Thứ Ba, 5 tháng 3, 2024

Những thành tựu lý luận chủ yếu của Đảng trong xây dựng, hoàn thiện đường lối đổi mới - Nội dung cốt lõi và bài học kinh nghiệm

 TCCS - Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới 37 năm qua không chỉ là kết quả của việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn là kết tinh của quá trình sáng tạo lý luận của Đảng, dân tộc, nhân dân ta. Những kết quả sáng tạo lý luận đó đã góp phần bổ sung, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, thể hiện trong các Cương lĩnh, nghị quyết, đường lối, chủ trương nói chung, trong đường lối đổi mới nói riêng và đó cũng là minh chứng cho thấy rõ ràng rằng, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quan trọng hàng đầu đưa cách mạng Việt Nam đạt được những thắng lợi vẻ vang.

Lý luận đổi mới Việt Nam là hệ mục tiêu, quan điểm, đặc trưng, phương hướng, các mối quan hệ lớn mang tính quy luật… xác lập mô hình phát triển Việt Nam trong thời kỳ mới, có ý nghĩa chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thực hiện lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Lý luận đổi mới Việt Nam là sự bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện cụ thể Việt Nam thời kỳ mới; sự sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bằng hình thức và phương pháp đổi mới, phù hợp quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn dân tộc và xu thế thời đại; trên cơ sở chung đúc những bài học thành công và cả thất bại của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực trong thế kỷ XX và kế thừa có chọn lọc trên tinh thần phê phán các thành tựu, giá trị tư tưởng và khoa học của nhân loại.

Những thành tựu lý luận chủ yếu

Một làđường lối đổi mới xác định mục tiêu chủ nghĩa xã hội theo cả đặc trưng cấu trúc và chất lượng phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, mang bản sắc Việt Nam.

Trong quá trình đổi mới, Đảng đã xác định mô hình chủ nghĩa xã hội gồm 6 đặc trưng, rồi tiếp tục bổ sung, phát triển thành 8 đặc trưng, thể hiện những bước phát triển không ngừng trong nhận thức lý luận của Đảng về mô hình chủ nghĩa xã hội, đồng thời mục tiêu thứ nhất “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” cũng chính là mục tiêu tổng quát của chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Từ những bài học và kinh nghiệm thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đường lối đổi mới, đúng như nhận định của Đảng nêu ra tại Đại hội lần thứ X, nhận thức của chúng ta “về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản(1).

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Công ty cổ phần giấy An Hòa tại xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang_Ảnh: TTXVN

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định, xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: 1- Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; 2- Do nhân dân làm chủ; 3- Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; 4- Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; 5- Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; 6- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; 7- Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; 8- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Đánh giá chung 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”(2).

Hai là, phát triển lý luận mang tính đột phá về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đó là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tính hiện đại và hội nhập quốc tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thể hiện ở chỗ kế thừa có chọn lọc những thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại, kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn 37 năm đổi mới; hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và các yếu tố thị trường, các loại thị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành thông suốt, gắn kết chặt chẽ với các nền kinh tế trên thế giới; vai trò, chức năng của Nhà nước và thị trường được xác định và thực hiện phù hợp với thông lệ, nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế phổ biến. Định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế được nhất quán xác lập và tăng cường thông qua sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, lấy con người làm trung tâm, vì con người và do con người; phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển... Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt và là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước. Phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, trở thành nòng cốt. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh cùng phát triển theo pháp luật. Khuyến khích làm giàu hợp pháp. Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội.

Thực tế 37 năm đổi mới cho thấy, mối quan hệ ba bên giữa nhà nước, thị trường và xã hội ở Việt Nam luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, nhìn nhận là mối quan hệ đối tác, hợp tác, được quản lý, xây dựng, hoàn thiện từng bước nhằm góp phần phát triển nhanh, hội nhập sâu rộng và phát triển bền vững đất nước. Trong mối quan hệ này, Nhà nước có vị thế, vai trò rất quan trọng của cả một hệ thống tổ chức nhà nước gồm các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương để thực hiện quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trong khi đó, thị trường vận hành tuân theo quy luật, chủ yếu có vị thế, vai trò định hướng, quy định và điều tiết hành vi, hoạt động trao đổi, mua bán, giao dịch của các bên tham gia thị trường; trong đó, “nhà nước” dưới hình thức tổ chức là các cơ quan nhà nước và “xã hội” có thể đóng vai người mua, người tiêu dùng và cả người cung cấp những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ nhất định.

Ba là, xây dựng, hoàn thiện lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là một trong những đóng góp lý luận quan trọng.

Trong quá trình đổi mới, việc chấp nhận mô hình Nhà nước pháp quyền ở nước ta cũng là một cuộc đấu tranh gay gắt trong đổi mới tư duy chính trị. Đại hội VI của Đảng mới chỉ manh nha hình thành các cụm từ “quản lý đất nước bằng pháp luật”, “từng bước bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật để bảo đảm cho bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo pháp luật”(3). Đến Đại hội VII, quan điểm đổi mới hoạt động của Nhà nước được bổ sung thêm nội dung: “Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch  ba quyền đó”(4). Khái niệm “Nhà nước pháp quyền” lần đầu tiên được sử dụng trong Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994). Tuy nhiên, đến Đại hội IX của Đảng (năm 2001), “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” mới được coi là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược và xuyên suốt của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tinh thần này được khẳng định trong Văn kiện Đại hội X, XI, XII, khi Đảng ta coi “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo” là một trong 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang xây dựng. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”(5).

Bốn là, phát hiện và xác định các mối quan hệ lớn cần giải quyết trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Ngoài các phương hướng xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Cương lĩnh năm 2011 còn bổ sung nội dung về việc nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: “Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”(6).

Đến Đại hội XII (năm 2016), Đảng ta đã bổ sung thêm mối quan hệ lớn cần giải quyết trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ, đó là quan hệ giữa Nhà nước và thị trường; đồng thời đã điều chỉnh mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa thành quan hệ giữa tuân theo quy luật của thị trường với bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; đến Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường được bổ sung thành quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Đến Đại hội XIII (năm 2021), Đảng Cộng sản Việt Nam bổ sung thêm mối quan hệ lớn thứ mười là: mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Đến nay, Đảng ta đã xác định 10 mối quan hệ lớn cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cụ thể là “quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”(7).

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh, đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta, cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả(8). Mười mối quan hệ lớn là sự khái quát cao nhận thức lý luận của Đảng trên con đường thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội, góp phần làm sáng rõ thêm về các quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam, quy luật cầm quyền khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm là, hình thành lý luận về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, được vận hành thông qua cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; nhân dân làm chủ thông qua chế độ dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.

Từ lý luận của V.I. Lê-nin về hệ thống chuyên chính vô sản, Đảng ta đã phát triển thành lý luận hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, từ nền chuyên chính vô sản thành nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong hệ thống chuyên chính vô sản, chức năng trấn áp giai cấp thống trị, đấu tranh giai cấp được nhấn mạnh thì trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa có bản chất, mục tiêu, động lực là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý cũng nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào sức dân để làm lợi cho dân và đấu tranh với các thế lực thù địch âm mưu phá hoại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cấu trúc của hệ thống chính trị gồm Đảng Cộng sản, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhân dân làm chủ thông qua chế độ dân chủ đại diện và chế độ dân chủ trực tiếp. Vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước là nhân tố và điều kiện cơ bản cho phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò quan trọng trong đoàn kết, tập hợp, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, trong giám sát và phản biện xã hội. Đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu để phát triển đất nước trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội, của người Việt Nam trong nước và định cư ở nước ngoài.

Sáu là, phát triển lý luận về phát triển con người toàn diện, giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công; lấy con người làm trung tâm gắn với xác định phát triển giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước đi và từng chính sách phát triển; chú trọng bảo vệ môi trường.

Cương lĩnh năm 2011 xác định một trong những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội là con người được giải phóng khỏi mọi áp bức, bất công, được sống tự do, mưu cầu hạnh phúc. Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể của phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân. Chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính. Nâng cao dân trí, phát triển nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu của xã hội, phát huy năng lực và phẩm chất của con người. Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và nghĩa vụ công dân. Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước đi của công cuộc đổi mới và từng chính sách phát triển thông qua hệ thống phúc lợi xã hội tiến bộ, bền vững, chất lượng cao và hệ thống an sinh xã hội đa tầng, linh hoạt, tiến tới bao phủ toàn dân. Xây dựng quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp hài hòa, đoàn kết, cùng phát triển, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi; thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc; tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định pháp luật; tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Nghiêm trị mọi hành động kỳ thị, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo.

Bảy là, lý luận về đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ; là bạn, là đối tác tin cậy, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Từ quan điểm về chủ nghĩa quốc tế vô sản, về quan hệ đối ngoại là sự mở rộng quan hệ đối nội ra ngoài biên giới quốc gia, đường lối đối ngoại phục vụ cho đường lối đối nội… của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Đảng ta đã bổ sung, phát triển thành đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế trong thời kỳ đổi mới. Đa dạng hóa được xác lập không chỉ bằng chính trị, mà trên tất cả các mặt kinh tế, văn hóa; ngay trong lĩnh vực chính trị, không chỉ quan hệ ngoại giao nhà nước mà cả đối ngoại đảng, đối ngoại nghị viện, đối ngoại quốc phòng, đối ngoại an ninh; ngoại giao văn hóa góp phần tăng cường sức mạnh mềm quốc gia; ngoại giao nhân dân được thúc đẩy, tăng cường; tất cả cùng tạo nên đa tầng mặt trận đối ngoại, ngoại giao để góp phần vào giữ vững hòa bình, ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, phát huy vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đa phương hóa được khẳng định bằng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới vì hòa bình, dân chủ, hợp tác, phát triển; trong các tổ chức khu vực và quốc tế và tại các diễn đàn; là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Quan hệ quốc tế phát triển với nhiều tầng nấc ưu tiên, nhất là với các nước láng giềng, các nước lớn, các nước có quan hệ hữu nghị truyền thống, các nước xã hội chủ nghĩa, các dân tộc yêu chuộng hòa bình, tiến bộ,… Đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tận dụng được các thời cơ phát triển trong trật tự thế giới biến động khó lường, giữ vững và phát huy cục diện tích cực đã xác lập, giữ vững hòa bình, ổn định, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về quốc tế hóa, về độc lập dân tộc, Đảng ta đã phát triển thành quan điểm chủ động, tích cực hội nhập quốc tế gắn liền với giữ vững độc lập, tự chủ. Hội nhập quốc tế trong quan điểm của Đảng ban đầu chỉ giới hạn trên lĩnh vực kinh tế dần mở rộng hội nhập toàn diện trên các lĩnh phi kinh tế trên tinh thần chủ động, tích cực. Đó là chủ động đàm phán lộ trình hội nhập hợp lý, đặt ưu tiên hội nhập từng lĩnh vực, tích cực cải thiện, nâng cao về mặt nội lực để giành được lợi ích, không bị thua thiệt khi hội nhập quốc tế, đặc biệt là sửa đổi hệ thống luật pháp, chính sách, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo các nguồn lực đối ứng bên trong để sử dụng có hiệu quả nguồn lực bên ngoài. Từ chủ động, tích cực hội nhập quốc tế tiến lên phấn đấu trở thành thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, kể cả tham gia gánh vác những nghĩa vụ quốc tế như cử quân đội tham gia giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc ở các điểm nóng có xung đột. Cùng với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế là tinh thần giữ vững độc lập, tự chủ: Đó là giữ vững đường lối, chính sách, luật pháp độc lập, không bị can thiệp bởi bên ngoài, kể cả quá trình sửa đổi, điều chỉnh cho phù hợp yêu cầu hội nhập quốc tế cũng phải chủ động, xuất phát từ nhu cầu bảo vệ và thúc đẩy lợi ích quốc gia - dân tộc. Đó là bảo đảm độc lập, tự chủ bằng tạo ra khả năng đan cài sâu rộng lợi ích nước ta với các nước khác, nhất là các nước lớn, theo phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa. Đó là xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ bằng lựa chọn hợp lý và có giải pháp nâng cao vai trò chủ đạo kinh tế nhà nước, nhất là ở các lĩnh vực then chốt, thiết yếu, quan trọng về quốc phòng - an ninh, bảo đảm an sinh xã hội; tạo sức cạnh tranh cao của nền kinh tế, của doanh nghiệp, của các sản phẩm chủ lực; đưa hàng hóa nước ta tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tập trung phát triển những doanh nghiệp “đầu đàn” đủ mạnh để dẫn dắt cả vốn, quản trị, công nghệ, chiếm lĩnh thị trường nội địa, thâm nhập sâu vào thị trường thế giới; nắm giữ được công nghệ lõi của một số ngành, lĩnh vực quan trọng; doanh nghiệp của Việt Nam phải chiếm thị phần hàng hóa bán buôn và bán lẻ trong nước, không để nước ngoài thao túng; có hệ thống “phòng vệ” hợp lý để bảo vệ sản xuất trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế.

Tám là, xây dựng, hoàn thiện lý luận về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa với nội hàm rộng lớn bằng sức mạnh tổng hợp cả lực lượng vũ trang và phi vũ trang, gắn với xác định “đối tác” và “đối tượng” trong các bối cảnh, tình hình cụ thể.

Từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về quốc gia - dân tộc và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã bổ sung, phát triển nội hàm bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích chiến lược của đất nước phù hợp luật pháp quốc tế; bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ nhân dân; bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Tinh thần, ý chí là kiên trì, kiên quyết đấu tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Quan niệm về “đối tác” và “đối tượng” trong quan hệ quốc tế là bước phát triển mới từ quan niệm “đồng minh” và “kẻ thù” trong lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đối tác và đối tượng đan xen nhau, chuyển hóa nhau, có khi trong đối tác có mặt đối tượng phải đấu tranh, có khi trong đối tượng có mặt đối tác cần phải hợp tác. Phương pháp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc là đấu tranh bằng phương pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế; đồng thời, nêu cao cảnh giác, tăng cường tiềm lực mọi mặt, sẵn sàng cho chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, đủ khả năng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa bằng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, lấy quân đội nhân dân và công an nhân dân làm nòng cốt. Sức mạnh tổng hợp được tạo ra bởi nền kinh tế mạnh, thế chiến lược trong cục diện khu vực và thế giới, khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc, lực lượng vũ trang đủ khả năng răn đe để ngăn chặn chiến tranh, giữ vững hòa bình, sẵn sàng đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược. Kết hợp cả đấu tranh ngoại giao, tăng cường thực lực bên trong, kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với đối ngoại, triệt tiêu các nhân tố bên trong có khả năng gây mầm mống cho bên ngoài lợi dụng chống phá và xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển bền vững đất nước. Ra sức tranh thủ mọi lực lượng tiến bộ trên thế giới, theo phương châm “thêm bạn bớt thù”. Không để chúng ta bị “kẹt” trong quan hệ giữa các nước lớn, nhất là khi có cạnh tranh quyết liệt; không để bị hiểu lầm liên kết với nước này chống nước khác. Thực hiện nền quốc phòng hòa bình tự vệ theo nguyên tắc “bốn không”: Không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này chống nước khác, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ nước ta, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực.

Một số bài học kinh nghiệm chủ yếu

Thứ nhất, phải luôn ý thức sâu sắc rằng, vấn đề giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong đường lối đổi mới dựa trên nền tảng học thuyết  Mác - Lê-nin có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là bài học sâu sắc được rút ra từ chính thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta qua 37 năm đổi mới; cũng là bài học xương máu từ thất bại của các đảng cộng sản cầm quyền tại các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu trong những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, khi chệch hướng về đường lối chính trị. Chính sự phát triển phức tạp và khó khăn của thực tiễn cách mạng cho thấy, vai trò và ý nghĩa to lớn của một lý luận khoa học và cách mạng dẫn đường. Ở đâu và lúc nào, công tác lý luận không được coi trọng đúng mức thì ở đó và khi đó, sẽ xảy ra tình trạng lạc hậu về lý luận, không đủ sức dẫn dắt thực tiễn, trước sau sẽ dẫn đến thất bại, đổ vỡ. Thực tiễn xác nhận, chỉ có xuất phát từ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tăng cường thực hành dân chủ, kịp thời và thường xuyên tổng kết kinh nghiệm thực tiễn cách mạng mới là con đường duy nhất đúng để phát triển và bảo vệ đường lối đổi mới, tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng không ngừng tiến lên.  

Diện mạo Thành phố Hồ Chí Minh sau 37 năm đổi mới_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn 

Thứ hai, tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, bổ sung, hoàn thiện và phát triển đường lối đổi mới của Đảng trong bối cảnh mới. Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống những di sản tư tưởng, lý luận của các nhà kinh điển mác-xítcần khẳng định rõ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời cũng phải xác định, làm rõ những luận điểm mới cần được phát triển, nhận thức lại hay bổ sung thêm vào đường lối đổi mới. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống lý luận, cung cấp những luận cứ khoa học, những dự báo cho quá trình phát triển đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Phát hiện những mâu thuẫn, những vấn đề thực tiễn đang đặt ra, phân tích, chỉ rõ những xu hướng, tìm kiếm những bước đi phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam; đồng thời, tiếp thu những thành tựu lý luận mới, tìm tòi những cơ sở lý luận để giải thích một cách khoa học những vấn đề thực tiễn nóng bỏng đang đặt ra trong giai đoạn phát triển tiếp theo. Đặc biệt là, trong quá trình bổ sung, phát triển đường lối đổi mới phải có tư duy phê phán và sáng tạo, dám đổi mới vượt qua những rào cản của tư duy lối mòn, cũ kỹ, cản trở sự phát triển của lý luận và thực tiễn.

Rõ ràng, đổi mới tư duy và lý luận là nhu cầu cấp thiết, nhưng phải trên cơ sở những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Như C. Mác, Ph. Ăng-ghen đã chỉ rõ, cần tránh hai thái cực: hoặc đổi mới nhưng không kiên định lập trường, đổi mới vô nguyên tắc hoặc biến học thuyết của các ông trở thành giáo điều, tín điều nhất thành bất biến, coi đó chỉ là những chân lý có sẵn.  

Thứ ba, tiếp tục phát huy những kinh nghiệm quý báu mà Đảng ta đã đúc kết qua thực tiễn hơn 93 năm lãnh đạo cách mạng. Đó là: 1- Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau; 2- Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng; 3- Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: Đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công; 4- Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng kiên định ý chí độc lập, tự chủ, nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại; 5- Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề ngày càng nặng nề, phức tạp mà thực tiễn cách mạng, sự phát triển của đất nước đang đặt ra trong bối cảnh mới.

Thứ tư, kiên quyết đấu tranh, vạch trần và bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về mô hình chủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta. Trong cuộc đấu tranh này, chúng ta cần cảnh giác, không rơi vào giáo điều, nhưng cũng cần phải tỉnh táo, chống lại những mưu toan nhằm xét lại, bác bỏ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những nội dung cốt lõi trong đường lối đổi mới của Đảng ta. Ngày nay, trong khi tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới cả bề rộng lẫn chiều sâu, với tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường, những vấn đề mới đặt ra ngày càng nhiều, đòi hỏi cần phải làm sáng tỏ, thì việc tổng kết thực tiễn, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận càng trở nên cấp bách. Mặt khác, các thế lực thù địch vẫn ráo riết thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” hòng làm chúng ta đi chệch hướng, mưu toan thay đổi chế độ chính trị ở nước ta, thì việc đấu tranh bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối đổi mới của Đảng càng trở thành nhiệm vụ hàng đầu và thường xuyên trong công tác chính trị, tư tưởng và lý luận của Đảng ta.

Thứ năm, bảo đảm tính độc lập, tự chủ, sáng tạo trong xây dựng, bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối đổi mới. Kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng nước ta của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy, cần giữ vững được tính độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc vận dụng, bổ sung, phát triển đường lối, trên cơ sở tiếp thu một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán những thành quả văn minh của nhân loại, những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học vào thực tiễn đất nước thì cách mạng thu được thắng lợi. Đây cũng là vấn đề quan trọng hàng đầu trong việc giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, để “tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, niềm tin, khát vọng cống hiến và xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc; góp phần thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(9)./.

--------------------

MƠ HỒ, ẢO TƯỞNG VỚI CÁI GỌI LÀ THÀNH LẬP TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ ĐỂ CHỐNG CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN, PHAN SƠN TÙNG BỊ TAND HÀ NỘI TUYÊN PHẠT 6 NĂM TÙ GIAM.

 

Vì một giấc mơ hão huyền là lật đổ chế độ này để thay một chế độ đa đảng như các thế lực thù địch từng rêu rao tuyên truyền, chống phá đất nước, kết cục Phan Sơn Tùng đã nhận bản án 6 năm tù giam.

Theo cáo trạng, ngày 1/3/2022, Cơ quan An ninh điều tra Công an Hà Nội nhận được công văn, tài liệu kèm theo của Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an) đề nghị xác minh, xử lý vi phạm trong hoạt động sử dụng không gian mạng internet liên quan đến đối tượng Phan Sơn Tùng.

Cụ thể, Tùng có hình ảnh, lời nói, phát biểu trong một số video, clip phát tán trên Facebook, Youtube với nội dung tuyên truyền, đả kích, nói xấu chế độ, xuyên tạc sai sự thật về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam; Công kích lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Trong đó có 11 video được phát tán trên kênh Youtube "Phan Sơn Tùng", 1 video phát tán trên Facebook "Vì Việt Nam thịnh vượng".

Ngoài ra, từ ngày 5-31/8/2022, Phan Sơn Tùng đăng tải qua kênh "Vì Việt Nam thịnh vượng" 10 video, clip với nội dung kêu gọi thành lập tổ chức bất hợp pháp với tên gọi "Đảng Việt Nam thịnh vượng"... thu hút sự quan tâm của dư luận.

Các video, clip trên được Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thu thập. Bản thân Phan Sơn Tùng cũng xác nhận đã truy cập vào kênh Youtube của mình và tự tải xuống 22 video nêu trên.

Kết luận giám định của Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội với 12 video, clip thể hiện, có 15 nội dung thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; 6 nội dung tuyên truyền gây chiến tranh tâm lý (trong 3 video); 17 nội dung xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín tổ chức, danh dự và nhân phẩm cá nhân (4 video)...

Tùng khai, từ năm 2021, tạo lập và quản trị 3 kênh Youtube, một trang Facebook. Các kênh trực tuyến này thu hút hơn 148 triệu lượt xem, và trên 530.000 người theo dõi...

Cáo trạng xác định, quá trình quản lý các tài khoản này, Tùng đã làm và phát tán 16 video, clip có nội dung vi phạm pháp luật lên mạng internet. Các video này chủ yếu để tuyên truyền nhằm chống Nhà nước, chống Đảng, chống chính quyền...

Căn cứ vào kết quả điều tra và kết luận cáo trạng của VKS Nhân dân HN, ngày 03/7/2023, TAND Hà Nội tuyên phạt Phan Sơn Tùng 6 năm tù về tội "làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước".

Một kết cục báo trước cho bất kỳ ai, kẻ nào còn mơ hồ sa vào con đường lật đổ chính quyền nhân dân...

Gìn giữ, phát huy vai trò khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng PGS, TS ĐẶNG QUANG ĐỊNH

 TCCS - Đại đoàn kết toàn dân tộc là cơ sở, nền tảng quan trọng trong phát huy toàn diện sức mạnh trí tuệ, sự sáng tạo, ý chí tự lực, tự cường, lòng tự tôn, tự hào dân tộc, là động lực lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Gìn giữ và phát huy giá trị truyền thống đại đoàn kết vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng là nhiệm vụ lớn lao và vinh quang của toàn thể cán bộ, nhân dân, của toàn hệ thống chính trị.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cùng tham gia điệu xoè với đồng bào các dân tộc huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tại Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc_Ảnh: TTXVN

Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

“Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, là cội nguồn sức mạnh để dân tộc ta mãi mãi trường tồn và phát triển, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là đường lối chiến lược, có ý nghĩa sống còn của cách mạng Việt Nam”(1). Hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã khẳng định, khi đất nước đứng trước tình thế, hoàn cảnh gian lao, thử thách mang tính bước ngoặt, “nếu biết khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, phát huy sức mạnh vĩ đại của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thì con thuyền cách mạng Việt Nam sẽ vượt qua mọi thác ghềnh, phong ba bão táp, để cập bến bờ vinh quang”(2). Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc là chủ trương xuyên suốt, thống nhất của Đảng ta, được thể hiện trực tiếp trong nội dung nhiều văn kiện, nghị quyết, quyết định, chỉ thị qua các thời kỳ cách mạng. Đến nay, khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố vững chắc, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Trong giai đoạn mới, Đảng ta xác định: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(3). Nhìn chung, việc phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc được biểu hiện trực tiếp ở việc nâng cao vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, cụ thể:

Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Theo đó, yếu tố “quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc là tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”(4). Thời gian qua, tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị được đổi mới, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; chú trọng hoàn thiện mô hình tổ chức của hệ thống chính trị, khắc phục sự chồng chéo, bất hợp lý nhằm hoàn thiện thể chế, bảo đảm đồng bộ, liên thông giữa quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về tổ chức bộ máy; phương thức lãnh đạo, năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương được đổi mới.

Mặt khác, Đảng tiến hành kiểm tra đối với các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và các tổ chức chủ yếu khác trong hệ thống chính trị; phát hiện, xử lý kịp thời tình trạng tham ô, tham nhũng, thoái hóa, biến chất, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ; bảo đảm làm trong sạch Đảng và hệ thống chính trị, giữ vững niềm tin trong nhân dân. Nâng cao chất lượng, hiệu quả, hình thành nền nếp trong triển khai các quy định về tổ chức và hoạt động của Đảng, như Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng”.

 Hai là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc phát huy tốt sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước”(5); đồng thời, nhấn mạnh mọi chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân và “lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(6). Mặt khác, Nhà nước phải không ngừng “cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”(7) và luôn vì mục tiêu “phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn(8).

Thời gian qua, bộ máy nhà nước được xây dựng theo hướng ngày càng tinh gọn, trong sạch, vững mạnh. Mặt khác, cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 tập trung vào sáu nội dung cơ bản, đó là: cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; cải cách chế độ công vụ; cải cách tài chính công và xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số.

Đến nay, nhiệm vụ xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số được chú trọng, từng bước vận hành hiệu quả các trung tâm hành chính công nhằm đáp ứng yêu cầu của công dân và xã hội; đồng thời, tiếp tục triển khai hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp giải quyết thủ tục hành chính,... từ đó, không ngừng củng cố lòng tin trong nhân dân. Bên cạnh đó, tập trung nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế phân cấp, bảo đảm thống nhất, thông suốt trong lãnh đạo, quản lý, điều hành cũng như phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm trong quản lý kinh tế - xã hội từ Trung ương đến địa phương; phát huy tính chủ động, tích cực, tự chịu trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương, bảo đảm phục vụ tốt nhất người dân, doanh nghiệp. 

 Ba là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội không ngừng đổi mới, sáng tạo, đa dạng hóa phương thức vận động quần chúng, coi trọng các phong trào thực tiễn, hạn chế việc ra nhiều nghị quyết, chỉ thị, chỉ đạo điều hành chung chung; phương thức vận động các giai tầng trong xã hội, đặc biệt là đối với đồng bào theo tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số và người Việt Nam ở nước ngoài được đổi mới; chủ động nghiên cứu, xây dựng, đề xuất chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài để thu hút, huy động mọi nguồn lực cho phát triển.

Hiện nay, hoạt động giám sát và phản biện xã hội của người dân được đẩy mạnh; đồng thời, chú trọng kết hợp chặt chẽ và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước, giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực, không hiệu quả. Mặt khác, cơ chế hoạt động, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từng bước được hoàn thiện; có sự hiệp thương, phối hợp thống nhất hành động giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên để phát động, triển khai sâu rộng và nâng cao chất lượng các phong trào thi đua, vận động từng tổ chức, tầng lớp nhân dân chăm lo, bảo vệ lợi ích hợp pháp chính đáng của đoàn viên, hội viên, tạo nên sự lan tỏa và tạo dựng niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa trên tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng(9).

Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII đã có sự tổng kết, đánh giá khách quan, khoa học về những kết quả, thành tích đã đạt được cùng những hạn chế, khuyết điểm và bài học kinh nghiệm sau 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Hội nghị Trung ương 7 khóa IX, “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, cụ thể: 1- Công tác xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã được Trung ương, Quốc hội, Chính phủ quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện thông qua các nghị quyết, chỉ thị, luật định, chiến lược hành động và đạt được nhiều kết quả tích cực; trình độ nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về đại đoàn kết toàn dân tộc được nâng lên; sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được phát huy trên mọi lĩnh vực,...; 2- Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn những khó khăn, thách thức cần được giải quyết triệt để, như tình trạng phân hóa giàu nghèo, di cư trái phép; tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp; tỷ lệ cán bộ là người đồng bào dân tộc thiểu số trong chính quyền còn khá thấp; hoạt động chống phá, gây chia rẽ của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, hiện đại, tác động xấu đến mối quan hệ gắn bó giữa các dân tộc; việc cụ thể hóa trong thực tiễn chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở một số lĩnh vực, địa bàn còn hạn chế, hiệu quả chưa cao,... Từ đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra các yêu cầu nhiệm vụ, giải pháp trong tình hình mới, như khẩn trương, nghiêm túc xây dựng, triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, chính sách, đồng thời giữ vững vai trò tiên phong, hạt nhân lãnh đạo của Đảng; không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước trong xây dựng và thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc; tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng theo hướng sáng tạo, thực sự đại diện cho quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, phục vụ công cuộc phát triển đất nước(10),...; thống nhất ban hành Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”.

Giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, văn hóa, bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc, nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vươn lên_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Về phát huy vai trò nòng cốt, quyết định của quần chúng nhân dân trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Thực tiễn cho thấy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, xác định mục tiêu hạnh phúc, ấm no của nhân dân là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa trên quan điểm xây dựng “các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam(11). Thời gian tới, cần tập trung nghiên cứu, điều chỉnh một số nội dung, giải pháp nhằm nâng cao vai trò của quần chúng nhân dân trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cụ thể:

Một là, xác định rõ hơn vị trí, vai trò, bản chất của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay (giai cấp sản xuất của cải vật chất cơ bản cho xã hội, nơi tập hợp trí tuệ, ý chí giải phóng toàn thể dân tộc, đất nước mỗi khi bị áp bức; giai cấp tiên tiến, đi đầu trong sự nghiệp phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc). Mặt khác, phát huy vai trò của giai cấp nông dân trong bối cảnh chuyển đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh hay tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu hiện nay. Đặc biệt, không ngừng nỗ lực xây dựng chính sách nhằm giải quyết tốt lợi ích của nhân dân trong nhiều vấn đề, như thu hồi đất sản xuất, đầu tư nguồn lực cho nông nghiệp, giải quyết lao động; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, nông thôn sinh thái, đô thị hiện đại,...

Hai là, phát huy vai trò, năng lực của đội ngũ trí thức; tập trung đầu tư giáo dục để hình thành đội ngũ trí thức đủ tâm, đủ tầm, có bản lĩnh,... góp phần thúc đẩy tinh thần đổi mới, sáng tạo, tạo chuyển biến tích cực trong tư duy phát triển và quản trị quốc gia. Cần ban hành các nghị quyết, chỉ thị, quyết định mới về chế độ, chính sách hỗ trợ, đãi ngộ nhằm thu hút, phát huy vai trò đội ngũ trí thức trong bối cảnh mới; đẩy mạnh đầu tư phát triển khoa học - công nghệ hiện đại, phục vụ đổi mới sáng tạo. Phát huy vai trò tư vấn, phản biện, tham mưu chủ trương, chính sách của đội ngũ trí thức.

Ba là, chú trọng phát triển đội ngũ doanh nhân vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu, nâng cao vị thế của Việt Nam theo tinh thần xây dựng “đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc, có chuẩn mực văn hóa, đạo đức tiến bộ và trình độ quản trị, kinh doanh giỏi”(12). Xây dựng Chiến lược quốc gia phát triển đội ngũ doanh nhân đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tạo hành lang pháp lý và môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, an toàn để doanh nhân phát triển(13).

Bốn là, tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, văn hóa, bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc, nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vươn lên; tạo mọi điều kiện để mỗi cá nhân phát triển lành mạnh, toàn diện, hài hòa cả về trí tuệ, thể chất và giá trị thẩm mỹ,... Chăm lo xây dựng, bảo vệ quyền lợi và phát huy vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại mới. Bên cạnh đó, coi trọng, ghi nhớ công lao, đóng góp của các thế hệ cán bộ lão thành cách mạng, cựu chiến binh, cán bộ hưu trí, người cao tuổi trong xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Phát huy vai trò của cựu chiến binh trong giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tham gia xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tích cực giúp nhau làm kinh tế, cải thiện, nâng cao đời sống, làm giàu hợp pháp, góp phần xây dựng, phát triển đất nước(14). Mặt khác, tích cực tiếp thu, phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, học tập,... của người cao tuổi trong xã hội, cộng đồng và gia đình.

Năm là, bảo đảm sự bình đẳng, công bằng giữa các dân tộc, kiên định mục tiêu đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển. Quan tâm tới tính đặc thù của từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc; phòng, chống tư tưởng kỳ thị dân tộc, dân tộc cực đoan, dân tộc hẹp hòi; nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tiếp tục vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước.

Sáu là, khơi dậy mọi tiềm năng, sức sáng tạo của mỗi người dân Việt Nam góp phần để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Bên cạnh đó, tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các chính sách nhằm xác lập địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh tế và đời sống, hòa nhập với xã hội nước sở tại cho người Việt Nam ở nước ngoài; nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự trọng, tự tôn dân tộc; động viên đồng bào hướng về đất nước. Đẩy mạnh vận động người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là thế hệ trẻ, gắn bó với quê hương, trở thành cầu nối giữa Việt Nam với các nước(15).

Những giải pháp, nhiệm vụ để phát huy hơn nữa vai trò khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm xây dựng đất nước ngày càng giàu, mạnh, văn minh

Thứ nhất, chủ động, tích cực đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, quán triệt sâu rộng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, trách nhiệm và hành động của cơ quan, tổ chức, đơn vị (nhất là cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp, người đứng đầu, đảng viên, cán bộ, công chức,...). Nâng cao hiệu quả và tiếp tục đổi mới, chú trọng đầu tư nhiều hơn nữa cho công tác dân vận (về con người, nguồn lực, phương tiện,...) để sẵn sàng “đi trước một bước”, làm cho nhân dân hiểu, nhân dân tin, nhân dân ủng hộ theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để ý Đảng luôn hợp lòng dân.

Bên cạnh đó, thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo đảm an sinh, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân. Đa dạng hóa các hình thức vận động quần chúng, tổ chức thực hiện sâu rộng, hiệu quả phong trào thi đua “dân vận khéo”; nhân rộng những mô hình dân vận điển hình, hiệu quả nhằm lan tỏa những giá trị tốt đẹp trong toàn xã hội. Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật ngay tại cơ sở kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, nhất là những vấn đề bức xúc xã hội nổi cộm, các vụ việc phức tạp kéo dài, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Thực hiện tốt công tác tiếp dân, tăng cường đối thoại, giải quyết thực chất, dứt điểm các vụ việc phức tạp; đồng thời, cần xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”.

Thứ hai, phát huy tiềm năng, sức mạnh của nhân tố con người, khơi dậy khát vọng, tinh thần và ý chí phát triển, lòng yêu nước, niềm tự hào, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận toàn dân tộc. Chú trọng phát huy giá trị văn hóa, tính tích cực chính trị, năng lực lao động, cống hiến, đổi mới sáng tạo của con người Việt Nam; nâng cao ý chí tự lực, tự cường trong mỗi người dân trước vận mệnh và tương lai của đất nước. Coi trọng việc phát huy động lực, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên cho các lĩnh vực then chốt; tập trung nâng cao, tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục - đào tạo, đẩy mạnh chuyển giao ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; xây dựng chính sách mới có tính đột phá hơn để thu hút, sử dụng, trọng dụng, đãi ngộ người tài....

Thứ ba, thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả lĩnh vực của đời sống, từ kinh tế - xã hội đến chính trị, văn hóa,...; xây dựng hình thức thích hợp để nhân dân tham gia ý kiến; tổ chức chu đáo, thiết thực việc lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân, bảo đảm để nhân dân được thẳng thắn bày tỏ ý kiến đóng góp; khuyến khích trao đổi, tranh luận với tinh thần xây dựng về những vấn đề có ý kiến khác nhau. Giải quyết tốt nhiệm vụ kiểm soát trong thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”... Đồng thời, cần khắc phục mọi biểu hiện “vi phạm dân chủ”, “coi nhẹ dân chủ” hoặc “dân chủ hình thức”; phát huy dân chủ, đề cao pháp luật, kỷ luật, kỷ cương trong toàn xã hội; tăng cường giám sát, tổng kết thực hiện nghị quyết, chỉ thị.

Thứ tư, giải quyết hài hòa, thống nhất về lợi ích cơ bản, chủ yếu giữa các giai cấp, tầng lớp, giữa các vùng, miền, giữa các dân tộc, tôn giáo nhằm tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong toàn xã hội. Lợi ích đó phải được thể hiện qua mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chú trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Theo đó, trong mọi quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phải lấy lợi ích của nhân dân làm cơ sở, cần đem “tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” và phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Thứ năm, đấu tranh chống các âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị dùng mọi thủ đoạn thâm độc hòng thực hiện âm mưu “chia để trị”; chúng tìm mọi cách chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng những thủ đoạn, chiêu bài tinh vi, thâm độc hòng phá hoại đất nước ta từ bên trong. Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên kích động nhân dân, thổi phồng, khuếch đại các vấn đề “nhạy cảm” trong xã hội; lợi dụng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, những yếu kém trong quản lý của các cấp chính quyền ở một số nơi; thực hiện những chiêu trò đánh lạc hướng dư luận,... hòng khiến người dân từ nghi ngờ, dẫn đến mất lòng tin vào Đảng, chế độ, làm suy giảm tinh thần cách mạng của nhân dân. Do đó, cần đặc biệt chú trọng, nâng cao tinh thần cảnh giác, trách nhiệm công dân, sự đồng thuận xã hội, ý thức, trách nhiệm cộng đồng, tự lực, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chống mọi biểu hiện tư tưởng hẹp hòi, cục bộ, chủ nghĩa cá nhân,... để không ngừng củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc./.

----------------------------


Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ đối với cán bộ, đảng viên học tập, làm việc ở nước ngoài hiện nay

 TCCS - Bảo vệ chính trị nội bộ đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên học tập, làm việc ở nước ngoài là công việc hệ trọng của Đảng ta, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của Đảng, của chế độ và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Những năm qua, công tác bảo vệ chính trị nội bộ đối với cán bộ, đảng viên học tập, làm việc ở nước ngoài đạt được một số kết quả quan trọng; tuy nhiên, trên thực tiễn còn bộc lộ không ít khó khăn, thách thức, cần có giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này thời gian tới.

Những kết quả đạt được

Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế của Đảng, Nhà nước ta, đội ngũ cán bộ, đảng viên ra nước ngoài học tập, công tác ngày càng tăng cả về số lượng và lĩnh vực. Số lượng cán bộ, đảng viên ra nước ngoài ngày càng đông và đa dạng về thành phần, trong đó, tập trung vào hai đối tượng chính là đảng viên làm việc trong hệ thống chính trị (các cơ quan đảng, ban, bộ, ngành, địa phương) được cử đi công tác, tham dự hội nghị, hội thảo…; đảng viên ra nước ngoài vì việc riêng (như đi du lịch, học tập, lao động, thăm thân, chữa bệnh…). Nhìn chung, số cán bộ, đảng viên được cử đi học tập, làm việc ở nước ngoài luôn giữ vững lập trường chính trị, tư tưởng, thực hiện tốt các quy định, Điều lệ Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Việt Nam, pháp luật của nước sở tại, có nhiều đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia, vùng lãnh thổ, quảng bá văn hóa, hình ảnh tốt đẹp của Việt Nam với bạn bè quốc tế.

Công tác phổ biến, quán triệt nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên học tập, công tác ở nước ngoài về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm thực hiện (Ảnh: Đảng ủy tại Nhật Bản họp mở rộng)_Ảnh: Tư liệu

Thời gian qua, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị đã tiến hành triển khai đồng bộ, thường xuyên công tác bảo vệ chính trị nội bộ đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên học tập, làm việc ở nước ngoài và đạt được một số kết quả quan trọng.

Thứ nhất, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ chính trị nội bộ và quản lý cán bộ, đảng viên được thực hiện tương đối đồng bộ, đáp ứng yêu cầu đặt ra trong tình hình mới. Trên cơ sở Nghị quyết số 04/NQ-TW, ngày 30-10-2016, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” và Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị các cấp đẩy mạnh công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới bằng các chỉ thị, nghị quyết, như: Kết luận số 72-KL/TW, ngày 19-5-2020, của Bộ Chính trị, về “Tiếp tục tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay”; Quy định số 58-QĐ/TW, của Bộ Chính trị, ngày 8-2-2022, về “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng”; Quy định số 86-QĐ/TW, của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII, ngày 28-10-2022, về “Nhiệm vụ của đảng viên và công tác quản lý đảng viên ở nước ngoài”; Chỉ thị số 24-CT/TW, của Bộ Chính trị, ngày 13-7-2023, về “Bảo đảm vững chắc an ninh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”... Việc ban hành, thực hiện các văn bản chỉ đạo trên đã tiếp tục cụ thể hóa Cương lĩnh, nghị quyết của Đảng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, trước hết là của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, trong đó có bảo vệ chính trị nội bộ đối với cán bộ, đảng viên đang học tập, công tác ở nước ngoài.

Thứ hai, công tác phổ biến, quán triệt nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên học tập, công tác ở nước ngoài về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm thực hiện. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị thường xuyên tổ chức các hội nghị nghiên cứu, quán triệt, triển khai các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, lồng ghép các nội dung về bảo vệ chính trị nội bộ trong các hội nghị tập huấn; tích cực mở các đợt sinh hoạt tư tưởng chính trị sâu rộng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. 100% số cán bộ, đảng viên trước khi ra nước ngoài học tập, công tác đều được phổ biến, quán triệt các quy định trong quan hệ, tiếp xúc với người nước ngoài, qua đó góp phần nâng cao ý thức cảnh giác, tự bảo vệ, sức đề kháng trước các âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch.

Thứ ba, công tác nắm tình hình chính trị nội bộ được thực hiện thường xuyên, có hiệu quả. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị định kỳ tổ chức gặp gỡ, trao đổi, nắm tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên; các đảng viên trong thời gian ở nước ngoài đều được bố trí sinh hoạt đảng, quản lý và giao nhiệm vụ cụ thể. Qua đó, chủ động nắm bắt và phản ánh kịp thời với các cơ quan chức năng về tình hình chính trị nội bộ, đồng thời nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh với các âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch.

Thứ tư, công tác thẩm tra, xác minh, thẩm định tiêu chuẩn chính trị, chế độ thông tin, báo cáo của cán bộ, đảng viên học tập, công tác ở nước ngoài được thực hiện chặt chẽ, đúng quy định. Công tác phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ được tiến hành thường xuyên, hiệu quả. Cán bộ, đảng viên đều được xem xét kỹ lưỡng trước khi đi học tập, công tác nước ngoài và được cấp ủy có thẩm quyền cho phép, sau khi kết thúc học tập, công tác phải báo cáo đầy đủ các nội dung theo quy định. Quá trình học tập, công tác, làm việc ở nước ngoài, các cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên giữ mối quan hệ phối hợp với các cơ quan liên quan trong tổ chức các hoạt động nắm tình hình, chủ động xây dựng các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với các âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch.

Tuy nhiên, công tác bảo vệ chính trị nội bộ đối với cán bộ, đảng viên học tập, làm việc ở nước ngoài vẫn còn bộc lộ không ít khó khăn, bất cập, như việc phổ biến, quán triệt các quy định về bảo vệ chính trị nội bộ đối với số đảng viên sinh hoạt tại các chi bộ ngoài cơ quan đại diện khó triển khai, thiếu quy chế, biện pháp cụ thể. Hệ thống văn bản về công tác bảo vệ chính trị nội bộ hiện nay chưa cụ thể hóa các quy định đối với cán bộ, đảng viên học tập, công tác ở nước ngoài. Việc bồi dưỡng kiến thức về bảo vệ chính trị nội bộ cho cán bộ, đảng viên khi ra nước ngoài của một số cấp ủy thực hiện chưa nghiêm. Kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn của cán bộ làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ chưa đáp ứng yêu cầu; điều kiện và phương tiện đấu tranh chống hoạt động móc nối, lôi kéo của cán bộ, đảng viên đối với các thế lực thù địch còn hạn chế.

Một số địa bàn hiện nay chưa quan tâm đúng mức, thậm chí buông lỏng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, các thế lực thù địch lợi dụng đẩy mạnh móc nối, mua chuộc, lôi kéo, tác động vào lập trường chính trị, tư tưởng, khống chế với các thủ đoạn tinh vi… Do chịu tác động của nhiều yếu tố, như điều kiện, môi trường sinh sống, làm việc, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật nước sở tại, đặc biệt là các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, khiến tình hình chính trị nội bộ trong cán bộ, đảng viên học tập, làm việc ở nước ngoài nảy sinh một số vấn đề phức tạp, gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong quá trình nhận diện, đấu tranh, xử lý...

Thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới

 Thời gian tới, quá trình hội nhập quốc tế sẽ diễn ra ngày càng mạnh mẽ, toàn diện, sâu rộng, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, thì đây cũng là điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng đẩy mạnh hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta, nhất là tìm cách tác động tới đối tượng là đội ngũ cán bộ, đảng viên học tập, công tác, lao động ở nước ngoài. Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên ra nước ngoài học tập, công tác, tham quan, du lịch…; quản lý chặt chẽ hoạt động hợp tác quốc tế; thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và có biện pháp ngăn chặn ý đồ tác động của các thế lực thù địch thông qua các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, gây ảnh hưởng đến vị thế, uy tín, vai trò của Đảng.

Chú trọng tổ chức tập huấn, học tập nắm vững nội quy, quy định về bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý cán bộ, đảng viên đi nước ngoài lao động, học tập_Ảnh: Tư liệu

Để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ đối với cán bộ, đảng viên học tập, công tác ở nước ngoài, thời gian tới, cần tập trung thực hiện có hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

Một là, tập trung rà soát, thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định, quy chế hiện có; tham mưu xây dựng, ban hành các quy định về bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý cán bộ, đảng viên ra nước ngoài công tác, học tập. Trên cơ sở các quy định của Đảng về bảo vệ chính trị nội bộ, như Chỉ thị số 39-CT/TW, ngày 18-8-2014, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay”; Quy định số 58-QĐ/TW, ngày 8-2-2022..., các cơ quan, ban, ngành tập trung rà soát, nghiên cứu, tham mưu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư sửa đổi, bổ sung, ban hành các quy định về quản lý cán bộ, đảng viên đi công tác, học tập, lao động ở nước ngoài, kịp thời phát hiện, khắc phục những vướng mắc, hạn chế nảy sinh trong thực tiễn. Trong đó, cần cụ thể hóa các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước có liên quan đến hợp tác quốc tế, giáo dục - đào tạo phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay. Hoàn thiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ của mô hình tổ chức đảng ở ngoài nước; trách nhiệm của Đảng ủy Bộ Ngoại giao (Quyết định số 209-QĐ/TW, ngày 26-11-2019, của Bộ Chính trị, về hợp nhất Đảng bộ ngoài nước với Đảng bộ Bộ Ngoại giao) trong bảo vệ chính trị nội bộ đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên công tác, học tập ở nước ngoài; quy định trong quan hệ, tiếp xúc với người nước ngoài; thực hiện kỷ luật phát ngôn; chấp hành kỷ luật đảng, nhiệm vụ đảng viên ở nước ngoài.

Hai là, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp, nhất là người đứng đầu cần nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn với công tác bảo vệ, quản lý cán bộ, đảng viên học tập, công tác ở nước ngoài trong tình hình hiện nay. Phải xác định đây là một công việc hệ trọng, có ý nghĩa sống còn, liên quan trực tiếp đến uy tín, vị thế của Đảng, Nhà nước và sinh mệnh chính trị của cán bộ, đảng viên; nhiệm vụ chính trị hết sức quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị quản lý cán bộ, đảng viên. Trên cơ sở đó, phải hết sức coi trọng công tác quán triệt, phổ biến các quy định hiện hành về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhất là Chỉ thị số 39-CT/TW, ngày 18-8-2014; Kết luận số 72-KL/TW, ngày 19-5-2020; Quy định số 58-QĐ/TW, ngày 8-2-2022; Quy định số 86-QĐ/TW, ngày 28-10-2022… Tăng cường công tác thông tin đối ngoại về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là về hội nhập quốc tế; khẳng định Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; tích cực đấu tranh với luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Đồng thời, phải thường xuyên quan tâm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục cán bộ, đảng viên chấp hành nghiêm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam, pháp luật nước sở tại khi đi công tác, học tập ở nước ngoài. Nâng cao ý thức trách nhiệm, cảnh giác trước các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nhất là trong việc bảo vệ bí mật nhà nước, quan hệ, tiếp xúc với người nước ngoài; thực hiện nghiêm chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên; chế độ thông tin, báo cáo, sinh hoạt đảng.

Ba là, thực hiện hiệu quả, thực chất các cơ chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ hiện có, đặc biệt là Quyết định số 140-QĐ/TW, ngày 8-8-2018, của Ban Bí thư, về “Quy chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ” giữa Ban Tổ chức Trung ương với Ủy ban kiểm tra Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, Ban Cán sự đảng Bộ Ngoại giao, Ban Cán sự đảng Thanh tra Chính phủ. Đẩy mạnh mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ với các cơ quan, ban, ngành, đặc biệt là với lực lượng công an nhân dân các cấp trong bảo vệ cán bộ, đảng viên ra nước ngoài công tác, học tập nhằm kịp thời thẩm tra, xác minh, thẩm định tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, đảng viên; chủ động nắm bắt thông tin về âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch và tội phạm khác hoạt động thâm nhập, cài cắm nội gián, tác động, chuyển hóa, phá hoại nội bộ ta; thông tin về cán bộ, đảng viên có hành vi nói, viết, phát tán tài liệu, trả lời phỏng vấn báo chí ngoài nước trái quy định; cung cấp, tiết lộ bí mật của Đảng, bí mật nội bộ cho nước ngoài; nhận tài trợ, quan hệ với cá nhân, tổ chức trái quy định… để phối hợp phòng ngừa, xử lý, đấu tranh hiệu quả.

Bốn là, rà soát, thẩm tra, xác minh, thẩm định chặt chẽ, kết luận tiêu chuẩn chính trị cho đối tượng cán bộ, đảng viên học tập, công tác nước ngoài theo đúng quy định. Trước khi cán bộ, đảng viên ra nước ngoài công tác, học tập, cần phải ban hành kết luận tiêu chuẩn chính trị; tiến hành thẩm tra, xác minh, kết luận rõ những nội dung chưa rõ; bảo đảm khách quan, toàn diện trong xem xét từng trường hợp, không để các trường hợp không bảo đảm tiêu chuẩn chính trị hoặc có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, vi phạm những điều đảng viên không được làm ra nước ngoài học tập, công tác. Đồng thời, tổ chức tập huấn, học tập nắm vững nội quy, quy định về bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý cán bộ, đảng viên đi nước ngoài, trang bị nhận thức cơ bản về âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch để nâng cao cảnh giác, phổ biến kinh nghiệm, kỹ năng phòng, chống các hoạt động lôi kéo, móc nối của các thế lực thù địch; thường xuyên cập nhật tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước để cán bộ, đảng viên nắm bắt, yên tâm học tập, công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Năm là, nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình chính trị nội bộ, nhất là nắm tình hình chính trị hiện nay đối với cán bộ, đảng viên công tác, học tập tại nước ngoài. Trong đó chú trọng nắm bắt diễn biến tư tưởng, tình cảm, lập trường, tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên; những mối quan hệ mới phát sinh mà cán bộ, đảng viên thường xuyên tiếp xúc, gặp gỡ; những khó khăn, vướng mắc của cán bộ, đảng viên phải đối mặt trong quá trình học tập, lao động tại nước ngoài; âm mưu, phương thức, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm móc nối, lôi kéo cán bộ, đảng viên để thu thập bí mật nhà nước và tham gia các hoạt động chống Đảng, Nhà nước Việt Nam. Trên cơ sở đó, phân tích, đánh giá, dự báo chính xác hướng hoạt động, thâm nhập nội bộ để chủ động phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả, vô hiệu hóa hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Sáu là, tăng cường công tác bồi dưỡng, nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại các cơ quan, đơn vị; bố trí cán bộ chuyên trách làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ cho Đảng ủy Bộ Ngoại giao nhằm kịp thời nắm bắt, phối hợp xử lý các vấn đề phát sinh trong thực tiễn. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện cơ chế công tác và các chế độ, chính sách phù hợp cho cán bộ chuyên trách để tạo điều kiện, động lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Bảy là, định kỳ sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm công tác bảo vệ cán bộ, đảng viên ra nước ngoài công tác, học tập để đánh giá tình hình, kết quả, hạn chế, nguyên nhân của công tác bảo vệ cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ đối ngoại, hợp tác quốc tế. Tổ chức rút kinh nghiệm, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để cán bộ, đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đối với cán bộ, đảng viên học tập, làm việc ở nước ngoài cần phải nhận thức đúng, kiên định lý tưởng cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, khả năng “tự miễn dịch”, “tự đề kháng” cao, tránh để các thế lực thù địch, phản động lôi kéo, tác động./.