Thứ Năm, 7 tháng 3, 2024

PHẢI NÓI... CHUYỆN KHÓ NÓI”!

     Thực ra, những vấn đề được cho là “khó nói” này nhiều người đã từng nói, truyền thông cũng đã phản ánh. Nhưng việc rút kinh nghiệm, khắc phục vẫn chưa triệt để. Thế nên, phải nói nữa!
Xin bắt đầu bằng câu chuyện dở cười dở mếu trên tuyến cao tốc Dầu Giây-Phan Thiết, Phan Thiết-Vĩnh Hảo, từ Đồng Nai đi Bình Thuận và ngược lại. Toàn tuyến có chiều dài gần 200km, nhưng không có trạm dừng nghỉ, không có nhà vệ sinh. Báo hại hành khách đi xe, mỗi khi có nhu cầu tự nhiên thì đành phải giải quyết theo kiểu rất... “tự nhiên”.

Những ngày gần đây, một số khu vực trên tuyến cao tốc này xuất hiện nhiều nhà vệ sinh tạm bợ do người dân địa phương quây bạt, bắc thang qua lan can... để giúp hành khách có chỗ giải quyết chuyện “khó nói”. Sự xuất hiện của những công trình bất đắc dĩ cùng cảnh hành khách khổ sở leo thang đi vệ sinh, thật nhếch nhác, phản cảm.

Chuyện thứ hai, TP Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh) vừa xây dựng, đưa vào sử dụng Công viên bờ sông Sài Gòn. Địa điểm mang vẻ đẹp lãng mạn kiểu trên bến dưới thuyền này ngay lập tức trở thành điểm đến hấp dẫn của người dân và du khách. Mỗi đêm, nơi đây đón hàng chục nghìn lượt khách đến tham quan, check-in, thưởng ngoạn. Thế nhưng, tìm đỏ mắt chả thấy nhà vệ sinh.

Đó là vài dẫn chứng về những công trình mới được xây dựng. Còn những dự án đã đưa vào sử dụng trước đó thì tình cảnh “khó nói” diễn ra nhan nhản.

Câu hỏi đặt ra là: Tại sao khi thiết kế, thi công các dự án, chủ đầu tư và chủ thầu lại “bỏ quên” công trình vệ sinh công cộng? Xét về khía cạnh phong tục, người Việt mình từ xa xưa khi làm nhà, xây đình, thường chỉ chú trọng dựng cái nhà thật to, thật đẹp, còn công trình vệ sinh thì chẳng quan tâm. Tâm lý ấy cộng với kiểu quy hoạch thiếu đồng bộ, nên việc thiếu các công trình phụ trợ đang là một bất cập. Đơn cử, dân số TP Hồ Chí Minh hiện có hơn 10 triệu người, chưa tính du khách, nhưng số nhà vệ sinh công cộng chỉ khoảng 200. Thiếu trầm trọng!

Nhìn ra thế giới thì thấy, các nước tiên tiến rất chú trọng vấn đề này. Thậm chí, việc thiết kế nhà bếp, nhà vệ sinh, trạm dừng chân... được coi là đẳng cấp của nghệ thuật kiến trúc.

Khắc phục những cái cũ không dễ. Nhưng các công trình mới xây dựng mà lại “bỏ quên” việc này thì khó chấp nhận. Thế nên, dù “khó nói” và nói thì có thể “khó nghe”, nhưng vẫn phải nói!
Yêu nước ST.

Từ việc sinh hoạt chi bộ "bù", nghĩ về trách nhiệm đảng viên

 Chi bộ mạnh là nhờ mọi đảng viên đều tốt. Các đảng viên tốt gắn bó, kết hợp lại cấu thành tổ chức chi bộ theo những nguyên tắc nhất định của Đảng và đến lượt mình, tổ chức chi bộ lại quy định mọi hoạt động của đảng viên, trong đó có việc sinh hoạt đảng mà đảng viên phải tuân theo. Chính vì vậy, việc đảng viên thiếu vắng không tham gia sinh hoạt chi bộ đầy đủ đặt ra cho chi uỷ, chi bộ phải nhanh chóng tìm ra lời giải. Yêu cầu đặt ra là, chi uỷ và chi bộ phải làm sao bảo đảm cho đảng viên được tham gia sinh hoạt chi bộ, vừa tạo điều kiện để đảng viên hoàn thành nhiệm vụ công tác chuyên môn nơi cơ quan, đơn vị đảng viên đang công tác, làm việc.

Chi bộ khu dân cư tôi có số đông đảng viên là cán bộ đã nghỉ hưu. Trừ số đảng viên thuộc diện miễn sinh hoạt, việc sinh hoạt chi bộ định kỳ hằng tháng thường không bảo đảm sỹ số tham gia, thậm chí có đảng viên thiếu vắng từ 2 đến 3 kỳ sinh hoạt liên tiếp. Bên cạnh số đảng viên có lý do chính đáng như: ốm đau, bệnh tật hay có công việc đột xuất, số thiếu vắng thường rơi vào các đảng viên trẻ. Đây là các đảng viên còn đang tham gia công tác, làm việc trong các cơ quan, đơn vị, có cả công ty liên doanh với nước ngoài, do ở đó chưa có tổ chức đảng nên được giới thiệu, chuyển về sinh hoạt cùng với chi bộ khu dân cư.

Với số đảng viên trẻ này, việc vừa bảo đảm thời gian sinh hoạt đầy đủ với chi bộ để làm tròn nhiệm vụ đảng viên, vừa bảo đảm được kỷ luật, thời gian lao động rất chặt chẽ của cơ quan, đơn vị nơi họ đang công tác là bài toán chưa có lời giải. Thậm chí đâu đó đã có ý kiến băn khoăn cho rằng, một người không thể làm tốt cả hai việc này cùng một lúc. Thực trạng nói trên không thể không đặt ra cho cấp uỷ, chi bộ nhiều suy nghĩ, trăn trở. Vấn đề trên đã được nêu ra thảo luận, bàn bạc trong nhiều kỳ sinh hoạt của cấp uỷ và chi bộ. Ngoài việc thường xuyên tuyên truyền, nhắc nhở, chi uỷ đã có một số biện pháp cụ thể như ghi sổ theo dõi để chấm điểm thi đua, thực hiện điểm danh cuối mỗi buổi sinh hoạt chi bộ. Tuy nhiên, mọi cố gắng đều chưa mang lại kết quả. Chi uỷ và chi bộ cũng đã bàn đến việc thay đổi lịch sinh hoạt chi bộ định kỳ hằng tháng nhưng vẫn không thành do lịch thời gian sinh hoạt hiện tại đã thành nền nếp ổn định nhiều năm và là phù hợp với chi bộ khu dân cư có số đông đảng viên là cán bộ đã nghỉ hưu.

Trong nội bộ chi bộ đã xuất hiện “lời ra tiếng vào”, nhất là vào dịp tổng kết đánh giá, bình xét, phân loại đảng viên cuối năm. Các ý kiến nêu ra là đúng và không phải không có lý khi cho rằng không thể cào bằng, đánh giá các đảng viên tham gia sinh hoạt đầy đủ với đảng viên nghỉ, thiếu vắng sinh hoạt, dù đã có báo cáo xin phép chi bộ đầy đủ. Việc chia sẻ, thông cảm lẫn nhau giữa các đảng viên trong cùng một chi bộ, cùng một khu dân cư “tối lửa tắt đèn có nhau” là cần thiết, song cũng ở mức độ nào đó. Việc thiếu vắng không tham gia đều đặn các buổi sinh hoạt chi bộ định kỳ hằng tháng của một số đảng viên của chi bộ là không thể chấp nhận được, đòi hỏi chi bộ phải có sự đổi mới không chỉ về nền nếp sinh hoạt mà cả về quản lý, kiểm tra, giám sát đối với đảng viên.

Ai cũng biết, đảng viên của Đảng được sinh hoạt, hoạt động trong một tổ chức đảng chứ không phải một câu lạc bộ theo kiểu “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Chính tính tổ chức chặt chẽ và kỷ luật nghiêm minh đã làm nên sức mạnh của Đảng. Chi bộ là nền tảng của Đảng, là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở do chính đảng viên xây dựng mà thành. Do vậy là đảng viên của Đảng thì phải chấp hành Điều lệ Đảng và những quy định của Đảng. Căn cứ Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam và Hướng dẫn số 12-HD/TW của Ban Tổ chức Trung ương ngày 6-7-2018 “về một số vấn đề nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ”, thì “Chi bộ họp thường lệ mỗi tháng một lần, họp bất thường khi cần”. Với tư cách là tổ chức, cơ quan lãnh đạo của Đảng vững chắc ở khu dân cư, việc sinh hoạt chi bộ định kỳ hằng tháng là rất cần thiết nhằm: Đánh giá kết quả công tác lãnh đạo của chi bộ trong tháng; trao đổi, thống nhất nhiệm vụ công tác cho tháng tiếp theo; xác định, trao đổi những vấn đề trọng tâm liên quan đến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, yêu cầu của cấp ủy cấp trên; đánh giá tình hình tư tưởng đảng viên và quần chúng; lắng nghe phản ánh ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của đảng viên và quần chúng.

Chi bộ mạnh là nhờ mọi đảng viên đều tốt. Các đảng viên tốt gắn bó, kết hợp lại cấu thành tổ chức chi bộ theo những nguyên tắc nhất định của Đảng và đến lượt mình, tổ chức chi bộ lại quy định mọi hoạt động của đảng viên, trong đó có việc sinh hoạt đảng mà đảng viên phải tuân theo. Chính vì vậy, việc đảng viên thiếu vắng không tham gia sinh hoạt chi bộ đầy đủ đặt ra cho chi uỷ, chi bộ phải nhanh chóng tìm ra lời giải. Yêu cầu đặt ra là, chi uỷ và chi bộ phải làm sao bảo đảm cho đảng viên được tham gia sinh hoạt chi bộ, vừa tạo điều kiện để đảng viên hoàn thành nhiệm vụ công tác chuyên môn nơi cơ quan, đơn vị đảng viên đang công tác, làm việc. Nói cách khác, một khi quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ đảng viên được thực hiên tốt, đồng nghĩa với việc thực hiện quy định của Đảng về tôn trọng nguời lao động, tạo điều kiện để họ yên tâm hơn trong công tác chuyên môn, bảo đảm có thu nhập, phát triển kinh tế và ổn định cuộc sống gia đình.

Trong “cái khó ló cái khôn” và sáng kiến đã xuất hiện. Trong một buổi sinh hoạt tổ đảng, vấn đề nêu trên lại được đưa ra thảo luận dân chủ, có ý kiến đề xuất: “Tại sao chi uỷ không tổ chức sinh hoạt “bù” vào một khung giờ thích hợp cho số đảng viên còn thiếu, vắng trong các buổi sinh hoạt chi bộ chính thức?”. Vậy là quyền dân chủ, quyền được trình bày ý kiến của đảng viên đã được phát huy. Cuộc họp chi uỷ và tiếp theo là họp chi bộ ngay sau đó, ý kiến nói trên được tập thể chi uỷ và đa số đảng viên trong hội nghị chi bộ nhanh chóng tán thành và có sự nhất trí cao.

Lẽ dĩ nhiên, cuộc họp chi bộ “bù” đầu tiên ngay sau đó cũng đã được tổ chức vào một khung giờ buổi tối của một ngày nghỉ mà việc thăm dò trước đó cho thấy là thích hợp. Buổi sinh hoạt có mặt của tập thể chi uỷ cùng hầu hết số đảng viên trẻ đã diễn ra đầm ấm, chân thành và thành công rất tốt đẹp. Vui nhất chính là các đảng viên trẻ còn đang tham gia công tác. Một ý kiến đại điện cho tiếng nói chung của những người dự họp chia sẻ: “Xin cảm ơn sáng kiến của chi bộ, bởi từ nay chúng tôi thấy yên tâm hơn để vừa làm tròn trách nhiệm, nghĩa vụ đảng viên, vừa bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ công tác chuyên môn, không còn thấp thỏm lo đi làm thì phải bỏ sinh hoạt đảng, còn đi họp đảng thì lại trễ giờ, vi phạm kỷ luật lao động của cơ quan, đơn vị”.

Nhìn nụ cười và niềm vui ánh lên trên khoé mắt các đảng viên trẻ, từ đồng chí bí thư chi bộ, các đồng chí chi uỷ viên đều cảm thấy vui lây với họ, như trút được một gánh nặng, trăn trở bấy lâu nay, càng cảm nhận và thấm nhuần hơn ý nghĩa của việc thường xuyên “tự đổi mới, tự chỉnh đốn” là một quy luật tồn tại và phát triển của Đảng, không loại trừ cả những sáng kiến dù nhỏ bé bắt đầu từ cơ sở.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam trong tình hình hiện nay

 Tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh”, “giặc nội xâm”, là “nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ”, trở ngại lớn đối với sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước; gây mất niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Nhận thức được điều đó, Đảng ta luôn nhấn mạnh rằng công tác phòng, chống tham nhũng trong bất cứ thời đại nào cũng mang mục đích đảm bảo sự tồn vong của chế độ, giữ ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân đối với giai cấp cầm quyền.

Công tác phòng, chống tham nhũng là một công tác thường xuyên, lâu dài, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị để đảm bảo hiệu quả của công tác này. Thời gian vừa qua, với công cuộc “đốt lò” ấn tượng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định trong công tác phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, với những ý đồ thâm độc của các thế lực thù địch từ trước đến nay vẫn luôn muốn chống phá đất nước ta nhằm hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc về công tác phòng, chống tham nhũng của ta. Đứng trước những quan điểm sai trái, thù địch đó, chúng ta cần phải tỉnh táo, nhìn nhận một cách khách quan và đưa ra những luận cứ xác đáng để đấu tranh, phản bác lại chúng. 

Việc chống tham nhũng là một công tác vô cùng quan trọng để đảm bảo sự trong sạch, công bằng và phát triển bền vững của đất nước. Việc xử lý nghiêm các cán bộ, đảng viên có dính líu đến các vụ án tham nhũng không chỉ là để trừng phạt hành vi sai trái của họ, mà còn là để đánh giá, cải cách hệ thống chính trị, giúp cho Chính phủ hoạt động tốt hơn, cải thiện hành vi của người quản lý và bảo vệ quyền lợi của người dân. Việc chống tham nhũng không phải là một cuộc “đàn áp”, mà là một nỗ lực chung của toàn xã hội nhằm bảo vệ tài sản công và đảm bảo sự công khai, minh bạch của các tổ chức, cá nhân. Những luận điệu như “Làm nhiều, sai nhiều. Làm ít, sai ít. Không làm, không sai” chỉ thể hiện sự tiêu cực và thiếu trách nhiệm của những người đang sử dụng chúng. Chúng ta đang thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng một cách nghiêm túc, đồng thời tạo ra một môi trường làm việc công bằng, minh bạch và đầy đủ trách nhiệm để khuyến khích sự cống hiến của các cán bộ, đảng viên. Theo đó, chúng ta không thể để các thế lực thù địch đưa ra các luận điệu để hướng lái nới lỏng công tác phòng, chống tham nhũng. Cần phải duy trì một sự nghiêm khắc trong việc chống tham nhũng và đảm bảo các cán bộ, đảng viên có trách nhiệm của mình trong việc phòng, chống tham nhũng. Đồng thời, cần tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của công tác này, giúp họ hiểu được tác động tích cực của việc phòng, chống tham nhũng đến cuộc sống và phát triển của đất nước.

 1. Hoạt động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam trong thời gian gần đây

Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch vẫn ngày càng chống phá quyết liệt và sử dụng những thủ đoạn hết sức tinh vi, gây ra những hậu quả nhất định cho ta, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng thẳng thắn đánh giá: Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời”[3]. Do đó, từ việc nhận diện những luận điệu sai trái, xuyên tạc về công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta của các thế lực thù địch, cần phải đi đôi với việc kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phải: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”[4].

Đảng ta xác định công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng là cuộc đấu tranh lâu dài và phải được triển khai thường xuyên, liên tục. Do đó, thời gian vừa qua, chúng ta đã chủ động đấu tranh với hoạt động này một cách tích cực nhất.

Góp phần vào hiệu quả công tác đấu tranh này phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của các phương tiện truyền thông trên không gian mạng. Chúng ta đã tích cực đấu tranh trên mặt trận truyền thông này một cách triệt để nhằm định hướng dư luận, tuyên truyền những thông tin chính thống đến đông đảo quần chúng, đập tan những âm mưu nhằm hướng lái công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của ta đi lệch khỏi quỹ đạo vốn có của nó. Theo đó, chúng ta đã xây dựng, sản xuất các sản phẩm, ấn phẩm, xuất bản phẩm về những nội dung lý luận liên quan đến công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng trên in-tơ-nét, các ứng dụng trên mạng xã hội. Trực tiếp xây dựng và phát triển các trang fanpage với mục đích định hướng dư luận, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng trên mạng xã hội; sử dụng các nickname tài khoản mạng xã hội tham gia các diễn đàn, truy cập vào các trang mạng của đối tượng viết bài phản kích dưới dạng các bình luận. Thông qua hoạt động này, chúng ta đã thực hiện nhiều chương trình, chuyên mục, bài viết phản kích các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc quan điểm sai trái, thù địch của đối tượng. Từ đó mà củng cố niềm tin của nhân dân vào chính quyền, luôn luôn lắng nghe, thấu hiểu những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.

Bên cạnh đó, vai trò của báo chí trong việc định hướng dư luận, phản biện xã hội cũng đóng góp tích cực vào công cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng. Trên cơ sở công tác nắm tình hình, phát hiện các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng, chúng ta đã tiến hành tổ chức đưa tin để phản bác. Qua đó, các cơ quan thông tấn, báo chí đã tăng cường đăng cái bài viết mang tính chất phản bác lại, định hướng dư luận với những luận cứ thuyết phục nhất.

Có thể thấy công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu nhất định song vẫn còn một số hạn chế, bất cập cần khắc phục như: (i) Công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng đôi lúc còn chưa kịp thời, dẫn đến chúng quy chụp Đảng ta không dám nói, thừa nhận những luận điệu của chúng. Làm suy giảm niềm tin của quần chúng nhân dân; (ii) một số cán bộ trực tiếp đấu tranh, phản bác còn hạn chế về kỹ năng diễn đạt, viết bài phản bác, chưa thực sự đủ sức thuyết phục, “nghèo nàn” về luận cứ, luận điểm dẫn đến việc phản bác chưa thực sự hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc, “mị dân” của thế lực thù địch; (iii) chưa phát huy hết vai trò của các cơ quan báo chí trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng. Quan hệ phối hợp giữa các cơ quan chức năng với các cơ quan báo chí còn chưa thật sự đống bộ, liên tục và chưa có cơ chế phối hợp một cách hợp lý; (iv) chưa huy động tối đa vai trò của quần chúng nhân dân trong việc đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng.   

2. Một số đề xuất giải pháp, khuyến nghị

Trước những âm mưu và hành động của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong thời gian qua, Đảng ta đã tiếp tục nhấn mạnh: “Các thế lực thù địch chống phá ngày càng quyết liệt”[5]. Trên cơ sở nhận định trên, Đảng ta tiếp tục khẳng định sự quyết tâm, cũng như trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên phải luôn: “Tích cực phòng ngừa, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các loại tội phạm”[6]. Vì thế, để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng trong thời gian tới, tác giả xin đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị cơ bản sau: 

Thứ nhất, Đảng ta tiếp tục đẩy mạnh công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng trong thời gian tới. Việt Nam đang trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ, đây cũng là tiền đề, điều kiện để các thế lực thù địch, các phần tử phản động tăng cường tuyên truyền, xuyên tạc, đưa ra những quan điểm sai trái, thù địch để chống phá Đảng, Nhà nước ta, đặc biệt chúng triệt để tấn công vào công tác phòng, chống tham nhũng của Việt Nam trong xuyên suốt thời gian vừa qua.

Thứ hai, tập trung đầu tư vào chương trình đào tạo và bồi dưỡng chuyên sâu về công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng cho cán bộ trực tiếp đấu tranh, phản bác; chú trọng hướng dẫn kỹ năng diễn đạt, viết bài phản bác. Đồng thời, cần thiết lập các chương trình đào tạo liên ngành để tăng cường sự hiểu biết và tư duy toàn diện về những luận điệu của các thế lực thù địch.

 Ba là, phát huy vai trò của các tổ chức cơ quan thông tấn, báo chí trong việc đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng. Thông qua các hoạt động của báo chí giúp tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng.

Bốn là, huy động quần chúng nhân dân tham gia vào đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng. Đây là lực lượng đông đào, góp phần thực hiện thắng lợi trên mọi mặt trận, do đó cần phải triệt để phát huy vai trò của quần chúng nhân dân vào công cuộc đấu tranh này. Mỗi quần chúng là một “chiến sĩ”, với việc được trang bị đầy đủ kiến thức, nhận diện một cách đầy đủ, chính xác về các luận điệu “mị dân” của thế lực thù địch thì quần chúng nhân dân hoàn toàn có thể đấu tranh, phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch này.

Có thể thấy, đất nước ta vẫn đang trong tiến trình hội nhập và phát triển, công tác phòng, chống tham nhũng vẫn luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của Đảng, các thế lực thù địch vẫn sẽ luôn “bấu víu” vào công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng ta để đưa ra các luận điệu “mị dân”, phủ nhận những thành quả mà ta đã đạt được trong công cuộc phòng, chống tham nhũng. Vì vậy, việc đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng vẫn sẽ luôn là công tác thường xuyên, liên tục của Đảng để từ đó tiến tới xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đảng cầm quyền.

 

Chính sách, pháp luật về bình đẳng giới đối với công tác phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nữ hiện nay

 

Trong những năm qua, hệ thống luật pháp, chính sách về bình đẳng giới của Việt Nam liên tục được hoàn thiện, tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực đào tạo nâng cao nguồn nhân lực chất lượng nữ trong hệ thống chính trị Việt Nam. 

 

Thứ nhất, hệ thống chỉ tiêu về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị ở Việt Nam chưa toàn diện, chưa cụ thể, gây khó khăn cho công tác phát triển cán bộ lãnh đạo nữ trong hệ thống chính trị. Hiện nay, chúng ta chưa có các chỉ tiêu về tỷ lệ nữ giới làm lãnh đạo cấp vụ và tương đương, cấp phòng và tương đương trong bộ máy chính quyền nhà nước, các cơ quan của Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp. Chúng ta cũng chưa có quy định về tỷ lệ nữ giới trong một số khâu của quá trình cán bộ như khâu tuyển dụng, khâu luân chuyển cán bộ để đảm bảo đạt được tỷ lệ cán bộ nữ ở khâu bổ nhiệm. Hệ thống chỉ tiêu bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị chưa mang tính toàn diện dẫn đến tình trạng khó giám sát việc thực hiện bình đẳng giới trong các khâu của quá trình cán bộ. 

Thứ hai, quy định khác nhau về độ tuổi nghỉ hưu giữa nam giới và nữ giới là quy định chưa đảm bảo tính công bằng. Điều 7 Luật Bình đẳng giới khẳng định: “Bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển”. Tuy nhiên, quy định tại Bộ luật Lao động hiện nay đang có sự khác biệt về độ tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ (60 tuổi đối với nữ, 62 tuổi đối với nam theo lộ trình), trong khi độ tuổi bắt đầu tham gia lao động không có sự phân biệt về giới (người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên). Độ tuổi nghỉ hưu liên quan chặt chẽ đến độ tuổi quy hoạch, bổ nhiệm, từ đó, dẫn đến bất bình đẳng về cơ hội phát triển nghề nghiệp, khả năng tham chính giữa nam và nữ. Do đó, sự khác biệt về tuổi nghỉ hưu đã trở thành rào cản đối với nữ giới, hạn chế các cơ hội tiếp cận với đào tạo và phát triển, các cơ hội thăng tiến, đề bạt đối với nữ giới ở những vị trí lãnh đạo, quản lý cấp cao.

Thứ ba, một số luật và chính sách liên quan đến công tác cán bộ còn gây ra những khó khăn, bất lợi cho nữ giới trong việc tiếp cận các cơ hội lãnh đạo, quản lý. 

Về quy hoạch cán bộ, Hướng dẫn số 16-HD/BTCTW năm 2022 của Ban Tổ chức Trung ương Hướng dẫn một số nội dung cụ thể về công tác quy hoạch cán bộ quy định khá bình đẳng giữa nam và nữ, tuy nhiên, có những điều khoản quy định còn mang tính chung chung, khó vận dụng. Như “Điều 9 - Về cơ cấu, tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số ở cấp xã và tương đương, ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương quy định cụ thể để thực hiện thống nhất cho phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị”. Nhưng quy định chưa định lượng cụ thể về chỉ tiêu sẽ rất khó thực hiện, vì nó phụ thuộc vào ý chí, quyết tâm chính trị của các cấp uỷ đảng và những người đứng đầu trong công tác cán bộ nữ ở địa phương, cơ quan/tổ chức. Hay Điều 4 hướng dẫn “Lấy quy hoạch các chức danh cấp uỷ làm cơ sở để quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý, bảo đảm đồng bộ với các chủ trương, quy định của Đảng về bố trí cán bộ” trên thực tế cũng hạn chế một phần tỉ lệ nữ trong quy hoạch (vì số lượng, vị trí của quy hoạch cấp uỷ ít hơn nhiều so với số lượng, vị trí của quy hoạch bên chính quyền). Việc quy định cán bộ đưa vào quy hoạch phải đủ tuổi công tác từ 2 nhiệm kỳ trở lên, ít nhất cũng phải đủ một nhiệm kỳ là một cản trở đối với cán bộ nữ. Với tuổi nghỉ hưu chênh lệch như hiện nay, nữ giới sẽ bị mất cơ hội thăng tiến ở các vị trí lãnh đạo, quản lý so với nam giới. Hơn nữa, mặc dù đã có quy định về tỷ lệ nữ trong quy hoạch, song chưa có một văn bản nào quy định các chế tài đối với những cơ quan, tổ chức không có đủ nguồn nữ trong quy hoạch, nhất là quy hoạch ở các vị trí lãnh đạo chủ chốt.

Về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chúng ta chưa làm tốt chính sách hỗ trợ cho nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Khoản 4, Điều 14 Luật Bình đẳng giới quy định: “Nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới 36 tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ”. Theo đó, Điều 18 Nghị định 48/2009/NĐ-CP giao Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và các bộ, ngành khác có liên quan xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện quy định hỗ trợ nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới 36 tháng tuổi, cụ thể: “1. Quy định các hình thức đào tạo linh hoạt, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nữ cán bộ, công chức, viên chức đang nuôi con nhỏ; 2. Quy định hỗ trợ bằng tiền; tạo điều kiện về nơi ở, nơi gửi trẻ, trường mầm non khi nữ cán bộ, công chức, viên chức mang theo con đến cơ sở đào tạo, bồi dưỡng”. Tuy nhiên, đến thời điểm này vẫn chưa có hướng dẫn của Bộ Nội vụ về tổ chức thực hiện, do vậy, hầu hết các địa phương khi xây dựng quy định chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức không đề cập đến nội dung trên, đã hạn chế đáng kể cơ hội học tập và thăng tiến của nữ giới.

Về bổ nhiệm cán bộ, hiện nay, các tiêu chuẩn cụ thể cho các vị trí lãnh đạo, quản lý là giống nhau cho cả cán bộ nữ và cán bộ nam nhưng cơ hội được bổ nhiệm của cán bộ nữ bị hạn chế hơn cán bộ nam do sự chênh lệnh về độ tuổi quy hoạch và bổ nhiệm lần đầu giữa nam và nữ. Chúng ta chưa thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong các văn bản hướng dẫn về bổ nhiệm cán bộ. Đó là việc quy định lựa chọn ứng cử viên nữ trong trường hợp cả nam và nữ có điều kiện, tiêu chuẩn như nhau. Chưa xác định các giải pháp cụ thể để có thể đạt chỉ tiêu đề ra trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc lồng ghép giới. 

Thứ tư, công tác lồng ghép giới trong việc xây dựng hệ thống văn bản pháp luật còn chưa thực sự hiệu quả. Lồng ghép giới là quá trình nhận ra những thách thức đối với nữ giới trong công tác cán bộ, từ đó đưa ra các giải pháp, bước đi, hành động cụ thể nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra. Các giải pháp này nhằm tăng cường sự tham gia của nữ trong toàn bộ quá trình của công tác cán bộ. Quá trình đó không chỉ nâng cao năng lực cho cán bộ nữ mà còn tạo ra sự thay đổi trong nhận thức của tất cả các giới, từng bước tạo sự ủng hộ của nam giới, đặc biệt là lãnh đạo các cấp, các nhà làm chính sách đối với sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý.

Trong thời gian qua, hầu hết các bộ, ngành chủ trì soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật đã xem xét vấn đề lồng ghép giới nhưng nội dung lồng ghép giới trong các dự thảo chưa được quan tâm thỏa đáng, quá trình soạn thảo chưa thực sự tuân thủ nghiêm về quy trình, thủ tục phân tích giới, lồng ghép giới một cách sâu sắc. Phần lớn các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đều cho rằng các nội dung được quy định trong dự án, dự thảo văn bản là trung tính, quy định như nhau đối với cả nam và nữ, không phân biệt đối xử giữa nam và nữ, do vậy, không tạo ra tình trạng bất bình đẳng giới...

Từ những phân tích về bất cập của khung luật pháp, chính sách về bình đẳng giới nêu trên, thiết nghĩ, để góp phần nâng cao công tác phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nữ trong hệ thống chính trị Việt Nam, chúng ta cần bổ sung, đổi mới một số chính sách về bình đẳng giới nói chung, về công tác cán bộ nữ nói riêng:
Thứ nhất, rà soát lại những chỉ tiêu về tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý còn mang tính định tính, thiếu cụ thể, đồng thời bổ sung những chỉ tiêu cụ thể, định lượng về tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan đảng, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội. Đảm bảo các chỉ tiêu cán bộ được cập nhật hằng năm.

Thứ hai, rà soát lại hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến sự tham gia lãnh đạo, quản lý của nữ giới, xoá bỏ những quy định đang hạn chế sự tham gia, tiếp cận cơ hội và thụ hưởng các cơ hội làm lãnh đạo, quản lý đối với nữ giới trong hệ thống chính trị.

 Thứ ba, thực hiện lồng ghép giới một cách nhất quán trong các khâu của công tác cán bộ bên cạnh việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới và các chương trình nâng cao năng lực cho cán bộ nữ. Bộ Tư pháp tiếp tục tăng cường hướng dẫn nghiệp vụ, tổ chức tập huấn kỹ năng thực hiện lồng ghép giới trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cho đội ngũ cán bộ pháp chế của các bộ, ngành và địa phương, cán bộ tư pháp từ cấp tỉnh đến cấp xã.

Thứ tư, bổ sung những hình thức hướng dẫn các phương pháp đạt tỷ lệ chỉ tiêu cán bộ lãnh đạo nữ trong các văn bản liên quan đến công tác cán bộ.
Thứ năm, bổ sung và tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát cụ thể, các hình thức khen thưởng và kỷ luật vào các văn bản về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị và công tác cán bộ.

Thứ sáu, xây dựng tiêu chí đánh giá cán bộ khách quan với các chỉ số đo lường cụ thể. Bộ tiêu chí này cần đảm bảo người lao động thực hiện đúng các trách nhiệm trong bản mô tả công việc của từng vị trí chức danh cụ thể. Các chỉ số đánh giá mang tính định lượng cao, có thể đo lường cụ thể do đó nâng cao hiệu quả của đánh giá thực hiện công việc.Việc sử dụng bộ tiêu chí đánh giá góp phần làm cho đánh giá thực hiện công việc trở nên minh bạch, rõ ràng, cụ thể, công bằng và hiệu quả hơn... 

Thứ bảy, nâng cao trách nhiệm giải trình về công tác cán bộ nữ và thực hiện bình đẳng giới trong cơ quan tổ chức. Cần có quy định trách nhiệm cụ thể cho người đứng đầu cơ quan/đơn vị, mà trước hết là người đứng đầu các bộ, ban, ngành. Xây dựng và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới và phát triển đội ngũ cán bộ nữ cần được xem là một trong những tiêu chuẩn của cán bộ lãnh đạo, quản lý. 

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: VANG MÃI CHIẾN THẮNG “CÁT BI RỰC LỬA”!

     Chiến thắng Cát Bi đã đi qua 70 năm, nhưng những bài học về tinh thần quả cảm, sự mưu trí, chiến lược của quân và dân ta vẫn còn nguyên giá trị!

Tròn 70 năm trước (7/3/1954), quân và dân tỉnh Kiến An (TP Hải Phòng ngày nay) đã giành chiến thắng vang dội trong trận tập kích vào sân bay Cát Bi, phá hủy gần 60 máy bay và nhiều phương tiện, vũ khí của thực dân Pháp.

Chiến thắng Cát Bi đã chặt đứt cầu hàng không tiếp viện cho quân Pháp ở Điện Biên Phủ, góp phần thúc đẩy nhanh sự sụp đổ và tan rã của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Hình ảnh “Cát Bi rực lửa” cũng là một trong những biểu tượng tự hào của quân và thành phố Cảng anh hùng.

Sân bay Cát Bi được người Pháp khởi công năm 1912 tại huyện Hải An, tỉnh Kiến An (nay là quận Hải An, thành phố Hải Phòng), là một trong những sân bay chiến lược lớn nhất của Pháp ở Đông Dương khi đó. Theo tư liệu lịch sử, lực lượng Pháp bảo vệ sân bay Cát Bi lên đến 3.000 người, cùng hàng trăm phi công, nhân viên phục vụ, cố vấn quân sự. 

Với sự bố phòng cẩn mật, lại thêm ba mặt Bắc, Đông và Nam đều có biển và sông bao bọc, căn cứ Cát Bi đã được người Pháp coi là nơi “bất khả xâm phạm”. Năm 1952-1953, sân bay Cát Bi được thực dân Pháp mở rộng và nâng cấp để trực tiếp phục vụ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Chấp hành chủ trương của Trung ương về tổ chức phối hợp với chiến trường chính Điện Biên Phủ, Bộ Tư lệnh Khu Tả Ngạn chỉ thị cho Tỉnh đội Kiến An tổ chức một trận tập kích vào sân bay Cát Bi, phá hủy một số lớn máy bay địch để phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ, nhằm cản trở sự chi viện của địch cho các mặt trận, thúc đẩy chiến tranh du kích của ta trong vùng địch tạm chiếm. Yêu cầu đặt ra cho trận đánh là phá hoại ít nhất 50 máy bay, bảo toàn lực lượng, giành thắng lợi về quân sự.

Ngày 28/2/1954, Ban chỉ huy Tỉnh đội Kiến An và đồng chí Đặng Kinh, Tỉnh đội trưởng thông qua kế hoạch đánh sân bay Cát Bi với lực lượng gồm 32 người, đột nhập vào sân bay theo hướng Đông Nam. Ông Nguyễn Xuân Khu, nguyên Chánh thanh tra Quốc phòng (Bộ Chỉ huy Quân sự TP Hải Phòng), người đã tìm hiểu rất kỹ về trận tập kích sân bay Cát Bi cho biết, để chuẩn bị cho trận đánh, Tỉnh đội Kiến An đã chuẩn bị hàng tháng trời; đồng thời, tổ chức tập kích sân bay Đồ Sơn để rút kinh nghiệm cho trận Cát Bi.

"Trước khi đánh Cát Bi chúng ta có cử một đội quân trinh sát, tiến hành trinh sát sân bay thành nhiều đợt. Chúng ta đã nắm được đặc điểm về bố phòng của địch, từ hàng rào, bãi mìn đến các công sự, đặc biệt là máy bay trên sân bay. Do kiểm đếm và nắm tương đối chắc nên khi vào đánh và thắng ngay"- ông Nguyễn Xuân Khu nhớ lại.

Đúng 8h ngày 5/3/1954, lực lượng tập kích sân bay Cát Bi nhận lệnh xuất phát; vị trí tập kết là xã Hòa Nghĩa (huyện Kiến Thụy lúc bây giờ). Đêm 6/3/1954, từ xã Hòa Nghĩa, đơn vị vượt qua đường 14, sau đó vượt sông Lạch Tray và vùng bãi lầy tiếp cận sân bay.

1h sáng ngày 7/3/1954, tiếng nổ của lựu đạn và bộc phá bất ngờ vang dội cả sân bay Cát Bi, tiểu đội Âu Phi đi tuần và bọn lính canh gác khu vực máy bay đỗ bị tiêu diệt tại chỗ. Số bom đạn địch chuẩn bị sẵn trong các máy bay bị nổ tung. Quân địch hoàn toàn bất ngờ và tập trung hoả lực bắn lên không trung vì sợ bị máy bay tập kích. Khi chúng phát hiện sân bay bị đánh bằng bộ binh, xe bọc thép của địch gầm rú chạy vòng quanh sân bay nhưng lực lượng ta đã rút ra ngoài an toàn.

Suốt 17 giờ đồng hồ, sân bay Cát Bi ngùn ngụt trong biển lửa và tiếng nổ dữ dội. 59 máy bay địch bị phá hủy. Theo Tiến sĩ Đoàn Trường Sơn, nguyên Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Hải Phòng, trong quá trình nghiên cứu về lịch sử thành phố Hải Phòng, hình ảnh sân bay Cát Bi rực lửa suốt 17 giờ đồng hồ là một trong những ấn tượng mạnh mẽ đối với ông.

"Hình tượng “Cát Bi rực lửa” còn đọng mãi trong lòng người dân TP Hải Phòng nói chung và những chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng. Chiến thắng Cát Bi có ý nghĩa rất lớn, ảnh hưởng rất vang dội đến chiến công trong cả nước; cổ vũ tinh thần chiến đấu và chiến thắng của quân và dân ta. Ngược lại, quân địch bị một đòn rất nặng nề, cũng tạo ra một khó khăn cho kẻ thù và cũng là tạo lợi thế cho quân và dân khi mà chỉ mấy ngày sau chúng ta nổ súng tấn công cứ điểm Điện Biên Phủ"- Tiến sĩ Đoàn Trường Sơn nói.

Ngay sau khi nhận được báo cáo về chiến thắng Cát Bi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện khen và tặng đơn vị tập kích sân bay danh hiệu “Đoàn dũng sĩ Cát Bi" và Huân chương Quân công hạng Nhất.

Chiến thắng sân bay Cát Bi ngày 7/3/1954 đã làm thiệt hại nặng về máy bay địch, hỗ trợ đắc lực cho chiến trường chính Điện Biên Phủ và các mặt trận khác; cổ vũ tinh thần chiến đấu, phục vụ chiến đấu của quân và dân Hải Phòng, Kiến An và nhiều địa phương khác trong cả nước.

Ông Bùi Văn Ngọc, Nguyên Hiệu trưởng Trường Quân sự Hải Phòng khẳng định, Chiến thắng Cát Bi đã góp phần thúc đẩy nhanh sự sụp đổ và tan rã của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ: "Các phương tiện chiến tranh và binh lực của Pháp chuyển về cảng Hải Phòng và Cát Bi là cầu hàng không duy nhất lên Điện Biên. Đánh sập cầu hàng không này sẽ hạn chế rất lớn đến binh lực và phương tiện chiến tranh của địch tác chiến Điện Biên Phủ. Thứ hai, chiến thắng đã nêu bật sự vận dụng của chiến tranh nhân dân; có nhân dân nuôi và che giấu, bảo vệ thì bộ ta mới vào và giành chiến thắng".

Chiến thắng Cát Bi đã đi qua 70 năm, nhưng những bài học về tinh thần quả cảm, về sự mưu trí, chiến lược của quân và dân ta vẫn còn nguyên giá trị. Thành phố Hải Phòng hôm nay đang tiếp bước tinh thần của những người lính – Dũng sĩ Cát Bi năm xưa, tiếp bước truyền thống “Trung dũng - Quyết thắng”, xây dựng, phát triển Hải Phòng giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, trở thành một trong những địa phương đi đầu trong cả nước./.




Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TIẾP THÊM SỨC MẠNH ĐỂ HOÀN THÀNH MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC GIÀU ĐẸP, VĂN MINH!


     Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học, đảng viên, bài viết của Tổng Bí thư nhân kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp thêm sức mạnh cho toàn Đảng, toàn dân nỗ lực phấn đấu để hoàn thành mục tiêu vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh!
Suốt 94 năm qua, trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn ý thức được vị trí, vai trò, trọng trách của mình trước vận mệnh dân tộc, tương lai của đất nước. Nhân kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2024), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết "Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng". Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học, đảng viên, bài viết của Tổng Bí thư đã tiếp thêm sức mạnh cho toàn Đảng, toàn dân nỗ lực phấn đấu để hoàn thành mục tiêu vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đánh giá cao bài viết của Tổng Bí thư, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Hà Quý Quỳnh, Trưởng Ban Tổ chức Cán bộ và Kiểm tra, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, bài viết thể hiện toàn bộ thành tựu vượt bậc do Đảng lãnh đạo đất nước đạt được. Với văn phong ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu, bài viết đảm bảo chuyển tải đầy đủ nội dung mà đồng chí Tổng Bí thư muốn gửi gắm. Ngay từ phần mở đầu, bài viết đã thể hiện được Đảng ta đã cùng trải qua nhiều giai đoạn phát triển của thế giới và nhân loại. Từ đó, Đảng đã xác định đúng mục tiêu của từng giai đoạn và lãnh đạo đất nước phát triển phù hợp với từng thời kỳ phát triển của thế giới.

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Hà Quý Quỳnh cho rằng, bài viết đã xác định những khó khăn, thách thức mà Đảng ta phải đối mặt; những thời cơ phải nắm bắt; nhiệm vụ trọng tâm, chính, cốt yếu; nhiệm vụ thường xuyên liên tục và yêu cầu cần phải quyết tâm, thực hiện tốt hơn nữa từ Trung ương tới từng tổ chức Đảng, Đảng viên và toàn dân để tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, đưa nước ta ngày càng phát triển.

Để hoàn thành mục tiêu vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Hà Quý Quỳnh cho rằng, mỗi cán bộ, đảng viên cần tiếp tục quán triệt sâu sắc, tổ chức thực hiện nghiêm túc các chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật, chính sách của Nhà nước về phát triển nhanh, bền vững; vận dụng vào thực tiễn hoạt động ở địa phương, cơ quan, đơn vị. Cùng với đó, mỗi đảng viên tích cực chủ động nắm bắt thời cơ, vận hội để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, quan tâm hơn nữa đến nhiệm vụ phát triển văn hóa, xã hội, hài hòa và ngang tầm với phát triển kinh tế; bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Để triển khai có hiệu quả những nội dung đồng chí Tổng Bí thư nêu trong bài viết: "Triển khai thực hiện thắng lợi các chương trình, kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra cho nhiệm kỳ khóa XIII và đến năm 2030. Đặc biệt là, cần phải tiếp tục quán triệt, vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm Đại hội XIII của Đảng đã đúc kết được " và "Đảng cần tiếp tục quán triệt, vận dụng thật tốt một số bài học kinh nghiệm về việc đổi mới phương thức lãnh đạo và phong cách, lề lối làm việc được rút ra tại Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khóa XIII. Trong đó, tập trung ưu tiên triển khai thực hiện thật tốt 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm: Phát triển kinh tế; văn hóa, xã hội…", thiết nghĩ mỗi đồng chí đảng viên luôn phải thấm nhuần tư tưởng của Đảng; chấp hành nghiêm kỷ cương, liêm chính; sáng tạo, đổi mới trong lĩnh vực của mình; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; vì lợi ích của tập thể của nhân dân và của đất nước; với vị trò vị trí của mình luôn thể hiện tính tiền phong, gương mẫu của người đảng viên lan tỏa tinh thần này đến thành viên trong gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp từ đó tạo một sự đồng thuận trong toàn xã hội.

Là đảng viên hiện đang công tác tại Văn phòng Đảng ủy Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tiến sỹ Trần Quang Đẩu nhận thức sâu sắc về vai trò trách nhiệm của một đảng viên với Đảng, với Tổ quốc, nhân dân. Bản thân Tiến sỹ Trần Quang Đẩu thường xuyên rèn luyện, học tập để nâng cao trình độ chính trị và chuyên môn nghiệp vụ, tham gia tích cực mọi phong trào ở cơ quan, đơn vị.

Theo Tiến sỹ Trần Quang Đẩu, bài viết của Tổng Bí thư gồm 3 phần chính đã khái quát quá trình Đảng ta ra đời, lãnh đạo đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; Đảng lãnh đạo khắc phục hậu quả chiến tranh, tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Chặng đường 94 năm qua, Đảng ta luôn là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, được nhân dân tin cậy, xác định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong chính trị, người lãnh đạo chân chính duy nhất của cả dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta mà còn trở thành niềm tin sắt son, niềm tự hào của dân tộc.

Nghiên cứu bài viết, Tiến sỹ Trần Quang Đẩu tâm đắc với phần 3: "Tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta"; cho rằng, nội dung này đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đúc kết sâu sắc. Phần này không những nêu một số chủ trương, định hướng lớn, vấn đề bao quát, tổng thể, toàn diện, hội nhập mà còn nêu những nội dung rất cụ thể, chi tiết, yêu cầu về kỷ cương, đạo đức, trí tuệ của mỗi tổ chức, cá nhân Đảng viên và từng người dân.

Đợt kỷ niệm thành lập Đảng năm nay trùng với dịp mừng Xuân Giáp Thìn năm 2024, với khí thế mới, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Tiến sỹ Trần Quang Đẩu mong muốn bài viết của Tổng Bí thư sẽ lan tỏa và in dấu sâu đậm trong tâm trí mỗi cán bộ đảng viên, cá nhân, tổ chức về trang sử hào hùng của Đảng quang vinh, lịch sử vẻ vang của dân tộc, quê hương, đất nước anh hùng; góp phần thực hiện thành công con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn./.
Yêu nước ST.

"Chia rẽ cực đoan" - Một quán điểm hết sức sai lầm về Chủ nghĩa Mác - Lênin.

Quan điểm này đem quy chủ nghĩa Mác - Lênin về “chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan”, đối lập với tư tưởng “đoàn kết và thống nhất của Hồ Chí Minh”.

Đây là sự quy chụp, áp đặt cho chủ nghĩa Mác - Lênin một cách vô căn cứ, vu khống, bịa đặt. Bởi vì chia rẽ, cực đoan không phải là bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin mà đó là tư tưởng và hành động sai lầm của những người theo chủ nghĩa chia rẽ, bè phái, tả khuynh hoặc hữu khuynh...

Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học phản ánh những quy luật khách quan của thế giới, dựa trên phương pháp biện chứng duy vật với các quan điểm khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể và thực tiễn chứ không phải dựa trên chia rẽ và cực đoan, phiến diện, không thể đồng nhất, lẫn lộn những sai lầm đó với chủ nghĩa Mác - Lênin.

Trên thực tế, như chúng ta biết, C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất trong phong trào cách mạng. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!”. Về sau này V.I.Lênin bổ sung thêm: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, xây dựng các chính đảng cách mạng, C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đều yêu cầu phải đoàn kết, thống nhất để tạo thành sức mạnh của tổ chức cách mạng.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn Đảng.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy khi nào đoàn kết thì thắng lợi, chia rẽ là thất bại.

Tổng kết hơn 80 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh năm 2011 của Đảng đã đúc rút bài học quan trọng: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”.

Đảng cũng khẳng định, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay./. 

.Ankhe.st

 

NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

 Nhiều năm trở lại đây, vấn đề dân chủ, nhân quyền là một trong những mục tiêu trọng tâm mà các thế lực thù địch, đối tượng cơ hội, phản động thường xuyên lợi dụng, khai thác để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Các đối tượng liên tục đưa ra những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Theo đó, một số phúc trình, báo cáo về nhân quyền thế giới đưa ra những nhận định, đánh giá thiếu khách quan, không chính xác về vấn đề tự do tôn giáo, dân chủ nhân quyền ở Việt Nam. Mặt khác, các đối tượng chống phá không ngừng rêu rao về cái gọi là "tù nhân lương tâm”, từ đó lợi dụng, đòi quyền can thiệp tình hình nội bộ Việt Nam, cổ súy, kích động những đối tượng vi phạm pháp luật, bất mãn và cơ hội chính trị tố cáo Việt Nam vi phạm quyền con người.

Một số đối tượng được gọi tên và tung hô trên các diễn đàn như "anh hùng” vì đã dũng cảm đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, nhưng trên thực tế lại là các đối tượng thường xuyên kích động nhân dân chống đối chính quyền soạn thảo, phát tán nhiều tài liệu chống phá Đảng, Nhà nước, bôi xấu chế độ hoặc vi phạm pháp luật nhà nước.

Ngoài ra, cũng phải nhắc tới một số cá nhân vì bất mãn cá nhân hoặc mục đích riêng thường xuyên trả lời phỏng vấn báo đài, nước ngoài xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền; thậm chí tập hợp lực lượng là các phần tử, tổ chức trong nước và ngoài nước, hướng dẫn kỹ năng hoạt động chống phá chính quyền.

Với chiêu bài cổ súy, bảo vệ cho những hành vi xem thường luật pháp, gây rối trật tự xã hội, xâm phạm an ninh quốc gia, chống phá chế độ, các đối tượng chống đối trong nước móc ngoặc với các thế lực thù địch bên ngoài tìm mọi cơ hội để lan truyền những thông tin ngụy tạo, sai sự thật hòng đánh lừa dư luận về những sai lầm khuyết điểm của các tổ chức cá nhân, lên án "sự yếu kém của chế độ”, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Mục đích mà các đối tượng hướng đến là nhằm gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự; hạ thấp uy tín, vị thế của Việt Nam; kích động chia rẽ làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước phục vụ cho chiến lược "diễn biến hòa bình” và đích cuối cùng là nhằm chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

Cần khẳng định rằng, trong tiến trình xây dựng nền văn minh, Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới đều quản lý xã hội bằng công cụ pháp luật. Những đối tượng vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý nghiêm khắc theo quy định của luật pháp.

Pháp luật Việt Nam được xây dựng phù hợp quy định của pháp luật quốc tế và yêu cầu thực tiễn nhằm bảo đảm cho sự phát triển tự do của nhân dân, góp phần xây dựng và duy trì xã hội trật tự, ổn định, ngăn chặn các tổ chức và cá nhân lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền con người.

 

Trong đó, tôn trọng và bảo đảm nhân quyền là quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam.

Các luận điệu chống phá mà những đối tượng cơ hội, phản động, các thế lực thù địch đưa ra không dựa trên những thông tin chính thống, có kiểm chứng mà dựa trên những thông tin thu thập theo kiểu cóp nhặt, cắt xén có dụng ý, với động cơ chính trị rõ ràng để bôi nhọ Việt Nam.

Trên thực tế, ngay từ khi thành lập, Nhà nước Việt Nam luôn đặt quyền tự do, dân chủ, nhân quyền của công dân lên hàng đầu, và vấn đề này được quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp năm 2013 quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi công dân một cách đầy đủ. Cụ thể tại Điều 15, Hiến pháp 2013 quy định rõ: Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Công dân Việt Nam được đảm bảo về nhân quyền như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do lập hội, quyền khiếu nại, tố cáo… Pháp luật tôn trọng và bảo vệ những tư tưởng, ý chí, nguyện vọng của mỗi tổ chức và cá nhân nếu phù hợp tinh thần xây dựng và thượng tôn pháp luật, phù hợp chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn hóa của dân tộc.

Đồng thời, nếu những tổ chức và cá nhân có mục đích xấu, động cơ không trong sáng, viện cớ về quyền tự do dân chủ, nhân quyền nhưng lại chà đạp lên quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước thì đều phải chịu các chế tài xử phạt tương ứng.

Với cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm, ưu tiên phát triển con người và thúc đẩy bình đẳng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Việt Nam đã có những nỗ lực không mệt mỏi trong nhiều năm qua để thúc đẩy và bảo đảm nhân quyền.

Nhiều thành tựu về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam được các tổ chức của Liên hợp quốc đánh giá cao. Việt Nam xứng đáng với vai trò là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Thời gian qua, Việt Nam tích cực tham gia và chủ trì các nghị quyết đề cao Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, biến đổi khí hậu và quyền con người,… từ đó có nhiều đóng góp thiết thực đối với hoạt động của Liên hợp quốc.

Việt Nam luôn cầu thị và nỗ lực làm tốt hơn trong vấn đề bảo đảm nhân quyền cho mọi người dân. Trong nhiều báo cáo chính thức của Việt Nam trước các cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc đã thẳng thắn đề cập trực tiếp về những khó khăn Việt Nam gặp phải trong công tác nhân quyền, từ đó đề ra những giải pháp để cải thiện trong thời gian tới.

Thực tế tuy đạt nhiều thành tựu về kinh tế-xã hội với tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định, được sự hỗ trợ, quan tâm từ Chính phủ nhưng nguồn lực của đất nước vẫn còn hạn chế nên cơ sở vật chất các ngành giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao, y tế... còn thiếu thốn, ảnh hưởng đến việc hưởng thụ đầy đủ quyền của người dân, nhất là khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa.

Hệ thống pháp luật hiện hành còn thiếu đồng bộ, chưa thật sự sát với thực tiễn. Nhưng quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân ta là "không ai bị bỏ lại phía sau” và để đạt được điều đó cần sự chung sức, đồng hành, quyết tâm của toàn xã hội.

Trong bối cảnh hiện nay xuất hiện những đối tượng có mục đích đen tối, thiếu trách nhiệm với đất nước, với cộng đồng, cố tình lợi dụng quyền tự do, dân chủ để làm tổn hại lợi ích của Nhà nước và các tổ chức, cá nhân; thường xuyên sử dụng chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Để không bị kẻ xấu dẫn dắt, tin nghe theo những luận điệu sai sự thật, mỗi người cần nâng cao nhận thức, tỉnh táo và cảnh giác trước những thông tin không chính thống xuyên tạc việc bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam. Các cá nhân trong điều kiện và khả năng thực tế cần tích cực tham gia đóng góp công sức vào quá trình phát triển của đất nước; chủ động đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động.