Thứ Hai, 4 tháng 3, 2024

Phát hành cuốn sách điện tử về bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

 Kịp thời thực hiện Hướng dẫn số 141-HD/BTGTW, ngày 05/02/2024 của Ban Tuyên giáo Trung ương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật vừa xuất bản cuốn sách điện tử “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng”, gồm toàn văn bài viết cùng tên của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Trang bìa cuốn sách điện tử “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Nhân dịp kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2024), đồng chí Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng có bài viết đặc biệt quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn: “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng”.

Bài viết ngay sau khi được công bố đã nhận được sự quan tâm, hưởng ứng sâu rộng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, khơi dậy niềm tự hào về truyền thống lịch sử vẻ vang của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, dân tộc Việt Nam anh hùng; củng cố niềm tin son sắt vào sự lãnh đạo của Đảng quang vinh, vào công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc.

Nhằm triển khai sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung bài viết quan trọng này, tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến các cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn hệ thống chính trị, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng”, gồm toàn văn bài viết của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trên trang https://sachquocgia.vn.

Ấn bản điện tử gồm 3 phần, tương ứng với 3 phần trong bài viết của đồng chí Tổng Bí thư: “Đảng ta ra đời, lãnh đạo đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng miền nam, thống nhất đất nước”; “Đảng lãnh đạo khắc phục hậu quả chiến tranh; tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế; xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”; “Phát huy hơn nữa truyền thống yêu nước và cách mạng vẻ vang, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2025 và năm 2030, xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng”.

Tài liệu kịp thời đáp ứng nhu cầu nghiên cứu của cán bộ, đảng viên, bạn đọc, phục vụ các tổ chức đảng, đoàn thể, cơ quan, đơn vị, các cấp ủy, chi bộ trong sinh hoạt và sinh hoạt chuyên đề./.

Tăng cường tìm hiểu Nghị quyết trung ương 8 khoá XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam

 Nhằm góp phần tuyên truyền, phổ biến những nội dung cốt lõi, những điểm mới trong các nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII tới cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Cuộc thi trực tuyến tìm hiểu Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII trên Trang Thông tin điện tử tổng hợp Báo cáo viên (baocaovien.vn) như sau:

TÊN GỌI, PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG DỰ THI

1. Tên gọi

Cuộc thi trực tuyến tìm hiểu Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII.

2. Phạm vi

Cuộc thi được tổ chức và phát động trên môi trường internet, không giới hạn về phạm vi địa lý.

3. Đối tượng dự thi (1)

- Báo cáo viên các cấp và đội ngũ tuyên truyền viên nòng cốt ở cơ sở.

- Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động; chiến sĩ các lực lượng vũ trang; đoàn viên, hội viên các đoàn thể chính trị - xã hội; các tầng lớp nhân dân ở trong và ngoài nước.

NỘI DUNG, HÌNH THỨC, THỜI GIAN THI

1. Nội dung thi

- Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

- Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

- Nghị quyết số 44-NQ/TW, ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

- Nghị quyết số 45-NQ/TW, ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

2. Hình thức thi

- Cuộc thi được tổ chức theo hình thức trắc nghiệm, trực tuyến trên Trang Thông tin điện tử tổng hợp Báo cáo viên của Ban Tuyên giáo Trung ương tại địa chỉ https://baocaovien.vn và các báo, tạp chí, trang thông tin điện tử có link liên kết Cuộc thi.

- Mỗi tuần thi có 01 bộ câu hỏi (gồm 11 câu), trong đó có 10 câu trắc nghiệm liên quan đến nội dung thi được lựa chọn ngẫu nhiên từ bộ đề của Ban Tổ chức và 01 câu dự đoán số lượt người trả lời đúng tất cả các câu trắc nghiệm. Mỗi lượt thi trực tuyến kéo dài tối đa 10 phút. Bài dự thi chỉ được coi là hợp lệ khi người dự thi trả lời đủ 11 câu hỏi.

- Kết thúc mỗi tuần thi, Ban Tổ chức Cuộc thi sẽ công bố kết quả các cá nhân đạt giải trên Trang Thông tin điện tử tổng hợp Báo cáo viên (baocaovien.vn) và một số báo, tạp chí điện tử, trang thông tin điện tử.

- Người dự thi được tham gia thi tối đa 07 lượt thi trong mỗi tuần thi.

3. Thời gian thi

Cuộc thi được tổ chức từ ngày 26/02/2024 đến hết ngày 17/3/2024, gồm 03 tuần thi:

  • - Tuần thi thứ nhất: Từ ngày 26/02/2024 đến hết ngày 03/3/2024, theo múi giờ Việt Nam (GMT+7).
  • - Tuần thi thứ hai: Từ ngày 04/3/2024 đến hết ngày 10/3/2024, theo múi giờ Việt Nam (GMT+7).
  • - Tuần thi thứ ba: Từ ngày 11/3/2024 đến hết ngày 17/3/2024, theo múi giờ Việt Nam (GMT+7).

CÁCH THỨC DỰ THI, CÁCH TÍNH ĐIỂM CUỘC THI

1. Cách thức dự thi

- Người dự thi sử dụng các thiết bị điện tử có kết nối Internet để tham gia Cuộc thi, truy cập địa chỉ của Cuộc thi trên Trang Thông tin điện tử tổng hợp Báo cáo viên (baocaovien.vn) hoặc các báo, tạp chí điện tử, trang thông tin điện tử có link liên kết Cuộc thi.

- Người dự thi cung cấp đầy đủ, đảm bảo chính xác thông tin cá nhân trước khi vào thi theo yêu cầu.

- Người dự thi không được thay đổi thông tin khai báo trong các lượt thi, thông tin này sẽ là căn cứ để Ban Tổ chức Cuộc thi xác minh và trao giải.

- Tại Trang chủ của Cuộc thi, người dự thi thực hiện các bước sau để tham gia dự thi:

Bước 1 : Nhập các thông tin cá nhân: Số chứng minh nhân dân/căn cước công dân; Họ và tên (ký tự có dấu); số điện thoại liên hệ; địa phương, đơn vị; chuyên môn công tác. Các thông tin bắt buộc này là thông tin không thay đổi và được sử dụng trong suốt quá trình tham gia thi.

Bước 2 : Người dự thi bấm nút “Vào thi” để vào phần trả lời các câu hỏi. Người dự thi trả lời các câu hỏi bằng cách chọn 01 phương án đúng nhất (đối với các câu hỏi trắc nghiệm) hoặc điền từ thích hợp (đối với các câu hỏi dạng điền từ).

Bước 3 : Sau khi trả lời các câu hỏi trắc nghiệm, người dự thi phải dự đoán tổng số lượt người thi trả lời chính xác 10 câu hỏi trước; nhấp chuột vào phần “Nộp bài” để kết thúc phần trả lời.

Thời gian tối đa mỗi lượt thi là 10 phút (thời gian được tính kể từ thời điểm người dự thi bắt đầu vào thi đến thời điểm bấm nút nộp bài thi).

2. Cách thức xét giải thưởng Cuộc thi để trao giải

- Mỗi tuần thi, người dự thi được tham gia tối đa 07 lượt thi. Ban Tổ chức Cuộc thi sẽ lấy kết quả thi cao nhất trong các lần thi của người dự thi để xét giải thưởng.

- Các tiêu chí xét giải thưởng:

  • + Người trả lời đúng tất cả 10 câu hỏi trắc nghiệm tại mỗi lượt dự thi của tuần thi.
  • + Người dự đoán đúng hoặc gần đúng nhất số lượt người dự thi trả lời đúng 10 câu hỏi trắc nghiệm (tại tuần thi đó).
  • + Người có thời gian hoàn thành bài thi ít nhất tại lượt thi được xét.

GIẢI THƯỞNG

Mỗi tuần thi có các giải thưởng bao gồm:

  • - 01 Giải Nhất: 3.000.000 đồng/giải (Ba triệu đồng/giải);
  • - 02 Giải Nhì: 2.000.000 đồng/giải (Hai triệu đồng/giải);
  • - 03 Giải Ba: 1.000.000 đồng/giải (Một triệu đồng/giải);
  • - 5 Giải Khuyến khích: 500.000 đồng/giải (Năm trăm nghìn đồng/giải).

Căn cứ kết quả Cuộc thi và nguồn kinh phí từ công tác xã hội hóa (nếu có), Ban Tổ chức Cuộc thi xem xét, quyết định điều chỉnh cơ cấu giải thưởng, mức giải thưởng, quà tặng cho phù hợp.

Cá nhân đạt giải thưởng Cuộc thi được nhận tiền thưởng và quà tặng của Ban Tổ chức Cuộc thi.

Tiền thưởng được trao trực tiếp tại Trung tâm Thông tin công tác tuyên giáo, Ban Tuyên giáo Trung ương, số 2B, Hoàng Văn Thụ, Ba Đình, Hà Nội; hoặc chuyển tới số tài khoản ngân hàng của người đạt giải (theo thông tin cá nhân người đạt giải cung cấp).

Trong thời gian 14 ngày kể từ ngày công bố kết quả Cuộc thi trên Trang Thông tin điện tử tổng hợp Báo cáo viên, cá nhân đạt giải không cung cấp và xác nhận thông tin cá nhân với đại diện Ban Tổ chức Cuộc thi hoặc từ chối nhận giải, Ban Tổ chức Cuộc thi sẽ chuyển giá trị giải thưởng vào ngân sách Nhà nước theo quy định.

QUY ĐỊNH CẤM, KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI

1. Các hành vi bị cấm:

- Nhờ người khác thi hộ;

- Sử dụng thông tin cá nhân không chính xác so với thực tế để tham gia dự thi; sử dụng nhiều loại giấy tờ cá nhân để tham gia thi (số chứng minh nhân dân, số thẻ căn cước công dân, số định danh cá nhân, số hộ chiếu).

- Cung cấp thông tin cá nhân để người khác sử dụng tham gia dự thi;

- Dùng các biện pháp kỹ thuật can thiệp vào hệ thống làm ảnh hưởng hoặc sai lệch kết quả bài thi;

Ban Tổ chức Cuộc thi sẽ không công nhận và huỷ kết quả thi của người dự thi nếu phát hiện người dự thi có một trong các hành vi vi phạm trên.

2. Trường hợp có khiếu nại liên quan đến kết quả Cuộc thi, người khiếu nại liên lạc với Thường trực Cuộc thi hoặc gửi văn bản đến Ban Tổ chức Cuộc thi xem xét, giải quyết trong thời gian 14 ngày kể từ ngày công bố kết quả Cuộc thi trên Trang Thông tin điện tử tổng hợp Báo cáo viên.

3. Việc chọn bài thi đạt giải và giải quyết những vấn đề phát sinh do Ban Tổ chức Cuộc thi quyết định.

THÔNG TIN LIÊN HỆ

1. Tra cứu, tìm hiểu thông tin, thể lệ, hướng dẫn, giải đáp, cập nhật hoạt động của Cuộc thi tại địa chỉ website: https://baocaovien.vn, các báo, tạp chí điện tử, trang thông tin điện tử có link liên kết Cuộc thi.

2. Thường trực Cuộc thi

Trung tâm Thông tin công tác tuyên giáo, Ban Tuyên giáo Trung ương: Số 2B, Hoàng Văn Thụ, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 080.44348. Email: phongbaocaovientw@gmail.com.

- Hỗ trợ về kỹ thuật: Trung tâm Kỹ thuật Thông tấn, Thông tấn xã Việt Nam. Điện thoại: 0243.9333263.

Nội dung cơ bản và cơ chế giám sát của luật quốc tế về việc bảo vệ quyền con người

Luật quốc tế về nhân quyền là một ngành của luật quốc tế bao gồm tổng thể các nguyên tắc và các quy phạm, luật quốc tế củng cố các quyền và tự do của con người, xác định các tiêu chí dân chủ trong thế giới hiện đại.

Bảo vệ quyền con người là một trong các mục đích của Liên hợp quốc. Hiến chương Liên hợp quốc đặt ra nghĩa vụ của các quốc gia khuyến khích và phát triển sự tôn trọng các quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo (khoản 3, Điều l).

Để thực hiện mục đích trên, dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc một loạt các văn bản chính trị pháp lý quốc tế đã được thông qua như: Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 đã liệt kê và xác định nội dung các quyền cơ bản của con người, hai công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá đã được thông qua năm 1966; một loạt các điều ước quốc tế về các lĩnh vực khác nhau của quyền con người, trong đó có các điều ước quốc tế về bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em.

Trong luật quốc tế về quyền con người có hai loại nguyên tắc: trên cơ sở loại nguyên tắc thứ nhất, các quy phạm luật quốc tế có giá trị bắt buộc với tất cả các quốc gia và trong quan hệ với tất cả dân cư của mình; trên cơ sở loại nguyên tắc thứ hai, sẽ bị coi là bất hợp pháp đối với sự phân biệt vì bất cứ nguyên cớ gì.

Ngày nay, quyền con người quan trọng nhất trong luật quốc tế là quyền được sống trong hoà bình. Việc đẩy đất nước vào các cuộc xung đột quốc tế và nội chiến là sự vi phạm quyền sống trong hoà bình của con người.

Các quyền cơ bản của con người, trước hết, là các quyền dân sự và chính trị. Các quyền đó được ghi nhận trong Công ước về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc năm 1966. Ví dụ, các quyền đó bao gồm một số quyền như: quyền được đối xử bình đẳng, không phân biệt; quyền được tham gia quản lý các công việc của đất nước; quyền bất khả xâm phạm về thân thể và phẩm giá; quyền được tự do đi lại cư trú và ra nước ngoài; quyền tự do tư tưởng, ngôn luận, tôn giáo; quyền hội họp và lập hội... Các quyền này chỉ có thể bị hạn chế do luật định với điều kiện sự hạn chế đó là cần thiết để đảm bảo an ninh, trật tự công cộng, sức khoẻ và đạo đức xã hội, hoặc các quyền và tự do của người khác. Vì vậy, một quốc gia áp đụng các biện pháp trấn áp những người tiến hành các hoạt động: tuyên truyền chủ nghĩa ly khai, chia rẽ sự đoàn kết dân tộc; giả danh truyền đạo để gây mất ổn định xã hội; chống chủ nghĩa khủng bố; dụ dỗ, mua chuộc, lừa đảo, doạ nạt để đưa người vượt biên trái phép với âm mưu gây ra cái gọi là "tị nạn chính trị" là những việc làm cần thiết phù hợp với các cam kết quốc tế về việc bảo vệ quyền con người. Những người có các hoạt động kể trên và những ai tiếp tay, ủng hộ họ (vô tình hoặc hữu ý) cần phải bị coi là những người vi phạm các quyền cơ bản của con người (vi phạm quyền quan trọng nhất của con người trong thời đại hiện nay - như đã nêu ở trên - quyền sống trong hoà bình và ổn định). Các quyền dân sự và chính trị của con người phải được các quốc gia thực hiện không chậm trễ. Các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá của con người cần được thực hiện trong các điều kiện xác định. Các điều kiện này ở các quốc gia không giống nhau.

Trong việc bảo vệ quyền con người ở các quốc gia, sự giám sát quốc tế về việc tuân thủ quyền con người đóng một vai trò quan trọng.

Hệ thống giám sát quốc tế về sự tuân thủ quyền con người rất phức tạp. Sự giám sát này do Liên hợp quốc tiến hành thông qua trước hết là Đại hội đồng, Hội đồng kinh tế - xã hội, Uỷ ban về quyền con người, Uỷ ban về quyền phụ nữ. Năm 1983, Đại hội đồng Liên hợp quốc bổ nhiệm chức thanh tra tối cao về quyền con người. Viên thanh tra này đại diện cho Liên hợp quốc trình bày các báo cáo hàng năm về tình hình quyền con người ở một số quốc gia nói riêng và trên toàn thế giới nói chung. Ngoài ra, quyền con người còn được nhiều tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc quan tâm (đặc biệt là Tổ chức Văn hoá và Giáo dục của Liên hợp quốc - UNESCO).

Trong khuôn khổ các công ước quốc tế về quyền con người, một số ủy ban giám sát sự tuân thủ các công ước đó được thành lập. Ví dụ, trên cơ sở Công ước về các quyền dân sự và chính trị, Uỷ ban giám sát thực thi Công ước được thành lập bao gồm 18 người hoạt động với tư cách cá nhân. Các quốc gia thành viên phải có nghĩa vụ báo cáo với các ủy ban về tình hình hảo vệ quyền con người ở các quốc gia đó và ủy ban, sau đó, thông báo lại cho các quốc gia thành viên về nhận xét của mình đối với báo cáo trên.

Như vậy, Liên hợp quốc có cơ chế giám sát và đáng tin cậy của mình đối với việc tuân thủ các cam kết quốc tế về nhân quyền của các quốc gia thành viên. Việc tố cáo các quốc gia có các hành vi vi phạm quyền con người không dựa trên cơ sở của cơ chế giám sát đó là không có cơ sở về mặt pháp lý quốc tế. Việc làm trên của quốc gia hoặc tổ chức nào đó có thể bị quốc gia trên coi là hành vi thiếu thân thiện.

Về phương điện pháp lý, để xác định trách nhiệm pháp lý quốc tế của một quốc gia trong lĩnh vực quyền con người, cần phải làm sáng tỏ vấn đề sau: việc bảo vệ quyền con người thuộc diện điều chỉnh của luật quốc tế hay luật quốc gia(?). Để làm sáng tỏ vấn đề này trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người, cần phải xác định rõ xem các quy định xem xét có phải là các cam kết quốc tế trong lĩnh vực trên không (?). Nếu đã là các cam kết quốc tế của quốc gia rồi thì không còn là vấn đề nội bộ của quốc gia nữa. Song, nếu vấn đề không phải thuộc phạm vi cam kết quốc tế thì có nghĩa là thuộc lĩnh vực hành động tự do của quốc gia, hay nói một cách khác, thuộc chủ quyền quốc gia.

Lịch sử cuộc đấu tranh bảo vệ quyền con người

Lịch sử cuộc đấu tranh bảo vệ quyền con người trên thế giới được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất từ thời kỳ cách mạng tư sản ở phương Tây (thế kỷ 18) tới năm 1960 (thời điểm Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết về trao trả độc lập cho các dân tộc thuộc địa), giai đoạn thứ hai từ 1960 tới những năm 1980, giai đoạn thứ ba từ những năm 1980 trở đi.

Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn đấu tranh nhằm xoá bỏ các tàn tích của chế độ người áp bức người mà sự thể hiện rõ nét nhất của nó là sự áp bức của dân tộc này đối với dân tộc khác Cách mạng tư sản ở phương Tây vào thế kỷ XVIII đã giương cao ngọn cờ đấu tranh vì sự bình đẳng của con người và dân tộc. Thế nhưng các chính phủ tư sản được thành lập sau đó lại thực hiện chính sách nô địch các dân tộc ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh. Nhờ có cuộc đấu tranh kiên trì của các dân tộc thuộc địa (trong đó có công lao to lớn của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam) và các lực lượng dân chủ tiến bộ trên thế giới, các quốc gia thực dân đã buộc phải trao trả độc lập cho các dân tộc thuộc địa. Kết quả về mặt pháp lý chính trị của cuộc đấu tranh trên được thể hiện trong Nghị quyết của Liên hợp quốc về trao trả độc lập cho các dân tộc thuộc địa năm 1960.

Giai đoạn hai là giai đoạn đấu tranh vì các quyền và tự do cơ bản của con người. Trong cuộc đấu tranh này, Liên hợp quốc đóng một vai trò quan trọng. Kết quả của cuộc đấu tranh này là sự ra đời một loạt các công ước quốc tế về quyền con người. Trong số các công ước đó có hai công ước quan trọng nhất là Công ước về các quyền dân sự và chính trị và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966 (Việt Nam đã gia nhập hai công ước này vào năm 1982). Hai công ước này được coi là hai bộ luật của cộng đồng trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người.

          Giai đoạn thứ ba là giai đoạn đấu tranh nhằm nâng cao hơn nữa các quyền và tự do cơ bản của con người: quyền sống trong hoà bình, quyền được thông tin, quyền sống trong môi trường trong lành, quyền được phát triển…

Một số phương thức, thủ đoạn chủ yếu của hoạt động chiến tranh tâm lý chia rẽ Đảng với nhân dân.

- Mũi tiến công của chúng là tập trung hướng vào nội bộ ta, tìm mọi hình thức tinh vi và trắng trợn, công khai hoặc bí mật, ráo riết làm cho nội bộ không ổn đính, luôn luôn gieo rắc ngờ vực, nghi kỵ, giảm sút lòng tin hòng gây chia rẽ, lục đục nội bộ. Ví dụ các chiến dịch tung tin thường tập trung vào các kỳ Đại hội Đảng, kỳ bầu cử Quốc hội nhằm mục đích kích động, chia rẽ nội bộ. Gần đây đã xuất hiện những luận điệu hết sức thâm độc, nguy hiểm như: "Phe thân Mỹ sẽ thắng và phe thân Trung Quốc sẽ thua để Việt Nam cố gắng đạt đến mục tiêu là được gia nhập WTO vào năm 2005".

- Sử dụng phương pháp tuyên truyền chủ yếu của giai cấp tư sản là "vu khống và phao tin đồn nhảm" để đánh lộn sòng giữa phải, trái, trắng, đen, chính nghĩa và phí nghĩa, cách mạng và phản cách mạng, mác-xít chân chính và giả danh mác-xít... Lê nin đã gọi bản chất của tuyên truyền tư sản là "lừa bịp và giả dối" khi Người phê phán kiểu tuyên truyền này: "Cứ nói dối, cứ làm ầm ĩ lên, cứ hét lên, cứ lặp lại những điều dối trá đi... thể nào cũng còn lại một cái gì đó". Do vậy, để tiến hành thủ đoạn này có hiệu quả, các thế lực thù địch rất chú trọng đến hoạt động phao tin theo lối "tuyên truyền rỉ tai". Ét-uốt Lênxđên - chuyên gia chiến tranh tâm lý trong cuộc chiến tranh Việt Nam - đã tự soạn một chương trình huấn luyện phương pháp tiến hành chiến tranh tâm lý cho quân ngụy học tập đã từng thừa nhận "chức danh phao tin đồn nhảm" được công nhận như một chức danh chính thức trong quân đội Mỹ.

- Để tiến hành chiến tranh tâm lý chống phá nước ta, các thế lực thù địch dùng nhiều công cụ, phương tiện, hình thức tuyên truyền từ bên ngoài tác động vào bên trong. Theo A25, Tổng cục An ninh, hiện nay ở bên ngoài có 52 đài phát thanh và truyền hình có chương trình Việt ngữ, mạng Internet, 429 tờ báo, tạp chí, trên 40 nhà xuất bản bên ngoài tập trung tuyên truyền chống phá ta. Ví dụ, gần đây các đài RFA, VOA, BBC... liên tục phát những tài liệu, các cuộc phỏng vấn những phần tử người Việt lưu vong ở ngoài nước như Bùi Tín, Vũ Thư Hiên... để cắt xén, thổi phồng, xuyên tạc một số tài liệu ở trong nước đưa lên mạng đang phát tán rộng rãi trong xã hội ta nhằm gây khó khăn cho sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng, đồng thuận trong xã hội trước thời điểm Đại hội X.

- Về luận điệu chúng tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:

+ Phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin với luận điệu xuyên tạc trắng trợn như: "Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế mà còn cả về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin nữa, ngay cả Bộ Chính trị..."

+ Phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh. Gần đây chúng tung ra khẩu hiệu "No Ho" (tức là "không Hồ Chí Minh". Thâm độc hơn, vừa qua chúng tung ra luận điệu tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với học thuyết Mác - Lênin tưởng là đề cao Bác nhưng thực chất là nhằm cô lập, suy yếu và tiến tới phủ định chính ngay tư tưởng Hồ Chí Minh.

+ Phủ định từng nguyên lý: về hình thái kinh tế - xã hội; về học thuyết giá trị thặng dư; về sứ mạng lịch sử của giai cấp công nhân.

+ Phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội khi đưa ra luận điệu "không nên cứ tôn thờ chủ nghĩa xã hội một cách lý thuyết suông mà không hòa nhập với thời đại, đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Tự giác thì sẽ đi đến đích nhanh hơn, không tự giác thì tất yếu cũng phải đi theo con đường đó, nhưng đến đích đau đớn hơn, chậm chạp hơn".

+ Phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và bôi nhọ, xuyên tạc lãnh đạo cao cấp qua các thời kỳ.

+ Phủ định đường lối, chính sách của Đảng và đất nước khi chúng cho rằng: kinh tế thị trường từng bước làm thay đổi bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa còn non trẻ, ốm yếu ở Việt Nam. Nếu Mỹ chờ đợi thêm ít lâu nữa thì tới một ngày Chính phủ Việt Nam về bản chất chỉ còn là cộng sản trên danh nghĩa".

+ Xuyên tạc vu cáo lịch sử, đòi lật án. Chúng đề nghị đánh giá lại nhà Nguyễn và xem lại các nhân vật như: Phan Thanh Giản gắn với Vĩnh Long, Trương Vĩnh Ký gắn với trí thức Nam Bộ; xem xét sự việc, vấn đề tiềm ẩn như: Thánh địa Mỹ Sơn, Thánh địa La Vang; họ chủ trương đề cao văn hóa Ốc Eo, Sa Huỳnh hơn văn hóa Dông Sơn; thời gian qua còn hiện tượng dùng tâm linh, ngoại cảm, đề cao việc gọi hồn, đòi lật án" vụ cải cách ruộng đất", vụ "nhân văn giai phẩm", vụ "đầu độc" bốn vị tướng. Còn vụ án "Nhóm xét lại chống Đảng" thì chúng cổ tình xuyên tạc: "Đây là một điểm đen, một vết thương dai dẳng trong lịch sử và cơ thể chúng ta. Vụ án này chỉ là mưu đồ của một người nhiều quyền lực, nhiều tham vọng"…

- Các thế lực thù địch đang có những chiến dịch thổi phồng những khó khăn phức tạp trong xã hội; xuyên tạc tình hình đất nước, lợi dụng các hiện tượng tiêu cực diễn ra trong xã hội, nhất là tình trạng tham nhũng, quan liêu, sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để kích động tâm lý bất bình, bất mãn, lôi kéo nhân dân vào các hoạt động chống đối Đảng và Nhà nước. Ví dụ, các đối tượng cơ hội chính trị đang tìm cách cho ra đời "Hội nhân dân Việt Nam chống tham nhũng" mà về thực chất là một đảng chính trị đối lập!

- Một phương thức tác động nữa là dùng hàng hóa vật chất để tác động tư tưởng, tâm lý, gây ảnh hưởng nhằm chia rẽ nhân dân với Đảng. Thời gian qua, Mỹ và các nước phương Tây triệt để lợi dụng nhiều tổ chức NGO (hiện nay Mỹ có 157, EU 161 , các nước châu Á - Thái Bình Dương có 156 tổ chức) để tiến hành nhiều hoạt động chiến tranh tâm lý chống phá ta như:

+ Lợi dụng diễn đàn phi chính phủ để tuyên truyền các quan điểm, tư tưởng thù địch với Đảng và Nhà nước ta.

+ Tài trợ một số dự án rất quan trọng như: cải cách hành chính, xây dựng luật, chống tham nhũng... để tác động sâu vào nội bộ la về mặt kiến trúc thượng tầng.

+ Lợi dụng việc triển khai dự án ở vùng sâu, vùng xa để xâm nhập vào các địa bàn xây đựng các cơ sở ngầm chống phá ta.

+ Móc nối với số phần tử thoái hóa, bất mãn trong nội bộ, nhất là số trí thức văn nghệ sĩ có tư tưởng cực đoan, quá khích nhằm hình thành các phe, nhóm đối lập ở Việt Nam. Tiêu biểu cho hoạt động này là tổ chức IDV của Đoàn Văn Toại (Việt kiều Mỹ) dành những khoản ngân sách tài trợ cho "các nhóm bất đồng chính kiến" (dự án 92-02-0) với mục đích là tìm chọn, tạo dựng trong số này những "ngọn cờ chính trị đối lập" ở Việt Nam.

Một điểm nữa là trong khi tiến hành chiến tranh tâm lý, các thế lực thù địch luôn chú ý đến đặc điểm tâm lý, trình độ chính trị, kinh nghiệm xã hội của từng loại đối tượng để có những hình thức và biện pháp riêng. Ví dụ:

+ Đối với giai cấp công nhân, một mặt chúng dùng những triết lý phản động để phủ nhận sứ mạng lịch sử của giai cấp công nhân hiện đại, ra sức chia rẽ hàng ngũ giai cấp công nhân bằng các tư tưởng cơ hội; mặt khác, chúng đưa ra luận điệu nhiều giai cấp lãnh đạo xã hội mới tránh được độc tài hoặc trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão thì quyền lãnh đạo phải chuyển vào tay trí thức.

+ Đối với trí thức: Chúng đưa ra một loạt chủ nghĩa, học thuyết tư sản, giải thích một cách xuyên tạc các phạm trù "tài năng", "tự do", "nhân quyền", tô vẽ, thổi phồng những "nhân tài" bị bạc đãi để kích động chống Đảng và Nhà nước.

+ Đối với thanh niên, thiếu niên, chúng cho rằng, lứa tuổi này cô tâm lý thích tự do, ham chuộng mới lạ nên reo rắc vào đầu óc lớp người này lối sông thực đụng phương Tây, sùng bái vật chất, đồng tiền, sống theo những thị hiếu của giai cấp tư sản hiện đại. Dùng "âm nhạc Mỹ, lối sống Mỹ" để lái thanh thiếu niên vào khuynh hướng sùng ngoại, làm suy giảm lòng tin của họ đối với chế độ xã hội chủ nghĩa.

Những thủ đoạn tâm lý tác động trực tiếp vào lý trí trong cuộc chiến tranh thông tin

Đây là thủ đoạn tác động vào ý thức và chính kiến của con người, hướng vào lý trí của họ bằng việc sử đụng những lý giải, được cho là rất "lôgíc” và hợp lý": Sau thất bại của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, các chuyên gia chống cộng khét tiếng viết rất nhiều sách ca ngợi sự thành đạt của "thế giới tự do", của "phong trào dân chủ”, và tuyên bố "sự ra đi của chủ nghĩa xã hội”. Trong cuốn sách Thật bại lớn, sự ra đi và cái chết của chủ nghĩa cộng sản ở thế kỷ XX (1988), Brêdinxki, đã "phân tích" nguồn gốc thất bại và tan rã của chủ nghĩa xã hội là ở chủ nghĩa Mác-Lênin. Theo ông ta, "những chính sách Mác-Lênin bắt nguồn từ một nhận thức sai về lịch sử và về bản chất con người", "chủ nghĩa Mác-Lênin đã không thấy trước và không hiểu những lực lượng cơ bản trong các vấn đề quốc tế ở thế kỷ XX, đã đánh giá thấp vai trò các dân tộc và chủ nghĩa dân tộc...".

Đối với Việt Nam, các thế lực thù địch cố gắng "phân tích" để bác bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vì cho là không phù hợp với thực tiễn cách mạng thế giới và nước ta. Chúng tìm mọi cách "chứng minh" rằng thực hiện chủ nghĩa Mác - Lênin ở đâu, ở lĩnh vực nào, thì nơi đó kinh tế kém phát triển, dân chủ bị bóp nghẹt, con người mất tự do. Tìm cách phủ nhận lịch sử đấu tranh của nhân dân ta do Đảng lãnh đạo, xuyên tạc láo xược một số khẩu hiệu cách mạng trong các cuộc kháng chiến, kể cả "Không có gì quí hơn độc lập tự do" của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Họ lập luận rằng, bước sang thế kỷ XXI mà còn nói "lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng" là tư duy cũ giáo điều, xơ cứng. Đã đến lúc phải xét lại cả những nguyên lý cơ bản có tính chất thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, những nguyên lý về giai cấp, lý luận hình thái kinh tế - xã hội, phải xét lại cả hệ thống, chứ không chỉ bỏ những khái niệm riêng lẻ.

Họ "phân tích", hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam thực tế đã từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng "vì sĩ diện" cho nên trên lời nói và trong văn bản chính thức Đảng cứ phải nói kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin (!):

- Cho rằng, Đảng ta đã từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin; rằng sự nghiệp đổi mới của chúng ta là "đầu Ngô mình Sở” , " không chính danh" (!).

- "Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế mà còn cả về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin nữa, ngay cả Bộ Chính trị".

Như vậy, các thế lực thù dịch muốn tạo ra những khoảng trống trong nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tách Đảng ta rời xa nền tảng tư tưởng của mình, rồi từ những khoảng trống đó làm mất niềm tin của quần chúng, nhân dân vào lý tưởng, mục tiêu của Đảng, tiến tới đánh bại Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thủ đoạn áp dụng nguyên tắc "siêu vi trùng"

Ý thức là hình ảnh phản ánh hiện thực cao nhất của con người. Ý thức được đặc trưng bởi: tính tích cực, hướng đến đối tượng, khả năng phản xạ, tự quan sát, tính định hướng - động cơ, mức độ khác nhau của tính lô-gíc. Xã hội được cấu tạo từ một số đông cá nhân một cách vô cùng phức tạp. Mỗi cá nhân nằm trong những nhóm xã hội và những tổ chức xã hội: giai cấp, liên hiệp, tập đoàn... có các vị trí xác định trong phân tầng xã hội. Mặc dù mỗi giai tầng xã hội, mỗi con người có hệ thống quan điểm riêng, có khi khá mâu thuẫn với nhau, vẫn tồn tại một hiện tượng ý thức xã hội, liên kết mọi người trong một thể thống nhất. Ý thức xã hội và ý thức của mỗi cá nhân có thể tương đồng, nhưng cũng có thể khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau. Nét đặc biệt có tính chất quyết định của ý thức xã hội là nó không phụ thuộc vào việc từng người riêng biệt tán đồng hay không tán đồng với . Nó tồn tại dường như là độc lập đối với ý thức cá nhân. Tính khách quan của ý thức xã hội là ở chỗ mỗi cá nhân phải chấp nhận sự tồn tại của ý thức xã hội và cân nhắc đến nó.

Ý thức xã hội và ý thức cá nhân, về nguyên tắc cần phản ánh đúng đắn hoàn cảnh thực tế và thích ứng với những thay đổi của nó. Tuy nhiên, như một hiện tượng tâm lý, ý thức biến đổi theo những quy luật riêng của chính nó. Ví dụ, ý thức xã hội trong những giai đoạn nhất định có thể mang tính chất phi lý, không phù hợp với thực tiễn, tương tự như khi con người bị rối nhiễu về tâm lý có thể sống trong thế giới hão huyền, huyễn hoặc, với ý thức cá nhân đầy hoang tưởng.

Bản chất của chiến tranh thông tin - tâm lý là tác động vào ý thức xã hội sao cho hướng và buộc con người phải hành động chống lại lợi ích của họ. Việc đó tương tự như căn bệnh do siêu vi trùng gây ra. Sau khi lọt vào cơ thể, siêu vi trùng xâm nhập vào tế bào, xây tổ trong các phân tử điều khiển các quá trình hoạt động của nó. Bề ngoài thì tế bào vẫn không có gì thay đổi, thậm chí các quá trình hoạt động của tế bào vẫn diễn ra bình thường, nhưng điều khiển nó là siêu vi trùng. Căn bệnh trải qua ba giai đoạn: xâm nhập, tiết độc tố, giết chết tế bào.

Căn bệnh siêu vi trùng thường có thời gian ủ bệnh dài, không nhận biết được và khi nó phát bệnh thì rất gay gắt, cơ thể đột ngột chuyển sang giai đoạn chấn động và nảy sinh khả năng con bệnh bị chết. Sự khỏi bệnh, vượt qua "án tử hình" buộc phải trông chờ vào khả năng tự đề kháng của cơ thể.

Thực hiện theo nguyên tắc này, các thế lực chống chủ nghĩa xã hội tập trung những đòn đánh vào lĩnh vực tư tưởng - hệ thống quản lý ý thức xã hội; coi lĩnh vực tư tưởng như hạt nhân của quá trình "xâm nhập". Thoạt nhìn không thể nhận thấy bất cứ sự thay đổi nào trong công tác tư tưởng, bởi vì sự xăm nhập này hoàn toàn tuân thủ những quy định nghiêm ngặt của trật tự xã hội đặt ra, từ từ tiến hành các chiến dịch hạ thấp uy tín của chế độ hiện thời trong ý thức xã hội...

Cụ thể, trong chiến dịch của nhóm Goócbachốp nhằm tiêu diệt Liên Xô, tam đoạn thức siêu vi trùng được sử dụng như sau: sửa chữa những sai lầm trong quá khứ (thâm nhập), làm gay gắt thêm những sai lầm đó (tiết độc tố), cuối cùng là phá hoại. Còn ở nước ta hiện nay các thế lực thù địch bắt đầu giai đoạn thâm nhập, bằng những thủ đoạn sau:

- Thông qua các quan hệ hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục - đào tạo... tăng cường lôi kéo, mua chuộc các cán bộ chủ chốt, Mỹ gọi là “làm xanh hoá những cái đầu đỏ";

- Triển khai hoạt động hỗ trợ giáo dục - đào tạo ở diện rộng, trên nhiều lĩnh vực nhằm tạo ra lớp người thân phương Tây, dần dần thay thế lớp người mà Mỹ và các nước phương Tây cho là "bảo thủ” ở Việt Nam; - Ra sức truyền bá văn hóa, lối sống tư sản, đề cao chủ nghĩa thực dụng nhằm tạo ra một thế hệ mất gốc, phủ nhận các giá trị truyền thống dân tộc :

+ Riêng Mỹ hiện có 15 chương trình, dự án lớn có liên quan lĩnh vực giáo dục - đào tạo đang triển khai ở Việt Nam, đáng chú ý là các chương trình như "Chương trình khách tham quan quốc tế" (IVP), "Chương trình viết văn quốc tế" (IWP), "Chương trình Fulbnght Việt Nam", "Quỹ Ford", "Quỹ giáo dục Việt Nam"...

+ Theo thống kê, từ năm 1992 đến nay có 226 người Việt Nam được Mỹ cấp học bổng Fulbright đào tạo sau đại học tại Mỹ. Riêng năm 2003, Mỹ cấp 25 học bổng trong số 700 người Việt Nam đăng ký.

+ Các "Chương trình Fellowship quốc tế" thuộc "Quỹ Ford" đào tạo sau đại học cho các cán bộ trung, cao cấp, các nhà hoạch định chính sách và cán bộ nghiên cứu về các lĩnh vực khoa học - xã hội, ưu tiên cán bộ nữ, dân tộc thiểu số hoặc cán bộ công tác tại vùng sâu, vùng xa với kinh phí 2,8 triệu USD/năm...

+ Ngân sách của Chính phủ Mỹ dành cho các chương trình Fulbright Việt Nam từ năm 2000 tăng lên 4 triệu USD/năm, còn "Quĩ giáo dục Việt Nam" mỗi năm dành 5 triệu USD cấp cho 100 sinh viên Việt Nam học tại Mỹ.

+ Hiện nay, Mỹ đang tiến hành thông qua Phòng thông tin - văn hóa Đại sứ quán Hoa Kỳ (PAS) triển khai dự án "Góc Hoa Kỳ" nhằm cung cấp thông tin cho lớp trẻ về hình ảnh nước Mỹ, lối sống Mỹ... với ý đồ tạo hình ảnh nước Mỹ trong một bộ phận sinh viên, cán bộ và sẵn sàng lợi dụng đây như là một địa chỉ chống phá cách mạng Việt Nam...

+ Ngoài ra, phía Mỹ đang dự định triển khai Dự án "y tế gia đình" để mở rộng diện hoạt động, nhất là tác động vào khu vực Tây Nguyên.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỐNG THAM NHŨNG, CUỘC CHIẾN CÒN CAM GO!

         Năm 2023 vô cùng bận rộn đối với các cơ quan phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đây cũng là năm nhìn lại nửa nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, qua đó càng thấy mặt trận chống lại thứ "giặc nội xâm" phức tạp nhường nào. Rất quyết liệt, bài bản, làm đến đâu chắc đến đó, nhưng cuộc chiến vẫn cam go. Phải quyết liệt hơn, đồng bộ hơn, để nạn tham nhũng "không còn đất dung thân"!

Trong năm 2023, hàng loạt đại án tham nhũng được xét xử hoặc đã có kết luận điều tra, ban hành cáo trạng, chuẩn bị đưa ra trước ánh sáng công lý. Thực tế đó cảnh báo: Tham nhũng đã "làm mưa, làm gió" trên nhiều lĩnh vực.

"Lò nóng rồi, thép hạng sang cũng phải cháy"

Không chỉ "củi khô, củi tươi" mà cả thép hạng sang (chỉ cán bộ cấp cao) nếu dính vào tham nhũng cũng bị xử lý. Theo cách nói ví von của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đông đảo dư luận đã khẳng định như vậy. Trong số 54 bị cáo vụ "chuyến bay giải cứu" tại phiên tòa phúc thẩm sáng 27/12, có ba bị cáo bị y án phạt tù chung thân; một cựu thứ trưởng lĩnh 14 năm tù giam,... Vụ nâng giá kit xét nghiệm liên quan Công ty Việt Á, dự kiến đưa ra xét xử vào những ngày đầu năm tới, cũng có 38 bị cáo, trong đó gồm hai cựu Bộ trưởng, một số vụ trưởng, phó vụ trưởng; cán bộ ủy ban nhân dân tỉnh, tỉnh ủy; lãnh đạo cấp sở, nhân viên y tế, cán bộ CDC nhiều tỉnh, thành phố. Tại các đơn vị đăng kiểm cũng có hàng trăm bị can bị khởi tố.

Trong những ngày này, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành cáo trạng truy tố Chủ tịch Tập đoàn Vạn Thịnh Phát Trương Mỹ Lan, cùng 85 bị can tại tập đoàn này, Ngân hàng SCB và các đơn vị, tổ chức liên quan. Các bị can còn lại có 41 lãnh đạo, cán bộ Ngân hàng SCB, 15 cựu cán bộ Ngân hàng Nhà nước, ba cựu cán bộ Thanh tra Chính phủ, một cựu cán bộ Kiểm toán Nhà nước.

Còn nhiều vụ án, nhiều đối tượng nữa mới được gọi tên, như cựu Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre Lê Đức Thọ vừa bị Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an ra quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam, Lệnh khám xét chỗ ở do liên quan vụ án xảy ra tại Công ty Xuyên Việt Oil.

Vì sao, chống tham nhũng quyết liệt như vậy, nhưng căn bệnh trầm kha này vẫn có vẻ ngày thêm nặng, số đối tượng trong một vụ án, số tiền đưa, nhận hối lộ "khủng" chưa từng thấy? Mấy năm trước, một cựu Bộ trưởng nhận hối lộ ba triệu USD, dư luận đã thấy số tiền quá lớn. Nhưng giờ đây, Đỗ Thị Nhàn vốn là Cục trưởng Thanh tra, Giám sát Ngân hàng II - Ngân hàng Nhà nước bị truy tố về hành vi nhận hối lộ số tiền lên đến 5,2 triệu USD. Chỉ một thư ký của thứ trưởng cũng đã nhận hối lộ đến hơn 42 tỷ đồng. Thật khủng khiếp!

Trị tham nhũng phải làm từ gốc

Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực bao giờ cũng gắn liền với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, sàng lọc, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Vừa xử lý nghiêm, vừa mở cho họ một con đường chuộc tội; hoặc cho thôi giữ chức nếu tự giác nhận trách nhiệm, sai phạm. Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân - một thứ "giặc" trong lòng mình, kéo người ta xuống dốc không phanh, như Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở. Đây mới là nguyên nhân cơ bản đẻ ra tham nhũng, tiêu cực; việc xuống cấp về đạo đức của cán bộ là căn nguyên trực tiếp, chủ yếu làm cho tham nhũng chưa thể ngăn chặn. Vì vậy, muốn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiệu quả, phải làm từ sớm, từ xa, tức là phải ngăn chặn cho được suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cán bộ có chức, có quyền; xây dựng được đội ngũ cán bộ vừa hồng vừa chuyên.

Vì tham nhũng là "khuyết tật bẩm sinh" của quyền lực, cho nên đi liền với xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính phải có cơ chế chặt chẽ để kiểm soát quyền lực, xây dựng luật pháp, chính sách, không còn kẽ hở cho những cán bộ có lòng tham lợi dụng. Thực tế là khi quyền lực bị lợi dụng thì tham nhũng, tiêu cực càng trở nên phức tạp. Rõ nhất là vụ án trong các chuyến bay "giải cứu", trong thanh tra Ngân hàng SCB. Một Trưởng Đoàn thanh tra, giám sát mà nhận hối lộ 5,2 triệu USD thì thanh tra không chỉ bị vô hiệu hóa mà còn làm cho vụ việc phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng gấp bội phần. Nếu không có vụ việc này, những sai phạm tại Ngân hàng SCB sẽ sớm được phát hiện, hạn chế tối đa hậu quả xảy ra; danh sách cán bộ vi phạm kéo theo cũng không nhiều như vậy.

Thật ra, chủ trương, đường lối, pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không thiếu và ngày càng được hoàn thiện. Gần đây, Bộ Chính trị mới ban hành ba quy định về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: trong công tác cán bộ (Quy định 114); trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán (Quy định 131); trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án (Quy định 132).

Vấn đề còn lại là ở cơ chế vận hành và con người thực hiện. Vì thế, cần có những chế tài thật cụ thể, thực hiện thật nghiêm minh, công tâm, để ai đó muốn tham nhũng cũng "không thể", "không dám". Đặc biệt là chế tài, cơ chế vận hành trong các cơ quan quyền lực, nhất là cơ quan phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Cùng với các văn bản khác của Đảng, Nhà nước, ba quy định nêu trên cực kỳ quan trọng, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, toàn diện của Đảng; vai trò giám sát của các tổ chức chính trị-xã hội và Nhân dân. Qua đó để mọi quyền lực đều được kiểm soát chặt chẽ, được ràng buộc bằng trách nhiệm. Quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền hạn càng cao trách nhiệm càng lớn.

Phương châm đặt ra là kết hợp đồng bộ giữa "xây" và "chống", trong đó xây là chiến lược cơ bản, lâu dài, chống là cấp bách, thường xuyên. Trong "xây" không chỉ xây dựng cơ chế, chính sách để không dám, không thể, không muốn, không cần tham nhũng, tiêu cực mà cái gốc là xây dựng toàn diện chất lượng cán bộ, bởi như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc". Với cán bộ thì đức là gốc, nhưng lâu nay việc làm quy trình để bổ nhiệm hoặc giới thiệu cán bộ ứng cử, vấn đề đạo đức của cán bộ dù đã được quan tâm, nhưng vẫn chưa thật sự phù hợp với đòi hỏi của thực tế, nhất là trong thi tuyển, bởi đây là nội dung khá trừu tượng, không thể định lượng. Muốn đánh giá về đạo đức cán bộ sát, đúng, phải biết rõ cán bộ đó trong suốt quá trình công tác; đặc biệt là phải dự báo được tư cách của cán bộ đó khi bố trí vào các cương vị lãnh đạo, quản lý. Đây là việc không đơn giản. Phải chăng, khi cán bộ đủ điều kiện bổ nhiệm thì cần có thời gian tập sự, vừa là thử thách vừa lấy đó làm thước đo để đánh giá cán bộ sát hơn khi bổ nhiệm chính thức?

Chống tham nhũng, tiêu cực là việc khó, nhạy cảm, nhưng không có nghĩa không làm được. Khi toàn Đảng, toàn dân, mỗi cán bộ, đảng viên đều có quyết tâm cao, thật sự không còn "vùng cấm", tin rằng thứ tệ nạn này nhất định sẽ bị đẩy lùi./.
Yêu nước ST.

SỰ THẬT LÀ MINH CHỨNG SINH ĐỘNG NHẤT

Có thể khẳng định rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc; tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước (1945-1975). Ước mơ về một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, "non sông liền một dải" cùng đi lên chủ nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực. Những hồi ức "ngày Bắc đêm Nam", "kẻ Bắc người Nam" khi đất nước bị chia đôi đã trở thành quá khứ. Đi cùng đó, chế độ “Việt Nam cộng hòa” thân Mỹ cũng không còn hiện diện. Sự thật là, sau khi cả nước thống nhất, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, thì hòa bình, độc lập, tự do và một đất nước Việt Nam khởi sắc, ngày một phát triển sau những năm dài chiến tranh tàn khốc đã mang lại cho mỗi người dân trên mọi miền của Tổ quốc một đời sống vật chất và tinh thần ngày càng tốt hơn; năm sau tốt hơn năm trước. Đặc biệt, sau hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, những thành tựu đạt được của đất nước về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại; kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, được nhân dân ghi nhận, tin tưởng và kỳ vọng chính là minh chứng sinh động nhất khẳng định ý nghĩa, giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Đồng thời, cũng chứng minh lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác - Lênin, đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười, liên minh chặt chẽ với các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân Việt Nam tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của mình, quyết tâm đi tới một tương lai hạnh phúc tươi đẹp, đi tới xã hội xã hội chủ nghĩa”(6) là hoàn toàn đúng đắn! Cùng với đó, cũng cần phải khẳng định rằng, với thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc “đem người nô lệ thành người tự do” vào mùa Thu năm 1945 cách đây 77 năm, dưới sự lãnh đạo của một Đảng cách mạng, nhân dân Việt Nam đã khẳng định được nguồn sức mạnh vô song của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân; đồng thời, cổ vũ các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc khác vùng lên đấu tranh để tự giải phóng mình, mở đầu cho những thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh sau đó. Đặc biệt, một sự thật cũng không thể phủ nhận nữa là, với thắng lợi của cách mạng Việt Nam trên hành trình đấu tranh cho độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội hơn 92 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong quá trình xây dựng và phát triển; không chỉ vững vàng, bản lĩnh, kiên định trước những biến động của tình hình quốc tế, khu vực, trong nước, mà còn và luôn xứng đáng là Đảng cầm quyền, độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam - lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị, xây dựng và bảo vệ, phát triển đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội như Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa năm 2013 đã hiến định. Trân trọng Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - những cuộc cách mạng không chỉ ghi dấu mốc trong lịch sử của mỗi dân tộc mà còn là một mốc son trong lịch sử thế giới đương đại là không thể cãi bàn. Bởi rằng, trân trọng những hy sinh và cả những thành tưu của quá khứ cũng chính là trân trọng nguồn sức mạnh nội lực của chính mình, dân tộc mình trên hành trình hướng đến tương lai tươi sáng. Nên là, những luận điệu phản động cho rằng Cách mạng Tháng Mười Nga “đã sụp đổ tại chính quê hương của nó”, đã “chứng tỏ sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm, ảo tưởng” và Việt Nam đi theo “vết xe đổ đó là sai lầm” thật thiển cận. Không phải Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ là chủ nghĩa Mác - Lênin đã “hết thời”, mà đó chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực vì những do chủ quan và khách quan của nó. Đồng thời, cũng không phải vì những khó khăn, thách thức đang tiếp tục phải đối diện trên hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội mà có thể quy chụp rằng Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là đưa đất nước đến nghèo đói, đưa đất nước “đi vào ngõ cụt”. anh tin bai Một góc TP. Hồ Chí Minh hôm nay. Ảnh tư liệu Một Việt Nam "chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay" là minh chứng khách quan sinh động nhất, bác bỏ mọi sự xuyên tạc! Vì thế, dù nhân danh ai và tổ chức nào, thì khách quan cũng không thể xuyên tạc, bẻ cong được giá trị thời đại, có tính định hướng lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 cũng như sự lựa chọn con đường cứu nước duy nhất đúng, phù hợp xu thế thời đại, phù hợp điều kiện, vị thế địa chính trị Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thực tế, việc lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, quyết tâm xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam là sự thật và sự thật đó cho thấy các nhà “rân chủ” vừa hay xuyên tạc vừa hay mơ hão! Chắc chắn, ở Việt Nam không cần đa nguyên, đa đảng đối lập; không đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và thực thi nền dân chủ tư sản, nên giấc mơ “Việt Nam dân chủ, tự do tư sản” của các nhà “rân chủ” chỉ còn là ảo vọng!

TỪ THỊ HIẾU THẨM MỸ ĐỂ ĐẾN BẢN LĨNH THẨM MỸ

Nhìn vào những diễn biến đời sống văn hóa, VHNT mỗi khi có tác phẩm, sản phẩm gây “sốt”, chúng ta thấy rõ những tác động toàn diện của hiệu ứng không gian mạng. Nó thể hiện rõ tính hai mặt của một vấn đề. Thứ nhất là, hội chứng đám đông từ những cơn “lên đồng” tập thể, nó có thể tạo sức hút vô cùng mạnh mẽ kéo theo mọi thứ, mọi thành phần trong dòng chảy ấy vào cuộc. Nếu đó là một khuynh hướng tốt, có ích cho đời sống xã hội, phục vụ cho lợi ích quốc gia, dân tộc, sẽ rất có lợi cho công tác tuyên truyền, giáo dục, quảng bá những giá trị tốt đẹp đến với người dân và du khách quốc tế. Nhưng, nếu đó là một sản phẩm có chứa đựng yếu tố gây hại, sự mập mờ trong quan điểm nghệ thuật giống như một loại virus gây bệnh, xâm nhập vào tư duy, thị hiếu của công chúng, nguy hiểm khôn lường. Thứ hai là, chính nhờ hiệu ứng mạnh mẽ của không gian mạng sẽ giúp các tác giả và giới chuyên gia, nhà quản lý nhìn nhận vấn đề dưới những góc nhìn đa chiều, từ đó có sự sàng lọc, thẩm định, định hướng sáng tạo theo quan điểm của Đảng. Trong những năm tới, đất nước ta có nhiều ngày lễ lớn, trong đó có kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và đại lễ mừng 50 năm đất nước thống nhất. Trên lĩnh vực văn hóa, VHNT, các thế lực thù địch đã và đang tiếp tục đẩy mạnh các chiến dịch tuyên truyền, tung ra các sản phẩm xấu độc; sử dụng truyền thông và không gian mạng cổ xúy, lôi kéo các tác giả “nói ngược”, “nói khác” nhằm bóp méo, bôi đen, làm méo mó hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ và lịch sử đấu tranh cách mạng. Họ sử dụng các phương thức ám chỉ, bóng gió, mập mờ, so sánh Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh với các thành phố lớn đã và đang xảy ra xung đột vũ trang trên thế giới... để xuyên tạc lịch sử, văn hóa vùng đất Nam Bộ và cuộc đấu tranh của đồng bào Nam Bộ, góp phần to lớn giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là những biểu hiện nguy hiểm nhằm kích động hận thù dân tộc, âm mưu chia tách lịch sử, văn hóa Nam Bộ ra khỏi nền văn hóa và lịch sử dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ. Một trong những biểu hiện phổ biến hiện nay là họ cổ xúy, ca ngợi công lao của Nguyễn Ánh (Chúa Nguyễn, Vua Gia Long), coi nhân vật “cõng rắn cắn gà nhà” trong lịch sử dân tộc như là một “anh hùng”, “cụ tổ” của lịch sử, văn hóa Nam Bộ. Đáng tiếc là đã có một số người trong giới sáng tác có biểu hiện dao động, bị cuốn theo lối tư duy này nên trong một số tác phẩm VHNT, đã thổi phồng, thần thánh hóa công lao, che mờ tội của Chúa Nguyễn (Vua Gia Long), làm sai lệch lịch sử, làm mập mờ, méo mó sắc thái văn hóa và bản chất tốt đẹp của con người Nam Bộ. Từ góc nhìn sai lệch về nhân vật này, các thế lực thù địch áp dụng lối tư duy liên tưởng để dụ dỗ, dẫn dắt công chúng hiểu sai lệch lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc và hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng dân Nam Bộ. Để tạo tiềm lực văn hóa tinh thần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa, VHNT, chúng ta phải bám sát quan điểm của Đảng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ: “Chủ động nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại”...; “Nâng cao vai trò của văn hóa, nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách của con người Việt Nam, nhất là trong thế hệ trẻ”... Như vậy, giải pháp căn bản và lâu dài là chúng ta phải chủ động nâng cao sức đề kháng, nói cách khác chính là củng cố, nâng cao bản lĩnh chính trị trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là giới trẻ. Muốn định hướng thị hiếu thẩm mỹ, phải xây dựng được bản lĩnh thẩm mỹ. Với chức năng hướng đến “chân, thiện, mỹ”, dù thể hiện dưới góc nhìn nào thì trong đời sống văn hóa, VHNT, bản sắc dân tộc là giá trị không thể mập mờ, cương thổ quốc gia, lịch sử dân tộc là giá trị không thể xuyên tạc, đảo ngược. Quy luật sàng lọc, tiếp thu, tiếp biến và đào thải của văn hóa chính là cán cân công bằng, là thước đo công tâm để khẳng định giá trị đích thực của tác phẩm, sản phẩm VHNT. Những người làm văn hóa, đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa và giới chuyên gia thẩm định chất lượng sản phẩm VHNT các cấp cần bám sát tính quy luật, nhất quán quan điểm của Đảng để đưa ra những nhận xét, nhận định, dự báo; từ đó có giải pháp định hướng dư luận và định hướng sáng tạo, lao động nghệ thuật một cách đúng đắn. Không nên bị dẫn dắt bởi dư luận đám đông dẫn đến “đẽo cày giữa đường”, tạo cớ cho các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá, cũng không nên chỉ dựa vào các quy định của pháp luật để bày tỏ chính kiến một cách cực đoan, võ đoán, máy móc.../.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẢNG VIÊN NHẬP NGŨ!

     Điểm nhấn nổi bật trong mùa tuyển quân năm nay đó là, thanh niên nhập ngũ là đảng viên và được bồi dưỡng nhận thức về Đảng tại nhiều địa phương có tỷ lệ cao!
Đơn cử như huyện miền núi Quang Bình (Hà Giang), có 24 đảng viên trên tổng số thanh niên nhập ngũ. Hay như tỉnh Bắc Ninh có 117 đảng viên nhập ngũ dịp này. Còn tại TP Hà Nội, 30/30 quận, huyện, thị ủy đã tổ chức lớp bồi dưỡng đối tượng đảng cho 1.743 thanh niên chuẩn bị nhập ngũ và kết nạp được 52 đảng viên mới...

Những thông tin trên là tín hiệu đáng mừng, cho thấy cấp ủy, chính quyền các địa phương đã quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng công dân nhập ngũ, nhất là về chất lượng chính trị. Nhờ đó đã bổ sung nguồn đảng viên trẻ nhiệt huyết và lực lượng đông đảo quần chúng ưu tú để các đơn vị Quân đội tiếp tục bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển Đảng trong thời gian tại ngũ. Quan trọng hơn, đây là bước chuẩn bị từ sớm, từ xa của các cấp ủy địa phương để xây dựng, tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị cơ sở.

Tuy nhiên, lâu nay việc sử dụng, phát huy vai trò của lực lượng đảng viên sau khi xuất ngũ ở nhiều địa phương vẫn đang bỏ ngỏ, cùng không ít vấn đề chưa thể giải quyết căn cơ. Bên cạnh nguyên nhân về khung biên chế có hạn, thực trạng nơi này, nơi kia còn để “lãng phí”, thậm chí là “lãng quên” lực lượng đảng viên từng được bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện và trưởng thành từ quân ngũ. Đảng viên sau khi xuất ngũ nhưng địa phương không thể sắp xếp vị trí việc làm trong hệ thống chính trị cơ sở; trong khi công việc, thu nhập bấp bênh nên phải đi làm ăn xa... 

Từ những vấn đề trên đặt ra cho cấp ủy, chính quyền các địa phương, ngay từ bây giờ, cần chủ động xây dựng kế hoạch sử dụng, tạo nguồn cán bộ với đối tượng là các đảng viên đang thực hiện nghĩa vụ quân sự; đồng thời, có giải pháp định hướng nghề nghiệp, tạo việc làm tại chỗ cho đảng viên khi xuất ngũ. Bằng cách này, các đảng viên hoàn thành nghĩa vụ quân sự sẽ sớm được sắp xếp, bố trí công việc trong hệ thống chính trị cơ sở, hoặc có việc làm ổn định tại địa phương. Đây là những giải pháp quan trọng để “giữ chân” và phát huy được năng lực, kinh nghiệm của đông đảo đảng viên trưởng thành trong môi trường Quân đội, trở thành lực lượng nòng cốt, tin cậy cho sự nghiệp xây dựng địa phương.

Đảng viên nhập ngũ, hẳn nhiên đó là vinh dự, tự hào, nhưng trách nhiệm trước tập thể, cấp trên, đồng chí, đồng đội và sự kỳ vọng, niềm tin yêu của quê hương, gia đình cũng theo đó mà nhân lên. Bởi vậy, mỗi đảng viên trong thời gian tại ngũ hãy ra sức học tập, rèn luyện, nêu gương và làm gương; không ngừng tu dưỡng phẩm chất đạo đức của người quân nhân cách mạng để thêm tự hào, xứng đáng là người đảng viên của Đảng ta./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG YÊU CẦU SỚM ĐƯA CÁC SẢN PHẨM MỚI VÀO TRANG BỊ CHO QUÂN ĐỘI!

     Làm việc với Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang yêu cầu đơn vị tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu chế thử vũ khí trang bị mới và sớm đưa các sản phẩm mới vào sản xuất, trang bị cho Quân đội!
Ngày 4/3, Đại tướng Phan Văn Giang - Bộ trưởng Quốc phòng, chủ trì Hội nghị Bộ trưởng và lãnh đạo Bộ Quốc phòng làm việc với Tổng cục Công nghiệp quốc phòng (CNQP), về tình hình thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm của Tổng cục trong năm 2024.

Cùng dự hội nghị có Thượng tướng Nguyễn Tân Cương - Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Phạm Hoài Nam - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Báo cáo tại hội nghị, Trung tướng Hồ Quang Tuấn - Chủ nhiệm Tổng cục CNQP, cho biết: Năm 2023, Tổng cục CNQP đã chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị của Bộ Quốc phòng triển khai hoàn thành cơ bản 8 nhóm nhiệm vụ theo chỉ đạo của Bộ trưởng; các nội dung Nghị quyết của Quân ủy Trung ương và của Đảng ủy Tổng cục về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng năm 2023.

Trong đó, nổi bật là chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo đúng tình hình, tham mưu với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực CNQP; hoàn thành báo cáo Chính phủ phê duyệt và quyết liệt triển khai kế hoạch thực hiện các chương trình trọng điểm; xin ý kiến Quốc hội về hồ sơ Dự án Luật CNQP, an ninh và động viên công nghiệp, đạt sự đồng thuận cao.

Đặc biệt, Tổng cục CNQP đã tập trung huy động các nguồn lực, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, dây chuyền công nghệ tăng năng lực sản xuất quốc phòng. Năm 2023, Tổng cục CNQP thực hiện 66 dự án, 49 báo cáo kinh tế kỹ thuật. Tích cực triển khai đổi mới phát triển công tác khoa học - công nghệ.

Tổng cục đã triển khai thực hiện 150 đề tài, nhiệm vụ khoa học công nghệ các cấp đạt kết quả tốt; đã đánh giá, nghiệm thu được 38 đề tài, trong đó có 31 sản phẩm đã đề nghị sản xuất, đạt 81,5%; chủ động xây dựng chương trình khoa học công nghệ theo 5 nhóm sản phẩm trong Nghị quyết số 08-NQ/TW.

Tổng cục CNQP cũng đã nỗ lực sản xuất, sửa chữa vũ khí lục quân và đóng mới, sửa chữa tàu quân sự, đã hoàn thành sản xuất, sửa chữa trên 90 chủng loại sản phẩm vũ khí lục quân; đóng mới, sửa chữa hàng trăm tàu quân sự. Các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh đạt được cao hơn so với năm 2022 (tổng doanh thu bằng 105% so với năm 2022).

Bên cạnh đó, Tổng cục còn thực hiện tốt nhiệm vụ đối ngoại và hợp tác quốc tế về CNQP; tham mưu với Bộ Quốc phòng cụ thể hóa các thỏa thuận hợp tác về CNQP với các nước. Báo cáo và được Thường vụ Quân ủy Trung ương thông qua Đề án Triển lãm quốc phòng quốc tế 2024; tham gia có hiệu quả trưng bày sản phẩm Việt Nam tại diễn đàn kỹ thuật quân sự quốc tế ARMY-2023 và các hội chợ triển lãm quốc tế, được các đối tác đánh giá cao…

Tại hội nghị, Bộ trưởng Phan Văn Giang nhận định, dự báo tình hình quốc tế, khu vực và trong nước vẫn diễn biến phức tạp, tác động trực tiếp đến lĩnh vực quân sự, quốc phòng.

Đại tướng yêu cầu Tổng cục CNQP tập trung phát triển CNQP theo hướng tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại; tiếp tục tổ chức thực hiện hiệu quả Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển CNQP.

Đại tướng Phan Văn Giang cũng yêu cầu Tổng cục thường xuyên theo dõi, đánh giá tình hình, tác động từ các cuộc chiến tranh, xung đột quân sự gần đây trên thế giới để tham mưu các nội dung liên quan vũ khí, trang bị; đề xuất nội dung hợp tác CNQP giữa Việt Nam với các nước.

Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu chế thử vũ khí trang bị mới, trong đó cần chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học - công nghệ các cấp; đề xuất tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về cơ chế chính sách, kỹ thuật công nghệ, rút ngắn thời gian nghiên cứu, sớm đưa các sản phẩm mới vào sản xuất, trang bị cho Quân đội.

Đại tướng Phan Văn Giang cũng lưu ý, cần tập trung nguồn lực, phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang bị, tàu quân sự và kinh tế đảm bảo tiến độ, chất lượng đạt và vượt mức chỉ tiêu đã đề ra.

Đẩy mạnh áp dụng các mô hình quản trị doanh nghiệp hiện đại. Nghiên cứu, sắp xếp tổ chức biên chế cho phù hợp, đúng quy định, nhất là ở các công ty, nhà máy, xí nghiệp; tăng cường kiểm tra, giám sát, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế về CNQP./.


Yêu nước ST.