Thứ Năm, 28 tháng 9, 2023

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG ÂM MƯU “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA HIỆN NAY

 

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự phát triển của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hay những yếu tố bất ngờ như dịch bệnh COVID-19 vừa qua, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng các hoạt động thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn, nhất là hoạt động tuyên truyền phá hoại trên không gian mạng. Trước tình hình đó, việc thấm nhuần quan điểm của Đảng về chống “diễn biến hòa bình”, nhất là trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật”, kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách làm vũ khí lý luận sắc bén, góp phần làm thất bại âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ, chống phá thành quả cách mạng, là trách nhiệm hàng đầu của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam hiện nay. Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác, bám sát định hướng chỉ đạo, hướng dẫn trong các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, để xây dựng các chương trình, kế hoạch, giải pháp công tác cụ thể; đưa công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đi vào nền nếp và đạt hiệu quả cao.

Hai là, công tác tuyên truyền về đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa cần được thực hiện với chất lượng, hiệu quả tốt hơn. Tăng cường các chương trình, bài viết giàu sức thuyết phục, tính chiến đấu cao trên các phương tiện thông tin và truyền thông về chủ đề này. Bên cạnh đó, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin và tăng cường đối thoại với nhân dân; chủ động, linh hoạt giải quyết các vấn đề nóng, đang đặt ra của xã hội. Thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng, các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ tác động đến nhận thức để thay đổi hành vi của công chúng trong những vấn đề liên quan đến văn hóa.

Ba là, tăng cường vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp. Đây là giải pháp quan trọng bởi thực tiễn cho thấy thông qua những tấm gương người tốt, việc tốt, các mô hình, điển hình tiên tiến, công tác tuyên truyền mới thực sự có hiệu quả.

Bốn là, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các bộ, ngành và tổ chức đoàn thể, đi đầu là sự phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tạo ra sức mạnh tổng hợp trong phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa. Xây dựng môi trường lành mạnh để phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước./.

ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG ÂM MƯU “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA HIỆN NAY

  “Diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được Đảng ta xác định là một nguy cơ của cách mạng Việt Nam. Do vậy, đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là công cuộc “giữ nước” trong thời bình của cả hệ thống chính trị và toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là một nhiệm vụ cấp bách, diễn ra quyết liệt trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn hóa.

Tác động của “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa

“Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa là sự chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị không phù hợp, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực, làm tha hóa con người, dẫn tới biến chất xã hội.

Thời gian qua, nhiều biểu hiện của “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” xuất hiện trong đời sống, ở các tầng lớp xã hội. Đó là hiện tượng suy đồi đạo đức, gia tăng lối sống vị kỷ, sự vô cảm, tâm lý cũng như hành động sùng ngoại... Đặc biệt, với sự phổ biến của các phương tiện truyền thông mới, trên mạng xã hội, một bộ phận giới trẻ đã có nhiều lời nói, hành động, thái độ cổ xúy cho những biểu hiện lệch lạc trong lối sống. Tệ nạn mê tín dị đoan, việc lợi dụng tín ngưỡng, tâm linh, ngoại cảm để trục lợi, các hủ tục, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội… có chiều hướng gia tăng. Trong sáng tác, biểu diễn, phổ biến các tác phẩm văn học, nghệ thuật có không ít tác phẩm và hoạt động chưa thể hiện được tính tiên tiến và bản sắc dân tộc. Dù số lượng tác phẩm văn học, nghệ thuật xuất hiện ngày một nhiều, song còn ít tác phẩm đạt đỉnh cao, tương xứng với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc và thành tựu của công cuộc đổi mới. Trong một số tác phẩm, lý tưởng xã hội, thẩm mỹ chưa rõ nét. Một số tác phẩm có nội dung tư tưởng lệch lạc, thiên về khai thác những mặt tiêu cực, thậm chí phủ nhận quá khứ hào hùng của dân tộc cũng như xuyên tạc sự thật lịch sử. Không ít tác phẩm còn thể hiện sự dễ dãi, chiều theo thị hiếu tầm thường của một bộ phận công chúng. Một bộ phận văn nghệ sĩ tỏ ra lúng túng trong tiếp cận, nhận thức về những biến đổi và những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống hiện đại, có biểu hiện lệch lạc trong khuynh hướng sáng tác và biểu diễn. Một số tác phẩm và sản phẩm có biểu hiện bắt chước, mô phỏng, chạy theo hình thức và các thủ pháp mới, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc. Tính giáo dục, định hướng thẩm mỹ cho giới trẻ chưa được quan tâm đúng mức và chưa thực sự có hiệu quả. Trước tình hình này, văn hóa được Đảng và Nhà nước xác định là lĩnh vực quan trọng trong công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam là một trong những nội dung thiết yếu.

Đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa hiện nay

Xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam là một trong những nội dung quan trọng nhằm phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”. Trong những năm qua, đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác xây dựng đạo đức, lối sống được ban hành và triển khai thực hiện, như Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16-7-1998, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Chỉ thị số 27-CT/TW, ngày 12-1-1998, của Bộ Chính trị khóa VIII về “Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội”; Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 27-7-2010, của Ban Bí thư về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại, gây hủy hoại đạo đức xã hội”; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Trong đó, đặc biệt, Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, xác định sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là bước chuyển trực tiếp đến “diễn biến hòa bình”, làm “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng. Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta nhấn mạnh, cần chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân tự soi, tự sửa và giám sát người khác; qua đó góp phần đấu tranh phòng, chống đúng đối tượng, có trọng tâm, trọng điểm, tránh chung chung. Thực trạng “vi phạm của một bộ phận cán bộ, đảng viên” chưa được ngăn chặn, đẩy lùi kịp thời đã ảnh hưởng đến lòng tin của người dân vào đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây cũng là điểm cơ bản mà các thế lực thù địch lợi dụng để bôi nhọ, nói xấu chế độ ta. 

Để đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, trên cơ sở các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ động tham mưu và ban hành, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, như tham mưu trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg, ngày 29-3-2017, về “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình”; Chỉ thị số 05/CT-TTg, ngày 9-2-2018, của Thủ tướng Chính phủ về “Đẩy mạnh việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang”; Nghị định số 110/2018/NĐ-CP, ngày 29-9-2018, “Quy định về quản lý và tổ chức lễ hội”; Nghị định số 122/2018/NĐ-CP, ngày 17-9-2018, “Quy định về xét tặng danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa””

Cùng với việc ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng triển khai xây dựng các đề án, đề tài, hội thảo khoa học để nghiên cứu những giá trị văn hóa tốt đẹp cần phát huy và những hủ tục, những biểu hiện văn hóa lai căng, không phù hợp cần được loại bỏ nhằm hướng tới xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam, như các đề án, đề tài về tuyên truyền giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình Việt Nam; vai trò của hương ước, quy ước đối với xây dựng đạo đức lối sống hiện nay; bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình; xây dựng mô hình cưới văn minh tiết kiệm, phù hợp với phong tục, tập quán; văn hóa ứng xử trong lễ hội…

Bên cạnh đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các bộ, ngành, các tổ chức đoàn thể triển khai nhiều hoạt động thực tiễn; phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức các đợt phát động sáng tác tranh cổ động, tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị được giao; tổ chức thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo tăng cường xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học nhằm tạo chuyển biến căn bản về ứng xử văn hóa của cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên, học sinh, sinh viên để phát triển năng lực, hoàn thiện nhân cách, lối sống văn hóa; xây dựng văn hóa trường học lành mạnh, thân thiện, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, góp phần xây dựng con người Việt Nam yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo; phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam xây dựng đời sống văn hóa trong công nhân, viên chức, lao động... Phối hợp với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng chương trình đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nam, nữ thanh niên về trách nhiệm xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, nhằm góp phần nâng cao hiểu biết, ý thức trách nhiệm cho thanh, thiếu niên về giáo dục, đạo đức, lối sống trong gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; xây dựng gia đình no ấm; xây dựng con người tiến bộ, hạnh phúc, có lòng yêu nước, có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam... triển khai các chương trình phối hợp trong xây dựng đạo đức, lối sống trong các lĩnh vực, địa bàn công tác có liên quan; phát huy hiệu quả phối hợp giáo dục của 3 môi trường “gia đình - nhà trường - xã hội”; nâng cao hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” cũng như hiệu quả công tác quản lý và tổ chức lễ hội…

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng lồng ghép, triển khai các nội dung tuyên truyền thực hiện nếp sống văn minh trong việc việc cưới, việc tang và lễ hội với các phong trào khác, như phong trào xây dựng gia đình hạnh phúc, xây dựng gia đình nông dân sản xuất giỏi, xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa; đồng thời tổ chức thực hiện Chương trình khoa học và công nghệ cấp bộ “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trước tác động của phương tiện truyền thông mới” gồm 8 đề tài; thực hiện đề tài khoa học cấp quốc gia “Hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị con người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”; thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học “Phát huy vai trò của hương ước, quy ước trong xây dựng đạo đức, lối sống trong giai đoạn hiện nay”; triển khai thực hiện Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 - 2030 gắn với cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình gắn với chủ đề “Xây dựng nhân cách người Việt Nam từ giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình”.

Nhìn chung, các văn bản, chỉ thị về văn hóa được ban hành kịp thời, phát huy được những hiệu quả, hiệu lực quản lý nhất định, góp phần đề cao vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội. Nhiều giá trị, chuẩn mực văn hóa đã trở thành hiện thực trong đời sống, trở thành nền nếp, tạo ra những giá trị mới phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, đồng thời, góp phần thúc đẩy, vận động quần chúng nhân dân nâng cao ý thức trách nhiệm, phát huy tinh thần xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam trong tình hình mới, đẩy lùi âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam bằng “hệ giá trị văn hóa tư sản”. Nền văn hóa truyền thống, cách mạng giữ gìn được bản sắc dân tộc, phát huy được giá trị tinh hoa trong quá trình đổi mới và hội nhập. Với các chủ trương, đường lối kịp thời của Đảng và Chính phủ, đời sống mọi mặt của đất nước ổn định, phát triển bền vững, mối đoàn kết toàn dân tộc được giữ vững.

Tuy nhiên, phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, trên lĩnh vực văn hóa. công tác xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam còn có hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Đặc biệt, trong bối cảnh mới, những tác động của cơ chế thị trường đã làm thay đổi các giá trị xã hội, định hướng chuẩn mực đạo đức trong mỗi con người. Nhiều giá trị truyền thống, đạo đức nghề nghiệp, lối sống tốt đẹp của dân tộc bị biến đổi, mai một, thậm chí bị lấn át bởi quan hệ kinh tế, lợi nhuận. Hệ giá trị mới với các chuẩn mực cụ thể về đạo đức, lối sống chưa được tập trung xây dựng; những giá trị mới hình thành chưa bền vững nên chưa có tác động tích cực đối với định hướng giá trị nhân cách con người. Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục đạo đức, lối sống chưa đồng bộ; sự kết hợp giữa giáo dục đạo đức và pháp luật chưa tốt; sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong việc tham gia xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam chưa được phát huy. Tình trạng lai căng sùng ngoại, coi thường giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, các tệ nạn xã hội và sự xâm nhập các sản phẩm, dịch vụ độc hại, chủ nghĩa cá nhân vị kỉ, đang làm ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhất là giới trẻ hiện nay. Hoạt động đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch trong hoạt động báo chí, truyền thông, xuất bản, văn hóa, nghệ thuật có lúc còn thiếu sắc bén, thiếu tính thuyết phục và tính chiến đấu. Việc ngăn chặn sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn chưa thực sự hiệu quả, kịp thời.

Vì thế, để bảo vệ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng, việc tăng cường đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là đòi hỏi khách quan, là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, đồng thời cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

 

Để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch triệt để sử dụng những thủ đoạn tinh vi, thâm độc nhằm mưu toan xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, làm tan rã niềm tin, gây hoang mang về lý luận, tư tưởng, tạo ra những khoảng trống để đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên trong quân đội, tiến tới chuyển hóa, xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch để có phương sách đấu tranh phù hợp, hiệu quả là rất cần thiết.

Đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng nói chung và trong quân đội nói riêng, là cuộc đấu tranh cam go, phức tạp, quyết liệt và lâu dài. Đây là hoạt động có mục đích, có tổ chức chặt chẽ trong việc sử dụng các hình thức, biện pháp công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác chính sách kết hợp với các biện pháp khác dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự chỉ đạo, hướng dẫn của tổ chức chỉ huy, cơ quan chính trị và cán bộ chính trị, sự tham gia của các tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân và mọi cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng để chủ động đấu tranh chống lại các thủ đoạn, hoạt động phá hoại quân đội ta về chính trị tư tưởng của các thế lực thù địch. Để góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị tư tưởng trong quân đội hiện nay cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức trách nhiệm, ý thức cảnh giác trong chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị tư tưởng đối với quân đội ta.

Nội dung giáo dục chính trị tư tưởng trong quân đội cần tập trung giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ quân đội, giáo dục xây dựng tinh thần làm chủ, ý thức kỷ luật, tự giác nghiêm minh của “Bộ đội Cụ Hồ”, giáo dục nâng cao tinh thần, thái độ văn hóa, khoa học kỹ thuật quân sự, nghiệp vụ chăm lo đời sống văn hóa tinh thần cho bộ đội, tẩy trừ văn hóa xấu độc, phản động, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, xây dựng ý chí chiến đấu, quyết tâm làm thất bại mọi âm mưu chống phá quân đội ta trên lĩnh vực chính trị tư tưởng.

Hai là, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh gắn với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, bảo đảm thật sự là pháo đài vững chắc chống sự xâm nhập phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị tư tưởng trong quân đội.

Thường xuyên quan tâm chăm lo xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao trình độ, kiến thức, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ đảng viên. Nâng cao khả năng quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương để đề ra nghị quyết lãnh đạo sát đúng. Phát hiện và giải quyết kịp thời, có hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết, bảo đảm sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa nghị quyết và việc thực hiện.

Tập trung xây dựng cấp ủy, chi bộ, đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh toàn diện; trong đó, đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần thường xuyên nghiên cứu nắm chắc Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đại hội Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương về công tác xây dựng Đảng và tình hình mọi mặt của Đảng bộ, chi bộ để xác định nhiệm vụ, nội dung lãnh đạo sát đúng nhằm lãnh đạo đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Đồng thời, đánh giá đúng tình hình số lượng, chất lượng cấp ủy, chi bộ và đội ngũ cán bộ, đảng viên; tình hình chấp hành đường lối, quan điểm của Đảng; quy chế, quy định thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị; mối quan hệ giữa tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên với quần chúng.

Ba là, chủ động tổ chức đấu tranh phòng, chống các hoạt động phá hoại về chính trị tư tưởng, tổ chức của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng ở các đơn vị trong toàn quân.

Trong các hoạt động phá hoại về chính trị tư tưởng đối với quân đội ta, các thế lực thù địch thực hiện nhất quán mục tiêu xóa bỏ nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống tinh thần quân đội; vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng trong quân đội, thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội ta; phá hoại mối quan hệ máu thịt giữa quân đội với nhân dân và các tổ chức trong hệ thống chính trị đất nước; truyền bá, gieo cấy đạo đức, lối sống tư sản vào trong quân đội, nhằm làm cho cán bộ chiến sĩ, công nhân viên chức quốc phòng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, xa rời những giá trị truyền thống tốt đẹp và phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, gây “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong nội bộ. Vì thế, cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, các tổ chức quần chúng và mỗi quân nhân phải nêu cao trách nhiệm của mình trong cuộc đấu tranh này; tăng cường quản lý nội bộ, không để nảy sinh các khuynh hướng, quan điểm sai trái để kẻ địch lợi dụng; có biện pháp kiểm soát, ngăn chặn việc phát tán các tài liệu ngoài luồng vào đơn vị.

Bốn là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ ở các đơn vị trong quân đội.

Chăm lo xây dựng nội bộ quân đội thực sự trong sạch vững mạnh, tạo sức “đề kháng”, “miễn dịch” cho mọi cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên chức quốc phòng về khả năng tự nhận biết và có ý thức, trách nhiệm cao trong việc đấu tranh chống các thủ đoạn phá hoại về chính trị tư tưởng của các thế lực thù địch hiện nay. Thực tế cho thấy, cùng với thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc, lừa mị, kích động, chiến tranh tâm lý, các thế lực thù địch rất chú trọng các hoạt động ngầm, tổ chức các hoạt động tình báo, gián điệp, sử dụng những phần tử cơ hội về chính trị, bất mãn thù địch với chế độ ta cài cắm vào trong quân đội nhằm phá hoại ta từ bên trong. Do đó, công tác bảo vệ chính trị nội bộ phải được đặc biệt coi trọng, được triển khai đồng bộ từ cơ quan đến toàn quân theo phương châm “giữ vững bên trong”, làm cho nội bộ thực sự trong sạch vững mạnh, không để địch lôi kéo, chia rẽ, lũng đoạn chống phá từ bên trong.

Năm là, chăm lo xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh ở các đơn vị trong toàn quân.

Tập trung giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện cho mọi cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên chức quốc phòng có lập trường chính trị, tư tưởng, phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống trong sạch lành mạnh, phù hợp với các chuẩn mực văn hóa, đạo đức của “Bộ đội Cụ Hồ”. Quan tâm chăm lo xây dựng, củng cố, ổn định và nâng cao chất lượng cơ sở vật chất của hệ thống thiết chế văn hóa. Duy trì các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng có nền nếp, hiệu quả thiết thực. Kiên quyết ngăn chặn, loại bỏ các tệ nạn xã hội và các hành vi tiêu cực trong từng đơn vị./.

YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY


         Để chống chủ nghĩa cá nhân, Hồ Chí Minh đã xác định rõ chủ thể của cuộc đấu tranh này là: tổ chức (bao gồm Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, cơ quan, đơn vị, các đoàn thể xã hội); bản thân mỗi cán bộ, đảng viên và đông đảo các tầng lớp nhân dân. Đồng thời để phát huy hiệu quả trong cuộc đấu tranh này càn phải quán triệt và thực hiện tốt một số yêu cầu đó là:

Một là, Phải đảm bảo tính toàn diện, hệ thống;

Hai là, phải thường xuyên, kiên trì, cụ thể và phải có quyết tâm cao;

Ba là, phải tôn trọng, bảo vệ, khuyến khích động lực cá nhân chính đáng và phải kết hợp chặt chẽ giữa chống chủ nghĩa cá nhân với xây dựng đạo đức cách mạng cho mỗi cán bộ, đảng viên.

Trên cơ sở những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới cùng với những nhận thức sâu sắc về bản chất cũng như sự nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân đối với một đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh đã đưa ra những biện pháp chủ yếu để đẩy lùi và tẩy trừ căn bệnh này. 

Thứ nhất, phát huy vai trò của Đảng và tổ chức đảng trong đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. 

Phải thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Việc chỉnh đốn Đảng, thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng là một trong những biện pháp hết sức quan trọng. Mỗi cơ quan lãnh đạo, mỗi người lãnh đạo phải làm sao để cho các đảng viên và cán bộ dám nói ý kiến của mình, dám phê bình. Trong một tổ chức, nếu cách lãnh đạo không được dân chủ thì dẫn đến cán bộ, đảng viên không dám nói ra những điều họ nghĩ, rồi sinh ra uất ức, chán nản từ đó nảy sinh ra thói “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”, sinh ra nhiều thói xấu khác, từ đó dẫn đến cấp trên với cấp dưới cách biệt nhau, quần chúng với Đảng xa rời nhau.

Thứ hai, thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng.

Thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, con người sẽ làm chủ và điều chỉnh được mọi hoạt động của bản thân. Khi cán bộ, đảng viên nhận thức được sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội một cách tự giác, xét ở góc độ nhân cách, đó còn là lòng tự trọng, nghĩa là họ hành động do sự thôi thúc của chính mình, coi đó là nhu cầu sống và lẽ sống, chứ không bởi sự hối thúc của ngoại cảnh; và khi đạt tới trạng thái tự do trong tự phê bình và phê bình, thì quan hệ giữa mỗi cán bộ, đảng viên sẽ mang đậm tính nhân bản, chứa đựng tính nhân văn sâu sắc. Triết lý tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực chất là triết lý tu thân, một triết lý đậm tính nhân văn cao cả và sâu sắc; triết lý này góp phần quan trọng làm nên lẽ sống, lối sống của người Cộng sản, đồng thời, là một nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng Cộng sản. Theo đó, tự phê bình và phê bình là việc phải làm thường xuyên như “rửa mặt hàng ngày” của mỗi cán bộ, đảng viên. Vì vậy, mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải tự xét mình và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Tự phê bình và phê bình cho đúng chẳng những không làm giảm thể diện, uy tín của cán bộ, của Đảng, trái lại nó còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, do đó mà uy tín và thể diện càng tăng thêm. 

Thứ ba, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phải chặt chẽ; kỷ luật Đảng phải nghiêm minh, tự giác. 

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng chặt chẽ; chế độ sinh hoạt và kỷ luật đảng nghiêm minh, tự giác luôn là một trong những biện pháp hữu hiệu để góp phần chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên của Đảng. Sinh hoạt và kỷ luật đảng nghiêm minh, tự giác giúp cho mỗi tổ chức đảng, mỗi đảng viên luôn ý thức được vai trò, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình. Đặc biệt, trong điều kiện Đảng cầm quyền, ở những vị trí lãnh đạo chủ chốt trong bộ máy nhà nước đều là đảng viên. Họ là những người cán bộ có chức, có quyền; trong đó gắn liền với chức, quyền là “danh và lợi”. Do đó, nếu đảng buông lỏng kỷ luật sẽ dễ làm nảy sinh đầu óc cá nhân chủ nghĩa trong mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên. 

Thứ tư, phát huy vai trò của Nhân dân trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.

Hồ Chí Minh viết: lực lượng của dân chúng nhiều vô cùng. Kinh nghiệm trong nước và các nước tỏ cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có thì việc gì làm cũng không xong. Theo Hồ Chí Minh, biện pháp quan trọng hàng đầu để phát huy vai trò của quần chúng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân là phải giáo dục tư tưởng cho quần chúng. Đồng thời, Chính phủ và Nhà nước cần không ngừng nâng cao dân trí, nâng cao hiểu biết của người dân để họ phát huy quyền làm chủ của mình trong cuộc đấu tranh này. Theo đó, Người yêu cầu, báo chí phải góp phần quan trọng trong công tác tuyên truyền, giáo dục; phải phân tích cho người dân thấy tác hại nghiêm trọng của chủ nghĩa cá nhân và giúp họ thấy sự cần thiết của việc chống lại căn bệnh này; cần sớm hoàn thiện cơ chế để huy động được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.

Thứ năm, phát huy tính tích cực, tự giác của bản thân cán bộ, đảng viên trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng, việc tu dưỡng đạo đức cá nhân là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu để chống chủ nghĩa cá nhân. Bởi, đạo đức cách mạng là đạo đức dấn thân, đạo đức trong hành động vì độc lập tự do của dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân. Chỉ có trong hành động, đạo đức cách mạng mới bộc lộ rõ những giá trị của mình. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà trong tác phẩm “Đường kách mệnh”, Hồ Chí Minh đưa phần giáo dục đạo đức lên hàng đầu, trong đó trước hết phải xử lý mối quan hệ với chính mình, phải tu dưỡng cá nhân. Chỉ có ra sức học tập và rèn luyện, mỗi người mới trở thành người tốt hơn, đạo đức hơn. Để phát huy tinh thần tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cá nhân, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, phải làm sao để mỗi cán bộ, đảng viên tự nhận thấy việc trau dồi đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân là một việc “sung sướng, vẻ vang nhất trên đời”. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác rèn luyện thông qua hoạt động thực tiễn, trong công việc, trong các mối quan hệ của mình, phải nhìn thẳng vào mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; phải thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện của mình để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác của mình để khắc phục; phải kiên trì rèn luyện, tu dưỡng suốt đời như công việc rửa mặt hàng ngày.

ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN QUA TÁC PHẨM “SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC”

 

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa cá nhân là những quan điểm, quan niệm tuyệt đối hoá vai trò và lợi ích cá nhân, đề cao tự do cá nhân, đặt lợi ích cá nhân lên trên hết, trước hết và đối lập với lợi ích tập thể.

Khái niệm chủ nghĩa cá nhân

Chủ nghĩa cá nhân được Hồ Chí Minh sử dụng lần đầu tiên trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947) và dần được bổ sung cùng với quá trình lãnh đạo cách mạng của Người. Theo Hồ Chí Minh, “Chủ nghĩa cá nhân là đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc”. Chủ nghĩa cá nhân là “so bì đãi ngộ: lương thấp, cao, quần áo đẹp, xấu, là uể oải, muốn nghỉ ngơi, hưởng thụ, an nhàn” hoặc “Chủ nghĩa cá nhân, lợi mình hại người, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác... Như vậy, theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa cá nhân là những quan điểm, quan niệm tuyệt đối hoá vai trò và lợi ích cá nhân, đề cao tự do cá nhân, đặt lợi ích cá nhân lên trên hết, trước hết và đối lập với lợi ích tập thể. Chủ nghĩa cá nhân, dù xem xét ở góc độ nào thì cũng là đề cao, tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, làm gì cũng nghĩ đến mình trước hết, muốn mọi người vì mình mà không muốn mình vì mọi người. Chủ nghĩa cá nhân là trái ngược với đạo đức cách mạng, trái với chủ nghĩa tập thể, cái gì trái với đạo đức cách mạng đều là chủ nghĩa cá nhân.

Nguồn gốc, bản chất và biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân

Hồ Chí Minh cho rằng, chủ nghĩa cá nhân là sản phẩm tất yếu của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Người viết: Trong xã hội cũ, bọn phong kiến địa chủ, bọn tư bản và đế quốc thẳng tay áp bức, bóc lột những tầng lớp người khác, nhất là công nhân và nông dân. Người cho rằng, thói quen và truyền thống lạc hậu nảy sinh từ nền nông nghiệp tiểu nông lúa nước vẫn còn tồn tại trong cách nghĩ cách làm của một bộ phận nhân dân, cán bộ, đảng viên. 

Bên cạnh những nguồn gốc khách quan nói trên, chủ nghĩa cá nhân còn nảy sinh từ những nguyên nhân chủ quan. Ở đây, Hồ Chí Minh chỉ rõ nguyên nhân chủ quan làm nảy sinh chủ nghĩa cá nhân bao gồm hai mặt. Một mặt, theo Người, do cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện và học tập để chủ nghĩa cá nhân phát triển, chi phối. Họ nặng tính thực dụng, thiếu tu dưỡng rèn luyện thường xuyên nên ý thức giác ngộ, lập trường giai cấp phai nhạt, tư tưởng hưởng thụ, bệnh gia trưởng, hẹp hòi ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân trỗi dậy chi phối suy nghĩ và hành vi. Do lười học tập, nghiên cứu lý luận chính trị, dẫn tới nhận thức, giác ngộ về hệ tư tưởng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong không ít cán bộ, đảng viên yếu kém, vì thế họ ngày càng xa dân, không được nhân dân ủng hộ trong thực tế. Đó là nguy cơ lớn liên quan đến sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Có thể thấy, việc thiếu tu dưỡng, rèn luyện và học tập để nâng cao năng lực, phẩm chất cách mạng vừa là biểu hiện, vừa là nguyên nhân hình thành chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên… 

Bản chất của chủ nghĩa cá nhân theo quan điểm của Hồ Chí Minh chính là sự tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, tách rời, coi thường và đối lập với lợi ích chung của cộng đồng, xã hội, thể hiện: Đối với lý tưởng cách mạng, chủ nghĩa cá nhân đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc, cái gì cũng chỉ biết có mình và gia đình mình chứ ít khi nghĩ đến cái gia đình lớn là dân tộc. Đối với nhân dân, chủ nghĩa cá nhân là đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, xa rời nhân dân, là quan liêu, hách dịch đối với nhân dân. Đối với nhiệm vụ cách mạng, chủ nghĩa cá nhân là sợ khó, sợ khổ; tự do chủ nghĩa, luôn đặt lợi ích riêng lên trên lợi ích chung, rồi sinh ra vô kỷ luật, vô tổ chức, tham địa vị, tham danh vọng, bè phái, tham ô, lãng phí, quan liêu. Đối với mình, chủ nghĩa cá nhân là tự tư, tự lợi, tự kiêu, tự mãn, tranh công đổ lỗi, công thần; đòi hưởng thụ, đãi ngộ, tham lam, lười biếng, hiếu danh, hẹp hòi; thực dụng. Do vậy, chủ nghĩa cá nhân là mặt trái, là yếu tố kìm hãm sự phát triển của cá nhân trong xã hội mới, văn minh, hiện đại, bởi nó gây tác hại nghiêm trọng không chỉ cho bản thân cá nhân mà còn cho xã hội. Theo Hồ Chí Minh, biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân được thể hiện thông qua các hành vi của mỗi con người: chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của cách mạng, của nhân dân; là tham danh trục lợi, thích địa vị, quyền hành, tham nhũng quyền lực; quan liêu, mệnh lệnh; xa rời quần chúng. 

Tác hại của chủ nghĩa cá nhân

Về chính trị, theo Hồ Chí Minh, tác hại lớn nhất mà chủ nghĩa cá nhân gây ra đó là làm mất lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, với cách mạng. Những cán bộ mắc căn bệnh cá nhân chủ nghĩa dễ đi đến phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, phủ nhận tính đúng đắn của sự lựa chọn con đường phát triển dân tộc. Họ bằng lòng với những nhận thức giản đơn, mơ hồ về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

Về kinh tế, những cán bộ, đảng viên bị ảnh hưởng của chủ nghĩa cá nhân thì tiền của của Nhà nước, của Nhân dân không chỉ bị biến thành tài sản riêng của cá nhân mà thậm chí còn bị lãng phí và thất thoát lớn. Ở mức độ thấp hơn, một số cán bộ, đảng viên lạm dụng quyền hạn, chức vụ trong khi thi hành công vụ, nhũng nhiễu, hạch sách, làm mất thời gian, công sức, tiền bạc của Nhân dân. Hồ Chí Minh từng khẳng định: khi gặp công việc không biết tìm đủ cách giải thích cho dân hiểu... song, vì muốn làm cho được việc, rồi dùng cách hạ mệnh lệnh, cách áp bức, phạm vào thói quan liêu, quân phiệt, đến nỗi Chính phủ hoặc Đảng phải trừng phạt. 

Về văn hóa - xã hội, chủ nghĩa cá nhân làm tha hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, xâm phạm, thậm chí làm thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức xã hội. Khi chuẩn mực xã hội bị phá vỡ càng làm cho chủ nghĩa cá nhân phát triển. Cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân do được thúc đẩy bởi những lợi ích phi pháp, bất chính sẽ sẵn sàng bẻ cong, chà đạp hoặc phá vỡ các quy tắc, yêu cầu của các chuẩn mực xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội. 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC ĐỂ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước của trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nguyên nhân có ý nghĩa quyết định. Ngày 23/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 205-QĐ/TW về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền, thể hiện quyết tâm xây dựng một cơ chế kiểm soát quyền lực thật hiệu quả trong công tác cán bộ. Lần đầu tiên các hành vi chạy chức, chạy quyền gắn liền với công tác cán bộ được Đảng chỉ rõ, và gắn trách nhiệm với các chế tài xử lý cụ thể đối với những sai phạm trong công tác cán bộ. Quy định này được ban hành với kỳ vọng rất lớn, nhằm khắc phục sự tha hóa, tham nhũng quyền lực, tiêu cực trong công tác cán bộ trong thời gian qua. Để thực hiện quyết liệt hơn việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ trong thời gian tới, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ngày càng phức tạp, cần tập trung vào một số giải pháp sau đây:

Một là, thường xuyên quán triệt, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan tổ chức, kiểm tra, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị về thực thi quyền lực và kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, coi đó là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp ủy đảng.

Hai là, các cấp ủy, tổ chức đảng phải thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát về công tác cán bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát trách nhiệm người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quyết định và người đứng đầu cơ quan tham mưu về công tác cán bộ.

Ba là, ủy ban kiểm tra các cấp phải chủ động nắm tình hình, phát hiện và tiến hành kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, kể cả cấp ủy viên cùng cấp, người đứng đầu trong thực hiện quy chế làm việc của cấp ủy, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác cán bộ; xem xét xử lý kỷ luật hoặc đề nghị xử lý kỷ luật nghiêm minh tổ chức đảng, đảng viên vi phạm trong công tác cán bộ. 

Bốn là, tạo cơ chế cạnh tranh lành mạnh trong công tác cán bộ, nhất là thực hiện nghiêm việc công khai, minh bạch về tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ nhân sự trong bổ nhiệm, đề bạt cán bộ, tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, luân chuyển cán bộ. Thực hiện nghiêm nguyên tắc dân chủ trong tất cả các khâu, các bước của công tác cán bộ, phải cung cấp đầy đủ thông tin và biết lắng nghe ý kiến của cấp ủy cấp dưới, của các cấp, các ngành liên quan, của quần chúng trong cơ quan, đơn vị và của cấp ủy, chính quyền địa phương nơi cán bộ sinh sống. Quy định rõ tiêu chuẩn chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý các cơ quan trong hệ thống chính trị bảo đảm tính định lượng cụ thể, tạo sự rõ ràng, khách quan, qua đó có cơ sở giám sát, kiểm tra đầy đủ, chính xác. 

Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên làm công tác cán bộ phải liêm chính, trung thực, vững vàng, có trách nhiệm và tâm huyết, có kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng chuyên sâu, nắm vững chủ trương, đường lối, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong công tác cán bộ; không nao núng và bị cám dỗ trước lợi ích hoặc các “nhóm lợi ích” muốn chi phối trong công tác cán bộ.

Sáu là, xử lý nghiêm minh, kịp thời, không có “vùng cấm” đối với các sai phạm trong công tác cán bộ, nhất là việc lợi dụng quyền lực để thực hiện những hành vi sai trái trong công tác cán bộ. Nếu lạm quyền, lợi dụng quyền lực để tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ đều phải được kiểm tra, thanh tra, điều tra, xem xét, kết luận và xử lý nghiêm minh theo kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kể cả khi đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác. “Cùng với xử lý nghiêm sai phạm phải kịp thời thay thế những cán bộ bị kỷ luật, năng lực hạn chế, uy tín thấp theo phương châm: “Có vào, có ra, có lên, có xuống”. 

Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cần: (1) Lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật, quy định về kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; đồng thời, tổ chức thực hiện có hiệu quả các quy định về kiểm soát quyền lực để không thể tham nhũng, tiêu cực; (2) Lãnh đạo tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; đẩy mạnh điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; phát hiện sớm, xử lý nghiêm minh các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực, nhất là xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng, lạm dụng quyền lực để tham nhũng, tiêu cực.

QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TA VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC ĐỂ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 

Qua tổng kết 10 năm thực hiện phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Đảng ta đã nhận thấy những hạn chế, yếu kém trong xây dựng, thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực. Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã chỉ rõ: “Chưa chế định rõ, đồng bộ, hiệu quả cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp”. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra: “Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng, Nhà nước chưa thật đầy đủ, đồng bộ; hiệu lực, hiệu quả chưa cao”. Vì vậy, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đề ra nhiệm vụ: “Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất; xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi quyền”; “Thiết lập cơ chế giám sát và kiểm soát quyền lực hiệu quả”. Nghị quyết Trung ương 4, Trung ương 6 khóa XII cũng tiếp tục yêu cầu: “Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ bằng các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, đề cao trách nhiệm giải trình và tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện”. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra giải pháp: “Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức”.

Tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới, trong đó yêu cầu hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước; đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Những nguyên tắc quan trọng về kiểm soát quyền lực tiếp tục được khẳng định và làm sâu sắc thêm: “Bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực bên trong mỗi cơ quan và giữa các cơ quan nhà nước, giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương và giữa các cơ quan trong cùng một cấp chính quyền”; “Mọi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm, quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền lực càng cao trách nhiệm càng lớn; lạm dụng, lợi dụng quyền lực phải bị truy cứu trách nhiệm và xử lý. Kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và cán bộ, công chức, viên chức”. Nghị quyết số 27-NQ/TW cũng yêu cầu phải: “Hoàn thiện cơ chế để nhân dân trực tiếp kiểm soát quyền lực nhà nước; “Nghiên cứu thành lập các thiết chế mới về kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực; ban hành các quy định về kiểm soát quyền lực để phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; trong công tác xây dựng pháp luật và quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công”.

Để thực hiện quan điểm, chủ trương trên mỗi cán bộ, đảng viên tự nhận thấy việc trau dồi đạo đức cách mạng là trách nhiệm của bản thân đối với Đảng, phải tự giác tu dưỡng, rèn luyện thông qua hoạt động thực tiễn, trong công việc, trong các mối quan hệ của mình, phải nhìn thẳng vào mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; phải thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện của mình để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác của mình để khắc phục; phải kiên trì rèn luyện, tu dưỡng suốt đời góp phần xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh như Hồ Chủ tịch hằng mong ước.

KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC LÀ MẤU CHỐT ĐỂ NGĂN CHẶN THAM NHŨNG, TIÊU CỰC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

 

        Tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong 10 năm qua (2012-2022), Trung ương đánh giá: công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có bước tiến mạnh, đột phá, đạt nhiều kết quả rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội. Các cơ quan tiến hành tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 19.546 vụ/33.868 bị can, truy tố 16.699 vụ/33.037 bị can, xét xử sơ thẩm 15.857 vụ/30.355 bị cáo về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến hết năm 2022, đã khởi tố, điều tra trên 4.200 vụ, với hơn 7.500 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế. Đáng chú ý, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay đã xử lý hình sự 25 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Riêng năm 2022, các cơ quan điều tra trong Công an nhân dân đã thụ lý điều tra 687 vụ án, 1.439 bị can phạm tội về tham nhũng, trong đó: Khởi tố mới 436 vụ và 929 bị can (tăng 105 vụ, 177 bị can so với kỳ báo cáo năm trước). Công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, xử lý các vụ việc tham nhũng được chỉ đạo quyết liệt, rõ đến đâu xử lý đến đó. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, sai phạm kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm đã được xử lý dứt điểm, nghiêm khắc, đúng pháp luật, có tác dụng giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, phòng ngừa. Đặc biệt, thời gian qua, việc Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực đã chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ xử lý các vụ án quan trọng cho thấy “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Nhiều cán bộ cao cấp bị khai trừ ra khỏi Đảng vì có liên quan trong các vụ án này. Điều đó cho thấy, tham nhũng đang từng bước được kiềm chế, ngăn chặn và có chiều hướng thuyên giảm, góp phần quan trọng làm trong sạch bộ máy Đảng, Nhà nước, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân, nâng cao vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

Đạt được kết quả trên là do nhiều nguyên nhân, nhưng quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực là nguyên nhân có ý nghĩa quyết định. Trong quyết tâm mạnh mẽ về việc ngăn chặn, từng bước loại trừ tham nhũng ra khỏi nội bộ Đảng và hệ thống chính trị, vấn đề quyền lực, kiểm soát quyền lực và tăng cường kiểm soát quyền lực đối với những người nắm giữ quyền lực trong hệ thống chính trị đã được Đảng ta đặc biệt quan tâm. Đảng ta nhận thấy, quyền lực luôn có nguy cơ bị “tha hóa”, “tham nhũng là khuyết tật bẩm sinh của quyền lực”; ở đâu có quyền lực thì ở đó tồn tại nguy cơ lạm dụng quyền lực. Nếu quyền hạn không đi đôi với trách nhiệm thì sẽ dễ dẫn đến tham nhũng, tiêu cực. 

Vậy nên, cốt lõi của cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực là phải kiểm soát cho được quyền lực, bảo đảm quyền lực phải được thi hành đúng. Kết quả phát hiện, xử lý nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, liên quan tới một số cán bộ lãnh đạo cao cấp gần đây cho thấy, tình trạng lợi dụng, lạm dụng quyền lực đang ở mức đáng báo động, trở thành một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước. Do vậy, việc “tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác giám sát, kiểm soát quyền lực để phòng chống tham nhũng, tiêu cực” là một “giải pháp trọng yếu để cuộc đấu tranh chống tham nhũng có hiệu quả thiết thực”. 

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH XUYÊN TẠC CUỐN SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ VỀ CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 

Kể từ khi cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” (Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực) của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được xuất bản; và nhất là khi các cơ quan, địa phương, đơn vị tổ chức tọa đàm và triển khai quán triệt những nội dung cốt lõi của Cuốn sách này, cùng lúc đó trên mạng xã hội đã xuất hiện không ít các luận điệu xuyên tạc, phản động. Đó là những ý kiến bẻ cong sự thật về việc xuất bản cuốn sách này là “nhằm đánh bóng tên tuổi của Tổng Bí thư”, vì “cuốn sách không hề có ý nghĩa gì ngoài việc mang tính mị hoặc quần chúng nhân dân”; “phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam mãi mãi chỉ là khẩu hiệu, hình thức” và “sẽ là một thất bại trong quản trị quốc gia, khi pháp luật được đứng sau các quan điểm chưa được kiểm chứng của một cá nhân” hay đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam “không thể thành công nếu không thay đổi thể chế chính trị, chấp nhận đa nguyên, đa đảng”,... Từ những giá trị không thể phủ nhận về ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Cuốn sách của Tổng Bí thư, cần phải khẳng định rằng: Cuốn sách là một cẩm nang quí về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực ra mắt bạn đọc đúng vào dịp kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 10 năm thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban. Sách được kết cấu làm 3 phần, với hơn 600 trang và gần 100 bức ảnh, trong đó có những bức ảnh lần đầu tiên được công bố. Cụ thể, Phần thứ nhất: “Một số vấn đề rút ra từ thực tiễn công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam”, gồm bài viết tổng quan; 4 bài phát biểu kết luận tại các Hội nghị toàn quốc về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực các năm 2014, 2018, 2020, 2022 và trích kết luận chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại 36 phiên họp, cuộc họp của Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo từ năm 2013 đến năm 2022. Phần thứ hai: “Nhất quán phương châm: Phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực từ sớm từ xa, cả ngọn lẫn gốc”,gồm 22 bài viết, bài phát biểu được tuyển chọn từ hơn 500 bài viết, bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Phú Trọng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và về việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.Phần thứ ba: “Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, tuyển chọn 97 trên tổng số hàng vạn ý kiến của các tầng lớp nhân dân, đại biểu Quốc hội và của chính khách, học giả nước ngoài bày tỏ sự tin tưởng, ủng hộ, đánh giá cao đối với công tác phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư.

Không chỉ thể hiện rõ tư duy lý luận, nhận thức ngày càng sâu sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, mà Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực còn tiếp tục khẳng định sự quan tâm sâu sắc, quyết tâm của Tổng Bí thư đối với những nhiệm vụ trọng yếu của Đảng để xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiền phong. Theo đó, quan điểm, tư tưởng nhất quán và xuyên suốt của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ thêm một lần khẳng định rằng:

Thứ nhất, tham nhũng gắn liền với quyền lực và là vấn nạn của mọi quốc gia; ở đâu có quyền lực thì ở đó tất yếu đã, đang và sẽ có tham nhũng hoành hành, dù đó là thể chế chính trị nào, mà còn cho thấy phòng và chống tham nhũng là “một cuộc đấu tranh gay go giữa cái tốt và cái xấu, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và kẻ địch là tệ tham ô, lãng phí, quan liêu”, nên cần phải được tiến hành thường xuyên, kiên quyết, kiên trì, bền bỉ, nhằm mục đích xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Thứ hai, chú trọng, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đẩy mạnh phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực là “một việc làm cần thiết, tất yếu, một xu thế không thể đảo ngược”. Trong phòng và đấu tranh chống tham nhũng, thì “Trung ương không bao giờ nhụt chí”, “nếu ai cảm thấy cản trở, nhụt chí thì dẹp sang một bên cho người khác làm” và “việc xử lý cán bộ có sai phạm, trước nói đánh từ vai đánh xuống, nhưng giờ đánh từ trên đầu nhiều hơn”.

Thứ ba, đấu tranh chống tham nhũng phải thường xuyên, liên tục, kiên quyết, kiên trì, không ngừng, không nghỉ… “Khi phát hiện sai phạm thì phải xử lý kiên quyết, nghiêm minh, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng, kỷ luật hành chính của Nhà nước, kỷ luật của đoàn thể và xử lý hình sự, không có vùng cấm, vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai và không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”.

Thứ tư, nêu cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tính tiên phong, gương mẫu của tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên trong công tác phòng, đấu tranh chống tham nhũng. Đồng thời, “chú trọng cả phòng và chống, với tinh thần kiên quyết, kiên trì, liên tục, đúng pháp luật, nhằm tạo chuyển biến rõ rệt hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng, củng cố niềm tin của nhân dân”.

Thứ năm, việc mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị phải nỗ lực rèn luyện về đạo đức, lối sống và phòng, chống sự "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ/chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân - “giặc nội xâm” cần phải được chú trọng phòng ngừa từ sớm, từ xa và tiếp tục được triển khai nghiêm túc từ Trung ương đến địa phương… là cần thiết, không thể sao lãng.

Thứ sáu, các cơ quan chức năng cần “phải xây dựng cho được một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể” tham nhũng, tiêu cực; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám” tham nhũng, tiêu cực; xây dựng văn hóa liêm chính để “không muốn” tham nhũng, tiêu cực; và một cơ chế bảo đảm để “không cần” tham nhũng, tiêu cực”; đồng thời phải “tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; đẩy mạnh điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; phát hiện sớm, xử lý nghiêm các vụ việc, vụ án tham nhũng, qua đó cảnh tỉnh, răn đe để không ai dám tham nhũng, tiêu cực; nâng cao hơn nữa hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng” để phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng hiệu quả.

Thứ bảy, đặc biệt, mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên vừa phải chủ động phòng và đấu tranh chống tham nhũng “vừa phải cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta” như Tổng Bí thư đã nhấn mạnh.

Vì thế, Cuốn sách không chỉ thực sự là “cẩm nang quý” với mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình tu dưỡng, rèn luyện để tự soi, tự sửa mình, để “cảnh giác trước mọi cám dỗ về danh lợi, vật chất, tiền tài, tránh rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ”, mà còn thực sự góp phần đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, để xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Thực tế cho thấy, không phải ngẫu nhiên quyết tâm của người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam về sự kiên quyết, kiên trì, không khoan nhượng, không ngừng, không nghỉ trong cuộc đấu tranh đầy cam go, thử thách để chống vấn nạn tham nhũng, tiêu cực, nhất là yêu cầu “phải xây dựng các quy chế quản lý nội bộ của Đảng; các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức áp dụng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, liêm chính, gương mẫu đi đầu trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực” trong Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực lại nhận được sự đồng tình, ủng hộ, cổ vũ của các chính khách, học giả, đại biểu Quốc hội, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân như vậy. Bởi rằng, nói như Tổng Bí thư thì “đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã trở thành phong trào, thành xu thế không thể đảo ngược, được đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân đánh giá cao, bạn bè quốc tế ghi nhận”; đồng thời, khẳng định sự quyết liệt nhưng cũng đầy tính nhân văn trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Tổng Bí thư.

Thực tế, giá trị của Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực là không thể phủ nhận. Những giá trị cốt lõi cũng như những bài học kinh nghiệm thể hiện trong Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, mà còn cho thấy những trăn trở, tâm huyết và tư tưởng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực về công cuộc phòng, đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam không phải là “chưa được kiểm chứng”, càng không nhằm mục đích “lấn sân luật pháp” như các thế lực thù địch xuyên tạc, bịa đặt để bôi nhọ người lãnh đạo cao nhất của Đảng.

Sự tôn vinh mù quáng của Phan Thanh Hải

 


Mấy trăm năm nay, sử sách và Nhân dân luôn oán trách, nguyền rủa Nguyễn Ánh và những tên vua quan hèn nhược của triều Nguyễn về tội lỗi tày trời bán nước, hại dân. Đồng thời luôn tự hào, biết ơn, lập đền thờ phụng Hoàng đế Quang Trung và triều Tây Sơn oai hùng. Bác Hồ viết ra những câu đó cũng là tóm lược, là nói lên nỗi lòng của Nhân dân mà thôi.

Thương dân, dân lập đền thờ:

Trước sự trả thù hèn hạ, man rợ của Nguyễn Ánh, tất cả những ai liên quan đến nhà Tây Sơn đều bị giết hại dã man. Ấy vậy mà Nhân dân ta vẫn âm thầm, bí mật thờ phụng Hoàng đế Quang Trung và nhà Tây Sơn. Ngay quản ngục và lính canh 3 vò đựng xương sọ (Thường được cai ngục và nhân dân cung kính gọi là "Ông vò") cũng bí mật lập bàn thờ. Tương truyền, sau khi kinh thành Huế thất thủ năm 1885, với sự tôn kính, biết ơn đã lâu, lính canh ngục và nhân dân đã đem 3 "Ông vò" ra khỏi ngục thất và an táng chu đáo. Về sau nhân dân đã lập miếu thờ 3 "Ông vò" (Miếu Đôi)

Việc nhân dân lập miếu thờ các vị vua anh hùng của dân tộc (3 Ông vò) đã có từ hàng trăm năm nay. Sự tích dân gian và các bằng chứng, tư liệu lịch sử cũng đã được tổ chức, cá nhân có uy tín vào cuộc, tọa đàm... Rõ ràng chính nghĩa, chân lý của Nhân dân rành rành ra như vậy! Đáng lý ra với chức năng của cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn, quý cơ quan cần có cách tiếp cận vấn đề trên nền tảng đạo lý, truyền thống của dân tộc, chủ trương, đường lối và lợi ích chính trị của Đảng, Nhà nước. Tại sao lại yêu cầu "xác minh việc dựng tượng" vua Thái Đức và vua Quang Trung... Tại sao việc thờ phụng những vị vua yêu nước nhà Tây Sơn lại làm nhảy dựng lên như vậy? Chưa thấy dư luận bức xúc vì thờ vua yêu nước đâu, nhưng có lẽ là đang bức xúc về việc dừng tổ chức lễ giỗ vua Quang Trung tại miếu Đôi đấy!

Hại dân, dân đái ngập mồ thối xương!

Câu nói của nhân dân có phần chua chát, cay nghiệt nhưng nó thỏa đáng, phù hợp để dùng với những kẻ gian tà, bán nước hại dân. Tội lỗi cầu viện, rước ngoại bang vào giày xéo đất nước, rồi cắt đất cho ngoại bang... của Nguyễn Ánh và bè lũ vua quan hèn nhược của triều Nguyễn đã dành dành ra, mấy trăm năm qua cả sử sách và dân gian đều nguyền rủa!

"Bảo Đại là cháu Gia Long

Là con Khải Định, là dòng Việt gian"

Vậy mà ông Phan Thanh Hải lại nói trong cuộc "tọa" của Nguyễn Phước tộc như sau: "vua Gia Long xứng đáng được tôn vinh ở địa phương và tầm quốc gia nhưng trước hết là ngay trên vùng đất Thừa Thiên Huế..". Ô hay, vậy là đi ngược lại Nhân dân, đi ngược lại tư tưởng của Bác Hồ hay sao? Nhân dân và Bác lên án Nguyễn Ánh là hèn nhược, là bán nước - Ông GĐ Sở VHTTDL TT-Huế lại bảo Nguyễn Ánh "xứng đáng được tôn vinh" ở tầm quốc gia! Ông GĐ to quá! Kinh quá!

Nói cho ông Hải biết, truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc; lịch sử dân tộc; dư luận Nhân dân và cả chủ trương, đường lối và lợi ích chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam không bao giờ chấp nhận tôn vinh, biết ơn một kẻ mang xú danh BÁN NƯỚC, HẠI DÂN như Nguyễn Ánh - Gia long và bè lũ vua quan hèn nhược của triều Nguyễn đâu. Trăm năm bia đá cũng mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ. Xưa nay phường tôn vinh bọn bán nước đều là bọn không tốt đẹp gì và sẽ chịu sự phán xét của dư luận, của lịch sử.

Muốn tôn vinh Nguyễn Ánh nhưng lại yêu cầu ngừng tổ chức lễ giỗ vua Quang Trung? Người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa của một tỉnh, một đảng viên cộng sản mà lại công khai muốn tôn vinh kẻ mà Nhân dân nguyền rủa là bán nước?! Những hiện tượng "ngược" theo chiều hướng "xét lại" như vậy lại càng ngày càng nhan nhản? Lộng giả thành chân! Liệu có một ngày tất cả những kẻ bán nước ác ôn đều được tôn vinh, như trùm phát xít Bandera bên A cù chẳn hạn và các anh hùng đều bị "xé xác" (tượng Lênin bị tân phát xít giật đổ)... Không lo sao được? Hay để đến lúc nó xảy ra, đất nước nát bét, đau khổ như Ukcraine thì mới than khóc, hối đã muộn! Mong tiếng kêu của Nhân dân thấu tới chỗ cần tới, mong sớm có vị chủ soái dẹp loạn!./.