Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2024

Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi tra tấn

Công ước CAT là một trong 9 điều ước cốt lõi của Liên hợp quốc về quyền con người, được cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm. Công ước được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào ngày 10/12/1984 theo Nghị quyết số 39/64 và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 26/6/1987 sau khi được 20 quốc gia phê chuẩn. Đây là một trong những điều ước quốc tế, đa phương quan trọng về quyền con người của Liên hợp quốc. Công ước thể hiện ý chí của nhân loại, yêu chuộng hòa bình trên thế giới, mong muốn sớm loại bỏ hành vi đối xử, hoặc hình phạt tàn bạo, vô nhân đạo ra khỏi đời sống xã hội.

Với mong muốn bảo vệ và bảo đảm tốt hơn quyền con người và quyền công dân, ngày 28/11/2014, tại kỳ họp 8, Quốc hội khóa XIII nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Nghị quyết số 83/2014/QH13 về việc phê chuẩn Công ước. Việt Nam hoàn tất các thủ tục và nộp văn kiện phê chuẩn cho Tổng Thư ký Liên hợp quốc vào ngày 05/2/2015 và trở thành quốc gia thành viên thứ 158 của Công ước vào ngày 07/3/2015.

QPTĐ- Việt Nam đã đề ra tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030, trong đó xác định mục tiêu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao đời sống, quyền thụ hưởng của người dân, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở Việt Nam, đặc biệt là triển khai, thực hiện nghiêm túc Công ước chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người (viết tắt là Công ước chống tra tấn hoặc Công ước CAT). Điều này khẳng định chính sách nhất quán của Việt Nam trong bảo vệ quyền con người, đồng thời thể hiện rõ là thành viên có trách nhiệm trong thực thi các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi tra tấn là một nội dung đặc biệt quan trọng trong Công ước CAT. Điều 2, Công ước CAT quy định: Mỗi quốc gia thành viên phải thực hiện các biện pháp lập pháp, hành pháp, tư pháp, hoặc các biện pháp hiệu quả khác để ngăn chặn các hành vi tra tấn trên bất cứ khu vực lãnh thổ nào thuộc quyền tài phán của mình.

Hoàn thiện chế định pháp lý

Trên cơ sở nghiên cứu kỹ các khuyến nghị của Ủy ban chống tra tấn (Ủy ban CAT), Việt Nam đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia để tăng cường thực thi hiệu quả Công ước CAT và các khuyến nghị phù hợp của Ủy ban CAT trên phạm vi toàn quốc. Trong kỳ báo cáo, Việt Nam ban hành 56 luật và các văn bản quy phạm pháp luật, để bảo đảm tốt hơn quyền con người nói chung và ngăn ngừa, trừng trị các hành vi liên quan đến tra tấn nói riêng như: Luật Thi hành án Hình sự 2019, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2019; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp năm 2020; Luật Cư trú năm 2020;  Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2021; Luật Cảnh sát cơ động năm 2022; Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022… 

Để triển khai thi hành các luật, Việt Nam tiếp tục ban hành hơn 100 văn bản hướng dẫn nhằm chuẩn hóa các quy trình, công khai các quy định, bổ sung các chế định nhằm ngăn ngừa các hành vi tra tấn, bảo vệ những người có nguy cơ bị tra tấn cũng như hỗ trợ tốt hơn cho nạn nhân của hành vi tra tấn trong suốt quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo, điều tra, thi hành tạm giữ, tạm giam, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự, bồi thường thiệt hại.

Để phòng trừ tra tấn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Việt Nam đã ban hành 34 văn bản triển khai thi hành, trong đó đáng chú ý là: Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành tổ chức phiên tòa trực tuyến; Thông tư quy định trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân (CAND) trong việc thực hiện một số trình tự, thủ tục tố tụng hình sự thân thiện trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra vụ án xâm hại người dưới 18 tuổi; Quy chế về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố.

Đặc biệt, Việt Nam đã ban hành 9 văn bản triển khai thi hành việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh trong tố tụng hình sự; hàng trăm văn bản triển khai thi hành về thi hành tạm giữ, tạm giam; thi hành án hình sự; khám chữa bệnh trong các cơ sở giam giữ; đặc xá; khiếu nại, tố cáo; bào chữa, trợ giúp pháp lý; bồi thường thiệt hại; quy tắc đạo đức nghề nghiệp; xử lý kỷ luật cán bộ, chiến sĩ, công chức và viên chức; dân chủ ở cơ sở; cải cách tư pháp và cải cách hành chính, tiếp cận thông tin.

Đẩy mạnh cải cách hành chính

Đối với các biện pháp hành chính, Việt Nam đã triển khai nhiều biện pháp đơn giản hóa thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và tăng cường trách nhiệm của người thực thi công vụ. Việt Nam đã thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu quốc gia công khai các thủ tục hành chính, thiết lập hệ thống phản ánh kiến nghị qua đường dây nóng, ứng dụng công nghệ thông tin, giao dịch trực tuyến… hạn chế việc người dân tiếp xúc trực tiếp với cán bộ, góp phần ngăn ngừa các hành vi liên quan đến tra tấn, sách nhiễu của cán bộ nhà nước.

Chương trình chuyển đổi số quốc gia đặt mục tiêu đến năm 2025 “100% cơ sở dữ liệu quốc gia tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử bao gồm các cơ sở dữ liệu quốc gia về Dân cư, Đất đai, Đăng ký doanh nghiệp, Tài chính, Bảo hiểm được hoàn thành và kết nối, chia sẻ trên toàn quốc; từng bước mở dữ liệu của các cơ quan nhà nước để cung cấp dịch vụ công kịp thời, một lần khai báo, trọn vòng đời phục vụ người dân và phát triển kinh tế-xã hội”. Việt Nam đẩy mạnh phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số để quản trị tốt quốc gia nhằm nâng cao năng lực quản lý điều hành của Chính phủ và các cơ quan chính quyền các cấp; cung cấp cho người dân và doanh nghiệp các dịch vụ công, tạo điều kiện cho người dân dễ dàng truy cập ở khắp mọi nơi; thực hiện một Chính phủ hiện đại, hiệu quả và minh bạch. 

Trong lĩnh vực này, Việt Nam đã có những thành tựu quan trọng như: Cơ bản hoàn thành xây dựng hệ thống Trung tâm dữ liệu quốc gia về dân cư và xây dựng hệ thống sản xuất, cấp và quản lý căn cước công dân; thực hiện Cổng dịch vụ công quốc gia; Trang thông tin điện tử hoặc Cổng thông tin điện tử của cơ quan là kênh cung cấp thông tin thống nhất và tập trung trên môi trường mạng…

Việt Nam đã thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước tại 04 cấp (cấp bộ, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã); triển khai thực hiện dân chủ ở cơ sở; thiết lập hệ thống phản ánh kiến nghị qua đường dây nóng, đặc biệt là đường dây nóng tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm.

Bảo đảm nguyên tắc độc lập trong xét xử của Tòa án

Trong lĩnh vực tư pháp, Việt Nam đã thành lập Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương và Ban chỉ đạo cải cách tư pháp tại cấp tỉnh trên phạm vi toàn quốc để xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, trong đó có quyền không bị tra tấn. Việt Nam đã thành lập Ban chỉ đạo xây dựng Đề án “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, trong đó xác định “Đẩy mạnh cải cách tư pháp, bảo đảm tính độc lập của tòa án theo thẩm quyền xét xử, thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là một trong ba trọng tâm cần thực hiện.

Việt Nam đã xây dựng mô hình phòng điều tra thân thiện để giải quyết các vụ việc liên quan đến người dưới 18 tuổi và xâm hại người dưới 18 tuổi. Mô hình “Phòng điều tra thân thiện” được thiết kế, trang trí tương tự phòng làm việc, tạo tâm lý thoải mái, gần gũi, giúp nạn nhân bớt mặc cảm, lo sợ.  Đến nay, Việt Nam đã thiết lập 33 phòng điều tra thân thiện tại Cục Cảnh sát hình sự, Học viện Cảnh sát nhân dân và Công an 30 địa phương.

Đặc biệt, Việt Nam nỗ lực bảo đảm hơn nữa việc độc lập xét xử của Tòa án, quyền được xét xử công bằng, phù hợp với chuẩn mực quốc tế; đồng thời thí điểm mô hình tổ chức hoạt động lao động, hướng nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân ngoài trại giam; triển khai thực hiện hàng nghìn lớp giáo dục pháp luật, lớp dạy văn hóa, xóa mù chữ, lớp dạy nghề, lớp truyền thông, chống tác hại của ma túy và phòng, chống lây nhiễm HIV, AIDS cho hàng chục nghìn lượt phạm nhân hàng năm… Theo số liệu của Bộ Công an, trong năm 2022, Việt Nam đã tổ chức 2.255 lớp giáo dục pháp luật cho 713.856 lượt phạm nhân; 153 lớp dạy văn hóa, xóa mù chữ cho 3.688 lượt phạm nhân, cấp chứng chỉ xóa mù chữ cho 685 lượt phạm nhân; 237 lớp dạy nghề cho 7.539 lượt phạm nhân; 660 lớp truyền thông, chống tác hại của ma túy và phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS cho 142.147 lượt phạm nhân…

Bảo vệ tính tất yếu, chính nghĩa của ngoại giao “Cây tre Việt Nam” - Kiên định nguyên tắc, vận dụng linh hoạt

Thực hiện trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam” không chỉ ở tầm vĩ mô mà cần được vận dụng linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả ở từng địa phương, đơn vị cơ sở, từng hoàn cảnh cụ thể.

Đối với các địa phương có đường biên giới với nước bạn; các tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ có yếu tố nước ngoài, bản sắc “Cây tre Việt Nam” còn là văn hóa ứng xử trong quan hệ quốc tế, vì lợi ích quốc gia, dân tộc...

Cụ thể hóa bằng những mô hình hiệu quả

Trả lời phỏng vấn Báo Quân đội nhân dân dịp đón Xuân Giáp Thìn 2024, Trung tướng Nguyễn Trường Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 7 khẳng định: Quân khu 7 là địa bàn trọng điểm chiến lược quốc gia, có đường biên giới trên bộ giáp với nước bạn Campuchia dài hơn 627km, đi qua 3 tỉnh Bình Phước, Tây Ninh và Long An. Các địa phương trên địa bàn Quân khu 7 nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, trong đó TP Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu. Sự cụ thể hóa trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam” trong hoạt động đối ngoại quốc phòng đã được Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 7 quán triệt sâu sắc, triển khai thực hiện bằng những mô hình hiệu quả trên thực tế. 

Đến nay, Quân khu 7 và các đơn vị, địa phương thuộc Quân khu đã xây dựng mối quan hệ kết nghĩa với 87 đơn vị Quân đội Hoàng gia Campuchia. Hai bên thường xuyên trao đổi thông tin, định kỳ tổ chức giao ban, giao lưu theo phân cấp, tuần tra chung; tổ chức đoàn qua lại thăm hỏi, chúc mừng nhân các ngày lễ, sự kiện. Quân khu 7 luôn quan tâm giúp bạn cả về vật chất và tinh thần, coi nhau như anh em, cùng đoàn kết, chung tay xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác, phát triển. Các đơn vị bạn cũng rất nhiệt tình giúp đỡ chúng ta về nhiều mặt, nhất là công tác phối hợp duy trì sự ổn định đường biên giới; đấu tranh phòng, chống tội phạm; giúp đỡ các đội công tác làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập, hồi hương hài cốt liệt sĩ Quân tình nguyện Việt Nam hy sinh trên đất bạn vì nghĩa vụ quốc tế cao cả.

Thực hiện chính sách đối ngoại quốc phòng theo định hướng của Đảng, những năm qua, Quân khu 7 luôn thể hiện vai trò nòng cốt giữ vững ổn định chính trị, ngày càng củng cố mối quan hệ thân thiết với các đơn vị, địa phương nước bạn, xây dựng nhiều mô hình điểm dân cư, cụm dân cư liền kề các chốt dân quân, đồn trạm biên phòng biên giới. Các mô hình hiệu quả ở Quân khu 7 đã được Bộ Quốc phòng chọn làm điểm, phổ biến kinh nghiệm, tổ chức cho các đơn vị, địa phương trong cả nước tham quan, áp dụng...

Trong chuỗi chương trình “Xuân quê hương 2024” đón Tết Giáp Thìn diễn ra tại TP Hồ Chí Minh, các đại biểu kiều bào khắp nơi trên thế giới đã cùng Đảng bộ, chính quyền, dân và quân Thành phố mang tên Bác và đông đảo du khách hòa chung bầu không khí đoàn kết, vui tươi, ấm áp. Tâm tình với kiều bào cùng đón xuân quê hương, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng khẳng định: Thành công của kiều bào là niềm tự hào của đất nước, quê hương! Chủ tịch nước mong kiều bào ta ngày càng phát triển, thành công, góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế của đất nước và con người Việt Nam trên trường quốc tế.

Nhiều đại biểu kiều bào cũng chân thành chia sẻ, dù ở đâu, làm gì, bà con mình vẫn luôn giữ vững cốt cách, tâm hồn Việt Nam. Giữ cho “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển” như bản sắc “Cây tre Việt Nam” chính là cách để người Việt Nam tạo dựng niềm tin, uy tín, tình cảm... đối với bạn bè quốc tế.

Những thành tựu từ thực tiễn và sự thẩm thấu, thấm nhuần đường lối đối ngoại, sách lược ngoại giao của Đảng, Nhà nước thông qua các mô hình, chương trình hoạt động cụ thể chính là bằng chứng sinh động góp phần đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc, kích động, phá hoại của các thế lực thù địch.

Đi sâu vào những góc nhìn cận cảnh trên thực tế như trên để thấy, ngoại giao “Cây tre Việt Nam” không chỉ là sứ mệnh “quốc gia đại sự”, mà nó cần được cụ thể hóa bằng những kết quả, mô hình giàu tính thuyết phục ngay từ cơ sở. Phương châm ấy cùng với cách vận dụng sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả từ những mô hình ở cơ sở cần tiếp tục phát triển, nhân rộng, đi vào chiều sâu, góp phần tạo sức mạnh mềm của quốc gia trong hội nhập quốc tế. Phải nhấn mạnh vấn đề này, bởi trong đời sống xã hội, không ít người vẫn cho rằng, nói đến đối ngoại, ngoại giao là công việc của Trung ương, của lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Suy nghĩ phiến diện đó dẫn đến thái độ bàng quan, thờ ơ, không chịu học tập, nghiên cứu, hiểu biết mơ hồ về đường lối, chủ trương của Đảng và bản chất ngoại giao “Cây tre Việt Nam”. Những khoảng trống, lỗ hổng trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và công dân chính là môi trường để các tư tưởng phản động, thù địch lợi dụng “ký sinh”, xâm nhập, làm nảy sinh các hành vi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, rất nguy hiểm.

Linh hoạt, sáng tạo “lấy xây để chống”

Cùng với kỷ niệm 80 năm truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang triển khai mạnh mẽ các phong trào, chương trình, kế hoạch... hướng đến kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng, 50 năm đất nước thống nhất vào năm 2025. Những sự kiện có ý nghĩa lịch sử to lớn này cũng chính là đề tài xuyên tạc, mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch. Thời gian gần đây, không gian mạng liên tục xuất hiện những thông tin xuyên tạc về lịch sử vùng đất Nam Bộ, phá hoại mối quan hệ ngoại giao Việt Nam-Campuchia; cổ xúy các hành vi khủng bố, kích động mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo; kêu gọi người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức các hoạt động của cái gọi là “phục quốc”, “quốc hận”... Thậm chí, họ coi các đối tượng khủng bố tấn công trụ sở công an xã ở Đắk Lắk (đã được đưa ra xét xử trước pháp luật và công luận) vừa qua là những “người hùng” và kêu gọi, kích động đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên “noi theo”...

Những thông tin xuyên tạc, sai trái này đều phục vụ cho ý đồ phá hoại chính sách hòa hợp dân tộc, kích động hận thù, bóp méo, bôi đen trang sử vẻ vang của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trong một video clip được đăng tải trên tài khoản của một đối tượng người Việt ở hải ngoại vừa qua, bằng thủ đoạn cóp nhặt thông tin, “xào xáo” tư liệu, người này cùng với một số “học giả” lớn tiếng cho rằng, chính sách ngoại giao hiện thời của Việt Nam đang “thoái trào” và sẽ nhanh chóng “chết yểu”. Để đưa Việt Nam phát triển, họ lớn tiếng yêu cầu chúng ta phải thay đổi chính sách đối ngoại, ngoại giao, dựa hẳn vào Hoa Kỳ và phương Tây, tạo thế và lực chống lại sự can thiệp, ảnh hưởng của các nước lớn trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Sở dĩ phải nêu dẫn chứng này bởi những thứ mà các “nhà nghiên cứu” dạng này rêu rao, “dương Đông kích Tây” đều là những luận điệu phi lý, cũ rích, nhai đi nhai lại. Nhưng vì nhiều lý do, tài khoản trên mạng xã hội của họ vẫn có nhiều người tương tác; những luận điệu xuyên tạc này vẫn được không ít người tung hô, cổ xúy. Một trong những nguyên nhân khiến một bộ phận người dân dễ dàng bị các đối tượng này “dắt mũi” là kiểu tư duy “hóng hớt”, hiểu biết vấn đề chưa đến nơi đến chốn, có tư tưởng dao động, ngả nghiêng...

Để góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập trong công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt, thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, cần kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”, “lấy xây để chống”. Trường phái ngoại giao mang bản sắc “Cây tre Việt Nam” cần được thấm nhuần, thông suốt, thống nhất từ Trung ương đến các địa phương, đơn vị cơ sở. Mỗi tổ chức, cá nhân khi tham gia vào môi trường quan hệ quốc tế phải đồng thời là những “sứ giả” hành động vì lợi ích, vị thế của quốc gia, dân tộc. Muốn vậy thì cần thể hiện rõ ý chí quyết tâm, nhất quán tinh thần: “Tiền hô hậu ủng”, “nhất hô bá ứng”, “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”...

Bảo vệ tính tất yếu, chính nghĩa của ngoại giao "Cây tre Việt Nam" - Thấm nhuần bản sắc văn hóa và chính nghĩa Việt Nam

Dưới góc nhìn văn hóa, trường phái ngoại giao mang bản sắc “Cây tre Việt Nam” là sự thể hiện sáng tạo, phát huy hiệu quả nguồn lực sức mạnh mềm của quốc gia-dân tộc trong giai đoạn mới. Để thực hiện thắng lợi trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam”, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta cần thấm nhuần tư tưởng, triết lý của tiên tổ, ông cha...

Nhìn từ chiều sâu bản sắc văn hóa dân tộc

Đề cập đến những bài học, thông điệp truyền đời từ truyền thống của tiên tổ, ông cha trong hoạt động đối ngoại, đặc biệt là với các quốc gia láng giềng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá: “Đó là những tư tưởng, triết lý vượt thời đại của cha ông ta, mãi mãi vẫn còn nguyên giá trị. Những truyền thống và bản sắc tốt đẹp ấy càng được bồi đắp, phát huy và tỏa sáng trong thời đại Hồ Chí Minh, đã phát triển lên thành nền ngoại giao Việt Nam hiện đại và đậm đà bản sắc dân tộc...”.

Vận dụng cách nói của dân gian để khái quát, đúc kết thành trường phái ngoại giao mang đậm triết lý, bản sắc dân tộc theo cách của người đứng đầu Đảng ta, chính là phương pháp hiệu quả để đường lối, chủ trương của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống. Cán bộ, đảng viên và công dân của đất nước, kiều bào ở nước ngoài, khi học tập, quán triệt đường lối đối ngoại, chính sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước đều dễ nhớ, dễ thuộc, dễ thấm, thuận tiện trong vận dụng.

Đó cũng là cách nói khái quát để “định vị” ngoại giao Việt Nam trong hội nhập quốc tế. Bạn bè khắp năm châu bốn biển khi quan hệ với Việt Nam đều dễ dàng tiếp cận, hiểu rõ lập trường quan điểm, chính sách, phong cách, thái độ của Việt Nam và người Việt Nam trong các quan hệ quốc tế.

Bình luận về trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam”, các nhà nghiên cứu, học giả trong và ngoài nước đều đánh giá cao hình tượng cây tre trong đời sống người Việt. Trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, cây tre đã trở thành biểu tượng văn hóa, văn minh, văn hiến của người Việt Nam. Nền văn hóa nông nghiệp và đặc điểm địa lý vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, thiên nhiên khắc nghiệt đã giúp ông cha ta tích lũy, đúc kết những phương cách sinh tồn, thích ứng với thiên nhiên.

Từ đó, tìm ra những giải pháp huy động sức mạnh toàn dân tộc để đấu tranh với các thế lực ngoại bang, bảo vệ hòa bình, giữ yên bờ cõi. Trong hành trình ấy, cây tre Việt Nam là hình ảnh tượng trưng cho tâm hồn, bản lĩnh, khí phách, sức mạnh, khát vọng... con người Việt Nam. “Thân gầy guộc, lá mong manh/ Mà sao nên lũy nên thành tre ơi/ Ở đâu tre cũng xanh tươi/ Cho dù đất sỏi đá vôi bạc màu...”.

Cây tre Việt Nam còn là biểu tượng của khả năng thích nghi với mọi điều kiện hoàn cảnh. Những bài học lịch sử được ông cha truyền lại cho chúng ta thông qua văn hóa dân gian, văn nghệ truyền khẩu. Câu chuyện Thánh Gióng là một dẫn chứng điển hình. Ngựa sắt, gậy sắt, áo giáp sắt, niêu cơm càng ăn càng đầy... (biểu hiện cho khát vọng làm chủ văn minh công nghiệp, thông điệp về phát triển kinh tế, hiện đại hóa lực lượng vũ trang) là những điều kiện cần nhưng chưa đủ. Để quét sạch giặc Ân, Thánh Gióng phải có thêm cây tre. Cây tre tượng trưng cho nguồn sức mạnh nội sinh của văn hóa dân tộc.

Nói “văn hóa còn thì dân tộc còn” chính là sự khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của văn hóa trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp, kế thừa, phát triển sáng tạo truyền thống ông cha, bản sắc dân tộc trên mặt trận ngoại giao, dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta giành thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trên nguyên tắc cốt lõi “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh đã soi đường, chỉ lối cho chính sách ngoại giao của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng...

Nhìn từ chiều sâu văn hóa dân tộc, chúng ta thấy rõ, việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sử dụng hình tượng cây tre Việt Nam để thể hiện, khẳng định, nhấn mạnh, phát triển triết lý, phương châm, chiến lược, sách lược, giải pháp... ngoại giao của Việt Nam trong giai đoạn mới, chính là lối tư duy khoa học. Ngoại giao “Cây tre Việt Nam” thể hiện tính kế thừa, phát triển, sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao, phù hợp với đòi hỏi thực tiễn và xu thế thời đại. Ngoại giao “Cây tre Việt Nam” là thành tố, động lực tạo sức mạnh mềm của dân tộc trong hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Xu thế thời đại và lựa chọn chính nghĩa

 Năm 2024, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Cạnh tranh lợi ích giữa các cường quốc ngày càng gay gắt. Xung đột vũ trang, mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo, đảo chính, nội chiến... cùng nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống đang vượt khỏi tầm kiểm soát ở nhiều quốc gia, khu vực.

Tuy nhiên, những rung chấn, biến động thời cuộc không thể đảo ngược xu thế tất yếu của thời đại, đó là khát vọng hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển. Ngoại giao “Cây tre Việt Nam” theo nguyên tắc “Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, chủ động thích nghi với từng đối tác, từng hoàn cảnh; kiên trì chọn chính nghĩa, không chọn bên... là hướng đi hoàn toàn phù hợp với xu thế thời đại.

Nhấn mạnh và làm sâu sắc thêm những vấn đề trên đây chính là nhằm củng cố vững chắc cơ sở lý luận và hiện thực khách quan của xu thế đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế của Việt Nam. Đó cũng là căn cứ khoa học và thực tiễn để chúng ta đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, làm thất bại các chiến dịch truyền thông xuyên tạc, kích động, chống phá của các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng văn hóa, ngoại giao.

Chúng ta cũng cần thấy rõ, bất cứ lĩnh vực nào đất nước đạt được thành tựu quan trọng thì ở chiều đối nghịch, các thế lực thù địch cũng ra sức sử dụng các phương thức, thủ đoạn thâm độc hòng phủ nhận thành quả, làm lung lay trận địa tư tưởng của Đảng và nhân dân ta. Việc các thế lực thù địch xuyên tạc bằng những luận điệu ngụy biện, phi thực tế, phản khoa học càng chứng tỏ một thực tế hiển nhiên không thể phủ nhận của những thành tựu đối ngoại, ngoại giao và tính tất yếu, chính nghĩa của ngoại giao “Cây tre Việt Nam”.

Năm nay, đất nước ta kỷ niệm 80 năm truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là cột mốc quan trọng trong trang sử vẻ vang, hào hùng của dân tộc. Hòa mình vào các hoạt động kỷ niệm là dịp để mỗi người dân Việt Nam bồi đắp tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, thêm tin yêu Bộ đội Cụ Hồ. Bám theo dòng chủ lưu này, các thế lực thù địch cũng gia tăng cường độ xuyên tạc, chống phá chính sách quốc phòng của Việt Nam.

Chủ trương “4 không” (không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế) trong đối ngoại quốc phòng chính là sự cụ thể hóa trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam”.

Nắm rõ âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, chúng ta cần nêu cao ý thức tự giác học tập, nghiên cứu, quán triệt, thấm nhuần quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng trong quan hệ quốc tế. Cán bộ, đảng viên và công dân yêu nước cần thẳng thắn bày tỏ quan điểm, đấu tranh kiên quyết với các hành vi xuyên tạc, chống phá của những đối tượng cực đoan, bất mãn trên các nền tảng mạng xã hội. Bảo vệ tính tất yếu và chính nghĩa của ngoại giao “Cây tre Việt Nam” là cuộc đấu tranh kiên định, kiên trì, kiên quyết và lâu dài. Vì vậy, chúng ta cần vững về mục tiêu, lập trường; chắc về lý luận, sách lược; uyển chuyển về hình thức, giải pháp...

Bảo vệ tính tất yếu, chính nghĩa của ngoại giao "Cây tre Việt Nam" - Tất yếu khách quan không thể xuyên tạc

Thuật ngữ ngoại giao “Cây tre Việt Nam” được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây. Bên cạnh dư luận tích cực, trên không gian mạng cũng xuất hiện nhiều thông tin xuyên tạc, lèo lái dư luận hiểu sai lệch bản chất vấn đề.

Kiên định với trường phái ngoại giao mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam”; đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, thù địch, bảo vệ đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước là trách nhiệm, bổn phận của mọi cán bộ, đảng viên, công dân yêu nước...

Thấy gì từ thủ đoạn đánh tráo khái niệm?

Năm 2023 đánh dấu những cột mốc quan trọng của ngoại giao Việt Nam, được dư luận tiến bộ toàn cầu ghi nhận, đánh giá cao. Hai dấu ấn nổi bật là việc nâng cấp quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ lên đối tác chiến lược toàn diện và tiếp tục làm sâu sắc, nâng tầm mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc vững chắc, ổn định, bền vững lâu dài và hiệu quả... Truyền thông quốc tế đã dành thời lượng lớn phản ánh, phân tích, bình luận về hai chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đến Việt Nam. Dư luận tích cực bày tỏ sự ủng hộ, đánh giá cao thành tựu ngoại giao và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Những dấu ấn và thành tựu ngoại giao của Việt Nam là kết quả vận dụng đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta và hoạt động ngoại giao nhân dân theo trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam”.

Trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường; các quốc gia, dân tộc yêu chuộng hòa bình đứng trước những thách thức mang tính thời đại về bảo vệ độc lập, chủ quyền và thể chế chính trị. Sự cạnh tranh lợi ích gay gắt giữa các cường quốc tác động sâu sắc, toàn diện đến đường lối, chiến lược, sách lược ngoại giao của các nước. Trong bối cảnh đó, việc chủ động thích nghi, lựa chọn chính nghĩa trong các mối quan hệ đa phương và song phương không chỉ là giải pháp giữ vững hòa bình, ổn định cho quốc gia, dân tộc, mà còn góp phần thúc đẩy xu thế hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển trong môi trường toàn cầu. “Chủ động thích nghi” để không phải “bị động chống đỡ”; “chọn chính nghĩa” thay vì “chọn bên”... là những biểu hiện sinh động và cụ thể của trường phái ngoại giao mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam”. Tính tất yếu và chính nghĩa của ngoại giao “Cây tre Việt Nam” đã được chứng minh trên thực tế. Ngoại giao “Cây tre Việt Nam” đã góp phần khẳng định, không ngừng nâng cao cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực tiễn sinh động ấy là hiện thực khách quan, không thể xuyên tạc, phủ nhận.

Tuy nhiên, bên cạnh đại đa số thông tin tích cực, trên không gian mạng xuất hiện không ít thông tin sai lệch. Một số phương tiện truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và nhiều tài khoản trên các nền tảng mạng xã hội mang tư tưởng thù địch ra sức xuyên tạc, phá hoại trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam”. Họ cố tình đánh tráo khái niệm “Cây tre Việt Nam” bằng những thuật ngữ mang tính kích động, chống phá, như: “Ba phải”, “hai mặt”, “đu dây”, “hai mang”... Bằng kiểu ngụy biện, suy diễn, quy chụp, võ đoán, “hớt váng”, “cắt ngọn”... họ rêu rao rằng, Việt Nam đang theo đuổi chính sách ngoại giao đi ngược xu thế thời đại, “không giống ai”. Họ gán ghép khiên cưỡng những cuộc xung đột vũ trang, đảo chính, nội chiến đang xảy ra ở nhiều khu vực trên thế giới để so sánh, quy chụp đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là “đu dây”, sớm muộn cũng nhận kết cục “thảm bại”. Đáng tiếc là những luận điệu mang tư tưởng thù địch này lại được một số đối tượng người Việt ở hải ngoại tự xưng là “nhà nghiên cứu”, “nhà phản biện”, “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh”, “học giả”... cổ xúy, tung hô bằng những hình thức gọi là “bàn tròn”, “bình luận”, “góc nhìn”... nhằm gây nhiễu thông tin, lèo lái dư luận. Một số đối tượng lên giọng kiểu bề trên, kẻ cả, lộng ngôn chỉ trích, bôi nhọ, hạ bệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta; phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại và thành tựu ngoại giao “Cây tre Việt Nam”...

Tính tất yếu không thể phủ nhận

Theo dõi những thông tin xuyên tạc trên không gian mạng, chúng ta dễ dàng nhận ra bộ mặt thật của những đối tượng thù địch chống phá đất nước. Không phải họ không hiểu bản chất vấn đề, mà họ đã cố tình “cắt ngọn”, “hớt váng” để đánh tráo khái niệm.

Chúng ta đều biết, thuật ngữ ngoại giao “Cây tre Việt Nam” được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập tại Hội nghị ngoại giao lần thứ 29 với chủ đề “Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế-Thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII”, diễn ra tại Hà Nội, ngày 22-8-2016. Trong bài phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư Đảng ta đã nêu rõ bài học kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược trong công tác ngoại giao. “...Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoạt động đối ngoại đã làm nên nhiều thành tích vẻ vang, xây dựng nên một trường phái ngoại giao độc đáo, mang đậm bản sắc "Cây tre Việt Nam"-mềm mại mà cứng cỏi, nhân ái mà quật cường, biết nhu biết cương, biết thời biết thế, biết mình biết người..., thể hiện tâm hồn và khí phách của dân tộc Việt Nam...”.

Tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, diễn ra tại Hà Nội ngày 14-12-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục nhấn mạnh, làm sâu sắc thêm trường phái ngoại giao mang bản sắc “Cây tre Việt Nam”. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, kế thừa và phát huy truyền thống, bản sắc đối ngoại, ngoại giao và văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, chúng ta đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam”, "gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển". Tại Hội nghị ngoại giao lần thứ 32 với chủ đề “Phát huy vai trò tiên phong, xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, vững mạnh, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng”, diễn ra tại Hà Nội ngày 19-12-2023, Tổng Bí thư Nguyễn  Phú Trọng đã phát biểu chỉ đạo ngành ngoại giao tiếp tục phát triển nền ngoại giao hiện đại, vững mạnh toàn diện, mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam”...

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đúc kết thực tiễn từ lịch sử, tiếp thu sáng tạo tinh hoa thế giới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đúc kết đường lối, sách lược ngoại giao “Cây tre Việt Nam” trong cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc "Cây tre Việt Nam”. Sách do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật phát hành tháng 11-2023.

Tất cả tài liệu, văn bản liên quan đến trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam” đều thể hiện rõ tính khoa học, lịch sử, văn hóa..., khẳng định tính tất yếu khách quan trong đường lối, chính sách, chiến lược đối ngoại, ngoại giao của Việt Nam. Việc sử dụng cụm từ “Cây tre Việt Nam” là cách nói khái quát, hình tượng, đúc kết lịch sử, có sự bổ sung, phát triển tư duy lý luận và giải pháp để phù hợp, thích ứng với xu thế thời đại và đòi hỏi từ thực tiễn. Đó cũng chính là sự thể hiện sinh động việc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về công tác đối ngoại. Tất cả những vấn đề đó đều được công khai, minh bạch, phổ biến sâu rộng trên các phương tiện truyền thông. Trong quan hệ hợp tác với các nước, chúng ta cũng thể hiện rõ lập trường quan điểm, chính sách đối ngoại độc lập tự chủ của Việt Nam. Bảo đảm cho “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển” trong ngoại giao chính là tổng hòa các chiến lược, sách lược, giải pháp mang tính khoa học, tư duy biện chứng, thể hiện tính tất yếu khách quan. Hiểu về ngoại giao “Cây tre Việt Nam” không thể là kiểu tư duy “cắt ngọn”, “hớt váng”, “chặt khúc” mà cần có tư duy hệ thống, khái quát, tổng hợp... Ngoại giao “Cây tre Việt Nam” hoàn toàn không phải và không thể là giải pháp “thức thời” theo kiểu “đu dây”, “hai mặt”, “hai mang”... như những luận điệu đả kích, xuyên tạc của các thế lực thù địch...

Phê phán quan điểm cần phát triển xã hội dân sự tại Việt Nam theo tiêu chí phương Tây

 Thời gian qua, một số người có xu hướng cổ súy vấn đề xã hội dân sự (XHDS), cho rằng cần phát triển XHDS tại Việt Nam theo tiêu chí phương Tây. Tuy nhiên, từ lý luận và thực tiễn đều khẳng định, trong điều kiện hiện nay, việc cho rằng Việt Nam cần thừa nhận, tạo điều kiện cho XHDS, nhất là XHDS theo tiêu chí phương Tây phát triển là chưa đúng đắn, chưa phù hợp.

Ngăn chặn âm mưu dùng sách, báo xấu độc để chuyển hóa tư tưởng lệch lạc

 

Với âm mưu thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa-tư tưởng, một trong những phương thức mà các thế lực thù địch thường xuyên sử dụng là phát hành các sách, báo có nội dung độc hại, xuyên tạc, phản động. Đáng phê phán là một số cá nhân do nhận thức chính trị hạn chế, thiếu hiểu biết và hám lợi đã “nối giáo cho giặc” khi công khai tán phát, mua bán sách, báo xấu độc. Vì thế, việc ngăn chặn sự thẩm lậu, đấu tranh trực diện với sách, báo xấu độc cần nhất là chủ động, thường xuyên, kịp thời, đi vào thực chất.

Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa: “Phụ nữ cần phải học tập tiến bộ nhiều hơn nữa”

“Phụ nữ cần phải học tập tiến bộ nhiều hơn nữa” là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Người nói trong bài phát biểu tại Hội nghị các đại biểu phụ nữ tham gia công tác chính quyền toàn miền Bắc, ngày 01 tháng 8 năm 1960, Báo Nhân dân đăng trên số 2327, ngày 02 tháng 8 năm 1960.

Đây là giai đoạn miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đuổi đế quốc Mỹ và tay sai, nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội càng được chú trọng, số lượng phụ nữ công tác trong các cơ quan chính quyền từ trung ương đến cơ sở tăng cao; đặc biệt, trong Quốc hội khóa II có tới 53 đại biểu Quốc hội là nữ. Khẳng định Đảng, Chính phủ và nhân dân ta đã đánh giá cao vị trí, vai trò của phụ nữ và đó cũng là một thắng lợi của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy: “Phụ nữ cần phải học tập tiến bộ nhiều hơn nữa”, kế thừa và phát huy truyền thống con cháu Bà Trưng, Bà Triệu, các thế hệ phụ nữ Việt Nam đã tích cực học tập, rèn luyện, cống hiến và trưởng thành; từ các phong trào thi đua rộng lớn của phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ, tiêu biểu với các phong trào thi đua “Ba đảm đang”, phong trào “Đồng khởi”… đã xuất hiện nhiều nữ anh hùng dũng cảm trong chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước, cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, được lịch sử vinh danh, trở thành niềm tự hào của cả dân tộc, xứng đáng với 8 chữ Vàng Bác Hồ trao tặng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

Trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước  và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập, phát triển hiện nay, lời Bác Hồ dạy năm xưa vẫn vẹn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn để các thế hệ phụ nữ Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang, ra sức học tập, rèn luyện theo 4 phẩm chất: “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”, ngày càng có nhiều phụ nữ phấn đấu trở thành chính trị gia, nhà khoa học giỏi, nhà quản lý năng động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phương hướng xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, phát huy truyền thống vẻ vang của phụ nữ Việt Nam và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, phụ nữ Quân đội tiếp tục nêu cao tinh thần, trách nhiệm, tích cực, chủ động, sáng tạo, vượt mọi khó khăn, học tập, lao động sáng tạo, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc để cùng với phụ nữ cả nước thực hiện trọn vẹn lời Bác Hồ dạy năm xưa.

Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa: Đồng bào lương và giáo hãy đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau

Đồng bào lương và giáo hãy đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau” là lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Điện gửi đồng bào xã Đoài”, Báo Nhân dân đăng số 5233, ngày 10 tháng 8 năm 1968.

Đây là giai đoạn đế quốc Mỹ dùng không quân, hải quân bắn phá miền Bắc để cắt đường tiếp tế của hậu phương cho chiến trường miền Nam, chúng đã tàn phá nhiều thành phố, làng quê; ngày 21 tháng 7 năm 1968 máy bay Mỹ bắn phá xã Đoài, tỉnh Nghệ An làm 02 giám mục, 03 linh mục bị thương; một số tu sĩ, đồng bào giáo và lương bị thương và tử vong, nhà thờ bị hư hỏng, hàng trăm nhà dân bị tàn phá. Biết tin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Điện thăm hỏi, động viên nhân dân xã Đoài, tỉnh Nghệ An; trong Điện Bác kêu gọi: “Đồng bào lương và giáo hãy đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau”.

Việt Nam là đất nước đa dân tộc, tôn giáo, trong quá trình lãnh đạo đất nước Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc xây dựng khối đoàn kết chặt chẽ giữa các tôn giáo, các dân tộc trong khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân với chính sách tôn giáo nhất quán: “Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân”; công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hay không có tín ngưỡng, tôn giáo đều là công dân Việt Nam, có quyền và nghĩa vụ như nhau. Đoàn kết lương - giáo là đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo; đoàn kết giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thực hiện chức năng đội quân công tác, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn quán triệt và thực hiện nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác dân vận, nhất là trên các địa bàn có đồng bào theo đạo, tham gia xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường quốc phòng - an ninh, phát triển kinh tế - xã hội; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Đồng thời, chủ động tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân, đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhất là những luận điệu xuyên tạc, mua chuộc, lôi kéo, xúi giục các chức sắc tôn giáo có quan điểm tiêu cực để kích động quần chúng nhân dân tụ tập đông người, biểu tình bất hợp pháp, bạo động… gây mất đoàn kết giữa đồng bào lương - giáo trên địa bàn, củng cố đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo và tình hữu nghị với các nước láng giềng, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa: Bộ đội được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi

Bộ đội được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi” là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi nói chuyện tại Hội nghị quân sự lần thứ 5, họp đầu tháng 8 năm 1948.

Quân đội nhân dân Việt Nam, quân đội của dân, do dân và vì dân, được sinh ra và lớn lên từ phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân. Trải qua hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã không ngừng lớn mạnh, lập nhiều chiến công hiển hách, xứng đáng là lực lượng nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay. Sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta được bắt nguồn từ nhiều yếu tố; trong đó, sự giúp đỡ, đùm bọc của nhân dân có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ là nguồn cung cấp sức người, sức của cho quân đội, mà chính nhân dân còn là lực lượng luôn giúp đỡ, nuôi dưỡng, đùm bọc bộ đội trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

Thấu triệt lời Bác Hồ dạy, thực hiện chức năng, nhiệm vụ đội quân chiến đấu, công tác và lao động sản xuất, cán bộ, chiến sĩ quân đội không chỉ chiến đấu bảo vệ nhân dân, mà luôn giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, quan tâm giúp đỡ nhân dân trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, tham gia phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả chiến tranh… Đặc biệt, các binh đoàn, đoàn kinh tế - quốc phòng đã gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng - an ninh, thực hiện công tác dân vận, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, tạo công ăn việc làm cho người dân, giúp dân chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, bao tiêu sản phẩm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa mới, làm thay đổi bộ mặt nông thôn trên địa bàn chiến lược trọng yếu. Đồng thời, chủ động tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân, đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên địa bàn, bảo vệ cấp ủy, chính quyền địa phương, củng cố đoàn kết các dân tộc và tình hữu nghị với các nước láng giềng. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân phải luôn tự hào, giữ gìn và phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới, tạo sức lan tỏa sâu rộng trong toàn quân và xã hội, góp phần bồi dưỡng nhận thức, tư tưởng, tình cảm, khơi dậy ý chí quyết tâm của quần chúng nhân dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân ngày càng vững chắc, xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Nhà nước, nhân dân.

Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa: Vũ khí tốt mà tinh thần hèn, thì cũng vô dụng.

Vũ khí tốt mà tinh thần hèn, thì cũng vô dụng” là câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài “Máy bay “phản lực” phản Mỹ”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 2135,  ngày 04 tháng 8 năm 1952.

Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta bước vào giai đoạn quyết liệt; với sự giúp sức của các đồng minh, thực dân Pháp tập trung huy động và đưa vào chiến trường Đông Dương các loại vũ khí trang bị hiện đại nhằm cứu vãn tình thế bất lợi đối với quân đội Pháp đang diễn ra trên chiến trường. Trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra đối với Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh phải xây dựng và phát huy tốt nhân tố chính trị, tinh thần cho quân và dân ta, quyết tâm đánh thắng thực dân Pháp xâm lược.

Lênin đã chỉ rõ: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”. Tuy nhiên, nhân tố chính trị, tinh thần không phải tự nhiên mà có, nó là sản phẩm của truyền thống đoàn kết chống giặc ngoại xâm, của tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, hình thành từ nhận thức sâu sắc về tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân tố chính trị, tinh thần đã góp phần làm chuyển hóa lực lượng, tạo thế và lực, kết nối tất cả các nguồn lực, các nhân tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của quân và dân ta, là sức mạnh của cả dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại làm nên một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm xưa vẫn vẹn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đặc biệt, thực hiện phương hướng xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, cùng với việc huấn luyện làm chủ các loại vũ khí, trang bị hiện đại, cần phải quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, chăm lo xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần; giáo dục, rèn luyện cho bộ đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và quan điểm “vũ khí luận”, tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí, coi nhẹ sức mạnh nhân tố chính trị tinh thần.

Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa: Những người lỡ đi lầm đường mà biết trở về với Tổ quốc thì dân Việt Nam sẵn sàng hoan nghênh

“Những người lỡ đi lầm đường mà biết trở về với Tổ quốc thì dân Việt Nam sẵn sàng hoan nghênh”, đây là sự khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh về truyền thống khoan dung, độ lượng của dân tộc Việt Nam khi Người trả lời phỏng vấn của một nhà báo nước ngoài ngày 16 tháng 7 năm 1947. Thời điểm này, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, kiến quốc do Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi. Đây cũng là lúc xuất hiện các quan điểm trái chiều về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược cần phải được định hướng cho thống nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Nước nào cũng có những đảng phái với những quan điểm chính trị khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Song khi lợi ích chung của dân tộc bị lâm nguy thì các đảng phái phải đoàn kết để cứu nước. Do đó, sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam là thực hiện lợi ích chung của dân tộc. Nếu đảng phái nào lợi dụng sự khác nhau về quan điểm chính trị mà phản kháng chiến, phản nhân dân, đi theo phe địch thì quốc dân không thể tha thứ, lịch sử không thể khoan dung. Song nhân dân Việt Nam sẵn sàng hoan nghênh những người lỡ đi lầm đường mà biết trở về với Tổ quốc.

Tư tưởng nhân văn, nhân đạo Hồ Chí Minh đã thấu suốt trong các chủ trương, chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta trong xây dựng chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, chính sách đối với tù, hàng binh. Truyền thống, chính sách khoan hồng, nhân văn, nhân đạo không chỉ đối với những người Việt Nam lầm đường, lạc lối đi theo giặc, nay giác ngộ và trở về với Tổ quốc, mà được quân và dân ta đối xử khoan hồng, nhân đạo với cả những tù, hàng binh, những người đã mang bom, đạn đến tàn phá quê hương, cướp bóc tài sản, giết hại người già, phụ nữ và trẻ em vô tội. Lòng khoan dung, vị tha, độ lượng, chính sách khoan hồng, nhân đạo thể hiện sâu sắc truyền thống của dân tộc Việt Nam và bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, tất cả vì con người, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng con người.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có lý tưởng chiến đấu cao đẹp, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh; thương yêu đồng chí, đồng đội, gắn bó máu thịt với dân; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh, tinh thần quốc tế cao cả, chấp hành nghiêm chính sách đối với tù, hàng binh... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”.