Thứ Hai, 4 tháng 3, 2024

Làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình"

 Ngăn chặn âm mưu dùng sách, báo xấu độc để chuyển hóa tư tưởng lệch lạc

Với âm mưu thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa-tư tưởng, một trong những phương thức mà các thế lực thù địch thường xuyên sử dụng là phát hành các sách, báo có nội dung độc hại, xuyên tạc, phản động. Đáng phê phán là một số cá nhân do nhận thức chính trị hạn chế, thiếu hiểu biết và hám lợi đã “nối giáo cho giặc” khi công khai tán phát, mua bán sách, báo xấu độc. Vì thế, việc ngăn chặn sự thẩm lậu, đấu tranh trực diện với sách, báo xấu độc cần nhất là chủ động, thường xuyên, kịp thời, đi vào thực chất.
Âm mưu đầu độc nhận thức
Đằng sau một cuốn sách, một bài báo chứa đựng tư tưởng, lý lẽ, tâm tư, tình cảm có tác động đến nhận thức, hành vi của độc giả. Bên cạnh những “bảo thư” soi đường, chỉ lối để con người hướng đến các giá trị chân, thiện, mỹ; rèn luyện, phấn đấu tu thân, tích đức để khẳng định bản thân, cống hiến cho xã hội; cũng không hiếm những “tà thư” đầu độc độc giả đưa đường đến với sự tối tăm, hận thù, bi quan, những hành vi lệch chuẩn, thiếu văn hóa và đạo đức, vi phạm pháp luật...
Khác với loại hình tuyên truyền trực quan như tranh, ảnh, phim; sách, báo xấu độc xâm nhập âm thầm, dùng lý lẽ bề ngoài tưởng chừng rất khách quan, khoa học nhưng ngầm ẩn những dụng ý vô cùng thâm hiểm. Chỉ cần độc giả là người thiếu hiểu biết về chính trị, không kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng, có ẩn ức, bất mãn trong đời sống rất dễ bị tiêm nhiễm, dần dần “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lúc nào không hay. Chẳng hạn, khá nhiều sách, báo dưới cái mác nghiên cứu khoa học lịch sử đã “bắn vào quá khứ” khi lập luận rằng: Không cần tiếp thu chủ nghĩa cộng sản, không cần sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Bác Hồ, không cần có Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dân tộc Việt Nam cứ “ngoan ngoãn” ở trong “vòng tay bảo hộ” của mẫu quốc Pháp sau Chiến tranh Thế giới thứ hai thì đất nước sẽ phát triển, dân trí nâng cao; rồi sau đó thông qua phương cách hòa bình để có được nền độc lập thì sẽ tốt hơn là phải cầm súng suốt mấy chục năm, làm “kéo lùi lịch sử”. Luận điệu này với những người trưởng thành có hiểu biết lịch sử, có tư duy biện chứng khoa học thì đích thực là phản động, phi thực tế và phản khoa học. Tuy nhiên, nếu là một người trẻ mới mười tám, đôi mươi, sinh ra trong hòa bình thì chưa chắc đã đủ bản lĩnh, trình độ để nhận diện đây là “tà thuyết”.
Theo số liệu của Bộ Công an, tính từ năm 2009 đến 2022, lực lượng an ninh chính trị nội bộ đã phối hợp thu thập, nghiên cứu hơn 500 đề tài, bản thảo; kiến nghị không cho xuất bản hoặc sửa chữa lại nội dung trước khi xuất bản 350 đề tài, bản thảo; ngừng phát hành, thu hồi, tiêu hủy 150 ấn phẩm có nội dung phức tạp, nhạy cảm, vi phạm; xử phạt vi phạm pháp luật trên lĩnh vực xuất bản hơn 760 trường hợp.
Khi những ý đồ thâm hiểm không phát huy dưới dạng “chính ngạch”, các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động thông qua phương thức cũ đó là tán phát sách, báo xấu độc theo con đường “tiểu ngạch”, nhất là trên không gian mạng.
Sách, báo xấu độc chủ yếu được xuất bản dưới chế độ cũ trước năm 1975, sau này in ấn ở hải ngoại. Dù là thể loại hư cấu hay phi hư cấu, sách, báo xấu độc đều có chung một số đặc điểm về nội dung, đó là: Ra sức cổ vũ quan điểm thù địch, chống đối Đảng Cộng sản Việt Nam; kêu gọi người dân không chấp nhận Đảng ta là đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội; phủ định lý luận về chủ nghĩa xã hội và sự đúng đắn tất yếu của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đòi xét lại lịch sử, bôi nhọ nhằm hạ thấp uy tín, danh dự của các anh hùng dân tộc, lãnh tụ của Đảng, các bậc tiền bối cách mạng; khoét sâu vào những mặt trái của xã hội nhằm phủ nhận thành tựu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và nhân dân...
Đáng lo ngại là một số cá nhân chuyên kinh doanh sách, báo, dịch vụ in ấn nhận thấy sách, báo xấu độc bị cấm phổ biến, lưu hành là “hàng hiếm” nên đã sưu tập, tái sản xuất, bày bán công khai trên mạng xã hội dưới dạng sách in và sách điện tử. Chỉ cần đặt hàng trên mạng xã hội, bất cứ tác phẩm xấu độc nào trong vài giờ đã có thể chuyển đến tận tay người có nhu cầu.
Vấn đề đáng bàn là vì sao sách, báo xấu độc do các tác giả phản động lại có thể “đội mồ sống dậy” lưu hành dễ dàng mà các cơ quan chức năng chưa kịp thời ngăn chặn?
Kết hợp giữa phòng và chống hiệu quả
Chúng ta cần xác định phương thức tán phát, phổ biến sách, báo xấu độc là thủ đoạn mà các thế lực thù địch sẽ không bao giờ từ bỏ. Cho nên, đấu tranh với sách, báo xấu độc là việc làm lâu dài, thường xuyên để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đặc biệt cần chú ý kết hợp giữa phòng và chống một cách linh hoạt, tùy từng trường hợp cụ thể để mang lại hiệu quả thực chất.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị-xã hội, thuần phong mỹ tục”.
Quán triệt, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, với lĩnh vực xuất bản, ông Nguyễn Nguyên, Cục trưởng Cục Xuất bản, In và Phát hành (Bộ Thông tin và Truyền thông), Phó chủ tịch Hội Xuất bản Việt Nam cho rằng: Trước hết, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực xuất bản. Phát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của các cơ quan xuất bản, cơ quan chủ quản trong công tác xuất bản với yêu cầu giữ vững tôn chỉ, mục đích, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, biên tập viên, thực hiện chặt chẽ quy trình xuất bản, thẩm định kỹ nội dung bản thảo, tránh để xảy ra sai sót nội dung nghiêm trọng về chính trị.
Cùng với đó, công tác hậu kiểm cần tiếp tục được đẩy mạnh nhằm ngăn chặn triệt để các xuất bản phẩm có nội dung vi phạm quy định Luật Xuất bản; các cơ quan bảo vệ pháp luật triển khai đồng bộ các giải pháp đấu tranh, xử lý những ấn phẩm lưu hành bất hợp pháp, nhất là các ấn phẩm có nội dung xấu độc. Riêng với các địa chỉ lưu giữ, tán phát xuất bản phẩm xấu độc trên không gian mạng, cần phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng an ninh chính trị nội bộ, an ninh mạng tập trung sử dụng những biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn hoạt động và sức phổ biến, tiếp cận đến với người đọc.
Theo ông Nguyễn Thái Bình, Phó giám đốc Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, vấn nạn sách, tài liệu xấu độc được in ấn, mua bán công khai hiện nay là nguy cơ dẫn đến mất kiểm soát vì vô tình tạo thói quen, hành vi vi phạm pháp luật cho bạn đọc, người sử dụng thiếu hiểu biết. Các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chức năng cần sớm vào cuộc, xử lý bảo đảm đủ răn đe với những hành vi vi phạm pháp luật. Với những nhóm người có chủ ý thu lợi cá nhân hoặc có kế hoạch, chủ động tán phát sách, báo xấu độc cần phải bị xử lý hình sự để răn đe những đối tượng khác. Với những cá nhân nhỏ lẻ, nếu chỉ hám lợi đơn thuần thì sớm tiếp cận, nhắc nhở.
Ông Nguyễn Thái Bình cũng nhấn mạnh đến vai trò của các cấp ủy Đảng cần chủ động định hướng, cung cấp thông tin thường xuyên để cán bộ, đảng viên không tìm hiểu, không tiếp cận với sách, báo xấu độc; xử lý nghiêm những trường hợp cán bộ, đảng viên phổ biến, giới thiệu sách, báo xấu độc dưới bất cứ hình thức nào. Đặc biệt, đối với các cơ quan quản lý nhà nước cần phải chủ động trong truyền thông chính sách, giúp cho người dân hiểu và làm việc theo pháp luật. Phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên trong hoạt động tuyên truyền miệng để cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân không mua bán, tàng trữ, sử dụng, phổ biến sách, báo xấu độc; đồng thời, nâng cao khả năng nhận diện nội dung xấu độc, tham gia đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Một giải pháp mà các chuyên gia trong lĩnh vực xuất bản, phát triển văn hóa đọc nhiều lần nhắc đến, đó là: Ngành xuất bản cần tiếp tục nỗ lực xuất bản, giới thiệu nhiều sách, báo có nội dung lành mạnh, nhân văn, có giá trị học thuật dưới nhiều hình thức đa dạng, hấp dẫn, gắn với phát triển văn hóa đọc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Qua đó, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, tác động tích cực để xây dựng nhận thức đúng đắn, bồi đắp tâm hồn, nâng cao dân trí cho nhân dân, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc./.
ST

BÁC VẪN CÙNG CHÚNG CHÁU HÀNH QUÂN

 Bác Hồ là người Việt Nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và cũng là người Việt Nam đầu tiên trở thành người cộng sản chân chính, đã tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là thành viên của Quốc tế Cộng sản. Cùng với việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân quốc tế và phong trào đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa, Bác cũng là người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam và trực tiếp gieo “hạt giống cộng sản” để chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác là tài sản vô cùng quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Sống trong cảnh nước mất nhà tan, lại được tận mắt chứng kiến cảnh thất bại của phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX, Bác rất khâm phục các bậc tiền bối, song quyết định ra đi tìm con đường cứu nước mới với tên gọi là Nguyễn Tất Thành. Bác đã sang tận châu Âu, đến các nước Pháp, Anh - nơi chủ nghĩa tư bản tự cho mình là trung tâm văn hóa thế giới để xem các nước ấy “làm ăn” như thế nào, cái gì ẩn chứa đằng sau khẩu hiệu “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” rồi trở về giúp đồng bào ta đấu tranh giải phóng dân tộc.
Trải qua nhiều gian nan, cực nhọc để kiếm sống, phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức, có lúc tưởng chừng không thể vượt qua được nhưng bằng ý chí và nghị lực phi thường, Bác đã kiên định mục tiêu, lẽ sống đã chọn, quyết tâm tìm con đường cứu nước, cứu dân. Nhờ tắm mình trong thực tiễn đấu tranh cách mạng ở trời Âu cũng như nhiều nước trên thế giới; Bác đã có thêm những nhận thức mới. Đó là hành trang cần thiết để Bác đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, trở thành người cộng sản chân chính với tên gọi Nguyễn Ái Quốc.
Năm 1920, Bác đã đọc được Luận cương của V.I. Lênin; tìm được lời giải đáp đầy đủ, sâu sắc và thuyết phục nhất về những điều thắc mắc mà bấy lâu trăn trở, tìm tòi, khát vọng tìm kiếm. Bác viết: “Luận cương của V.I. Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”.
Bác đã tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, đó là con đường cách mạng vô sản. Đó là kết quả tất yếu của nhiều năm bôn ba tìm kiếm, phát hiện và tiếp nhận con đường cách mạng. Đó là bước nhảy vọt về chất trong nhận thức của Bác, là một sự kiện đặc biệt quan trọng có ý nghĩa chính trị và nhân văn sâu sắc, quyết định tầm nhìn, quan điểm, lập trường; sự lựa chọn con đường cứu nước, cứu dân của Bác - Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đây là sự hội tụ, kết tinh ý chí, khát vọng và là tinh thần của cả một dân tộc; phản ánh tâm nguyện của nhiều bậc tiền bối, các sĩ phu yêu nước nhưng chưa có điều kiện thực hiện.
Bác đã khẳng định vai trò tiên phong của lý luận khoa học và sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và quần chúng nhân dân lao động, Bác kêu gọi Đảng Cộng sản Pháp và Quốc tế Cộng sản quan tâm hơn đến các vấn đề thuộc địa. Vì vậy, Bác đã sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa và xuất bản tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) do Bác trực tiếp làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Với sự ra đời của tờ báo này, Bác đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân, các dân tộc thuộc địa và Việt Nam, được dân chúng đón nhận và đi theo.
Bác đã nhiều lần phát biểu ý kiến ca ngợi V.I. Lênin, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng như kết quả xây dựng CNXH ở Liên Xô. Bác đã nghiên cứu bộ sách Tư bản của C. Mác và Chính sách kinh tế mới của V.I. Lênin, cùng với đó, tham khảo những bài học kinh nghiệm về cách mạng XHCN, xây dựng nhà nước Xôviết và rút ra kết luận: Việt Nam muốn giành độc lập dân tộc không có con đường nào khác là phải đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, đi theo Lênin. Các tác phẩm của Bác đã được các thủy thủ Việt Nam phục vụ trên các tàu buôn của Pháp chuyển về nước. Nhiều thanh niên Việt Nam biết tiếng Pháp đã đọc tác phẩm này, dịch ra tiếng Việt và phổ biến cho nhiều người biết tội ác của thực dân Pháp, nuôi dưỡng ý chí, khát vọng đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.
Ở tỉnh Quảng Châu (Trung Quốc), Bác đã sáng lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, ra báo Thanh niên và mở lớp đào tạo cán bộ, chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh (1927), Bác khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu, học tập lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin vì: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Đồng thời, chỉ ra nhiệm vụ của người cách mạng là đấu tranh giải phóng dân tộc.
Rõ ràng, thế giới quan và phương pháp luận Mác - Lênin đã giúp Bác phân tích, tổng kết kinh nghiệm cách mạng thế giới và tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Vì vậy, trong các văn kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Bác đã khẳng định những nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin và nhấn mạnh sự cần thiết phải học tập, nghiên cứu và truyền bá sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và quảng đại quần chúng nhân dân. Các văn kiện đó đã trở thành cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta.
Tổng kết kinh nghiệm thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Bác chỉ rõ, thắng lợi của chúng ta, trước hết là nhờ có vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lênin. Bác coi chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là “cái cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam cho hành động, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới CNXH và CNCS.
Chính chủ nghĩa Mác - Lênin đã trang bị cho Bác thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng để Bác tìm ra con đường cứu nước mới, giúp Bác vượt lên phía trước, khắc phục căn bản sự khủng hoảng về chính trị, sự bế tắc về đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc, “gieo mầm cộng sản” trên quê hương Việt Nam.
Vì lẽ đó, chủ nghĩa Mác - Lênin đóng vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Những điều nêu trên đã giải nghĩa sâu sắc lý do vì sao Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một, nhất quán với lập trường, quan điểm lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Đó cũng là điều giải thích rõ ràng vì sao bên cạnh chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng của Bác đã trở thành cấu phần đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng và cách mạng Việt Nam; vì sao Bác vẫn cùng chúng ta hành quân./.
ST

VIỆT TÂN LỢI DỤNG CHUYỆN PHÁO HOA ĐỂ CHIA RẼ QUÂN ĐỘI VÀ CÔNG AN

 Thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam các thế lực thù địch, phản động, chúng luôn tìm cách chia rẽ mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa Quân đội nhân dân với Công an nhân dân bằng những luận điệu xuyên tạc, hòng làm suy yếu lực lượng vũ trang, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu này chúng triệt để lợi dụng các sự kiện, sự việc liên quan, bới lông, tìm vết để bóp méo, xuyên tạc chống phá. Bằng chứng là mới đây tổ chức khủng bố Việt Tân phát tán tài liệu “Anh bán pháo, em… hỏi hóa đơn”, đề cập đến việc sản xuất và kinh doanh pháo hoa trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024. Trong nội dung tài liệu này, Việt Tân xuyên tạc, chỉ trích cho rằng việc Nhà máy Z121 thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng sản xuất pháo hoa “thu lợi khủng cho Quân đội”, vì thế Công an “muốn chia phần” nên quy định người đốt pháo hoa do Nhà máy Z121 sản xuất phải có hóa đơn…

Cách nói bừa, phán bậy của Việt Tân cho thấy, họ chẳng hiểu gì về chủ trương sản xuất, kinh doanh và sử dụng pháo hoa của Việt Nam. Tại Khoản 2, Điều 14, Nghị định số 137/2020/NĐ-CP ngày 27-11-2020 của Chính phủ quy định về điều kiện nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu pháo hoa, thuốc pháo hoa như sau:
Việc kinh doanh pháo hoa phải bảo đảm các điều kiện sau đây: “a, Chỉ tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng được kinh doanh pháo hoa và phải được cơ quan Công an có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự; bảo đảm các điều kiện về phòng cháy, chữa cháy, phòng ngừa, ứng phó sự cố và bảo vệ môi trường; b, Kho, phương tiện vận chuyển, thiết bị, dụng cụ phục vụ kinh doanh pháo hoa phải phù hợp, bảo đảm điều kiện về bảo quản, vận chuyển, phòng cháy và chữa cháy; c, Người quản lý, người phục vụ có liên quan đến kinh doanh pháo hoa phải được huấn luyện về kỹ thuật an toàn; d, Chỉ được kinh doanh pháo hoa bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn theo quy định”.
Theo đó, người dân được phép mua pháo hoa do Bộ Quốc phòng sản xuất, nhưng là loại pháo hoa có hóa đơn chứng từ hợp pháp, tại các cơ sở được các cơ quan chức năng kiểm định, cấp phép. Hiện nay, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Hóa chất 21 (hay còn gọi là Nhà máy Z121) thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng - Bộ Quốc phòng là đơn vị duy nhất được giao nhiệm vụ sản xuất và phân phối các sản phẩm pháo hoa phục vụ các dịp lễ hội trên cả nước. Ngoài ra, sản phẩm pháo hoa của Nhà máy Z121 còn xuất khẩu sang các thị trường Mỹ, Nhật Bản, Singapore, Lào... đem lại nguồn thu cho Nhà nước.
Căn cứ theo các quy định hiện hành, đối với người dân trong nước muốn mua pháo hoa về sử dụng thì phải mua tại các địa điểm trực thuộc Bộ Quốc phòng. Khi mua pháo hoa, người dân cần yêu cầu cơ sở bán hàng cấp hóa đơn để có thể trình cơ quan chức năng khi được kiểm tra, bảo đảm tính hợp pháp. Việc công an kiểm tra hóa mua pháo hoa là bình thường theo đúng chức năng nhằm đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đốt pháo hoa không có hóa đơn mua hàng là vi phạm và sẽ bị xử lý.
Luận điệu cho rằng, sản xuất pháo hoa “thu lợi khủng cho Quân đội”, vì thế Công an “muốn chia phần” là một sự xuyên tạc trắng trợn, suy diễn vô lối. Thực chất mục đích sâu xa của Việt Tân cũng chính là nhằm nói xấu, kích động, chia rẽ Quân đội nhân dân với Công an nhân dân. Nhưng chúng không thể làm gì được bởi sự đoàn kết giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đã trở thành truyền thống tốt đẹp. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân luôn đoàn kết, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, hỗ trợ nhau trong từng nhiệm vụ cụ thể, trên từng địa bàn cụ thể. Sự thâm hiểm, tinh vi của các thế lực thù địch, phản động trong đó có tổ chức khủng bố Việt Tân càng cho thấy tính phức tạp của cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Thực tế đó đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên nâng cao cảnh giác, nhận diện rõ ràng và chủ động đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, chia rẽ giữa hai lực lượng. Đồng thời, luôn giữ vững và phát huy truyền thống đoàn kết, gắn bó giữa Quân đội nhân dân với Công an nhân dân, coi đó là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là cán bộ, chiến sĩ của hai lực lượng./.
ST

AI CÒN NHỚ VỊ TƯỚNG PHONG TRÀO!

 Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (Nguyễn Vịnh) sinh 1914 tại xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Không chỉ có tài thao lược, tham gia chỉ đạo nhiều cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam, đồng chí còn là vị tướng của các phong trào. Khi giao nhiệm vụ đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn đồng chí: “Phong trào mới nhóm, trầm trầm. Chú hãy cố gắng tìm cho được điển hình tốt, rút kinh nghiệm và phát huy nó lên”.

Năm 1961, do yêu cầu của công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, Đại tướng được Trung ương Đảng giao nhiệm vụ phụ trách Ban Nông nghiệp Trung ương. Chỉ ít lâu sau, một điển hình trên mặt trận nông nghiệp xuất hiện đó là Hợp tác xã Đại Phong (xã Phong Thủy - Lệ Thủy - Quảng Bình). Đó chính là kết quả của nhiều tháng Đại tướng lội ruộng cùng bà con nông dân, xem xét việc canh tác ở Hợp tác xã Đại Phong. Theo đề nghị của Đại tướng, phong trào thi đua với Hợp tác xã Đại Phong trong nông thôn miền Bắc đã được phát động, lấy tên là phong trào “Gió Đại Phong”.
Bên cạnh các phong trào nông nghiệp, Đại tướng cũng đẩy mạnh các phong trào trong quân đội, “Lấy thi đua huấn luyện quân sự làm chính” như Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi. Đại tướng đưa phong trào “Ba nhất” phát triển cả về nội dung và hình thức trong toàn quân.
“Gió Đại Phong”, “Ba nhất” và các phong trào thi đua yêu nước đã nuôi dưỡng sức mạnh tinh thần của nhân dân, là chỗ dựa cho tiền tuyến cùng đánh thắng kẻ thù. Những phong trào do Đại tướng phát động đã góp phần trở thành động lực, sức mạnh tinh thần cho cả nước đánh thắng quân xâm lược, xây dựng chủ nghĩa xã hội./.
St


"QUẢ BÓNG" TRÁCH NHIỆM

 Sau bữa cơm tối, ông Nam sang nhà đồng chí bí thư chi bộ thôn để bàn bạc một số công việc của chi bộ trong tháng tới. Vừa nhấp chén trà còn nóng hổi, ông Nam thở dài kể lại chuyện hôm đầu tuần lên UBND xã nhưng không được việc.

Ông bảo: “Đúng là quả bóng trách nhiệm, cứ người này đá cho người kia, cấp này đá lên, đá xuống cho cấp kia, còn người dân không biết đường nào mà bắt...”.
Chuyện là đầu tuần, ông Nam lên trụ sở UBND xã để hỏi một số thông tin liên quan đến các chế độ, chính sách mới về đất đai. Ngồi chờ ở bộ phận một cửa chừng 15 phút mới tới lượt, ông được giới thiệu sang gặp cán bộ địa chính để tìm hiểu thông tin cho kỹ hơn. Đang chăm chú hoàn tất một số công việc để kịp trình lãnh đạo UBND xã nên đồng chí cán bộ làm công tác địa chính xã mời ông ngồi chờ ít phút. Quãng chừng 30 phút sau, đồng chí cán bộ địa chính mới tạm dừng việc để nghe ông trình bày công việc cần giải quyết. Ông Nam vừa dứt lời, đồng chí cán bộ địa chính trả lời qua loa, rằng “vấn đề này vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể, bác chờ thêm một thời gian nữa, hoặc mời bác lên UBND huyện để hỏi cho rõ hơn”.
Nghe xong câu chuyện, đồng chí bí thư chi bộ cười mỉm đầy ẩn ý. Đồng chí bí thư chi bộ phân tích: Không phủ nhận rằng, đội ngũ cán bộ cơ sở quá nhiều công việc cần giải quyết, trong khi biên chế vốn đã ít nhưng vẫn tiếp tục tinh giản nên một người phải cáng đáng nhiều việc quá. Hai nữa, bà con ta mặc dù ai cũng có một chiếc điện thoại thông minh, vào mạng xã hội, rồi lướt web không kém gì lớp trẻ, nhưng chẳng mấy ai biết tận dụng công nghệ để tìm hiểu thông tin, nắm bắt chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước. Hễ có việc to, việc nhỏ gì là lại lên tìm cán bộ xã, thành ra “trăm dâu đổ đầu cơ sở” là vì thế.
Ngoài ra, cũng cần phê phán một bộ phận cán bộ, công chức xã, mặc dù hằng ngày phải giải quyết nhiều thủ tục hành chính, xử lý nhiều vấn đề bức xúc của nhân dân liên quan đến các chế độ, chính sách nhưng không chịu khó học tập nâng cao nghiệp vụ, lười nghiên cứu các văn bản mới trong lĩnh vực phụ trách mà cứ phải chờ hướng dẫn của trên. Không ít lĩnh vực, công việc có sự giao thoa, chồng chéo nên người này đẩy việc cho người kia, rồi cấp dưới đẩy việc lên cấp trên, hoặc ngược lại... Chính những vấn đề nhỏ nhặt ở cơ sở không được giải quyết sớm, kịp thời nên dẫn đến quần chúng bức xúc, tạo thành điểm nóng trong dư luận và là nguyên nhân dẫn đến đơn, thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp...
Nghe đồng chí bí thư chi bộ phân tích, ông Nam gật gù tâm đắc và chợt nhận ra, bấy lâu nay mình vẫn chưa sử dụng hết công năng của chiếc điện thoại thông minh, thành ra có nhiều việc vừa tự làm khó mình, vừa “phiền” cán bộ./.
St

QUAN TÂM HƠN NỮA HẬU PHƯƠNG QUÂN NHÂN

 Những ngày qua, cả nước nô nức ngày hội giao, nhận quân. Từ đây, những thanh niên được tuyển chọn sẽ bước vào môi trường quân ngũ đầy vinh quang nhưng cũng nhiều thử thách, đòi hỏi sự cống hiến, hy sinh.

Môi trường quân ngũ là môi trường lao động đặc thù, không có ngày nghỉ, giờ nghỉ. Mỗi quân nhân đều thực hiện lao động đặc thù, không chỉ đổ mồ hôi, tâm sức mà còn sẵn sàng hy sinh tính mạng để thực hiện nhiệm vụ. Trong môi trường quân ngũ, từ người chỉ huy tới chiến sĩ đều phải chấp nhận cuộc sống xa gia đình, xa người thân có khi biền biệt hàng tháng, hàng năm trời. Chính vì vậy, quan tâm tới hậu phương quân nhân là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng, cần được thực hiện tốt để bảo đảm cán bộ, chiến sĩ toàn quân yên tâm thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng mà Tổ quốc giao cho.
Trong các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, hậu phương luôn dành tất cả cho tiền tuyến, không chỉ là vật chất, phương tiện, con người, mà cả tinh thần, tình cảm để người đi chiến đấu vững lòng, quyết tâm đánh giặc. Thời bình hiện nay, thân nhân của quân nhân tại ngũ được quan tâm, được hưởng những chính sách ưu đãi như bố mẹ đẻ, bố mẹ vợ/chồng, người nuôi dưỡng hợp pháp, con đẻ, con nuôi hợp pháp (con dưới 18 tuổi của sĩ quan tại ngũ) được hưởng chế độ bảo hiểm y tế; được hưởng trợ cấp khó khăn (đối với hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ)...
Tuy nhiên, đời sống kinh tế-xã hội hiện nay đang tác động nhiều mặt đến gia đình quân nhân. Những so bì về điều kiện vật chất, thu nhập thực tế, điều kiện gần gũi tình cảm, chăm sóc gia đình... không khỏi có lúc khiến người vợ của quân nhân thấy chạnh lòng. Thời chiến, gia đình có người đi bộ đội được cấp ủy, chính quyền, hệ thống chính trị tại địa phương quan tâm, chăm sóc đặc biệt, cảm thấy rõ niềm vinh dự, tự hào. Thế nhưng trong thời bình, có nơi, có lúc chưa quan tâm đúng mức tới gia đình quân nhân, làm cho gia đình quân nhân có khi cũng giống như gia đình có người đi làm ăn xa. Quân nhân là trụ cột trong gia đình khó có thể tập trung, toàn tâm, toàn ý cho nhiệm vụ tại đơn vị khi còn lo ngay ngáy việc nhà bề bộn, vợ chưa có việc làm ổn định, con nhỏ chưa có nơi học hành. Cùng với đó, theo tâm lý tự nhiên, người chồng xa nhà luôn mang nỗi lo người vợ ở nhà có một lòng chung thủy với mình hay không. Những chuyện tưởng như chỉ là chuyện nhỏ, chuyện cá nhân nhưng có tác động không nhỏ tới tâm lý, tình cảm, tới tâm thế sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ của quân nhân.
Do đó, để xây dựng hậu phương quân nhân vững vàng hơn nữa, để mỗi quân nhân và gia đình họ đều cảm thấy rõ niềm vinh dự, tự hào vì bản thân mình và con cháu, chồng/vợ, cha/mẹ mình được theo binh nghiệp thì cần tiếp tục nghiên cứu có thêm chính sách cho gia đình quân nhân như: Ưu tiên nhận con quân nhân vào trường mầm non, cộng điểm cho con quân nhân trong các kỳ thi bậc phổ thông, đại học; quan tâm tạo việc làm cho vợ hoặc chồng của quân nhân. Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền địa phương nên quan tâm hơn nữa trong việc thăm hỏi, động viên, thực hiện tốt các chính sách đối với gia đình quân nhân tại ngũ. Hệ thống chính trị ở cơ sở nên quan tâm hơn nữa tới việc vun vén, có các hoạt động để góp phần bảo vệ hạnh phúc của gia đình quân nhân. Hậu phương có vững thì quân nhân mới yên tâm thực hiện tốt nhiệm vụ thiêng liêng mà Tổ quốc giao cho./.
St

Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa: Chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác

“Chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác. Có chuyên môn mà không có chính trị thì chỉ còn cái xác không hồn. Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn”. Đây là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói tại lớp học chính trị của giáo viên, đầu tháng 8 năm 1959.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy, nhà giáo dục vĩ đại. Cả cuộc đời Người đã đào tạo biết bao thế hệ cán bộ, những chiến sĩ ưu tú cho cách mạng và dành nhiều tình cảm quan tâm đến với các thầy, cô giáo. Bác đặc biệt đề cao vai trò của người thầy, bởi người thầy không chỉ dạy chữ mà còn dạy người, không chỉ truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm, khơi nguồn sáng tạo mà còn là tấm gương mẫu mực về đạo đức cho học sinh noi theo qua từng giờ lên lớp. Người thầy là những người “đạo cao”, “đức trọng”, người có uy tín được xã hội tôn kính. Có thể nói, ở bất cứ xã hội nào nghề dạy học luôn được coi là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong các nghề sáng tạo. Do vậy, người thầy phải có lập trường tư tưởng đúng, bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, có chuyên môn giỏi và không ngừng được phát triển, sáng tạo thì mới hoàn thành trọng trách vẻ vang mà xã hội tin tưởng trao gửi.

Thấu triệt lời Bác dạy, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn khắc ghi tinh thần “chính trị là linh hồn” mà Bác đã huấn thị “Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự” và các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về xây dựng quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị, tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội; phù hợp với yêu cầu, nội dung của nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới.

Trong giai đoạn mới, nhiệm vụ xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, phải tập trung giáo dục, rèn luyện bộ đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có thái độ phân biệt đúng, sai, không dao động trước các tác động tiêu cực, khó khăn, hiểm nguy. Nói và làm đúng nghị quyết; ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; giữ vững và không ngừng phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc.

Sưu tầm

Nâng cao nhận thức trước âm mưu lôi kéo thanh niên trốn tránh thực hiện Nghĩa vụ quân sự

Một mùa xuân mới bắt đầu cũng là thời điểm các địa phương trên cả nước đang tích cực triển khai công tác chuẩn bị tổ chức lễ giao, nhận quân năm 2024. Lợi dụng vấn đề này, trên các trang mạng xã hội, một số tổ chức, cá nhân đối lập về ý thức hệ móc nối với những phần tử cơ hội chính trị, những đối tượng bất mãn cố tình cắt ghép, ngụy tạo những hình ảnh, clip xuyên tạc, bôi nhọ việc tham gia nghĩa vụ quân sự đăng tải trên các trang mạng xã hội, nhất là facebook và blog.

Đặc biệt chúng còn đưa ra những cách để các thanh niên trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự. Thực chất, đây là âm mưu vô cùng nham hiểm, thâm độc nhằm bôi nhọ bản chất, truyền thống, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, tạo dư luận xã hội gây tâm lý hoang mang, lo sợ. Từ đó, thoái thác về trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân với Tổ quốc.

Quan sát trên các trang mạng xã hội, rất dễ nhìn thấy các bài viết, status đăng các dòng trạng thái của thanh niên sắp thực hiện nghĩa vụ quân sự năm 2024. Vì vậy, các phần tử cơ hội chính trị với ý đồ xấu tiến hành bình luận, comment lôi kéo, dụ dỗ thanh niên trốn tránh nghĩa vụ quân sự gây tâm lý hoang mang, lo sợ.

Nguyên nhân dẫn đến tâm lý “sợ” và trốn tránh nghĩa vụ quân sự xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, điển hình như: Tâm lý nghe những người khác nói, bình luận rằng trong môi trường quân ngũ là một môi trường khắc nghiệt, bản thân không thể thích nghi. Thời gian tham gia quân ngũ là 2 năm, một số người sợ rằng sau khi xuất ngũ thì sẽ không thể tiếp tục lại được công việc hiện tại, tâm lý ngại học tập do một thời gian dài sẽ quên đi kiến thức. Do một phần được gia đình nuông chiều, che chở nên sợ “chịu khổ” khi bước vào môi trường quân ngũ kỷ luật trong 2 năm. Sự tác động của các mặt tiêu cực xã hội cũng là nguyên nhân khiến cho nhiều thanh niên không còn khát khao cống hiến cho Tổ quốc thay vào đó là tư tưởng thực dụng, lựa chọn những cái có lợi cho bản thân mình.

Theo Luật Nghĩa vụ quân sự (NVQS) năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 quy định: “Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội Nhân dân”; “Công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú phải thực hiện nghĩa vụ quân sự”. Luật cũng chỉ rõ, hành vi trốn tránh, chống đối, cản trở, gian dối trong khám sức khỏe, lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định về nghĩa vụ quân sự thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Do đó, mọi thanh niên cần nhận thức rõ việc tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự là trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng liêng của mọi công dân Việt Nam vì bảo vệ Tổ quốc chính là bảo vệ gia đình của chúng ta. Một số chính sách, ưu đãi khi tham gia thực hiện NVQS mà thanh niên cần nắm chắc như: Khi tham gia NVQS ngoài được cộng điểm khi thi tuyển sinh vào các trường đại học, học viện, hỗ trợ đào tạo học nghề, tạo công ăn việc làm… Khi xuất ngũ được hưởng trợ cấp (4 tháng); trợ cấp việc làm (6 tháng); trợ cấp bảo hiểm (4 tháng); thanh toán nghỉ phép; quà tết; phụ cấp; thẻ học nghề giúp thanh niên lập thân, lập nghiệp.

Ngoài ra, thanh niên cần nắm chắc các trường hợp tạm hoãn gọi nhập ngũ để tránh vi phạm pháp luật. Theo Điều 41 Luật Nghĩa vụ quân sự và Thông tư 148/2018/TT-BQP quy định một số trường hợp tạm hoãn gọi nhập ngũ, cụ thể là:

a) Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe.

b) Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) xác nhận.

c) Con của bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%.

d) Người thuộc diện di dân, giãn dân trong 3 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên quyết định.

e) Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.

g) Đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông; đang được đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo.

Mỗi thanh niên cần nâng cao nhận thức, sức đề kháng trước các quan điểm xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng. Xây dựng niềm tin, ý chí quyết tâm thực hiện nghĩa vụ quân sự là trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng liêng của công dân, nối tiếp truyền thống của các thế hệ cha anh đi trước, xứng đáng với niềm tin của Đảng và Nhân dân, ra sức tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Và đó cũng là minh chứng quan trọng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc của các phần tử cơ hội chính trị, bất mãn, thù địch.

Sưu tầm

Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc việc thực hiện nghĩa vụ quân sự

Đã thành thông lệ, hàng năm, sau khi vui Tết, đón xuân, thanh niên trên cả nước hăng hái nhập ngũ bảo vệ Tổ quốc. Âm vang của “Ngày hội tòng quân” vẫn còn trong mỗi người dân. Tuy nhiên trên các trang mạng xã hội, một số tổ chức, cá nhân thù địch móc nối với những phần tử cơ hội chính trị, đối tượng bất mãn cố tình cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, video clip xuyên tạc, việc tham gia nghĩa vụ quân sự của thanh niên.

Với chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” để bàn về việc nước, các thế lực thù địch cho ra những bài viết luận bàn về chính sách của các nước trên thế giới quan tâm chăm lo đào tạo cho thanh niên lập nghiệp, làm ăn phát triển kinh tế còn Việt Nam thanh niên phải tham gia nghĩa vụ quân sự. Nguy hiểm hơn, lợi dụng mạng xã hội, chúng đăng tải những hình ảnh, video được cắt ghép, dàn dựng để bóp méo sự thật, xuyên tạc về đạo đức, tác phong và hoạt động của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội, nhằm kích động một số người nhẹ dạ, cả tin, thiếu hiểu biết chia sẻ trên mạng xã hội, gây hoang mang cho thanh niên và gia đình có con em nhập ngũ.

Mục đích của chúng là nhằm bôi nhọ hình ảnh, bản chất, truyền thống, uy tín của Quân đội, gây ngờ vực trong Nhân dân. Từ đó, tạo luồng tư tưởng xấu khiến cho thanh niên trong độ tuổi nhập ngũ “tự diễn biến”, buông lỏng trách nhiệm, nghĩa vụ của mình với Tổ quốc.

Thực tiễn lịch sử cho thấy, dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại, phát triển của dân tộc, đó chính là truyền thống quý báu của tổ tiên ta. Ðảng ta đã vận dụng, phát triển thành hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, các triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam đã có chính sách “ngụ binh ư nông”. Đó là sự kết hợp nhiệm vụ duy trì lực lượng quốc phòng với sản xuất, sẵn sàng chuyển hóa lực lượng quân sự từ sản xuất sang chiến đấu khi cần thiết và ngược lại, chuyển lực lượng chiến đấu về sản xuất trong thời bình. 

Bảo vệ Tổ quốc không chỉ chiến đấu khi có kẻ thù xâm lược mà phải chuẩn bị lực lượng, tổ chức phòng thủ, phòng ngừa từ trước, từ sớm, từ xa; chủ động chuẩn bị về mọi mặt, bao gồm chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... ngay từ thời bình.

Thực hiện nghĩa vụ quân sự không chỉ đơn thuần là chấp hành pháp luật của Nhà nước, mà còn là nghĩa vụ thiêng liêng của công dân đối với Tổ quốc, bảo vệ sự trường tồn của dân tộc ta. Biết bao thế hệ ông cha đã ngã xuống cho nền độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, ý chí “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” còn vọng lại, hàng triệu thanh niên Việt Nam xếp bút xung phong lên đường chiến đấu, trở thành những chiến sĩ kiên trung, bất khuất.

Trong thời bình, hình ảnh cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam sát cánh cùng Nhân dân vượt qua thiên tai, dịch bệnh để bảo vệ tính mạng, tài sản của người dân; đồng hành cùng người dân ở những nơi khó khăn trên biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa phát triển kinh tế, chung tay xây dựng nông thôn mới, chung tay vì người nghèo không để ai bị bỏ lại phía sau, thể hiện rõ mệnh lệnh trái tim người chiến sĩ.

Thanh niên lên đường làm nghĩa vụ quân sự không chỉ là nghĩa vụ, trách nhiệm, mà trên hết đó còn là niềm tự hào của tuổi trẻ Việt Nam góp phần bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, giữ gìn bản sắc, truyền thống dân tộc, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Sưu tầm

Việt Nam tích cực thực hiện Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc

Ngày 19/12/2023, ngành Ngoại giao tổ chức Hội nghị lần thứ 32. Tới dự và phát biểu tại hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Có thể nói, chưa bao giờ vị thế, uy tín và hình ảnh một nước Việt Nam độc lập, tự chủ, phát triển năng động, là bạn bè thuỷ chung, chân thành, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có trách nhiệm lại nổi bật trên trường quốc tế như hiện nay”.

Nhận định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chính là sự ghi nhận kết quả đạt được sau một quá trình bước ra hội nhập với sân chơi thế giới của Việt Nam. Về mặt đối ngoại, với tư cách là thành viên của Liên hợp quốc, Việt Nam đã cố gắng hoàn thành trách nhiệm và nghĩa vụ của nước thành viên. Hiện nay, Liên hợp quốc có 24 công ước quốc tế liên quan đến quyền con người, trong đó có 9 công ước được coi là quan trọng và cơ bản nhất.

Việt Nam đã tham gia phê chuẩn và cam kết thực hiện 7/9 công ước có liên quan đến quyền con người, gồm: Công ước về quyền dân sự và chính trị, Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Công ước quốc tế về Quyền trẻ em, Công ước về quyền của người khuyết tật, Công ước chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người.

Trong Chương trình bình luận “Việt Nam bảo vệ quyền con người” (Thứ bảy ngày 10/12/2022, trên kênh VTV1 - Đài Truyền hình Việt Nam), PGS,TS Nguyễn Thị Thanh Hải - Phó Viện trưởng Viện Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nhận xét, nếu so sánh cuối những năm 1980, thời kỳ bắt đầu công cuộc Đổi mới với hiện nay thì có thể thấy rất rõ sự phát triển trong cách tiếp cận, quan điểm của Việt Nam về quyền con người.

Nếu những năm đầu Đổi mới, quyền con người là vấn đề “nhạy cảm”, thậm chí là cấm kỵ thì hiện nay đã được thừa nhận rộng rãi trong quan điểm, trong hệ thống văn bản của Đảng, Nhà nước ta, là nội dung giảng dạy trong trường học. Từ chỗ quyền con người được tiếp cận thụ động, thậm chí mang tính chất đối phó với những phê phán, chỉ trích từ bên ngoài thì nay đã được coi là mục tiêu cốt lõi của quá trình phát triển của Việt Nam.

PGS,TS Nguyễn Thị Thanh Hải còn cho rằng, sự thừa nhận và đảm bảo quyền con người là một chỉ báo đánh giá sự phát triển văn minh, tiến bộ của mỗi xã hội, là cơ sở để Nhà nước ghi nhận và đảm bảo quyền cho người dân.

Trên quan điểm như vậy, trong các công ước quốc tế Việt Nam đã phê chuẩn và tham gia có một công ước quan trọng, trực tiếp liên quan đến quan hệ giữa các dân tộc, đó là Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc.

Ra đời từ năm 1965, Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD) lên án nạn phân biệt chủng tộc và xác lập nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết và không trì hoãn các chính sách nhằm loại trừ các hình thức phân biệt dựa trên chủng tộc, màu da, dòng dõi, dân tộc hoặc gốc người thiểu số.

Việt Nam tham gia Công ước CERD từ năm 1982 và từ đó đến nay, luôn là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đã và đang thực hiện nghiêm túc các nội dung của Công ước CERD; đồng thời thực hiện nhiều chủ trương, chính sách nhằm thể hiện sự tôn trọng, bảo đảm, thúc đẩy quyền của đồng bào dân tộc thiểu số.

Ông Y Thông - Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc khẳng định, tham gia Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, Việt Nam có cơ hội giúp bạn bè quốc tế có cái nhìn đúng đắn, những đánh giá, nhận định khách quan về chủ trương, đường lối công tác dân tộc và những thành tựu đạt được trong thực hiện chính sách dân tộc, đồng thời đón nhận những tri thức quốc tế để xem xét vận dụng vào quá trình hoạch định chính sách dân tộc phù hợp với thực tiễn của đất nước.

Song, tham gia Công ước cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ phù hợp với cơ chế Công ước như: Nội luật hoá các quy định, nguyên tắc về quyền của người dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, truyền thống lịch sử, văn hoá; đảm bảo tiến bộ thực sự về nhân quyền cho mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt chủng tộc, dân tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, chính kiến, nguồn gốc xuất thân…; định kỳ thực hiện Báo cáo quốc gia về tình hình thực hiện Công ước; thực hiện các khuyến nghị, trả lời kháng thư về quyền con người; triển khai các hoạt động giáo dục, thông tin về quyền con người và một số thủ tục khác theo yêu cầu của Uỷ ban Công ước CERD.

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, vấn đề đảm bảo quyền con người của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam luôn không tách rời các hoạt động giám sát của các cơ quan của Liên hợp quốc, của các cơ quan điều ước quốc tế về quyền con người.

Tham gia Công ước CERD, Việt Nam chấp nhận sự giám sát quốc tế về quyền của người dân tộc thiểu số thông qua các hình thức: Xem xét báo cáo quốc gia theo cơ chế đánh giá định kỳ; Thực hiện các thủ tục đặc biệt nhằm điều tra, đánh giá các vấn đề, tình huống về quyền con người cụ thể; Đưa ra các bình luận, khuyến nghị đối với Việt Nam liên quan trực tiếp đến các quyền của người dân tộc thiểu số…

Ngoài cơ chế giám sát của các cơ quan của Liên hợp quốc, của các cơ quan điều ước quốc tế về quyền con người, ở cấp độ song phương, Việt Nam hiện có cơ chế Đối thoại nhân quyền chính thức với 5 đối tác là: Mỹ, EU, Thuỵ Sĩ, Na Uy và Australia. Việt Nam cũng có nhiều kênh trao đổi không chính thức về các vấn đề quyền con người, tham gia nhiều diễn đàn liên quan đến các khía cạnh khác nhau của quyền con người.

Ở đây, cũng cần nói thêm rằng trong lĩnh vực nhân quyền “vẫn đang diễn ra cuộc đấu tranh giữa lực lượng tiến bộ nhằm phát huy những giá trị cốt lõi thuộc về con người với các thế lực lợi dụng nhân quyền để thực hiện ý đồ chính trị”.

Nhìn chung, trong các hoạt động hợp tác song phương cũng như tại các diễn đàn đa phương về quyền con người, Việt Nam luôn tích cực, chủ động và có những đóng góp thiết thực nhằm thúc đẩy nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực quyền con người trên tinh thần đối thoại, tăng cường hiểu biết lẫn nhau.

Đấu tranh trên lĩnh vực nhân quyền nói chung, quyền của người dân tộc thiểu số nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là khi một số lực lượng chính trị, xã hội quốc tế sử dụng nhân quyền như một công cụ để thực hiện các cuộc “cách mạng màu” nhằm lật đổ các chế độ xã hội mà họ coi là “không phù hợp” với quan điểm của họ, với các giá trị nhân quyền phổ biến thì cuộc đấu tranh trên lĩnh vực này đã mang những nội dung và tính chất mới đối với nhiều quốc gia - dân tộc nhằm bảo vệ nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của các thành viên Liên hợp quốc.

Đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người ở Việt Nam có nhiệm vụ quan trọng là bảo vệ các quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền con người, bảo vệ các thành quả về quyền con người mà nhân dân Việt Nam nói chung, cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam nói riêng đã đạt được trong hơn 9 thập niên qua; đồng thời kiên quyết chống lại các luận điệu sai trái, xuyên tạc, vu cáo của một số thế lực thù địch nhằm lợi dụng vấn đề dân tộc để kích động, chia rẽ, tạo sự bất ổn về chính trị, xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, làm suy giảm lòng tin của đồng bào vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước…

Thực hiện Công ước CERD, Chính phủ Việt Nam đã giao Uỷ ban Dân tộc chủ trì phối hợp với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành liên quan xây dựng báo cáo quốc gia và tổ chức bảo vệ tại Ủy ban Công ước CERD, hướng tới mục tiêu đóng góp vào việc ngăn chặn và chống lại sự phân biệt chủng tộc.

Việt Nam đã 4 lần bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia thực thi Công ước CERD vào các năm 1983, 1993, 2000 và 2012. Tại khóa họp lần thứ 111 (ngày 29, 30/11/2023), Việt Nam trình bày báo cáo quốc gia định kỳ từ lần thứ 5 theo hướng dẫn của Ủy ban Công ước CERD.

Báo cáo tập trung thể hiện kết quả Việt Nam thực thi Công ước CERD từ năm 2013 - 2019, cụ thể là các nội dung: Hệ thống pháp luật Việt Nam và các thiết chế bảo đảm, thúc đẩy quyền của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam; Định nghĩa phân biệt chủng tộc và đánh giá sự phù hợp của định nghĩa phân biệt chủng tộc trong các điều luật của Việt Nam; Vai trò quan trọng của công tác dân tộc và thực hiện các chính sách dân tộc trong việc xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Kết quả thực hiện các cam kết cấm và xoá bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam; Các biện pháp đảm bảo cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam không phải chịu bất cứ hành động phân biệt chủng tộc nào.

Ngoài việc bảo vệ báo cáo quốc gia trước Uỷ ban Công ước CERD, Việt Nam còn tham gia tích cực các phiên đối thoại với các Ủy ban Công ước CERD và nghiêm túc xem xét các khuyến nghị, nghiên cứu, xây dựng kế hoạch triển khai tăng cường thực thi các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên./.

Sưu tầm

Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc

Từ chủ trương, đường lối đến hiện thực cuộc sống đều là những luận cứ đanh thép, thuyết phục, có ý nghĩa then chốt trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc; bác bỏ những luận điệu sai trái, vu cáo, xuyên tạc của các thế lực thù địch hòng phủ nhận thành tựu bảo đảm quyền cho người dân tộc thiểu số và lợi dụng vấn đề dân tộc để kích động, chia rẽ, tạo sự bất ổn về chính trị ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta.

Sinh thời, trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ miền núi, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Chính sách của Đảng và Chính phủ ta đối với miền núi là rất đúng đắn. Trong chính sách đó có hai điều quan trọng nhất là: Đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào”.

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, với 53 dân tộc thiểu số. Kể từ ngày thành lập, 94 năm qua (1930 - 2024), Đảng ta luôn vận dụng sáng tạo, hiệu quả chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh cùng sự phát triển, không ngừng tự hoàn thiện nhận thức, lý luận về vấn đề dân tộc và giải quyết quan hệ dân tộc phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước và yêu cầu nhiệm vụ đặt ra cho từng thời kỳ.

Ngay từ Đại hội Đảng lần thứ I (tháng 3/1935), Đảng đã đề ra Nghị quyết về công tác trong các dân tộc thiểu số. Nghị quyết có đoạn nêu rõ: “Đảng Đại hội xét rằng lực lượng tranh đấu của các dân tộc thiểu số là một lực lượng rất lớn”… và “sự miệt thị công tác trong các dân tộc thiểu số là một lầm lỗi chính trị rất to lớn”

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2/1951), Đảng chỉ rõ: “Các dân tộc trên đất nước Việt Nam được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết giúp đỡ nhau để kháng chiến và kiến quốc. Kiên quyết chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đánh đổ âm mưu gây chia rẽ dân tộc của đế quốc và bè lũ tay sai. Cải thiện đời sống đồng bào, giúp họ tiến bộ về mọi mặt, đảm bảo họ tham gia chính quyền và dùng tiếng mẹ đẻ trong giáo dục địa phương thiểu số”.

Tháng 8/1952, Bộ Chính trị có nghị quyết về “Chính sách dân tộc thiểu số của Đảng hiện nay”.

Ngày 22/6/1953, Chính phủ ban hành chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam, trong đó khẳng định đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ để kháng chiến, kiến quốc, giúp nhau tiến bộ về mọi mặt.

Đại hội IV (1976), Đảng chủ trương: “Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam… Chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ít người với dân tộc đông người; đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp; làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, văn minh, hạnh phúc, đoàn kết giúp nhau tiến bộ, cùng làm chủ tập thể Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Đại hội VI (1986) là Đại hội của đường lối Đổi mới đất nước, song với vấn đề dân tộc, Đảng ta kiên trì chủ trương: “Phát triển mối quan hệ tốt đẹp gắn bó giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng làm chủ tập thể, kết hợp phát triển kinh tế và phát triển xã hội”.

Qua các kỳ Đại hội VII đến XII, Đảng ta đều tiếp tục khẳng định lại và bổ sung, đổi mới trong việc đề ra chủ trương, đường lối để lãnh đạo về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc.

Như vậy, có thể thấy rất rõ, qua các thời kỳ khác nhau, với những nhiệm vụ cách mạng khác nhau nhưng quan điểm của Đảng ta về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, chính sách dân tộc luôn nhất quán quan điểm: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Thực hiện tốt chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, giúp nhau cùng phát triển”, Việt Nam không ủng hộ phân biệt đối xử giữa các dân tộc.

Sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trên cơ sở nhận định sâu sắc tình hình trong nước, thế giới cũng như tầm quan trọng của vấn đề dân tộc và giải quyết quan hệ dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 12/3/2003, tại Hội nghị lần thứ 7 khóa IX, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc trong tình hình mới. Trong Nghị quyết này, Ban Chấp hành Trung ương đề ra 5 quan điểm, đó là:

Thứ nhất, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.

Thứ hai, các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

Thứ ba, phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội; thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Thứ tư, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc thiểu số và miền núi; trước hết, tập trung phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.

Thứ năm, công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.

Riêng đối với Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc trong tình hình mới, Đảng ta đã 2 lần tiến hành tổng kết. Lần đầu vào năm 2009, sau đó, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 57-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW. Lần tổng kết thứ hai vào năm 2019, sau đó, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, trong đó Đảng đã đề ra chủ trương, đường lối cho công tác dân tộc giai đoạn 2021 - 2030 với rất nhiều điểm mới, mang tính đột phá.

Đến Đại hội XIII (2021), Đảng đã khẳng định chủ trương về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc cho giai đoạn 2021 - 2025, đó là: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc trên tất cả các lĩnh vực, nhất là các chính sách đặc thù giải quyết những khó khăn của đồng bào dân tộc thiểu số. Tạo sinh kế, việc làm, định canh, định cư vững chắc cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Tập trung triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Bảo vệ và phát triển dân số các dân tộc thiểu số có dưới 10.000 người, đặc biệt là những dân tộc thiểu số có nguy cơ suy giảm giống nòi”.

Không lâu sau Đại hội XIII, nhân kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2021) và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 (ngày 23/5/2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.

Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phân tích và nêu rõ: một trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là “các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển”…; “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam; không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo”.

Cùng với đó, trong bài viết “Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc, là cội nguồn sức mạnh để dân tộc ta mãi mãi trường tồn và phát triển, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là đường lối chiến lược, có ý nghĩa sống còn của cách mạng Việt Nam”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Nền tảng vững chắc của đại đoàn kết dân tộc là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; là mối quan hệ “máu thịt” giữa Đảng với nhân dân, là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta; là sự đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, giữa cộng đồng các dân tộc Việt Nam, giữa đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa những người theo các tôn giáo khác nhau; giữa người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài; là đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới”.

Như vậy, về mặt đối nội, hệ thống các quan điểm, đường lối vấn đề dân tộc của Đảng là mục tiêu, căn cứ, cơ sở chính trị để Nhà nước thể chế thành Hiến pháp, pháp luật và các chính sách dân tộc, huy động các tổ chức chính trị - xã hội cùng phối hợp thực hiện, tạo ra sức mạnh tổng thể của cả hệ thống chính trị cùng nhau xây dựng các mối quan hệ dân tộc tốt đẹp; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ổn định chính trị và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa mang đặc trưng của Việt Nam.

Sưu tầm