Thứ Tư, 6 tháng 3, 2024

Tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân

 Tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân

Liên hệ với thực tế, với nhân dân, lắng nghe ý kiến và ủng hộ sáng kiến của nhân dân, chống quan liêu, là một vấn đề thuộc về nguyên tắc cơ bản của đảng cầm quyền. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng bao gồm cả năng lực thực hành công tác dân vận của cán bộ, đảng viên. Kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị.

Thực tiễn khẳng định, khi cấp ủy đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên thực sự nêu gương, làm tốt công tác tuyên truyền, lý giải thấu đáo, kiên trì thuyết phục để nhân dân hiểu đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tăng cường đối thoại, lắng nghe tâm tư, kịp thời giải quyết nguyện vọng hợp pháp, chính đáng liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân, sẽ phát huy mạnh mẽ sức mạnh to lớn, tạo sự đồng thuận xã hội, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị.

Độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối của cách mạng Việt Nam

     Độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt  trong đường lối của cách mạng Việt Nam 

    Việc tiếp tục xây dựng, “hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có hệ thống pháp luật hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân”đều là vì sự phát triển bền vững của đất nước, vì sự tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Việc thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa và “mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa… Đảng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ” như Tổng Bí thư nhận định là đúng đắn chứ không phải là “tạo ra sự chồng chéo, dẫm đạp lên nhau, kém hiệu quả, lãng phí” như xuyên tạc, bôi đen của các thế lực thù địch. 

    Việc “coi văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hoá đồng bộ, hài hoà với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” và “xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng” là để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, chứ không phải “bỏ quên người dân” như các thế lực thù địch bôi đen. 

    Việc “tập trung ưu tiên thực hiện thắng lợi đồng bộ các nhiệm vụ chính trị: Phát triển kinh tế – xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”; “kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” và thực hiện thành công “trường phái đối ngoại, ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”… vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân; đoàn kết, nhân ái nhưng luôn luôn kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc” đã góp phần làm cho “đất nước ta chưa bao giờ có được vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”, chứ không phải là Việt Nam đang “tụt hậu” như xuyên tạc. 

    Việc lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải chỉ là ý chí chủ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, càng không phải là sự gán ghép khiên cưỡng giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, mà chính là nắm bắt, vận dụng kinh tế thị trường phù hợp xu thế vận động khách quan trong thời đại ngày nay. Đó chính là nhằm “phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân”(8) dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước để xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội trên tinh thần lấy con người làm trung tâm, vì con người và cho con người, nhằm phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, chứ tuyệt nhiên không vì mục đích giành lấy lợi nhuận tối đa bằng mọi giá như chủ nghĩa tư bản và các nhà nước tư sản đã và đang làm…

        Vì thế, có thể khẳng định rằng, độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh và trong đường lối của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc; là để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người dân. Vì thế, nhân dân Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục kiên định với sự lựa chọn này dưới sự lãnh đạo của Đảng, bất chấp sự chống phá của các thế lực thù địch cũng như sự xuyên tạc, bôi đen của các phần tử cơ hội, phản động. Và đương nhiên, lựa chọn chủ nghĩa xã hội là lựa chọn một chế độ chính trị – xã hội với “mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xoá đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” như Tổng Bí thư khẳng định chính là lựa chọn thực hiện những ưu việt để đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho tất cả những người lao động, chứ không phải là một số ít người của giai cấp tư sản như các nước tư bản chủ nghĩa. Cuối cùng thì câu trả lời đã rõ. Những luận điệu xuyên tạc, bôi đen, bịa đặt về Đảng đều vô nghĩa. Vì rằng, những vấn đề mấu chốt nêu trong bài viết của Tổng Bí thư; những nhận định, đánh giá, khẳng định của Tổng Bí thư về Đảng không chỉ là sự thật, mà còn được thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh là đúng đắn. Sự thật chính là, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng thì Tổ quốc, giai cấp công nhân và Nhân dân đã lựa chọn Đảng làm đại biểu trung thành cho lợi ích của mình. Sự tin tưởng, đồng lòng ủng hộ, đi theo Đảng và chịu sự lãnh đạo của Đảng là không thể cãi bàn, càng không thể phủ nhận!

Đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng là để làm trong sạch Đảng và hệ thống chính trị

 Đảng không có lợi ích gì khác ngoài lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, nên chắc chắn Đảng Cộng sản Việt Nam không thể/không bao giờ “là liên minh của những người tranh giành quyền lực và quyền lợi”. Là một tập thể đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động, nên đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng không phải là đấu đá phe cánh và đương nhiên cán bộ, đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật, sa vào tham ô, tham nhũng là do suy thoái về đạo đức, lối sống chứ không phải do “sự độc quyền của Đảng” đã tạo ra những con sâu mọt, những nhóm lợi ích… như các thế lực thù địch bịa đặt, bôi đen. Hơn nữa, Đảng, Nhà nước Việt Nam đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng là để làm trong sạch Đảng và hệ thống chính trị, chứ tuyệt nhiên không phải là “thanh trừng nội bộ” và đương nhiên cuộc đấu tranh đó sẽ không bao giờ làm cho Đảng “yếu đi” hay “tan rã” như sự kích động của các phần tử cơ hội, phản động.

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới

     Đi lên chủ nghĩa xã hội là phải trải qua nhiều thời kỳ, thậm chí là những khúc quanh, khúc ngoặt, cho nên trên những chặng đường lịch sử đó, nhất là ở vào những thời điểm có tính bước ngoặt, đầy cam go, thử thách thì Đảng Cộng sản Việt Nam càng phải được chú trọng xây dựng và chỉnh đốn gắn liền với đấu tranh chống tham nhũng để tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động; để xứng đáng với vai trò tiền phong, lãnh đạo đúng như Tổng Bí thư khẳng định: “Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa

Nhận rõ bản chất xuyên tạc của lực lượng chống phá

 Có một sự thật cần phải khẳng định chắc chắn rằng, bài viết “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng” nhân dịp kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2024) của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ thêm một lần khẳng định vị trí,vai trò lãnh đạo của Đảng, mà còn khơi dậy niềm tự hào về Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân, dân tộc Việt Nam anh hùng, góp phần cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Vì thế, những luận điệu xuyên tạc, bôi đen sự thật và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đều là phản động; đều cần phải bác bỏ!

Việt Nam luôn nỗ lực cao nhất để bảo đảm và thực thi quyền con người,

     Việc Việt Nam tham gia vào hầu hết các Công ước quốc tế về quyền con người, điều đó đã chứng minh cho thấy Việt Nam luôn nỗ lực cao nhất để bảo đảm và thực thi quyền con người. Đúng thế. Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế về quyền con người, tham gia gần hết rồi. Mỗi một công ước mà Việt Nam tham gia thì định kỳ mấy năm lại phải báo cáo, rà soát xem Việt Nam tuân thủ như thế nào? Việt Nam thực hiện những công ước đó thì đạt kết quả gì?

    Thực tế, chúng ta đã có rất nhiều báo cáo về nhân quyền tại LHQ. Điều đó chứng tỏ Việt Nam không những chỉ có ý chí chính trị là tham gia Công ước quốc tế, mà còn thực thi công ước quốc tế. Báo cáo kết quả thực hiện các công ước rất nghiêm túc.

    Đặc biệt, Việt Nam là thành viên trong Hội đồng nhân quyền LHQ. Hai lần trúng cử vào Hội đồng này với số phiếu tín nhiệm gần như tuyệt đối. Như thế cho thấy, Việt Nam thật sự thể hiện sự rất tích cực là một thành viên có trách nhiệm và có thể nói là có những sáng kiến để thực hiện Công ước quốc tế về quyền con người.

Việt Nam là thành viên có trách nhiệm của Hội đồng nhân quyền LHQ

 Việt Nam là thành viên có trách nhiệm của Hội đồng nhân quyền LHQ

Tổ chức theo dõi nhân quyền HRW được thành lập năm 1988. Là tổ phi chính phủ, bị chi phối bởi sự bảo trợ, nguồn kinh phí hoạt động của nhiều nước phương Tây. HRW bị rất nhiều nước như Nga, Trung Quốc, Cuba, Srilanka, Triều Tiên, Ethiopia, Syria… phản đối vì những nội dung báo cáo của tổ chức này không đúng sự thật, can thiệp vào công việc nội bộ, làm phức tạp thêm tình hình. Ngay tại Mỹ, nhiều người cũng đã biểu tình, phản đối yêu cầu tổ chức này đóng cửa vì những báo cáo chứa đầy quan điểm thiên vị và bằng chứng sai lệch.

THẾ GIỚI VIỆT NAM: VIỆT NAM - AUSTRALIA NÂNG CẤP QUAN HỆ NÊN ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN!

     Sáng 7-3, sau lễ đón chính thức trọng thể tại Nhà Quốc hội, thủ đô Canberra với nghi thức cao nhất dành cho người đứng đầu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã có cuộc hội đàm sâu rộng với Thủ tướng Australia Anthony Albanese. Sau khi hội đàm, Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Australia Anthony Albanese đã trao đổi tuyên bố về việc nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác chiến lược toàn diện và chứng kiến lễ trao 11 văn kiện hợp tác quan trọng khác trên các lĩnh vực giữa hai nước!

Thực hiện 6 phương hướng lớn nhằm đưa hợp tác đi vào chiều sâu, hiệu quả, thực chất hơn
Tại hội đàm, trên tinh thần chân thành, tin cậy, hai nhà lãnh đạo bày tỏ hài lòng trước sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ hữu nghị và Đối tác chiến lược hai nước và nhất trí nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện, và trao đổi, nhất trí cùng phối hợp chặt chẽ để thực hiện 6 phương hướng lớn nhằm đưa hợp tác trên các lĩnh vực đi vào chiều sâu, hiệu quả, thực chất hơn, cụ thể là: 

Tin cậy chính trị, ngoại giao cao hơn, chiến lược hơn. Theo đó, hai bên nhất trí tăng cường trao đổi đoàn và tiếp xúc cấp cao; duy trì các cơ chế hợp tác song phương; triển khai hiệu quả các văn kiện ký kết và chuẩn bị xây dựng Chương trình Hành động cho giai đoạn 2024-2028; đẩy mạnh giao lưu nhân dân, tạo điều kiện cho các hội đoàn hữu nghị hai nước tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, từ thiện; tăng cường hợp tác thiết thực giữa các địa phương; đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực bình đẳng giới và bảo vệ quyền cho các nhóm dễ bị tổn thương…

Hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư bao trùm, thực chất, hiệu quả hơn, tận dụng các tiềm năng của của hai nền kinh tế có tính bổ trợ cao. Theo đó, hai bên nhất trí tạo thuận lợi cho việc mở cửa thị trường đối với các mặt hàng nông sản của nhau, hướng tới mục tiêu đa dạng hóa chuỗi cung ứng cho hai nước. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đề nghị Australia tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh, đầu tư tại Australia; hoan nghênh các doanh nghiệp Australia đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, đặc biệt là các dự án chất lượng cao, công nghệ hiện đại, là thế mạnh của Australia.

Thúc đẩy hợp tác khoa-học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh mạnh mẽ hơn. Theo đó, hai bên nhất trí triển khai hiệu quả Bản ghi nhớ trong lĩnh vực khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo; Australia hỗ trợ chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam; kêu gọi các doanh nghiệp công nghệ Australia hợp tác với các trung tâm đổi mới sáng tạo, công viên phần mềm, sản xuất chip bán dẫn tại Việt Nam.

Hợp tác văn hoá, giáo dục-đào tạo, môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu toàn diện, sâu sắc hơn. Theo đó, hai bên nhất trí tăng cường các hoạt động giao lưu văn hoá; thúc đẩy hợp tác giáo dục nghề, tăng số lượng học bổng cho sinh viên Việt Nam sang học tập tại Australia; mở thêm chi nhánh các trường đại học lớn của Australia tại Việt Nam. Thúc đẩy ngành công nghiệp sản xuất hydrogen xanh tại Việt Nam; hợp tác ứng phó với biến đổi khí hậu, hỗ trợ Việt Nam đạt mục tiêu đưa mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Giao lưu nhân dân, kết nối giữa các thế hệ rộng mở và chân thành hơn. Theo đó, ngoài các hợp tác tốt đẹp hiện nay, hai bên nhất trí thúc đẩy ký kết một thoả thuận hợp tác trong lĩnh vực du lịch, phấn đấu đưa hai nước lọt vào nhóm các thị trường du lịch hàng đầu của nhau; sớm triển khai Bản Ghi nhớ giữa hai Chính phủ về việc hỗ trợ công dân Việt Nam làm việc trong ngành nông nghiệp Australia. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đề nghị Chính phủ Australia tiếp tục tạo thuận lợi cho cộng đồng người Việt tại Australia sinh sống, lao động, học tập, thành lập các hội đoàn….

Hiểu biết, thông cảm và chia sẻ nhiều hơn về hợp tác an ninh quốc phòng. Theo đó, hai bên nhất trí triển khai hiệu quả Thỏa thuận đối tác gìn giữ hòa bình; tiếp tục hợp tác chặt chẽ trong các lĩnh vực đào tạo, huấn luyện, phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, chia sẻ thông tin, trao đổi kinh nghiệm giữa các quân, binh chủng, khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng dữ liệu quốc gia…

Ủng hộ thượng tôn pháp luật quốc tế và giải quyết tranh chấp tại Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình
Trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế, hai bên nhất trí tiếp tục ủng hộ lẫn nhau và hợp tác chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là Liên hợp quốc, ASEAN và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đánh giá cao quan điểm của Australia về ủng hộ thượng tôn pháp luật quốc tế ở khu vực và giải quyết tranh chấp tại Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982.

Sau hội đàm, hai Thủ tướng đã trao Tuyên bố chung về nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Australia.

Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Thủ tướng Australia Anthony Albanese đã chứng kiến lễ ký kết và trao 11 văn kiện hợp tác giữa lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan hai nước nhân dịp này bao gồm:
1. Bản ghi nhớ giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Australia về hợp tác trong lĩnh vực giáo dục giữa Bộ Giáo dục hai nước.

2. Bản ghi nhớ giữa Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ Công nghiệp, Khoa học và Nguồn lực Australia về việc thành lập Đối thoại cấp bộ trưởng về năng lượng và khoáng sản.

3. Bản ghi nhớ giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam với Tổ chức Nghiên cứu nông nghiệp quốc tế Australia về nghiên cứu nông nghiệp để tăng cường hợp tác nông lâm ngư nghiệp.

4. Bản ghi nhớ giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Tổ chức Nghiên cứu khoa học và công nghiệp Khối Thịnh vượng chung về hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

5. Bản ghi nhớ giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Dự trữ Australia.

6. Thỏa thuận Đối tác gìn giữ hòa bình giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Australia.

7. Bản ghi nhớ hợp tác tài chính giữa Bộ Tài chính Việt Nam và Bộ Ngân khố Australia.

8. Kế hoạch thực hiện Bản ghi nhớ giữa Chính phủ Australia và Chính phủ Việt Nam về việc hỗ trợ công dân Việt Nam làm việc trong ngành nông nghiệp Australia.

9. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia Việt Nam và Ủy ban Cạnh tranh và Người tiêu dùng Australia.

10. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam và Cơ quan Thương mại và Đầu tư Australia.

11. Thỏa thuận hợp tác về theo dõi rặng san hô giữa Viện Hải dương học Việt Nam và Viện Khoa học hàng hải Australia./.




Yêu nước ST.

Giải pháp căn cơ góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

 Giải pháp căn cơ góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

    Thực trạng và tính chất nguy hại của “bệnh lười” học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong một bộ phận cán bộ, đảng viên nêu trên đặt ra yêu cầu thường xuyên và cấp bách phải kiên quyết chống “căn bệnh” này, góp phần bảo vệ và tăng cường nền tảng tư tưởng của Đảng thêm vững chắc trong tình hình mới.

    Một là, tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

        Tiếp tục thực hiện nghiêm túc, hiệu quả nhiệm vụ, giải pháp mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã xác định: “Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Học tập, nghiên cúu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên có tư duy khoa học, có phương pháp làm việc biện chứng; có phương thức lãnh đạo và tổ chức quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội… phù hợp với quy luật khách quan. Nếu không học tập, nghiên cứu sẽ không có hiểu biết về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dễ lạc phương hướng và “mù chính trị”, thậm chí xa rời cách mạng. Học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ góp phần để cán bộ, đảng viên nâng cao bản lĩnh chính trị, vận dụng hiệu quả những tri thức lý luận vào giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra mà còn là cẩm nang để giúp mỗi cán bộ, đảng viên gần dân, hiểu dân và trọng dân, xứng đáng là người lãnh đạo gương mẫu, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

    Hai là, xây dựng chế tài, kịp thời có biện pháp xử lý mọi biểu hiện “bệnh lười” học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

        Bên cạnh thực hiện nghiêm túc quy định trong Điều lệ Đảng về trách nhiệm của đảng viên phải tích cực học tập lý luận nói chung, đòi hỏi các cơ quan, đơn vị, địa phương phải quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện phòng, chống “bệnh lười” học tập, nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Các cơ sở nghiên cứu, GD-ĐT lý luận chính trị cần có các điều khoản cụ thể, đầy đủ trong quy chế, quy định về nghiên cứu khoa học và GD-ĐT để khắc phục “bệnh lười” học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, cần có chế tài đủ mạnh và kịp thời xử lý với những biện pháp kiên quyết để chống “bệnh lười” học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh biểu hiện ở kết quả của những sản phẩm nghiên cứu như đề tài khoa học các cấp, sách chuyên khảo, tham khảo, khóa luận, luận văn, luận án…

    Ba là, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, đẩy mạnh đấu tranh phê bình và tự phê bình chống “bệnh lười” học tập, nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

        Kiểm tra, thanh tra là khâu không thể thiếu nhằm bảo đảm nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch của cấp ủy đảng và chính quyền các cấp về bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên, góp phần khắc phục “bệnh lười” học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Các cơ sở nghiên cứu, GD-ĐT lý luận chính trị càng phải chú trọng tăng cường kiểm tra, thanh tra, qua đó nhân rộng những điển hình tiên tiến, những mô hình hay, cách làm tốt trong học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đồng thời, phát hiện những biểu hiện của “căn bệnh” này để có biện pháp phòng ngừa, xử lý kịp thời.

        Cần đẩy mạnh đấu tranh phê bình và tự phê bình chống mọi biểu hiện “bệnh lười” học tập, nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tự phê bình và phê bình là để hướng tới làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhận ra những khuyết điểm, giúp nhau sửa chữa và khắc phục “bệnh lười” học tập, nghiên cứu lý luận, phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị. Trong tình hình hiện nay, để đấu tranh chống “căn bệnh” này có hiệu quả, đòi hỏi mọi cán bộ, đảng viên “mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa” như Hồ Chí Minh đã dạy.

    Bốn là, phát huy vai trò tự giác học tập và nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của cán bộ, đảng viên.

        Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời… Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần lời dạy đó của Người, thường xuyên học tập, trau dồi nâng cao trình độ lý luận và phẩm chất đạo đức cách mạng, gắn việc học lý luận với thực tiễn công việc hằng ngày. Trong học tập, nghiên cứu cần “học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của Chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm”(1), tránh giáo điều, tiếp thu lý luận một cách máy móc, kinh viện, tránh lý luận suông, không biết vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể.

        “Bệnh lười” học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay là một trong những mối đe dọa “đạo đức, văn minh” và sự tồn vong của Đảng; nó sinh ra “bệnh chủ quan” và dẫn tới suy thoái về tư tưởng chính trị, làm suy yếu nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây chính là một trong những khuyết điểm, sai lầm trong đội ngũ chiến sĩ tiên phong của Đảng. Chính vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng lúc này cần phải thấm nhuần lời dạy của V.I. Lênin: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta… Nếu chúng ta sai lầm mà gây ra sự chia rẽ thì tất cả sẽ sụp đổ”. Từ đó, phải kiên quyết chống “căn bệnh” này, thông qua tích cực học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Chống “bệnh lười” học tập, nghiên cứu là yêu cầu thường xuyên và cấp bách

 

“Bệnh lười” học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nguyên nhân sinh ra chủ quan và suy thoái về tư tưởng chính trị, dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đe dọa sự tồn vong của Đảng. Vì thế, chống “bệnh lười” học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là yêu cầu thường xuyên và cấp bách hiện nay.

Vai trò và sự đóng góp của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sỹ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

  

    Chủ tịch nước nói: “Đất nước đang rất cần những trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sỹ với tình yêu Tổ quốc nồng nàn, sự đồng cảm sâu sắc với nhân dân, khát vọng lớn lao, sẵn sàng dấn thân, hòa mình vào thực tiễn đời sống phong phú, sinh động của đất nước, đồng hành với Đảng, dân tộc trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội,” 

    Tạo môi trường thuận lợi để phát huy tốt nhất vai trò, sự đóng góp của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sỹ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng đội ngũ trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sỹ ngày càng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, nhất là đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành trong lĩnh vực then chốt, trọng yếu, lĩnh vực mới; đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước; vun trồng các tài năng văn học-nghệ thuật; khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, khát vọng và ý chí vươn lên, sẵn sàng dấn thân, cống hiến trí tuệ, tài năng, gìn giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, lan tỏa những điều lành, điều thiện; tích cực xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ.

    Đặc biệt, cần phát huy dân chủ, tôn trọng tự do tư tưởng, tự do sáng tạo, đề cao trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp; tạo mọi điều kiện tốt nhất để giải phóng tiềm năng, phát huy trí tuệ và năng lực sáng tạo của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sỹ. Có cơ chế hiệu quả để đội ngũ trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sỹ tham gia tư vấn, giám sát, phản biện, giám định xã hội, tham mưu cho Đảng, Nhà nước có những quyết sách đúng đắn, kịp thời, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong thời kỳ mới.



Hưởng ứng chiến dịch “Rung chuông vì bình đẳng giới”

     Năm nay là năm thứ 10 sự kiện “Rung chuông vì bình đẳng giới” được tổ chức trên toàn cầu, đồng thời là lần thứ 6 Việt Nam tham gia và là lần đầu tiên được tổ chức tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (ngày 6/3). là sáng kiến của Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ (UN Women), Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC), Sáng kiến Sở Giao dịch chứng khoán bền vững (SSE), Hiệp ước Toàn cầu Liên hợp quốc (UNGC) và Liên đoàn Sở Giao dịch chứng khoán thế giới (WFE).

    Sự kiện hưởng ứng ở Việt Nam do Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX), Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, UN Women, Hội đồng Doanh nhân nữ Việt Nam, thuộc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), IFC và Đại sứ quán Australia tại Việt Nam phối hợp tổ chức. “Rung chuông vì bình đẳng giới” nhằm nhấn mạnh vai trò then chốt của khu vực tư nhân trong thúc đẩy bình đẳng giới và tăng cường quyền năng kinh tế cho phụ nữ, hướng tới doanh nghiệp và xã hội phát triển bền vững.

    Năm 2024, Liên hợp quốc chọn chủ đề của Ngày Quốc tế phụ nữ là: “Đầu tư cho phụ nữ: Đẩy nhanh tốc độ phát triển”. Sự kiện năm nay kêu gọi khu vực tư nhân, đặc biệt là các công ty chứng khoán và niêm yết, đẩy mạnh đầu tư cho sự phát triển của phụ nữ và bình đẳng giới tại nơi làm việc, cộng đồng và thị trường. Sự kiện có sự tham gia của đại diện các cơ quan, tổ chức, công ty chứng khoán, công ty niêm yết trên Sàn Giao dịch chứng khoán Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận.

    Trong khuôn khổ sự kiện cũng diễn ra phiên thảo luận “Đầu tư cho phụ nữ: Từ chính sách tới thực tiễn”. Các diễn giả đã trao đổi, chia sẻ các chính sách và thực tiễn của doanh nghiệp về bình đẳng giới, về nguồn ngân sách cho các hoạt động về giới sao cho không để ai bị bỏ lại phía sau.

    Bên cạnh đó, sự kiện có một số tham luận về kinh nghiệm quốc tế về doanh nghiệp thực hành bình đẳng giới và các ưu tiên đầu tư cho bình đẳng giới“Rung chuông vì bình đẳng giới” là lời kêu gọi các bên liên quan cùng cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục chung tay xây dựng một cộng đồng doanh nghiệp lớn mạnh và một nền kinh tế bình đẳng, thịnh vượng./.

Bảo vệ biên giới phía Bắc: Cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc

44 năm đã qua (17-2-1979 – 17-2-2023), cuộc chiến đấu trên toàn tuyến biên giới phía Bắc đã khẳng định sự thật lịch sử và tính chính nghĩa của dân tộc Việt Nam, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Ngay từ cuối năm 1978, Trung Quốc đã âm thầm lựa chọn, điều động lực lượng binh lực cùng số lượng lớn trang thiết bị vũ khí áp sát trên toàn tuyến biên giới với Việt Nam. Đến trung tuần tháng 2-1979, Trung Quốc đã điều động tổng cộng 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập với tổng số 32 sư đoàn, 6 trung đoàn xe tăng với hơn 500 xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không với khoảng 2.000 khẩu pháo... Bên cạnh đó, hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và hơn 900 máy bay được đặt trong tình trạng báo động cao độ. Cũng từ tháng 1-1979, Trung Quốc bắt đầu đẩy mạnh các hoạt động trinh sát vũ trang để chuẩn bị cho chiến dịch xâm chiếm dọc biên giới với Việt Nam. Trong tháng 1 và tuần đầu tiên của tháng 2-1979, Trung Quốc đã gây ra hàng trăm vụ xâm phạm vũ trang vào lãnh thổ Việt Nam, từ gây hấn cho tới tập kích, bắn phá các đồn biên phòng và trạm gác của Công an; phục kích, bắt cóc người đưa về Trung Quốc... Đồng thời với việc chuẩn bị về binh lực, Trung Quốc đẩy mạnh việc chuẩn bị trên mặt trận ngoại giao, tiến hành nhiều hoạt động ngoại giao con thoi ở khu vực và thế giới, trong đó đặc biệt là chuyến công du Mỹ vào tháng 1-1979 của lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình. Trong nước, Trung Quốc cũng tiến hành chuẩn bị kỹ lưỡng về tuyên truyền với đỉnh điểm là tuyên bố của Đặng Tiểu Bình “dạy cho Việt Nam một bài học”. Cuộc chiến xâm chiếm trên toàn tuyến biên giới Việt Nam bùng nổ sáng sớm 17-2-1979 là kết quả của quá trình chuẩn bị, tính toán từ trước của Trung Quốc! Vào 3 giờ 30 phút rạng sáng 17-2-1979, quân Trung Quốc sử dụng pháo binh bắn phá một số mục tiêu trong lãnh thổ của nước ta, sau đó huy động 600.000 quân, hơn 500 xe tăng, xe bọc thép, hàng nghìn khẩu pháo các loại tấn công toàn tuyến biên giới Việt Nam dài hơn 1.400km. Hướng tấn công chủ yếu của quân Trung Quốc là Lạng Sơn và Cao Bằng; hướng quan trọng là Lào Cai (Hoàng Liên Sơn); hướng phối hợp là Phong Thổ (Lai Châu); hướng nghi binh, thu hút lực lượng ta là Quảng Ninh và Hà Tuyên. Không ai có thể tin rằng một dân tộc vừa phải trải qua 30 năm chiến tranh với thương tích đầy mình lại đi khiêu khích, rồi xâm lược một nước khác, lại là nước lớn hơn, thậm chí là nước đã từng ủng hộ và giúp đỡ to lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ trước đó, như một số người Trung Quốc nói rằng cuộc chiến tranh chống Việt Nam của họ chỉ là một “cuộc phản công tự vệ”. Trước tình cảnh Tổ quốc lâm nguy, thêm một lần nữa, quân và dân Việt Nam không còn con đường nào khác là buộc phải cầm súng chiến đấu để bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mình. Đây là thử thách đầy khắc nghiệt với dân tộc Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, quân và dân ta một lần nữa đã phát huy cao độ truyền thống cách mạng, kiên quyết chiến đấu, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Đối mặt với đội quân xâm lăng từ bên kia biên giới phía Bắc đông tới 60 vạn người cùng hàng nghìn xe tăng và pháo hạng nặng, Việt Nam vào ngày 17-2-1979 chỉ có lực lượng công an vũ trang, dân quân địa phương và 7 sư đoàn với tổng số quân khoảng 7 vạn người. Sự chênh lệch về lực lượng, về vũ khí trang bị là rất lớn. Thế nhưng, tinh thần chiến đấu của quân và dân ta là anh dũng vô song. Lực lượng ít hơn đội quân Trung Quốc hàng chục lần nhưng quân và dân biên giới đã chiến đấu ngoan cường, anh dũng chặn đứng bước tiến của đội quân đông hơn gấp bội. Sự đánh trả dũng mãnh bảo vệ biên giới của quân và dân ta đã gây thiệt hại nặng nề cho quân Trung Quốc. Khoảng 6 vạn quân Trung Quốc đã bị thương vong cùng hàng trăm tù binh bị bắt sống. Thiệt hại nặng nề trên chiến trường, bị dư luận thế giới lên án, Trung Quốc buộc phải rút quân vào ngày 6-3-1979. Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc năm 1979 đã khẳng định ý chí, sức mạnh bền bỉ của nhân dân Việt Nam quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Thế nhưng, để giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh khắc nghiệt này, nhân dân Việt Nam đã phải chịu những tổn thất nặng nề: Hơn 30.000 cán bộ, chiến sĩ thương vong; hàng chục nghìn dân thường bị thiệt mạng. Các thị xã: Cao Bằng, Lạng Sơn, Cam Đường, Lào Cai gần như bị hủy diệt hoàn toàn; tổng cộng có 320 xã, 735 trường học, 41 nông trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 38 lâm trường bị tàn phá; 400 nghìn gia súc bị giết, bị cướp. Khoảng 50% trong tổng số 3,5 triệu người ở 6 tỉnh biên giới bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống. Quá khứ bi hùng đó nhắc nhở chúng ta, tất cả các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau, phải luôn tăng cường đoàn kết, xây dựng đất nước giàu mạnh để đủ sức đối phó với mọi tình huống trong một thế giới tiềm ẩn nhiều nguy cơ, bất trắc. Trên cơ sở đó, có chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột; phát huy truyền thống “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Nhắc lại sự thật lịch sử về cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, bên cạnh việc khẳng định sự chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, còn là dịp để chúng ta tri ân những người đã ngã xuống vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, đồng thời giáo dục cho thế hệ trẻ về truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường và quyết tâm bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.

CHỐNG BIỂU HIỆN CƠ HỘI VỀ CHÍNH TRỊ TRONG ĐẢNG - NHIỆM VỤ CẤP BÁCH, THƯỜNG XUYÊN!

         Cơ hội chính trị bao hàm nhiều đối tượng khác nhau ở trong và ngoài Đảng nhưng đều mang điểm chung là có nhận thức và hành động đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong đó, những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nước ta hiện nay ngày càng phức tạp, tinh vi và nguy hiểm. Đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị là một nhiệm vụ cấp bách, một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh!

Các nhà lý luận mác-xít đã chỉ mặt những phần tử cơ hội
Ngay từ khi mới ra đời, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã phải đấu tranh không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, thù địch được núp bóng dưới mọi hình thức. Trong các tác phẩm của mình, C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin đã chỉ ra một loại kẻ thù hết sức nguy hiểm, đó là những phần tử cơ hội, khoác áo cộng sản nhưng lại ngấm ngầm chống phá Đảng. Đó là những con người chỉ vì lợi ích nhất thời hằng ngày mà quên đi những quan điểm chủ yếu lớn; chạy theo những thành công chốc lát và đấu tranh cho những thành công chốc lát mà không tính đến hậu quả về sau... tất cả những việc ấy có thể xuất phát từ những động cơ “thành thật”. "Nhưng đó là và sẽ vẫn là chủ nghĩa cơ hội, mà chủ nghĩa cơ hội “thành thật” có lẽ lại là thứ chủ nghĩa cơ hội nguy hiểm hơn hết cả” và nguồn gốc sinh ra chủ nghĩa cơ hội ấy từ các mặt kinh tế, chính trị, tư tưởng và lịch sử.

V.I.Lênin là người kế tục xuất sắc nhất sự nghiệp vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, đã phấn đấu quên mình để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong thời đại báo hiệu sự suy sụp của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi của cách mạng vô sản, đưa chủ nghĩa Mác lên một bước phát triển mới, thành Chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh cách mạng, nhất là những năm tháng xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở nước Nga Xô viết, trong bài viết “Về vấn đề thanh đảng”, V.I.Lênin vạch rõ mặt những phần tử cơ hội trong đảng, những phần tử giỏi về thủ đoạn “ngoại giao tư sản”, khả năng thích ứng “thay màu đổi sắc để ẩn nấp được dễ dàng hơn, như con thỏ rừng, về mùa đông, thay lông thành màu trắng”. Vì thế, V.I.Lênin yêu cầu, cần phải đuổi ra khỏi đảng những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược. Theo V.I.Lênin, có như vậy sẽ làm cho đảng trở thành một đội tiền phong của giai cấp vô sản vững mạnh hơn.

Vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh chống mọi biểu hiện cơ hội trong Đảng. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, việc đầu tiên, trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Đảng, Người căn dặn: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Để Đảng Cộng sản là một Đảng thực sự cách mạng, chân chính, tất yếu phải đấu tranh chống những biểu hiện cơ hội trong Đảng, nhất là cơ hội về chính trị.

Trong bối cảnh hết sức khó khăn khi mới thành lập Đảng, nhưng nhiệm vụ đấu tranh chống những phần tử cơ hội trong Đảng luôn đặt ra yêu cầu cấp thiết. Song cũng phải nhận diện rõ và phân loại đối tượng cụ thể để có phương pháp đấu tranh phù hợp. Nghị quyết của toàn thể Hội nghị Ban Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 20 và 30-3-1938 chỉ rõ: “Phải tẩy sạch những phần tử trotsky đã lọt vào trong Đảng”. Do đó, muốn đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị tốt, cần phải nhận diện đúng thực chất “cơ hội về chính trị”.

Nhận diện những biểu hiện cơ hội chính trị trong Đảng
Từ những nghiên cứu, luận giải trên cho thấy, cơ hội chính trị bao hàm nhiều đối tượng khác nhau ở trong và ngoài Đảng nhưng đều mang điểm chung là có nhận thức và hành động đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong đó, những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nước ta hiện nay ngày càng phức tạp, tinh vi và nguy hiểm.

Hơn 90 năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, nhiều lần khẳng định trong các nghị quyết. Trong đó nhấn mạnh: “Hiện nay phải đặc biệt coi trọng công tác bảo vệ Đảng, trước hết là bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, giữ gìn sự trong sạch của tổ chức đảng, cảnh giác và tỉnh táo không để cho những phần tử cơ hội về chính trị, phản động chui vào hàng ngũ Đảng”. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định phải: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”.

Nhận diện những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng hiện nay qua 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đối tượng đấu tranh chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng là những cán bộ, đảng viên hiện đang làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội, cơ quan đoàn thể hoặc đã nghỉ hưu được luật pháp quy định...

Biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nhiều cấp độ khác nhau, như: Nhóm đối tượng do hạn chế về nhận thức, thiếu thông tin hoặc tiếp nhận những nguồn tin không chính thống, bị kẻ xấu lợi dụng; nhóm đối tượng thiếu tu dưỡng, rèn luyện, công thần, sống vụ lợi, ích kỷ; nhóm đối tượng công khai bộc lộ tư tưởng cực đoan, bất mãn, chống đối và đặc biệt nghiêm trọng là nhóm có khuynh hướng chống đối, tập hợp lực lượng, móc nối với các thế lực thù địch bên ngoài chống phá cách mạng Việt Nam, khi đó từ cơ hội về chính trị đến phản bội Đảng, Tổ quốc và nhân dân là rất gần. Biểu hiện chung nhất là phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái; không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; tham vọng chức quyền...

Kiên quyết và đồng bộ giải pháp phòng, chống biểu hiện cơ hội chính trị

Trong tình hình hiện nay phải đặc biệt quan tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tăng cường đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng với hệ thống các giải pháp. Trước hết, tập trung vào một số giải pháp như: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị ở nước ta hiện nay. Phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong quản lý, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Phát huy dân chủ, sức mạnh tổng hợp đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị, nhất là biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng với lộ trình, bước đi, hình thức, phương pháp, giải pháp phù hợp, thiết thực, hiệu quả. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, chặt chẽ các khâu, các bước trong tuyển chọn, bố trí sử dụng, không để những phần tử cơ hội về chính trị chui sâu, leo cao phá hoại Đảng. Tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử có biểu hiện cơ hội về chính trị. Thực hiện tốt công tác chính sách cho các đối tượng đúng quy định của pháp luật, kịp thời tôn vinh, động viên, đãi ngộ thỏa đáng những người có công với cách mạng. Kiên quyết đấu tranh, đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới./.
Ảnh: Huyện Đức Cơ quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở.
Yêu nước ST.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Đại hội XII của Đảng (1-2016) khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta (1). Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, quyết định sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Đảng luôn kiên trì lãnh đạo đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, đạt được những thành quả và những kinh nghiệm có giá trị trong công tác xây dựng, bảo vệ Đảng, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng. 1. Quan điểm của Đảng Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị khoá XII ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Trong đó, Bộ Chính trị nêu rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; đồng thời, Nghị quyết nhấn mạnh: Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Thực tế lịch sử cho thấy, không phải đến khi ban hành Nghị quyết 35, mà ngay từ khi Đảng ra đời và trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, xuất phát từ yêu cầu khách quan, Đảng luôn coi trọng công tác bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, bảo vệ cương lĩnh, đường lối của Đảng và bảo vệ nhân dân, đồng thời kiên quyết đấu tranh phản bác, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch. Trong thời kỳ lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc (1930-1945), Đảng hoạt động giữa vòng vây của kẻ thù, nhiều thế lực phản cách mạng tập trung đánh phá quyết liệt, Đảng còn non trẻ nhưng đã thể hiện bản lĩnh của một đảng cách mạng có bản lĩnh chính trị vững vàng. Đảng đã đấu tranh không khoan nhượng với những phần tử theo Trotskyt. Tổng Bí thư Hà Huy Tập (bút danh Thanh Hương) viết tác phẩm Trotskyt và phản cách mạng; Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ viết Tự chỉ trích nhằm đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái của phái Trotskyt, tạo sự thống nhất về nhận thức về tư tưởng, chính trị và hành động trong toàn Đảng. Qua cuộc đấu tranh về tư tưởng, Đảng được xây dựng, trưởng thành, giữ vững vai trò lãnh đạo, phát động toàn dân tộc làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong thời kỳ xây dựng CNXH và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Đại hội III (1960) của Đảng đề ra nhiệm vụ lãnh đạo toàn dân tộc tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược (đó là xây dựng CNXH ở miền Bắc và tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam). Trong bối cảnh chủ nghĩa cơ hội, xét lại ra sức chống lại chủ nghĩa Mác, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết và kiên trì đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác. Tháng 12-1963, Đảng ban hành Nghị quyết Trung ương 9 “về tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng”. Nghị quyết khẳng định lập trường kiên định của Đảng; kiên quyết đấu tranh bảo vệ sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì vậy, trước những sóng gió cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại sự chống phá của các phần tử phản động, cơ hội, Đảng luôn giữ vững đoàn kết, thống nhất về tư tưởng, lý luận, lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh cách mạng XHCN ở miền Bắc, hoàn thành giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước đi lên xây dựng CNXH. Những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX, các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô từng bước rơi vào khủng hoảng và sụp đổ. Tổng thống Nga V.Putin trong “Thông điệp Liên bang năm 2005” gọi đó là “một chấn động chính trị khủng khiếp nhất thế kỷ XX”. Sự đổ vỡ này xảy ra ngay tại Liên Xô - quê hương của Cách mạng Tháng Mười, nơi khai sinh ra nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, nơi được coi thành trì của CNXH hiện thực, khiến cho các học giả tư sản phương Tây được dịp lên tiếng phê phán, bác bỏ chủ nghĩa Mác -Lênin. Kể từ sau sự kiện gây chấn động lịch sử toàn thế giới đến nay đã gần 30 năm, các thế lực thù địch vẫn luôn ra sức lợi dụng xuyên tạc, công kích và phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin. Họ cho rằng sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu là một tất yếu lịch sử vì nó bắt nguồn từ “sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin”; và bởi, “chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được” (2).v.v. Là Đảng cầm quyền, lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thấy những tác động tiêu cực từ sự khủng hoảng của các đảng và các nước XHCN trên thế giới, nên đã chủ động phòng ngừa sự chống phá của các thế lực thù địch; cảnh giác, không sa vào các cuộc “cách mạng màu” mà nhiều đảng, nhiều nước đã rơi vào dẫn đến kết cục thất bại, để mất quyền lãnh đạo. Đảng Cộng sản Việt Nam tích cực tìm đường đổi mới, dựa chắc trên cơ sở nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên định con đường đi lên CNXH. Sự chủ động và quyết tâm của Đảng được thể hiện rõ trong NQTW 6 khóa VI (29-3-1989) “Về kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và phương hướng, nhiệm vụ ba năm tới”, khi đề ra những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới, bảo đảm cho đổi mới đúng hướng, đúng mục tiêu và có hiệu quả. Trong Nghị quyết, Đảng khẳng định rõ: tính chất của công cuộc đổi mới ở Việt Nam không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về CNXH, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp. Đảng nhấn mạnh: “Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta” (3). Sự khẳng định này cho thấy bản lĩnh và quyết tâm rất lớn của Đảng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, dù các thế lực thù địch ra sức chống phá. Tiếp đó, tháng 8-1989, HNTW 7 khóa VI của Đảng ban hành Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tế hiện nay”. Trung ương Đảng nhận định 6 biểu hiện sai lầm trong cải tổ, cải cách của một số đảng về thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng, dân chủ hóa không giới hạn, hạ thấp sự lãnh đạo của đảng cộng sản, phủ nhận thành tựu của lịch sử, của CNXH. Sự buông lỏng lãnh đạo đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản ở Liên Xô và các nước CNXH ở Đông Âu khiến đảng viên và nhân dân mất niềm tin vào lý tưởng XHCN, vào chế độ mà họ đang xây dựng. Nghị quyết HNTW 7 nhấn mạnh: “Giáo dục trong Đảng và trong nhân dân kiên trì mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở quán triệt năm nguyên tắc và những chính sách đổi mới của Đảng” (4). Một trong những điểm nhấn quan trọng về lãnh đạo đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được thể hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991). Lúc này, mặc dù sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu đang tạo một sức ép lớn trên thế giới, song Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên trì con đường đi lên CNXH. Đảng xác định dứt khoát, Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận của Đảng hướng vào làm sáng tỏ và sâu sắc bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định tính tất yếu của con đường XHCN; đồng thời kiên quyết đấu tranh chống những luận điệu sai trái, thù địch. Cương lĩnh khẳng định rõ sự kiên trì, quyết tâm của Đảng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong thời kỳ đổi mới. Căn cứ vào Cương lĩnh, vào yêu cầu thực tiễn và nhiệm vụ cụ thể mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng tiếp tục chỉ đạo cụ thể về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đảng ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TW “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay” (tháng 3-1992); Nghị quyết số 09-NQ/TW “Về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay” (tháng 2-1995); đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI (năm 2012) và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII (năm 2016) về xây dựng Đảng. Trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Đảng thẳng thắn vạch rõ những âm mưu thâm độc của các lực lượng thù địch khi thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam. chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động đã được nhiều chuyên gia và chính khách phương Tây coi là phương pháp “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”, “cách mạng hòa bình” và gần đây là “cách mạng nhung”, “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố... Trong chiến lược này, hoạt động văn hóa - tư tưởng được coi là “mũi đột phá”, là “cây cầu dẫn vào trận địa”, là lĩnh vực hàng đầu làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra khoảng trống để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào, rồi cuối cùng xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa” (5). Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, tại HNTW 4 khóa XII, Đảng chỉ rõ, có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên “nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước” (6) khiến cho các thế lực thù địch có cơ hội chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đối với cấp ủy, tổ chức đảng, của cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên. (ảnh: tuyengiao.vn) Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị (ngày 22-10-2018) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” nêu rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Ðó là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó cơ quan báo chí các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. 2. Thành tựu cơ bản và một số kinh nghiệm Những thành tựu được thể hiện trên những khía cạnh cơ bản, đó là: - Làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong việc xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ, phát triển và làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần, xã hội Việt Nam; đồng thời vô hiệu hóa các luận điệu và hoạt động phá hoại tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị; bảo vệ thành công các quan điểm, tư tưởng đổi mới của Đảng. Ngoài ra, sự lãnh đạo của Đảng cũng góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam; tổ chức lực lượng và các điều kiện bảo đảm cho công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch. Sự ra đời và hoạt động hiệu quả của Ban Chỉ đạo 94 Trung ương, Ban Chỉ đạo 609 của Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Chỉ đạo 213 Trung ương về đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật; Ban Chỉ đạo 94 Đảng ủy Công an Trung ương; Ban Chỉ đạo 94 Quân ủy Trung ương và các Ban Chỉ đạo 94 trực thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh 86, Lực lượng 47, cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam. - Chủ động phát hiện, ngăn chặn và làm thất bại những âm mưu của các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế ở Việt Nam làm cho nền kinh tế Việt Nam phát triển đúng định hướng XHCN, giữ được độc lập, tự chủ, không bị lệ thuộc vào nước ngoài. - Làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch hòng thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam; lợi dụng đổi mới để gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo; lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam. Đảng không ngừng củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự đồng thuận xã hội. Làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. - Làm thất bại mưu đồ bao vây, cấm vận, cô lập Việt Nam, cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế. Việt Nam tạo được môi trường thuận lợi phục vụ cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vị thế quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao; tranh thủ được nhiều diễn đàn quốc tế để đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị. Như vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch không chỉ mang lại những thành tựu to lớn trong lĩnh vực tư tưởng - lý luận mà còn mang đến những thành quả toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, các mặt của đời sống xã hội; đóng góp quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới đất nước. Từ quá trình đó, có thể đúc kết một số kinh nghiệm. Một là, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là sự thống nhất biện chứng của hai quá trình: vừa tiếp tục khẳng định những giá trị phổ quát, đúng đắn của chủ nghĩa Mác, vừa không ngừng bổ sung, phát triển và vận dụng linh hoạt những nguyên lý của chủ nghĩa Mác trong điều kiện thực tiễn Việt Nam. Do đó, trong bất kỳ hoàn cảnh và tình huống nào cũng phải luôn kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng; đồng thời, căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh ở mỗi giai đoạn lịch sử, Đảng luôn kiên trì nền tảng tư tưởng đã xác định, bản lĩnh vững vàng để lãnh đạo nhân dân đi tiếp con đường đã lựa chọn, đúng định hướng XHCN. Hai là, chủ động phòng ngừa, phê phán nhận thức lệch lạc; kiên quyết đấu tranh với quan điểm sai trái và thù địch. Thực tiễn cho thấy, dù phong trào cách mạng vô sản và công nhân quốc tế luôn có những bước thăng trầm, luôn phải đối mặt với sự chống phá của các thế lực thù địch nhưng Đảng vẫn luôn sáng suốt, kiên trì và kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng. Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trên mặt trận tư tưởng, lý luận, trong đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, thù địch có ý nghĩa quyết định. Trung ương, Bộ Chính trị luôn luôn có định hướng đúng đắn về công tác tư tưởng-định hướng cho thời kỳ dài và phương hướng cụ thể của từng giai đoạn. Đó là cơ sở rất quan trọng để cấp bộ đảng, các ngành, các cơ quan chuyên môn, đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, lý luận kịp thời đề xuất bước đi, giải pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Ba là, để giữ vững nền tảng tư tưởng, toàn Đảng và hệ thống chính trị thường xuyên, tích cực tuyên truyền đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, huy động sức mạnh tổng hợp của cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đảng phát huy vai trò, thế mạnh của các phương tiện truyền thông, các cơ quan thông tấn, báo chí trong việc tuyên truyền những đường lối, chủ trương của Đảng; đồng thời có sự lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, chặt chẽ của các tổ chức đảng các cấp. Đảng không ngừng phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là phương thức hữu hiệu để huy động sức mạnh tổng hợp tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là việc riêng của Đảng mà còn là việc chung, là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân” (7). Như vậy, trong quá trình xây dựng và phát triển, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng luôn chú trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong mọi hoàn cảnh và tình huống, điều đó cho thấy rất rõ quyết tâm và bản lĩnh của Đảng. Những thành quả quan trọng và kinh nghiệm của Đảng nêu trên càng củng cố niềm tin, tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trên con đường Đảng đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, kiên định đi lên theo định hướng XHCN.

Giải pháp đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên internet và mạng xã hội trong quân đội hiện nay

Sự phát triển của công nghệ thông tin và các ứng dụng trên không gian mạng đã làm thay đổi bộ mặt của xã hội; internet và mạng xã hội có tầm ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực đến người dân Việt Nam, trong đó có cán bộ, đảng viên, nhân viên, hạ sỹ quan, binh sỹ trong quân đội. Các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng sự phát triển của internet, mạng xã hội để tăng cường hoạt động tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước, quân đội... Sự chống phá của các thế lực thù địch trên internet và mạng xã hội đối với quân đội thể hiện ở những nội dung sau: Một là, tập trung chống phá trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội. Phê phán, đả kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt. Cổ xúy “phi chính trị hóa” quân đội, quân đội phi giai cấp... Bản chất và mưu đồ của chúng là từng bước làm cho quân đội biến chất về chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” dẫn tới mất sức chiến đấu. Hai là, tập trung phá hoại bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, chức năng và nhiệm vụ của quân đội ta. Chúng tăng cường tuyên truyền, đăng tải các thông tin bịa đặt, bôi nhọ, xuyên tạc truyền thống, bản chất của quân đội. Phát tán những quan điểm, tư tưởng đối lập với quan điểm của Đảng như: đòi xét lại vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chúng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang toàn dân, trả quân đội về cho Nhà nước, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng... Ba là, tuyên truyền chống phá các nguyên tắc tổ chức cơ bản trong xây dựng quân đội, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội. Tập trung tiến hành những chiến dịch tuyên truyền chống phá với trọng tâm là bôi nhọ, hạ uy tín của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và quân đội. Thủ đoạn cơ bản mà các thế lực thù địch sử dụng để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước và quân đội trên internet, mạng xã hội là tuyên truyền các nội dung trá hình, bới móc, thổi phồng, xuyên tạc những sai lầm, khuyết điểm hoặc lợi dụng những hạn chế, sơ hở trong quản lý để vu khống, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của quân đội. Thường xuyên theo dõi các hoạt động, diễn biến của quân đội để xuyên tạc đường lối chính trị, quân sự quốc phòng của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, chúng còn thiết lập các trang web, các blog, mở các “diễn đàn”, “câu lạc bộ” trên mạng nhằm phát tán tài liệu phản động và truyên truyền, nhào nặn, trộn lẫn thật - giả, tốt - xấu; phát tán các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước và quân đội để vu cáo; tăng cường lôi kéo các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị để chống phá quân đội. Ngoài ra, chúng còn xuyên tạc các thông tin mới, làm mới các thông tin cũ, triệt để lợi dụng các thông tin về mặt trái, tiêu cực trong quân đội; những ý kiến, quan điểm sai lệch từ các nguồn tin trên một số phương tiện thông tin đại chúng gắn với những bình luận chủ quan, bóp méo, xuyên tạc sự thật, thổi phồng gây “nhũng nhiễu” thông tin, kích động tâm lý đám đông nhằm tập hợp lực lượng, lôi kéo các thành phần chống đối tham gia. Đẩy mạnh hoạt động mua chuộc, móc nối, lôi kéo các phần tử suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bất mãn. Tạo dựng ra cái gọi là “sự đấu đá giữa các phe, cánh” tranh giành quyền lực để gây sự nghi kỵ, ngờ vực, gây chia rẽ, phá hoại lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, Nhà nước và quân đội. Sử dụng không gian mạng để tuyên truyền, kích động, kêu gọi khủng bố, gây hoang mang trong dư luận xã hội. Việc nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội trong quân đội luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam thường xuyên quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chặt chẽ. Các cấp ủy đảng trong quân đội và toàn quân đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Phát huy vai trò của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội. Làm tốt công tác giáo dục, định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Huy động sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng tham gia vào cuộc, đồng thời có sự đổi mới về nội dung, phương pháp, hình thức đấu tranh... Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế như việc quán triệt, triển khai thực hiện một số chủ trương, kết luận của Ban Bí thư và Quân ủy Trung ương, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị ở một số cấp ủy chưa chặt chẽ. Công tác tuyên truyền, giáo dục của một số cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, một số cơ quan chính trị các cấp nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và quần chúng về âm mưu, thủ đoạn, phương thức và tác hại của các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội còn hạn chế. Bảo vệ chính trị nội bộ có lúc, có nơi còn sơ hở, để lọt, lộ thông tin, tài liệu. Tình trạng vi phạm pháp luật và kỷ luật quân đội nghiêm trọng chưa giảm. Việc đấu tranh phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, internet, mạng xã hội chưa thường xuyên, chưa đa dạng về hình thức và sức lan tỏa còn hạn chế. Một số đơn vị chưa chủ động trong nhận diện và đấu tranh có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, thù địch. Còn thiếu những hình thức và giải pháp cụ thể, có sức thuyết phục để xây dựng, củng cố niềm tin, phản bác những quan điểm sai trái, giải đáp những khúc mắc, băn khoăn, mâu thuẫn nảy sinh trong công cuộc đổi mới. Chưa phát huy hết vai trò của các lực lượng, phương tiện trong nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái trên internet, mạng xã hội. Việc cung cấp, cập nhật thông tin tích cực của Đảng, Nhà nước và quân đội trên internet, mạng xã hội chưa thường xuyên... Những hạn chế cơ bản trên chủ yếu xuất phát từ việc cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị ở một số đơn vị nhất là ở cơ sở chưa quan tâm đúng mức, lãnh đạo, chỉ đạo trong đấu tranh còn chung chung, triển khai thực hiện chưa triệt để, thiếu kiểm tra đôn đốc. Một số bộ phận giúp việc, lực lượng đấu tranh chuyên sâu chưa hoạt động thường xuyên. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, định hướng nhận thức có thời điểm, có nơi còn thiếu sâu sắc, thiếu nhạy bén, tính thuyết phục chưa cao. Còn biểu hiện bàng quang, thờ ơ trước các quan điểm, thông tin sai trái, thù địch lan truyền trên internet, mạng xã hội. Ý thức tự giác, tích cực, chủ động và trách nhiệm tham gia vào cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch còn nhiều hạn chế. Nhiều vấn đề tư tưởng nảy sinh ở các đơn vị cơ sở chưa được giải quyết thấu đáo, kịp thời; trong phát ngôn, ứng xử với nhân dân của một số cán bộ, đảng viên còn thiếu gương mẫu, gây phản cảm và bất bình trong nhân dân và dư luận. Một số cơ quan, đơn vị chấp hành quy chế, quy định về bảo vệ chính trị nội bộ, giữ bí mật quốc gia, bí mật quân sự chưa tốt; chấn chỉnh các sai phạm có lúc chưa kiên quyết, chưa kịp thời. Công tác nghiên cứu lý luận còn nhiều bất cập, chưa tạo cơ sở khoa học vững chắc cho đấu tranh phòng, chống các quan điểm thù địch, sai trái một cách hiệu quả. Chưa dự báo hết diễn biến phức tạp của tình hình, những vấn đề mới nảy sinh... Để góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội chống phá cách mạng Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau: Một là, tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội cho cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sỹ trong toàn quân. Để thực hiện có hiệu quả, chất lượng và có chiều sâu nhiệm vụ này, trước hết, cần phát huy vai trò của các cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp trong tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm và tinh thần tích cực, chủ động cho cán bộ, đảng viên, quần chúng trong đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch. Tạo nhận thức đúng đắn, toàn diện và đầy đủ về tính hai mặt của internet, mạng xã hội cũng như âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch. Tạo khả năng “miễn dịch” trước các thông tin xấu độc, cũng như tăng sức “đề kháng” để chủ động tiến công, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng nhằm trang bị lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước... Tập trung xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, giáo dục lòng yêu nước, ý chí chiến đấu và rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng trong đơn vị. Làm tốt công tác tư tưởng, nhất là trong quản lý bộ đội. Đẩy mạnh nghiên cứu làm sáng rõ cơ sở khoa học của đường lối, chủ trương của Đảng về quân sự quốc phòng; luận giải thấu đáo, thuyết phục những vấn đề mới nảy sinh... Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội. Các cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm và sự cấp thiết phải nhận diện, đấu tranh với các quan điểm sai trái thù địch. Đưa nhiệm vụ đấu tranh vào nghị quyết lãnh đạo thường kỳ hoặc chuyên đề của cấp ủy đảng và nội dung sinh hoạt của tổ chức đảng, sát với thực tiễn thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Xây dựng các chương trình, kế hoạch, nội dung đấu tranh trọng tâm, trọng điểm sát với lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên. Tăng cường hiệu lực cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, tổng kết thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để vận dụng sáng tạo phù hợp với tình hình trong từng thời kỳ, chống giáo điều, máy móc. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức quần chúng như Hội đồng quân nhân, tổ chức đoàn thanh niên, phụ nữ, công đoàn... trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện mơ hồ, ngộ nhận, mất cảnh giác trước các nguồn thông tin xấu độc, phản động. Ba là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để đấu tranh ngăn chặn. Công tác nắm tình hình cần tập trung vào những vấn đề cụ thể như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội trên không gian mạng. Phối kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan điều tra, bảo vệ chính trị nội bộ của quân đội và Công an nhân dân để kịp thời nhận diện rõ những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền phá chống phá Đảng, Nhà nước và quân đội. Sử dụng tổng hợp các lực lượng, phương tiện, biện pháp công tác, thường xuyên rà soát, lên danh sách các trang web, blog, diễn đàn có nội dung chống phá, các đối tượng viết bài (có tên thật hoặc nickname, bút danh); khai thác thông tin trên các trang web, blog, diễn đàn để xác định đối tượng sở hữu, quản lý, viết bài và đề xuất biện pháp đấu tranh, xử lý. Bốn là, thường xuyên đổi mới phương thức, huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, đẩy mạnh hoạt động đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, thù địch tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội của các thế lực thù địch. Quân đội nhân dân Việt Nam cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban, ngành có liên quan đẩy mạnh hoạt động đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu thù địch, sai trái của các đối tượng, phần tử xấu trên internet, mạng xã hội. Đa dạng hóa hoạt động đấu tranh theo hướng: thiết lập và sử dụng các trang web, blog, diễn đàn để đăng tải các bài viết với nội dung tuyên truyền các quan điểm chính thống, định hướng dư luận, phản bác hoặc tiến hành đấu tranh phản bác ngay tại các trang mạng “độc hại”, phản động được đối tượng sử dụng. Xây dựng và mở rộng đội ngũ cộng tác viên đưa tin, viết bài, bình luận; nâng cao chất lượng các bài viết đấu tranh phản bác với luận cứ khoa học, tính thuyết phục cao. Kết hợp chặt chẽ các biện pháp đấu tranh, cả trực tiếp và gián tiếp; giữa xây và chống, trong đó lấy xây là chính; chủ động cung cấp thông tin và phối hợp với các cơ quan báo chí để viết bài đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội. Có thể thấy, nhận diện và đấu tranh có hiệu quả với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên internet, mạng xã hội là cuộc chiến đầy khó khăn, thách thức đối với quân đội ta cả trong hiện tại và tương lai. Việc thực hiện tốt những giải pháp trên sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực chống phá cách mạng Việt Nam trên internet, mạng xã hội trong thời gian tới./.

Nhận diện và đấu tranh với các thủ đoạn chống phá trên không gian mạng

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng mang lại những thách thức to lớn đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới. Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Hoạt động của các tổ chức chống phá có mục tiêu tôn chỉ được tổ chức khá chặt chẽ, bài bản. Mục tiêu xuyên suốt của chúng là tuyên truyền chống phá, lôi kéo kêu gọi tụ tập, biểu tình, bạo loạn, gây rối trật tự công cộng, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” phá hoại sự ổn định phát triển đất nước. Hầu hết các tổ chức phản động đều xây dựng tài khoản mạng xã hội tổ chức thành hệ thống các kênh truyền thông chống phá. Theo thống kê của cơ quan chức năng, trung bình mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết, video trên internet, mạng xã hội có nội dung liên quan đến Việt Nam, trong đó tỷ lệ không nhỏ các bài viết, video có nội dung xuyên tạc, chống phá cách mạng nước ta (có khoảng 67% bài viết được phát tán trên mạng xã hội Facebook, số còn lại phát tán trên các kênh mạng xã hội Youtube, Blog cá nhân hoặc các kênh tin tức phản động). Qua thực tiễn tình hình trong nước, có thể nhận thấy âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian mạng cơ bản vẫn tập trung vào một số nội dung, như: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, thông qua truyền thông mạng xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội. Kích động hoạt động chống phá của số đối tượng chống đối chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền và “tự do Internet”, khuyến khích các đối tượng này chống phá quyết liệt hơn bằng cách trao các giải thưởng, đề cử vinh danh hay đưa Việt Nam vào danh sách “kẻ thù của Internet”, vi phạm tự do dân chủ, nhân quyền. Kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước trên không gian mạng. Để thực hiện âm mưu thâm độc trên, các đối tượng phản động, thù địch thường dùng các thủ đoạn: Sử dụng tài khoản mạng xã hội có tương tác lớn hoặc tổ chức các chiến dịch truyền thông phát tán thông tin. Đăng tải tài liệu, thông tin, bình luận hướng dư luận nhìn nhận theo quan điểm sai lệch; dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả, xuyên tạc tình hình chính trị trong nước. Tiến hành xây dựng nhiều kênh thông tin trên các nền tảng xuyên biên giới có sự liên kết với nhau; đặc biệt phát triển các kênh truyền thông bằng tiếng dân tộc thiểu số (Mông, Khơ me…) hướng tới đối tượng tuyên truyền là đồng bào dân tộc thiểu số. Cổ súy tư tưởng chống phá, định kiến của một số người có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phát tán, giật tít các bài viết của các đối tượng này lên Internet, mạng xã hội. Lợi dụng lợi ích cá nhân của một bộ phận người dân trong giải quyết vấn đề đất đai, các vụ án kinh tế… để kích động lôi kéo người dân tham gia vào các hoạt động gây rối, mất an ninh chính trị trên mạng xã hội, từ đó lan truyền, hiện thực hóa trên thực địa... Sử dụng “khoảng trống thông tin” để tấn công vào sự hiếu kỳ của công chúng; trước khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền, phát tán ồ ạt những tin bài xuyên tạc, bóp méo sự thật, hướng lái dư luận thông qua những tiêu đề “giật gân”, “câu khách”. Thu hút, lôi kéo người dân vào tổ chức; thâm nhập vào các diễn đàn, mạng xã hội dành cho giới trẻ để phát hiện, lôi kéo đầu mối; sử dụng các hình thức liên lạc qua mạng để móc nối, huấn luyện và chỉ đạo cơ sở phản động thực địa. Sử dụng truyền thông mạng xã hội để lừa gạt, lôi kéo nhân dân, hình thành và công khai hóa tổ chức núp dưới danh nghĩa các tổ chức xã hội dân sự hay tổ chức phản biện xã hội. Cùng với đó, chúng lợi dụng các sự kiện chính trị, kinh tế, quân sự… trên thế giới (xung đột quân sự Nga-Ukraine, đảo chính quân sự ở Niger…), sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các vụ án về kinh tế, hoạt động khẳng định chủ quyền biển đảo, biên giới... đề dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả; xuyên tạc tình hình chính trị, xã hội, kinh tế trong nước và có thời điểm tổ chức hoạt động tuyên truyền chống phá thành “chiến dịch” dưới nhiều hình thức. Lợi dụng hạn chế, bất cập trong công tác quản lý kiểm duyệt nội dung trên các nền tảng mạng xã hội để tuyên truyền xuyên tạc; lợi dụng chính sách của mạng xã hội, thành lập hàng nghìn hội nhóm tổ chức chính trị phản động, trong đó bao gồm cả hội nhóm công khai, bí mật với số lượng thành viên tham gia lớn, lôi kéo, thu hút, mời chào thành viên tham gia, hoạt động có đường hướng, tôn chỉ, mục đích cụ thể. Tạo lập các trang mạng, tài khoản mạng xã hội giả mạo các cơ quan của nhà nước, các đồng chí lãnh đạo, các cá nhân có ảnh hưởng... để đăng tải thông tin phản động; xuyên tạc, lợi dụng sự hiếu kỳ của người dân và sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân để kích động cộng đồng mạng tham gia phát tán thông tin xấu độc. Trước tình hình diễn biến trên không gian mạng ngày càng phức tạp cùng với các hoạt động chống phá có tổ chức, xây dựng và lên kế hoạch tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị, theo chúng tôi cần thực hiện một số vấn đề mang tính giải pháp sau: Thứ nhất, sử dụng thông tin chính thống đóng vai trò dẫn dắt định hướng dư luận. Các ban ngành đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, các cơ quan thông tấn báo chí cần phát huy được vai trò trong cung cấp thông tin chính thống kịp thời và chính xác, tránh tạo khoảng trống thông tin để các đối tượng phản động lợi dụng phát tán các thông tin xuyên tạc, để các tầng lớp nhân dân được tiếp cận với thông tin chính thống trước khi tiếp cận với thông tin phản động. Hệ thống các kênh truyền thông của các cấp từ Trung ương đến địa phương cần được xây dựng đồng bộ, có sự liên kết chặt chẽ giữa các kênh truyền thông để tạo ra sức ảnh hưởng lớn với dư luận. Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp, hiệp đồng. Phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng trong và ngoài Quân đội có thế mạnh trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng và trên báo chí, Trong đó lực lượng của Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì đề xuất xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp có cơ chế phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền với nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội, yêu cầu thực hiện đúng theo pháp luật Việt Nam, hợp tác trong việc xóa bỏ các thông tin tiêu cực, thông tin xấu độc ảnh hưởng đến nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; phối hợp lực lượng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cung cấp trao đổi thông tin kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh các đối tượng lợi dụng Internet mạng xã hội để tổ chức các hoạt động phát tán tin giả, thông tin sai sự thật nguy hại đến chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc. Thứ ba, nghiên cứu phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động đấu tranh. Xây dựng và khai thác có hiệu quả các trọng tâm nghiên cứu công nghệ thông tin trên từng lĩnh vực, từ đó có kế hoạch để triển khai các nhiệm vụ truyền thông, đấu tranh với thông tin xấu bảo đảm sự bài bản, tính chính xác, hiệu quả. Tiếp tục nghiên cứu các giải pháp, ứng dụng sức mạnh của khoa học, công nghệ thông tin để tăng cường khả năng theo dõi, bám nắm, giám sát tình hình; hỗ trợ cho công tác quản lý, đánh giá chất lượng các hình thức đấu tranh. Nghiên cứu, xây dựng nội dung, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ hoạt động triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc. Xây dựng hệ thống kênh chỉ đạo điều hành đồng bộ từ chỉ huy đến cấp thực hiện, kênh liên lạc giữa các lực lượng tham gia đấu tranh. Hệ thống cho phép điều hành tổ chức các nhiệm vụ triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc trên Internet, mạng xã hội đồng thời là kênh để cán bộ thực hiện có thể chia sẻ kinh nghiệm cách thức tổ chức xử lý thông tin xấu độc. Trang bị cho lực lượng đấu tranh các hệ thống hiện đại để giám sát phát hiện thông tin phát hiện kịp thời các thông tin xuyên tạc trước khi bị phát tán ra nhiều tài khoản mạng xã hội tiếp cận đến số lượng lớn cộng đồng mạng. Thứ tư, nâng cao nhận thức, vai trò cán bộ, đảng viên và quần chúng trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị nâng cao hơn nữa nhận thức, vai trò, trách nhiệm, tiền phong, gương mẫu nêu gương trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Phát huy tính hiệu quả, thiết thực việc sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, truyền tải, nhân rộng những yếu tố tích cực, tấm gương tiêu biểu, người tốt, việc tốt, những giá trị văn hóa nhân văn, tinh thần tương thân, tương ái của quốc gia, dân tộc. Đồng thời, tích cực đấu tranh chống các thông tin sai trái, phản động, bịa đặt trên mạng xã hội, phê bình, phản đối các hành vi lợi dụng Internet, mạng xã hội để chia sẻ, thông tin, bình luận, đăng tải những hình ảnh phản cảm, thiếu tinh thần trách nhiệm, thờ ơ, vô cảm với những khó khăn, mất mát của nhân dân.