Thứ Năm, 7 tháng 3, 2024
PHẢI NÓI... CHUYỆN KHÓ NÓI”!
Từ việc sinh hoạt chi bộ "bù", nghĩ về trách nhiệm đảng viên
Chi bộ mạnh là nhờ mọi đảng viên đều tốt. Các đảng viên tốt gắn bó, kết hợp lại cấu thành tổ chức chi bộ theo những nguyên tắc nhất định của Đảng và đến lượt mình, tổ chức chi bộ lại quy định mọi hoạt động của đảng viên, trong đó có việc sinh hoạt đảng mà đảng viên phải tuân theo. Chính vì vậy, việc đảng viên thiếu vắng không tham gia sinh hoạt chi bộ đầy đủ đặt ra cho chi uỷ, chi bộ phải nhanh chóng tìm ra lời giải. Yêu cầu đặt ra là, chi uỷ và chi bộ phải làm sao bảo đảm cho đảng viên được tham gia sinh hoạt chi bộ, vừa tạo điều kiện để đảng viên hoàn thành nhiệm vụ công tác chuyên môn nơi cơ quan, đơn vị đảng viên đang công tác, làm việc.
Chi bộ khu dân cư tôi có số đông đảng viên là cán bộ đã nghỉ hưu.
Trừ số đảng viên thuộc diện miễn sinh hoạt, việc sinh hoạt chi bộ định kỳ hằng
tháng thường không bảo đảm sỹ số tham gia, thậm chí có đảng viên thiếu vắng từ
2 đến 3 kỳ sinh hoạt liên tiếp. Bên cạnh số đảng viên có lý do chính đáng như:
ốm đau, bệnh tật hay có công việc đột xuất, số thiếu vắng thường rơi vào các
đảng viên trẻ. Đây là các đảng viên còn đang tham gia công tác, làm việc trong
các cơ quan, đơn vị, có cả công ty liên doanh với nước ngoài, do ở đó chưa có
tổ chức đảng nên được giới thiệu, chuyển về sinh hoạt cùng với chi bộ khu dân
cư.
Với số đảng viên trẻ này, việc vừa bảo đảm thời gian sinh hoạt đầy
đủ với chi bộ để làm tròn nhiệm vụ đảng viên, vừa bảo đảm được kỷ luật, thời
gian lao động rất chặt chẽ của cơ quan, đơn vị nơi họ đang công tác là bài toán
chưa có lời giải. Thậm chí đâu đó đã có ý kiến băn khoăn cho rằng, một người
không thể làm tốt cả hai việc này cùng một lúc. Thực trạng nói trên không thể
không đặt ra cho cấp uỷ, chi bộ nhiều suy nghĩ, trăn trở. Vấn đề trên đã được
nêu ra thảo luận, bàn bạc trong nhiều kỳ sinh hoạt của cấp uỷ và chi bộ. Ngoài
việc thường xuyên tuyên truyền, nhắc nhở, chi uỷ đã có một số biện pháp cụ thể
như ghi sổ theo dõi để chấm điểm thi đua, thực hiện điểm danh cuối mỗi buổi
sinh hoạt chi bộ. Tuy nhiên, mọi cố gắng đều chưa mang lại kết quả. Chi uỷ và
chi bộ cũng đã bàn đến việc thay đổi lịch sinh hoạt chi bộ định kỳ hằng tháng
nhưng vẫn không thành do lịch thời gian sinh hoạt hiện tại đã thành nền nếp ổn
định nhiều năm và là phù hợp với chi bộ khu dân cư có số đông đảng viên là cán
bộ đã nghỉ hưu.
Trong nội bộ chi bộ đã xuất hiện “lời ra tiếng vào”, nhất là vào
dịp tổng kết đánh giá, bình xét, phân loại đảng viên cuối năm. Các ý kiến nêu
ra là đúng và không phải không có lý khi cho rằng không thể cào bằng, đánh giá
các đảng viên tham gia sinh hoạt đầy đủ với đảng viên nghỉ, thiếu vắng sinh
hoạt, dù đã có báo cáo xin phép chi bộ đầy đủ. Việc chia sẻ, thông cảm lẫn nhau
giữa các đảng viên trong cùng một chi bộ, cùng một khu dân cư “tối lửa tắt đèn
có nhau” là cần thiết, song cũng ở mức độ nào đó. Việc thiếu vắng không tham
gia đều đặn các buổi sinh hoạt chi bộ định kỳ hằng tháng của một số đảng viên
của chi bộ là không thể chấp nhận được, đòi hỏi chi bộ phải có sự đổi mới không
chỉ về nền nếp sinh hoạt mà cả về quản lý, kiểm tra, giám sát đối với đảng viên.
Ai cũng biết, đảng viên của Đảng được sinh hoạt, hoạt động trong
một tổ chức đảng chứ không phải một câu lạc bộ theo kiểu “trống đánh xuôi, kèn
thổi ngược”. Chính tính tổ chức chặt chẽ và kỷ luật nghiêm minh đã làm nên sức
mạnh của Đảng. Chi bộ là nền tảng của Đảng, là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ
sở do chính đảng viên xây dựng mà thành. Do vậy là đảng viên của Đảng thì phải
chấp hành Điều lệ Đảng và những quy định của Đảng. Căn cứ Điều lệ Đảng Cộng sản
Việt Nam và Hướng dẫn số 12-HD/TW của Ban Tổ chức Trung ương ngày 6-7-2018 “về
một số vấn đề nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ”, thì “Chi bộ họp thường lệ
mỗi tháng một lần, họp bất thường khi cần”. Với tư cách là tổ chức, cơ quan
lãnh đạo của Đảng vững chắc ở khu dân cư, việc sinh hoạt chi bộ định kỳ hằng
tháng là rất cần thiết nhằm: Đánh giá kết quả công tác lãnh đạo của chi bộ
trong tháng; trao đổi, thống nhất nhiệm vụ công tác cho tháng tiếp theo; xác
định, trao đổi những vấn đề trọng tâm liên quan đến chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước, yêu cầu của cấp ủy cấp trên; đánh giá tình hình
tư tưởng đảng viên và quần chúng; lắng nghe phản ánh ý kiến, tâm tư, nguyện
vọng của đảng viên và quần chúng.
Chi bộ mạnh là nhờ mọi đảng viên đều tốt. Các đảng viên tốt gắn
bó, kết hợp lại cấu thành tổ chức chi bộ theo những nguyên tắc nhất định của
Đảng và đến lượt mình, tổ chức chi bộ lại quy định mọi hoạt động của đảng viên,
trong đó có việc sinh hoạt đảng mà đảng viên phải tuân theo. Chính vì vậy, việc
đảng viên thiếu vắng không tham gia sinh hoạt chi bộ đầy đủ đặt ra cho chi uỷ,
chi bộ phải nhanh chóng tìm ra lời giải. Yêu cầu đặt ra là, chi uỷ và chi bộ
phải làm sao bảo đảm cho đảng viên được tham gia sinh hoạt chi bộ, vừa tạo điều
kiện để đảng viên hoàn thành nhiệm vụ công tác chuyên môn nơi cơ quan, đơn vị
đảng viên đang công tác, làm việc. Nói cách khác, một khi quyền, trách nhiệm,
nghĩa vụ đảng viên được thực hiên tốt, đồng nghĩa với việc thực hiện quy định
của Đảng về tôn trọng nguời lao động, tạo điều kiện để họ yên tâm hơn trong công
tác chuyên môn, bảo đảm có thu nhập, phát triển kinh tế và ổn định cuộc sống
gia đình.
Trong “cái khó ló cái khôn” và sáng kiến đã xuất hiện. Trong một
buổi sinh hoạt tổ đảng, vấn đề nêu trên lại được đưa ra thảo luận dân chủ, có ý
kiến đề xuất: “Tại sao chi uỷ không tổ chức sinh hoạt “bù” vào một khung giờ
thích hợp cho số đảng viên còn thiếu, vắng trong các buổi sinh hoạt chi bộ
chính thức?”. Vậy là quyền dân chủ, quyền được trình bày ý kiến của đảng viên
đã được phát huy. Cuộc họp chi uỷ và tiếp theo là họp chi bộ ngay sau đó, ý
kiến nói trên được tập thể chi uỷ và đa số đảng viên trong hội nghị chi bộ
nhanh chóng tán thành và có sự nhất trí cao.
Lẽ dĩ nhiên, cuộc họp chi bộ “bù” đầu tiên ngay sau đó cũng đã
được tổ chức vào một khung giờ buổi tối của một ngày nghỉ mà việc thăm dò trước
đó cho thấy là thích hợp. Buổi sinh hoạt có mặt của tập thể chi uỷ cùng hầu hết
số đảng viên trẻ đã diễn ra đầm ấm, chân thành và thành công rất tốt đẹp. Vui
nhất chính là các đảng viên trẻ còn đang tham gia công tác. Một ý kiến đại điện
cho tiếng nói chung của những người dự họp chia sẻ: “Xin cảm ơn sáng kiến của
chi bộ, bởi từ nay chúng tôi thấy yên tâm hơn để vừa làm tròn trách nhiệm,
nghĩa vụ đảng viên, vừa bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ công tác chuyên môn, không
còn thấp thỏm lo đi làm thì phải bỏ sinh hoạt đảng, còn đi họp đảng thì lại trễ
giờ, vi phạm kỷ luật lao động của cơ quan, đơn vị”.
Nhìn nụ cười và niềm vui ánh lên trên khoé mắt các đảng viên trẻ,
từ đồng chí bí thư chi bộ, các đồng chí chi uỷ viên đều cảm thấy vui lây với
họ, như trút được một gánh nặng, trăn trở bấy lâu nay, càng cảm nhận và thấm
nhuần hơn ý nghĩa của việc thường xuyên “tự đổi mới, tự chỉnh đốn” là một quy
luật tồn tại và phát triển của Đảng, không loại trừ cả những sáng kiến dù nhỏ
bé bắt đầu từ cơ sở.
Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam trong tình hình hiện nay
Tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh”, “giặc nội xâm”, là “nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ”, trở ngại lớn đối với sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước; gây mất niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Nhận thức được điều đó, Đảng ta luôn nhấn mạnh rằng công tác phòng, chống tham nhũng trong bất cứ thời đại nào cũng mang mục đích đảm bảo sự tồn vong của chế độ, giữ ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân đối với giai cấp cầm quyền.
Công tác phòng, chống tham nhũng là một công tác thường xuyên, lâu
dài, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị để đảm bảo hiệu quả của công
tác này. Thời gian vừa qua, với công cuộc “đốt lò” ấn tượng của Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng, Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định trong công tác
phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, với những ý đồ thâm độc của các thế lực thù
địch từ trước đến nay vẫn luôn muốn chống phá đất nước ta nhằm hạ thấp uy tín,
vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, chúng ra sức tuyên truyền,
xuyên tạc về công tác phòng, chống tham nhũng của ta. Đứng trước những quan
điểm sai trái, thù địch đó, chúng ta cần phải tỉnh táo, nhìn nhận một cách
khách quan và đưa ra những luận cứ xác đáng để đấu tranh, phản bác lại
chúng.
Việc chống tham nhũng là một công tác vô cùng quan trọng để đảm
bảo sự trong sạch, công bằng và phát triển bền vững của đất nước. Việc xử lý
nghiêm các cán bộ, đảng viên có dính líu đến các vụ án tham nhũng không chỉ là
để trừng phạt hành vi sai trái của họ, mà còn là để đánh giá, cải cách hệ thống
chính trị, giúp cho Chính phủ hoạt động tốt hơn, cải thiện hành vi của người
quản lý và bảo vệ quyền lợi của người dân. Việc chống tham nhũng không phải là
một cuộc “đàn áp”, mà là một nỗ lực chung của toàn xã hội nhằm bảo vệ tài sản
công và đảm bảo sự công khai, minh bạch của các tổ chức, cá nhân. Những luận
điệu như “Làm nhiều, sai nhiều. Làm ít, sai ít. Không làm, không sai” chỉ thể
hiện sự tiêu cực và thiếu trách nhiệm của những người đang sử dụng chúng. Chúng
ta đang thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng một cách nghiêm túc, đồng
thời tạo ra một môi trường làm việc công bằng, minh bạch và đầy đủ trách nhiệm
để khuyến khích sự cống hiến của các cán bộ, đảng viên. Theo đó, chúng ta không
thể để các thế lực thù địch đưa ra các luận điệu để hướng lái nới lỏng công tác
phòng, chống tham nhũng. Cần phải duy trì một sự nghiêm khắc trong việc chống
tham nhũng và đảm bảo các cán bộ, đảng viên có trách nhiệm của mình trong việc
phòng, chống tham nhũng. Đồng thời, cần tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức
của người dân về tầm quan trọng của công tác này, giúp họ hiểu được tác động
tích cực của việc phòng, chống tham nhũng đến cuộc sống và phát triển của đất
nước.
1. Hoạt động đấu
tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham
nhũng ở Việt Nam trong thời gian gần đây
Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch vẫn ngày càng chống
phá quyết liệt và sử dụng những thủ đoạn hết sức tinh vi, gây ra những hậu quả
nhất định cho ta, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng thẳng thắn đánh giá: “Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan
điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc
bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa
kịp thời”[3]. Do đó, từ việc nhận diện những luận điệu sai trái,
xuyên tạc về công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta của các thế lực thù
địch, cần phải đi đôi với việc kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai
trái, thù địch, phải: “Tăng
cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh
phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh ngăn
chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu
hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”[4].
Đảng ta xác định công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai
trái thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng là cuộc đấu tranh lâu dài và
phải được triển khai thường xuyên, liên tục. Do đó, thời gian vừa qua, chúng ta
đã chủ động đấu tranh với hoạt động này một cách tích cực nhất.
Góp phần vào hiệu quả công tác đấu tranh này phải kể đến sự đóng
góp không nhỏ của các phương tiện truyền thông trên không gian mạng. Chúng ta
đã tích cực đấu tranh trên mặt trận truyền thông này một cách triệt để nhằm
định hướng dư luận, tuyên truyền những thông tin chính thống đến đông đảo quần
chúng, đập tan những âm mưu nhằm hướng lái công cuộc đấu tranh phòng, chống
tham nhũng của ta đi lệch khỏi quỹ đạo vốn có của nó. Theo đó, chúng ta đã xây
dựng, sản xuất các sản phẩm, ấn phẩm, xuất bản phẩm về những nội dung lý luận
liên quan đến công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về
công tác phòng, chống tham nhũng trên in-tơ-nét, các ứng dụng trên mạng xã hội.
Trực tiếp xây dựng và phát triển các trang fanpage với mục đích định hướng dư
luận, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về công tác phòng,
chống tham nhũng trên mạng xã hội; sử dụng các nickname tài khoản mạng xã hội
tham gia các diễn đàn, truy cập vào các trang mạng của đối tượng viết bài phản
kích dưới dạng các bình luận. Thông qua hoạt động này, chúng ta đã thực hiện
nhiều chương trình, chuyên mục, bài viết phản kích các luận điệu tuyên truyền,
xuyên tạc quan điểm sai trái, thù địch của đối tượng. Từ đó mà củng cố niềm tin
của nhân dân vào chính quyền, luôn luôn lắng nghe, thấu hiểu những tâm tư,
nguyện vọng của nhân dân.
Bên cạnh đó, vai trò của báo chí trong việc định hướng dư luận,
phản biện xã hội cũng đóng góp tích cực vào công cuộc đấu tranh phản bác các
quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng. Trên cơ sở
công tác nắm tình hình, phát hiện các quan điểm sai trái, thù địch về công tác
phòng, chống tham nhũng, chúng ta đã tiến hành tổ chức đưa tin để phản bác. Qua
đó, các cơ quan thông tấn, báo chí đã tăng cường đăng cái bài viết mang tính
chất phản bác lại, định hướng dư luận với những luận cứ thuyết phục nhất.
Có thể thấy công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái,
thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua đã đạt được
những thành tựu nhất định song vẫn còn một số hạn chế, bất cập cần khắc phục
như: (i) Công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công
tác phòng, chống tham nhũng đôi lúc còn chưa kịp thời, dẫn đến chúng quy chụp
Đảng ta không dám nói, thừa nhận những luận điệu của chúng. Làm suy giảm niềm
tin của quần chúng nhân dân; (ii) một số cán bộ trực tiếp đấu tranh, phản bác
còn hạn chế về kỹ năng diễn đạt, viết bài phản bác, chưa thực sự đủ sức
thuyết phục, “nghèo nàn” về luận cứ, luận điểm dẫn đến việc phản bác chưa thực
sự hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc, “mị dân” của thế lực thù địch;
(iii) chưa phát huy hết vai trò của các cơ quan báo chí trong đấu tranh,
phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham
nhũng. Quan hệ phối hợp giữa các cơ quan chức năng với các cơ quan báo chí còn
chưa thật sự đống bộ, liên tục và chưa có cơ chế phối hợp một cách hợp lý; (iv)
chưa huy động tối đa vai trò của quần chúng nhân dân trong việc đấu tranh, phản
bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng.
2. Một số đề xuất giải pháp, khuyến nghị
Trước những âm mưu và hành động của các thế lực thù địch chống phá
sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong thời gian qua, Đảng
ta đã tiếp tục nhấn mạnh: “Các thế lực thù địch chống phá ngày càng quyết liệt”[5].
Trên cơ sở nhận định trên, Đảng ta tiếp tục khẳng định sự quyết tâm, cũng như
trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng
viên phải luôn: “Tích cực phòng ngừa, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm
mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các loại tội
phạm”[6].
Vì thế, để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm
sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng trong thời gian tới, tác
giả xin đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị cơ bản sau:
Thứ nhất,
Đảng ta tiếp tục đẩy mạnh công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai
trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng trong thời gian tới. Việt
Nam đang trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ, đây cũng là
tiền đề, điều kiện để các thế lực thù địch, các phần tử phản động tăng cường
tuyên truyền, xuyên tạc, đưa ra những quan điểm sai trái, thù địch để chống phá
Đảng, Nhà nước ta, đặc biệt chúng triệt để tấn công vào công tác phòng, chống
tham nhũng của Việt Nam trong xuyên suốt thời gian vừa qua.
Thứ hai,
tập trung đầu tư vào chương trình đào tạo và bồi dưỡng chuyên sâu về công tác
đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng,
chống tham nhũng cho cán bộ trực tiếp đấu tranh, phản bác; chú trọng hướng dẫn
kỹ năng diễn đạt, viết bài phản bác. Đồng thời, cần thiết lập các chương
trình đào tạo liên ngành để tăng cường sự hiểu biết và tư duy toàn diện về
những luận điệu của các thế lực thù địch.
Ba là, phát huy vai trò của các tổ chức cơ quan
thông tấn, báo chí trong việc đấu tranh, phản bác các quan điểm sai
trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng. Thông qua các hoạt
động của báo chí giúp tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các quan điểm của
Đảng, Nhà nước về công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai
trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng.
Bốn là, huy động quần chúng nhân dân
tham gia vào đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công
tác phòng, chống tham nhũng. Đây là lực lượng đông đào, góp phần thực hiện
thắng lợi trên mọi mặt trận, do đó cần phải triệt để phát huy vai trò của quần
chúng nhân dân vào công cuộc đấu tranh này. Mỗi quần chúng là một “chiến sĩ”,
với việc được trang bị đầy đủ kiến thức, nhận diện một cách đầy đủ, chính xác
về các luận điệu “mị dân” của thế lực thù địch thì quần chúng nhân dân hoàn
toàn có thể đấu tranh, phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch này.
Có thể thấy, đất
nước ta vẫn đang trong tiến trình hội nhập và phát triển, công tác phòng, chống
tham nhũng vẫn luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của Đảng, các thế lực thù
địch vẫn sẽ luôn “bấu víu” vào công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng ta để
đưa ra các luận điệu “mị dân”, phủ nhận những thành quả mà ta đã đạt được trong
công cuộc phòng, chống tham nhũng. Vì vậy, việc đấu tranh, phản bác các quan
điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng vẫn sẽ luôn là công
tác thường xuyên, liên tục của Đảng để từ đó tiến tới xây dựng đất nước phồn
vinh, hạnh phúc, Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đảng cầm
quyền.
Chính sách, pháp luật về bình đẳng giới đối với công tác phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nữ hiện nay
Trong những năm qua, hệ thống luật pháp, chính sách về bình đẳng giới của Việt Nam liên tục được hoàn thiện, tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực đào tạo nâng cao nguồn nhân lực chất lượng nữ trong hệ thống chính trị Việt Nam.
Thứ nhất, hệ
thống chỉ tiêu về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị ở Việt Nam chưa toàn
diện, chưa cụ thể, gây khó khăn cho công tác phát triển cán bộ lãnh đạo nữ
trong hệ thống chính trị. Hiện nay, chúng ta chưa có các chỉ tiêu về tỷ lệ nữ
giới làm lãnh đạo cấp vụ và tương đương, cấp phòng và tương đương trong bộ máy
chính quyền nhà nước, các cơ quan của Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội
các cấp. Chúng ta cũng chưa có quy định về tỷ lệ nữ giới trong một số khâu của
quá trình cán bộ như khâu tuyển dụng, khâu luân chuyển cán bộ để đảm bảo đạt
được tỷ lệ cán bộ nữ ở khâu bổ nhiệm. Hệ thống chỉ tiêu bình đẳng giới trong
lĩnh vực chính trị chưa mang tính toàn diện dẫn đến tình trạng khó giám sát
việc thực hiện bình đẳng giới trong các khâu của quá trình cán bộ.
Thứ hai, quy
định khác nhau về độ tuổi nghỉ hưu giữa nam giới và nữ giới là quy định chưa
đảm bảo tính công bằng. Điều 7 Luật Bình đẳng giới khẳng định: “Bảo đảm bình
đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình;
hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để
tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển”.
Tuy nhiên, quy định tại Bộ luật Lao động hiện nay đang có sự khác biệt về độ
tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ (60 tuổi đối với nữ, 62 tuổi đối với nam theo lộ
trình), trong khi độ tuổi bắt đầu tham gia lao động không có sự phân biệt về
giới (người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên). Độ tuổi nghỉ hưu liên
quan chặt chẽ đến độ tuổi quy hoạch, bổ nhiệm, từ đó, dẫn đến bất bình đẳng về
cơ hội phát triển nghề nghiệp, khả năng tham chính giữa nam và nữ. Do đó, sự
khác biệt về tuổi nghỉ hưu đã trở thành rào cản đối với nữ giới, hạn chế các cơ
hội tiếp cận với đào tạo và phát triển, các cơ hội thăng tiến, đề bạt đối với nữ
giới ở những vị trí lãnh đạo, quản lý cấp cao.
Thứ ba, một
số luật và chính sách liên quan đến công tác cán bộ còn gây ra những khó khăn,
bất lợi cho nữ giới trong việc tiếp cận các cơ hội lãnh đạo, quản lý.
Về quy hoạch cán bộ, Hướng dẫn số 16-HD/BTCTW năm 2022 của Ban Tổ
chức Trung ương Hướng dẫn một số nội dung cụ thể về công tác quy hoạch cán bộ
quy định khá bình đẳng giữa nam và nữ, tuy nhiên, có những điều khoản quy định
còn mang tính chung chung, khó vận dụng. Như “Điều 9 - Về cơ cấu, tỷ lệ cán bộ
trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số ở cấp xã và tương đương, ban
thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương quy định cụ thể để
thực hiện thống nhất cho phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế của địa
phương, cơ quan, đơn vị”. Nhưng quy định chưa định lượng cụ thể về chỉ tiêu sẽ
rất khó thực hiện, vì nó phụ thuộc vào ý chí, quyết tâm chính trị của các cấp
uỷ đảng và những người đứng đầu trong công tác cán bộ nữ ở địa phương, cơ
quan/tổ chức. Hay Điều 4 hướng dẫn “Lấy quy hoạch các chức danh cấp uỷ làm cơ
sở để quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý, bảo đảm đồng bộ với các chủ
trương, quy định của Đảng về bố trí cán bộ” trên thực tế cũng hạn chế một phần
tỉ lệ nữ trong quy hoạch (vì số lượng, vị trí của quy hoạch cấp uỷ ít hơn nhiều
so với số lượng, vị trí của quy hoạch bên chính quyền). Việc quy định cán bộ
đưa vào quy hoạch phải đủ tuổi công tác từ 2 nhiệm kỳ trở lên, ít nhất cũng
phải đủ một nhiệm kỳ là một cản trở đối với cán bộ nữ. Với tuổi nghỉ hưu chênh
lệch như hiện nay, nữ giới sẽ bị mất cơ hội thăng tiến ở các vị trí lãnh đạo,
quản lý so với nam giới. Hơn nữa, mặc dù đã có quy định về tỷ lệ nữ trong quy
hoạch, song chưa có một văn bản nào quy định các chế tài đối với những cơ quan,
tổ chức không có đủ nguồn nữ trong quy hoạch, nhất là quy hoạch ở các vị trí
lãnh đạo chủ chốt.
Về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chúng ta chưa làm tốt chính sách hỗ
trợ cho nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng có con
nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Khoản 4, Điều 14 Luật Bình đẳng giới quy định: “Nữ cán
bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới 36
tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ”. Theo đó, Điều 18 Nghị định
48/2009/NĐ-CP giao Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và các bộ, ngành khác có liên
quan xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực
hiện quy định hỗ trợ nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi
dưỡng mang theo con dưới 36 tháng tuổi, cụ thể: “1. Quy định các hình thức đào
tạo linh hoạt, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nữ cán bộ, công chức, viên
chức đang nuôi con nhỏ; 2. Quy định hỗ trợ bằng tiền; tạo điều kiện về nơi ở,
nơi gửi trẻ, trường mầm non khi nữ cán bộ, công chức, viên chức mang theo con
đến cơ sở đào tạo, bồi dưỡng”. Tuy nhiên, đến thời điểm này vẫn chưa có hướng
dẫn của Bộ Nội vụ về tổ chức thực hiện, do vậy, hầu hết các địa phương khi xây
dựng quy định chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức
không đề cập đến nội dung trên, đã hạn chế đáng kể cơ hội học tập và thăng tiến
của nữ giới.
Về bổ nhiệm cán bộ, hiện nay, các tiêu chuẩn cụ thể cho các vị trí
lãnh đạo, quản lý là giống nhau cho cả cán bộ nữ và cán bộ nam nhưng cơ hội
được bổ nhiệm của cán bộ nữ bị hạn chế hơn cán bộ nam do sự chênh lệnh về độ
tuổi quy hoạch và bổ nhiệm lần đầu giữa nam và nữ. Chúng ta chưa thực hiện các
biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong các văn bản hướng dẫn về bổ nhiệm cán
bộ. Đó là việc quy định lựa chọn ứng cử viên nữ trong trường hợp cả nam và nữ
có điều kiện, tiêu chuẩn như nhau. Chưa xác định các giải pháp cụ thể để có thể
đạt chỉ tiêu đề ra trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc lồng ghép giới.
Thứ tư, công tác lồng ghép giới trong việc xây dựng hệ thống văn bản pháp
luật còn chưa thực sự hiệu quả. Lồng ghép giới là quá trình nhận ra những thách
thức đối với nữ giới trong công tác cán bộ, từ đó đưa ra các giải pháp, bước
đi, hành động cụ thể nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra. Các giải pháp này nhằm
tăng cường sự tham gia của nữ trong toàn bộ quá trình của công tác cán bộ. Quá
trình đó không chỉ nâng cao năng lực cho cán bộ nữ mà còn tạo ra sự thay đổi
trong nhận thức của tất cả các giới, từng bước tạo sự ủng hộ của nam giới, đặc
biệt là lãnh đạo các cấp, các nhà làm chính sách đối với sự tham gia của phụ nữ
vào các vị trí lãnh đạo, quản lý.
Trong thời gian qua, hầu hết các bộ, ngành chủ trì soạn thảo các
văn bản quy phạm pháp luật đã xem xét vấn đề lồng ghép giới nhưng nội dung lồng
ghép giới trong các dự thảo chưa được quan tâm thỏa đáng, quá trình soạn thảo
chưa thực sự tuân thủ nghiêm về quy trình, thủ tục phân tích giới, lồng ghép
giới một cách sâu sắc. Phần lớn các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đều cho
rằng các nội dung được quy định trong dự án, dự thảo văn bản là trung tính, quy
định như nhau đối với cả nam và nữ, không phân biệt đối xử giữa nam và nữ, do
vậy, không tạo ra tình trạng bất bình đẳng giới...
Từ những phân tích về bất cập của khung luật pháp, chính sách về
bình đẳng giới nêu trên, thiết nghĩ, để góp phần nâng cao công tác phát triển
đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nữ trong hệ thống chính trị Việt Nam,
chúng ta cần bổ sung, đổi mới một số chính sách về bình đẳng giới nói chung, về
công tác cán bộ nữ nói riêng:
Thứ nhất, rà soát lại những chỉ tiêu về tỷ lệ nữ
lãnh đạo, quản lý còn mang tính định tính, thiếu cụ thể, đồng thời bổ sung
những chỉ tiêu cụ thể, định lượng về tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý trong các cơ
quan đảng, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội. Đảm bảo các chỉ tiêu cán
bộ được cập nhật hằng năm.
Thứ hai, rà
soát lại hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến sự tham gia lãnh đạo,
quản lý của nữ giới, xoá bỏ những quy định đang hạn chế sự tham gia, tiếp cận
cơ hội và thụ hưởng các cơ hội làm lãnh đạo, quản lý đối với nữ giới trong hệ
thống chính trị.
Thứ ba, thực hiện lồng ghép giới một cách nhất
quán trong các khâu của công tác cán bộ bên cạnh việc nâng cao nhận thức về
bình đẳng giới và các chương trình nâng cao năng lực cho cán bộ nữ. Bộ Tư pháp
tiếp tục tăng cường hướng dẫn nghiệp vụ, tổ chức tập huấn kỹ năng thực hiện
lồng ghép giới trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cho đội ngũ
cán bộ pháp chế của các bộ, ngành và địa phương, cán bộ tư pháp từ cấp tỉnh đến
cấp xã.
Thứ tư, bổ
sung những hình thức hướng dẫn các phương pháp đạt tỷ lệ chỉ tiêu cán bộ lãnh
đạo nữ trong các văn bản liên quan đến công tác cán bộ.
Thứ năm, bổ sung và tăng cường các biện pháp kiểm
tra, giám sát cụ thể, các hình thức khen thưởng và kỷ luật vào các văn bản về
bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị và công tác cán bộ.
Thứ sáu, xây dựng tiêu chí đánh giá cán bộ khách quan với các
chỉ số đo lường cụ thể. Bộ tiêu chí này cần đảm bảo người lao
động thực hiện đúng các trách nhiệm trong bản mô tả công việc của
từng vị trí chức danh cụ thể. Các chỉ số đánh giá mang tính định
lượng cao, có thể đo lường cụ thể do đó nâng cao hiệu quả của đánh
giá thực hiện công việc.Việc sử dụng bộ tiêu chí đánh giá góp
phần làm cho đánh giá thực hiện công việc trở nên minh bạch, rõ
ràng, cụ thể, công bằng và hiệu quả hơn...
Thứ bảy, nâng cao trách nhiệm giải trình về công tác cán bộ nữ
và thực hiện bình đẳng giới trong cơ quan tổ chức. Cần có quy định
trách nhiệm cụ thể cho người đứng đầu cơ quan/đơn vị, mà trước hết
là người đứng đầu các bộ, ban, ngành. Xây dựng và thực hiện mục
tiêu bình đẳng giới và phát triển đội ngũ cán bộ nữ cần được xem là
một trong những tiêu chuẩn của cán bộ lãnh đạo, quản lý.
CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: VANG MÃI CHIẾN THẮNG “CÁT BI RỰC LỬA”!
Yêu nước ST.
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TIẾP THÊM SỨC MẠNH ĐỂ HOÀN THÀNH MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC GIÀU ĐẸP, VĂN MINH!
"Chia rẽ cực đoan" - Một quán điểm hết sức sai lầm về Chủ nghĩa Mác - Lênin.
Quan điểm này đem quy chủ nghĩa Mác - Lênin về “chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan”, đối lập với tư tưởng “đoàn kết và thống nhất của Hồ Chí Minh”.
Đây là sự quy chụp, áp đặt cho chủ nghĩa Mác - Lênin một cách vô căn cứ, vu khống, bịa đặt. Bởi vì chia rẽ, cực đoan không phải là bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin mà đó là tư tưởng và hành động sai lầm của những người theo chủ nghĩa chia rẽ, bè phái, tả khuynh hoặc hữu khuynh...
Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học phản ánh những quy luật khách quan của thế giới, dựa trên phương pháp biện chứng duy vật với các quan điểm khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể và thực tiễn chứ không phải dựa trên chia rẽ và cực đoan, phiến diện, không thể đồng nhất, lẫn lộn những sai lầm đó với chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trên thực tế, như chúng ta biết, C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất trong phong trào cách mạng. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!”. Về sau này V.I.Lênin bổ sung thêm: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, xây dựng các chính đảng cách mạng, C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đều yêu cầu phải đoàn kết, thống nhất để tạo thành sức mạnh của tổ chức cách mạng.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn Đảng.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy khi nào đoàn kết thì thắng lợi, chia rẽ là thất bại.
Tổng kết hơn 80 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh năm 2011 của Đảng đã đúc rút bài học quan trọng: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”.
Đảng cũng khẳng định, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay./.
.Ankhe.st
NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH VỚI
LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC
VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT
NAM
Theo đó, một số phúc trình, báo cáo về nhân
quyền thế giới đưa ra những nhận định, đánh giá thiếu khách quan, không chính
xác về vấn đề tự do tôn giáo, dân chủ nhân quyền ở Việt Nam. Mặt khác, các đối
tượng chống phá không ngừng rêu rao về cái gọi là "tù nhân lương tâm”, từ
đó lợi dụng, đòi quyền can thiệp tình hình nội bộ Việt Nam, cổ súy, kích động
những đối tượng vi phạm pháp luật, bất mãn và cơ hội chính trị tố cáo Việt Nam
vi phạm quyền con người.
Một số đối tượng được gọi tên và tung hô trên
các diễn đàn như "anh hùng” vì đã dũng cảm đấu tranh cho dân chủ, nhân
quyền ở Việt Nam, nhưng trên thực tế lại là các đối tượng thường xuyên kích
động nhân dân chống đối chính quyền soạn thảo, phát tán nhiều tài liệu chống
phá Đảng, Nhà nước, bôi xấu chế độ hoặc vi phạm pháp luật nhà nước.
Ngoài ra, cũng phải nhắc tới một số cá nhân
vì bất mãn cá nhân hoặc mục đích riêng thường xuyên trả lời phỏng vấn báo đài,
nước ngoài xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền; thậm chí tập
hợp lực lượng là các phần tử, tổ chức trong nước và ngoài nước, hướng dẫn kỹ
năng hoạt động chống phá chính quyền.
Với chiêu bài cổ súy, bảo vệ cho những hành
vi xem thường luật pháp, gây rối trật tự xã hội, xâm phạm an ninh quốc gia,
chống phá chế độ, các đối tượng chống đối trong nước móc ngoặc với các thế lực
thù địch bên ngoài tìm mọi cơ hội để lan truyền những thông tin ngụy tạo, sai
sự thật hòng đánh lừa dư luận về những sai lầm khuyết điểm của các tổ chức cá
nhân, lên án "sự yếu kém của chế độ”, xuyên tạc chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước.
Mục đích mà các đối tượng
hướng đến là nhằm gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự; hạ thấp uy tín,
vị thế của Việt Nam; kích động chia rẽ làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng,
Nhà nước phục vụ cho chiến lược "diễn biến hòa bình” và đích cuối cùng là
nhằm chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
Cần khẳng định rằng, trong tiến trình xây
dựng nền văn minh, Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới đều quản lý xã
hội bằng công cụ pháp luật. Những đối tượng vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý
nghiêm khắc theo quy định của luật pháp.
Pháp luật Việt Nam được xây dựng phù hợp quy
định của pháp luật quốc tế và yêu cầu thực tiễn nhằm bảo đảm cho sự phát triển
tự do của nhân dân, góp phần xây dựng và duy trì xã hội trật tự, ổn định, ngăn
chặn các tổ chức và cá nhân lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền con
người.
Trong đó, tôn trọng và bảo đảm nhân quyền là
quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam.
Các luận điệu chống phá mà những đối tượng cơ
hội, phản động, các thế lực thù địch đưa ra không dựa trên những thông tin
chính thống, có kiểm chứng mà dựa trên những thông tin thu thập theo kiểu cóp
nhặt, cắt xén có dụng ý, với động cơ chính trị rõ ràng để bôi nhọ Việt Nam.
Trên thực tế, ngay từ khi thành lập, Nhà nước
Việt Nam luôn đặt quyền tự do, dân chủ, nhân quyền của công dân lên hàng đầu,
và vấn đề này được quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp năm 2013
quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi công dân một cách đầy đủ. Cụ thể tại
Điều 15, Hiến pháp 2013 quy định rõ: Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ
công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có
trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền
con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền
và lợi ích hợp pháp của người khác.
Công dân Việt Nam được đảm bảo về nhân quyền
như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do lập hội,
quyền khiếu nại, tố cáo… Pháp luật tôn trọng và bảo vệ những tư tưởng, ý chí,
nguyện vọng của mỗi tổ chức và cá nhân nếu phù hợp tinh thần xây dựng và thượng
tôn pháp luật, phù hợp chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn hóa của dân tộc.
Đồng thời, nếu những tổ chức và cá nhân có
mục đích xấu, động cơ không trong sáng, viện cớ về quyền tự do dân chủ, nhân
quyền nhưng lại chà đạp lên quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân,
xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước thì đều phải chịu các chế tài xử phạt tương
ứng.
Với cách tiếp cận lấy con người làm trung
tâm, ưu tiên phát triển con người và thúc đẩy bình đẳng trong các chiến lược và
kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Việt Nam đã có những nỗ lực
không mệt mỏi trong nhiều năm qua để thúc đẩy và bảo đảm nhân quyền.
Nhiều thành tựu về bảo đảm quyền con người ở
Việt Nam được các tổ chức của Liên hợp quốc đánh giá cao. Việt Nam xứng đáng
với vai trò là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ
2023-2025. Thời gian qua, Việt Nam tích cực tham gia và chủ trì các nghị quyết
đề cao Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, biến đổi khí hậu và quyền con người,…
từ đó có nhiều đóng góp thiết thực đối với hoạt động của Liên hợp quốc.
Việt Nam luôn cầu thị và nỗ lực làm tốt hơn
trong vấn đề bảo đảm nhân quyền cho mọi người dân. Trong nhiều báo cáo chính
thức của Việt Nam trước các cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc đã thẳng thắn đề
cập trực tiếp về những khó khăn Việt Nam gặp phải trong công tác nhân quyền, từ
đó đề ra những giải pháp để cải thiện trong thời gian tới.
Thực tế tuy đạt nhiều thành tựu về kinh tế-xã
hội với tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định, được sự hỗ trợ, quan tâm từ Chính
phủ nhưng nguồn lực của đất nước vẫn còn hạn chế nên cơ sở vật chất các ngành
giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao, y tế... còn thiếu thốn, ảnh hưởng đến
việc hưởng thụ đầy đủ quyền của người dân, nhất là khu vực miền núi, hải đảo,
vùng sâu, vùng xa.
Hệ thống pháp luật hiện hành còn thiếu đồng
bộ, chưa thật sự sát với thực tiễn. Nhưng quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân ta
là "không ai bị bỏ lại phía sau” và để đạt được điều đó cần sự chung sức,
đồng hành, quyết tâm của toàn xã hội.
Trong bối cảnh hiện nay xuất hiện những đối
tượng có mục đích đen tối, thiếu trách nhiệm với đất nước, với cộng đồng, cố
tình lợi dụng quyền tự do, dân chủ để làm tổn hại lợi ích của Nhà nước và các
tổ chức, cá nhân; thường xuyên sử dụng chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền để
chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Để không bị kẻ xấu dẫn dắt, tin nghe theo
những luận điệu sai sự thật, mỗi người cần nâng cao nhận thức, tỉnh táo và cảnh
giác trước những thông tin không chính thống xuyên tạc việc bảo đảm nhân quyền
ở Việt Nam. Các cá nhân trong điều kiện và khả năng thực tế cần tích cực tham
gia đóng góp công sức vào quá trình phát triển của đất nước; chủ động đấu
tranh, ngăn chặn làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực
thù địch, phản động.






