Thứ Ba, 3 tháng 10, 2023

Một số giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên môi trường mạng xã hội

Một số giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên môi trường mạng xã hội

Xác định rõ vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của việc đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trên môi trường mạng xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, Đảng và Nhà nước cũng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị nhằm tăng cường năng lực quản trị an ninh mạng, trong đó có các nghị quyết quan trọng như: Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25-10-2013 của BCH Trung ương Đảng khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị khóa XII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị khoá XII về Chiến lược an ninh mạng quốc gia; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 28-9-2018 của Bộ Chính trị khoá XII về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới… Trong những năm tiếp theo, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, bên cạnh những thuận lợi sẽ còn có những diễn biến phức tạp, khó lường, làm xuất hiện những khó khăn, thách thức mới. Các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng những khó khăn đó để đẩy mạnh quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng Việt Nam. Vì vậy, để ứng phó, đẩy lùi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng xã hội hiện nay, cần thực hiện một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về quản lý không gian mạng quốc gia phù hợp với xu thế phát triển, tạo môi trường không gian mạng lành mạnh.

Trong tình hình mới, để quản lý tốt, cần có sự phối, kết hợp đồng bộ, thống nhất và phù hợp của các tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước và các bộ, ban, ngành, địa phương về bảo vệ an ninh, an toàn thông tin, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Đồng thời, các cơ quan quản lý cần xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách đồng bộ, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, minh bạch, bảo đảm môi trường mạng xã hội lành mạnh, trong sạch. Cần có các giám sát phù hợp với các công ty đang hoạt động trên môi trường in-tơ-nét, đặc biệt là các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ mạng xã hội và truyền thông xã hội; có các điều kiện trong quản lý các hoạt động trên in-tơ-nét đảm bảo chủ quyền, lợi ích và an ninh quốc gia. Bên cạnh đó, cần tổ chức các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý việc thực hiện các quy định của pháp luật.

Cần có chế tài và biện pháp xử lý nghiêm minh, có tính răn đe để cảnh báo cũng như kịp thời xử lý nghiêm những hành vi vi phạm. Có biện pháp ngăn chặn và đẩy lùi những trang mạng có nội dung xấu độc, chống phá Đảng, Nhà nước, kết hợp với chủ động cung cấp thông tin, tăng cường giải thích, đối thoại, tháo gỡ khó khăn kịp thời những khó khăn, vướng mắc của nhân dân. Khắc phục hiệu quả những hạn chế, bất cập, không để hình thành “điểm nóng”, tiêu cực trên mạng xã hội.

Thứ hai, nhìn nhận đúng tính chất hai mặt của mạng xã hội, nhất là mặt tiêu cực để đưa ra giải pháp ngăn chặn có hiệu quả những hành vi lợi dụng mạng xã hội để tác động đến ổn định chính trị; nâng cao nhận thức, trách nhiệm và ý thức cho người sử dụng.

Để phát huy thế mạnh cũng như ngăn ngừa, khắc phục những mặt tiêu cực của mạng xã hội, cần phải nhìn nhận đúng về mạng xã hội ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực, nhận diện và quản lý những tác nhân gây ảnh hưởng để có phương thức ứng xử phù hợp với tinh thần chủ động, tích cực, linh hoạt, an toàn, hiệu quả. Chú trọng tăng cường các biện pháp tuyên truyền nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức, trách nhiệm khi tham gia các nền tảng mạng xã hội cho người dùng. Tiếp tục thực hiện tốt Luật An ninh mạng năm 2018, Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam (của Hội Nhà báo Việt Nam), Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội (theo Quyết định số 874/QĐ-BTTTT, ngày 17-6-2021, của Bộ Thông tin và Truyền thông). Đặc biệt, giáo dục định hướng giá trị để người dân khi sử dụng mạng xã hội, trong đó hết sức quan tâm đến lực lượng thanh, thiếu niên - là lực lượng tích cực nhất trên các mạng xã hội có ý thức cảnh giác, chủ động kiểm chứng thông tin để nhận diện đúng - sai, nâng cao “sức đề kháng” để có thể bảo vệ những giá trị của bản thân, của cộng đồng và dân tộc trước những thông tin không chính xác, dung tục, phản cảm, thông tin có ý đồ xấu.

Kịp thời chấn chỉnh trật tự, kỷ cương, chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Cần xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng mạng xã hội phát tán thông tin sai lệch, có nội dung xấu, độc, sai sự thật về Đảng, Nhà nước và chế độ. Có biện pháp ngăn chặn, triệt phá, vô hiệu hóa các thông tin xấu, độc, sai sự thật trên các nền tảng mạng xã hội.

Thứ ba, sử dụng ưu thế của mạng xã hội trở thành phương tiện, cách thức hữu hiệu đấu tranh, phản bác thông tin sai lệch.

Cần tận dụng, phát huy vai trò tích cực của mạng xã hội để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Các cơ quan chức năng cần chủ động cung cấp kịp thời các thông tin chính thống, mang tính định hướng để chủ động “phản bác” thông tin sai lệch, giành ưu thế trong cuộc chiến tranh mạng. Lựa chọn một số luận điểm, có ảnh hưởng tư tưởng lớn, từ đó chủ động đấu tranh với nhiều hình thức phong phú. Sử dụng ngôn từ chuẩn xác, lập luận mạch lạc, khúc chiết.

Phát huy vai trò của các cá nhân và tổ chức, nhất là những người điều hành website, blog, fanpage, các nhân vật nổi tiếng, có sức ảnh hưởng trên mạng xã hội, có khả năng thu hút người xem, nghe, bình luận, chia sẻ để xây dựng môi trường không gian mạng lành mạnh. Tăng cường và đa dạng hoá các hình thức truyền tải các thông tin tích cực về thành tựu trong công cuộc đổi mới đất nước; những tấm gương người tốt, việc tốt; những giá trị truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc nhằm lan toả những điều tích cực đến mọi người với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, ngăn chặn, đẩy lùi những tác động tiêu cực trước các quan điểm sai trái, thù địch.

Mở các diễn đàn, hội, nhóm, tạo ra lực lượng bảo vệ đông đảo chiếm ưu thế trên không gian mạng. Xây dựng hình ảnh, video clip về các nội dung tích cực để giành thế chủ động, kịp thời, hiệu quả. Không để chúng lợi dụng mạng xã hội tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch. Mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên tham gia mạng xã hội phải giữ vai trò là lực lượng nòng cốt đăng tải, chia sẻ, lan tỏa thông tin tích cực và xem đây là giải pháp thường xuyên, lâu dài.

Thứ tư, cần chú trọng đầu tư kinh phí cho hoạt động đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch trên không gian mạng. Tăng cường ứng dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật số để phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các thông tin sai sự thật, xấu, độc có ảnh hưởng đến ổn định chính trị, xã hội.

Nâng cao nhận thức đối với hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân, đặc biệt là các lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Có chính sách thu hút, trọng dụng và đãi ngộ đối với các chuyên gia an ninh mạng, học sinh, sinh viên chuyên ngành an toàn thông tin, an ninh mạng.

Thứ năm, tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trên lĩnh vực công nghệ thông tin, an ninh mạng.

Tăng cường hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm với các quốc gia, tổ chức trên thế giới về xây dựng chính sách, thể chế quản lý và thúc đẩy ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin và an toàn, an ninh thông tin, phòng, chống chiến tranh thông tin trên không gian mạng. Tranh thủ sự giúp đỡ của các nước và tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới để ngăn chặn, gỡ bỏ các thông tin xấu, độc; thu hút đầu tư, tài trợ quốc tế trong việc xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh. Chú trọng công tác hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin, an ninh mạng. 

Nhận diện một số thủ đoạn, âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên môi trường mạng xã hội

Hiện nay, Việt Nam là một trong các quốc gia có tỷ lệ người dân sử dụng mạng xã hội cao trên thế giới và xu hướng đọc tin trên mạng xã hội ngày càng tăng. Đặc biệt, từ khi đại dịch Covid-19 diễn ra, việc sử dụng mạng xã hội đã gia tăng đột biến. Theo thống kê mới nhất của We are social (công ty chuyên phân tích mạng xã hội toàn cầu), đến đầu năm 2023, Việt Nam có 77,93 triệu người dùng in-tơ-nét (chiếm 79,1% tổng dân số). Trong đó, số người dùng mạng xã hội đạt 70 triệu, tương đương với 71% tổng dân số. Thời gian sử dụng in-tơ-nét trung bình hằng ngày (trong độ tuổi 16-64) là 6 giờ 47 phút, trong đó 2 giờ 21 phút là thời gian cho mạng xã hội. Với sự cải tiến không ngừng về giao diện, kết nối, ứng dụng, khả năng tương tác của mạng xã hội, người dùng có thể thuận lợi, dễ dàng tiếp cận thông tin; thể hiện bản thân, giao lưu, gắn kết cộng đồng, chia sẻ tình cảm; khám phá và trải nghiệm cuộc sống… ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào. Mạng xã hội đã thực sự trở thành “món ăn tinh thần” của mọi người.

Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh, mạng xã hội có tác động hai mặt đến đời sống xã hội của con người. Bên cạnh những tiện ích to lớn đem lại cho người dùng, mạng xã hội gây ra không ít những tác động tiêu cực, đặc biệt trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang lợi dụng triệt để mạng xã hội để tiến hành tuyên truyền thông tin xấu, độc nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.

Để thực hiện âm mưu chống phá trên mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động thường sử dụng một số thủ đoạn sau:

1. Các thế lực thù địch, phản động lợi dụng triệt để ưu thế nổi trội của các trang mạng xã hội có lượng lớn người sử dụng như Facebook, Zalo, Tiktok, Youtube… biến thành công cụ đắc lực thực hiện âm mưu chống phá. Chúng bám sát rất kỹ vào các biến động tình hình đời sống xã hội Việt Nam. Chúng luôn tìm các sự kiện “nóng” diễn ra trong xã hội được đông đảo quần chúng nhân dân quan tâm; các sơ hở, sai phạm và bức xúc của xã hội để tung ra nhiều bài viết xuyên tạc, bịa đặt, đổi trắng thay đen, suy diễn một cách vô căn cứ. Nhiều chủ trương, chính sách liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, chủ quyền, đất đai, quốc phòng - an ninh… bị các đối tượng thù địch cắt ghép, pha trộn thông tin thật - giả nhằm làm nhiễu loạn thông tin, tạo sự hoang mang cho người đọc, kích động gây rối an ninh, trật tự.

2. Tạo lập các tài khoản giả mạo các trang mạng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân để đăng tải các thông tin xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế, xã hội. Nguỵ tạo thông tin, giả danh các trang mạng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước bằng cách cắt ghép hình ảnh của cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cán bộ cao cấp gắn với những phát ngôn gây “sốc” để đánh lạc hướng dư luận. Đây đều không phải là trang tin chính thức, có thể gây nhiễu loạn thông tin và ẩn chứa những động cơ đen tối. Người tiếp xúc với các trang mạng này do thiếu kỹ năng nên không biết đây là trang giả mạo, mà nghĩ đây là trang chính thức của tổ chức đảng, cơ quan nhà nước nên các trang đăng tải thông tin này được nhiều người đọc theo dõi, vì thế các thế lực thù địch lợi dụng để gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây bất ổn trong dư luận.

3. Lợi dụng một số vấn đề liên quan đến nhân quyền, dân chủ, tín ngưỡng, tôn giáo, các đối tượng thành lập các tài khoản, fanpage phát tán rộng rãi các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung xấu độc, phản động, từ đó lôi kéo, kêu gọi biểu tình, tụ tập trái phép, gây rối an ninh trật tự, kích động bạo loạn và có các hành vi vi phạm pháp luật. Đặc biệt trong thời gian qua, chúng kích động, “hà hơi tiếp sức” cho những kẻ nhân danh “lòng yêu nước” để biểu tình gây rối trật tự, trị an; “triệt để lợi dụng các vụ án phức tạp, nhạy cảm để kích động, xuyên tạc, quy kết, vu cáo Đảng, Nhà nước yếu kém, đả kích các cơ quan tư pháp, kích động “bất tuân dân sự” trong xã hội”. Chúng lúc ngấm ngầm, lúc công khai ra mặt tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta và đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cao trong hệ thống chính trị hòng làm giảm uy tín và niềm tin đối với Đảng, chế độ. Chiêu bài của chúng là tung ra một bài viết có nội dung bảo vệ Đảng hay một cán bộ cấp cao nào đó của Đảng, Nhà nước, rồi để mặc nhiên cho các phần tử phản động, thù địch vào bình luận, chia sẻ những thông tin trái chiều không đúng sự thật.

4. Khai thác lỗ hổng bảo mật của các website, cổng thông tin điện tử để sửa chữa, chèn thêm đường dẫn đăng tại nội dung, thông tin giả mạo, xấu, độc; chèn, chỉnh sửa nội dung bài viết, hình ảnh trên các website, cổng thông tin điện tử làm sai lệch bản chất thông tin, làm người đọc mơ hồ mất cảnh giác. Sự tinh vi của các thế lực thù địch, phản động được thể hiện ở chỗ, chúng trích dẫn cắt xén, thông tin nửa vời những quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đan cài bằng những quan điểm giả danh mác-xít, làm cho người đọc mất phương hướng, lẫn lộn, không phân biệt được đúng - sai.

Đối tượng tác động, lôi kéo của hoạt động âm mưu chống phá của các thế lực thù địch thường hướng tới là tầng lớp trí thức; đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ, đảng viên có biểu hiện bất mãn, suy thoái tư tưởng chính trị; văn nghệ sĩ; thanh niên, học sinh, sinh viên, nhất là đội ngũ thanh thiếu niên vì đây là những thế hệ tương lai của đất nước. Lợi dụng bối cảnh đất nước mở cửa, hội nhập quốc tế, các đối tượng thù địch không ngừng rao giảng, đề cao tư tưởng phương Tây, khoác áo “khách quan học thuật”, “văn hóa, văn minh” để quảng bá về cái gọi là “các giá trị phương Tây” nhằm làm phai nhạt lý tưởng cách mạng của thế hệ trẻ.

Phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay

Phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay là vấn đề có tính tất yếu khách quan. Theo đó, cần nghiên cứu, thực hiện đồng bộ hệ thống các giải pháp phát huy có hiệu quả nguồn lực tôn giáo, góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thúc đẩy sự phát triển bền vững ở Việt Nam.

Trước hết, việc phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay xuất phát từ quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về vị trí, vai trò của tôn giáo đối với sự phát triển một số quốc gia dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo vào hoàn cảnh xã hội Việt Nam, nhằm mục tiêu dân tộc độc lập và tôn giáo tự do.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo xuất phát từ nhận thức đúng đắn về vai trò xã hội và đạo đức của tôn giáo đối với một bộ phận người dân: “Chúa Giêsu dạy: đạo đức là bác ái, Phật Thích ca dạy: đạo đức là từ bi, Khổng tử dạy: đạo đức là nhân nghĩa”, “Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? họ đều muốn mưu phúc lợi cho loài người, mưu hạnh phúc cho xã hội”. Người đã sớm nhận thức rõ vai trò của nguồn nhân lực của tôn giáo chính là khối tín đồ, là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là lực lượng cách mạng cùng với nhân dân cả nước đấu tranh giành độc lập, thống nhất nước nhà, là lực lượng quần chúng đông đảo đóng góp quan trọng và quá trình xây dựng và phát triển bền vững đất nước. Để phát huy nguồn nhân lực này Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ cần phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào có đạo thì mới đoàn kết được nhân dân. Người nhấn mạnh: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi, mà còn lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta cũng phải đoàn kết để xây dựng nước nhà: Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phụng sự nhân dân thì ta phải đoàn kết với họ”. Người cố gắng làm cho đồng bào hiểu đức tin tôn giáo và lý tưởng cộng sản không hề mâu thuẫn và chỉ ra âm mưu của kẻ thù nhằm gây ra những mối hiềm nghi giữa dân tộc và tôn giáo. Đoàn kết tôn giáo là nội dung quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc của Hồ Chí Minh.

Đặc biệt, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán khẳng định vai trò của nguồn lực tôn giáo và phát huy nguồn lực tôn giáo. Đại hội IX của Đảng (năm 2001) xác định: “Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Chăm lo phát triển kinh tế, văn hoá, nâng cao đời sống của đồng bào. Đồng bào theo đạo và các vị chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc, sống “tốt đời, đẹp đạo”, phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hoá, đạo đức của tôn giáo”.

Đến Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2011 bổ sung nội dung: “Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (năm 2021), Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”.

Thực tế cho thấy, Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo. Hiện nay, Nhà nước đã công nhận và cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo với hơn 27 triệu tín đồ, chiếm khoảng 28% dân số cả nước, trên 55.000 chức sắc, gần 150.000 chức việc, gần 30.000 cơ sở thờ tự. Tín đồ tôn giáo là “công dân khá đặc biệt”, họ mang trong mình vai trò kép, vai trò thứ nhất là công dân, vai trò thứ hai vừa là tín đồ của một tổ chức tôn giáo. Trong những năm qua nguồn lực tôn giáo tích cực tham gia trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế, từ thiện, nhân đạo... đóng góp không nhỏ cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Theo thống kê của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, năm 2016, các tổ chức tôn giáo đã quyên góp được hơn 3.371,4 tỷ đồng cho các hoạt động từ thiện xã hội. Đặc biệt, trong 2 năm 2020 - 2021, khi đại dịch COVID-19 bùng phát trên toàn cầu và tại Việt Nam, chức sắc, chức việc, đồng bào các tôn giáo ủng hộ hàng chục tỷ đồng cho Quỹ Vắc-xin, hàng trăm tỷ đồng cho Quỹ Phòng, chống dịch.

Qua việc nghiên cứu nguồn lực tôn giáo cả về cơ sở lý luận và thực tiễn cho thấy thành quả đến từ nguồn lực này đã mang lại nhiều giá trị tốt đẹp, nhất là ở các địa phương. Trong đó các hoạt động an sinh xã hội, từ thiện nhân đạo trong lĩnh vực giáo dục, y tế đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên nhận thức, mục đích, cách thức và nhận diện để phát huy nguồn lực tôn giáo cũng còn hạn chế, bất cập, do đó chưa khơi thông được nguồn lực này trong phát triển bền vững đất nước. Do vậy, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của chủ thể phát huy cần tiếp tục khảo sát, đánh giá một cách toàn diện, có sự tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia đã phát huy tốt nguồn lực tôn giáo. Từ đó có cách nhìn nhận, đánh giá khách quan để nhận thức đúng và tham mưu đề xuất chính sách, pháp luật phù hợp định hướng cho cá nhân, tổ chức tôn giáo thực hiện theo khả năng và quy định, thu hút nguồn lực vào phát triển bền vững đất nước.

Trong giai đoạn hiện nay, để phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển bền vững đất nước, cần tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, nâng cao nhận thức của xã hội và cộng đồng các tôn giáo về vấn đề phát huy nguồn lực tôn giáo.

Đối với cộng đồng các tôn giáo: Chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo cần ý thức sâu sắc về vai trò nguồn lực tôn giáo đối với xã hội. Đồng bào các tôn giáo cần nhận thức về vai trò, trách nhiệm của chính mình trong việc phát huy nguồn lực tôn giáo và xem đó là việc của chính mình, trong khi các cộng đồng xã hội ngoài tôn giáo là nhân tố phối hợp, là môi trường xã hội đồng thuận. Theo đó, các tổ chức tôn giáo cần chủ động xây dựng phương hướng giải pháp phát huy nguồn lực, trong đó quan tâm đến nhân tố sở trường, thế mạnh của tôn giáo mình.

Đối với cộng đồng ngoài tôn giáo: Có nhận thức khách quan, tình cảm và thái độ gần gũi, cộng tác với tổ chức và đồng bào tôn giáo. Cộng đồng ngoài tôn giáo cần xem nguồn lực tôn giáo là một bộ phận của nguồn lực xã hội Việt Nam. Từ đó, tự ý thức được vai trò không nhỏ của nguồn lực tôn giáo đối với sự phát triển của đất nước và có trách nhiệm phát huy nó với tính cách là một thành tố không thể thiếu của nguồn lực xã hội Việt Nam.

Hai là, xây dựng, hoàn thiện cơ chế phát huy nguồn lực tôn giáo.

Xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật phát huy nguồn lực tôn giáo. Các bộ, ngành chức năng và các địa phương cần tổ chức cho nhân dân tham gia xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo và công tác tôn giáo liên quan trực tiếp đến việc phát huy nguồn lực tôn giáo. Các chủ thể cần quy định, phân công rõ về trách nhiệm cụ thể trong việc phát huy nguồn lực tôn giáo. Đối với hệ thống chính trị, Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc đã có quy định khá rõ ràng, chính vì vậy dành sự quan tâm xây dựng quy định trách nhiệm cho cấp cơ sở. Hệ thống chính trị cơ sở cần tạo điều kiện để các tôn giáo phát huy ngay từ địa bàn cấp mình. Trong tổ chức thực hiện, các tổ chức tôn giáo và hệ thống chính trị cần có sự phối hợp, phân công một cách khoa học, đúng chức năng cũng như có tính lịch sử cụ thể.

Ba là, tiếp tục phát huy vai trò của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong chăm lo, phát triển các tôn giáo.

Vai trò của Đảng: Đảng tiếp tục chăm lo xây dựng đường lối, chủ trương đúng đắn về việc phát huy nguồn lực tôn giáo. Tiếp tục chỉ đạo quá trình thể chế hóa chủ trương, đường lối phát huy nguồn lực tôn giáo phù hợp với mỗi cấp, mỗi địa bàn và mỗi tôn giáo. Nâng cao vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng, đảng viên trong cơ quan nhà nước và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động các tổ chức và đảng viên cũng như kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước trong phát huy nguồn lực tôn giáo.

Vai trò của Nhà nước: Chính phủ, Quốc hội, các bộ, ngành liên quan đến việc phát huy nguồn lực tôn giáo cần chỉ đạo việc rà soát, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho phát huy nguồn lực tôn giáo.

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội: Mặt trận Tổ quốc cần chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch phát huy nguồn lực tôn giáo với các mục tiêu, nội dung cụ thể. Bên cạnh đó cung cấp thông tin, tài liệu tuyên truyền phát huy nguồn lực tôn giáo cho các tổ chức tôn giáo và các thành viên của Mặt trận Tổ quốc để tạo ra sự thống nhất nhận thức, trách nhiệm và cách làm. Bên cạnh đó cần phát huy phát huy vai trò của người đứng đầu các tổ chức tôn giáo và chức sắc, chức việc, nhà tu hành có tâm huyết, tiêu biểu để họ vận động, thu hút tín đồ và nhân dân tích cực tham gia phát huy nguồn lực tôn giáo. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả việc phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay cần sự quan tâm, vào cuộc của nhiều cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, đồng thời phát huy được vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tôn giáo trong quá trình này./.

Nhiều “chữ”, mà ít... “Nghĩa”!

Trong thời gian gần đây, công tác cán bộ được Đảng ta đặc biệt quan tâm, vì thế, chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là cán bộ cấp chiến lược ngày càng được nâng cao. Có thể nói, chưa bao giờ chúng ta có được đội ngũ cán bộ được đào tạo bài bản, khá toàn diện về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học... như hiện nay. Xuất hiện ngày càng nhiều cán bộ trẻ, năng động, đầy triển vọng phát triển, có học hàm, học vị cao, sớm được quy hoạch vào các chức danh chủ chốt, được cử đi học các lớp đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, có trình độ lý luận chính trị cao cấp, nắm vững những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... với rất nhiều bằng cấp, chứng chỉ theo yêu cầu. Nhìn chung, đó là tín hiệu tích cực, điều đáng mừng; nhưng không phải là không có mặt trái.

Nói theo ngôn ngữ dân gian, những cán bộ nhiều bằng cấp, chức danh, học vị cao là những người có nhiều... “chữ” đấy!

Song, thực tế cho thấy, trong số cán bộ lãnh đạo, có một vài vị tuy nhiều “chữ”, nhiều bằng cấp thật, nhưng trong đời sống và công tác, họ lại tỏ ra là người sống quá ít tình, ít nghĩa!

Trong công việc, bộ phận cán bộ này chỉ chăm chăm tìm cách nịnh nọt, lấy lòng cấp trên, còn ở cơ quan thì tuy không đến mức “quát nạt” cấp dưới, nhưng trong thâm tâm, họ luôn tự coi mình như “quan phụ mẫu”, chẳng coi ai ra gì.

Có vị thì chỉ... “tình nghĩa” với mỗi... sếp thôi, luôn “chăm sóc” cấp trên cực kỳ nhiệt tình, chu đáo, gọi dạ, bảo vâng, còn đối với người khác trong cơ quan, đơn vị thì không mấy khi quan tâm, thậm chí còn tỏ ra lạnh nhạt!

Có nơi, có lãnh đạo sống theo kiểu “thực dụng chủ nghĩa”, chỉ biết việc mình, cứ khi có việc gì khó thì nhờ vả đồng nghiệp, cán bộ dưới quyền, ra bộ tình cảm “anh anh em em” ngọt xớt, nhưng xong việc rồi thì... quên luôn; “qua cầu, rút ván” ngay, chẳng bao giờ quan tâm, tạo điều kiện cho anh em cấp dưới thăng tiến, vì lo sợ một số người tài giỏi trong cơ quan có thể phát triển... bằng mình!

Có vị vô cùng nhiều “chữ”, rao giảng làu làu “như cháo chảy” về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về đạo đức cách mạng, về “tình đồng chí, thương yêu lẫn nhau”, nhưng lại luôn tìm cách kéo bè, kéo cánh, sống “cạn tàu, ráo máng”, triệt hạ người có tài đức bằng đủ mọi mưu kế của... “kẻ có chữ”, đến mức một người bình thường chắc không bao giờ có thể hình dung nổi.

Thậm chí, một số cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược còn có những hành vi vô cùng phản cảm, đáng lên án, đó là “bất nhân, bất nghĩa” với nhân dân, thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn, nỗi đau của nhân dân, mà các đại án vừa qua đã phơi bày chân tướng, ví dụ như vụ Việt Á, vụ “chuyến bay giải cứu”... - những vụ việc điển hình, gây bức xúc dư luận.

Trong số cán bộ cấp cao, thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, bị kỷ luật thời gian qua, nhiều vị có trình độ cao, thậm chí rất cao, chắc hẳn là người có nhiều “chữ”, nhưng khi có hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đặc biệt nghiêm trọng thì rõ ràng, họ là những cán bộ sống “vô ơn, bội nghĩa” với Đảng, với nhân dân.

Thì ra, người có nhiều “chữ” không đồng nghĩa và không phải lúc nào cũng là người có nhiều “nghĩa” đâu!

Những cán bộ ấy đã quên lời dạy sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Còn nhớ, khi làm việc với đội ngũ cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, ngày 17 tháng 6 năm 1968, về việc xuất bản cuốn sách “Người tốt, việc tốt” nhằm tuyên truyền, nêu gương những nhân tố tích cực, những cách ứng xử đúng đắn, đối đãi với nhau chân tình, Người đã căn dặn: Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa như thế. Hiểu chủ nghĩa Mác - Lê-nin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lê-nin được. Lời căn dặn ấy của Bác càng ngẫm lại càng thấy thấm thía và còn vẹn nguyên giá trị trong bối cảnh hiện nay.

Thiết nghĩ, Đảng cần có biện pháp cụ thể, hữu hiệu hơn nữa để có thể “khoanh vùng”, nhận diện rõ những đối tượng nhiều “chữ”, nhưng bội nghĩa này - “những con sâu làm rầu nồi canh” - kiên quyết sàng lọc, loại bỏ khỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý càng sớm càng tốt để xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, thực sự “là đạo đức, là văn minh”; và cũng chỉ có như thế, Đảng ta mới có đủ uy tín, phẩm cách và năng lực để lãnh đạo đất nước phát triển, thực hiện được mục tiêu, khát vọng đã đề ra, đáp ứng sự kỳ vọng và niềm tin của nhân dân./.

Khuyến khích, bảo vệ người tốt, việc đúng

Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29-9-2023 của Chính phủ quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, nhận được sự đồng tình ủng hộ của đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Việc Chính phủ ban hành Nghị định 73 không chỉ là bước cụ thể hóa chủ trương của Đảng mà còn góp phần giải tỏa được tâm lý sợ làm sai với quy định hiện hành, sợ bị xử lý trách nhiệm của nhiều cán bộ, đảng viên. Kịp thời khuyến khích, bảo vệ cán bộ, đảng viên mạnh dạn đề xuất, thí điểm tháo gỡ, mở lối những vấn đề không còn phù hợp, những tồn đọng kéo dài, những vấn đề chưa được quy chế hiện hành xác định và nhiều vấn đề phức tạp mà sự nghiệp phát triển đất nước đang đặt ra. Nghị định cũng sẽ là cơ sở để đấu tranh với tư tưởng sợ mất lòng, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không dám đối diện với những khó khăn, vướng mắc, không dám đấu tranh phê phán cái sai, cái xấu. Từ đó tạo nên bước đột phá, sáng tạo của cán bộ, đảng viên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sau gần 40 năm đổi mới, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, nước ta vẫn còn khoảng cách khá xa với các nước phát triển. Để sớm đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hơn lúc nào hết, Đảng, Nhà nước phải xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ đức, đủ tài, có ý chí chiến đấu cao, gương mẫu đi đầu, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tìm tòi, sáng tạo, đủ bản lĩnh xử lý đúng, giải quyết thấu đáo những vấn đề lý luận và thực tiễn đổi mới đang đặt ra.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, cán bộ, đảng viên của Đảng phải là những người thấy lợi ích cho dân thì phải hết sức làm, thấy hại cho dân thì phải hết sức tránh. Việc khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, khi được thực hiện kịp thời, dân chủ, công khai, minh bạch sẽ tạo cơ hội để cán bộ, đảng viên thực hiện đúng lời căn dặn của Người, quyết tâm hành động quyết liệt, khẩn trương, chủ động xông pha, tiên phong dấn thân vào những công việc khó, nhiệm vụ phức tạp.

Quá trình thực hiện Nghị định 73, chúng ta phải kiên quyết chống việc né tránh, đùn đẩy trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên khi thực thi công vụ. Nghị định đã đề cập rõ việc bảo vệ những cán bộ tốt, những việc làm đúng; không để lợi dụng chính sách, biện pháp khuyến khích, bảo vệ cán bộ để thực hiện hoặc bao che các hành vi tham nhũng, trục lợi, tác động tiêu cực đến đời sống nhân dân, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung sẽ là cú hích hữu hiệu, là động lực quan trọng để cán bộ mạnh dạn giải quyết những việc chưa có tiền lệ, giải quyết những nút thắt, rào cản, những tồn đọng lâu ngày, nhằm làm chuyển biến tình hình theo chiều hướng tích cực, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Không thể phủ nhận những thành tựu phát triển đất nước của Việt Nam trong công cuộc đổi mới

Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước được gần 40 năm và đạt rất nhiều thành tựu trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, được nhân dân ta ghi nhận và cộng đồng quốc tế đánh giá rất cao. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn đang ra sức chống phá nhằm xuyên tạc, phủ nhận những kết quả đã đạt được trong công cuộc đổi mới của nước ta. Nhận diện và phản bác những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch để góp phần khẳng định hơn nữa những kết quả không thể phủ nhận trong công cuộc đổi mới của Việt Nam.

Nhận diện một số luận điệu sai trái, thù địch

Những quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc nhữngthành tựu trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay tập trung trên những điểm sau:

Một là, xuyên tạc, phủ nhận những kết quả to lớn trong phát triển kinh tế của Việt Nam qua gần 40 năm đổi mới.

Không khó để nhận ra âm mưu chống phá của các phần tử chống đối với chiến thuật “mưa dầm thấm lâu”, “thay đổi thường xuyên, liên tục”, chúng luôn coi nhẹ, phủ nhận sạch trơn những thành tựu của công cuộc đổi mới; tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc, trái với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta; kết hợp chống phá đường lối chính trị với chống phá trên lĩnh vực kinh tế với phương thức “lấy kinh tế để chuyển hóa chính trị”.

Dựa vào những phương tiện truyền thông là các đài phát thanh, trang mạng phản động ở ngoài nước,các thế lực thù địch thường xuyên đăng tải các bài viết với nội dung xuyên tạc và bịa đặt trắng trợn về chính sách kinh tế của Việt Nam. Chúng vu cáo kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam là “sự lắp ghép khiên cưỡng”, “đầu Ngô mình Sở”. Chúng còn rêu rao rằng “đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta là chủ quan, duy ý chí, thiếu khoa học” và giờ đây đang gặp rất nhiều khó khăn từ những tác động tiêu cực của KTTT như: tình trạng phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư; năng lực quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước còn một số yếu kém...

Hai là, xuyên tạc, chống phá những thành tựu trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Lợi dụng những hạn chế trong công tác xây dựng Đảng, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, chúng cáo buộc Đảng ta đã thoái hóa, biến chất, không còn là Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập! Ngoài ra, các thế lực thù địch còn sử dụng chiêu bài "nội công, ngoại kích", bài xích Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là sự lựa chọn sai lầm, là chủ thuyết “lạc đường”, "đi ngược lại với xu thế phát triển của nhân loại"!

Ba là, xuyên tạc, phủ nhận những kết quả của Việt Nam trong thực hiện dân chủ, nhân quyền.

Thời gian qua, các phần tử cơ hội chính trị và chống đối cho rằng “ở Việt Nam không có dân chủ vì thực hiện chế độ nhất nguyên, nhất Đảng”. Chúng lợi dụng những khó khăn về các mặt của đời sống xã hội Việt Nam trong công cuộc đổi mới, những thiếu sót trong việc thực hiện chính sách pháp luật, chính sách xã hội... để vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp những cá nhân “bất đồng chính kiến, quan điểm”, "Việt Nam thiếu tự do, không có dân chủ, hạn chế quyền của công dân". Chúng bóp méo chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về dân tộc, tôn giáo... chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc với mưu đồ kích động mâu thuẫn, kích động biểu tình, bạo loạn “bất tuân dân sự”, gây mất trật tự an ninh chính trị và an toàn xã hội.

Có thể nhận thấy, các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch tấn công vào hầu hết các lĩnh vực trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của nước ta nhằm xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu to lớn của Việt Nam trong gần 40 năm đổi mới đất nước.

Đấu tranh, phản bác luận điệu phủ nhận thành tựu đổi mới ở việt nam

Thứ nhất, sau gần 40 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, đất nước phát triển nhanh và bền vững.      

Qua gần 40 năm đổi mới, nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN ở Việt Nam đã ngày càng được hoàn thiện và phát triển. Nhờ đó, "Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; lạm phát được kiểm soát ở mức 4%; các cân đối lớn của nền kinh tế nhìn chung được bảo đảm; thị trường tài chính - tiền tệ vẫn cơ bản ổn định". "Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã nhận định: Việt Nam là một điểm sáng "trong bức tranh xám màu" của kinh tế toàn cầu. Tăng trưởng kinh tế năm 2021 đạt 2,56%, trong khi nhiều nền kinh tế trên thế giới tăng trưởng âm; tăng trưởng kinh tế năm 2022 đạt 8,02%, cao hơn nhiều so với kế hoạch 6% - 6,5%, và là mức tăng cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới". Tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển của đất nước. "Thu nhập bình quân đầu người năm 2022 ước đạt 4,6 triệu đồng/người/tháng, tăng 9,5% so với năm 2021. Tỷ lệ nghèo tiếp cận đa chiều ước khoảng 3,6%, giảm 0,8 điểm phần trăm so với năm 2021; có 23,5% hộ gia đình nhận được sự trợ giúp từ các nguồn hỗ trợ khác nhau".

Nhờ những kết quả đã đạt được trong phát triển kinh tế mà niềm tin của nhân dân vào chế độ XHCN, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ngày càng được nâng cao, xã hội ngày càng đồng thuận. Đây cũng là bằng chứng thuyết phục cho thấy sự lựa chọn con đường lối đổi mới của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn chứ không phải là sự “lạc đường” như các thế lực thù địch thường rêu rao! Những thành tựu mà Việt Nam đạt được về kinh tế, chính trị... trong công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là những luận cứ thực tiễn đầy thuyết phục để tấn công trực diện vào những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Thứ hai, những thành tựu nổi bật về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong công cuộc đổi mới góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng hiện nay.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Toàn bộ thành tựu và thiếu sót của công cuộc đổi mới gắn liền với trách nhiệm lãnh đạo và hoạt động của Đảng. Sự lãnh đạo và hoạt động của Đảng là một nhân tố quyết định tạo ra những thành tựu của đổi mới... Sự tiến bộ và trưởng thành của Đảng cũng là một thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới, thậm chí có thể nói là thành tựu quan trọng nhất của công cuộc đổi mới”. Điều này được ghi nhận trong chủ trương, quyết sách của Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thông qua những nghị quyết chuyên đề đặc biệt về xây dựng Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 05 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"; Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm với nhiều điểm mới nổi bật...Từ đó, mỗi cán bộ, đảng viên có thể nhận thấy tinh thần nêu gương, thẳng thắn, lòng tự trọng, tính nghiêm túc trong công tác tự phê bình và phê bình, sửa chữa những khuyết điểm, khắc phục những hạn chế, "tự đổi mới", "tự chỉnh đốn", "tự soi", "tự sửa", để "nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện" trong công cuộc đổi mới chứ không phải là cách làm "chắp vá", "giật gấu vá vai" như những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch thường rêu rao.

Qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đảng, có thể nhận thấy chủ trương chỉ đạo công tác xây dựng Đảng, nhất là với việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí ngày càng đi vào thực chất. Tệ nạn tham nhũng được coi như là một loại “giặc nội xâm” cực kỳ nguy hiểm, luôn được Đảng ta xử lý khéo léo, chắc chắn và ráo riết! “Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện quyết liệt, toàn diện, đi vào chiều sâu, với quyết tâm chính trị rất cao, không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Vì vậy, rất nhiều vụ án tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng đã được đưa ra xử lý nghiêm minh, theo đúng các quy định của luật pháp; để lại những dấu ấn tốt đẹp, được nhân dân rất hoan nghênh, đồng tình cao, tạo hiệu ứng tích cực lan tỏa trong toàn xã hội, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. "Trong 10 năm qua (2012 - 2022), đã xử lý kỷ luật 2.740 tổ chức đảng và hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có hơn 190 cán bộ diện Trung ương quản lý (có 4 ủy viên Bộ Chính trị, nguyên ủy viên Bộ Chính trị; 36 ủy viên Trung ương, nguyên ủy viên Trung ương; hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang". Kết quả này đã chứng tỏ năng lực lãnh đạo, bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng ta trong việc phát hiện, điều tra, xử lý dứt khoát tình trạng tham nhũng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, với cả những người đã và đang giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo các cấp của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị. Do đó, phải nhận thức rõ rằng công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng ta không phải là “một cuộc đấu đá nội bộ” mà là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, để cho Đảng ta trong sạch hơn, bộ máy Nhà nước và cả hệ thống chính trị hoạt động hiệu quả hơn, để nhân dân ta luôn một lòng, một dạ sắt son tin yêu theo Đảng.

Thứ ba, Việt Nam là nước dân chủ, quyền tự do, dân chủ, nhân quyền của nhân dân luôn được tôn trọng và phát huy bằng chính sách hiệu quả, nhân văn, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ XHCN.

Bảo đảm quyền dân chủ, quyền con người là mục tiêu, là động lực trong công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam, đã được ghi nhận trong Cương lĩnh, Nghị quyết, Hiến pháp và được pháp luật tôn trọng, bảo vệ. Gần 80 năm qua, Hiến pháp nước ta đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, phát triển (1946, 1959, 1980, 1992, 2013) nhằm xác lập vào bảo đảm cho việc thực thi, phát triển quyền dân chủ, quyền con người Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, tôn giáo, dân tộc... Đảng, Nhà nước luôn lấy “nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

"Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, quy mô 14 tỷ USD (năm 1985), đến năm 2020 là 343 tỷ USD (tăng 24,5 lần)", "năm 2022 là 409 tỷ USD". Chỉ số Phát triển con người (HDI) của Việt Nam năm 2021 là 0,703, tăng hai bậc trong bảng xếp hạng toàn cầu, lên vị trí 115/191 quốc gia (Năm 2020 là 0,704, xếp thứ 110/189). Năm 2022, cả nước có "gần 29,8 triệu thẻ bảo hiểm xã hội/ sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát, tặng cho các đối tượng thụ hưởng... Đặc biệt, trong phòng, chống đại dịch Covid-19, truyền thống anh hùng, yêu nước, "thương người như thể thương thân" của dân tộc ta và tính ưu việt của chế độ ta lại được phát huy lên một tầm cao mới. Đây chính là những minh chứng thuyết phục nhất về quyền dân chủ, quyền con người được thực hiện ở Việt Nam. Việt Nam trở thành một trong những hình mẫu trên thế giới về chính sách ưu việt phát huy quyền làm chủ của nhân dân: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, là câu chuyện thành công truyền cảm hứng cho bạn bè năm châu và được các nước tiến bộ trên thế giới ghi nhận. Chính vì lẽ đó, mà Việt Nam được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc cũng như hoàn thành nhiều trọng trách quốc tế như: Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 và 2020-2021, Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016, 2023-2025; Hội đồng Kinh tế-Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018… Những kết quả trên là sự thật mà không một thế lực phản động nào có thể đảo ngược, là sự khẳng định nhất quán rằng quyền dân chủ, quyền con người, quyền công dân đã và đang được bảo vệ vững chắc ở Việt Nam; cũng là ý kiến phản biện đanh thép nhất đối với những luận điệu phủ nhận về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Cho nên, mọi hoạt động đóng vai trò "quan tòa nhân quyền thế giới" theo các giá trị nhân quyền, dân chủ tư sản của một số nước tư bản phương Tây để áp đặt vào Việt Nam chỉ là ngụy biện, là muốn phá hoại thành tựu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam theo phương châm "bẻ đũa từng que", là vì lợi ích của chúng chứ không phải vì sự tiến bộ và phát triển của Việt Nam.

Những thành tựu xây dựng đất nước trong công cuộc đổi mới của Việt Nam đã khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo vững vàng, sáng suốt của Đảng, Nhà nước cùng sự đoàn kết nhất trí của cả hệ thống chính trị; phát huy các giá trị truyền thống và tinh thần đại đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường của toàn dân tộc; là uy tín, là sự tín nhiệm, đồng tình, ủng hộ tuyệt đối của cộng đồng quốc tế.

Thời gian tới, "với định hướng đúng đắn, khát vọng phát triển mạnh mẽ và quyết tâm chính trị cao, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhất định sẽ lập nên thành tựu phát triển mới vì một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc ta". Điều này vừa thể hiện quyết tâm, nỗ lực lớn của cả hệ thống chính trị, song đây tiếp tục là bằng chứng thuyết phục để đấu tranh phản bác có hiệu quả các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam.

Vững bước trên con đường vẻ vang với tinh thần Tuyên ngôn Độc lập

Cách đây tròn 78 năm, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Cách mạng Tháng Tám thành công với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc, mở ra kỷ nguyên mới-độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Tuyên ngôn Độc lập là văn bản pháp lý đặt cơ sở cho việc khẳng định thiết lập nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, với mục tiêu "Độc lập-Tự do-Hạnh phúc", khơi nguồn sáng tạo và soi sáng con đường cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Người nhấn mạnh quan điểm: "nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì" để từ đó xác định mục tiêu đưa con thuyền cách mạng nước ta đi đến thắng lợi trong công cuộc đấu tranh, giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước đến ngày hôm nay.

Nhớ về mốc son lịch sử Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945, chúng ta càng trân quý những giá trị tư tưởng vĩ đại về quyền con người do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng trong Tuyên ngôn Độc lập. Đó là những giá trị bất hủ, vẫn còn mang tính thời sự.

Trong thời đại mới hôm nay, toàn Đảng, toàn dân không ngừng phấn đấu vì quyền con người và đạt được nhiều kết quả tích cực, quan trọng, đưa đất nước Việt Nam phát triển. Đặc biệt sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa và hội nhập, vượt qua bao khó khăn, thách thức, đất nước gặt hái nhiều thành tựu to lớn rất đỗi tự hào.

Vững bước trên con đường vẻ vang, đất nước ta đang nỗ lực thực hiện thắng lợi mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

Đó là tăng trưởng kinh tế luôn duy trì ở mức khá cao, đời sống nhân dân được cải thiện; ổn định chính trị-xã hội được giữ vững; quốc phòng-an ninh được bảo đảm. Bằng cố gắng và quyết tâm chính trị mạnh mẽ, thể chế pháp luật ngày càng hoàn thiện, góp phần đưa đất nước phát triển trên nhiều lĩnh vực và mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới toàn diện trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực dự báo còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, tạo ra cả thời cơ và không ít thách thức.

Một trong những nguy cơ ảnh hưởng tới sự tồn vong của chế độ là tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí; sự suy thoái chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã và đang làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

Trong khi đó, các thế lực thù địch luôn tìm cách phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, bôi nhọ, bóp méo sự thật, hòng phá hủy những thành quả tốt đẹp mà nhân dân ta đã gây dựng. Thực tế đó đòi hỏi công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được tiến hành quyết liệt, nghiêm túc hơn nữa để Đảng ta thật sự là đạo đức, là văn minh.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thường xuyên trau dồi đạo đức, tri thức, nghiệp vụ để có thể hoàn thành tốt công việc được giao. Không ngừng học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải nỗ lực thực hiện để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự của nhân dân, do nhân dân, và vì nhân dân.

Thời gian qua, khắc phục tình trạng bị động, lúng túng và thiếu toàn diện trong công tác lập pháp, Đảng đoàn Quốc hội đã trình với Bộ Chính trị để ban hành Kết luận 19-KL/TW; qua đó đưa ra định hướng xây dựng pháp luật của cả nhiệm kỳ để cụ thể hóa và thể chế hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII; tạo điều kiện cho Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và các cơ quan hữu quan chủ động hơn, bao quát hơn trong xây dựng pháp luật - chức năng căn bản và quan trọng nhất của Quốc hội.

Thông điệp mạnh mẽ, thống nhất và xuyên suốt đó được các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước chuyển tải trên nhiều diễn đàn lớn, tạo sức lan tỏa. Quan điểm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một bộ phận quan trọng trong hệ thống quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, đã nhấn mạnh rất rõ tính chất "là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội".

Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9/11/2022, của Hội nghị Trung ương 6, khóa XIII xác định, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần "đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, kiên trì, hiệu quả; thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Bài học và tinh thần bất diệt của Quốc khánh 2/9 mãi mãi cổ vũ, soi đường chúng ta đi, với niềm tin và quyết tâm thực hiện thật tốt tinh thần di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nhà nước pháp quyền do dân là chủ và dân làm chủ; Nhà nước pháp quyền phải có "thần linh pháp quyền" và "thượng tôn pháp luật"; Nhà nước "liêm khiết", vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ cùng những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu mãi mãi soi đường cho chúng ta đi, đưa đất nước tiến tới mục tiêu phồn vinh, hạnh phúc.

CÁCH MẠNG TRẮNG – ÂM MƯU BIẾN VIỆT NAM THÀNH UCRAINA THỨ 2

 Henry Kissinger từng tuyên bố: “Những gì mà mấy chục năm nay nước Mỹ không làm được ở trên đất nước này, thì con cháu của các ngài, thế hệ trẻ Việt Nam trong tương lai, sẽ giúp nước Mỹ thực hiện được giấc mơ của người Mỹ. Hai mươi năm sau chúng tôi sẽ trở lại Việt Nam. Không phải với xe tăng, đại bác, chiến hạm hay pháo đài bay mà bằng xấp đô la.


CÁI BẮT TAY THẬT SÂU SẮC!

 Nhìn kỹ bức ảnh Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bắt tay Tổng thống Biden chúng ta mới thấy rõ sự sâu sắc về trí tuệ, bản lĩnh, phong thái của người đứng đầu Hệ thống Chính trị của Việt Nam trước một vị lãnh đạo cường quốc Hoa Kỳ.


ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC HOẠT ĐỘNG GÌN GIỮ HÒA BÌNH LHQ CỦA QĐND VIỆT NAM

 Tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (LHQ) của Quân đội nhân dân Việt Nam là thực hiện sứ mệnh quốc tế cao cả, thể hiện vai trò, trách nhiệm của nước ta với thế giới. Hình ảnh quân nhân “Mũ nồi xanh” Việt Nam hoạt động gìn giữ hòa bình tại châu Phi đã nâng cao vị thế của Quân đội ta trong hội nhập quốc tế, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động lại có những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận tinh thần nghĩa vụ quốc tế cao cả của Quân đội nhân dân Việt Nam. Vì thế, chúng ta cần nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái đó.


Cảnh giác trước sự xuyên tạc của các thế lực xấu hòng chống phá Nhà nước và chế độ ở nước ta

 Vấn đề đất đai ở một số địa phương đang bị các thế lực thù địch xuyên tạc


Các thế lực thù địch, phản động đang lợi dụng việc thu hồi đất để xây dựng khu đô thị mới trên địa bàn tỉnh để xuyên tạc, tuyên truyền sai sự thật.
Thậm chí, kẻ xấu còn lấy hình ảnh, thông tin vụ bắn chết người do tranh chấp đất đai giữa Cty TNHH Hương Long với người dân xung quanh, xảy ra từ năm 2016, để xuyên tạc rằng Nhà nước đang “cướp” đất của người dân.
Trước đó, vào tháng 5/2020, UBND tỉnh đã phê duyệt chủ trương đầu tư dự án xây dựng, mở rộng khu đô thị phía nam của tỉnh, đồng thời cũng đã phê duyệt phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ, tái định cư cho các hộ dân bị ảnh hưởng. Đại đa số các hộ gia đình trong phạm vi phải thu hồi đất thể hiện quan điểm ủng hộ dự án. Tuy nhiên, trong quá trình giải phóng mặt bằng từ cuối năm 2022 đến nay gặp một số vướng mắc, đặc biệt là một số hộ dân không chịu di dời, bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư. Mặc dù UBND tỉnh, UBND huyện và đại diện chủ đầu tư đã có nhiều buổi làm việc, đối thoại chính thức với đại diện của hơn 20 hộ dân chưa bàn giao mặt bằng cho dự án, tuy nhiên vẫn còn lại 8 hộ dân không đồng ý di dời và đã thể hiện thái độ chống đối chính quyền.
Trong quá trình tổ chức cưỡng chế giải phóng mặt bằng, một nhóm đối tượng quá khích tại địa phương, được sự hậu thuẫn của các phần tử phản động, cơ hội chính trị bên ngoài lôi kéo, tác động đã kịch liệt chống đối, ngăn cản các cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ, kích động nhân dân tụ tập đông người nhằm phản đối việc triển khai dự án với yêu sách đòi tăng tiền bồi thường giải phóng mặt bằng. Tại thực địa, đã xuất hiện một số đối tượng thuộc các nhóm “dân chủ”, “dân oan” đang lợi dụng tình hình phức tạp để chụp ảnh, ghi âm, ghi hình, tán phát lên Internet, mạng xã hội hòng tạo áp lực đòi chính quyền phải đáp ứng các yêu sách và kêu gọi sự ủng hộ của các đối tượng phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước. Một số đối tượng lợi dụng vụ việc để thu thập tài liệu, cung cấp cho các đối tượng phản động lưu vong ở nước ngoài để tuyên truyền chống phá, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo tỉnh ủy và UBND tỉnh, xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ.