Thứ Hai, 4 tháng 3, 2024

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn kích động, xuyên tạc về cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biên giới, lãnh thổ

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động gia tăng nhiều hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có nội dung xuyên tạc hoạt động quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Trong đó, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động triệt để lợi dụng, tuyên truyền xuyên tạc cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 bằng luận điệu vu khống Đảng, Nhà nước ta né tránh, lãng quên, không quan tâm đến chính sách đối với thương binh, cựu binh, thân nhân liệt sĩ tham gia cuộc chiến đấu; xuyên tạc, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực xấu

Có thể nói rằng, lợi dụng vấn đề chủ quyền lãnh thổ, trong đó có chủ quyền vê biên giới, biển, đảo nhằm xuyên tạc sự thật, kích động dư luận và gây rối vốn là âm mưu quen thuộc của các thế lực thù địch. Như một chu kỳ, cứ mỗi khi đến dịp kỷ niệm các sự kiện như cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc (1979), trận hải chiến bảo vệ Trường Sa (1988)… các thế lực thù địch, các tổ chức phản động kêu gọi trên các diễn đàn mạng xã hội hoạt động tụ tập đông người tại những địa điểm công cộng như Bờ Hồ (Hà Nội); tượng đài Nguyễn Huệ (TP Hồ Chí Minh) và một số thành phố lớn khác nhằm thực hiện các hành vi biểu tình, gây rối trật tự công cộng. Thông qua các bài viết trên mạng xã hội, các đối tượng sử dụng nhiều hình thức và thủ đoạn tinh vi, giảo hoạt, tung ra những thông tin và tư liệu lịch sử sai lệch để đánh lừa dư luận.

Từ những luận điệu xuyên tạc về cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 cho thấy âm mưu của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động là vu cáo đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong đảm bảo chủ quyền, biên giới quốc gia như kết quả phân giới cắm mốc giữa Việt Nam với các nước có chung đường biên giới; chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, từ đó tạo nên môi trường xã hội, chính trị bất ổn để dễ bề thực hiện mưu đồ chống phá. Các đối tượng viết bài xuyên tạc Việt Nam nhượng đất cho nước láng giềng, lấy cớ kích động tâm lý bất bình trong nhân dân; bịa đặt Việt Nam xâm chiếm đất của nước láng giềng nhằm phá hoại tiến trình phân giới cắm mốc của nước ta với các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia. Từ đó các đối tượng trên rêu rao rằng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước “nhu nhược, hèn yếu” nên không có những động thái kiên quyết để bảo vệ chủ quyền quốc gia; thậm chí chúng còn trắng trợn bịa đặt rằng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước im lặng vì đã thỏa hiệp với nước ngoài thao túng chủ quyền của nước ta…

Bên cạnh đó, lợi dụng các vấn đề liên quan đến chủ quyền biên giới, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động ra sức xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, quan hệ giữa các dân tộc, bôi nhọ chủ trương phát triển kinh tế-xã hội. Chúng cho rằng việc phát triển các dự án kinh tế là nguyên nhân đẩy đồng bào các dân tộc lâm vào tình cảnh khốn khó, mất nguồn sinh kế, vì thế đời sống bà con luôn thiếu thốn, khó khăn. Chúng còn kích động mâu thuẫn giữa các dân tộc và xuyên tạc người Kinh đã lấy đất, phá rừng, gây khó khăn cho đồng bào các dân tộc trong phát triển kinh tế-xã hội, qua đó nhằm phá hoại khối đoàn kết dân tộc, làm suy yếu sức mạnh của quân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để thực hiện âm mưu thâm độc trên, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động đã triệt để tận dụng tối đa các phương tiện truyền thông xã hội, các diễn đàn, nhất là triệt để lợi dụng một số văn nghệ sĩ, trí thức bất mãn, có quan điểm chính trị lệch lạc để ngấm ngầm cài cắm, tán phát những quan điểm sai trái, phản động về chủ quyền lãnh thổ. Càng nguy hiểm hơn khi nhiều đối tượng lợi dụng vấn đề chủ quyền lãnh thổ, trong đó có chủ quyền biên giới đất liền, chủ quyền biển, đảo để kích động, kêu gọi người dân “xuống đường” thể hiện lòng yêu nước, từ đó gây mất an ninh, trật tự xã hội và kiếm cớ để tiếp tục chống phá. Một thực tế khác cần nhìn nhận, đó là trong khi đa số người dân nhận thức đúng đắn về quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, gần như “miễn nhiễm” với những luận điệu xuyên tạc, hồ đồ và cũ rích ấy thì vẫn còn không ít người "sập bẫy". Sự thiếu nhận thức hoặc nhận thức lệch lạc về chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước khiến số này chưa kịp chắt lọc thông tin đúng-sai trên mạng xã hội.

Lịch sử dựng nước, giữ nước đã chứng minh lòng yêu nước nồng nàn của dân tộc Việt Nam. Khi chủ quyền lãnh thổ quốc gia đứng trước những thách thức hoặc bị xâm phạm, người dân đặc biệt quan tâm, thường xuyên dõi theo những thông tin liên quan và có các ý kiến thể hiện quan điểm. Lợi dụng tâm lý này, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động đã đưa ra những thông tin sai sự thật hòng bẻ lái dư luận, kích động người dân nhằm xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, chia rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước. Cùng với việc phê phán các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế, xâm phạm chủ quyền Việt Nam, các đối tượng xấu cũng tìm cách quy chụp lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta "phản ứng chậm" hoặc "né tránh, không dám đối đầu, để chủ quyền lãnh thổ quốc gia bị đe dọa”. Bằng luận điệu xuyên tạc, đả kích, các thế lực xấu hòng làm lòng dân bất an, dần mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước.

Sự thật phản bác những luận điệu xuyên tạc

Đảng, Nhà nước và nhân dân ta không bao giờ lãng quên cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 cũng như các sự kiện có liên quan đến chủ quyền biên giới, lãnh thổ. Cuộc chiến đấu chính nghĩa này là một trong những trang sử oanh liệt của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là chủ trương nhất quán đã được lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta nhiều lần khẳng định.

Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta luôn quan tâm đến chính sách đối với những người có công trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979. Phát huy truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, những năm qua, Đảng, Nhà nước và các đoàn thể xã hội đặc biệt quan tâm đến các thương binh, thân nhân các gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, trong đó có các cựu chiến binh, thân nhân các liệt sĩ trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979. Sự thật, không có sự phân biệt về chế độ, chính sách dành cho các cựu chiến binh, thân nhân các liệt sĩ trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc với cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ trong các cuộc chiến tranh khác để bảo vệ Tổ quốc. Các cựu chiến binh tham gia chiến dịch biên giới phía Bắc còn được hưởng các chế độ theo Quyết định số 62/2011/QĐ TTg, ngày 9/11/2011 về chế độ, chính sách đối với người làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30/4/1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc. Hiện nay, chế độ, chính sách đối với cựu chiến binh nói chung được thực hiện theo Pháp lệnh Cựu chiến binh và Nghị định hướng dẫn thi hành.

Trong nhiều năm qua, thông tin về cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc được thể hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng. Để tưởng nhớ công lao các anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến đấu ba vệ biên giới phía Bắc, nhiều địa phương trong cả nước và ở các tỉnh biên giới phía Bắc đã phối hợp với các ban, ngành Trung ương, đoàn thể xây đài tưởng niệm, tôn tạo nghĩa trang liệt sĩ như xây dựng và nâng cấp Nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên thành nghĩa trang quốc gia; tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; lấy tên một số liệt sĩ để đặt tên đường phố, trường học... Nhân dịp kỷ niệm 40 năm cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc, ngày 15/2/2019, tại Hà Nội, Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia “Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc – 40 năm nhìn lại". Hội thảo có sự tham gia của các đại biểu là các nhà khoa học, giảng viên đến từ các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương, viện nghiên cứu và trường đại học uy tín trong cả nước. Đặc biệt, có sự tham dự của các nhân chứng, cựu quân nhân đã từng tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc.

Cùng với đó, lãnh đạo Đảng, Nhà nước đến dâng hương tại các nghĩa trang liệt sĩ và thăm hỏi, động viên cựu chiến binh, thương binh từng tham gia cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc 1979. Ngày 26/1/2023, Thủ tướng Phạm Minh Chính và đoàn công tác của Trung ương đã dâng hương tại Khu tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Pò Hèn; thăm, chúc Tết, tặng quà công nhân lao động, lực lượng biên phòng, các lực lượng chức năng đang làm nhiệm vụ, đồng bào dân tộc, hộ nghèo tại vùng đất biên cương này của Tổ quốc. Ngày 8/5/2023, Thủ tướng Phạm Minh Chính đến dâng hương, dâng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên. Trước đó, ngày 13/07/2022, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc gặp mặt các đại biểu Ban liên lạc Hội Cựu chiến binh toàn quốc mặt trận Vị Xuyên - Hà Tuyên nhân dịp kỷ niệm Ngày thành lập Hội Cựu Chiến binh toàn quốc mặt trận Vị Xuyên - Hà Tuyên (14/7/2016 14/7/2022). Ngay những ngày đầu Xuân Giáp Thìn 2024, với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, ngày 17/2/2024, đồng chí Trương Tấn Sang, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước đã đến dâng hoa, thắp hương tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ tại Nghĩa trang liệt sỹ Vị Xuyên và Đền thờ các anh hùng liệt sĩ trên điểm cao 468, xã Thanh Thủy.

Như vậy, thực tế không có chuyện Đảng, Nhà nước, nhân dân ta né tránh, lãng quên cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979; không có chuyện không quan tâm chế độ, chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công trong cuộc chiến như luận điệu của các thế lực xấu. Đất nước Việt Nam đã trải qua những năm tháng chiến tranh, mất mát, đau thương, nay đang trong quá trình xây dựng, phát triển, hội nhập quốc tế sâu rộng trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Hơn lúc nào hết, Đảng, Nhà nước ta luôn mong muốn nhân dân ta và người Việt Nam đang sinh sống, làm việc ở nước ngoài cùng đoàn kết, nhất trí, chung sức, chung lòng, biến lòng yêu nước thành hành động thiết thực, cụ thể, đóng góp xây dựng và kiến thiết vì một Việt Nam hòa bình, ổn định, phát triển.

Sưu tầm

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2024

HRW phớt lờ sự thật, tiếp tục vu cáo tình hình nhân quyền ở Việt Nam

Vừa qua, tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch - HRW) công bố báo cáo tổng kết toàn cầu về tình hình nhân quyền trên thế giới năm 2023, trong đó tiếp tục có đánh giá mang tính vu cáo, bịa đặt về tình hình nhân quyền ở Việt Nam, làm méo mó, sai lệch thực tiễn, ảnh hưởng vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Luận điệu sai trái, cũ mòn

Báo cáo này cho rằng, năm 2023, Việt Nam mở rộng đàn áp các nhà hoạt động xã hội dân sự. Chính quyền Việt Nam tiếp tục nghiêm cấm việc thành lập các nghiệp đoàn độc lập và tổ chức nhân quyền độc lập, đồng thời xóa bỏ các nhóm tôn giáo độc lập; giám sát, sách nhiễu và trấn áp các nhóm tôn giáo độc lập. Họ vu cáo, thành viên của các nhóm này bị “đấu tố” trước công chúng, bị buộc phải từ bỏ đức tin của mình, bị bắt giữ một cách tùy tiện, bị thẩm vấn, ngược đãi và bị bỏ tù sau những phiên tòa xét xử bất công... Từ đó, báo cáo này phán xét “nhân quyền của Việt Nam tồi tệ về hầu hết mọi mặt”, vu cáo “nhà cầm quyền hạn chế ngặt nghèo các quyền cơ bản, bao gồm tự do ngôn luận và truyền thông, nhóm họp, lập hội”. Báo cáo còn cho rằng, các blogger và các nhà hoạt động nhân quyền bị đe dọa, sách nhiễu, hạn chế đi lại, bắt giữ tùy tiện, biệt giam.                   

Hệ thống tư pháp hình sự, bao gồm các tòa án, thiếu tính độc lập, áp đặt cho những người bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động xã hội dân sự những án tù dài hạn dựa trên các cáo buộc ngụy tạo về an ninh quốc gia...

Phủ nhận những cáo buộc sai trái này, ngày 25/1/2024, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ: “Việt Nam hoàn toàn bác bỏ và lên án cái gọi là tổ chức Theo dõi Nhân quyền với những nội dung sai sự thật, bịa đặt trong báo cáo”. Tuy nhiên, HRW không tiếp thu chỉnh lý mà vẫn thể hiện thái độ định kiến. Vừa qua, ông Robertson, Phó Giám đốc châu Á của HRW tiếp tục vu cáo: “Mọi quyền dân sự và chính trị, dù là quyền tự do ngôn luận, quyền hội họp hay quyền tự do lập hội đều đang bị chính quyền Việt Nam vi phạm một cách có hệ thống. Chính phủ đã đi thụt lùi quá xa về nhân quyền, không theo bất kỳ công ước nhân quyền quốc tế nào mà họ đã phê chuẩn”!

Hằng năm, HRW đều đưa ra các báo cáo về tình hình nhân quyền trên toàn thế giới. Vốn giữ quan điểm định kiến đối với thể chế chính trị ở Việt Nam, nhiều năm qua, tổ chức này luôn có báo cáo, đánh giá bịa đặt, vu cáo theo kiểu cũ mèm, nhai đi nhai lại những nội dung này. Trước đó, ngày 26/5/2023, tổ chức này đã gửi đến Liên hiệp châu Âu một “tờ trình” về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam, yêu cầu EU gây sức ép để chính quyền Hà Nội trả tự do ngay lập tức cho những người đang bị giam giữ vì lý do chính trị. Hay ngày 8/6/2023 (trước cuộc đối thoại nhân quyền Liên hiệp châu Âu - Việt Nam tại Hà Nội), tổ chức HRW đã vu cáo, kêu gọi châu Âu gây áp lực để buộc Việt Nam chấm dứt các hành động “vi phạm nhân quyền một cách có hệ thống”. Tổ chức này cũng liên tục lên tiếng đòi hủy bỏ một số điều khoản trong Bộ luật Hình sự mà họ cho rằng, đó là công cụ “để đàn áp các quyền dân sự, chính trị, hạn chế quyền tự do đi lại đối với các nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền”.

HRW bị tẩy chay ngay tại Mỹ

Tổ chức HRW được thành lập năm 1988, là tổ chức phi chính phủ, bị chi phối bởi sự bảo trợ, nguồn kinh phí hoạt động của nhiều nước phương Tây. Tiêu chuẩn đánh giá về nhân quyền của tổ chức này phù hợp với các chính sách và lợi ích của những chính phủ đã chi tiền để HRW hoạt động nên thiếu tính độc lập và không thể thoát khỏi quan điểm chính trị và lập trường của nhiều nước phương Tây. Các báo cáo, phúc trình về nhân quyền của tổ chức này thường bị bộ ngoại giao của nhiều nước cho rằng sai sự thật, mang màu sắc chính trị và chủ quan áp đặt, gây ra phản ứng tiêu cực tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Liên bang Nga đã nhiều lần chỉ trích HRW về những động thái tuyên truyền xuyên tạc, kích động tạo cớ can thiệp vào những vấn đề nội bộ của nước này. Chính phủ Trung Quốc không ít lần áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với HRW. Thái Lan cấm cửa trang web của HRW hoạt động vì cho rằng thường xuyên đội lốt “theo dõi nhân quyền” để tuyên truyền xuyên tạc, tán phát những nội dung thông tin sai lệch, kích động, vi phạm các quy định về an ninh quốc gia. Singapore cũng bác bỏ chỉ trích của tổ chức phi chính phủ này về Luật tin tức giả vào năm 2019. HRW còn bị nhiều quốc gia như Cuba, Srilanka, Triều Tiên, Ethiopia, Syria... chỉ trích, phản đối những nội dung báo cáo của HRW đã can thiệp, làm phức tạp tình hình, gây khó khăn cho việc bảo đảm nhân quyền ở các nước này. Đánh giá về HRW, ông Geoffrey Corn - Giáo sư luật tại Đại học Luật Nam Texas Houston, thành viên Trung tâm Quốc phòng & Chiến lược của Viện Do Thái về an ninh quốc gia Hoa Kỳ (JINSA), trụ sở tại Washangton, có bài viết “Báo cáo của Tổ chức theo dõi nhân quyền có nhiều sai sót” đăng trên trang Jinsa của viện nghiên cứu này. Bài viết đã vạch trần những báo cáo sai trái của HRW và khẳng định: “HRW đã không sở hữu những sự thật, mang nặng tính suy đoán và nhiều sai sót”. Cũng bẽ bàng thay, ngay tại nơi đóng trụ sở, HRW không chỉ bị lên án mà còn bị kêu gọi, yêu cầu đóng cửa từ lâu. Tháng 5/2014, một lá thư kêu gọi đóng cửa HRW bởi hơn 130 học giả, hầu hết từ Mỹ đã chỉ trích rằng: HRW thường đưa ra những báo cáo chứa đầy quan điểm thiên vị và bằng chứng sai lệch; phớt lờ các trường hợp cảnh sát đánh chết người Mỹ gốc Phi ở Mỹ hoặc hành vi ngược đãi khét tiếng đối với những người bị giam giữ tại trại tạm giam Vịnh Guantanamo... Bức thư này chỉ rõ, nhiều thành viên của HRW là cựu nhân viên CIA và cựu quan chức của chính phủ nhiều nước phương Tây.

Việt Nam quan tâm bảo vệ, thực thi quyền con người

Nhân quyền trước hết là quyền sống, quyền tồn tại, quyền phát triển và các quyền cơ bản khác của con người.  Năm 2023, Việt Nam tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong lĩnh vực thúc đẩy, bảo vệ quyền con người.

Về phương diện chính trị, pháp lý, tính đến hết 2023, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập hầu hết công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người, gia nhập 25 công ước của ILO như: Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng trị tội ác diệt chủng; Công ước quốc tế về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc (ICERD); Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR); Công ước quốc tế về các kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR); Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW)... So với nhiều nước, Việt Nam là thành viên trách nhiệm, tích cực, tiến bộ về quyền con người. Ngay cả Mỹ hiện nay vẫn là nước chưa phê chuẩn Công ước quốc tế về trẻ em 1989, Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966. Trong khi đó, Việt Nam cam kết, thực hiện và coi đó là trách nhiệm chính trị, pháp lý. Đây là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện, bảo vệ, bảo đảm quyền con người và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết. Hiến pháp 2013 quy định, Nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân (Điều 14, Hiến pháp năm 2013).

Trong lĩnh vực tư pháp hình sự, hoạt động tư pháp trong nhiều năm qua và năm 2023 với mục tiêu bảo vệ công lý, tôn trọng, bảo đảm quyền con người, công bằng, dân chủ, văn minh đạt được nhiều kết quả quan trọng. Công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, việc bắt, giam giữ, cải tạo được thực hiện nghiêm minh, dân chủ, minh bạch, hạn chế oan, sai, bỏ lọt tội phạm, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Trên lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa,bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa cũng được thực hiện một cách tích cực trong triển khai các chương trình, mục tiêu, chính sách quốc gia; quyền về việc làm, thu nhập, quyền sở hữu, an sinh xã hội, quyền được chăm sóc y tế, sức khỏe, quyền được học tập, giáo dục, quyền được tham gia vào đời sống văn hóa được bảo đảm. Trên lĩnh vực tôn giáo, Việt Nam tôn trọng, công nhận tự do tôn giáo, tín ngưỡng, cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, với trên 26,5 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số, hơn 54.000 chức sắc, trên 135.000 chức việc và gần 30 nghìn cơ sở thờ tự...

Với những thành tựu, thực tiễn tiến bộ như trên thì không thể vu cáo tiêu cực về quyền con người ở Việt Nam. Thành tựu, uy tín trong bảo vệ quyền con người của Việt Nam đã được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Chính vì vậy, với số phiếu cao, Việt Nam đã trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ thứ 2 (2023-2025) của Liên hợp quốc và những đóng góc trách nhiệm, tích cực của Việt Nam đã và đang được Liên Hợp quốc, cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Vậy mà HRW cố tình như không biết, vẫn nhai lại điệp khúc sai trái, bịa đặt. 

Lật tẩy luận điệu xuyên tạc về ngày hội tòng quân bảo vệ Tổ quốc

Cứ mỗi dịp xuân về, khi các địa phương tổ chức ngày hội tòng quân thì trên không gian mạng lại xuất hiện các thông tin sai trái, bôi nhọ việc tham gia nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ Công an (NVQS, CA), đả kích môi trường quân ngũ. Đây là luận điệu nhằm bôi nhọ hình ảnh, truyền thống của người chiến sĩ Quân đội và Công an, tạo dư luận xấu, gây tâm lý hoang mang, lo lắng. Từ đó, tác động đến giới trẻ, nhất là những người trong độ tuổi thực hiện NVQS, CA, gieo rắc tâm lý tiêu cực, thoái thác về trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân với Tổ quốc.

Những luận điệu phiến diện, xuyên tạc

Họ đưa ra các bài viết, status đăng dòng trạng thái của thanh niên thực hiện nghĩa vụ NVQS, CA năm 2024 với những luận điệu quen thuộc như: “Trong khi các nước quan tâm chăm lo đào tạo cho thanh niên lập nghiệp, làm ăn kinh tế thì chỉ có Việt Nam mới bắt ép người dân đi NVQS, CA”; “sao không để thanh niên lập nghiệp, làm giàu chính đáng lại bắt đi nghĩa vụ”; “chỉ con nhà nghèo mới bị bắt đi nghĩa vụ”... Thậm chí có những hình ảnh, video được cắt ghép, dàn dựng để bóp méo sự thật, xuyên tạc về đạo đức, tác phong và hoạt động của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội, Công an nhằm kích động một số người nhẹ dạ, cả tin, thiếu hiểu biết chia sẻ, lan tỏa trên mạng xã hội, làm nóng vấn đề. Trên mạng xã hội, các trang tin phản động ở nước ngoài và nhiều page được lập nhằm mục đích chia sẻ các bài viết về cách thức, thủ đoạn để trốn tránh NVQS, CA như tìm cách làm sai lệch tình trạng sức khỏe, khai gian thông tin của mình, lợi dụng tiểu xảo để không đủ tiêu chí khi khám sức khỏe và kiểm tra lý lịch…

Đây là những luận điệu phiến diện hòng làm cho thanh niên Việt Nam nói chung và thanh niên nhập ngũ thực hiện nghĩa vụ Quân sự, Công an nói riêng dao động tư tưởng, hoài nghi dẫn đến phai nhạt lý tưởng, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ. Không những thế, những người thiếu bản lĩnh khi tiếp nhận thông tin trên sẽ mất niềm tin vào thế hệ trẻ, không tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và chủ trương, chính sách của QĐND, CAND.  Từ đó, tạo luồng tư tưởng “tự diễn biến” khiến cho công dân đến tuổi nhập ngũ hoang mang, buông lỏng về trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân với Tổ quốc, làm phụ huynh không muốn cho con em mình thực hiện NVQS,CA. Cùng với luận điệu sai trái trên là mưu đồ hòng gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội khi các đối tượng phản động kích động người dân biểu tình, chống phá, kích động các quân nhân đào ngũ, chống đối việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc…

Tham gia nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an là vinh dự và trách nhiệm thiêng liêng

Lịch sử dân tộc đã minh chứng, khi Tổ quốc lâm nguy đã có hàng triệu thanh niên tình nguyện nhập ngũ tham gia các cuộc đấu tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc. Nhiều lá đơn được viết bằng máu, thể hiện ý chí, trách nhiệm, quyết tâm của lớp lớp thanh niên đối với đất nước. Tiếp nối truyền thống đó, thế hệ thanh niên ngày nay luôn nhận thức rõ nghĩa vụ, trách nhiệm thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc, cảm thấy vinh dự khi trở thành người chiến sĩ trong lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

Hiến pháp năm 2013 quy định: “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân” (Điều 45, Chương II) và “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là sự nghiệp của toàn dân… Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh” (Điều 64, Chương IV). Thể chế hóa Hiến pháp, Luật Nghĩa vụ quân sự và Luật CAND quy định rõ việc công dân tham gia nghĩa vụ Quân sự, Công an.

Theo Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015, có hiệu lực từ ngày 1/1/2016 quy định: “Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong QĐND”; “Công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú phải thực hiện nghĩa vụ quân sự”. Luật cũng chỉ rõ, hành vi trốn tránh, chống đối, cản trở, gian dối trong khám sức khỏe, lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định về nghĩa vụ quân sự thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó QĐND và CAND là nòng cốt”. Chính sách và chiến lược quốc phòng của Đảng ta là tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc... Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước.

Thực tiễn lịch sử cho thấy, dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại, phát triển của dân tộc, đó chính là truyền thống quý báu của tổ tiên ta. Ðảng ta đã vận dụng, phát triển thành hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, các triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam đã có chính sách “ngụ binh ư nông”. Chính sách này ra đời trong bối cảnh một đất nước đất không rộng, người không đông, lại thường bị các thế lực nước ngoài xâm lược. Chính sách “ngụ binh ư nông” là sự kết hợp nhiệm vụ duy trì lực lượng quốc phòng với sản xuất, sẵn sàng chuyển hóa lực lượng quân sự từ sản xuất sang chiến đấu khi cần thiết và ngược lại, chuyển lực lượng chiến đấu về sản xuất trong thời bình.

Bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng liêng, cao quý nhất của mỗi công dân. Mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tuổi trẻ luôn là lực lượng xung kích trên tuyến đầu chống giặc. Đặc biệt, trong các cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc xâm lược, dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam, lớp lớp thanh niên với khát vọng tự do đã tình nguyện lên đường nhập ngũ. Nêu cao tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, họ đã trực tiếp góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, cùng với toàn quân, toàn dân ta giành thắng lợi vĩ đại, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cuộc sống hòa bình hôm nay là thành quả được đánh đổi bằng xương máu và sự hy sinh cao cả của bao thế hệ cha anh. Vì vậy, sẵn sàng tham gia nghĩa vụ Quân sự, Công an để góp phần bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc, bảo vệ cuộc sống yên bình, hạnh phúc của nhân dân chính là cách để tuổi trẻ thể hiện tinh thần yêu nước, thể hiện trách nhiệm và lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ đi trước.

Bác Hồ đã từng nói, Quân đội là “trường học lớn” để lớp lớp thế hệ thanh niên phấn đấu rèn luyện, trưởng thành. Được phục vụ trong môi trường Quân đội, Công an, cống hiến sức trẻ bảo vệ Tổ quốc là niềm vinh dự, tự hào của mỗi công dân. Môi trường quân ngũ với đặc tính thống nhất, kỷ luật nghiêm minh, tinh thần tập thể và tình đồng chí, đồng đội… là điều kiện tốt để mỗi thanh niên phấn đấu rèn luyện, không ngừng hoàn thiện nhân cách, phát triển toàn diện. Do đó, người dân nhất là những gia đình có con, em đến tuổi thực hiện nghĩa vụ Quân sự, Công an cần nhận thức rõ việc tham gia là trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng liêng. Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ Quân sự, Công an nếu phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện tốt sẽ được xem xét tuyển vào biên chế của lực lượng Quân đội và Công an. Bên cạnh đó, sau khi hoàn thành xong nghĩa vụ Quân sự, Công an và thực hiện xuất ngũ, các chiến sĩ sẽ được hưởng chính sách ưu đãi như được cộng điểm khi thi tuyển sinh vào các trường đại học, học viện, hỗ trợ đào tạo học nghề, tạo công ăn việc làm… Khi xuất ngũ được hưởng trợ cấp (4 tháng); trợ cấp việc làm (6 tháng); trợ cấp bảo hiểm (4 tháng); thanh toán nghỉ phép; quà Tết; phụ cấp; thẻ học nghề giúp thanh niên lập thân, lập nghiệp và ổn định cuộc sống sau này.

Lên đường thực hiện nghĩa vụ Quân sự, Công an không chỉ là nghĩa vụ, trách nhiệm, mà trên hết đó còn là niềm tự hào của tuổi trẻ Việt Nam để góp phần bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, giữ gìn bản sắc, truyền thống dân tộc, hội nhập quốc tế. Những ngày qua, trên các phương tiện thông tin, chúng ta xúc động trước những chia sẻ của các nam, nữ thanh niên viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ hay các cơ quan, đơn vị, các gia đình, dòng họ tổ chức lễ tuyên dương, động viên con em mình lên đường thực hiện nghĩa vụ Quân sự, Công an. Những tấm gương, gia đình, dòng họ đó coi đây là niềm tự hào, nối tiếp truyền thống của các thế hệ cha anh đi trước, xứng đáng với niềm tin của Đảng và nhân dân, ra sức tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Hòa cùng không khí vui tươi của những ngày đầu Xuân Giáp Thìn 2024, hàng vạn thanh niên trên khắp mọi miền Tổ quốc đang nô nức lên đường tòng quân. Thực hiện nghĩa vụ Quân sự, Công an là điều kiện để thế hệ trẻ thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng liêng, góp một phần công sức của mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, đây cũng là cơ hội để các thế hệ thanh niên được tu dưỡng, rèn luyện và trưởng thành. Thực tiễn sinh động đó là minh chứng bác bỏ các luận điệu về thực hiện nghĩa vụ Quân sự, Công an mà kẻ xấu đang cố tình rêu rao, xuyên tạc.

Sưu tầm

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ đối với cán bộ, đảng viên học tập, làm việc ở nước ngoài hiện nay - Phần 2

Thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới

 Thời gian tới, quá trình hội nhập quốc tế sẽ diễn ra ngày càng mạnh mẽ, toàn diện, sâu rộng, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, thì đây cũng là điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng đẩy mạnh hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta, nhất là tìm cách tác động tới đối tượng là đội ngũ cán bộ, đảng viên học tập, công tác, lao động ở nước ngoài. Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên ra nước ngoài học tập, công tác, tham quan, du lịch…; quản lý chặt chẽ hoạt động hợp tác quốc tế; thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và có biện pháp ngăn chặn ý đồ tác động của các thế lực thù địch thông qua các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, gây ảnh hưởng đến vị thế, uy tín, vai trò của Đảng.

Để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ đối với cán bộ, đảng viên học tập, công tác ở nước ngoài, thời gian tới, cần tập trung thực hiện có hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

Một là, tập trung rà soát, thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định, quy chế hiện có; tham mưu xây dựng, ban hành các quy định về bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý cán bộ, đảng viên ra nước ngoài công tác, học tập. Trên cơ sở các quy định của Đảng về bảo vệ chính trị nội bộ, như Chỉ thị số 39-CT/TW, ngày 18-8-2014, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay”; Quy định số 58-QĐ/TW, ngày 8-2-2022..., các cơ quan, ban, ngành tập trung rà soát, nghiên cứu, tham mưu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư sửa đổi, bổ sung, ban hành các quy định về quản lý cán bộ, đảng viên đi công tác, học tập, lao động ở nước ngoài, kịp thời phát hiện, khắc phục những vướng mắc, hạn chế nảy sinh trong thực tiễn. Trong đó, cần cụ thể hóa các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước có liên quan đến hợp tác quốc tế, giáo dục - đào tạo phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay. Hoàn thiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ của mô hình tổ chức đảng ở ngoài nước; trách nhiệm của Đảng ủy Bộ Ngoại giao (Quyết định số 209-QĐ/TW, ngày 26-11-2019, của Bộ Chính trị, về hợp nhất Đảng bộ ngoài nước với Đảng bộ Bộ Ngoại giao) trong bảo vệ chính trị nội bộ đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên công tác, học tập ở nước ngoài; quy định trong quan hệ, tiếp xúc với người nước ngoài; thực hiện kỷ luật phát ngôn; chấp hành kỷ luật đảng, nhiệm vụ đảng viên ở nước ngoài.

Hai là, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp, nhất là người đứng đầu cần nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn với công tác bảo vệ, quản lý cán bộ, đảng viên học tập, công tác ở nước ngoài trong tình hình hiện nay. Phải xác định đây là một công việc hệ trọng, có ý nghĩa sống còn, liên quan trực tiếp đến uy tín, vị thế của Đảng, Nhà nước và sinh mệnh chính trị của cán bộ, đảng viên; nhiệm vụ chính trị hết sức quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị quản lý cán bộ, đảng viên. Trên cơ sở đó, phải hết sức coi trọng công tác quán triệt, phổ biến các quy định hiện hành về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhất là Chỉ thị số 39-CT/TW, ngày 18-8-2014; Kết luận số 72-KL/TW, ngày 19-5-2020; Quy định số 58-QĐ/TW, ngày 8-2-2022; Quy định số 86-QĐ/TW, ngày 28-10-2022… Tăng cường công tác thông tin đối ngoại về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là về hội nhập quốc tế; khẳng định Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; tích cực đấu tranh với luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Đồng thời, phải thường xuyên quan tâm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục cán bộ, đảng viên chấp hành nghiêm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam, pháp luật nước sở tại khi đi công tác, học tập ở nước ngoài. Nâng cao ý thức trách nhiệm, cảnh giác trước các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nhất là trong việc bảo vệ bí mật nhà nước, quan hệ, tiếp xúc với người nước ngoài; thực hiện nghiêm chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên; chế độ thông tin, báo cáo, sinh hoạt đảng.

Ba là, thực hiện hiệu quả, thực chất các cơ chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ hiện có, đặc biệt là Quyết định số 140-QĐ/TW, ngày 8-8-2018, của Ban Bí thư, về “Quy chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ” giữa Ban Tổ chức Trung ương với Ủy ban kiểm tra Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, Ban Cán sự đảng Bộ Ngoại giao, Ban Cán sự đảng Thanh tra Chính phủ. Đẩy mạnh mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ với các cơ quan, ban, ngành, đặc biệt là với lực lượng công an nhân dân các cấp trong bảo vệ cán bộ, đảng viên ra nước ngoài công tác, học tập nhằm kịp thời thẩm tra, xác minh, thẩm định tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, đảng viên; chủ động nắm bắt thông tin về âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch và tội phạm khác hoạt động thâm nhập, cài cắm nội gián, tác động, chuyển hóa, phá hoại nội bộ ta; thông tin về cán bộ, đảng viên có hành vi nói, viết, phát tán tài liệu, trả lời phỏng vấn báo chí ngoài nước trái quy định; cung cấp, tiết lộ bí mật của Đảng, bí mật nội bộ cho nước ngoài; nhận tài trợ, quan hệ với cá nhân, tổ chức trái quy định… để phối hợp phòng ngừa, xử lý, đấu tranh hiệu quả.

Bốn là, rà soát, thẩm tra, xác minh, thẩm định chặt chẽ, kết luận tiêu chuẩn chính trị cho đối tượng cán bộ, đảng viên học tập, công tác nước ngoài theo đúng quy định. Trước khi cán bộ, đảng viên ra nước ngoài công tác, học tập, cần phải ban hành kết luận tiêu chuẩn chính trị; tiến hành thẩm tra, xác minh, kết luận rõ những nội dung chưa rõ; bảo đảm khách quan, toàn diện trong xem xét từng trường hợp, không để các trường hợp không bảo đảm tiêu chuẩn chính trị hoặc có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, vi phạm những điều đảng viên không được làm ra nước ngoài học tập, công tác. Đồng thời, tổ chức tập huấn, học tập nắm vững nội quy, quy định về bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý cán bộ, đảng viên đi nước ngoài, trang bị nhận thức cơ bản về âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch để nâng cao cảnh giác, phổ biến kinh nghiệm, kỹ năng phòng, chống các hoạt động lôi kéo, móc nối của các thế lực thù địch; thường xuyên cập nhật tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước để cán bộ, đảng viên nắm bắt, yên tâm học tập, công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Năm là, nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình chính trị nội bộ, nhất là nắm tình hình chính trị hiện nay đối với cán bộ, đảng viên công tác, học tập tại nước ngoài. Trong đó chú trọng nắm bắt diễn biến tư tưởng, tình cảm, lập trường, tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên; những mối quan hệ mới phát sinh mà cán bộ, đảng viên thường xuyên tiếp xúc, gặp gỡ; những khó khăn, vướng mắc của cán bộ, đảng viên phải đối mặt trong quá trình học tập, lao động tại nước ngoài; âm mưu, phương thức, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm móc nối, lôi kéo cán bộ, đảng viên để thu thập bí mật nhà nước và tham gia các hoạt động chống Đảng, Nhà nước Việt Nam. Trên cơ sở đó, phân tích, đánh giá, dự báo chính xác hướng hoạt động, thâm nhập nội bộ để chủ động phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả, vô hiệu hóa hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Sáu là, tăng cường công tác bồi dưỡng, nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại các cơ quan, đơn vị; bố trí cán bộ chuyên trách làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ cho Đảng ủy Bộ Ngoại giao nhằm kịp thời nắm bắt, phối hợp xử lý các vấn đề phát sinh trong thực tiễn. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện cơ chế công tác và các chế độ, chính sách phù hợp cho cán bộ chuyên trách để tạo điều kiện, động lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Bảy là, định kỳ sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm công tác bảo vệ cán bộ, đảng viên ra nước ngoài công tác, học tập để đánh giá tình hình, kết quả, hạn chế, nguyên nhân của công tác bảo vệ cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ đối ngoại, hợp tác quốc tế. Tổ chức rút kinh nghiệm, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để cán bộ, đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đối với cán bộ, đảng viên học tập, làm việc ở nước ngoài cần phải nhận thức đúng, kiên định lý tưởng cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, khả năng “tự miễn dịch”, “tự đề kháng” cao, tránh để các thế lực thù địch, phản động lôi kéo, tác động./.

Sưu tầm

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ đối với cán bộ, đảng viên học tập, làm việc ở nước ngoài hiện nay - Phần 1

 

Bảo vệ chính trị nội bộ đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên học tập, làm việc ở nước ngoài là công việc hệ trọng của Đảng ta, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của Đảng, của chế độ và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Những năm qua, công tác bảo vệ chính trị nội bộ đối với cán bộ, đảng viên học tập, làm việc ở nước ngoài đạt được một số kết quả quan trọng; tuy nhiên, trên thực tiễn còn bộc lộ không ít khó khăn, thách thức, cần có giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này thời gian tới.

Những kết quả đạt được

Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế của Đảng, Nhà nước ta, đội ngũ cán bộ, đảng viên ra nước ngoài học tập, công tác ngày càng tăng cả về số lượng và lĩnh vực. Số lượng cán bộ, đảng viên ra nước ngoài ngày càng đông và đa dạng về thành phần, trong đó, tập trung vào hai đối tượng chính là đảng viên làm việc trong hệ thống chính trị (các cơ quan đảng, ban, bộ, ngành, địa phương) được cử đi công tác, tham dự hội nghị, hội thảo…; đảng viên ra nước ngoài vì việc riêng (như đi du lịch, học tập, lao động, thăm thân, chữa bệnh…). Nhìn chung, số cán bộ, đảng viên được cử đi học tập, làm việc ở nước ngoài luôn giữ vững lập trường chính trị, tư tưởng, thực hiện tốt các quy định, Điều lệ Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Việt Nam, pháp luật của nước sở tại, có nhiều đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia, vùng lãnh thổ, quảng bá văn hóa, hình ảnh tốt đẹp của Việt Nam với bạn bè quốc tế.

Thời gian qua, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị đã tiến hành triển khai đồng bộ, thường xuyên công tác bảo vệ chính trị nội bộ đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên học tập, làm việc ở nước ngoài và đạt được một số kết quả quan trọng.

Thứ nhất, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ chính trị nội bộ và quản lý cán bộ, đảng viên được thực hiện tương đối đồng bộ, đáp ứng yêu cầu đặt ra trong tình hình mới. Trên cơ sở Nghị quyết số 04/NQ-TW, ngày 30-10-2016, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” và Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị các cấp đẩy mạnh công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới bằng các chỉ thị, nghị quyết, như: Kết luận số 72-KL/TW, ngày 19-5-2020, của Bộ Chính trị, về “Tiếp tục tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay”; Quy định số 58-QĐ/TW, của Bộ Chính trị, ngày 8-2-2022, về “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng”; Quy định số 86-QĐ/TW, của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII, ngày 28-10-2022, về “Nhiệm vụ của đảng viên và công tác quản lý đảng viên ở nước ngoài”; Chỉ thị số 24-CT/TW, của Bộ Chính trị, ngày 13-7-2023, về “Bảo đảm vững chắc an ninh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”... Việc ban hành, thực hiện các văn bản chỉ đạo trên đã tiếp tục cụ thể hóa Cương lĩnh, nghị quyết của Đảng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, trước hết là của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, trong đó có bảo vệ chính trị nội bộ đối với cán bộ, đảng viên đang học tập, công tác ở nước ngoài.

Thứ hai, công tác phổ biến, quán triệt nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên học tập, công tác ở nước ngoài về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm thực hiện. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị thường xuyên tổ chức các hội nghị nghiên cứu, quán triệt, triển khai các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, lồng ghép các nội dung về bảo vệ chính trị nội bộ trong các hội nghị tập huấn; tích cực mở các đợt sinh hoạt tư tưởng chính trị sâu rộng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. 100% số cán bộ, đảng viên trước khi ra nước ngoài học tập, công tác đều được phổ biến, quán triệt các quy định trong quan hệ, tiếp xúc với người nước ngoài, qua đó góp phần nâng cao ý thức cảnh giác, tự bảo vệ, sức đề kháng trước các âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch.

Thứ ba, công tác nắm tình hình chính trị nội bộ được thực hiện thường xuyên, có hiệu quả. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị định kỳ tổ chức gặp gỡ, trao đổi, nắm tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên; các đảng viên trong thời gian ở nước ngoài đều được bố trí sinh hoạt đảng, quản lý và giao nhiệm vụ cụ thể. Qua đó, chủ động nắm bắt và phản ánh kịp thời với các cơ quan chức năng về tình hình chính trị nội bộ, đồng thời nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh với các âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch.

Thứ tư, công tác thẩm tra, xác minh, thẩm định tiêu chuẩn chính trị, chế độ thông tin, báo cáo của cán bộ, đảng viên học tập, công tác ở nước ngoài được thực hiện chặt chẽ, đúng quy định. Công tác phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ được tiến hành thường xuyên, hiệu quả. Cán bộ, đảng viên đều được xem xét kỹ lưỡng trước khi đi học tập, công tác nước ngoài và được cấp ủy có thẩm quyền cho phép, sau khi kết thúc học tập, công tác phải báo cáo đầy đủ các nội dung theo quy định. Quá trình học tập, công tác, làm việc ở nước ngoài, các cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên giữ mối quan hệ phối hợp với các cơ quan liên quan trong tổ chức các hoạt động nắm tình hình, chủ động xây dựng các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với các âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch.

Tuy nhiên, công tác bảo vệ chính trị nội bộ đối với cán bộ, đảng viên học tập, làm việc ở nước ngoài vẫn còn bộc lộ không ít khó khăn, bất cập, như việc phổ biến, quán triệt các quy định về bảo vệ chính trị nội bộ đối với số đảng viên sinh hoạt tại các chi bộ ngoài cơ quan đại diện khó triển khai, thiếu quy chế, biện pháp cụ thể. Hệ thống văn bản về công tác bảo vệ chính trị nội bộ hiện nay chưa cụ thể hóa các quy định đối với cán bộ, đảng viên học tập, công tác ở nước ngoài. Việc bồi dưỡng kiến thức về bảo vệ chính trị nội bộ cho cán bộ, đảng viên khi ra nước ngoài của một số cấp ủy thực hiện chưa nghiêm. Kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn của cán bộ làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ chưa đáp ứng yêu cầu; điều kiện và phương tiện đấu tranh chống hoạt động móc nối, lôi kéo của cán bộ, đảng viên đối với các thế lực thù địch còn hạn chế.

Một số địa bàn hiện nay chưa quan tâm đúng mức, thậm chí buông lỏng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, các thế lực thù địch lợi dụng đẩy mạnh móc nối, mua chuộc, lôi kéo, tác động vào lập trường chính trị, tư tưởng, khống chế với các thủ đoạn tinh vi… Do chịu tác động của nhiều yếu tố, như điều kiện, môi trường sinh sống, làm việc, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật nước sở tại, đặc biệt là các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, khiến tình hình chính trị nội bộ trong cán bộ, đảng viên học tập, làm việc ở nước ngoài nảy sinh một số vấn đề phức tạp, gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong quá trình nhận diện, đấu tranh, xử lý...

Sưu tầm

Một số vấn đề về đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng hiện nay - Phần 3

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong thời gian tới

Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ là một trong những nhiệm vụ, giải pháp trong nhóm nhiệm vụ, giải pháp về củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng đã đề ra trong Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, về “Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”. Nghị quyết chỉ rõ: “Đổi mới nội dung, phương thức, phong cách lãnh đạo, lề lối làm việc, nâng cao tinh thần trách nhiệm, năng lực của cấp ủy, bí thư cấp ủy ở cơ sở, bảo đảm vai trò hạt nhân và lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết trong Đảng. Kịp thời cụ thể hóa chủ trương của cấp trên phù hợp với thực tiễn và nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng, giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh”.

Để góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong tình hình hiện nay, cần chú ý thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục kiện toàn, sắp xếp mô hình tổ chức cơ sở đảng trong các loại hình cơ sở cho đồng bộ, thống nhất với các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của tổ chức đảng. Kết hợp chặt chẽ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng, chỉnh đốn cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở. Khắc phục tình trạng tổ chức đảng và tổ chức chính quyền trực thuộc các cấp trên khác nhau, thiếu thống nhất trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác tổ chức, cán bộ; hoặc tổ chức đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc các cấp trên khác nhau.

Hai là, tiếp tục bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện các quy định của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác tổ chức, cán bộ. Hiện nay, trong 5 loại hình tổ chức cơ sở cơ bản của Đảng là: xã, phường, thị trấn; cơ quan hành chính nhà nước; đơn vị sự nghiệp công lập; doanh nghiệp nhà nước và trong lực lượng vũ trang, trong đó 4 loại hình cơ sở quy định tổ chức đảng lãnh đạo xây dựng, thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác cán bộ. Riêng loại hình tổ chức cơ sở đảng ở cơ quan hành chính nhà nước chưa quy định, trong khi Điều lệ Đảng quy định và đã thực hiện thống nhất chủ trương đồng chí bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị. Do đó, tổ chức cơ sở đảng ở cơ quan hành chính nhà nước cần được quy định rõ trách nhiệm lãnh đạo xây dựng, thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác tổ chức, cán bộ. Mặt khác, trong 28 quy định của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng, có nhiều quy định có nội dung giống nhau, chỉ có một số nội dung khác nhau do tính đặc thù của từng loại hình cơ sở, nhất là trong lực lượng vũ trang, vì vậy, cần nghiên cứu, ban hành một quy định chung cho các loại hình cơ sở này, bảo đảm vừa thể hiện được những vấn đề chung, vừa thể hiện được những nét đặc thù của mỗi loại hình cơ sở. Đồng thời, giao cho các cấp ủy trực thuộc Trung ương ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng cho sát với thực tiễn và chủ động, kịp thời bổ sung, sửa đổi khi cần thiết; mặt khác, bảo đảm sự đồng bộ trong việc ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ đối với các cấp ủy.

Ba là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ và cấp ủy viên cơ sở, trước hết là bí thư đảng ủy cơ sở và bí thư các chi bộ có phẩm chất, năng lực, uy tín, thực sự gương mẫu và thành thạo nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng. Thực tiễn chứng minh rằng, muốn nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, trước hết phải nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của từng tổ chức cơ sở đảng. Muốn nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, trước hết phải nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các chi bộ. Muốn nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của chi bộ thì phải nâng cao chất lượng hoạt động của các cấp ủy viên, mà trước hết là bí thư chi bộ. Vì vậy, phải đặc biệt coi trọng giáo dục, nâng cao bản lĩnh chính trị và phẩm chất, đạo đức cách mạng, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền cơ sở. Thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới về lý luận chính trị và nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ cấp ủy viên cơ sở, nhất là bí thư các chi bộ và người đứng đầu cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội.

Bốn là, tiếp tục thực hiện mô hình đảng bộ cơ sở khối ở cấp huyện (khối đảng, đoàn thể và khối chính quyền). Cần “nghiên cứu, xây dựng mô hình tổ chức cơ sở đảng đặc thù về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy để bảo đảm phù hợp với nguyên tắc chung và thực tiễn của lĩnh vực hoạt động, địa phương, cơ quan, đơn vị”. Việc thành lập đảng bộ cơ sở khối dân - đảng và khối cơ quan chính quyền ở cấp huyện được xem là phù hợp và cần thiết, nhất là trong tình hình hiện nay. Việc thành lập đảng bộ cơ sở theo các khối sẽ tạo sự gắn bó chặt chẽ trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ chính trị; khắc phục tình trạng các chi bộ cơ sở có quá ít đảng viên, chưa dành sự quan tâm, coi trọng công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.../.

Một số vấn đề về đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng hiện nay - Phần 2

Về đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng

Đảng ta là Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội, các tổ chức cơ sở đảng được thành lập ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, bảo đảm các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước được triển khai, tổ chức thực hiện nghiêm túc ở cơ sở và đi vào cuộc sống.

Các tổ chức cơ sở đảng cũng là một tổ chức đảng và nằm trong hệ thống tổ chức của Đảng, nên phương thức lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng cũng có 5 phương thức, đó là: (i) Đảng bộ, chi bộ lãnh đạo bằng việc ban hành nghị quyết để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện (nghị quyết đại hội đảng bộ, chi bộ cơ sở; nghị quyết của đảng ủy; nghị quyết của chi bộ); (ii) Đảng bộ, chi bộ lãnh đạo bằng công tác chính trị, tư tưởng (phổ biến, quán triệt các chủ trương, nghị quyết của cấp ủy cấp trên và cấp mình; nắm và giải quyết tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng); (iii) Đảng bộ, chi bộ lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được phân cấp theo quy định; (iv) Đảng bộ, chi bộ lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức đảng, đảng viên của đảng bộ, chi bộ trong việc thực hiện Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; (v) Đảng bộ, chi bộ lãnh đạo thông qua việc nêu gương và phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên. Tuy nhiên, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng chỉ thực hiện trong phạm vi lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ và được cụ thể hóa cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tính chất đặc thù của mỗi loại hình tổ chức cơ sở đảng.

Từ phương thức lãnh đạo chung của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, do chức năng, nhiệm vụ, phạm vi và tính chất hoạt động của mỗi loại hình tổ chức cơ sở đảng có điểm khác nhau, nên phương thức lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng về cơ bản là giống nhau, nhưng cũng có một số điểm khác nhau. Cụ thể đối với một số loại hình cơ sở sau:

Đối với tổ chức cơ sở đảng ở khu vực xã, phường, thị trấn: Đây là một trong những loại hình tổ chức cơ sở đảng cơ bản của Đảng, có vị trí quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng. Do vậy, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng cần đặc biệt chú ý một số nội dung sau:

Thứ nhất, việc xây dựng, ban hành các chủ trương, nghị quyết của đảng bộ, chi bộ phải bám sát và vận dụng sáng tạo các chủ trương, nghị quyết của cấp trên vào tình hình cụ thể của địa phương; phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc trên địa bàn, nhất là những vấn đề liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, không để xảy ra các “điểm nóng”.

Thứ hai, thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội làm tốt công tác chính trị, tư tưởng, coi trọng việc tuyên truyền, vận động, thuyết phục các tầng lớp nhân dân, để nhân dân nắm vững, tích cực tham gia và tự giác thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, biến chủ trương, đường lối của Đảng thành phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân ở cơ sở; phát huy vai trò của nhân dân trong việc tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và xây dựng đội ngũ cán bộ.

Thứ ba, thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở; kiện toàn tổ chức các loại hình chi bộ cho phù hợp với tình hình mới; chăm lo xây dựng đội ngũ cấp ủy viên, nhất là bí thư cấp ủy đủ phẩm chất, năng lực, uy tín lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng; được nhân dân tín nhiệm.

Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của các chi bộ và cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của cấp ủy cấp trên và cấp mình, nhất là quy định về những điều đảng viên không được làm; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý của cán bộ, đảng viên và nhân dân; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý kịp thời, nghiêm minh, dứt điểm những cán bộ, đảng viên vi phạm.

Thứ năm, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy, người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị; chi bộ cần phân công đảng viên phụ trách, theo dõi, giúp đỡ các hộ gia đình và phải thực sự gần dân, sát dân, hiểu dân, gắn bó mật thiết với nhân dân; qua đó nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân để kịp thời báo cáo với chi bộ, cấp ủy cấp trên xem xét, giải quyết, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Đối với tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan hành chính nhà nước: Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan hành chính nhà nước cần chú ý một số nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, tiếp tục kiện toàn, sắp xếp tổ chức cơ sở đảng trong các cơ quan hành chính cho đồng bộ, thống nhất với việc đổi mới, kiện toàn, sắp xếp tổ chức của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Bổ sung, sửa đổi quy định về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan; thực hiện thống nhất chủ trương đồng chí bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị, bảo đảm tổ chức cơ sở đảng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác tổ chức, cán bộ; gắn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng, chỉnh đốn các tổ chức trong hệ thống chính trị.

Thứ hai, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu, tham mưu, giúp việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức của hệ thống chính trị ở cơ sở có bản lĩnh chính trị vững vàng; tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng, đường lối đổi mới và các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng. Nắm vững Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và vận dụng sáng tạo vào tình hình thực tiễn của ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị.

Thứ ba, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận động quần chúng và gương mẫu, tự giác trong thực hiện chủ trương, đường lối, các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định, quy chế của cơ quan; có phẩm chất đạo đức cách mạng và lối sống trong sạch; không tham nhũng, tiêu cực và hăng hái đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực sự là tấm gương để quần chúng học tập, noi theo.

Đối với tổ chức cơ sở đảng trong lực lượng vũ trang: Phải bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng để quân đội, công an là lực lượng nòng cốt bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong lực lượng vũ trang cần đặc biệt coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và phát huy bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của quân đội, công an; thường xuyên đẩy mạnh việc thực hiện những điều Bác Hồ dạy quân đội nhân dân và công an nhân dân; tuyệt đối trung thành, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân; tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh và đơn vị vững mạnh toàn diện, xứng đáng với lòng tin yêu của nhân dân.

Đối với tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước: Tiếp tục kiện toàn, sắp xếp mô hình tổ chức cơ sở đảng phù hợp với quá trình phát triển, đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tổ chức cơ sở đảng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và công tác tổ chức, cán bộ của doanh nghiệp. Chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức tổ chức kỷ luật, các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng và nâng cao tính đảng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp, nhất là người đứng đầu; chăm lo bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ công tác đảng cho cán bộ làm công tác đảng, công tác quần chúng trong doanh nghiệp. Thực hiện thống nhất chủ trương bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch hội đồng thành viên, hội đồng quản trị hoặc tổng giám đốc, giám đốc và thực hiện nguyên tắc: Khi một trong hai chức danh không đáp ứng yêu cầu thì phải thay đổi chức danh kia. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp trên đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp, xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

 Đối với tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước: Cần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, phát triển tổ chức cơ sở đảng trong khu vực ngoài nhà nước, nhất là trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập. Cần đặc biệt chú trọng việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước cho người lao động, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu. Qua đó, các thành viên lãnh đạo, quản lý và người lao động trong đơn vị nắm vững, tự giác chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cấp ủy cấp trên quan tâm, chăm lo xây dựng, phát triển tổ chức đảng; chú trọng bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển đảng viên, nhất là trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của đơn vị; đồng thời, rà soát, chuyển những đảng viên đang làm việc trong đơn vị, nhưng vẫn sinh hoạt Đảng ở nơi cư trú để góp phần xây dựng tổ chức đảng và phát huy vai trò, trách nhiệm của người đảng viên; kịp thời động viên, khen thưởng đối với những đơn vị làm tốt công tác xây dựng Đảng và những cán bộ, đảng viên gương mẫu.

Sưu tầm

Một số vấn đề về đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng hiện nay - Phần 1

Các tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, cầu nối giữa Ðảng với nhân dân, có vị trí rất quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng. Đây là nơi quản lý, giáo dục, rèn luyện, phát triển và sàng lọc đảng viên; nơi thể hiện toàn diện, đầy đủ, phong phú, cụ thể, sinh động nhất quyền làm chủ của nhân dân và mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng.

Một số vấn đề chung về tổ chức cơ sở đảng

Trong những năm gần đây, thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng về đổi mới, kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, các loại hình tổ chức cơ sở đảng cũng được kiện toàn, sắp xếp lại cho phù hợp, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Các loại hình tổ chức cơ sở đảng có sự biến động, thay đổi tương đối lớn về số lượng, quy mô, hình thức tổ chức cũng như nội dung, phương thức hoạt động. Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ chính trị, quy mô và tính chất hoạt động, nội dung và phương thức lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng, Ban Bí thư Trung ương Đảng các khóa đã ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của đảng bộ, chi bộ cơ sở để thực hiện, trong đó có một số loại hình tổ chức cơ sở đảng cơ bản và chủ yếu sau đây:

Một là, tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn: Đây là các tổ chức cơ sở đảng được thành lập theo địa bàn, lãnh thổ, gắn với đơn vị hành chính nhà nước ở cấp xã; có chức năng lãnh đạo toàn diện trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Đây là nơi tập trung đông đảng viên và gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân (số lượng tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn chỉ chiếm khoảng 20% nhưng chiếm gần 70% tổng số đảng viên của toàn Đảng). Vì vậy, đây là nơi thể hiện toàn diện, đầy đủ, cụ thể, phong phú, sâu sắc nhất quyền làm chủ của nhân dân và mối quan hệ gắn bó mật thiết, máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, góp phần quan trọng trong việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước.

Hai là, tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan hành chính nhà nước: Là các tổ chức cơ sở đảng được thành lập ở các cơ quan hành chính của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội từ cấp huyện đến cấp trung ương; có chức năng lãnh đạo cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan nghiên cứu, tham mưu để xây dựng, thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan (nghiên cứu, tham mưu, đề xuất với lãnh đạo cơ quan trong việc ban hành các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, hướng dẫn... trên các lĩnh vực); đồng thời, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ quan trong sạch, vững mạnh.

Ba là, tổ chức cơ sở đảng trong đơn vị sự nghiệp công lập: Là các tổ chức cơ sở đảng được thành lập ở các trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu,... của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp; có chức năng lãnh đạo toàn diện các mặt công tác của đơn vị, trong đó tập trung lãnh đạo xây dựng và thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác tổ chức cán bộ của đơn vị; lãnh đạo thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở đơn vị trong sạch, vững mạnh. Nơi tập trung đông đội ngũ trí thức, cán bộ khoa học - kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao trên các lĩnh vực và có học hàm, học vị, góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Bốn là, tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước: Là các tổ chức cơ sở đảng được thành lập trong các doanh nghiệp nhà nước (doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn và doanh nghiệp cổ phần mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ); có chức năng lãnh đạo toàn diện các mặt hoạt động của doanh nghiệp, trong đó tập trung lãnh đạo xây dựng và thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước, bảo toàn và phát triển vốn của Nhà nước; bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị ở doanh nghiệp trong sạch, vững mạnh; không ngừng nâng cao đời sống của người lao động; giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Năm là, tổ chức cơ sở đảng trong lực lượng vũ trang: Là các tổ chức cơ sở đảng được thành lập tại các đơn vị cơ sở trong quân đội nhân dân và công an nhân dân; có chức năng lãnh đạo toàn diện, trực tiếp mọi mặt công tác của đơn vị; lãnh đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và các tổ chức trong đơn vị trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại; xây dựng công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chính trị được giao, thực sự là công cụ mạnh mẽ, sắc bén để bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Sáu là, tổ chức cơ sở đảng ở doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước: Đây là các tổ chức cơ sở đảng được thành lập ở các doanh nghiệp cổ phần có vốn của Nhà nước (Nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ), doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổ phần tư nhân, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài và trong các trường học, bệnh viện ngoài công lập...; có chức năng lãnh đạo cán bộ, đảng viên, người lao động Việt Nam và tuyên truyền, vận động, thuyết phục chủ doanh nghiệp, các thành viên trong doanh nghiệp thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực xây dựng tổ chức đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước trong sạch, vững mạnh, góp phần xây dựng doanh nghiệp ngày càng phát triển, hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động.

Tựu chung lại, các quy định của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ của các loại hình tổ chức cơ sở đảng đều xác định: “Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị, cầu nối giữa Ðảng với nhân dân, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở”; đồng thời, cụ thể hóa nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng được quy định trong Điều lệ Đảng thành 5 nhiệm vụ: (i) Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ sở; (ii) Lãnh đạo công tác chính trị tư tưởng; (iii) Lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ; (iv) Lãnh đạo xây dựng các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở; (v) Thực hiện công tác xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh.

Trước yêu cầu ngày càng cao của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, trong một số quy định mới ban hành gần đây, Ban Bí thư đã tách công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng (vốn nằm trong nhiệm vụ xây dựng đảng bộ, chi bộ) thành nhiệm vụ riêng, nên tổ chức cơ sở đảng có 6 nhiệm vụ.