Thứ Năm, 28 tháng 9, 2023

Kiên trì, kiên quyết thực hiện đường lối đối ngoại tiến bộ, nhân văn

 Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và đường lối đối ngoại Việt Nam “đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống và bản sắc ngoại giao đó càng được bồi đắp, phát huy, tỏa sáng.

Từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện quan điểm, phương châm của đường lối đối ngoại, đó là: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” (Đại hội VII); “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội IX); “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI, Đại hội XII).

Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Những năm qua, trước các diễn biến phức tạp của thời cuộc, quan hệ ngoại giao của Việt Nam đã góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một số nước lớn tuy có lúc trải qua thăng trầm nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp của Việt Nam và luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời quyết tâm, kiên trì, kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều này luôn được cộng đồng quốc tế ủng hộ mạnh mẽ.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng, Nhà nước ta nói chung, trong đó có chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không” nói riêng là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đường lối đó có cơ sở lý luận, khoa học, thực tiễn, cơ sở pháp lý vững chắc, có sự tham khảo ý kiến của các tầng lớp nhân dân một cách dân chủ, công khai.

Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước, đặc biệt là các nước lớn luôn có xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau như: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ... Do đó, những luận điệu cho rằng việc “đi theo”, “liên minh” với nước này để chống nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo không những phản động, sai lầm mà còn thể hiện tư tưởng yếu hèn, trái với phương châm đối ngoại thêm bạn, bớt thù của Đảng ta.

Để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, trước hết cần bảo đảm tuyệt đối vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác ngoại giao. Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội, được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện đại hội của Đảng thời kỳ đổi mới. Thực tiễn đã minh chứng, đường lối, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tạo dựng một mạng lưới quan hệ rộng khắp, tranh thủ được nhiều yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. 

Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, cần tăng cường hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia đối ngoại trong nghiên cứu, tham mưu, đóng góp vào việc xây dựng chính sách và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Tích cực đổi mới nội dung, phương thức thông tin đối ngoại, ứng dụng hiệu quả thành tựu công nghệ thông tin, truyền thông để tăng cường thông tin, quảng bá về đất nước, con người, thành tựu của Việt Nam và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta.

Cùng với những giải pháp căn cơ trên, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, cần chủ động phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá đường lối đối ngoại của Đảng. Kiên quyết không để các thế lực thù địch, cơ hội tập hợp lực lượng, gây rối chính trị, làm mất an ninh trật tự, gây rối loạn lòng dân, ảnh hưởng tới lợi ích đất nước.

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, internet, mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter, Telegram...), các cuộc hội thảo, hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội về những vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền, đối ngoại...

Tuyệt đối không để xảy ra sơ hở khiến kẻ thù có thể lợi dụng xâm nhập, thu thập bí mật, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch, kích động, xuyên tạc phá hoại đường lối đối ngoại đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta.

TRUYỀN THÔNG LÁI DƯ LUẬN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Thời kỳ cách mạng khoa học 4.0, mạng xã hội phát triển khiến việc tiếp cận thông tin được nhanh chóng, đa chiều. Tuy nhiên, mặt trái của internet, mạng xã hội cũng nhiều vô kể trong đó phải kể đến việc bị “nhiễm độc” thông tin từ hoạt động truyền thông của các thế lực thù địch nhắm đến các chính sách của Đảng, nhà nước, hoạt động của lực lượng Công an nhân dân….

Mục đích mà các thế lực thù địch nhắm đến là phản đối, chống lại những chủ trương, chính sách pháp luật mới ra đời. Phương thức, thủ đoạn của các thế lực thù địch rất đa dạng theo kiểu “vạch lá tìm sâu”, “chuyện bé xé ra to”, lôi kéo nhân dân chỉ trích, chê bai lực lượng thi hành nhiệm vụ, lấy cái sai của một cá nhân để bôi nhọ cả một bộ máy chính quyền, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước.

Xoay quanh các vấn đề về chính sách chuyển đổi hơn 600ha rừng tại Bình Thuận làm hồ thuỷ lợi Ka Pét, Bí thư tỉnh ủy Bình Thuận đã có bài phỏng vấn trả lời các báo đài và được thông tin rộng rãi đến người dân về mục đích của việc chuyển đổi đất rừng, đồng thời cũng đã có phương án trồng rừng thay thế. Bên cạnh đó, nhà báo Nguyễn Phạm Thu Uyên đã chia sẻ trên trang Facebook cá nhân rất chân thực về thực trạng của khu vực đất rừng nơi đây.

Tuy nhiên các đối tượng thù địch lại đăng tải các bài viết dùng luận điệu vô căn cứ, “cào phím”, chúng không nhìn vào thực tế cuộc sống của người dân khu vực vùng hạn Bình Thuận và 2 xã Hàm Cần, Mỹ Thạnh cũng như thực trạng của đất rừng khu vực quy hoạch mà lợi dụng chủ trương bảo vệ rừng để quay ra kêu gào cứu rừng, cứu dân, đồng thời đăng tải loạt bài viết nhằm truyền thông xấu về bộ máy chính quyền nơi đây, làm cho người đọc thấy bất mãn, tư duy sai về chính sách của Đảng, Nhà nước.

Hay chính sách mới về quản lý biển số theo định danh cá nhân mang lại nhiều lợi ích trong công tác quản lý phương tiện, góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu chuyển đổi số quốc gia, giúp người dân không phải mang nhiều giấy tờ khi tham gia giao thông, giảm chi phí thời gian, đi lại mà vẫn bảo đảm thông tin chính xác khi thực hiện các thủ tục hành chính. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phần tử xấu lại kích động với luận điệu xuyên tạc, cho rằng nhà nước đặt ra nhiều thủ tục, gây mất thời gian đi lại cho dân. Các đối tượng lợi dụng tâm lý chia sẻ, phát tán, bình luận luận điệu, chia sẻ bài viết thông qua mạng xã hội facebook, zalo, youtube… lôi kéo những phần tử xấu cùng tham gia, hướng dư luận theo ý kiến trái chiều, làm mất uy tín và phủ nhận thành quả của Nhà nước. Luận điệu xuyên tạc thông qua nền tảng mạng xã hội dễ phát tán, lây lan, ảnh hưởng đến tâm lý tiêu cực trong một bộ phận nhân dân, dễ nảy sinh tâm lý tiêu cực, “a dua”, để điều hướng dư luận nhằm thực hiện các hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của một số đối tượng.

Đã có nhiều bài học đắt giá về việc phát tán, chia sẻ những thông tin chưa được kiểm chứng. Bởi vậy, khi tiếp cận thông tin cần phải tính táo, có sự chắt lọc và nên bắt đầu từ các trang tin chính thống. Thiết nghĩ nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ mà thông qua Luật dẫn độ thì chắc một số thành phần không còn ngồi đó mà lên mạng “khóc thuê” được nhỉ!./.

KHÔNG TÔN GIÁO, TÍN ĐỒ TÔN GIÁO NÀO ĐƯỢC ĐỨNG NGOÀI PHÁP LUẬT

 

Đã từ lâu, trong thực hiện “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch, phản động thường xuyên lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Việt Nam. Họ thường căn cứ vào việc chính quyền, cơ quan chức năng của Việt Nam xử lý các cá nhân, tổ chức tôn giáo vi phạm hành chính trên các lĩnh vực như đất đai, xây dựng, môi trường hay vi phạm trong các hoạt động tôn giáo để thông qua một vài trang mạng thiếu thiện chí ở hải ngoại lu loa tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo rằng ở Việt Nam không có tự do tôn giáo, chính quyền Việt Nam hạn chế, thậm chí đàn áp tôn giáo. Ví dụ như, mới đây, trang “Bàn Tròn Đa Tôn Giáo Việt Nam” phát video trực tiếp với nội dung xuyên tạc, nói xấu, vu cáo chính quyền Việt Nam đàn áp các tổ chức tôn giáo của người dân tộc thiểu số; ngăn cấm quyền tự do tôn giáo của người dân, bắt giữ trái pháp luật các nhà hoạt động chính trị...


Chúng ta chẳng lạ gì cái “điệp khúc” đã cũ mèm này. Dù bằng luận điệu, chiêu thức gì, tinh vi, biến ảo đến đâu đi chăng nữa các thế lực thù địch, phản động cũng không thể phủ nhận được sự thật, không thể đánh lừa được dư luận.

 

Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của người dân là quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định bảo đảm tự do tôn giáo và công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt. Thực hiện tốt chính sách tôn giáo, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc…”. Tại Khoản 1, Ðiều 24, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”. Để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp và thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ đổi mới, đáp ứng đầy đủ hơn nguyện vọng và nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Chính phủ Việt Nam cũng ban hành các Nghị định và nhiều văn bản luật nhằm tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ngày càng tốt hơn.


Cùng với hoàn thiện hệ thống pháp luật, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của người dân nói chung và của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói riêng luôn được Nhà nước tôn trọng, bảo đảm trên thực tế. Đến năm 2021, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân, với khoảng 27 triệu tín đồ thuộc các tôn giáo khác nhau. Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách nhằm bảo đảm hoạt động bình thường về tín ngưỡng, tôn giáo của người dân nói chung và của đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng.


Dù có đức tin, hệ thống giáo lý và giáo luật khác nhau, nhưng các tôn giáo ở Việt Nam có chung điểm tương đồng đó là luôn gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, theo phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”. Đồng bào các tôn giáo luôn là một bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đó là điều đã được thực tiễn khẳng định. Đồng bào các tôn giáo nói chung và cộng đồng tôn giáo của người dân tộc thiểu số nói riêng đã có những đóng góp tích cực vào việc thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, huy động nguồn lực quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc ngày nay.


Các “tổ chức tôn giáo...”, “nhà hoạt động chính trị”... mà trang “Bàn Tròn Đa Tôn Giáo Việt Nam” đề cập đến trong video nói trên thực chất đó là những cá nhân, tổ chức, hội, nhóm tôn giáo trá hình, hoạt động trái pháp luật, lợi dụng tôn giáo để gây rối an ninh trật tự, chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. 


Thời gian qua, ở Việt Nam xuất hiện tình trạng một số tổ chức, hội, nhóm tôn giáo trá hình, hoạt động trái pháp luật núp bóng tôn giáo để trục lợi. Mục đích chính của các tổ chức, hội, nhóm này không phải vì tự do tôn giáo đúng nghĩa mà là nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam; chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Các tổ chức, hội, nhóm này thường xuyên kích động tư tưởng ly khai, chia rẽ nội bộ các tôn giáo, phá hoại sự ổn định, khối đại đoàn kết dân tộc; kích động các hoạt động gây phức tạp về an ninh, trật tự; móc nối với các tổ chức phản động bên ngoài nhằm mục đích chính trị. Mang danh nghĩa tôn giáo, các tổ chức, hội, nhóm trái pháp luật luôn tận dụng mọi cơ hội có thể để quốc tế hóa, chính trị hoá những vấn đề trong nước nhằm thu hút sự quan tâm của dư luận quốc tế từ đó gây sức ép với chính quyền. Chưa dừng ở đó, các cá nhân, tổ chức, hội, nhóm này còn mưu toan tập hợp lực lượng, quy tụ những phần tử cực đoan trong các tôn giáo, xây dựng tổ chức, hình thành các cơ sở, mạng lưới để khi cần là có ngay lực lượng... Như vậy, có thể thấy mục đích của các cá nhân, tổ chức, hội, nhóm này không gì khác là thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá Việt Nam.

Việc các cơ quan của chính quyền tiến hành các biện pháp đấu tranh ngăn chặn, xử lý đối với những hành vi vi phạm của các cá nhân, tổ chức, hội, nhóm nói trên là việc làm bình thường. Hoàn toàn không có chuyện Việt Nam “ngăn cấm quyền tự do tôn giáo” của người dân, không bắt giữ các “nhà hoạt động chính trị” trái pháp luật. Những trường hợp mà trang “Bàn Tròn Đa Tôn Giáo Việt Nam” đề cập đến thực chất đó là các hội, nhóm, điểm sinh hoạt tôn giáo trái pháp luật; là những công dân đã lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật. Để giữ nghiêm kỷ cương, phép nước, các cơ quan chức năng của Việt Nam buộc phải áp dụng các biện pháp quản lý theo đúng thẩm quyền. Việc bắt giữ, xử lý đối với các đối tượng được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự và xét xử đúng người, đúng tội, thể hiện tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật. Ở Việt Nam mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Tất cả những ai không xuất phát từ lý do tôn giáo, không vì mục đích tự do tôn giáo đúng nghĩa, mà lợi dụng tôn giáo để gây mất ổn định xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước là vi phạm pháp luật Việt Nam và họ sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hành vi của mình trước pháp luật.


Cũng như các quyền tự do khác của công dân, việc thực hiện quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam đều phải trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Tôn trọng và bảo đảm tự do tôn giáo nhưng pháp luật Việt Nam cũng nghiêm cấm các hoạt động lợi dụng tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống phá, xâm phạm quyền, lợi ích của Đảng, Nhà nước và các tổ chức, cá nhân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, chia rẽ các tôn giáo. Bên cạnh việc thực hiện các quyền tự do, trong đó có tự do tín ngưỡng, tôn giáo mỗi tổ chức, tín đồ tôn giáo còn phải thực hiện tốt nghĩa vụ công dân. Không tôn giáo, tín đồ tôn giáo nào được phép đứng ngoài hoặc đứng trên pháp luật và lợi ích quốc gia, dân tộc. Cũng như các quốc gia trên thế giới, mọi hoạt động tôn giáo ở Việt Nam đều cần phải có sự quản lý của chính quyền. Mục đích của việc làm này là nhằm tôn trọng và bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của người dân. Ở Việt Nam không có chỗ cho những hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật.

                                                                      

QUỐC AN #St. Trường Tồn 

Những ý kiến xuyên tạc lạc lõng

 Những năm gần đây, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, diễn biến phức tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn; chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Đại dịch Covid-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết quốc gia hơn hai năm qua.

Sự kiện Nga thực hiện chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine cũng tác động nhiều mặt đến đời sống chính trị và an ninh quốc tế. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông của một số quốc gia Đông Nam Á tiếp tục diễn biến phức tạp.

Lợi dụng bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, đường lối đối ngoại là một mặt trận mà họ quyết liệt chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành ngoại giao Việt Nam.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, nổi cộm như: “Chân trời mới media”, “Hội anh em dân chủ”... đã xuất hiện những quan điểm, ý kiến của cái gọi là “luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”, “người Việt yêu nước”... dưới các hình thức “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn cho Nhà nước Việt Nam”, “phản biện”, “kiến nghị”... nhằm phê phán, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt như: RFA, VOA, RFI, BBC... còn bịa đặt rằng “đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. Rồi họ đưa ra "lời khuyên" Việt Nam nên bỏ chính sách quốc phòng “4 không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”...

Sự nguy hại của những luận điệu phản động nêu trên dễ gây ra sự hoang mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.

LÀM TỪ THIỆN - PHẢI BÁO CÁO CỘNG ĐỒNG MẠNG?

 

Không biết từ bao giờ, cán bộ, quan chức làm từ thiện, ủng hộ phải có trách nhiệm báo cáo cho cả cộng đồng mạng biết vậy hả anh “nhà báo” Hoàng Nguyên Vũ?

Anh không thấy, anh không biết, không có nghĩa là người ta không ủng hộ hay chia sẻ gì. Thế nhưng anh lại lấy điều đó để quy chụp rồi dẫn dắt, đ.ả kích anh em cán bộ chỉ biết làm màu bằng những hành động như tưới cây, cắt băng khánh thành,…

Không lẽ anh đã là nhà báo mà anh không biết ở các cơ quan, ban ngành năm nào cũng có đóng góp ít nhiều để ủng hộ. Nào là quỹ Vì người nghèo, quỹ Đền ơn đáp nghĩa, quỹ Nạn nhân ch.ất đ.ộc da cam, quỹ Phòng chống thiên tai,…

Nhưng thử hỏi, nếu một quan chức nào đó họ ủng hộ, làm từ thiện rồi đưa thông tin lên mạng khoe thì khi đó tôi dám chắc rằng anh lại bảo: “Ông này chỉ giỏi làm màu, lấy lòng dân, đánh bóng tên tuổi”,… cho mà xem

Những người có Tâm thì họ chẳng cần phải khoe, cũng chẳng cần ai biết, chẳng cần ai khen, họ ủng hộ bằng tất cả tình thương con người. Giúp người có nhiều cách anh “nhà báo” ạ!./.

“CON BUÔN CHÍNH TRỊ” – NGUYỄN VĂN ĐÀI

 

Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Joe Biden có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 10-11/9 theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Mặc dù phái đoàn Hoa Kỳ đã trở về nước vui vẻ, an toàn, Tổng thống Joe Biden cũng đã bày tỏ trạng thái cá nhân trên mạng xã hội bày tỏ sự cảm kích, hapy trong chuyến công du Việt Nam lần này.

Và kết quả nổi bật nhất của chuyến thăm chính là việc hai nước chính thức nâng cấp lên Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện, mở ra một giai đoạn lịch sử mới của tình hữu nghị và hợp tác song phương.

Kết quả này đã làm nức lòng người dân hai nước và bạn bè quốc tế. Thế nhưng dư âm của chuyến thăm lại khiến cho đám kền kền “việt tân” và đám rận chủ ở hải ngoại mất ăn mất ngủ. Trái ngược lại với niềm vui từ thành quả được nâng tầm trong mối quan hệ giao bang giữa hai nước, các đối tượng tỏ ra hậm hữ, ghanh ghét, không ngừng soi mói, “bới lông tìm vết” để tìm ra những lỗi nhỏ nhất hòng phá hoại chuyến thăm của ngài Tổng thống Hoa Kỳ.

Trong số đó, phải kể tới “con buôn chính trị” Nguyễn Văn Đài. Những ngày qua, y như “ăn phải bả dại” điên cuồng chống phá mối quan hệ Việt – Mỹ và bôi nhọ, hạ uy tín Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Y đã biến trang facebook của mình thành nơi để thóa mạ, xúc phạm đến Tổng trọng - một người lãnh đạo thiên tài, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đây chính là bản chất của những kẻ quay lưng chống lại dân tộc, đất nước. Khi toàn Đảng, toàn Dân, toàn quân và cả những Kiều bào ở nước ngoài hân hoan, đón mừng những tín hiệu vui về quan hệ ngoại giao của Việt Nam với bạn bè quốc tế, trong đó có các nước lớn như Mỹ, thì những kẻ như Nguyễn Văn Đài tự thu mình vào một góc tối, ngồi ngắm nhìn thành quả đó với lăng kính của kẻ cực đoan, phản bội đất nước và cho ra lò những sản phẩm cho thấy rõ bản mặt của những kẻ lưu vong, ăn bám ngoại bang, được dung dưỡng để chống phá nước nhà.

Thật hay cho câu “chó cứ sủa và đoàn người cứ đi” để dành cho những kẻ thất phu, thảo khấu chuyên la ó, chửi rủa, sử dụng chiêu trò đen tối để phá hoại, phủ nhận những thành quả phát triển của đất nước./.

Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp

  Đấu tranh, phản bác các luận điệu suy diễn, xuyên tạc công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam phải được tiến hành thường xuyên, liên tục với hệ thống các giải pháp đồng bộ, hiệu quả, thiết thực. Trong đó, tập trung vào một số giải pháp là: Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về quan điểm, chủ trương của Đảng trong PCTN, tiêu cực và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật về PCTN, tiêu cực và tổ chức triển khai có hiệu quả trên thực tế, không tạo khoảng trống để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các lực lượng và toàn thể nhân dân trong PCTN, tiêu cực và đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động hiện nay. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, tiêu cực và đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Thực hiện đa dạng, linh hoạt về nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh PCTN, tiêu cực và phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

XIN ĐỪNG NGHĨ HỌ LÀM VÌ ĐÃ ĐƯỢC TRẢ LƯƠNG

 

Không biết từ bao giờ, chúng ta đã tự ngầm hiểu với nhau là cảnh sát PCCC&CNCH là một nghề, mà đã là nghề thì phải làm nghề thôi, họ cứu nạn cứu hộ vì được trả lương, nên chẳng ai để ý gì đến những chàng trai lấm lem nằm thở đứt hơi mỗi khi thoát ra khỏi tòa nhà đầy lửa khói. Họ lao đến hiện trường nhanh như tia chớp và họ rời đi trong lặng thầm, quần áo cháy đen, chân tay bỏng rát, chân khập khễnh. Chắc không ai thống kê họ đã cứu được bao nhiêu người và trên người có bao nhiêu vết sẹo của những lần xả thân vì cộng đồng.

Họ là những chiến sĩ Công an, họ được đào tạo để cứu nạn, cứu hộ. Họ được rèn bản lĩnh kiên cường, bất chấp hiểm nguy để hoàn thành nhiệm vụ. Họ được rèn ý chí không bao giờ khuất phục trước khó khăn, luôn lao lên phía trước, bám sát hiện trường để cứu người, cứu của đến cùng. Họ làm không phải để được tung hô, nêu gương hay đánh bóng tên tuổi. Họ làm vì trách nhiệm, vì tình người, vì chính dòng máu của Công an đang chảy trong huyết quản.

Chúng ta, những người đang ngồi máy lạnh, lướt fb sẽ không cảm nhận được cái nóng giữa hiện trường, nhưng chúng ta cảm nhận được tinh thần, trách nhiệm của những chiến sĩ PCCC&CNCH. Họ không nổi lên như hình ảnh anh shiper quả cảm Nguyễn Đăng Văn, nhưng họ thật sự là những người hùng trên mặt trận chống giặc lửa, công sức, hình ảnh của họ sẽ luôn được lưu giữ trong lòng dân và câu chuyện về họ sẽ còn được kể mãi về sau./.

Sự chống phá ngày càng tinh vi, phức tạp

 Bất chấp những thành tựu đạt được trong công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam thời gian qua được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận, với dã tâm thâm độc, nham hiểu, âm mưu chống phá đến cùng, thái độ hằn học mà các thế lực thù địch, phản động không từ bỏ thủ đoạn nào để xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ, bóp méo sự thật về công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam. Chúng đã nhắm mắt làm ngơ trước những điều tốt đẹp mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta đạt được. Với luận điệu trơ tráo, lố bịch, các thế lực thù địch cố tình dùng mọi thủ đoạn để thực hiện mưu đồ xấu xa; xuyên tạc về công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam. Lợi dụng công nghệ truyền thông, mạng xã hội và sự thiếu thông tin, hiểu biết của một bộ phận người dân để lập các trang web, đăng tải tin, video clip với nội dung xuyên tạc, bôi đen, gán ghép, dựng chuyện và cho rằng tham nhũng ở Việt Nam đang xảy ra ở khắp mọi nơi, ngõ ngách. Với những nhận định và kết luận vô căn cứ mang tính xuyên tạc, kích động, gây tâm lý bất ổn trong nhân dân; sự hoài nghi về các chủ trương, quyết sách của Đảng về PCTN, tiêu cực nhằm làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chúng dẫn dắt dư luận, gây tâm lý hoài nghi, dao động, tạo cớ, kích động và tạo sự đối lập, bất ổn từ bên trong và xa hơn là phá hoại, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội (XHCN) ở Việt Nam.

Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch tung ra luận điệu, tham nhũng là bản chất của chế độ XHCN, là căn bệnh nan y của “chế độ độc đảng cầm quyền”; một đảng không thể chống được tham nhũng; do đảng cầm quyền độc đoán cai trị nên tình trạng tham nhũng tất yếu xảy ra, rồi đi đến quy chụp tham nhũng là “do chế độ độc đảng cầm quyền”. Chúng suy diễn rằng, còn Đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo thì còn tham nhũng và ngày càng táo tợn, trầm trọng hơn. Rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng vì Đảng cũng suy thoái; là sự phân chia quyền lực, là các trận đấu giữa băng này với nhóm kia trong hệ thống chính trị, trong hệ thống công quyền...

Chúng còn lớn tiếng hô hào, “chỉ tự do chính trị mới giúp Việt Nam chống được tham nhũng” và công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam chỉ là mị dân; càng chống tham nhũng thì tham nhũng càng gia tăng vì không có dân chủ; căn nguyên của tham nhũng là do Đảng đứng trên pháp luật... Từ đó, chúng kêu gọi muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi chế độ, phải đa nguyên, đa đảng, phải thực hiện “xã hội dân sự”.

Với âm mưu cực kỳ tinh vi, xảo quyệt hòng thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng việc xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên vi phạm, gây hậu quả nghiêm trọng, nhất là sau các vụ việc ở Bộ tư lệnh Cảnh sát biển và Học viện Quân y, các phần tử xấu đã thổi phồng, vơ đũa cả nắm với luận điệu cho rằng, tham nhũng xảy ra ở toàn quân.

Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) đã thảo luận Đề án thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực. Đã có nhiều cuộc hội thảo được tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia, cán bộ có kinh nghiệm thực tiễn về PCTN, tiêu cực. Đề án cũng được triển khai lấy ý kiến các ban, bộ, ngành, địa phương và các thành viên Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, tiêu cực. “Đề án đã trình bày đầy đủ, đúng đắn, có cơ sở lý luận và thực tiễn về sự cần thiết, căn cứ và nguyên tắc thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh”(1). Sau một năm đi vào hoạt động đã khẳng định chủ trương đúng và tầm nhìn chiến lược của Ðảng trong lãnh đạo công tác PCTN, tiêu cực. Vậy mà, các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc chủ trương thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực là giả tạo và không cần thiết, chỉ tốn tiền của dân. Rằng, thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực cho thấy sự kém hiệu quả của công tác chống tham nhũng. Những luận điệu xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ, sự bịa đặt thiển cận và gán ghép, quy chụp trên nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và thành quả cách mạng của nhân dân ta; phủ định sạch trơn những thành tựu to lớn của đất nước; hạ thấp vai trò lãnh đạo và quyết tâm PCTN, tiêu cực của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Nguyễn Đỗ Tùng Dương là ai?

 

        Cách đây hơn 1 năm mình đã có lần viết về Nguyễn Đỗ Tùng Dương và đã từng gặp “diễn viên” này ở ngoài đời thực nhưng nói thật cả trên màn hình phim ảnh lẫn ở ngoài mình không ưa một chút nào, từ bề ngoài cho đến nhân cách của y. Và việc dư luận, cộng đồng mạng đang lên án, phẫn nộ với Nguyễn Đỗ Tùng Dương khi y đã lợi dụng vụ cháy đáng tiếc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng xảy ra tại chung cư mini Khương Hạ, Thanh Xuân, Hà Nội để xuyên tạc, chống phá chính quyền.

Diễn viên này đã cho rằng “Xây cho lắm cổng chào vời tượng đài hoành tráng để làm cái mả mẹ gì khi mà chung cư cháy không có nổi chiếc trực thăng cứu hộ”? Từng câu chữ của diễn viên này không khác gì giọng điệu của số báo đài phản động, chống phá như”Việt tân”, RFA, VOA… Nguyễn Đỗ Tùng Dương đã làm được gì cho đất nước, làm được gì khi xảy ra vụ cháy mà dám hỗn l.áo xuyên tạc nhằm vào chính quyền không chỉ lần này mà rất nhiều lần khác như vậy?

Nguyễn Đỗ Tùng Dương, bút danh là Tùng Dương Cola, sinh năm 1969, được biết đến là một diễn viên, đạo diễn, nhà biên kịch. Cách đây hơn 1 năm, diễn viên Tùng Dương đã lợi dụng vụ việc đáng tiếc xảy ra đối với nam sinh lớp 10 tại Hà Đông, Hà Nội để từ đó đăng tải nội dung bài viết trên facebook cá nhân để xúc phạm đến lãnh tụ Lê Nin, xuyên tạc, đổ lỗi cho ngành giáo dục ở Việt Nam. Tùng Dương Cola đã cho rằng: "Đã đến lúc ngành Dục nên loại bỏ câu: "Học học nữa, học mãi" của lão Nin hói ra khỏi SGK học đường được rồi đấy đau lòng".

Sau khi đăng tải và bị dư luận lên án bình luận ngay trên trang facebook, Nguyễn Đỗ Tùng Dương đã chỉnh sửa nhiều lần về nội dung bài viết và đồng thời ngay lập tức giới hạn những người có thể bình luận được bài viết. Qua những nội dung với những ngôn từ mà Nguyễn Đỗ Tùng Dương chia sẻ đang cho thấy bộ mặt thật của y là kẻ một là ấu trĩ về chính trị, của một kẻ “trở cờ” khi đi xúc phạm lãnh tụ Lê nin, xuyên tạc, đổ lỗi cho ngành giáo dục ở Việt Nam.

Là diễn viên, đạo diễn, nhà biên kịch sinh năm 1969, Nguyễn Đỗ Tùng Dương được khán giả biết đến chủ yếu thông qua các vai diễn phản diện được đánh giá là xuất sắc như vai Lân trong Chuyện phố phường, vai Ban trong Lãnh địa đen (loạt phim Cảnh sát hình sự), vai Lưu trong Hành trình bí ẩn (loạt phim Cảnh sát hình sự), vai quân sư Thép trong Đầm lầy bạc (loạt phim Cảnh sát hình sự), vai Lương Nhân trong Đàn trời, vai tướng ngụy Trần Long trong Dòng sông phẳng lặng…

Vậy nhưng những cái “TÀI” đó không thể che lấp bởi cái “TẬT” của Nguyễn Đỗ Tùng Dương qua việc đăng tải những nội dung để bêu rếu về ngành giáo dục Việt Nam, bôi lem hình ảnh của Lê Nin với những từ ngữ phản cảm. Là diễn viên, đạo diễn, nhà biên kịch nhưng dường như Nguyễn Đỗ Tùng Dương đang trên đà muốn hoạt động theo nghề “dân chủ” để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, chống phá Nhà nước. Nên chăng cần có biện pháp xử lý nghiêm minh với những kẻ núp bóng diễn viên, nghệ sĩ để hành nghề “dân chủ” như Nguyễn Đỗ Tùng Dương!./.

Một quyết tâm chính trị không thể phủ nhận, xuyên tạc

Công tác đấu tranh PCTN, tiêu cực là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Đảng ta lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, chặt chẽ, thường xuyên, liên tục và quyết liệt, không ngừng, không nghỉ, bài bản, đi vào chiều sâu với quan điểm không có vùng cấm, sai phạm đến đâu thì xử lý đến đó, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào và được tiến hành sâu rộng từ Trung ương đến cơ sở. Phương châm PCTN, tiêu cực mà Đảng ta đề ra là: Phòng ngừa là chính, cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là quan trọng, cấp bách.

Quyết tâm đấu tranh PCTN, tiêu cực được thể hiện rất rõ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”. Muốn vậy cần “triển khai đồng bộ, có hiệu quả quy định của pháp luật về PCTN... Khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe để kiểm soát tham nhũng”. Và yêu cầu phải “nâng cao vai trò, phát huy tính tích cực, chủ động và phối hợp của Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị-xã hội, nhân dân, doanh nghiệp, báo chí trong phát hiện, đấu tranh PCTN... Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng, lãng phí”. Trong 10 năm qua, Việt Nam đã có hơn 250 văn bản về xây dựng Đảng, 300 bộ luật và hơn 2.000 văn bản từ Chính phủ đề cập tới chống tham nhũng.


Ngày 30-6-2022, tại Hà Nội, trong bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về đấu tranh PCTN, tiêu cực: Nhìn lại 10 năm qua; định ra phương hướng, nhiệm vụ cho thời gian tới đã chỉ rõ: Trong giai đoạn 2012-2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; đã kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 29 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương... Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay đã thi hành kỷ luật 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (cao hơn gấp 4 lần so với nhiệm kỳ khóa XI và bằng gần một nửa số cán bộ cấp cao bị xử lý của nhiệm kỳ khóa XII)... Đây là bước đột phá trong công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng. Riêng Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, tiêu cực đã đưa vào diện theo dõi, chỉ đạo gần 1.000 vụ án, vụ việc ở 3 cấp độ; trong đó trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 313 vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm... Ngày 19-6-2023, tại Hội nghị sơ kết một năm hoạt động của ban chỉ đạo PCTN, tiêu cực cấp tỉnh, đồng chí Tổng Bí thư tiếp tục chỉ rõ: Đây là một hội nghị lớn, có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện sự đoàn kết, nhất trí và quyết tâm cao của chúng ta trong công tác đấu tranh PCTN, tiêu cực từ Trung ương đến địa phương. Những kết quả bước đầu sau một năm hoạt động của ban chỉ đạo PCTN, tiêu cực cấp tỉnh cho thấy quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong đấu tranh PCTN, tiêu cực không phải như lời lẽ suy diễn, đầy hằn học, mưu toan chống phá của các thế lực thù địch.

Không thể phủ nhận giá trị to lớn, cao đẹp của thơ cách mạng

 Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã cuốn hút đông đảo nhà thơ giàu năng lực sáng tác và đầy tâm huyết tham gia sứ mệnh giải phóng dân tộc. Thế hệ nhà thơ từ trước cách mạng như Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh, Lưu Trọng Lư, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Anh Thơ... đã được ánh sáng của Đảng “thay đổi đời tôi, thay đổi thơ tôi” để sáng tác các tác phẩm thơ phục vụ cách mạng. Thế hệ nhà thơ nối tiếp là Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng, Hoàng Trung Thông, Chính Hữu, Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn... rồi đến Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Thanh Hải, Thu Bồn, Lê Anh Xuân, Anh Ngọc, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Vương Trọng, Hoàng Nhuận Cầm, Giang Nam, Lâm Thị Mỹ Dạ... Còn có nhiều nhà thơ đã anh dũng hy sinh quên mình vì nghĩa lớn và tác phẩm của họ đã trở thành bất tử trong dòng chảy thơ ca cách mạng của dân tộc.

Từ thực tế chiến trường khốc liệt, những câu chuyện cao đẹp, giàu tính nhân văn, những tấm gương chiến đấu hy sinh anh dũng đã tác động mạnh đến những tâm lý, tình cảm của mỗi tác giả để họ sáng tạo nên những bài thơ có giá trị sâu sắc. Sứ mệnh thiêng liêng cao cả của nhà thơ đã hòa vào dòng người “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Khao khát của nhà thơ là được đến với “biển lớn cuộc đời”. Không có sự hy sinh nào lớn lao, cao cả hơn sự hy sinh cho đất nước mình, dân tộc mình: “Ôi! Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt/ Như mẹ cha ta, như vợ như chồng/ Ôi, Tổ quốc! Nếu cần, ta chết/ Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông” (Chế Lan Viên)...

Nghệ thuật của thơ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã phát triển mạnh mẽ, đóng góp nhiều thành tựu xuất sắc trong nền văn học Việt Nam. Ngôn từ của thơ thời kỳ này đã góp phần tạo cho thơ Việt Nam một tâm thế mới, sức thuyết phục, truyền cảm hứng mạnh mẽ đối với công chúng để thể hiện tầm vóc cao đẹp của dân tộc và con người Việt Nam. Nhiều nhà thơ đã sử dụng bút pháp tinh tế: “Em là ai? Cô gái hay nàng tiên?” (Tố Hữu); “Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây?” (Chế Lan Viên). Nhiều nhà thơ đã thổ lộ tình yêu đôi lứa luôn gắn liền với tình yêu quê hương, đất nước: “Anh yêu em như yêu đất nước”, “Em đứng bên đường như quê hương/ Vai áo bạc quàng súng trường” (Nguyễn Đình Thi); “Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình/ Phải biết gắn bó và san sẻ/ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở/ Làm nên Đất Nước muôn đời...” (Nguyễn Khoa Điềm);  “Em chính là quê hương ta đó” (Lê Anh Xuân)...

Có thể khẳng định rằng, thơ cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ mang đậm chất sử thi, trữ tình, phản ánh sâu sắc cuộc sống lao động, chiến đấu hào hùng của quân dân ta. Những cách tân nghệ thuật được thể hiện trên nhiều bình diện: Từ việc mở rộng hình thức câu thơ đến sự vận dụng ngôn ngữ thơ một cách linh hoạt, từ những đổi mới phong phú trong giọng điệu thơ đến việc tìm tòi những kiểu kết cấu mới cho thơ. Nó vừa kết hợp hài hòa giữa lý tưởng và hiện thực, giữa chất anh hùng ca và tính trữ tình, giữa truyền thống và tìm tòi sáng tạo của các nhà thơ cách mạng.

Vậy thì sao vẫn có người xuyên tạc “đổi trắng thay đen” để cho rằng thơ thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là thơ “minh họa chính trị” được!

Những kẻ xuyên tạc, chống phá đã cố tình lờ đi hay không hiểu rằng, thời kỳ này, văn học nghệ thuật nói chung, thơ nói riêng đã vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước. Nhà thơ đồng thời là một chiến sĩ, tác phẩm của họ trở thành vũ khí đắc lực góp phần cổ vũ cuộc chiến đấu gian khổ, hào hùng của quân dân cả nước. Các tác giả đã gắn bó với cuộc kháng chiến, được tôi luyện trong lửa đạn và nếm trải những gian lao, thử thách nơi trận mạc, cho nên, trong giai đoạn này, “chất thép” và “chất thơ” đã hòa quyện nhuần nhuyễn. Thơ cách mạng đã tới được những khái quát sâu sắc về đất nước, con người, về hiện tại và tương lai, về dân tộc và thời đại, về lương tâm, trách nhiệm và lẽ sống.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, trong 30 năm, thơ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ đã phát triển cả về chất lượng và số lượng, trên cơ sở sự thống nhất hài hòa giữa nội dung và hình thức, giữa truyền thống và hiện đại. Nhất quán trong một quan niệm nghệ thuật tích cực, phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng, các nhà thơ không ngừng tìm tòi, sáng tạo, nhằm tạo dựng một nền thơ xứng đáng với tầm vóc của dân tộc, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Những đóng góp lớn lao của các nhà thơ chân chính và những giá trị nhân văn cao cả của thơ cách mạng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc là căn cứ thực tiễn và minh chứng sinh động để chúng ta phê phán, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận dòng thơ này.

CHỦ QUYỀN TỔ QUỐC LÀ TỐI THƯỢNG!

 

Trong trận đấu giữa cơ thủ Trần Quyết Chiến và Dick Jaspers trong giải giao hữu thành lập Liên Đoàn Billiards Carom Trung Quốc, nhà đài Thượng Hải đã cố tình lồng ghép hình ảnh đường lưỡi bò phi pháp vào sóng trực tiếp một cách vô cùng bất ngờ và không thông báo trước. Ngay khi nhận ra điều này, HLV Lê Việt Hòa yêu cầu Trần Quyết Chiến phải lập tức bỏ giải để quay về Việt Nam để phản đối động thái vô lý, xuyên tạc chủ quyền Việt Nam cũng như không đúng với tinh thần thể thao. 


Trần Quyết Chiến đã hỏi có cần phải giải thích gì với ban tổ chức không? HLV dứt khoát “không cần!”. Và thế là anh rời khỏi giải và hiện đã có mặt ở Việt Nam. 


Chủ tịch Liên đoàn Billiards & Snookers Thế giới Farouk Barki có gửi thư mong muốn phía Việt Nam đưa ra một lý do “tế nhị” để giải thích với công chúng. Tuy nhiên, Trần Quyết Chiến đã trả lời rằng: “Đấy là sự xuyên tạc đến chủ quyền Việt Nam và không thể dùng lý do gì khác”!


Rất cám ơn và trân quý hành động của Trần Quyết Chiến!

;*St# Trường Tồn 

Thơ cách mạng “vị nhân sinh”, vì sứ mệnh cao cả là giải phóng dân tộc

Thơ là sự thổ lộ tình cảm sâu sắc được thăng hoa, lắng đọng qua cảm xúc thẩm mỹ, làm lay động và mang lại cảm xúc cho người đọc. Với chức năng “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí”, thơ chân chính luôn hướng tới cái đẹp để ca ngợi, nuôi dưỡng, bồi đắp những giá trị chân-thiện-mỹ cho con người. Theo nhà phê bình văn học Nga V.Belinsky (1811-1848): “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật. Phục vụ cuộc sống, phục vụ con ng­ười là mục đích lớn nhất của thơ chân chính”. Lãnh tụ V.I.Lenin cũng cho rằng: “Nghệ thuật thuộc về nhân dân. Nghệ thuật phải bắt rễ sâu xa trong lòng đông đảo quần chúng lao động. Nó phải được quần chúng đó hiểu và yêu thích. Nó phải tập hợp được tình cảm, tư tưởng, ý chí của quần chúng đó, nâng họ lên. Nó phải thức tỉnh những nghệ sĩ trong quần chúng và phát triển các nghệ sĩ đó”.

Trong lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, mỗi khi đất nước có giặc ngoại xâm thì cuộc sống, số phận mỗi người dân tất yếu phải gắn chặt với vận mệnh của đất nước. Trong hoàn cảnh đó, lương tâm và trách nhiệm đặt ra tiếng nói của mỗi thi sĩ phải hòa chung với tiếng nói chung của dân tộc, thể hiện tình cảm của quảng đại quần chúng nhân dân lao động, biết đau chung cùng nỗi đau của người dân nô lệ, biết yêu thương, cảm mến và tôn vinh với những con người đã xả thân vì nghĩa lớn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Rõ ràng là dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng”. Vì vậy, dù có những đặc trưng, đặc thù thế nào đi chăng nữa thì từ sự nhận thức, phản ánh của mình, nhà thơ vẫn phải nhằm mục đích góp phần vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, giải quyết những mâu thuẫn, những yêu cầu đặt ra của thời đại. Do đó, trong thời kỳ thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược nước ta, trước cảnh mất nước lầm than, nhân dân ta “một cổ hai tròng”, đây là “lửa thử vàng” để xem dòng thơ nào, tác giả nào thực sự “vị nhân sinh”, gắn bó với vận mệnh dân tộc, đất nước.

Trong những thời khắc trọng đại, yêu cầu nghệ thuật của thơ được tự giác kết hợp với yêu cầu chính trị, với nhiệm vụ lịch sử của đất nước. Thử hỏi thời kỳ đó, những tiếng thở dài “Không rên xiết là thơ vô ý nghĩa” hay “Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ/ Một đôi người u uất nỗi chơi vơi” liệu có đại diện cho tiếng nói cả dân tộc không? Chắc chắn là không!

Hiển nhiên rằng, thơ không còn con đường nào khác ngoài con đường “bay theo đường dân tộc đang bay” và nhà thơ tự nguyện: “Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi/ Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu/ Tôi sống với cuộc đời chiến đấu/ Của triệu người yêu dấu gian lao” (Xuân Diệu). Lịch sử thời kỳ ấy đặt ra cho mỗi nhà thơ, mỗi bài thơ đều thể hiện ý thức trách nhiệm với nhân dân, chủ động dùng thơ như một vũ khí tinh thần trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Nhà thơ trước hết phải là một công dân, đồng thời cũng là một chiến sĩ để những tác phẩm của mình phục vụ tốt nhất cho mục tiêu đấu tranh giành độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Thơ cách mạng kháng chiến của chúng ta đã làm tròn sứ mệnh vẻ vang đó. Thế nên, ai đó cho rằng, thơ thời kỳ này không có giá trị là một nhận định hàm hồ, thiếu nhân văn, xuyên tạc, nếu không muốn nói là thái độ vô ơn bạc nghĩa, có dụng ý xấu.

Sự phi lý của những luận điệu xuyên tạc thơ thời kháng chiến

Thời gian qua, trên nhiều trang mạng, diễn đàn, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và một số “nhà nghiên cứu” đã có nhiều ý kiến xuyên tạc, phủ nhận giá trị thơ cách mạng Việt Nam trong thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, làm tổn thương cả một thế hệ nhà thơ đã đóng góp tâm huyết, tài năng cho sự phát triển của nền văn học nước nhà, nhất là xúc phạm đến những nhà văn, nhà thơ đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Theo họ, dòng thơ này ra đời “theo sự chỉ đạo, đặt hàng của Đảng mà không phải viết do cảm xúc, do tình người của nhà văn”; “là thứ thơ cổ động, không có giá trị gì về nghệ thuật”. Lại có kẻ cho rằng, thơ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là “quê mùa”, “tỉnh lẻ”, tác phẩm vì thế “không thể vươn tới cõi thẳm sâu trong thế giới tinh thần mà hầu hết là tả thực, vội vã, sống sượng, nên ít có tính tư tưởng, sức sống của tác phẩm như thế cũng èo uột và ngắn ngủi” (!?).

Những ý kiến, lập luận nêu trên vừa không dựa trên thực tiễn đời sống chiến đấu của quân dân ta trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, vừa là cái nhìn phiến diện, lệch lạc, hàm chứa mưu đồ xấu xa là phủ nhận những giá trị của thơ cách mạng kháng chiến thế kỷ 20, sâu xa hơn là phủ nhận toàn bộ giá trị nền văn học nghệ thuật cách mạng nước nhà.  

NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ DỰ ÁN LUẬT CĂN CƯỚC CÔNG DÂN SỬA ĐỔI ĐỂ ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI

 

Việc xây dựng dự án Luật Căn cước là cần thiết để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thi hành Luật Căn cước công dân năm 2014 và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra hiện nay, tạo cơ sở pháp lý triển khai thực hiện, tạo bước đột phá về chuyển đổi số ở nước ta. Tuy nhiên các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng việc này để tăng cường các hoạt động chống phá, xuyên tạc vấn đề.


Theo đó, các thế lực thù địch cho rằng Việt Nam đang quay lại thời làm căn cước như chính quyền Việt Nam Cộng hòa (trước ngày 30/4/1975); rằng “Sử dụng thẻ cước công dân gắn chíp là vi phạm đời tư cá nhân”, “Gắn chip thẻ căn cước công dân chỉ có một vài quốc gia “kém dân chủ” mới sử dụng”; “Cài số lùi”… Cùng với đó, các thế lực thù địch, phản động đánh vào tâm lý ngại thay đổi của người dân với luận điệu “Luật Căn cước mới có hiệu lực thì người dân phải làm lại căn cước”; “thẻ CCCD bị gắn chip theo dõi”… nhằm tạo ra sự bức xúc, bất mãn, chống đối việc triển khai thực hiện chiến dịch cấp thẻ căn cước của cơ quan chức năng…Đây là những luận điệu sai trái cần phải được phòng ngừa bởi lẽ việc xây dựng dự án Luật Căn cước nhằm mục đích: phục vụ giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công trực tuyến; phát triển kinh tế, xã hội; xây dựng công dân số; hoàn thiện hệ sinh thái phục vụ kết nối, khai thác, bổ sung làm giàu dữ liệu dân cư; phục vụ chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các cấp. Đối với những thẻ căn cước công dân đã cấp thì vẫn còn nguyên giá trị sử dụng, không bị tác động bởi quy định này.


Sự cần thiết xây dựng Luật Căn cước nhằm thể chế hóa quan điểm của Đảng về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Đồng thời, đơn giản hóa thủ tục hành chính và giấy tờ công dân, tạo thuận lợi trong việc thực hiện các thủ tục hành chính, giao dịch dân sự của công dân; khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật hiện hành, tạo cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện. Do đó, nhân dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, phòng ngừa với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, đồng thời tích cực, nỗ lực phối hợp, giúp đỡ cơ quan chức năng hoàn thành việc cấp căn cước gắn chip điện tử, đóng góp ý kiến xây dựng luật căn cước để góp phần tạo bước đột phá quan trọng trong quá trình chuyển đổi số ở nước ta.

#ST# Trường Tồn 

Lợi dụng văn học, nghệ thuật để xuyên tạc, chống phá đất nước

 

Văn học, nghệ thuật là một trong những nguồn lực to lớn, trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Nhận thấy sức mạnh to lớn đó, thời gian qua, các thế lực thù địch không ngừng dùng mọi thủ đoạn để lợi dụng, biến văn học, nghệ thuật thành công cụ đắc lực nhằm chống phá Đảng, Nhà nước. Thực trạng này đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên cảnh giác, tỉnh táo nhận diện để có biện pháp ngăn chặn kịp thời.

Những sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật đã góp phần bồi đắp tư tưởng, tình cảm, đạo đức, nhân cách, lối sống tốt đẹp cho con người, tạo nền tảng tinh thần, động lực và sức mạnh nội sinh, góp phần vào quá trình phát triển bền vững đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì văn học, nghệ thuật cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, nhất là sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động trong chiến lược “diễn biến hòa bình”. Chúng xác định đây là một trong những mục đích quan trọng nhằm làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra khoảng trống để thực hiện tham vọng. Một số âm mưu, thủ đoạn và chiêu bài, cách thức mà thế lực thù địch thường lợi dụng, núp bóng dưới những tác phẩm văn học, nghệ thuật để đả kích, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ nổi lên thời gian qua là việc phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Để thực hiện mục tiêu này, các thế lực không ngừng tuyên truyền, dụ dỗ một số văn nghệ sĩ thiếu bản lĩnh chính trị, nhẹ dạ cả tin, tư tưởng dao động, vốn sống và kinh nghiệm viết chưa nhiều viết lên những tác phẩm kém chất lượng với cái nhìn phiến diện, méo mó, hoài nghi về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Nhà nước, nhân dân đã lựa chọn. Tư tưởng bi quan, hoài nghi, dao động về chủ nghĩa Mác, về chủ nghĩa xã hội được một số tác giả cài cắm tinh vi thông qua những chi tiết, hình ảnh, lời nói của nhân vật trong truyện, ảnh hưởng và chi phối không nhỏ đến nhận thức cũng như tâm tư, tình cảm của công chúng, bạn đọc. Từ chỗ bất đồng quan điểm, tiếp nhận dễ dãi các trào lưu, khuynh hướng văn nghệ tiêu cực, thậm chí suy đồi, một số cây bút tiến hành thử nghiệm, đổi mới cách viết và phong cách sáng tác bằng cách đi ngược lại tôn chỉ, mục đích, chức năng cao quý của nghệ thuật và sứ mệnh, thiên chức của nhà văn. Họ hướng ngòi bút vào việc xét lại lịch sử, giải thiêng và tầm thường hóa hình tượng các nhân vật lịch sử, các vị anh hùng dân tộc với lý do là bù khuyết những khoảng trống mà lịch sử còn bỏ ngỏ.

Vì chạy theo thị hiếu tầm thường, chiều theo tâm lý nhất thời một bộ phận công chúng, sức ép của cơ chế thị trường, sự chi phối của đồng tiền và danh vọng, một số nghệ sĩ thiếu bản lĩnh, không làm chủ được bút lực, sẵn sàng viết lên những tác phẩm theo yêu cầu dễ dãi của công chúng, hướng ngòi bút vào những đề tài nhạy cảm về chính trị; khoét sâu vào những mặt tiêu cực, đen tối như tệ nạn xã hội, cờ bạc, ma túy, mại dâm; tham nhũng, chạy chức chạy quyền; những câu chuyện nội bộ liên quan đến đời tư của các đồng chí giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước...

Để thực hiện thành công âm mưu “diễn biến hòa bình” trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, các đối tượng chống phá, phản động đã sử dụng nhiều chiêu thức, biện pháp đa dạng, như: tài trợ về tài chính, sáng lập các quỹ hỗ trợ về sáng tạo; trao các giải thưởng thường niên về văn học, nghệ thuật, tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng, học tập kinh nghiệm sáng tác ở nước ngoài; tổ chức các diễn đàn, hội thảo để qua đó dễ dàng thâm nhập vào đời sống văn học, nghệ thuật. Các đối tượng tìm mọi cách móc nối với một số nghệ sĩ bất đồng quan điểm chính kiến với chính quyền, dụ dỗ, kêu gọi các nghệ sĩ “cùng chí hướng” thành lập các hội, nhóm, tổ chức với tên gọi “văn đoàn độc lập”, “ly khai” và không chịu bất cứ sự ràng buộc trách nhiệm nào với các tổ chức Đảng, Nhà nước và tổ chức hội nghề nghiệp; đòi tách văn học, nghệ thuật ra khỏi đời sống chính trị, đòi trả sự lãnh đạo văn nghệ cho chính văn nghệ sĩ. Từ thực tế trên cho thấy công tác phòng chống các luận điệu xuyên tạc, núp bóng văn học, nghệ thuật để truyền bá cái xấu, cái ác, cái phản giá trị, phản nhân văn, cần thực thi đồng bộ, kiên trì, lâu dài nhiều giải pháp với sự tham gia của nhiều ban, ngành chức năng, hội nghề nghiệp, trách nhiệm của người nghệ sĩ, và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. 

Để bảo vệ những tác phẩm chân chính, có giá trị, cũng như lên án, tẩy chay những tác phẩm có nội dung xấu độc, công chúng cần biết lựa chọn những tác phẩm hữu ích, có giá trị nhân văn; tỉnh táo, kịp thời nhận diện, phân biệt được những tác phẩm có nội dung xấu độc để có biện pháp phòng chống. Gia tăng sức đề kháng văn hóa bằng cách trang bị những tri thức, kỹ năng cần thiết khi tương tác, lựa chọn thông tin trên mạng xã hội, internet. Bảo vệ cái đúng, cái đẹp, cái thiện, tạo môi trường văn hóa lành mạnh để những giá trị nhân văn của nghệ thuật được lan tỏa./.