Kinh tế “Đuôi dài” là hình ảnh minh họa sự kéo dài của rất nhiều sản phẩm hạng thấp được bán cho người tiêu dùng tạo nên một doanh thu đáng kể trong kinh tế đuôi dài. Sản phẩm điển hình trong kinh tế đuôi dài là sách, ca khúc (âm nhạc),… được số hóa. Lợi thế của số hóa là cung cấp các kho lưu trữ có dung lượng “vô hạn” và cơ chế tự phục vụ tạo nên tập các thị trường (được gọi là kinh tế đuôi dài) trong đó các sản phẩm “hạng” thấp tìm được nhiều người tiêu dùng sử dụng.
Thứ Tư, 4 tháng 10, 2023
Phát triển kinh tế dịch vụ
Theo nghĩa rộng, mọi nền kinh tế đều
là kinh tế dịch vụ (dịch vụ là nền tảng của trao đổi mà không phải là hàng hóa).
Khu vực dịch vụ có tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ nền kinh tế, vì vậy, kinh tế
dịch vụ được coi như một khung lĩnh vực của kinh tế số.
Theo nghĩa hẹp, thành phần kinh tế
dịch vụ trong kinh tế số bao gồm tính toán đám mây (cloud computing) và họ “X
là một dịch vụ” (“X as a service”: “XaaS”) chẳng hạn, Hạ tầng là một dịch vụ
(Infrastructure as a Service: IaaS), Nền tảng là một dịch vụ (Platform as a
Service: PaaS), Phần mềm là một dịch vụ (Software as a Service: SaaS), Thông
tin là một dịch vụ (Information as a Service: INaaS), Quy trình là một dịch vụ
(Business Process as a Service: BPaaS), Trí tuệ nhân tạo (TTNT) là một dịch vụ
(AI as a Service: AIaaS),…
, phát triển kinh tế dịch vụ
Theo nghĩa rộng, mọi nền kinh tế đều
là kinh tế dịch vụ (dịch vụ là nền tảng của trao đổi mà không phải là hàng hóa).
Khu vực dịch vụ có tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ nền kinh tế, vì vậy, kinh tế
dịch vụ được coi như một khung lĩnh vực của kinh tế số.
Theo nghĩa hẹp, thành phần kinh tế
dịch vụ trong kinh tế số bao gồm tính toán đám mây (cloud computing) và họ “X
là một dịch vụ” (“X as a service”: “XaaS”) chẳng hạn, Hạ tầng là một dịch vụ
(Infrastructure as a Service: IaaS), Nền tảng là một dịch vụ (Platform as a
Service: PaaS), Phần mềm là một dịch vụ (Software as a Service: SaaS), Thông
tin là một dịch vụ (Information as a Service: INaaS), Quy trình là một dịch vụ
(Business Process as a Service: BPaaS), Trí tuệ nhân tạo (TTNT) là một dịch vụ
(AI as a Service: AIaaS),…
Một số giải pháp phát huy giá trị Bộ bản đồ và tư liệu trong công tác thông tin, tuyên truyền hiện nay
Hiện nay, các nước trong và ngoài khu vực đều có chiến lược tuyên truyền về bảo vệ các chính sách của mình tại biển Đông, phản bác yêu sách của các nước khác, làm dư luận hiểu không đúng bản chất vấn đề Biển Đông. Thực tế này đặt ra những yêu cầu mới về công tác thông tin, tuyên truyền về biển, đảo nói chung và phát huy giá trị Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” nói riêng, do đó cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Một là, thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền giá trị Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” một cách bài bản, chắc chắn ngay từ cấp cơ sở. Theo đó, tại mỗi đơn vị hành chính cấp xã, cần có một bản sao Bộ bản đồ và tư liệu, đồng thời bố trí không gian trưng bày phù hợp, tùy điều kiện mỗi địa phương. Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về tuyên truyền biển, đảo cho cán bộ cấp cơ sở phụ trách công tác thông tin, tuyên truyền nhằm thông tin sâu rộng về giá trị Bộ bản đồ và tư liệu đến đông đảo nhân dân.
Về lâu dài, đây là điều cần thiết để những tư liệu, bản đồ thể hiện chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa được đông đảo nhân dân dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu, đặc biệt là thế hệ trẻ. Từ đó, giúp mỗi người dân có được những kiến thức cơ bản về chủ quyền quốc gia trên Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Đồng thời, những tư liệu sinh động từ Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” là điều kiện cần thiết để mỗi người dân nhận thức sâu sắc hơn giá trị thiêng liêng về chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc đã được định hình xuyên suốt chiều dài lịch sử; từ đó bồi đắp ý chí, nuôi dưỡng quyết tâm đối với công cuộc đấu tranh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay.
Hai là, kịp thời chuẩn hóa tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong những năm qua, đặc biệt là khi Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 11-12-2012 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác sưu tầm, thẩm định, công bố, sử dụng các tài liệu, bản đồ, ấn phẩm và khen thưởng đối với các cá nhân, tổ chức đã sưu tầm và hiến tặng tài liệu liên quan đến chủ quyền biển, đảo Việt Nam được ban hành, công tác sưu tầm, thẩm định các tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đã được tiến hành nghiêm túc, cẩn trọng, với sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân, chuyên gia nghiên cứu về biển, đảo.
Trên cơ sở những kết quả sưu tầm, thẩm định, cần chuẩn hóa các tư liệu, bản đồ thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa cả về hình thức lẫn giá trị khoa học, pháp lý; đồng thời bổ sung vào Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” một cách đầy đủ, toàn diện.
Bên cạnh đó, nguồn tư liệu, bản đồ sau khi được chuẩn hóa cần được xây dựng thành cơ sở dữ liệu số một cách hệ thống và được cập nhật trên các trang thông tin của các cơ quan, tổ chức nhà nước có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, nghiên cứu, tuyên truyền về biển, đảo. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc tìm hiểu, nghiên cứu, tra cứu tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa một cách nhanh chóng, dễ dàng; tránh được việc viện dẫn, sử dụng tư liệu về Hoàng Sa, Trường Sa trôi nổi trên không gian mạng, chưa được kiểm chứng hoặc chứa yếu tố phản ánh sai lệch chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông.
Ba là, thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền về Bộ bản đồ và tư liệu một cách khoa học, có trọng tâm, trọng điểm. Trong bối cảnh hiện nay, ngoài việc trưng bày, triển lãm Bộ bản đồ và tư liệu theo kế hoạch thường niên và các sự kiện quan trọng hằng năm của mỗi tổ chức, đơn vị; cần đẩy mạnh việc tuyên truyền, giới thiệu Bộ bản đồ và tư liệu, đặc biệt là các tư liệu mới phát hiện, bổ sung… tại các diễn đàn học thuật. Đây là một kênh quan trọng giúp cho việc lan tỏa những bằng chứng lịch sử và pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đến giới nghiên cứu… từ đó thúc đẩy việc minh chứng, khẳng định chủ quyền hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông trên các diễn đàn, ấn phẩm khoa học.
Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp nhằm tổ chức các đợt trưng bày, triển lãm Bộ bản đồ và tư liệu tại nước ngoài nhiều hơn, hướng đến đối tượng là bạn bè quốc tế và đồng bào ta ở nước ngoài. Trên cơ sở Bộ bản đồ và tư liệu hiện có, nên có sự lựa chọn những tư liệu, bản đồ, hình ảnh tiêu biểu của mỗi chủ đề; đồng thời biên dịch sang ngôn ngữ các nước có đông người Việt Nam đang sinh sống, công tác, học tập và lao động để xây dựng thành ấn phẩm thông tin phù hợp. Qua đó, mỗi người Việt ở nước ngoài đều có thể sử dụng, giới thiệu về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đến bạn bè quốc tế một cách thiết thực, hiệu quả.
Bốn là, bổ sung, hoàn thiện hệ thống tư liệu về chủ trương, quan điểm, lập trường của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề Biển Đông cũng như chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Đây là một nội dung rất quan trọng, cần được sắp xếp khoa học, hợp lý theo diễn tiến lịch sử, thể hiện lập trường nhất quán của Việt Nam đối với vấn đề chủ quyền trên Biển Đông. Đồng thời, quan điểm, chính sách và hành động của Việt Nam giai đoạn gần đây cần được khắc họa cụ thể, rõ nét nhằm thể hiện tính chính nghĩa, tôn trọng luật pháp quốc tế cũng như tinh thần hòa hiếu của Việt Nam trong giải quyết các bất đồng, tranh chấp trên Biển Đông.
Điều này góp phần thể hiện ý chí, quyết tâm trước sau như một của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; qua đó vừa củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân với công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền đất nước trên Biển Đông, vừa lan tỏa tính hợp pháp, chính nghĩa, chủ trương giải quyết các bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình của Việt Nam đến bạn bè quốc tế; tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế đối với Việt Nam trong chính sách, lập trường, hành động và ứng xử đối với các vấn đề liên quan đến chủ quyền trên Biển Đông.
Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” là bằng chứng xác đáng, đanh thép khẳng định chủ quyền hợp pháp, không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Phát huy giá trị Bộ bản đồ và tư liệu trong công tác thông tin, tuyên truyền hiện nay là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng, góp phần củng cố, nâng cao nhận thức của nhân dân về vấn đề chủ quyền biển, đảo đất nước; thể hiện chủ quyền hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông đến đông đảo bạn bè quốc tế; đồng thời đấu tranh, phản bác với những quan điểm xuyên tạc chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là cơ sở vững chắc nhằm góp phần thực hiện tốt công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng trong bối cảnh hiện nay./.
Công tác thông tin, tuyên truyền về Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”
Trong những năm qua, Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” đã được giới thiệu, thông tin, tuyên truyền rộng rãi trên cả nước; đồng thời giới thiệu đến đông đảo bà con người Việt ở nước ngoài và bạn bè quốc tế. Trong đó, “Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức nhiều cuộc triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại 63 tỉnh thành, phố trực thuộc Trung ương; 24 đơn vị lực lượng vũ trang, lực lượng kiểm ngư; 11 huyện, thành phố”.
Tính riêng trong năm 2019, Bộ Thông tin và Truyền thông đã “tổ chức triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại 5 đại học, trường đại học trên toàn quốc”, thu hút sự tham gia tìm hiểu về biển, đảo đất nước ở giới trẻ, đặc biệt là sinh viên.
Để lan tỏa hình ảnh đất nước, con người Việt Nam gắn với biển, đảo đến bạn bè quốc tế, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức 3 triển lãm ảnh, tư liệu với chủ đề “Việt Nam đất nước, con người - Nhìn từ biển, đảo” tại nước ngoài (Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Séc và Liên bang Nga), trong đó có những tư liệu, bản đồ thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Bên cạnh đó, để đổi mới, đa dạng hóa phương thức tuyên truyền qua ứng dụng công nghệ thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông đã xây dựng nội dung triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”; từng bước nâng cấp công nghệ, chất lượng đồ họa, bổ sung tư liệu dựa trên cơ sở dữ liệu được số hóa nhằm thực hiện có hiệu quả việc thông tin, tuyên truyền chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông đến các đối tượng tuyên truyền ở mọi lúc, mọi nơi, thông qua mạng internet, thiết bị di động thông minh.
Giai đoạn 2015 - 2020, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức 61 cuộc triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn 21 tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Trong năm 2019, Bộ Thông tin và Truyền thông đã “Tổ chức triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại 28 trường trung học phổ thông trên địa bàn 10 tỉnh trên toàn quốc”.
Trên cơ sở dữ liệu của Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” được Bộ Thông tin và Truyền thông cung cấp, trao tặng (là bản sao chụp và phần mềm số của Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”), nhiều địa phương, đơn vị đã chủ động xây dựng kế hoạch và thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền về Bộ bản đồ và tư liệu đến đông đảo cán bộ, đảng viên, người lao động và nhân dân trên địa bàn.
Đơn cử như tại Khánh Hòa, “Giai đoạn 2017 - 2020, Sở Thông tin và Truyền thông đã tổ chức triển lãm lưu động và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa tại 7 huyện, thị xã, thành phố. Qua 7 đợt triển lãm (triển lãm kéo dài 3 ngày tại mỗi địa phương), đã đón tiếp 12.229 lượt người đến tham quan, tìm hiểu về triển lãm… Tổ chức 3 đợt triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại 3 trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Nha Trang, thu hút 4.750 giáo viên và học sinh tham dự”.
Nguồn tư liệu quý từ Bộ bản đồ và tư liệu đã được sử dụng trong các công trình nghiên cứu khoa học, xây dựng nội dung tuyên truyền về biển, đảo… góp phần không nhỏ nhằm lan tỏa giá trị Bộ bản đồ và tư liệu này đến mọi tầng lớp nhân dân những năm gần đây. Ngoài ra, những bản đồ, tư liệu quý này đã được các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các nhà báo, phóng viên… lựa chọn, sử dụng trong các bài viết, nghiên cứu cũng như đấu tranh với những luận điệu sai trái, xuyên tạc chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đặc biệt là trên không gian mạng, góp phần không nhỏ vào công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc hiện nay.
Nhìn tổng thể, công tác thông tin, tuyên truyền về Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng:
Một là, Bộ bản đồ và tư liệu là những minh chứng sống động, xác đáng, giúp cho đông đảo nhân dân có một cái nhìn đầy đủ, trung thực về chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là hoàn toàn phù hợp, đáp ứng các tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ, phù hợp với các quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Hai là, Bộ bản đồ và tư liệu đã góp phần khẳng định lập trường chính nghĩa của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Qua đó khắc sâu ý thức về chủ quyền quốc gia trên biển đối với mỗi người dân Việt Nam; nâng cao tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn dân trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Ba là, Bộ bản đồ và tư liệu đã giúp đồng bào ta ở nước ngoài cũng như bạn bè quốc tế có cách nhìn khách quan, trung thực về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông. Điều này góp phần gắn kết bà con kiều bào với nhiệm vụ bảo vệ biển, đảo quê hương cũng như tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với lập trường, ứng xử và hành động của Việt Nam liên quan đến vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Bốn là, những bằng chứng lịch sử và pháp lý mà Bộ bản đồ và tư liệu thể hiện là căn cứ vững chắc để Việt Nam đấu tranh bằng con đường ngoại giao, pháp lý, bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; đồng thời bác bỏ những yêu sách chủ quyền vô căn cứ từ phía Trung Quốc.
Bên cạnh đó, công tác thông tin, tuyên truyền giá trị Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” cũng có một số nội dung cần quan tâm:
Thứ nhất, bản sao chụp Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” đã được Bộ Thông tin và Truyền thông trao tặng cho nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị trên cả nước. Tuy nhiên, phát huy giá trị Bộ bản đồ và tư liệu vào hoạt động triển lãm, thông tin, tuyên truyền chưa có sự đồng nhất, mà còn tùy thuộc vào cách thức tổ chức và sự quan tâm của mỗi tổ chức, đơn vị.
Thứ hai, Bộ bản đồ và Tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” hiện có là những bản đồ, tư liệu đã được thẩm định nghiêm túc, kỹ lưỡng. Tuy nhiên hiện nay, trên thị trường và không gian mạng có rất nhiều tư liệu trôi nổi liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa chưa được kiểm chứng về giá trị và tính xác thực. Điều này ảnh hưởng không nhỏ về tính đồng nhất đối với những bản đồ, tư liệu thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Thứ ba, nội dung bộ bản đồ và tư liệu trong những năm qua thường được tập trung trưng bày, giới thiệu tại các địa phương, đơn vị, các trường học, trường đại học… còn tại các diễn đàn học thuật, hội thảo khoa học các cấp chưa được chú trọng thông tin, tuyên truyền; mặc dù đây là kênh có thể phổ biến, lan tỏa những bằng chứng lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa đến công chúng cũng như giới học thuật.
Thứ tư, hệ thống các quan điểm, chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vấn đề Biển Đông, đặc biệt là lập trường, quan điểm về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa chưa được xây dựng thành một chủ đề riêng, trình bày đầy đủ và bao quát.
Thứ năm, công tác thông tin, tuyên truyền về giá trị Bộ bản đồ và tư liệu đối với đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế chưa được tổ chức nhiều để tạo sự lan tỏa mạnh mẽ về chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như lập trường, quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề Biển Đông./.
Tổng quan về Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”
Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” là hệ thống các bản đồ, tư liệu, hình ảnh đặc sắc, có giá trị lịch sử và pháp lý cao, thể hiện chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đây là kết quả của quá trình nghiên cứu, tìm kiếm công phu, kỹ lưỡng; được Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với các bộ, ngành và các nhà khoa học, các nhà sưu tầm trong và ngoài nước tiến hành sưu tầm, thẩm định các tư liệu, bản đồ của Việt Nam, nước ngoài để xây dựng Bộ bản đồ và tư liệu này. Nguồn tư liệu và bản đồ có sự đóng góp rất lớn từ các đơn vị như Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I; Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng, Ủy ban Nhân dân huyện Hoàng Sa... cùng một số tổ chức, cá nhân khác.
Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” gồm các bản đồ, tư liệu, hình ảnh được sắp xếp thành các nhóm chính: Hoàng Sa, Trường Sa trong thư tịch cổ và bản đồ cổ Việt Nam; Bản đồ xuất bản tại phương Tây (thế kỷ XVI - XIX) ghi nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; Bản đồ Trung Quốc do phương Tây và Trung Quốc xuất bản (thế kỷ XVI - XX) xác nhận hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc về Trung Quốc; Hoàng Sa, Trường Sa trong thời kỳ Pháp thuộc và cho đến trước năm 1975; Một số tư liệu, hình ảnh về biển, đảo và công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.
Giá trị Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” thể hiện qua các nội dung chính sau:
Trước hết, Bộ bản đồ và tư liệu đã cho thấy, Nhà nước Việt Nam là chủ thể duy nhất đã khai phá, xác lập và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ thế kỷ XVII bằng con đường hòa bình, liên tục và không có tranh chấp đến năm 1909. Điều này đã được thể hiện qua các nguồn sử liệu phong phú như Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá soạn năm 1686; Phủ biên tạp lục do Lê Quý Đôn biên soạn năm 1776; Hoàng Việt địa dư chí (1833); Đại Nam thực lục chính biên (1844 - 1848); Việt sử cương giám khảo lược (1876); Quốc triều chính biên toát yếu (1910)… Các tài liệu chính sử của Nhà nước Việt Nam như Đại Nam thực lục.
Đặc biệt, nội dung về các hoạt động quản lý và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn được phản ánh đậm nét và cụ thể trong các Châu bản triều Nguyễn. Đây là các văn bản hành chính chính thức của triều đình nhà Nguyễn, có dấu phê duyệt của Hoàng đế và ấn tín các cơ quan nhà nước nên mang tính pháp lý rất cao.
Thứ hai, Bộ bản đồ và tư liệu đã cho thấy chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được khẳng định và ghi nhận tại các hội nghị quốc tế quan trọng mà không có bất kỳ sự phản đối nào từ các quốc gia tham dự.
Tại hội nghị San Francisco (từ ngày 4 đến 8-9-1951, với sự tham dự của 51 quốc gia), Trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng chính quyền Bảo Đại, ông Trần Văn Hữu đã tuyên bố: “...để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, những quần đảo luôn thuộc về Việt Nam” mà không gặp bất cứ sự phản đối hoặc bảo lưu quốc tế nào.
Theo diễn tiến lịch sử, từ Tuyên bố Cai-rô ngày 27-11-1943 và Tuyên ngôn Hội nghị Postdam ngày 26-7-1945 khẳng định lại nội dung Tuyên bố Cai-rô cho đến Hòa ước San Francisco (ký ngày 8-9-1951), các văn kiện pháp lý quốc tế nói trên đã không xác nhận chủ quyền của bất cứ quốc gia nào khác đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Thứ ba, các tư liệu, bản đồ từ phương Tây đã mặc nhiên khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những thực thể địa lý thuộc lãnh thổ của Việt Nam; đồng thời, những bản đồ vẽ lãnh thổ Trung Quốc do phương Tây và chính Trung Quốc xuất bản đều xác nhận lãnh thổ cực Nam của Trung Quốc chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam, không có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Tiêu biểu như bản đồ của anh em nhà Van Langren (người Hà Lan) vẽ năm 1595. Bản đồ vẽ khá chi tiết, hình vẽ Hoàng Sa rõ ràng và điển hình, ghi rõ I.de Pracel. Quần đảo Hoàng Sa cùng với dải bãi ngầm và bãi cát Hoàng Sa được phân biệt rõ ràng với các đảo Pulo S.polo (Cù Lao Chàm), Pulo Catam (Cù Lao Ré), Pulo Cambir (Cù Lao Xanh)… ở ven bờ.
Bản đồ An Nam đại quốc họa đồ, do Giám mục người Pháp Jean Louis Taberd vẽ và nằm trong phụ bản của cuốn sách Dictionarium latino-anamiticum (Từ điển Latinh - An Nam), được xuất bản tại Calcutta (Ấn Độ) năm 1838 có ghi dòng chữ Latinh: Paracel seu Cát Vàng, nghĩa là “Paracel hoặc là Cát Vàng” để chỉ quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam. Đặc biệt là bộ Atlas Universel do Philippe Vandermaelen (1795 - 1869), nhà địa lý học người Bỉ, người sáng lập Viện Địa lý Hoàng gia Bỉ biên soạn, xuất bản tại Bruxelles (Bỉ) vào năm 1827(2). Tờ bản đồ Partie de la Cochinchine ở tập 2 khẳng định Paracels (quần đảo Hoàng Sa) là thuộc Việt Nam. Điều này cho thấy sự thống nhất giữa bản đồ quốc tế và Việt Nam về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Nhiều bản đồ Trung Quốc do phương Tây vẽ đều ghi nhận lãnh thổ cực Nam Trung Quốc là đảo Hải Nam. Bản đồ Trung Quốc do các nhà nước Trung Quốc xuất bản và phát hành chính thức cũng đều thể hiện nhất quán như vậy. Đáng chú ý là bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ (do nhà Thanh xuất bản năm 1904), thể hiện lãnh thổ cực Nam của Trung Quốc chỉ giới hạn ở đảo Hải Nam. “Tấm bản đồ hơn trăm năm này không chỉ mang đến những thông tin lịch sử giá trị mà tự thân nó nói lên một thông điệp rằng, từ năm 1904, trong nhận thức của người Trung Quốc, cực nam đất nước của họ chỉ đến đảo Hải Nam. Đồng nghĩa, đây là một bằng chứng tư liệu do chính Trung Quốc xuất bản khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc chủ quyền của Trung Quốc”(3).
Ngoài ra, Bộ bản đồ và tư liệu còn có các bản đồ Việt Nam từ thế kỷ XVI - XIX ghi nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tiêu biểu như Đại Nam nhất thống toàn đồ do vua Minh Mạng cho vẽ vào năm 1838, có thể hiện hai địa danh Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa bằng chữ Hán. Bản đồ vẽ hình thế tỉnh Quảng Ngãi trong tập Nam Việt bản đồ, biên soạn vào thế kỷ XIX. Chú dẫn phía trên bản đồ này có miêu tả địa danh Bãi Cát Vàng bằng chữ Nôm, ở ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi.
Các tư liệu của phương Tây xuất bản từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, trong đó có những trang văn bản miêu tả về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như quá trình người Việt đến hai quần đảo này để khai thác hải sản, cắm mốc chủ quyền và thực thi chủ quyền. Tiêu biểu như sách Tableau de la Cochinchine do E. Cortambert và Léon de Rosny biên soạn, xuất bản tại Paris năm 1862, viết về vương quốc Cochinchine. Trang 7 liệt kê Paracel trong bảng miêu tả về Cochinchine và ghi rõ: “đối diện với Huế là quần đảo Paracels tức là Kat-vang (Cát Vàng)”, khẳng định Paracels (tức quần đảo Hoàng Sa) chắc chắn thuộc về Việt Nam.
Về thời kỳ Pháp thuộc và cho đến trước năm 1975, Bộ bản đồ và tư liệu có các hình ảnh về quá trình chiếm giữ và thực thi chủ quyền của chính quyền Việt Nam và chính quyền Pháp ở Đông Dương trong những năm 1936 - 1954. Đây là những tư liệu được Ủy ban Biên giới Quốc gia - Bộ Ngoại giao cung cấp và một số hình ảnh hiện đang được lưu trữ tại UBND huyện Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng. Tiêu biểu như Nghị định số 4702-CP ngày 21-12-1933 của Thống đốc Nam Kỳ M.J. Krautheimer ký (Nghị định sáp nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba, nhóm Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ vào địa phận tỉnh Bà Rịa). Hình ảnh tấm bia khẳng định chủ quyền do một đơn vị lính bảo an người Việt dựng trên đảo Hoàng Sa vào tháng 6-1938. Trên bia có khắc dòng chữ: “République Francaise - Empire d’Annam - Archipels des Paracels 1816 - Ile de Pattle 1938” (Cộng hòa Pháp - Đế chế An Nam - Quần đảo Hoàng Sa 1816 - Đảo Hoàng Sa 1938).
Thời kỳ Việt Nam Cộng hòa có các công văn, phiếu trình, văn bản hành chính liên quan đến công tác quản lý, thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa như cử quân đội bảo an người Việt ra đóng giữ ở các đảo Hoàng Sa, Trường Sa; công văn và tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa về việc vi phạm của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.
Cùng với đó, Bộ bản đồ và tư liệu còn có những tài liệu, hình ảnh, thể hiện sự quan tâm, tình cảm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, quân đội, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân và đồng bào ta ở nước ngoài với những hành động thiết thực, chung sức bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Điều này đã khẳng định sự đoàn kết, quyết tâm, ý chí trước sau như một của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc Việt Nam đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa./.
PHÒNG CHỐNG CHIẾN LƯỢC "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" - NHIỆM VỤ QUAN TRỌNG, LÂU DÀI CỦA TOÀN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ NHÂN DÂN VIỆT NAM!
KHÔNG THỂ ĐÁNH ĐỒNG HIỆN TƯỢNG
VỚI BẢN CHẤT, CÁ NHÂN VỚI TẬP THỂ
Lợi dụng vi phạm của một số cán bộ, đảng viên,
các thế lực phản động, thù địch tìm mọi cách hạ thấp uy tín nhằm phủ nhận tiến
tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; gây chia rẽ nội bộ Đảng và làm suy giảm
lòng tin của nhân dân. Đây là thủ đoạn chống phá nguy hiểm cần sớm nhận diện và
đấu tranh loại bỏ.
Thời gian vừa qua, cán bộ lãnh đạo của một số
địa phương đã bị cơ quan chức năng khởi tố, tạm giam do có hành vi vi phạm quy
định của pháp luật. Vi phạm của các cá nhân này đã gây hậu quả rất nghiêm
trọng, thiệt hại lớn cho ngân sách nhà nước, người dân và xã hội; gây dư luận
xấu, làm mất uy tín của tổ chức đảng, chính quyền địa phương.
Việc khởi tố, bắt tạm giam những cá nhân nêu
trên đã thể hiện tinh thần đấu tranh không khoan nhượng của Đảng ta đối với
tham nhũng, tiêu cực và đã nhận được sự đồng tình của dư luận. Tuy nhiên, với
động cơ thiếu trong sáng và góc nhìn phiến diện, các thế lực thù địch, phản
động đã đưa ra những luận điệu sai trái, gây “nhiễu” dư luận. Trên nhiều trang
mạng xã hội xuất hiện luận điệu cho rằng vụ việc bị xử lý là do “đấu đá nội
bộ”. Đặc biệt, một số ý kiến còn lợi dụng vụ việc để bôi nhọ Đảng theo kiểu
“đến người đứng đầu tỉnh còn vi phạm”; từ đó “liên hệ” “gợi mở” nhiều vấn đề
theo hướng đổ lỗi vi phạm của cán bộ, đảng viên là do thể chế, do “Đảng Cộng
sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo”… nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; kêu
gọi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng.
Trước hết cần khẳng định, việc khởi tố, bắt
tạm giam những cá nhân nói trên là các vụ việc cụ thể được thực hiện sau quá
trình điều tra, xác minh của cơ quan chức năng và phù hợp với các quy định hiện
hành. Vi phạm của họ xuất phát từ việc thiếu tu dưỡng, rèn luyện. Và việc họ bị
xử lý theo các quy định của Đảng, của pháp luật là hệ quả tất yếu. Đây là vi
phạm của cá nhân đảng viên; hoàn toàn không thể đồng nhất với bản chất của Đảng
như các thế lực phản động, thù địch đang cố gắng tuyên truyền, xuyên tạc.
Thực tế cũng cho thấy, công cuộc xây dựng đất
nước thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là quá trình lâu dài, gian khó,
chưa có trong tiền lệ. Vì vậy, quá trình đó khó có thể tránh khỏi những thiếu
sót, vấp váp, nhất là trong công tác lãnh đạo, quản lý. Trong đội ngũ đông đảo
cán bộ, đảng viên cũng sẽ khó tránh khỏi việc có những người mắc phải những
khuyết điểm, thiết sót, sai lầm. Để hạn chế điều đó, Đảng, Nhà nước ta đã có
những “hàng rào” quy định, luật pháp với những chế tài mạnh mẽ để quản lý, giáo
dục, răn đe, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm. Mỗi cán bộ, đảng viên ai
cũng đều phải trải qua quá trình phấn đấu rèn luyện để đạt được những tiêu chí,
tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực nhất định. Ngay cả khi cán
bộ, đảng viên ở vị trí lãnh đạo có vi phạm thì vẫn bị xử lý nghiêm minh theo
quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, những biểu hiện cụ thể
của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được Đảng ta thẳng thắn chỉ ra ở Nghị quyết
Trung ương 4 (khóa XII); các quy định cụ thể về trách nhiệm nêu gương của cán
bộ, đảng viên; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung
ương (khóa XIII) về những điều đảng viên không được làm… Đó là những nỗ lực của
Đảng, Nhà nước nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến
chất.
Theo thống kê, chỉ trong 10 năm (giai đoạn
2012-2022), với sự nghiêm khắc trong xử lý kỷ luật đảng, cấp ủy, ủy ban kiểm
tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên,
trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng hoặc liên quan đến tham
nhũng. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra T.Ư đã kỷ luật hơn
170 cán bộ thuộc diện T.Ư quản lý, trong đó có 33 Ủy viên và nguyên Ủy viên T.Ư
Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng. Đặc biệt, tính riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội
XIII của Đảng tới nay, 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý đã bị xử lý kỷ
luật, trong đó có 8 Ủy viên, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng
trong lực lượng vũ trang (1). Song, đây chỉ là những “con sâu làm rầu nồi
canh”; không thể đánh đồng cá nhân với tập thể, không thể đồng nhất những hiện
tượng vi phạm đó với bản chất của Đảng, của chế độ. Sự trong sạch, tinh thần
làm việc hết mình vì dân, vì nước của đại bộ phận cán bộ, đảng viên, của lãnh
đạo Đảng, Nhà nước là cơ sở quan trọng đưa đến những bước phát triển mạnh mẽ của
đất nước ta trong hơn 35 năm qua, kể từ khi công cuộc Đổi mới được Đảng khởi
xướng. Điều đó cũng đã được nhân dân ghi nhận, trân trọng.
Mặt khác, mưu đồ nham hiểm của các thế lực thù
địch, phản động không thể che đậy được khi lợi dụng vi phạm của một số cá nhân,
đảng viên, chúng ra sức tuyên truyền các luận điệu nhằm hạ thấp uy tín nhằm phủ
nhận tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; gây chia rẽ nội bộ Đảng và làm
suy giảm lòng tin của nhân dân. Rõ ràng, mục đích sâu xa của các thế lực thù
địch, phản động là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ
chế độ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng
cần tỉnh táo, đề cao cảnh giác trước các luận điệu phản động, sai trái nói
trên./.
LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ
CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
Trong giai đoạn hiện nay, thủ đoạn của các thế
lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta ngày càng tinh vi, xảo
quyệt. Chúng lợi dụng con đường công khai, hợp pháp để triển khai các hoạt động
xâm phạm lợi ích quốc gia – dân tộc; chúng tìm mọi “mưu ma chước quỷ” hòng xóa
bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị của đất nước… trong
đó, có chiêu bài lợi dụng vấn đề tôn giáo, đội lốt tôn giáo để thực hiện mưu đồ
chống phá.
Có thể nhận diện các thế lực thù địch, phản
động lợi dụng tôn giáo để chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam, gồm:
Ở nước ngoài: 1) số đối tượng có tư tưởng
chống phá Việt Nam trong các tổ chức nhân quyền, tôn giáo thế giới, chủ yếu ở
Mỹ và Châu Âu. 2) một số nghị sĩ, chính khách ở các nước TBCN có tư tưởng cực
đoan chống CNXH. 3) các báo, đài phản động chống Việt Nam. 4) các tổ chức phản
động, lưu vong người Việt ở nước ngoài. 5) các tổ chức chống đối trong các tôn
giáo ở hải ngoại.
Ở trong nước: 1) số đối tượng chống đối trong
các tôn giáo (không thừa nhận các tôn giáo, tổ chức tôn giáo được Nhà nước công
nhận). 2) các tổ chức tôn giáo trong các tôn giáo chưa/ không được Nhà nước
công nhận (cả trong 16 tôn giáo và các “hiện tượng tôn giáo mới”, đạo lạ, tà
đạo). 3) các đối tượng phản động, cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất, vi
phạm pháp luật.
Tuy âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo để
chống phá có khác nhau, nhưng chúng luôn câu kết, móc nối chặt chẽ với nhau,
cùng hướng đến chiến lược “diễn biến hoà bình”,xác định cácmục tiêu cơ bản,
xuyên suốt là: chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; kích động đồng bào
các tôn giáo chống lại đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đối lập họ
với Đảng; làm mất hiệu lực và tính hiệu quả trong hoạt động quản lý của Nhà
nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội; gây mất ổn định chính trị xã
hội, tạo cớ can thiệp hoặc khi thời cơ đến kích động bạo loạn lật đổ; thúc đẩy
“tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; làm chệch hướng, tiến tới xoá bỏ vai trò lãnh
đạo của Đảng và lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam.
Theo đó, chúng thường lợi dụng các vấn đề như:
đức tin và sự gắn kết cộng đồng tôn giáo để lôi kéo, tập hợp lực lượng chống
đối; khoét sâu những mâu thuẫn, vấn đề nảy sinh về tôn giáo để chống phá; lợi
dụng những sơ hở, bất cập, yếu kém trong thực hiện công tác tôn giáo và các vấn
đề nhạy cảm được dư luận quan tâm để thổi phồng, xuyên tạc “đặt điều dựng
chuyện”; lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và
các hiện tượng tôn giáo mới, mạng xã hội để công kích, vu khống…
Cụ thể hơn, có thể nhận diện các hoạt động của
chúng ở nước ngoài gồm:Thứ nhất, thu thập thông tin từ những đối tượng phản
động, chống đối trong các tôn giáo, các tổ chức tôn giáo trái pháp luật, không
được Nhà nước công nhận để xuyên tạc tình hình tôn giáo, quan điểm, chính sách
tôn giáo của Đảng, Nhà nước. Trên cơ sở đó, chúng ban hành các đạo luật, báo
cáo, kiến nghị… vu cáo, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, kích động
các thế lực thù địch ở trong nước đẩy mạnh các hoạt động chống phá. Thứ hai, tổ
chức các hoạt động chỉ đạo, hỗ trợ các đối tượng phản động, chống đối ở trong
nước tiến hành các hoạt động chống phá. Các tổ chức phản động, lưu vong người
Việt ở nước ngoài và các tổ chức chống đối trong các tôn giáo ở hải ngoại trực
tiếp thực hiện âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm này với nhiều hoạt động như: tổ chức
các diễn đàn nhằm xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm tự do tôn giáo,
dân chủ, nhân quyền, kêu gọi “quốc tế” can thiệp; đẩy mạnh xuyên tạc, chống phá
trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là mạng xã hội; tổ chức các hội
luận, tập huấn, huấn luyện các hoạt động tuyên truyền, biểu tình, gây rối…;
trực tiếp móc nối, hỗ trợ vật chất, tinh thần cho các thế lực thù địch trong
nước.
Là lực lượng chủ yếu, trực tiếp thực hiện âm
mưu chống phá, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động ở trong nước tập
trung vào những khía cạnh: Một là, thường xuyên liên kết, câu kết chặt chẽ với
nhau (Hội đồng liên tôn, Bàn tròn đa tôn giáo…) và tiếp nhận, thực hiện sự chỉ
đạo, hỗ trợ của các thế lực thù địch ở nước ngoài. Hai là, đẩy mạnh các hoạt
động soạn thảo, tán phát tài liệu kích động chống phá, cung cấp cho các thế lực
thù địch ở nước ngoài những nội dung sai sự thật, thổi phồng sự kiện. Ba là,
lợi dụng các ngày lễ của tôn giáo, các sự kiện nhạy cảm để kích động, lôi kéo
tín đồ tập trung đông người, gây rối, biểu tình, gây mất an ninh trật tự. Bốn
là, lợi dụng các “hiện tượng tôn giáo mới” để trục lợi, làm lệch chuẩn đạo đức,
văn hóa xã hội, gây hoang mang dư luận và mất ổn định chính trị – xã hội.
Một sự thật hiển nhiên là, các thế lực thù địch, phản động lợi
dụng tôn giáo không phải vì lợi ích của các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ,
cũng không vì “tự do tôn giáo” như chúng thường rêu rao, mà là nhằm thực hiện
mưu đồ chính trị phản động hòng phá hoại sự nghiệp cách mạng của chúng ta. Đây
là điều đi ngược lại lợi ích chân chính của đồng bào có tín ngưỡng, theo tôn
giáo, của các chức sắc, tín đồ tôn giáo mong muốn có cuộc sống “tốt đời đẹp đạo”,
“đồng hành cùng dân tộc”, thực sự hạnh phúc trong một xã hội dân chủ, công
bằng, văn minh.
Âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch,
phản động lợi dụng tôn giáo là một bộ phận của chiến lược “diễn biến hòa bình”,
đặc biệt nguy hiểm đối với cách mạng Việt Nam và đối với chính đồng bào theo
tôn giáo. Nó trực tiếp “đẩy” đồng bào theo tôn giáo về phía đối lập với chính
quyền và cách mạng. Do đó, Đảng ta đã xác định: “Vận động, đoàn kết, tập hợp
các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”, đóng góp tích
cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo
hoạt động theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước
công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của
các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm
minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội
chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân
tộc”(12). Đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài trong quá trình xây dựng CNXH ở
nước ta, là yêu cầu cơ bản và cấp bách của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
của nhân dân ta trong tình hình mới, đòi hỏi sự nỗ lực và quyết tâm cao của cả
hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó có đồng bào theo tôn giáo.
Đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù
địch, phản động lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam là một bộ phận
của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, được tiến hành bằng hệ thống các
giải pháp đồng bộ vừa mang tính cấp bách vừa mang tính lâu dài; kết hợp chặt
chẽ giữa phòng ngừa, ngăn chặn với xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Trước mắt,
cần thực hiện tốt các định hướng chủ yếu: tuyên truyền, giáo dục; xác định nội
dung, hình thức, biện pháp; tổ chức thực hiện; điều kiện bảo đảm. Trong đó, chú
trọng nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho toàn xã hội; phát huy sức mạnh tổng
hợp, tổ chức thực hiện “thích ứng” với từng giai đoạn, hoàn cảnh; có cơ chế,
chính sách phù hợp…/.
BẢO ĐẢM AN NINH QUỐC GIA
CỦA ĐẤT NƯỚC THỜI KỲ MỚI
An ninh quốc gia là vấn đề đặc biệt hệ trọng, then chốt của quốc gia. Công tác bảo đảm an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên, được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo.
Ủy
viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ dự Hội nghị sơ kết phong
trào thi đua đặc biệt “Công an nhân dân - Lá chắn thép phòng, chống dịch
COVID-19, thanh bảo kiếm bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội” của Bộ Công
an_Nguồn: TTXVN
Những nguy cơ đe dọa an
ninh quốc gia
Trong những năm gần đây,
tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, cục diện
thế giới có sự biến động mạnh mẽ, các nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia cũng ngày
càng đa dạng, như sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; các thế lực thù
địch luôn tìm cách đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy quá trình
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; những thách thức an ninh phi
truyền thống mang tính toàn cầu…
Trong bối cảnh đó, Đảng ta
luôn chủ động nhận định, đánh giá tình hình, bổ sung, phát triển nhận thức tư
duy về an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia. Hội nghị đại biểu toàn quốc
giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ta đã chỉ ra 4 nguy cơ đối với sự tồn vong của
Đảng, của chế độ, đồng thời với an ninh quốc gia, bao gồm: “Nguy cơ tụt hậu xa
hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới do điểm xuất
phát thấp, nhịp độ tăng trưởng chưa cao và chưa vững chắc, lại phải đi lên
trong môi trường cạnh tranh gay gắt; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa nếu
không khắc phục được những lệch lạc trong chủ trương, chính sách và chỉ đạo
thưc hiện; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ nạn quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa
bình” của các thế lực thù địch” (1).
Từ đó đến nay, qua các kỳ
đại hội, Đảng ta đều thẳng thắn đánh giá các nguy cơ này vẫn tồn tại, đồng thời
xuất hiện nhiều nguy cơ mới, bao gồm các nguy cơ do tác động từ bên ngoài và
các nguy cơ nảy sinh từ bên trong. Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Bốn nguy cơ mà
Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với
các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của thế
lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong
một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham
nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp; khoảng cách giàu - nghèo, phân hóa xã hội
ngày càng tăng… Bảo vệ chủ quyền biển đảo đứng trước nhiều khó khăn, thách thức
lớn. Tình hình chính trị - xã hội ở một số địa bàn còn tiềm ẩn nguy cơ mất ổn
định”(2).
Ngày nay, các mối đe dọa về
an ninh phi truyền thống gia tăng, với quy mô, tính chất, mức độ ngày càng
nghiêm trọng, tác động đến lợi ích, an toàn, an ninh quốc gia Việt Nam. Tại Đại
hội XI, lần đầu tiên, Đảng ta chỉ ra các nguy cơ, thách thức phi truyền thống
đan xen với các nguy cơ, thách thức truyền thống. Theo đó, “những căng thẳng,
xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị,
can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn sẽ diễn ra gay gắt; các yếu tố đe dọa an ninh
phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao trong các lĩnh vực tài chính - tiền
tệ, điện tử - viễn thông, sinh học, môi trường… còn tiếp tục gia tăng” (3). Đến Đại hội XIII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Những vấn
đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, bệnh dịch, an
ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí
hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường,… tiếp tục diễn biến phức tạp”(4) đặt ra nhiều thách thức lớn chưa từng có cho phát
triển bền vững. Những thách thức an ninh phi truyền thống này có thể xuất hiện
bất cứ lúc nào, bất cứ lĩnh vực nào của đời sống xã hội, ngày càng đa dạng,
phức tạp, tác động sâu rộng. Nếu không chủ động và tích cực phòng ngừa, ứng phó
thì khi phát sinh dễ tạo ra những hậu quả khó lường đối với an ninh quốc gia.
Cuộc Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư, mở ra nhiều cơ hội, song cũng đặt ra không ít thách thức đối với
vấn đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, nhất là tội phạm công
nghệ cao, đe dọa thông tin, an ninh mạng. Điều này càng trở nên phức tạp khi
chúng ta chưa chủ động về công nghệ, còn lệ thuộc vào các nhà cung cấp dịch vụ
xuyên biên giới, tiềm ẩn nguy cơ gây mất chủ quyền an ninh thông tin. Nhu cầu
đầu tư vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự công nghệ cao có thể dẫn đến cuộc chạy
đua vũ trang nguy hiểm, đe dọa an ninh các quốc gia.
Trên cơ sở phân tích, dự
báo bối cảnh mới và các vấn đề đặt ra với an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh
quốc gia hiện nay, bảo đảm các vấn đề mang tính nguyên tắc, Đảng ta đưa ra
những quan điểm đổi mới về bảo đảm an ninh quốc gia của đất nước trong thời kỳ
mới, phù hợp với diễn biến của bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước; tham
khảo các quan điểm về an ninh quốc gia trên thế giới, vận dụng sáng tạo vào
hoàn cảnh cụ thể của đất nước ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn phát triển. Đó là,
giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự
quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc;
kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; phát huy cao
nhất sức mạnh tổng hợp của đất nước, nhất là vai trò của nhân dân; giữ nước
phải giữ từ thời bình, giữ nước phải giữ từ khi nước chưa lâm nguy; kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế; xây
dựng lực lượng vũ trang nhân dân thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng
chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân, làm nòng cốt cho
sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Mục tiêu của sự kết hợp hai
nhiệm vụ chiến lược, xây dựng gắn liền với bảo vệ Tổ quốc là phát huy được sức
mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cả hệ thống chính trị dưới sự
lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng; là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại; quốc phòng với an ninh; quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn
hoá, xã hội và đối ngoại để giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã
hội, tạo môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước.
Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 chỉ rõ nhiệm vụ quốc
phòng, an ninh là: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn vẹn của
Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, sự ổn định chính trị, trật tự và an
toàn xã hội, quyền làm chủ của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu và hành động
của các thế lực đế quốc, phản động phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân
ta. Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường
xuyên của toàn dân và của Nhà nước” (5).
Đại hội XIII của Đảng xác
định vị trí của nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia trong mối tương quan với các
nhiệm vụ chiến lược khác: “Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng
Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc
phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên” (6). Như vậy, nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh trở thành
một trong bốn nhiệm vụ trọng yếu trong sự nghiệp cách mạng hiện nay.
Trong bối cảnh, tình hình
mới, an ninh quốc gia đứng trước những nguy cơ, thách thức mới rất phức tạp,
đòi hỏi phải có chiến lược mới với tầm nhìn, hệ thống giải pháp dài hạn, chủ
động để giữ vững an ninh quốc gia trong mọi tình huống. Đại hội XIII của Đảng
nhận định, vấn đề an ninh quốc gia cần được hiểu một cách toàn diện hơn, rộng
hơn, sâu hơn, không chỉ có các vấn đề an ninh chính trị, quân sự truyền thống,
mà còn bao quát cả những vấn đề an ninh phi truyền thống. An ninh quốc gia bao
gồm: An ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh quân sự, an ninh biên giới,
biển, đảo, an ninh đối ngoại, an ninh tư tưởng - văn hóa, an ninh xã hội, an
ninh thông tin, an ninh cơ sở dữ liệu, an ninh mạng, an ninh doanh nghiệp, an
ninh tài chính - tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dân
cư, an ninh dân số, an ninh môi trường, an ninh con người... Tại Đại hội XIII,
vấn đề “an ninh con người” được chú trọng, đề cao và được đề cập trong nhiều
nội dung của Văn kiện Đại hội, điều này cũng phản ánh quan điểm lấy người dân
làm trung tâm của Đảng ta.
Phương thức bảo đảm an ninh
quốc gia trong tình hình mới
Trải qua hơn 35 năm thực
hiện đường lối đổi mới, sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia đã đạt được những
thành tựu to lớn. An ninh trên các lĩnh vực, các địa bàn được giữ vững; trật
tự, an toàn xã hội được bảo đảm, tạo môi trường hòa bình, ổn định, phục vụ công
cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Những thành tựu đó là
kết quả phấn đấu của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, với vai trò nòng cốt của lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân.
Trong mỗi giai đoạn phát triển, tùy thuộc vào từng điều kiện, bối cảnh những
thuận lợi, thách thức về an ninh, Đảng ta đề ra những chiến lược, kế sách phù
hợp bảo vệ an ninh quốc gia vững chắc.
“Đại hội XIII của Đảng diễn
ra trong bối cảnh đất nước đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức đan xen,
nhiều vấn đề chiến lược mới đặt ra phải giải quyết, từ tình hình quốc tế, khu
vực dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường đến các thách thức toàn cầu
về biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và cả những thành tựu ngoạn mục của
tiến bộ khoa học và công nghệ đang tác động mạnh mẽ tới đời sống kinh tế - xã
hội của đất nước ta cũng như toàn thế giới” (7). Để bảo vệ vững
chắc an ninh quốc gia trong tình hình mới, cần tập trung thực hiện một số
phương thức và giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, xác định “chủ động phòng ngừa” là chính.
Ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền
thống. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của
các thế lực thù địch. Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng
đầu trong cuộc sống của người dân. Trong bối cảnh, tình hình thế giới, khu vực
diễn biến nhanh, phức tạp, khó dự báo, để bảo đảm các mục tiêu phát triển, Đại
hội XIII của Đảng xác định phương hướng: “Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn
sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ và giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình
huống” (8). Điều này thể hiện tư duy trong bảo vệ an ninh quốc
gia là luôn giữ vững thế chủ động chiến lược trong mọi tình huống, trong mọi
hoàn cảnh. Tinh thần an ninh chủ động còn được thể hiện rõ nét ở việc mở rộng
phạm vi, không gian bảo vệ an ninh quốc gia, chú trọng giải quyết cả các vấn đề
về an ninh phi truyền thống: “Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí
hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh” (9) …
Thắm tình quân dân_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn
Thứ hai, chú trọng xây dựng lực lượng bảo vệ an
ninh quốc gia cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Văn kiện Đại hội XIII
nêu rõ: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy,
tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến
thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội
nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” (10). Xây
dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, hiện đại, hữu
dụng.
Thứ ba, xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng
dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng, củng cố
vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp
chặt chẽ, có hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng,
an ninh và ngược lại. Cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả hai nhiệm vụ chiến
lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia trong chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội, trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc
phòng, an ninh, đối ngoại; trong từng địa phương, vùng, địa bàn chiến lược và
trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch cụ thể (11). Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nêu cao
tinh thần độc lập, tự chủ, chủ động tích cực, hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp
tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực. Xét về phương diện
bảo vệ an ninh quốc gia, xây dựng, phát triển toàn diện kinh tế, văn hóa, xã
hội, đối ngoại là cơ sở, tiền đề, là phương thức để bảo vệ vững chắc an ninh
quốc gia và bảo đảm an ninh quốc gia là điều kiện quan trọng để xây dựng, phát
triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các phương thức đấu tranh bảo
vệ an ninh quốc gia cần được sử dụng một cách tổng hợp, linh hoạt, mềm dẻo, đặt
trong mối quan hệ và sự tương tác lẫn nhau để huy động sức mạnh tổng hợp và vai
trò của mọi lĩnh vực, mọi lực lượng để bảo vệ Tổ quốc./.

