Thứ Ba, 5 tháng 3, 2024
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: GIÁO DỤC KỸ NĂNG CÔNG DÂN SỐ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BÀI VIẾT ĐẶC BIỆT QUAN TRỌNG CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG ĐƯỢC XUẤT BẢN SÁCH ĐIỆN TỬ!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ "KIÊN ĐỊNH ĐI ĐÔI VỚI ĐỔI MỚI CÓ NGUYÊN TẮC, KHÔNG TÙY TIỆN"!
PHƯƠNG THỨC, THỦ
ĐOẠN CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA
CỦA CÁC THẾ LỰC
THÙ ĐỊCH HIỆN NAY
Lợi dụng tiến bộ của công nghệ thông tin, truyền thông trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư và nhiều biển động của tình hình thế giới, các thể lực thù địch cảng ráo riết đẩy mạnh chống phá trên mọi mặt trận, trọng tâm là chĩa mũi nhọn tấn công chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng bằng hàng loạt âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc. Cụ thể:
Về phương thức, thủ đoạn, trong bối cảnh mới, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường tập trung: phủ nhận, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như giá trị khoa học, thời đại, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chống phá, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên tất cả lĩnh vực, đặc biệt xoáy sâu vào những vấn đề nhạy cảm, như dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, biển, đảo; lợi dụng hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, sơ hở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi kéo, kích động người dân tham gia các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội...
ĐỔI TƯỢNG CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY
Lợi dụng tiến bộ của công nghệ thông tin, truyền thông trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư và nhiều biển động của tình hình thế giới, các thể lực thù địch cảng ráo riết đẩy mạnh chống phá trên mọi mặt trận, trọng tâm là chĩa mũi nhọn tấn công chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng bằng hàng loạt âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc. Cụ thể:
Đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta vô cùng đa dạng, phức tạp, có thể phân chia thành ba nhóm chính:
Một là, một bộ phận những người nghiên cứu lý
luận, thực tiễn trên thế giới, bài xích tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong cuộc đấu
tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản;
Hai là, lực lượng phản động, tàn dư của chế độ
ngụy quyền trước đây đang sinh sống, lưu vong ở nước ngoài kết hợp với một số đối
tượng chống đối, bất mãn ở trong nước. Nhóm này có số lượng đông đảo, manh động
và chống phá trực diện, quyết liệt nhằm thực hiện âm mưu phá hoại công cuộc đổi
mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta;
Ba là, một bộ phận cán bộ, đảng viên bất mãn,
cơ hội, suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa".
PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
Công tác tuyên giáo nói chung, công tác tuyên truyền nói riêng là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng nhằm xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhận diện để đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận công tác tuyên truyền của của Đảng, Nhà nước ta trong tình hình hiện nay là một nhiệm vụ quan trọng.
Trong những năm gần đây, các tổ chức phản động người Việt Nam ở nước ngoài; các lực lượng cạnh tranh về tư tưởng, chính trị (những người nghiên cứu lý luận, hoạt động chính trị đảng phái tại một số nước phương Tây và cả những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng, chính trị tại Việt Nam…); các cá nhân người Việt ở trong nước bị các thế lực cực hữu nước ngoài mua chuộc, lợi dụng, núp bóng dưới ngọn cờ “dân chủ, nhân quyền”… ngày càng tăng cường xuyên tạc, phủ nhận và tiến hành chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đặc biệt, khi công tác tuyên truyền của chúng ta ngày càng khẳng định được vai trò nòng cốt trong quá trình bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì các thế lực này lại càng ráo riết chống phá bằng nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi, trong đó việc sử dụng triệt để tiện ích của Internet qua các website, mạng xã hội, các kênh thông tin truyền thông… là hình thức phổ biến nhất.
Các thế lực thù địch cho rằng, hoạt động tuyên giáo - tuyên truyền của Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ là “kỹ năng lừa gạt”, “ru ngủ nhân dân”. Để “minh họa” cho luận điệu này, họ đã tạo dựng lên cái gọi là ý kiến của “một số nhà quan sát và phân tích thời sự, chính trị Việt Nam” để chia sẻ với báo chí chống cộng ở hải ngoại những “quan điểm” về công tác tuyên giáo - tuyên truyền của Đảng ta. Qua đó bóp méo, xuyên tạc về thành tựu sau hơn 35 năm đổi mới của ngành Tuyên giáo. Từ những nhận định hết sức hồ đồ của một số người bất đồng chính kiến như Nguyễn Quang A, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Nguyên Bình… rồi cho rằng, Tuyên giáo “đã thành công trong việc định khung (framing) tư duy cho nhiều người Việt Nam để tin vào đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng đó là nghệ thuật tuyên truyền chứ không hề khoa học gì cả”; “Vai trò của tuyên giáo... chỉ là “trò tuyên truyền” chứ không phải lý luận khoa học gì cả, càng không “đi trước-mở đường””…
Nhân sự kiện ngày 1/8/2020, khi Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức kỷ niệm 90 năm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo, các thế lực chống đối, thù địch đã tìm mọi cách xuyên tạc. Điển hình như, trước ý kiến của TS. Vũ Ngọc Hoàng (nguyên Ủy viên Trung ương Đảng khóa X, XI, nguyên Phó trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương) khẳng định rằng: “mục đích đầu tiên và quan trọng nhất của công tác tuyên giáo là nhằm tham gia khai hóa văn minh cho cộng đồng dân tộc và thực hiện nhiệm vụ chính trị”, thì trên một số trang mạng và báo điện tử ở hải ngoại đã dùng chiêu trò giật tite câu view bằng một số bài viết kiểu như “Lời lừa dối hoành tráng” rồi lu loa rằng “tuyên truyền của tuyên giáo lừa dối dân”, rằng “từ trước đến giờ cộng sản luôn có một lối ru ngủ nhân dân duy nhất, làm cho người dân dù bất mãn cỡ nào cũng không phản kháng hoặc phản kháng yếu ớt…”.
Các thế lực thù địch cho rằng công tác tuyên truyền của Việt Nam hiện nay chỉ là một sự “tụt hậu” và bản chất là “làm người dân mụ mẫm” Đài BBC News Tiếng Việt, Đài Châu Á Tự do thường xuyên đăng phát những nội dung xuyên tạc, phủ nhận vai trò của ngành Tuyên giáo đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta. Họ tập hợp “những ý kiến độc lập” để đưa tin sai lệch, bôi xấu về tình hình trong nước nhằm tung hê cho luận điệu: Tuyên giáo “làm người dân mụ mẫm. “tẩy não người dân, thuyết phục người dân, lừa bịp để làm người dân mụ mẫm”.
Gần đây nhất, liên quan đến việc chúng ta đặt tên đường phố, công trình công cộng, trong đó có sự cân nhắc về một số nhân vật lịch sử còn có những ý kiến trái chiều, thì ngay lập tức, thế lực thù địch đã lấy đó làm cơ hội để thực hiện ý đồ xuyên tạc, chống phá. Một mặt, họ cố tình lờ đi nội dung quan trọng là “một số nhân vật lịch sử còn có những ý kiến trái chiều”, mặt khác, nhân danh “giới nghiên cứu” rồi ấu trĩ viện dẫn lịch sử “thời pháp thuộc” thời “Việt Nam Cộng hòa”… và tiến hành trích dẫn ý kiến của những kẻ hời hợt, bảo thủ, kém hiểu biết để rêu rao rằng: “văn bản này của Ban Tuyên giáo Trung ương đi ngược lại sự thật của lịch sử và gây hoang mang trong nhân dân”.
Xuyên tạc về công tác nhân sự của ngành tuyên giáo. Đây là một trong những chiêu bài mà các thế lực chống đối, thù địch thường xuyên sử dụng, nhất là đối với những nhân sự chủ chốt của ngành tuyên giáo. Chúng bôi nhọ thông tin, dẫn dắt sai lệch bản chất để đưa ra những nhận định xuyên tạc về việc sắp xếp cán bộ lãnh đạo của ngành.
Tất cả những luận điệu mà các thế lực phản động, thù địch đưa ra đều thể hiện cái nhìn định kiến, hằn học với mục đích sâu xa là xuyên tạc, phủ nhận, chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước ta, từ đó hòng thực hiện âm mưu đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, tiến tới phá hoại, lật đổ chính quyền, lật đổ chế độ XHCN, xóa bỏ những thành quả cách mạng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã dày công xây dựng. Vì vậy trong giai đoạn hiện nay công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng được xác định là nhiệm vụ và nội dung tất yếu, cơ bản, hệ trọng, quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân ta. Trong đó công tác tuyên truyền phải luôn được xác định là nòng cốt, tự giác, thường xuyên và thiết thực như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tuyên truyền là đem một phần việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm, nếu không đạt được mục tiêu đó thì tuyên truyền thất bại”. Vì vậy mỗi người dân cần có nhận thức đúng đắn, tích cực đấu tranh với các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch./.
.Ankhe.
Thứ Hai, 4 tháng 3, 2024
Tích cực thể chế hệ thống chính sách pháp luật liên quan đến dân tộc
Thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người, Việt Nam đã tích cực nội luật hoá các quy định, nguyên tắc về quyền con người trong các công ước quốc tế mà Việt Nam là quốc gia thành viên, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc. Một trong những mục tiêu của nội luật hoá là đảm bảo sự tiến bộ thực sự về nhân quyền cho người DTTS.
Từ 30 văn bản thể hiện chủ trương, đường lối của Đảng, đã được Nhà nước thể chế thành hệ thống chính sách dân tộc bao phủ hầu hết các lĩnh vực đời sống của đồng bào DTTS. Trong 10 năm qua, Quốc hội Việt Nam đã ban hành 125 luật, trong đó có 352 điều khoản trực tiếp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các DTTS.
Hiến pháp 2013 khẳng định: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”. Nguyên tắc không phân biệt đối xử và bình đẳng giữa tất cả các thành viên trong cộng đồng là cốt lõi của Hiến pháp và cũng được thực hiện thông qua các cải cách lập pháp có liên quan. Nguyên tắc trên được quán triệt trong toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam, là nguyên tắc cơ bản của chính sách đảm bảo quyền cho các DTTS. Các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp đều bình đẳng trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội và được bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật.
Ông Y Thông - Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc nêu rõ, do phần lớn các DTTS Việt Nam cư trú ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, gặp khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội nên đồng thời với việc xác định quyền bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước Việt Nam còn khẳng định ưu tiên hỗ trợ và tăng cường đoàn kết giúp đỡ, tạo điều kiện để các DTTS phát huy nội lực vươn lên hội nhập với sự phát triển chung được thể hiện tại Điều 5 Khoản 4 của Hiến pháp: “Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các DTTS phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”. Đây là nguyên tắc, là biểu hiện đặc trưng cơ bản trong chính sách dân tộc của Việt Nam và phù hợp với Khoản 4 Điều 1 Công ước CERD.
Pháp luật Việt Nam còn có những quy định cụ thể về cấm phân biệt đối xử, được thể hiện tại Hiến pháp năm 2013 (Điều 16, 26, 35) và nhiều văn bản pháp luật. Việt Nam cũng khẳng định lập trường kiên quyết phản đối và chống chia rẽ, kích động hận thù giữa các dân tộc, chủng tộc. Những hành vi phân biệt chủng tộc hoặc hỗ trợ các hoạt động gây chia rẽ, kỳ thị và phân biệt chủng tộc đều bị pháp luật Việt Nam nghiêm cấm, trừng trị nghiêm khắc.
QUÂN ĐỘI THỰC HIỆN LỘ TRÌNH TINH, GỌN, MẠNH
VIẾT CHO NHỮNG AI LÀ QUÂN NHÂN
PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG
Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong rèn luyện bản lĩnh đội ngũ đảng viên hiện nay
Thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn quan tâm tới việc rèn luyện bản lĩnh đội ngũ đảng viên. Hơn 93 năm qua, phần lớn cán bộ, đảng viên của Đảng luôn gương mẫu tu dưỡng và rèn luyện đạo đức, bản lĩnh cách mạng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đó là những con người luôn đi đầu trên mọi trận tuyến, trong thời chiến cũng như trong thời bình, xứng đáng với vai trò vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức và bản lĩnh cách mạng, thoái hóa, biến chất, lập trường tư tưởng không vững vàng; có biểu hiện hoang mang, dao động; có thái độ thiếu quyết đoán, ngại va chạm, sợ đấu tranh, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước nhân dân. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XI, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã chỉ ra: “Một số nơi có tình trạng những việc làm đúng, gương người tốt không được đề cao, bảo vệ; những sai sót, vi phạm không được phê phán, xử lý nghiêm minh”(23). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XII, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, tiếp tục chỉ rõ một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của một bộ phận cán bộ, đảng viên là: “Thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”(24). Những biểu hiện này, dưới cấp độ cá nhân, chính là biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên; còn ở cấp độ tập thể, chính là biểu hiện của một tổ chức thiếu dân chủ, thiếu tính đoàn kết, tinh thần xây dựng trong nội bộ, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng.
Tại Nghị quyết số 05-NQ/HNTW, ngày 20-6-1988, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VI, về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng bảo đảm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng”, lần đầu tiên, Đảng đưa vấn đề “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” thành một tiêu chuẩn để đánh giá cán bộ lãnh đạo, là yêu cầu cần có trong rèn luyện bản lĩnh của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Đến ngày 16-11-2012, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW, về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, đặt ra yêu cầu phải có cơ chế, chính sách khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng. Phát triển quan điểm của Đại hội XI, Đại hội XII của Đảng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ cần thực hiện trong công tác cán bộ, nhất là ở khâu tuyển chọn và bổ nhiệm cán bộ, sao cho lựa chọn được “những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm giữ các vị trí lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu”(25). Đồng thời, Đảng cũng ban hành Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”, nhấn mạnh họ phải gương mẫu đi đầu nghiêm túc thực hành tự phê bình và phê bình; thấy đúng phải cương quyết bảo vệ, thấy sai phải quyết liệt đấu tranh; không tranh công, đổ lỗi. Gần đây nhất, tại Đại hội XIII, Đảng ta đã nêu quan điểm, cán bộ, đảng viên phải dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, hành động vì lợi ích chung. Đây được coi là một trong những tiêu chí quan trọng trong đánh giá và là thước đo bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất và đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Ngày 22-9-2021, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 14-KL/TW, “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”, cụ thể hóa chủ trương “... khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(26). Đây chính là sự kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về rèn luyện bản lĩnh đội ngũ đảng viên theo phương châm“thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh” của Đảng ta trong thời kỳ mới.
Để tiếp tục phát triển, vận dụng chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thực hiện tốt chủ trương của Đảng về rèn luyện bản lĩnh đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thời kỳ hiện nay, cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ trương, nghị quyết, quy định của Đảng về nâng cao đạo đức, rèn luyện bản lĩnh cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên(27). Việc quán triệt phải được thực hiện gắn liền với đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng để cán bộ, đảng viên hiểu rõ mục đích, yêu cầu, tính chất quan trọng của việc rèn luyện bản lĩnh người cán bộ, đảng viên; từ đó, tạo sự đồng thuận, tinh thần quyết tâm, tính tích cực, tự giác đấu tranh với các biểu hiện sai trái, nhất là trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch hiện nay.
Hai là, xây dựng môi trường rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu của cán bộ, đảng viên; xây dựng cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh, duy trì bầu không khí dân chủ, chấp hành kỷ luật, kỷ cương, tạo điều kiện cho họ thường xuyên làm tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Đồng thời, các tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hành nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, nhằm tạo sự thống nhất về ý chí và hành động, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, tăng cường sự giám sát của tập thể đối với cấp ủy, cán bộ lãnh đạo và đảng viên. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là vũ khí sắc bén và rất cần thiết để đấu tranh, ngăn chặn tiêu cực, suy thoái. Tự phê bình và phê bình phải thực hiện một cách thường xuyên, nghiêm túc. Thông qua tự phê bình và phê bình để đấu tranh khắc phục những biểu hiện sai trái, sai lầm, khuyết điểm; góp phần thiết thực xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
LHQ-ST
Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bản lĩnh “Thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh” của đội ngũ đảng viên
“Thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh” - Một biểu hiện về bản lĩnh người đảng viên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không đưa ra một định nghĩa riêng về bản lĩnh “thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh”, mà tùy điều kiện, hoàn cảnh, đối tượng, Người nêu những ý kiến cụ thể, những so sánh phù hợp để mọi người dễ hiểu, dễ hình dung thế nào là bản lĩnh ấy của người đảng viên.
Trong tác phẩm Đường Cách mệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh so sánh “... một người cách mệnh có gan, hơn một ngàn người vô chí”(1) để chỉ những người dân Pháp có thể đứng lên làm cách mạng tư sản Pháp thành công trong khi lương thực ít, súng ống thiếu, gầy guộc, bụng đói... chỉ bởi họ “có gan”, nghĩa là họ dám hy sinh, dám đấu tranh. Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường dùng từ “có gan”, “dám”, “dũng khí”, “dũng cảm”... để nói về bản lĩnh. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (tháng 10-1947), lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức phân tích, giải thích và chỉ ra cách xử lý công việc của một người cán bộ, đảng viên có bản lĩnh: “... cách tổ chức và cách làm việc nào không hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại. Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị lên cấp trên mà đặt ra”(2). Nghĩa là, nếu thấy chính sách, cách làm không hợp thì người cán bộ, đảng viên phải “có gan” đề nghị sửa bỏ, còn khi thấy chính sách, cách làm đúng và cần thiết thì phải “có gan” đề nghị cấp trên ban hành để thực hiện; thậm chí, “Nếu cần làm thì cứ đặt ra, rồi báo cáo sau, miễn là được việc”(3). Để cho rõ hơn, Người còn so sánh họ với những người “chỉ biết khư khư giữ nếp cũ. Cái không hợp cũng không dám sửa bỏ, cái cần thiết cũng không dám đặt mới./ Đó là vì thói không phụ trách “quá hữu”, gặp sao hay vậy”(4), nghĩa là có thái độ mặc kệ, đúng sai gì cũng không lên tiếng, miễn sao không ảnh hưởng đến mình.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đảng viên có bản lĩnh là những người dũng cảm, gan góc, “... gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa”(5), mạnh dạn, thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước những quyết định cũng như hành động của mình, nhằm đem lại lợi ích cho tập thể, tổ chức và cho nhân dân; bởi lẽ, người lãnh đạo có bản lĩnh thì mới dám xây dựng cái mới, xóa bỏ cái cũ lỗi thời, lạc hậu. Người cho rằng, những người đã “có gan” như vậy sẽ không e sợ bất kỳ việc gì, cho dù đó là việc khó, việc khổ hay trước áp lực thế lực cường quyền và “... việc gì là việc phải họ đều làm được”(6).
Tuy nhiên, Người cũng nhấn mạnh, “có gan” không có nghĩa là làm vội, làm ẩu, làm liều; mà trước khi tiến hành, ta phải xem xét cho rõ ràng mọi mặt, mọi phương diện, trong mọi mối quan hệ, “... cần phải phân tách rõ ràng cái cớ sai lầm, phải xét kỹ lưỡng việc nặng hay nhẹ”(7), tức là phải xem xét toàn diện rồi mới xác định phương pháp tiến hành công việc, cách thức đấu tranh với sai lầm, khuyết điểm sao cho phù hợp.
Vì sao thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh?
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phê bình biểu hiện của một số cán bộ, đảng viên thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, “... ai có khuyết điểm cũng không dám phê bình”(8); những cán bộ “Nghe những lời bình luận không đúng, cũng làm thinh, không biện bác. Thậm chí nghe những lời phản cách mạng cũng không báo cáo cho cấp trên biết. Ai nói sao, ai làm gì cũng mặc kệ”(9) miễn sao không ảnh hưởng đến mình. Những người này có chung đặc điểm là ngại va chạm, né đấu tranh, “mũ ni che tai”, “dĩ hòa vi quý”, có tư tưởng cầu an, sợ trách nhiệm, sợ liên đới, sợ mất lòng... Nguy hại hơn là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên “Thấy những việc có hại đến dân chúng cũng mặc kệ, không khuyên răn, không ngăn cản, không giải thích”(10), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã liệt vào nhóm những biểu hiện của “bệnh cá nhân”. Cán bộ, đảng viên mắc căn bệnh này chỉ tôn thờ lối sống thực dụng, trong tiếp xúc, giải quyết công việc hằng ngày với nhân dân; bệnh này thể hiện qua hành vi, cử chỉ không thân thiện, không văn hóa, sự thờ ơ, dửng dưng trước khó khăn, mất mát của người dân.
Nói tóm lại, cán bộ, đảng viên thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh sẽ có tác hại: Một mặt, ở phạm vi nhỏ, khi thấy sai không phê bình, không thẳng thắn góp ý, cứ để cho đồng chí mình sa vào sai lầm sẽ dẫn đến hỏng việc, như vậy chẳng “... khác nào thấy đồng chí mình ốm, mà không chữa cho họ”(11); mặt khác, gây tác hại ở phạm vi lớn hơn đối với tổ chức đảng, đối với toàn Đảng, khi những cán bộ, đảng viên với biểu hiện “mũ ni che tai” sẽ “khiến cho Đảng xệch xoạc... Đảng xa rời dân chúng”(12), thậm chí những đảng viên này dần dần sẽ sinh ra thói “không nói trước mặt, hục hặc sau lưng”, dẫn đến “sự uất ức và không đoàn kết trong Đảng... để cho bọn vu vơ có thể chui vào hoạt động trong Đảng... để cho khuyết điểm ngày càng chồng chất lại và phát triển ra”(13), khiến cho quần chúng nhân dân mất lòng tin với Đảng, dẫn đến giảm sút uy tín, ảnh hưởng đến sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng.
Thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh trở thành tiêu chí phân loại thái độ của mỗi người đối với khuyết điểm và là thước đo đánh giá đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Đứng trước những sự việc đúng, sai, tốt, xấu, thiện, ác..., sự lựa chọn, thể hiện thái độ, quan điểm, lập trường của cán bộ, đảng viên là đấu tranh, bảo vệ hay im lặng, né tránh sẽ cho thấy bản lĩnh và tư cách của mỗi người. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân thành năm loại thái độ:
1- Thái độ của bọn phản động, nghĩa là “... lợi dụng những khuyết điểm đó và tô vẽ thêm để phá hoại Đảng ta”(14).
2- Thái độ của đảng viên và cán bộ đầu cơ, nghĩa là “Lợi dụng những sai lầm và khuyết điểm đó, để đạt mục đích tự tư tự lợi của họ”(15), lợi mình hại người, “miễn sao mình béo mặc thiên hạ gầy”.
3- Thái độ của những đảng viên và cán bộ ươn hèn, yếu ớt, nghĩa là “... sao cũng mặc kệ, sao xong chuyện thì thôi. Không phê bình, không tự phê bình”(16).
4- Thái độ của những người máy móc quá, nghĩa là đối với những người mắc sai lầm, khuyết điểm, họ “... đòi phải đuổi bọn kia ra khỏi Đảng ngay. Nếu Đảng không làm như thế thì họ cho rằng: Thôi, hỏng hết rồi! Do đó, họ đâm ra chán nản, thất vọng. Hoặc họ không làm gì nữa hết. Thậm chí họ bỏ Đảng”(17).
5- Thái độ đúng đắn của người cách mạng là: “a) Phân tách rõ ràng, cái gì đúng, cái gì là sai./ b) Không chịu nổi ảnh hưởng của những chủ trương sai lầm, những phần tử không tốt. Ra sức học tập và nâng cao những kiểu mẫu tốt./ c) Không để mặc kệ. Mà ra sức tranh đấu sửa chữa những khuyết điểm, không để nó phát triển ra, không để nó có hại cho Đảng./ d) Không làm cách máy móc. Nhưng khéo dùng cách phê bình và tự phê bình để giúp đồng chí khác sửa đổi những sai lầm và khuyết điểm, giúp họ tiến bộ./ đ) Đoàn kết Đảng bằng sự tranh đấu nội bộ. Nâng cao kỷ luật và uy tín của Đảng”(18).
Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán nghiêm khắc những cán bộ và đảng viên có biểu hiện thấy sao cũng mặc kệ và gọi tên họ là “bọn thứ ba”. Những cán bộ, đảng viên này ứng xử theo lối “dĩ hòa vi quý”, “mũ ni che tai”, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, thái độ này khiến cho cái tốt không có điều kiện nảy nở, phát huy, cái sai không được phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời và đấu tranh loại bỏ...; suy cho cùng, đây cũng là một hình thức tự thủ tiêu tinh thần đấu tranh chân chính, một biểu hiện tinh vi của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi. Người khẳng định, nếu mỗi cán bộ, đảng viên đều có bản lĩnh và thái độ đúng “... thì khuyết điểm nhất định hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta nhất định thắng lợi”(19).
Về cách thức “bảo vệ” và “đấu tranh”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, khi đối mặt với một vấn đề cần đưa ra cách giải quyết, người cán bộ, đảng viên phải xem xét một cách toàn diện, phải phân tích rõ ràng để nhận rõ cái gì đúng, cái gì sai, “... vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó”(20). Trong đấu tranh với cái sai, Người căn dặn, tuyệt đối “không làm cách máy móc” mà phải “khéo dùng cách phê bình và tự phê bình”, khéo phê bình sẽ góp phần tạo sự thống nhất về ý chí và hành động, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, tăng cường sự giám sát của tập thể đối với đảng viên. Người khẳng định, đảng viên nào dù mắc khuyết điểm, nhưng nếu thật thà tự phê bình, có quyết tâm sửa chữa, dám đấu tranh với sai lầm, khuyết điểm thì mới trở nên đảng viên xứng đáng, chân chính. Người cũng chỉ rõ, tiến hành tự phê bình và phê bình là phải có lý, có tình, trên tinh thần thương yêu đồng chí, tôn trọng nhân cách của mỗi con người.
Rèn luyện bản lĩnh người đảng viên là một việc quan trọng và cần thiết.
Ngay từ năm 1925, trong tập bài giảng ở lớp huấn luyện chính trị cách mạng tại Quảng Châu, Trung Quốc cho những thanh niên Việt Nam ưu tú, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra 23 chuẩn mực đạo đức cần có của một người cách mạng chân chính; trong đó, có các chuẩn mực thuộc về bản lĩnh của người cách mạng trên hai mối quan hệ: Mối quan hệ thứ nhất, đối với người, cần có bản lĩnh giúp đỡ, nâng đỡ đồng nghiệp, bạn bè; thấy cái hay, cái tốt, cái đẹp của người khác thì phải “bày vẽ” để họ phát huy, phát triển hoặc khi thấy cái dở, cái chưa tốt ở người khác thì nhất định phải cương trực, thẳng thắn góp ý, nhưng cần chú ý đến cách thức góp ý sao cho khéo léo. Mối quan hệ thứ hai, đối với công việc, phải dũng cảm, nghĩa là gặp việc khó phải “có gan” làm; gặp việc chưa đúng phải “có gan” sửa chữa, góp ý; thấy việc sai “có gan” đấu tranh, thấy việc đúng có gan bảo vệ... như vậy, mới đúng là người có bản lĩnh cách mạng, trở thành người đảng viên có nhân cách, đạo đức và phẩm hạnh, mới làm tròn nhiệm vụ cách mạng đầy khó khăn, gian khổ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta là một tổ chức rất tiến bộ, đã có những thành tích rất vẻ vang./ Trong Đảng ta, gồm có những người có tài, có đức. Phần đông những người hăng hái nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất, kiên quyết, dũng cảm nhất đều ở trong Đảng ta.../ Tuy vậy, không phải là người người đều tốt, việc việc đều hay”(21), “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu”(22). Từ đó, Người yêu cầu, mỗi cán bộ, đảng viên luôn có ý thức chăm lo, bồi dưỡng, rèn luyện bản lĩnh cách mạng để có thể xây dựng đội ngũ đảng viên dám đứng ra đấu tranh, bảo vệ cái đúng, làm cho phần chính, phần thiện trong mỗi người ngày càng tăng thêm; để phần tà, phần ác, việc xấu được ngăn chặn và bớt dần.
LHQ-ST
Một số giải pháp bảo đảm và phát huy “dân thụ hưởng” ở nước ta thời gian tới
Để thực hiện tốt, bảo đảm và phát huy “dân thụ hưởng” ở nước ta hiện nay, cần tập trung thực hiện hiệu quả một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, tập trung làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của tổ chức, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân về dân chủ, thực hành dân chủ.
Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của việc thực thi, phát huy dân chủ, nhất là “dân thụ hưởng” ở địa phương, cơ quan, đơn vị. Động viên, khuyến khích nhân dân chủ động, tích cực thực thi, sử dụng các quyền dân chủ và đấu tranh bảo vệ quyền dân chủ; chủ động nâng cao trình độ hiểu biết về dân chủ, phấn đấu, rèn luyện phương pháp thực hành dân chủ và có bản lĩnh thực hành dân chủ. Chú trọng nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức về vai trò của nhân dân, về nhà nước phục vụ, kiến tạo và ý thức, trách nhiệm phục vụ nhân dân. Đẩy mạnh mở rộng, đa dạng hóa các hình thức vận động, tập hợp, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân thông qua phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động thực hiện chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tăng cường công tác đối thoại trực tiếp với nhân dân, thường xuyên sâu sát, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng, kịp thời giải quyết thấu đáo kiến nghị, đề xuất chính đáng của nhân dân. Tăng cường tuyên truyền thành quả mà đất nước đã đạt được, củng cố niềm tin vững chắc của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Hai là, đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước.
Tăng cường, khuyến khích vận động nhân dân tham gia xây dựng hệ thống chính trị, các thiết chế bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Tiếp tục rà soát, cụ thể hóa để nhân dân ngày càng phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác, sáng tạo trong tham gia hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhân dân phải được coi là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân;... lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.
Tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cán bộ, đảng viên. Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Gắn giữa thực hành dân chủ với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tội phạm và tệ nạn xã hội. Coi trọng gắn kết chặt chẽ thực hiện công bằng xã hội với chính sách kinh tế và chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về chính sách xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, tạo hành lang pháp lý để kiến tạo mô hình hệ thống an sinh xã hội.
Ba là, đề cao trách nhiệm nêu gương về thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức xã hội của tổ chức, cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị.
Phát huy vai trò gương mẫu của người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu... Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào thi đua. Đặc biệt chú trọng bồi dưỡng, giáo dục, củng cố, phát huy năng lực, tư duy hiện đại và thái độ vì nhân dân phục vụ, tận tụy và cống hiến của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Cán bộ, công chức phải thực sự cầu thị, coi trọng ý kiến, phản ánh của người dân, gần gũi, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng và bức xúc của người dân để đối thoại, tiếp thu, phản hồi, xử lý nhanh nhạy, kịp thời và hiệu quả.
“Dân thụ hưởng” phải được bắt đầu từ việc trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân. Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung. Thực hiện tốt, hiệu quả trong thực tế dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên. Kiên quyết đấu tranh với hiện tượng xa dân, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng; thái độ mị dân, lừa dân, dọa nạt dân, chạy theo lợi ích tầm thường, song cũng không theo đuôi quần chúng. Mỗi tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị phải thật sự là người đại diện, là điểm tựa để nhân dân phát huy quyền làm chủ trong quá trình tham gia phát triển kinh tế - xã hội tại cơ sở.
Bốn là, chú trọng thực hiện hiệu quả, thực chất Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc triển khai thực hiện hiệu quả Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở; đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến các quy định về dân chủ ở cơ sở gắn với triển khai tốt các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Thực hiện công khai, minh bạch chính sách của Nhà nước, đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, làm cho mọi người dân thực sự được thụ hưởng các quyền và lợi ích chính đáng.
Phát huy vai trò của chính quyền trong thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy việc phục vụ nhân dân là trên hết, giải quyết đúng đắn, kịp thời những vấn đề có liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân. Quan tâm tạo điều kiện hỗ trợ để nhân dân thực sự chủ động trong phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, xóa đói, giảm nghèo bền vững. Nâng cao trách nhiệm, tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân kết hợp với tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Kiên quyết xử lý nghiêm cán bộ, công chức, viên chức, người lao động có hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức để mọi người dân đều được thụ hưởng công bằng, bình đẳng./.
LHQ-ST




