào ống kính của Nghệ sĩ nhiếp ảnh Võ An Ninh.

Trong cuốn "Ở với Người - Ở với đời", Nghệ sĩ nhiếp ảnh Võ An Ninh kể: "Đúng lúc Cụ Hồ và ông Giáp đã ngồi vào xe và xe chưa lăn bánh, tôi nhào tới đưa máy vào khoang cửa và nói: Thưa cụ, vừa rồi trên kỳ đài đông quá, con không chụp được ảnh cụ. Xin cụ cho phép con được lấy một hình của cụ. Cụ Hồ khẽ gật đầu. Nhưng lúc ấy, Cụ Hồ đang đội mũ. Trời đã về chiều. Cái mũ cát vành rộng lại che mất nhiều ánh sáng. Tôi đánh liều: Thưa cụ, con muốn cụ hạ chiếc mũ xuống ạ. Ông Giáp ngồi bên tủm tỉm cười như hiểu ý tôi. Ông đưa tay lên hạ cái mũ của Cụ Hồ đang đội và nhìn tôi, nói: Này thì bỏ mũ xuống".

Trong bức ảnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi bên có ông Giáp, cả hai gương mặt đều cương nghị, nhưng hiền hòa, có chút khắc khổ vì những lo toan cho vận nước ở giờ phút ngàn cân treo sợi tóc. Hơn nữa, đây là tấm ảnh chụp vào ngày lịch sử muôn đời ghi nhớ của dân tộc ta ngay sau khi Cụ Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập với quốc dân đồng bào của cả nước và thế giới. Những đốm nắng chiều rơi trên khuôn mặt hai nhà cách mạng trở thành những yếu tố thật kỳ diệu như khắc họa một thời gian khó và quyết liệt của cả một dân tộc mà Hồ Chủ tịch và Võ Nguyên Giáp cùng nhiều nhà cách mạng khác là những nhân vật đại diện./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TẤM ẢNH KỶ NIỆM NHỮNG TƯỢNG ĐÀI ĐÃ GHI VÀO LỊCH SỬ!

     Một bức ảnh quý chụp Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và hai chiến sỹ sau chiến dịch Biên Giới, 1950 tại chiến khu Việt Bắc. Ít ai để ý đến chiến sỹ bên trái bị cụt một tay ngồi cạnh Bác Hồ và Tướng Giáp. Đó là Trung đoàn trưởng Nguyễn Thái Dũng (sau này là Thiếu tướng).
Nguyễn Thái Dũng sinh năm 1919 ở Cao Bằng. Tháng 8-1945, ông nhập ngũ. Năm 1948, khi đó là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 147 đánh Pháp, ông bị thương cụt nửa cánh tay phải. Vết thương chưa lành, sợ phải về tuyến sau làm công việc ở cơ quan hoặc đi điều dưỡng, ông vội đến gặp Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đề đạt nguyện vọng tiếp tục về đơn vị chiến đấu. Sau một thoáng nghi ngại, nhưng trước quyết tâm của người tiểu đoàn trưởng trẻ tuổi nổi tiếng gan dạ, đồng chí Hoàng Văn Thái chấp nhận. Ông được trở về trung đoàn cũ, đảm nhiệm chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Lũng Vài danh tiếng.
Trong QĐND Việt Nam, ngoài Thiếu tướng Nguyễn Thái Dũng còn có Trung tướng Lê Hữu Đức cũng là trường hợp đặc biệt. Sinh năm 1924 tại huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Ngày 23-3-1947, khi chỉ huy đơn vị chống quân Pháp ở huyện Đại Lộc, ông có vóc người to cao, lại mặc bộ đồ trắng (do điều kiện thiếu thốn, có gì mặc nấy) nên là mục tiêu của máy bay Pháp, bị bắt nát một tay. Sau này tướng Đức chiến đấu rất gan dạ, còn có biệt danh là "Hổ cụt Tây Nguyên".
Hai ông đều bị mất bàn tay trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp lúc còn rất trẻ với cương vị tiểu đoàn trưởng. Mất tay, chỉ ở cơ quan nghiên cứu một thời gian, hai ông đều xung phong đi chiến đấu ở hai sư đoàn chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam rồi làm công tác tham mưu ở Mặt trận Tây Nguyên. Tuy thời điểm có khác nhau, hai ông từng làm việc ở Cục Tác chiến (Thiếu tướng Nguyễn Thái Dũng là Cục phó, Trung tướng Lê Hữu Đức là Cục trưởng) và phó tư lệnh ở hai quân khu. Cuối đời quân ngũ, cả hai đều là cán bộ của Học viện Quân sự cấp cao...
Yêu nước ST.

DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA: ÔN CŨ ĐỂ BIẾT MỚI "TÂY SƠN NGŨ PHỤNG THƯ - BÙI THỊ XUÂN"!

     Bùi Thị Xuân, một nữ tướng kiệt xuất của triều đại Tây Sơn, là vợ của Thái phó Trần Quang Diệu và cũng là một Đô đốc vĩ đại trong triều đại Tây Sơn.

Với tài năng và lòng can đảm vượt trội, Bùi Thị Xuân trở thành một trong những tướng lĩnh uyên bác và đóng góp nhiều chiến công cho nhà Tây Sơn từ những ngày đầu tiên.

Bà còn sở hữu một tài năng đặc biệt là chỉ huy đội quân tượng binh. Đội quân này đã góp phần lớn trong cuộc đại phá quân Thanh vào đầu xuân Kỷ Dậu (1789) dưới sự chỉ huy của Hoàng đế Quang Trung.

Thế nhưng, khi triều đại Tây Sơn đang từng bước ổn định trong nước, Hoàng đế Quang Trung đột ngột qua đời, làm cho nội bộ rơi vào hỗn loạn...
Ngay lập tức nhận được tin tức này, chúa Nguyễn Phúc Ánh đã tấn công. 
Tuy nhiên, khi đánh vào thành Quảng Nam, quân của chúa Nguyễn đã phải nhận thất bại khi chạm trạn với quân đội của Bùi Thị Xuân.

Không may, trong trận Trấn Ninh đại chiến (1802), mặc dù đã đẩy quân chúa Nguyễn vào thế khó, nhưng cuối cùng, bà không thể tránh khỏi thất bại vì nhà Tây Sơn lúc này chỉ còn là cái bóng tàn của chính mình trong quá khứ.

Sau khi triều đại Tây Sơn bị hoàn toàn đánh bại, Bùi Thị Xuân cùng chồng là Trần Quang Diệu và cô con gái 14 tuổi đã bị Nguyễn Ánh trừ.n.g ph.ạt một cách t.à.n nh.ẫ.n.
Sử sách ghi chép lại:
Nguyễn Ánh đã ra lệnh cho quân lính dùng voi để quật chết bà, nhưng con voi chiến cứ chần chừ và lùi ra xa không tiến lên gần sát nữ tướng. Cuối cùng Nguyễn Ánh đã ra lệnh phương pháp tà.n b.ạ.o hơn là dùng 4 con ngựa buộc tay chân của bà và quất ngựa kéo ra 4 hướng để x.é x.á.c bà.

Tiếp nối truyền thống yêu nước, tiếp tục viết trang sử vẻ vang của Hai Bà Trưng và Bà Triệu, Đô đốc Bùi Thị Xuân đã lan tỏa danh tiếng của người phụ nữ Việt Nam. 
Tên tuổi của bà vẫn luôn tỏa sáng trong tiềm thức của người dân đất Việt.!!!
Yêu nước ST.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Thời cơ và những quyết sách lịch sử

 78 năm qua, kể từ ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, tinh thần bất diệt của những ngày tháng Tám lịch sử vẫn luôn cổ vũ, động viên mỗi người dân đất Việt vững tin vào sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của Nhân dân ta từ khi có Đảng, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Lịch sử đã chứng minh, thành công đó có được là nhờ một đảng tiên phong thật sự cách mạng, tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, được tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng đã nắm vững hoàn cảnh cụ thể của mỗi giai đoạn lịch sử, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn; biết nắm bắt thời cơ, xây dựng và tổ chức lực lượng; phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để dẫn dắt quần chúng đứng lên giành và giữ chính quyền./. 

Cách mạng Tháng Tám, năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại

 Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước đồng loạt đứng lên tham gia, chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn. Thành công của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của 15 năm đấu tranh kiên cường, hy sinh, gian khổ của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, trải qua 3 cuộc tổng diễn tập, đó là cao trào cách mạng 1930-1931; cuộc vận động dân chủ, dân sinh 1936-1939; cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939-1945.

Cách mạng Tháng Tám thành công nhanh chóng và ngoạn mục do nhiều nguyên nhân, trước hết là nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng cộng sản việt Nam, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta. Đặc biệt là Đảng ta đã chớp thời cơ lịch sử để chỉ đạo và tổ chức khởi nghĩa giành thắng lợi trọn vẹn trong cả nước.

Cuộc Tổng khởi nghĩa là thành quả tuyệt vời của tinh thần, ý chí trí tuệ con người Việt Nam  được phát huy và nâng tầm cao mới sau 15 năm đấu tranh quật cường dưới sự lãnh đạo của một Đảng Mác-xít chân chính.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở ra kỷ nguyên mới: Độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Đó là bước ngoặt mang tầm lịch sử lớn lao. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta đã đập tan xiềng xích áp bức của thực dân trong gần một thế kỷ, lật nhào chế độ quân chủ chuyên chế, nhân dân trở thành người chủ của một nước độc lập. Đảng ta từ một Đảng hoạt động bí mật, trở thành một Đảng cầm quyền. Từ đây là tiền đề cho đất nước, xã hội Việt Nam có những biến đổi lớn lao và sâu sắc.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng ta là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại. Đây còn là quá trình phát triển tất yếu của lịch sử dân tộc, là sức mạnh cố kết cộng đồng, tầm cao trí tuệ của dân tộc, hòa quyện với những tư tưởng, xu thế của thời đại vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám khẳng định trong điều kiện trào lưu của cách mạng vô sản, cuộc cách mạng do một Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo không chỉ có thể thành công ở một nước tư bản phát triển, mà còn có thể thành công ở một nước thuộc địa nửa phong kiến lạc hậu và đi lên theo con đường của chủ nghĩa xã hội. Đây là sự phát triển, vận dụng đầy sáng tạo lý luận Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta.

Thành quả to lớn của Cách mạng Tháng Tám góp phần làm sụp đổ một mảng thành trì của chủ nghĩa thực dân cũ, mở ra kỷ nguyên cho dân tộc Việt Nam: Độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.

Ý nghĩa thời đại sâu sắc của Cách mạng Tháng Tám, năm 1945 là lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, cuộc Cách mạng thành công vang dội ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, mở đầu cho công cuộc giải phóng của các dân tộc bị áp bức, bị nô dịch trên toàn thế giới. Việt Nam xứng đáng là đất nước tiên phong của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xóa bỏ thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, đế quốc./. 

Ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám

 Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời  Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến ở Việt Nam; kết thúc hơn hơn 80 năm nhân dân ta dưới ách đô hộ của thực dân, phát xít. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành một Đảng cầm quyền.

Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin được vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam; là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng ta gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; là sự thể nghiệm thành công đầu tiên chủ nghĩa Mác-Lênin tại một nước thuộc địa ở châu Á. Đây còn là quá trình phát triển tất yếu của lịch sử dân tộc trải qua mấy nghìn năm phấn đấu, đỉnh cao của ý chí quật cường, sức mạnh cố kết cộng đồng, tầm cao trí tuệ của dân tộc hòa quyện với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với xu thế của thời đại vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám cổ vũ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước bị chủ nghĩa đế quốc thực dân áp bức, thống trị. Nó khẳng định rằng, trong điều kiện trào lưu của cách mạng vô sản, cuộc cách mạng do một đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo không chỉ có thể thành công ở một nước tư bản kém phát triển, nơi mắt xích yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc mà còn có thể thành công ở ngay một nước thuộc địa nửa phong kiến lạc hậu để đưa cả dân tộc đó đi lên theo con đường của chủ nghĩa xã hội./. 

Nguyên nhân thắng lợi Cách mạng Tháng Tám

 Cách đây 78 năm, từ ngày 14 đến 19/8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Lãnh tụ Hồ Chí Minh, toàn dân tộc Việt Nam nhất tề vùng lên tiến hành tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân. Sau thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám, ngày 2/9/1945, tại Quảng Trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch  Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Từ đây, lịch sử Việt Nam đã sang trang mới, nhân dân ta từ thân phận nô lệ, trở thành người tự do; đất nước và dân tộc bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước đồng loạt đứng lên tham gia, chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công mau lẹ do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng, có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, khéo léo của Đảng; là sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta một cách đúng đắn, độc lập, tự chủ và sáng tạo. Đảng có phương pháp, chiến lược, chiến thuật cách mạng phù hợp, linh hoạt; nhận thức được thời cơ, chủ động đón thời cơ và kiên quyết chớp thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Cách mạng Tháng Tám thành công là do tinh thần yêu nước, đoàn kết, ý chí quật cường của các tầng lớp nhân dân ta, không chịu sống mãi kiếp nô lệ của người dân mất nước; một lòng đi theo Đảng và được Đảng lãnh đạo qua các cuộc tổng diễn tập, đã quyết vùng lên giành độc lập cho dân tộc. Trải qua 15 năm đấu tranh cực kỳ gian khổ và anh dũng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã có biết bao đồng bào, chiến sĩ đã không hề tiếc máu xương, hy sinh oanh liệt vì mục tiêu độc lập dân tộc. Cách mạng Tháng Tám được tiến hành trong bối cảnh quốc tế có những thuận lợi nhất định. Chủ nghĩa phát xít Đức, Ý, Nhật đã bị đánh bại, phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức và của các lực lượng tiến bộ trên thế giới phát triển mạnh./. 

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 – Sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam

 

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Ở trong nước, trải qua các cuộc diễn tập, đến năm 1945, phong trào cách mạng dâng cao. Từ tháng 4-1945 trở đi, cao trào kháng Nhật cứu nước diễn ra mạnh mẽ, phong phú về nội dung và hình thức. Đầu tháng 5-1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước và chuẩn bị Đại hội quốc dân. Ngày 4-6-1945, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập, đặt dưới sự lãnh đạo của Ủy ban chỉ huy lâm thời, trở thành căn cứ địa của cả nước. Tháng 8-1945, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) khẳng định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành độc lập đã tới” và quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và tay sai trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương; đề ra ba nguyên tắc bảo đảm tổng khởi nghĩa thắng lợi, đó là: tập trung, thống nhất, kịp thời. 23 giờ ngày 13-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 hiệu triệu toàn dân tổng khởi nghĩa. Ngày 16-8-1945, Đại hội Quốc dân họp tại Tân trào thông qua “10 chính sách lớn của Việt Minh”; thông qua “Lệnh tổng khởi nghĩa”; quy định quốc kỳ, quốc ca; thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Trung ương, tức Chính phủ Lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi nhân dân cả nước tổng khởi nghĩa, trong đó chỉ rõ: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đồng loạt vùng dậy, tiến hành tổng khởi nghĩa, giành chính quyền. Từ ngày 14 đến ngày 18-8, cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và ở các thị xã: Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An, Quảng Nam... Ngày 19-8, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23-8, khởi nghĩa thắng lợi ở Huế và ở Bắc Cạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Gia Lai, Bạc Liêu... Ngày 25-8, khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn - Gia Định, Kon Tum, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Biên Hòa, Tây Ninh, Bến Tre... Ở Côn Đảo, Đảng bộ nhà tù Côn Đảo đã lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm nổi dậy giành chính quyền. Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8-1945, cuộc tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn, chính quyền trong cả nước về tay nhân dân.

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) lịnh sử, trước cuộc mít tinh của gần một triệu đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Từ đó, ngày 2-9 là Ngày Quốc khánh của nước ta./. 

Ý nghĩa lịch sử ngày 19/8

 Ngày 19/8 đánh dấu sự thành công của cách mạng Việt Nam, đưa đất nước thoát khỏi sự áp bức bóc lột gần 100 năm của thực dân Pháp, xóa bỏ hoàn toàn chế độ phong kiến, thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nói đến lịch sử của ngày 19/8 ta phải kể về năm 1945 với trang sử hào hùng của quân dân Việt Nam ta trong cuộc Cách mạng tháng 8 giành thắng lợi, mở đầu cho Ngày Quốc khánh trọng đại của nước Việt Nam.

Năm 1958, quân Pháp tấn công Đà Nẵng, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, biến nước ta thành nước thuộc địa nửa phong kiến. Thời bấy giờ nhân dân ta khốn cùng, nhiều cuộc đấu tranh, phong trào khởi nghĩa liên tiếp nổ ra để đòi lại nền độc lập dân tộc.

Vào tháng 8 năm 1945, thời cơ của dân tộc ta đến khi cuộc chiến tranh thế giới đi đến hồi kết. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, quân dân ta đồng lòng nghe theo chỉ thị để chờ ngày tiến công. Cụ thể, từ ngày 13/8 - 17/8, các cơ quan đầu não của Đảng liên tiếp họp và phát lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước.

Sáng ngày 19 tháng 8 năm 1945, nhân dân đồng loạt kéo về Nhà hát lớn Hà Nội để thực hiện cuộc mít tinh lớn chưa từng có trong lịch sử với sự bảo vệ của Thanh niên tự vệ. Cuối ngày, quân dân ta đã nhanh chóng làm chủ khu vực này. Thắng lợi ở Hà Nội đã trở thành sức mạnh kéo theo sự bùng nổ và tiếp thêm sức mạnh cho các cuộc giải phóng ở những tỉnh thành khác.

Với vai trò gợi nhớ đến sự thành công của cuộc Cách mạng tháng 8 cùng sự hi sinh của các thế hệ, mỗi năm cứ đến ngày 19/8, mỗi người con Việt Nam, các con cháu thế hệ sau đều đồng lòng và bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với các vị anh hùng đã không tiếc xương máu để mang lại nền độc lập cho nước nhà như hiện nay./.

Việt Nam chính thức dừng bước tại World Cup 2023

 


Một trải nghiệm lịch sử dành cho Bóng đá Việt Nam. Dù không có được bàn thắng tại sân chơi lớn nhất Thế giới nhưng tinh thần chiến đấu và những gì mà các cô gái Việt Nam thể hiện đã để lại nhiều dấu ấn đẹp.

Xin tri ân thầy Mai Đức Chung - vị HLV đáng kính đã theo dõi và hỗ trợ nhiều người trẻ đạt được giấc mơ của mình. Đây có thể là mùa giải cuối cùng mà thầy sát cánh, nhưng sẽ không phải là hồi kết cho bóng đá Việt Nam. Một mai, ta sẽ lại được thấy quốc kỳ và quốc ca ta sánh vai cùng các cường quốc năm châu nhiều lần nữa.

Lần đầu tiên đã kết thúc, nhưng hy vọng nó sẽ mở ra nhiều lần dự World Cup khác nữa. Giờ là lúc trở về Việt Nam thôi 🇻🇳🇻🇳🇻🇳


TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG SẼ ĐƯỢC BỐ TRÍ NHƯ THẾ NÀO SAU SẮP XẾP HUYỆN, XÃ?

         Bộ trưởng Bộ Nội vụ vừa ký ban hành văn bản số 4099/HD-BNV hướng dẫn về sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và việc công nhận vùng an toàn khu, xã an toàn khu, xã đảo, đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2023-2030.

Tạm dừng bổ nhiệm, tuyển dụng
Kể từ ngày UBND cấp tỉnh trình Chính phủ đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của địa phương, tạm dừng việc bầu, bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý và tuyển dụng, tiếp nhận cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan, tổ chức trên địa bàn cho đến khi nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp đối với từng đơn vị hành chính có liên quan có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp khuyết người đứng đầu cơ quan, tổ chức mà không bố trí được người phụ trách theo quy định của pháp luật thì được bầu, bổ nhiệm chức danh đó.

Về giải quyết chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị dôi dư tại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thực hiện sắp xếp, UBND tỉnh theo thẩm quyền chỉ đạo Sở Nội vụ phối hợp với Ban Tổ chức tỉnh ủy, thành ủy hoặc chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc thực hiện việc rà soát, điều chỉnh chỉ tiêu biên chế cán bộ, công chức và chỉ tiêu số lượng người làm việc (biên chế viên chức) đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị tại đơn vị hành chính cấp huyện hình thành sau sắp xếp trong phạm vi chỉ tiêu biên chế được cấp có thẩm quyền giao giai đoạn 2022-2026.

Đồng thời, rà soát biên chế cán bộ, công chức cấp xã và số lượng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã theo quy định tại Nghị định số 33/2023/NĐ-CP quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, bảo đảm phù hợp với lộ trình thực hiện sắp xếp, bố trí số lượng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã sau sắp xếp theo quy định tại Nghị quyết số 35/2023/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và đề án, kế hoạch của địa phương.

Văn bản hướng dẫn nêu rõ, định kỳ tháng 11 hàng năm, UBND cấp tỉnh báo cáo Bộ Nội vụ về việc điều chỉnh số lượng biên chế cán bộ, công chức, viên chức và số lượng cán bộ, công chức cấp xã của địa phương để Bộ Nội vụ tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Các chính sách đối với cán bộ dôi dư
Theo văn bản hướng dẫn, trên cơ sở rà soát, điều chỉnh chỉ tiêu biên chế cán bộ, công chức, viên chức cấp huyện, cán bộ, công chức cấp xã và số lượng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã nêu trên, xác định rõ số cán bộ, công chức, viên chức cấp huyện, cấp xã và số người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố dôi dư (bao gồm cả người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý) để giải quyết chế độ, chính sách theo quy định tại Nghị quyết số 35/2023/UBTVQH15.

Trong đó, việc tuyển dụng, tiếp nhận, điều động, luân chuyển, bố trí, phân công công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố dôi dư do sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã đến làm việc tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác trong hệ thống chính trị thực hiện theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019); Nghị định số 138/2020/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng, quản lý công chức; Nghị định số 115/2020/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức và Nghị định số 33/2023/NĐ-CP.

Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố dôi dư do sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã có nguyện vọng thôi việc, nghỉ hưu, người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý quyết định thực hiện chính sách, chế độ theo hướng nếu thuộc đối tượng tinh giản biên chế, thực hiện theo quy định tại Nghị định số 29/2023/NĐ-CP quy định về tinh giản biên chế.

Nếu không thuộc đối tượng tinh giản biên chế, thực hiện chế độ thôi việc, nghỉ hưu theo quy định tại Nghị định số 26/2015/NĐ-CP quy định chế độ, chính sách đối với cán bộ không đủ điều kiện về tuổi tái cử, tái bổ nhiệm giữ các chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt nam, nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội; Nghị định số 46/2010/NĐ-CP quy định về thôi việc và thủ tục nghỉ hưu đối với công chức; Nghị định số 115/2020/NĐ-CP và Nghị định số 33/2023/NĐ-CP.

Ngoài các chế độ, chính sách theo quy định tại các nghị định nêu trên, trên cơ sở cân đối ngân sách địa phương, UBND cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp ban hành chính sách hỗ trợ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động dôi dư của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở cấp huyện và cán bộ, công chức cấp xã, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố do sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trên địa bàn theo quy định tại Nghị quyết số 35/2023/UBTVQH15.

UBND cấp tỉnh thực hiện việc lập hồ sơ gửi Bộ Nội vụ công nhận đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã hình thành sau sắp xếp là vùng an toàn khu, xã an toàn khu, xã đảo, đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động theo quy định Nghị quyết số 35/2023/UBTVQH15. Trong thời gian chưa được cấp có thẩm quyền công nhận thì thực hiện chế độ, chính sách đặc thù về vùng an toàn khu, xã an toàn khu, xã đảo, đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động theo Nghị quyết số 35/2023/UBTVQH15./.
Yêu nước ST.

HÀI HƯỚC PHILIPPINES “BIỂU TÌNH PHẢN ĐỐI VIỆT NAM QUÂN SỰ HÓA BIỂN ĐÔNG”

     Năm xưa Philippines chẳng sở hữu hòn đảo nào ở Hoàng Sa cũng như Trường Sa. Nhân lúc Đại Việt ta rối ren vì ngoại xâm và nội loạn đã cắn trộm của ta đảo Thị Tứ và Song Tử Đông. Giờ Đại Việt ta gác lại quá khứ không phản đối Philippines thì thôi. Sao các vị lại còn “vừa ăn cướp vừa la làng”.

Trường Sa, Hoàng Sa từ thời Hậu Lê đã thuộc quyền kiểm soát và khai thác của Đàng Trong. Lúc này Philippines đang là mấy bộ tộc, thậm chí còn chẳng có vua, bị Tây Ban Nha chiếm làm thuộc địa dễ như chốn không người. Đến cái tên nước cũng lấy theo tên một vị vua Tây Ban Nha.

Đến thời Tự Đức do triều đình yếu nhược nên nước ta bị Phú Lang Sa đến “bảo hộ” và chia đất nước thành ba kỳ, tức ba nước thuộc liên bang Đông Dương (lưu ý người đầu tiên chia nước ta thành ba “kỳ” là… Minh Mạng, bắt chước “kỳ” của nhà Thanh).

Ngày 14 tháng 3 năm 1933, chính quyền Pháp cho đội tàu gồm Malicieuse, tàu pháo Arlete và hai tàu thủy văn Astrobale và de Lanessan ra quần đảo Trường Sa để tổ chức nghi lễ chiếm hữu các đảo chính. Ngày 26 tháng 7, Bộ Ngoại giao Pháp ra thông báo về hành động trên, đồng thời công khai danh sách các đảo chính thuộc Hoàng Sa, Trường Sa. 

Ngày 21 tháng 12 năm 1933, thống đốc Nam Kỳ J. Krautheimer ký Nghị định số 4702-CP sáp nhập hai quần đảo trên vào địa phận tỉnh Bà Rịa thuộc Liên bang Đông Dương.

Năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tiếp thu quyền kiểm soát hai quần đảo này từ Pháp. 

1. Philippines gặm Thị Tứ
Đầu thập niên 1960, các tàu hải quân của Việt Nam Cộng hòa thường ghé thăm đảo Thị Tứ, cụ thể năm 1961 là tàu HQ-02 Vạn Kiếp và HQ-06 Vân Đồn còn năm 1963 là ba tàu gồm HQ-404 Hương Giang, HQ-01 Chi Lăng và HQ-09 Kì Hòa (dựng bia trên đảo Thị Tứ vào ngày 22 tháng 5)

Vào thời kỳ 1970-1971, Philippines cho quân bí mật chiếm đóng một số đảo thuộc Trường Sa, trong đó có đảo Thị Tứ. VNCH không phản ứng gì.

2. Philippines gặm Song Tử Đông
Năm 1959, chính phủ Việt Nam Cộng hòa sáp nhập hai đảo Song Tử Đông và Song Tử Tây vào tỉnh Phước Tuy. 

Đến năm 1963, thủy thủ trên các tàu Hương Giang, Chi Lăng và Kỳ Hòa đã xây dựng lại bia chủ quyền Việt Nam Cộng hòa một cách có hệ thống tại một số đảo thuộc Trường Sa, trong đó có đảo Song Tử Đông và Song Tử Tây. Tuy nhiên, Việt Nam Cộng hòa không có quân đội đồn trú trên cặp đảo này.

Năm 1970, tổng thống Philippines Ferdinand Marcos ra lệnh cho một nhóm biệt kích bí mật tiến chiếm đảo Song Tử Tây và Song Tử Đông (tiếng Philippines gọi là Pugad và Parola). Đây là một nhiệm vụ bí mật và người chỉ huy chỉ được phép gỡ niêm của lệnh sau một thời điểm thích hợp được quy định trước. 

Cuộc đánh chiếm không gặp phải sự kháng cự nào, theo ghi nhận trên đảo không có người. Tuy nhiên sau đó quân đội Philippines báo cáo về Tổng hành dinh về sự hiện diện của quân đội chính quyền Sài Gòn ở trên đảo Song Tử Tây, Tổng hành dinh đã ra lệnh là mặc kệ họ. Mấy tháng sau khi Philippines chiếm hai đảo, sự kiện này mới được các nước khác biết đến.

Đầu năm 1974, sau khi Hải quân Việt Nam Cộng hòa đánh mất nhóm đảo Lưỡi Liềm của quần đảo Hoàng Sa vào tay Hải quân Trung Quốc trong trận Hải chiến Hoàng Sa, chính quyền Việt Nam Cộng hòa chỉ thị quân đội tiến hành chiến dịch Trần Hưng Đạo 48, đưa địa phương quân đồn trú một số đảo ở Trường Sa.

Ngày 30 tháng 1 năm 1974, đội hai tàu gồm có hộ tống hạm Đống Đa HQ 07 và hải vận hạm Tiền Giang HQ 405 do đại tá Nguyễn Văn May chỉ huy xuất phát từ Vũng Tàu, dự tính đến quần đảo Trường Sa đổ bộ và đồn trú tại 5 đảo: Song Tử Tây, Sơn Ca, Trường Sa, Sinh Tồn và An Bang. Trước đó hải quân Việt Nam cộng hòa đã đồn trú trên đảo Nam Ai (tức đảo Nam Yết) từ tháng 8 năm 1973.

Ngày 1 tháng 2 năm 1974, Hải quân Việt Nam Cộng hòa đã bất ngờ đổ bộ lên đảo Song Tử Tây.

Có nguồn cho rằng quân Philippines đang ở đảo Song Tử Đông dự tiệc mừng viên chỉ huy tại đảo này. Người ta còn cho là một cơn bão nhỏ xảy ra vào ngày hôm đó đã khiến các binh sĩ Philippines tạm thời ở lại đảo Song Tử Đông để trú bão. Khi quay trở lại đảo, lính Philippines đã thấy binh sĩ Việt Nam có vũ trang đang hát quốc ca Việt Nam Cộng hòa trên đảo, nên họ vội quay trở lại Song Tử Đông để báo tin và đề phòng phía Việt Nam Cộng hòa đánh úp nốt đảo này. Phía Philippines đặt binh sĩ đồn trú tại Song Tử Đông và đảo Thị Tứ trong tình trạng báo động đỏ.

Từ tháng 4 đến tháng 12 năm 1974, Hải quân Việt Nam Cộng hòa hoàn tất việc xây dựng hệ thống phòng thủ trên đảo. Chính quyền Philippines giữ im lặng về sự kiện này.

Năm 1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhận lại quyền kiểm soát 06 đảo ở quần đảo Trường Sa từ VNCH. Sau chiến dịch CQ88, CHXHCN Việt Nam đã thu hồi thêm nhiều đảo khác và trở thành nước kiểm soát nhiều đảo nhất ở Trưởng Sa.

Kể từ ngày đó đến nay, đảo Song Tử Tây tiếp tục nằm dưới sự kiểm soát của Việt Nam, còn Song Tử Đông chỉ cách đó 1,5 hải lý (2,8 km) vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Philippines./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHUYỆN LẠ TRONG LỄ CƯỚI CỦA NGƯỜI K’HO SRE!

         Từng tham dự nhiều đám cưới truyền thống của các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên, nhưng đám cưới của đôi trai gái người K'Ho Sre để lại cho chúng tôi ấn tượng đặc biệt nhất. Phong tục cưới hỏi lạ lẫm của tộc người này là một trong những 'thỏi nam châm' thu hút du khách đến với thôn Đam Pao và vùng phụ cận.

Chật vật “đêm thiêng”
Đang say sưa xem các bà, các chị ở thôn Đam Pao (huyện Lâm Hà, Lâm Đồng) bật bông, kéo sợi, dệt thổ cẩm thì tiếng chuông điện thoại réo liên hồi. Một người bạn giục tôi sang buôn lân cận là Bồ Liêng (thị trấn Đinh Văn) để dự lễ ăn hỏi của sơn nữ Ka Phương Lan và chàng trai K’Trung. “Đám hỏi diễn ra vào lúc nhá nhem tối thế này ư?”, tôi thắc mắc. “Đúng rồi, lễ hỏi chính là “đêm thiêng”, thời khắc mà cậu của cô gái và người mai mối mang lễ vật sang ngỏ ý với nhà trai. Họ phải sang nhà của chàng trai vào ban đêm để tránh bị thiên hạ gièm pha nếu chuyện “bắt chồng” không thành”, bạn tôi giải thích.
 
Tại ngôi nhà của K’Trung, ông K’ Bes (cậu của Lan) đặt chiếc vòng cổ, bầu rượu và thuốc lá lên chiếc chiếu trên sàn nhà rồi cất tiếng: “Tôi đi xin cái xà gạc cho cháu gái” (xin bắt chàng trai về ở rể-PV). “Cái xà gạc” làm ra cũng hơn 20 năm rồi nhưng chưa có ý định đem cho người khác”, cha của chàng trai đáp rồi giải thích thêm: “Con tôi còn nhỏ, chưa biết làm ăn, còn đang ăn bám bố mẹ, chưa có kinh nghiệm trong gia đình đâu”.

Không nản lòng, ông cậu nài nỉ: “Đừng chia lìa nồi đất với cơm niêu/Đừng chia lìa nồi đun với cháo”. Bà mối tiếp lời: “Con của anh chị hôm nay còn trẻ, không có kinh nghiệm, ngày mai nó sẽ lớn. Người ta có sức đi làm được mười ngày, con anh chị cũng sẽ làm được bảy, tám ngày đó thôi”. Sau khi nhà gái năm lần bảy lượt kiên nhẫn thuyết phục, nhà trai mới đồng ý cho con về làm rể bên nhà gái.

Ông cậu vội trở về nhà để báo tin mừng, cùng gia đình của cháu gái chuẩn bị những lễ vật mà nhà trai thách cưới. Ông bảo thường thì nhà gái phải dạm ngõ khoảng 3 - 4 lần mới được nhà trai chấp thuận. “Họ từ chối nhiều lần không phải vì không ưng bụng với gia đình nhà gái mà là để giữ giá cho con trai mình”, ông K’Bes nói.

Các sơn nữ vui vẻ kể rằng người K’Ho Sre theo chế độ mẫu hệ, con gái sẽ bắt chồng và lễ cưới được tổ chức ở nhà gái. Nhưng điều thú vị là các chàng trai vẫn là người chủ động tìm người yêu và tỏ tình. Khi trót yêu cô gái, chàng trai thường mang chiếc khèn môi đến nhà nàng vào ban đêm, đứng bên cửa sổ thổi lên những giai điệu nhớ nhung da diết. Việc này thường tiếp diễn nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng cho đến khi cô gái ra mở cửa, trò chuyện cùng chàng trai. Khi cả hai đã thuận tình, chàng trai sẽ trao cho cô gái một vật định tình cùng lời ước hẹn đã thuộc về nhau.

Có những trường hợp nhà gái nhiều lần đến xin “bắt chồng” nhưng nhà trai vẫn một mực khước từ. Lúc đó, nhà gái sẽ trình ra món đồ mà chàng trai đã trao cho cô gái để bắt vạ. Thậm chí, có những vụ nhà gái còn lấy chuyện chàng trai đã “ăn trái cấm” với cô gái để “phạt vạ” thật nặng, buộc nhà trai phải chịu trách nhiệm.

Lễ cưới độc đáo
Vừa đến đầu ngõ nhà bà Ka Phen, chúng tôi đã nghe tiếng ù ù ngân dài. “Đó là tiếng tù và báo hiệu lễ cưới sắp bắt đầu. Nhanh chân lên kẻo trễ các anh chị ơi!”, Ka Loan giục giã. Sơn nữ này đang trên đường đến dự đám cưới của Ka Phương Lan. Lễ cưới diễn ra tại ngôi nhà sàn vốn thuộc sở hữu của một trong những nghệ nhân nổi tiếng ở Tây Nguyên - già làng Duân Jai K’Bat. Sau khi già làng mất, gia đình bà Ka Phen gìn giữ ngôi nhà truyền thống này cùng một số tài sản, vật dụng sinh hoạt của người K’Ho Sre như cồng chiêng, ché rượu, thổ cẩm.... Nhiều hoạt động văn hóa của buôn Bồ Liêng và huyện Lâm Hà được tổ chức tại đây.

Đến gần nhà sàn, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi thấy nhà gái cột một con heo dưới chân cầu thang và treo trên bậu cửa một khúc ruột gà… “Con vật này được gọi là heo đụng bởi khi đoàn nhà trai đến dự lễ cưới, từng người lần lượt đụng chân vào nó với hàm ý hôm nay các Yàng (thần) và chúng tôi đã chứng kiến đám cưới của đôi trai gái”, ông K’Bring, một thành viên của nhà gái nói và cho biết thêm: Con heo này sẽ được làm thịt cúng Yàng và chế biến các món ăn trong đám cưới. Nhà gái còn chuẩn bị một chậu nước sạch để vẩy lên chân từng thành viên nhà trai khi họ lần lượt bước qua cửa để vào nhà.

Tay cầm cái liềm, bà Ka Phen dẫn cô dâu chú rể và người mai mối đi 8 vòng trong nhà. Đến vòng cuối cùng, bà dùng liềm cắt đứt sợi lòng gà được treo phía trên cửa chính. “Việc này như lời khẳng định là K’Trung đã lớn, không còn phụ thuộc vào cha mẹ đẻ. Đây cũng là nghi thức tiễn chàng trai về nhà vợ. Từ nay, chàng rể có trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ vợ và gắn bó trọn đời với Ka Phương Lan”, Ka Loan giải thích.

Sau khi nhà gái trao những lễ vật mà nhà trai đã thách cưới theo thỏa thuận, ông mối cầm con gà lên làm nghi thức cúng và đưa cho mọi người sờ tay vào để báo với thần linh rằng mọi người cùng thống nhất cho cô dâu và chú rể thành đôi. Nhà gái sẽ nhanh chóng làm thịt con gà này, luộc chín, xé phay để bà mối và ông mối đưa cho cô dâu, chú rể ăn cùng với 8 miếng cơm. “Với người K’Ho S’Re, số 8 tượng trưng cho sự may mắn, bình an và bền vững”, ông K’Bring cho hay.

Một chiếc ché cổ được dòng họ mang ra để cô dâu chú rể làm lễ: Cùng đặt tay lên miệng ché cầu mong thần linh chứng giám. Sau đó nhà gái tuyên bố tặng cổ vật này cho đôi trẻ làm của hồi môn. Một ché rượu cần thật lớn được khui để cô dâu, chú rể cùng uống, rồi lần lượt các thành viên của hai họ thưởng thức cho đến khi rượu trong bình nhạt hẳn. Hai họ cùng khách mời ăn tiệc, uống rượu cần, múa hát thâu đêm quanh đống lửa trong tiếng cồng chiêng huyễn hoặc.

Bà Dương Thị Hiền, Phó Phòng Quản lý du lịch (Sở VH-TT&DL Lâm Đồng) nhận định: Cùng với nghề dệt thổ cẩm truyền thống, những phong tục tập quán cưới hỏi độc đáo thế này sẽ giúp mô hình du lịch cộng đồng ở Lâm Hà thêm hấp dẫn, thu hút du khách trong và ngoài nước.

Một nghi thức khiến du khách vô cùng thích thú là việc trùm tấm khăn thổ cẩm lên người cô dâu chú rể và cho họ cụng đầu nhau 8 lần. Người mai mối vừa giúp đôi trẻ thực hiện nghi thức này vừa nhắn nhủ: “Êm ấm và ngủ ngon. Sinh một con, trưởng thành một con, sinh hai con trưởng thành hai con; đừng để hư hỏng. Mát mẻ như nước, đẹp như mặt trời, sống lâu như cây me rừng, Con cháu sum họp, biết ăn nói như cha mẹ, cậu dì”./.


Yêu nước ST.