Ngăn chặn âm mưu dùng sách, báo xấu độc để chuyển hóa tư tưởng lệch lạc
Thứ Hai, 4 tháng 3, 2024
Làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình"
BÁC VẪN CÙNG CHÚNG CHÁU HÀNH QUÂN
Bác Hồ là người Việt Nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và cũng là người Việt Nam đầu tiên trở thành người cộng sản chân chính, đã tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là thành viên của Quốc tế Cộng sản. Cùng với việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân quốc tế và phong trào đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa, Bác cũng là người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam và trực tiếp gieo “hạt giống cộng sản” để chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác là tài sản vô cùng quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
VIỆT TÂN LỢI DỤNG CHUYỆN PHÁO HOA ĐỂ CHIA RẼ QUÂN ĐỘI VÀ CÔNG AN
Thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam các thế lực thù địch, phản động, chúng luôn tìm cách chia rẽ mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa Quân đội nhân dân với Công an nhân dân bằng những luận điệu xuyên tạc, hòng làm suy yếu lực lượng vũ trang, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu này chúng triệt để lợi dụng các sự kiện, sự việc liên quan, bới lông, tìm vết để bóp méo, xuyên tạc chống phá. Bằng chứng là mới đây tổ chức khủng bố Việt Tân phát tán tài liệu “Anh bán pháo, em… hỏi hóa đơn”, đề cập đến việc sản xuất và kinh doanh pháo hoa trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024. Trong nội dung tài liệu này, Việt Tân xuyên tạc, chỉ trích cho rằng việc Nhà máy Z121 thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng sản xuất pháo hoa “thu lợi khủng cho Quân đội”, vì thế Công an “muốn chia phần” nên quy định người đốt pháo hoa do Nhà máy Z121 sản xuất phải có hóa đơn…
AI CÒN NHỚ VỊ TƯỚNG PHONG TRÀO!
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (Nguyễn Vịnh) sinh 1914 tại xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Không chỉ có tài thao lược, tham gia chỉ đạo nhiều cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam, đồng chí còn là vị tướng của các phong trào. Khi giao nhiệm vụ đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn đồng chí: “Phong trào mới nhóm, trầm trầm. Chú hãy cố gắng tìm cho được điển hình tốt, rút kinh nghiệm và phát huy nó lên”.
"QUẢ BÓNG" TRÁCH NHIỆM
Sau bữa cơm tối, ông Nam sang nhà đồng chí bí thư chi bộ thôn để bàn bạc một số công việc của chi bộ trong tháng tới. Vừa nhấp chén trà còn nóng hổi, ông Nam thở dài kể lại chuyện hôm đầu tuần lên UBND xã nhưng không được việc.
QUAN TÂM HƠN NỮA HẬU PHƯƠNG QUÂN NHÂN
Những ngày qua, cả nước nô nức ngày hội giao, nhận quân. Từ đây, những thanh niên được tuyển chọn sẽ bước vào môi trường quân ngũ đầy vinh quang nhưng cũng nhiều thử thách, đòi hỏi sự cống hiến, hy sinh.
Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa: Chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác
“Chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác. Có chuyên môn
mà không có chính trị thì chỉ còn cái xác không hồn. Phải có chính trị trước rồi
có chuyên môn”. Đây là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong
bài nói tại lớp học chính trị của giáo viên, đầu tháng 8 năm 1959.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người
thầy, nhà giáo dục vĩ đại. Cả cuộc đời Người đã đào tạo biết bao thế hệ cán bộ,
những chiến sĩ ưu tú cho cách mạng và dành nhiều tình cảm quan tâm đến với các
thầy, cô giáo. Bác đặc biệt đề cao vai trò của người thầy, bởi người thầy không
chỉ dạy chữ mà còn dạy người, không chỉ truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm, khơi
nguồn sáng tạo mà còn là tấm gương mẫu mực về đạo đức cho học sinh noi theo qua
từng giờ lên lớp. Người thầy là những người “đạo cao”, “đức trọng”, người
có uy tín được xã hội tôn kính. Có thể nói, ở bất cứ xã hội nào nghề dạy học
luôn được coi là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất
trong các nghề sáng tạo. Do vậy, người thầy phải có lập trường tư tưởng đúng, bản
lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, có chuyên môn giỏi và không ngừng được
phát triển, sáng tạo thì mới hoàn thành trọng trách vẻ vang mà xã hội tin tưởng
trao gửi.
Thấu triệt lời Bác dạy, cấp ủy,
chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn khắc ghi
tinh thần “chính trị là linh hồn” mà
Bác đã huấn thị “Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng
quân. Nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự” và các nghị quyết,
chỉ thị của Đảng về xây dựng quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị, tập
trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội; phù hợp với
yêu cầu, nội dung của nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới.
Trong giai đoạn mới, nhiệm vụ
xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại,
phải tập trung giáo dục, rèn luyện bộ đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin
tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu;
nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất
sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên
trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết
lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ
đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có thái độ
phân biệt đúng, sai, không dao động trước các tác động tiêu cực, khó khăn, hiểm
nguy. Nói và làm đúng nghị quyết; ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao
đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ. Tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng,
đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; giữ
vững và không ngừng phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ
Hồ”, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững
mạnh toàn diện, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc.
Sưu tầm
Nâng cao nhận thức trước âm mưu lôi kéo thanh niên trốn tránh thực hiện Nghĩa vụ quân sự
Một mùa xuân mới bắt đầu cũng là thời điểm
các địa phương trên cả nước đang tích cực triển khai công tác chuẩn bị tổ chức
lễ giao, nhận quân năm 2024. Lợi dụng vấn đề này, trên các trang mạng xã hội, một số tổ chức, cá nhân
đối lập về ý thức hệ móc nối với những phần tử cơ hội chính trị, những đối
tượng bất mãn cố tình cắt ghép, ngụy tạo những hình ảnh, clip xuyên tạc, bôi
nhọ việc tham gia nghĩa vụ quân sự đăng tải trên các trang mạng xã hội, nhất là
facebook và blog.
Đặc
biệt chúng còn đưa ra những cách để các thanh niên trốn tránh thực hiện nghĩa
vụ quân sự. Thực chất, đây là âm mưu vô cùng nham hiểm, thâm độc nhằm bôi nhọ
bản chất, truyền thống, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, tạo dư luận xã hội gây tâm lý
hoang mang, lo sợ. Từ đó, thoái thác về trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân với
Tổ quốc.
Quan
sát trên các trang mạng xã hội, rất dễ nhìn thấy các bài viết, status đăng các
dòng trạng thái của thanh niên sắp thực hiện nghĩa vụ quân sự năm 2024. Vì vậy,
các phần tử cơ hội chính trị với ý đồ xấu tiến hành bình luận, comment lôi kéo,
dụ dỗ thanh niên trốn tránh nghĩa vụ quân sự gây tâm lý hoang mang, lo sợ.
Nguyên nhân dẫn đến tâm lý “sợ”
và trốn tránh nghĩa vụ quân sự xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, điển hình như:
Tâm lý nghe những người khác nói, bình luận rằng trong môi trường quân ngũ là
một môi trường khắc nghiệt, bản thân không thể thích nghi. Thời gian tham gia
quân ngũ là 2 năm, một số người sợ rằng sau khi xuất ngũ thì sẽ không thể tiếp
tục lại được công việc hiện tại, tâm lý ngại học tập do một thời gian dài sẽ
quên đi kiến thức. Do một phần được gia đình nuông chiều, che chở nên sợ “chịu
khổ” khi bước vào môi trường quân ngũ kỷ luật trong 2 năm. Sự tác động của các
mặt tiêu cực xã hội cũng là nguyên nhân khiến cho nhiều thanh niên không còn
khát khao cống hiến cho Tổ quốc thay vào đó là tư tưởng thực dụng, lựa chọn
những cái có lợi cho bản thân mình.
Theo Luật Nghĩa vụ quân sự
(NVQS) năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 quy định: “Nghĩa vụ quân sự là
nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội Nhân dân”; “Công
dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, không phân biệt dân tộc, thành
phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú
phải thực hiện nghĩa vụ quân sự”. Luật cũng chỉ rõ, hành vi trốn tránh, chống
đối, cản trở, gian dối trong khám sức khỏe, lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm
trái quy định về nghĩa vụ quân sự thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị
xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Do đó, mọi thanh niên cần nhận
thức rõ việc tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự là trách nhiệm, nghĩa vụ
thiêng liêng của mọi công dân Việt Nam vì bảo vệ Tổ quốc chính là bảo vệ gia
đình của chúng ta. Một số chính sách, ưu đãi khi tham gia thực hiện NVQS mà
thanh niên cần nắm chắc như: Khi tham gia NVQS ngoài được cộng điểm khi thi
tuyển sinh vào các trường đại học, học viện, hỗ trợ đào tạo học nghề, tạo công
ăn việc làm… Khi xuất ngũ được hưởng trợ cấp (4 tháng); trợ cấp việc làm (6 tháng);
trợ cấp bảo hiểm (4 tháng); thanh toán nghỉ phép; quà tết; phụ cấp; thẻ học
nghề giúp thanh niên lập thân, lập nghiệp.
Ngoài ra, thanh niên cần nắm
chắc các trường hợp tạm hoãn gọi nhập ngũ để tránh vi phạm pháp luật. Theo Điều
41 Luật Nghĩa vụ quân sự và Thông tư 148/2018/TT-BQP quy định một số trường hợp
tạm hoãn gọi nhập ngũ, cụ thể là:
a) Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại
ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe.
b) Là lao động duy nhất phải
trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi
lao động; trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn,
thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
(sau đây gọi chung là cấp xã) xác nhận.
c) Con của bệnh binh, người
nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%.
d) Người thuộc diện di dân,
giãn dân trong 3 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển
kinh tế – xã hội của Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên quyết định.
e) Cán bộ, công chức, viên
chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có
điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.
g) Đang học tại cơ sở giáo dục
phổ thông; đang được đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục
đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong
thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo.
Mỗi
thanh niên cần nâng cao nhận thức, sức đề kháng trước các quan điểm xuyên tạc,
kích động của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng. Xây dựng
niềm tin, ý chí quyết tâm thực hiện nghĩa vụ quân sự là trách nhiệm, nghĩa vụ
thiêng liêng của công dân, nối tiếp truyền thống của các thế hệ cha anh đi
trước, xứng đáng với niềm tin của Đảng và Nhân dân, ra sức tu dưỡng, rèn luyện
phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần bảo vệ vững chắc
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Và đó cũng là minh chứng quan trọng đập tan
mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc của các phần tử cơ hội chính trị, bất mãn, thù
địch.
Sưu tầm
Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc việc thực hiện nghĩa vụ quân sự
Đã thành thông lệ, hàng năm, sau khi vui Tết, đón xuân, thanh niên trên
cả nước hăng hái nhập ngũ bảo vệ Tổ quốc. Âm vang của “Ngày hội tòng quân” vẫn
còn trong mỗi người dân. Tuy nhiên trên các trang mạng xã hội, một số tổ chức,
cá nhân thù địch móc nối với những phần tử cơ hội chính trị, đối tượng bất mãn
cố tình cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, video clip xuyên tạc, việc tham gia
nghĩa vụ quân sự của thanh niên.
Với chiêu bài “dân chủ, nhân
quyền” để bàn về việc nước, các thế lực thù địch cho ra những bài viết luận bàn
về chính sách của các nước trên thế giới quan tâm chăm lo đào tạo cho thanh
niên lập nghiệp, làm ăn phát triển kinh tế còn Việt Nam thanh niên phải tham
gia nghĩa vụ quân sự. Nguy hiểm hơn, lợi dụng mạng xã hội, chúng đăng tải những
hình ảnh, video được cắt ghép, dàn dựng để bóp méo sự thật, xuyên tạc về đạo
đức, tác phong và hoạt động của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội, nhằm kích động
một số người nhẹ dạ, cả tin, thiếu hiểu biết chia sẻ trên mạng xã hội, gây
hoang mang cho thanh niên và gia đình có con em nhập ngũ.
Mục đích của chúng là nhằm bôi
nhọ hình ảnh, bản chất, truyền thống, uy tín của Quân đội, gây ngờ vực trong
Nhân dân. Từ đó, tạo luồng tư tưởng xấu khiến cho thanh niên trong độ tuổi nhập
ngũ “tự diễn biến”, buông lỏng trách nhiệm, nghĩa vụ của mình với Tổ quốc.
Thực tiễn lịch sử cho thấy,
dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại, phát triển của dân tộc, đó
chính là truyền thống quý báu của tổ tiên ta. Ðảng ta đã vận dụng, phát triển
thành hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với
lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, các triều đại phong kiến trong
lịch sử Việt Nam đã có chính sách “ngụ binh ư nông”. Đó là sự kết hợp nhiệm vụ
duy trì lực lượng quốc phòng với sản xuất, sẵn sàng chuyển hóa lực lượng quân
sự từ sản xuất sang chiến đấu khi cần thiết và ngược lại, chuyển lực lượng
chiến đấu về sản xuất trong thời bình.
Bảo vệ Tổ quốc không chỉ chiến
đấu khi có kẻ thù xâm lược mà phải chuẩn bị lực lượng, tổ chức phòng thủ, phòng
ngừa từ trước, từ sớm, từ xa; chủ động chuẩn bị về mọi mặt, bao gồm chính trị,
kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... ngay từ thời bình.
Thực hiện nghĩa vụ quân sự
không chỉ đơn thuần là chấp hành pháp luật của Nhà nước, mà còn là nghĩa vụ
thiêng liêng của công dân đối với Tổ quốc, bảo vệ sự trường tồn của dân tộc ta.
Biết bao thế hệ ông cha đã ngã xuống cho nền độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh
phúc của Nhân dân. Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, tinh thần
“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, ý chí
“xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” còn vọng lại, hàng triệu thanh niên Việt Nam
xếp bút xung phong lên đường chiến đấu, trở thành những chiến sĩ kiên trung,
bất khuất.
Trong thời bình, hình ảnh cán
bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam sát cánh cùng Nhân dân vượt qua thiên tai, dịch bệnh
để bảo vệ tính mạng, tài sản của người dân; đồng hành cùng người dân ở những
nơi khó khăn trên biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa phát triển kinh tế,
chung tay xây dựng nông thôn mới, chung tay vì người nghèo không để ai bị bỏ
lại phía sau, thể hiện rõ mệnh lệnh trái tim người chiến sĩ.
Thanh niên lên đường làm nghĩa
vụ quân sự không chỉ là nghĩa vụ, trách nhiệm, mà trên hết đó còn là niềm tự
hào của tuổi trẻ Việt Nam góp phần bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, giữ
gìn bản sắc, truyền thống dân tộc, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Sưu tầm
Việt Nam tích cực thực hiện Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc
Ngày
19/12/2023, ngành Ngoại giao tổ chức Hội nghị lần thứ 32. Tới dự và phát biểu
tại hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Có thể nói, chưa bao giờ
vị thế, uy tín và hình ảnh một nước Việt Nam độc lập, tự chủ, phát triển năng
động, là bạn bè thuỷ chung, chân thành, là đối tác tin cậy, là thành viên tích
cực và có trách nhiệm lại nổi bật trên trường quốc tế như hiện
nay”.
Nhận định của Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng chính là sự ghi nhận kết quả đạt được sau một quá trình
bước ra hội nhập với sân chơi thế giới của Việt Nam. Về mặt đối ngoại, với tư
cách là thành viên của Liên hợp quốc, Việt Nam đã cố gắng hoàn thành trách
nhiệm và nghĩa vụ của nước thành viên. Hiện nay, Liên hợp quốc có 24 công ước
quốc tế liên quan đến quyền con người, trong đó có 9 công ước được coi là quan
trọng và cơ bản nhất.
Việt Nam đã tham gia phê
chuẩn và cam kết thực hiện 7/9 công ước có liên quan đến quyền con người, gồm:
Công ước về quyền dân sự và chính trị, Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và
văn hoá, Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, Công ước về xoá
bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Công ước quốc tế về Quyền trẻ em,
Công ước về quyền của người khuyết tật, Công ước chống tra tấn và các hình thức
đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người.
Trong Chương trình bình
luận “Việt Nam bảo vệ quyền con người” (Thứ bảy ngày 10/12/2022, trên kênh VTV1
- Đài Truyền hình Việt Nam), PGS,TS Nguyễn Thị Thanh Hải - Phó Viện trưởng Viện
Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nhận xét, nếu so sánh
cuối những năm 1980, thời kỳ bắt đầu công cuộc Đổi mới với hiện nay thì có thể
thấy rất rõ sự phát triển trong cách tiếp cận, quan điểm của Việt Nam về quyền
con người.
Nếu những năm đầu Đổi
mới, quyền con người là vấn đề “nhạy cảm”, thậm chí là cấm kỵ thì hiện nay đã
được thừa nhận rộng rãi trong quan điểm, trong hệ thống văn bản của Đảng, Nhà
nước ta, là nội dung giảng dạy trong trường học. Từ chỗ quyền con người được
tiếp cận thụ động, thậm chí mang tính chất đối phó với những phê phán, chỉ
trích từ bên ngoài thì nay đã được coi là mục tiêu cốt lõi của quá trình phát
triển của Việt Nam.
PGS,TS Nguyễn Thị Thanh
Hải còn cho rằng, sự thừa nhận và đảm bảo quyền con người là một chỉ báo đánh
giá sự phát triển văn minh, tiến bộ của mỗi xã hội, là cơ sở để Nhà nước ghi
nhận và đảm bảo quyền cho người dân.
Trên quan điểm như vậy,
trong các công ước quốc tế Việt Nam đã phê chuẩn và tham gia có một công ước
quan trọng, trực tiếp liên quan đến quan hệ giữa các dân tộc, đó là Công ước
quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc.
Ra đời từ năm 1965, Công
ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD) lên án nạn phân biệt chủng
tộc và xác lập nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải áp dụng mọi biện pháp
cần thiết và không trì hoãn các chính sách nhằm loại trừ các hình thức phân
biệt dựa trên chủng tộc, màu da, dòng dõi, dân tộc hoặc gốc người thiểu số.
Việt Nam tham gia Công ước CERD
từ năm 1982 và từ đó đến nay, luôn là một thành viên có trách nhiệm của cộng
đồng quốc tế, đã và đang thực hiện nghiêm túc các nội dung của Công ước CERD;
đồng thời thực hiện nhiều chủ trương, chính sách nhằm thể hiện sự tôn trọng,
bảo đảm, thúc đẩy quyền của đồng bào dân tộc thiểu số.
Ông Y Thông - Thứ
trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc khẳng định, tham gia Công ước quốc tế về
xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, Việt Nam có cơ hội giúp bạn bè quốc
tế có cái nhìn đúng đắn, những đánh giá, nhận định khách quan về chủ trương,
đường lối công tác dân tộc và những thành tựu đạt được trong thực hiện chính
sách dân tộc, đồng thời đón nhận những tri thức quốc tế để xem xét vận dụng vào
quá trình hoạch định chính sách dân tộc phù hợp với thực tiễn của đất nước.
Song, tham gia Công ước
cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ phù hợp
với cơ chế Công ước như: Nội luật hoá các quy định, nguyên tắc về quyền của
người dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, truyền thống
lịch sử, văn hoá; đảm bảo tiến bộ thực sự về nhân quyền cho mọi tầng lớp nhân dân,
không phân biệt chủng tộc, dân tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, chính kiến,
nguồn gốc xuất thân…; định kỳ thực hiện Báo cáo quốc gia về tình hình thực hiện
Công ước; thực hiện các khuyến nghị, trả lời kháng thư về quyền con người;
triển khai các hoạt động giáo dục, thông tin về quyền con người và một số thủ
tục khác theo yêu cầu của Uỷ ban Công ước CERD.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và
hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, vấn đề đảm bảo quyền con người của các dân
tộc thiểu số ở Việt Nam luôn không tách rời các hoạt động giám sát của các cơ
quan của Liên hợp quốc, của các cơ quan điều ước quốc tế về quyền con người.
Tham gia Công ước CERD,
Việt Nam chấp nhận sự giám sát quốc tế về quyền của người dân tộc thiểu số
thông qua các hình thức: Xem xét báo cáo quốc gia theo cơ chế đánh giá định kỳ;
Thực hiện các thủ tục đặc biệt nhằm điều tra, đánh giá các vấn đề, tình huống
về quyền con người cụ thể; Đưa ra các bình luận, khuyến nghị đối với Việt Nam
liên quan trực tiếp đến các quyền của người dân tộc thiểu số…
Ngoài cơ chế giám sát
của các cơ quan của Liên hợp quốc, của các cơ quan điều ước quốc tế về quyền
con người, ở cấp độ song phương, Việt Nam hiện có cơ chế Đối thoại nhân quyền
chính thức với 5 đối tác là: Mỹ, EU, Thuỵ Sĩ, Na Uy và Australia. Việt Nam cũng
có nhiều kênh trao đổi không chính thức về các vấn đề quyền con người, tham gia
nhiều diễn đàn liên quan đến các khía cạnh khác nhau của quyền con người.
Ở đây, cũng cần nói thêm
rằng trong lĩnh vực nhân quyền “vẫn đang diễn ra cuộc đấu tranh giữa lực lượng
tiến bộ nhằm phát huy những giá trị cốt lõi thuộc về con người với các thế lực
lợi dụng nhân quyền để thực hiện ý đồ chính trị”.
Nhìn chung, trong các
hoạt động hợp tác song phương cũng như tại các diễn đàn đa phương về quyền con
người, Việt Nam luôn tích cực, chủ động và có những đóng góp thiết thực nhằm
thúc đẩy nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực quyền con người trên
tinh thần đối thoại, tăng cường hiểu biết lẫn nhau.
Đấu tranh trên lĩnh vực
nhân quyền nói chung, quyền của người dân tộc thiểu số nói riêng có ý nghĩa rất
quan trọng, nhất là khi một số lực lượng chính trị, xã hội quốc tế sử dụng nhân
quyền như một công cụ để thực hiện các cuộc “cách mạng màu” nhằm lật đổ các chế
độ xã hội mà họ coi là “không phù hợp” với quan điểm của họ, với các giá trị
nhân quyền phổ biến thì cuộc đấu tranh trên lĩnh vực này đã mang những nội dung
và tính chất mới đối với nhiều quốc gia - dân tộc nhằm bảo vệ nguyên tắc bình
đẳng về chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của các thành viên Liên
hợp quốc.
Đấu tranh trên lĩnh vực
quyền con người ở Việt Nam có nhiệm vụ quan trọng là bảo vệ các quan điểm của
Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền con người, bảo vệ các thành quả về quyền con
người mà nhân dân Việt Nam nói chung, cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam
nói riêng đã đạt được trong hơn 9 thập niên qua; đồng thời kiên quyết chống lại
các luận điệu sai trái, xuyên tạc, vu cáo của một số thế lực thù địch nhằm lợi
dụng vấn đề dân tộc để kích động, chia rẽ, tạo sự bất ổn về chính trị, xã hội ở
vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, làm suy giảm lòng tin của đồng bào
vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước…
Thực hiện Công ước CERD,
Chính phủ Việt Nam đã giao Uỷ ban Dân tộc chủ trì phối hợp với Bộ Công an, Bộ
Ngoại giao và các bộ, ngành liên quan xây dựng báo cáo quốc gia và tổ chức bảo
vệ tại Ủy ban Công ước CERD, hướng tới mục tiêu đóng góp vào việc ngăn chặn và
chống lại sự phân biệt chủng tộc.
Việt Nam đã 4 lần bảo vệ
thành công Báo cáo quốc gia thực thi Công ước CERD vào các năm 1983, 1993, 2000
và 2012. Tại khóa họp lần thứ 111 (ngày 29, 30/11/2023), Việt Nam trình bày báo
cáo quốc gia định kỳ từ lần thứ 5 theo hướng dẫn của Ủy ban Công ước CERD.
Báo cáo tập trung thể
hiện kết quả Việt Nam thực thi Công ước CERD từ năm 2013 - 2019, cụ thể là các
nội dung: Hệ thống pháp luật Việt Nam và các thiết chế bảo đảm, thúc đẩy quyền
của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam; Định nghĩa phân biệt chủng tộc và đánh
giá sự phù hợp của định nghĩa phân biệt chủng tộc trong các điều luật của Việt
Nam; Vai trò quan trọng của công tác dân tộc và thực hiện các chính sách dân
tộc trong việc xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Kết quả thực hiện các
cam kết cấm và xoá bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và đảm bảo
quyền bình đẳng trước pháp luật của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam; Các
biện pháp đảm bảo cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam không phải chịu bất cứ
hành động phân biệt chủng tộc nào.
Ngoài việc bảo vệ báo
cáo quốc gia trước Uỷ ban Công ước CERD, Việt Nam còn tham gia tích cực các
phiên đối thoại với các Ủy ban Công ước CERD và nghiêm túc xem xét các khuyến
nghị, nghiên cứu, xây dựng kế hoạch triển khai tăng cường thực thi các Công ước
quốc tế mà Việt Nam là thành viên./.
Sưu tầm
Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc
Từ chủ
trương, đường lối đến hiện thực cuộc sống đều là những luận cứ đanh thép,
thuyết phục, có ý nghĩa then chốt trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc; bác bỏ những luận điệu sai trái, vu cáo,
xuyên tạc của các thế lực thù địch hòng phủ nhận thành tựu bảo đảm quyền cho
người dân tộc thiểu số và lợi dụng vấn đề dân tộc để kích động, chia rẽ, tạo sự
bất ổn về chính trị ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta.
Sinh thời, trong bài nói
chuyện tại Hội nghị cán bộ miền núi, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh:
“Chính sách của Đảng và Chính phủ ta đối với miền núi là rất đúng đắn. Trong
chính sách đó có hai điều quan trọng nhất là: Đoàn kết dân tộc và nâng cao đời
sống của đồng bào”.
Việt Nam là quốc gia đa
dân tộc, với 53 dân tộc thiểu số. Kể từ ngày thành lập, 94 năm qua (1930 -
2024), Đảng ta luôn vận dụng sáng tạo, hiệu quả chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh cùng sự phát triển, không ngừng tự hoàn thiện nhận thức, lý
luận về vấn đề dân tộc và giải quyết quan hệ dân tộc phù hợp với tình hình thực
tiễn của đất nước và yêu cầu nhiệm vụ đặt ra cho từng thời kỳ.
Ngay từ Đại hội Đảng lần
thứ I (tháng 3/1935), Đảng đã đề ra Nghị quyết về công tác trong các dân tộc
thiểu số. Nghị quyết có đoạn nêu rõ: “Đảng Đại hội xét rằng lực lượng tranh đấu
của các dân tộc thiểu số là một lực lượng rất lớn”… và “sự miệt thị công tác
trong các dân tộc thiểu số là một lầm lỗi chính trị rất to lớn”…
Tại Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ II (tháng 2/1951), Đảng chỉ rõ: “Các dân tộc trên đất nước Việt
Nam được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết giúp đỡ nhau để kháng
chiến và kiến quốc. Kiên quyết chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đánh đổ âm mưu
gây chia rẽ dân tộc của đế quốc và bè lũ tay sai. Cải thiện đời sống đồng bào,
giúp họ tiến bộ về mọi mặt, đảm bảo họ tham gia chính quyền và dùng tiếng mẹ đẻ
trong giáo dục địa phương thiểu số”.
Tháng 8/1952, Bộ Chính
trị có nghị quyết về “Chính sách dân tộc thiểu số của Đảng hiện nay”.
Ngày 22/6/1953, Chính
phủ ban hành chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam, trong đó khẳng định đoàn
kết các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ để kháng chiến, kiến quốc,
giúp nhau tiến bộ về mọi mặt.
Đại hội IV (1976), Đảng
chủ trương: “Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có
tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam… Chính sách dân tộc của Đảng là
thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo điều kiện
cần thiết để xóa bỏ tận gốc chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các
dân tộc ít người với dân tộc đông người; đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng
cao tiến kịp vùng thấp; làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, văn
minh, hạnh phúc, đoàn kết giúp nhau tiến bộ, cùng làm chủ tập thể Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa”.
Đại hội VI (1986) là Đại
hội của đường lối Đổi mới đất nước, song với vấn đề dân tộc, Đảng ta kiên trì
chủ trương: “Phát triển mối quan hệ tốt đẹp gắn bó giữa các dân tộc trên tinh
thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng làm chủ tập thể, kết hợp phát triển
kinh tế và phát triển xã hội”.
Qua các kỳ Đại hội VII
đến XII, Đảng ta đều tiếp tục khẳng định lại và bổ sung, đổi mới trong việc đề
ra chủ trương, đường lối để lãnh đạo về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc.
Như vậy, có thể thấy rất
rõ, qua các thời kỳ khác nhau, với những nhiệm vụ cách mạng khác nhau nhưng
quan điểm của Đảng ta về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, chính sách dân tộc
luôn nhất quán quan điểm: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn luôn có vị
trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Thực hiện tốt chính sách dân tộc bình
đẳng, đoàn kết, giúp nhau cùng phát triển”, Việt Nam không ủng hộ phân biệt đối xử
giữa các dân tộc.
Sau 15 năm thực hiện
đường lối đổi mới của Đảng, trên cơ sở nhận định sâu sắc tình hình trong nước,
thế giới cũng như tầm quan trọng của vấn đề dân tộc và giải quyết quan hệ dân
tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 12/3/2003, tại Hội nghị
lần thứ 7 khóa IX, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số
24-NQ/TW về công tác dân tộc trong tình hình mới. Trong Nghị quyết này, Ban
Chấp hành Trung ương đề ra 5 quan điểm, đó là:
Thứ nhất, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là
vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay
của cách mạng Việt Nam.
Thứ hai, các dân tộc trong đại gia đình
Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau
phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu
chia rẽ dân tộc.
Thứ ba, phát triển toàn diện chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc thiểu
số và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội; thực
hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực;
chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản
sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung
của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Thứ tư, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế
- xã hội các vùng dân tộc thiểu số và miền núi; trước hết, tập trung phát triển
giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm
năng, thế mạnh của từng vùng, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái; phát huy nội
lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường
sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả
nước.
Thứ năm, công tác dân tộc và thực hiện
chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp,
các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.
Riêng đối với Nghị quyết
số 24-NQ/TW về công tác dân tộc trong tình hình mới, Đảng ta đã 2 lần tiến hành
tổng kết. Lần đầu vào năm 2009, sau đó, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số
57-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW. Lần tổng kết thứ
hai vào năm 2019, sau đó, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Kết luận số 65-KL/TW
ngày 30/10/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, trong đó Đảng đã
đề ra chủ trương, đường lối cho công tác dân tộc giai đoạn 2021 - 2030 với rất
nhiều điểm mới, mang tính đột phá.
Đến Đại hội XIII (2021),
Đảng đã khẳng định chủ trương về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc cho giai đoạn
2021 - 2025, đó là: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính
sách dân tộc trên tất cả các lĩnh vực, nhất là các chính sách đặc thù giải
quyết những khó khăn của đồng bào dân tộc thiểu số. Tạo sinh kế, việc làm, định
canh, định cư vững chắc cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng
xa, vùng biên giới. Tập trung triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc
gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai
đoạn 2021 - 2030. Bảo vệ và phát triển dân số các dân tộc thiểu số có dưới
10.000 người, đặc biệt là những dân tộc thiểu số có nguy cơ suy giảm giống nòi”.
Không lâu sau Đại hội
XIII, nhân kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 -
19/5/2021) và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng nhân dân các
cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 (ngày 23/5/2021), Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.
Trong bài viết, Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng đã phân tích và nêu rõ: một trong những đặc trưng của xã
hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là “các dân
tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau
cùng phát triển”…; “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố
có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt
Nam; không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo”.
Cùng với đó, trong bài
viết “Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta
ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc”, Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân
tộc, là cội nguồn sức mạnh để dân tộc ta mãi mãi trường tồn và phát triển, là
sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là đường lối chiến lược, có ý nghĩa sống còn của cách
mạng Việt Nam”.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú
Trọng nhấn mạnh: “Nền tảng vững chắc của đại đoàn kết dân tộc là liên minh giai
cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; là
mối quan hệ “máu thịt” giữa Đảng với nhân dân, là niềm tin của nhân dân đối với
Đảng, Nhà nước và chế độ ta; là sự đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội,
giữa cộng đồng các dân tộc Việt Nam, giữa đồng bào theo tôn giáo và không theo
tôn giáo, giữa những người theo các tôn giáo khác nhau; giữa người Việt Nam ở
trong nước và ở nước ngoài; là đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu
chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới”.
Như vậy, về mặt đối nội,
hệ thống các quan điểm, đường lối vấn đề dân tộc của Đảng là mục tiêu, căn cứ,
cơ sở chính trị để Nhà nước thể chế thành Hiến pháp, pháp luật và các chính
sách dân tộc, huy động các tổ chức chính trị - xã hội cùng phối hợp thực hiện,
tạo ra sức mạnh tổng thể của cả hệ thống chính trị cùng nhau xây dựng các mối
quan hệ dân tộc tốt đẹp; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ổn
định chính trị và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc
thiểu số và miền núi, góp phần xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa mang đặc trưng
của Việt Nam.
Sưu tầm