Thứ Năm, 7 tháng 3, 2024

GIỮ VỮNG CÁC NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC SINH HOẠT TRONG ĐẢNG VÀ SỬA ĐỔI PHONG CÁCH LÀM VIỆC

 


Nghiên cứu, học tập, vận dụng đúng đắn, sáng tạo để bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của quân đội. Thường xuyên tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cho hệ tư tưởng của Đảng giữ vai trò chủ đạo chi phối, định hướng nhận thức và hành động của quân đội. Thường xuyên làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bổ sung, hoàn thiện đường lối. Đấu tranh kiên quyết chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại, các trào lưu tư tưởng tư sản, phản động, những quan điểm, hiện tượng sai trái, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tinh thần của xã hội, của Đảng và Nhà nước, quân đội.

Vì vậy, các tổ chức đảng và mỗi đảng viên phải nghiêm chính chấp hành đường lối chíng sách của Đảng triệt để tuân thủ các nghị quyết, chỉ thị mệnh lệnh của cấp trên, nói và làm theo nghị quyết tập thể. Do đặc điểm và tính trực tiếp của cơ sở nên các cấp uỷ đảng ở cơ sở phải có tác phong sâu sát thực tế, cụ thể tỷ mỉ, không qua nhiều tầng nấc trung gian, gần gũi với hoạt động và đời sống của bộ đội. Trong quá trình kiểm tra đơn vị nhanh chóng phát hiện vấn đề, hướng dẫn và thậm trí trực tiếp giải quyết những vướng mắc nảy sinh từ cơ sở trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ; miệng nói tay làm, thường xuyên giúp đỡ cấp dưới một cách thiết thực.

 Trong công tác lãnh đạo phải thực sự dân chủ, công khai, công bằng, tính kỷ luật cao. Các tổ chức cơ sở đảng phải xây dựng quy chế hoạt động lãnh đạo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách phù hợp với tính chất, nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi công tác của mình và một hệ thống các quy chế lãnh đạo cụ thể trên một số mặt công tác quan trọng.

BẢO VỆ CHỦ QUYỀN QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG!

         Vấn đề chủ quyền quốc gia trên không gian mạng tuy còn khá mới mẻ nhưng được Đảng, Nhà nước hết sức coi trọng, với mục tiêu đề ra là bảo đảm tốt nhất an ninh con người, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia!

Thời gian qua, một số đối tượng phản động, cực đoan và tội phạm có tổ chức đã lợi dụng thành tựu của khoa học - công nghệ để tấn công cá nhân, quốc gia trên chính “vùng lãnh thổ mới” này. Chúng đã lợi dụng không gian mạng để chuyển hóa chế độ chính trị như: kích động biểu tình, phá rối an ninh, tiến hành cách mạng màu, cách mạng đường phố, bạo loạn và lật đổ. Điều này thể hiện rõ trong “Mùa xuân A Rập” diễn ra tại Trung Đông và Bắc Phi từ năm 2010 đến 2012. Từ lời kêu gọi được phát đi trên Facebook, 18 ngày sau, chính quyền của Tổng thống Mubarak tại Ai Cập bị sụp đổ sau 30 năm cầm quyền, dù trước đó ông đã ra lệnh cắt internet và sóng di động nhưng cũng không ngăn cản được làn sóng biểu tình chống đối. Biểu hiện tiêu cực khác là việc sử dụng thành tựu khoa học - công nghệ để tác động vào cử tri đi bầu; thậm chí là quảng cáo chính trị làm thay đổi nhận thức, ý thức hệ nhằm gây ra sự bất mãn trong nhân dân với những ý đồ chính trị đen tối.

Từ những diễn biến phức tạp thời gian qua, vấn đề chủ quyền quốc gia trên không gian mạng đã và đang được nhiều nước hết sức coi trọng, từ đó ban hành những chính sách, biện pháp quản lý, kiểm soát phù hợp.

Tại nước ta từ năm 2018, Luật An ninh mạng được ban hành, trong đó xác định “An ninh mạng là sự bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” và “Không gian mạng quốc gia là không gian mạng do Chính phủ xác lập, quản lý và kiểm soát”. Trước nguy cơ đe dọa chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và bảo đảm an ninh mạng, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 25/7/2018 về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”; Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 25/7/2018 về “Chiến lược An ninh mạng quốc gia”... Các văn kiện nêu trên thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, xác định bảo vệ an ninh mạng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và cả hệ thống chính trị.

Bảo vệ an ninh mạng là cấu thành trọng yếu của hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia. Các thông tin bịa đặt, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, công kích chế độ, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc,… cần phải được kiểm soát, ngăn chặn kịp thời. Các quốc gia, cá nhân, pháp nhân, tổ chức khác phải tôn trọng thể chế, pháp luật quốc gia trên không gian mạng.

Việt Nam là một trong số 20 quốc gia có người sử dụng internet cao trên thế giới, với hơn 68 triệu tài khoản mạng xã hội Facebook, hơn 76 triệu người sử dụng internet và 154 triệu thiết bị kết nối internet có tỷ lệ truy cập hằng ngày chiếm 94%. Tuy nhiên, Việt Nam cũng nằm trong danh sách các quốc gia bị ảnh hưởng nhiều bởi các thách thức an ninh mạng. Không gian mạng trở thành nơi mà một số đối tượng chống đối đang lợi dụng để thường xuyên đăng tải thông tin sai lệch, tin giả nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, gây mất ổn định chính trị, xã hội, nhằm thực hiện âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình” để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, kích động biểu tình, bạo loạn, móc nối trong ngoài và tập hợp lực lượng nhằm lật đổ chính quyền...
 
Các tổ chức mà Bộ Công an liệt kê vào danh sách là tổ chức khủng bố như “Việt Tân”, “Chính phủ Quốc gia Việt Nam Lâm Thời”, “Triều Đại Việt”,... thời gian qua thường xuyên tiến hành các hoạt động trên không gian mạng nhằm chống phá chính quyền, tổ chức, chỉ đạo hoạt động khủng bố, tài trợ hoạt động khủng bố..., tiêu biểu như vụ gây nổ tại trụ sở Cục Thuế tỉnh Bình Dương vào ngày 30/9/2019. Những hành vi nêu trên gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, nếu không kiểm soát kịp thời sẽ gây hậu quả rất nghiêm trọng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội và sự ổn định của chế độ chính trị.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học-công nghệ tạo ra thuận lợi, thời cơ cho đất nước ta đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, với những mục tiêu như xây dựng Chính phủ số, xã hội số và nền kinh tế số. Tuy nhiên bên cạnh thời cơ, những thách thức, mối đe dọa từ không gian mạng đối với chủ quyền, lợi ích quốc gia, an ninh quốc gia cũng không ngừng gia tăng. Trong giai đoạn 2010-2021, với việc sử dụng hơn 8.784 web, blog có tên miền nước ngoài, 381 web, blog có tên miền trong nước, các lực lượng chống đối đã phát tán hơn 60.000 bản tin, bài viết nhằm bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kích động biểu tình trên không gian mạng... nhưng đã bị lực lượng an ninh mạng của Việt Nam xử lý và ngăn chặn kịp thời. Ngoài ra, lực lượng chức năng của Việt Nam cũng đã phát hiện hơn 80% số vụ lộ bí mật nhà nước là qua hệ thống thông tin.

Để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, bảo vệ hệ thống thông tin trọng yếu của quốc gia và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ cả trong thời bình cũng như thời chiến, thời gian qua, lực lượng tác chiến không gian mạng của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an làm nòng cốt đã có sự kết hợp chặt chẽ với lực lượng tác chiến không gian mạng, công nghệ thông tin trong khối các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp...

Lực lượng này đã chủ động nắm, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình an ninh mạng trong nước và thế giới; kịp thời phát hiện, tổ chức đấu tranh phòng, chống gián điệp mạng nước ngoài, triển khai các giải pháp bảo vệ an ninh hệ thống mạng thông tin trọng yếu quốc gia; phòng, chống tấn công mạng; vô hiệu hóa các hoạt động chống phá trên không gian mạng; xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, cung cấp, sử dụng mạng internet và thông tin trên mạng...

Giai đoạn tới, dự báo tình hình diễn biến trên không gian mạng diễn ra hết sức phức tạp. Do đó để chủ động ứng phó, tác chiến trong mọi tình huống nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, bảo vệ an ninh mạng, lực lượng tác chiến trên không gian mạng, lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm công nghệ cao cần tiếp tục triển khai, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng và An ninh mạng quốc gia, trọng tâm là Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Ngoài ra, các lực lượng chiến đấu và các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học và toàn xã hội cần nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của công tác bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, bảo vệ an ninh mạng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kịp thời nhận diện các âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá và tội phạm trên không gian mạng; trên cơ sở đó chủ động tạo ra sức đề kháng trước các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch và phần tử xấu; luôn đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong chỉ đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động bảo vệ an ninh thông tin đối với hệ thống thông tin được giao phụ trách; xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, an ninh nhân dân trên không gian mạng, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, nguồn lực trong nhân dân để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, vô hiệu hóa các luận điệu phản động trên không gian mạng; khẩn trương hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật nhằm thi hành Luật An ninh mạng; bảo vệ dữ liệu cá nhân; trình tự, thủ tục, thẩm quyền thu thập chứng cứ từ nguồn điện tử và biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; kịp thời ban hành những quy định pháp luật quản lý “tiền ảo”, “tài sản ảo”, các loại thẻ thanh toán dịch vụ viễn thông, trò chơi trực tuyến trái pháp luật...

Việc nhận thức và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là trách nhiệm của toàn dân trong đó cán bộ Đảng viên là nòng cốt đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền Tổ quốc trên không gian mạng trong tình hình mới./.
Yêu nước ST.

Bệnh “nói mò” của Đài RFA lại tái phát

 



             Lợi dụng sự kiện ngày 23/02/2024, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì phiên họp của Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, ngày 27/02, kênh tiếng Việt, Đài RFA đăng bài: ““Thế tập” và các “Sứ quân” trước Đại hội 14 của Đảng”; trong đó, đưa ra nhiều thông tin suy diễn, xuyên tạc, như: Đại hội 14 sẽ được tổ chức vào tháng 01/2026, là một loại “tên lửa Tomahawk đánh chặn”; nếu Tổng Bí thư áp dụng công thức “7 lên 8 xuống” của Trung Quốc,... hay cuộc vận động đổi “Thẻ căn cước” của Đại tướng Tô Lâm, v.v.

Trước hết, cần thấy rằng công tác chuẩn bị cho các hoạt động, sự kiện chính trị lớn, trọng đại là việc làm hoàn toàn bình thường ở bất kỳ quốc gia, cơ quan, tổ chức nào. Và đối với Đảng, Nhà nước Việt Nam cũng không ngoại lệ. Sau khi đất nước thống nhất (tháng 4/1975) thì đến tháng 12/1976, Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại hội toàn quốc lần thứ tư. Kể từ đó, cứ định kỳ sau mỗi 05 năm theo quy định của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng ta lại tổ chức Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc. Như vậy, Đại hội XIII của Đảng đã được tổ chức vào tháng 01/2021, thì theo kế hoạch đến tháng 01/2026, sẽ diễn ra Đại hội XIV là đúng theo quy định của Điều lệ Đảng. Thế mà Việt Tân lại cố tình đơm đặt. Thực là nực cười!

Thứ hai, để Đại hội XIV của Đảng diễn ra theo đúng kế hoạch và thành công tốt đẹp thì công tác chuẩn bị có vai trò rất quan trọng nên mọi công tác chuẩn bị càng làm sớm và chuẩn bị kỹ càng tốt. Tại Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII), Trung ương đã thảo luận và thống nhất quyết định thành lập 05 tiểu ban chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng, bao gồm: Tiểu ban Văn kiện, Tiểu ban Kinh tế - Xã hội, Tiểu ban Nhân sự, Tiểu ban Điều lệ Đảng và Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội. Chính vì vậy, với cương vị là Trưởng Tiểu ban Văn kiện, ngày 23/02/2024, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chủ trì phiên họp đầu tiên của tiểu ban này và có bài phát biểu chỉ đạo, định hướng nội dung, công việc cần tập trung triển khai thực hiện trong thời gian tới là rất cần thiết. Sắp tới, các tiểu ban khác cũng sẽ họp để tiến hành các bước chuẩn bị, bảo đảm đúng kế hoạch. Bởi, các văn kiện của đại hội, công tác nhân sự, chuẩn bị Điều lệ Đảng,... thể hiện sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, quyết định đến chất lượng, sự thành công của đại hội.

 Thứ ba, “đến hẹn lại lên”, cứ vào dịp trước, trong và sau khi diễn ra các sự kiện chính trị lớn của Đảng, Nhà nước ta là các thế lực thù địch, phản động lại đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá. Thủ đoạn của chúng thường là: phát tán các loại tài liệu; lợi dụng các trang mạng xã hội, các đài, báo nước ngoài có kênh tiếng Việt để đăng tải, chia sẻ thông tin, các bài viết có nội dung suy diễn, xuyên tạc, quy chụp, võ đoán,... theo kiểu “nói mò”, nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, kích động, chia rẽ nội bộ, gây hoang mang, thu hút sự chú ý của dư luận.

Những thông tin sai lệch, võ đoán của đài RFA trong bài viết: ““Thế tập” và các “Sứ quân” trước Đại hội 14 của Đảng” chính là nhằm mục đích đó. Vì vậy, mọi người cần trở thành những độc giả thông thái, luôn tỉnh táo, nêu cao cảnh giác để không bị dẫn dắt, mắc mưu của chúng./. 

 NTT st

Phát huy sức mạnh toàn dân trong bảo vệ chủ quyền biên giới

Việc thực hiện có hiệu quả “Ngày Biên phòng toàn dân” đã giúp lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên thường xuyên nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện và đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch. Đồng thời, là cơ sở để phát huy tốt sức mạnh toàn dân trong bảo vệ chủ quyền biên giới, xây dựng nền biên phòng toàn dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

Bảo vệ chủ quyền biên giới là sự nghiệp của toàn dân, trách nhiệm của mọi tổ chức, lực lượng. Nhận thức sâu sắc vấn đề này, những năm qua, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Điện Biên đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành, các lực lượng quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả “Ngày Biên phòng toàn dân” (3/3). Với cách làm sáng tạo, nội dung thiết thực, “Ngày Biên phòng toàn dân” đã giúp phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, xây dựng nền biên phòng toàn dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc, củng cố, tăng cường xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với các nước láng giềng.

Bên cạnh đó, việc thực hiện có hiệu quả “Ngày Biên phòng toàn dân” đã giúp lực lượng Bộ đội Biên phòng thường xuyên nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện và tổ chức đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc chủ quyền. Đồng thời, thông qua công tác tuyên truyền, đã góp phần nâng cao dân trí, cải thiện dân sinh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên khu vực biên giới, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương.

 Có thể thấy, thông qua các hoạt động của "Ngày Biên phòng toàn dân" đã tạo được chuyển biến tích cực về nhận thức, hành động của các cấp, các ngành, các lực lượng và nhân dân các dân tộc đối với nhiệm vụ xây dựng, quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

Phát huy những kết quả đã đạt được, thời gian tới, tỉnh Điện Biên sẽ tiếp tục đẩy mạnh thực hiện "Ngày Biên phòng toàn dân", trọng tâm là tập trung xây dựng, củng cố cơ sở chính trị các xã biên giới vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, xây dựng tổ chức đảng các xã biên giới vững mạnh. Quan tâm đầu tư phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đẩy mạnh phát triển các chương trình, dự án ở khu vực biên giới; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố cơ sở chính trị, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, các lực lượng, nhất là lực lượng Bộ đội Biên phòng và đồng bào các dân tộc trong tỉnh tham gia giữ gìn, bảo vệ chủ quyền biên giới Quốc gia./.

Sưu tầm

Phải giữ vững thế chủ động, đảm bảo vững chắc an ninh trật tự

Trong khuôn khổ chuyến công tác tại tỉnh Quảng Ninh, đoàn công tác của Bộ Công an do Đại tướng Tô Lâm - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an dẫn đầu đã làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh về công tác phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự (ANTT) và xây dựng lực lượng CAND, gắn với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn từ đầu nhiệm kỳ 2020-2025 đến nay.

Về công tác đảm bảo ANTT trên địa bàn, Đại tướng Tô Lâm yêu cầu mục tiêu cao nhất phải giữ vững thế chủ động, đảm bảo vững chắc ANTT, không để bị động bất ngờ, tuyệt đối không để xảy ra các vụ việc phá hoại, gây rối, đảm bảo tuyệt đối an ninh, an toàn cho nhân dân, phục vụ hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh.

Trong đó tăng cường tập trung giải quyết những điểm nóng về ANTT, chú trọng công tác phòng ngừa tội phạm theo hướng kết hợp nhuần nhuyễn giữa phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ. Công an tỉnh Quảng Ninh cần thực hiện bằng được mục tiêu kéo giảm tội phạm một cách căn bản, bền vững; phấn đấu xây dựng những xã, phường không tội phạm, không ma túy, không tệ nạn xã hội.  

Đại tướng Tô Lâm tin tưởng rằng, với tiềm năng, lợi thế và phát huy những kết quả đã đạt được, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh tiếp tục đoàn kết, nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, phấn đấu xây dựng tỉnh Quảng Ninh phát triển nhanh, toàn diện, vững chắc, là một trong những nơi hội tụ và lan tỏa phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam cũng như của các tỉnh phía Bắc. 

Sưu tầm

Gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị, bản sắc văn hóa để đưa Nam Định phát triển nhanh và bền vững

Nhận thức đúng đắn về vai trò của văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng để phát triển đất nước, cùng với việc nghiên cứu, vận dụng những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị văn hóa toàn quốc ngày 24-11-2021, Đảng bộ tỉnh Nam Định luôn coi trọng việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, ban hành các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, đề án quan trọng về phát triển văn hóa, là động lực để Nam Định phát triển nhanh, bền vững.

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, trong đó yếu tố cốt lõi là các giá trị văn hóa được con người sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử, hướng con người tới chân, thiện, mỹ. Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn luôn coi trọng xây dựng, phát triển văn hóa, con người trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, nhất là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Là người dành rất nhiều sự quan tâm cho việc giữ gìn và phát triển văn hóa, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có nhiều bài viết, bài phát biểu về văn hóa, trở thành những tư tưởng lớn để các cấp ủy, chính quyền và toàn thể nhân dân thực hiện, góp phần xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Là một tỉnh giàu truyền thống văn hóa cách mạng, trải qua tiến trình lịch sử đã hình thành nhiều giá trị văn hóa phong phú, thể hiện sinh động qua hệ thống văn hóa vật thể và phi vật thể với hơn 100 lễ hội truyền thống diễn ra hằng năm, Nam Định có gần 1.400 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 2 di tích quốc gia đặc biệt (Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Đền Trần và chùa Phổ Minh; Di tích kiến trúc nghệ thuật Chùa Keo Hành Thiện), 1 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; hơn 25.000 tài liệu, hiện vật, 5 nhóm bảo vật quốc gia đang trưng bày, bảo quản tại Bảo tàng tỉnh Nam Định. Với nguồn tài nguyên văn hóa vô giá, chứa đựng giá trị tốt đẹp của vùng đất nơi đây, tỉnh đã tăng cường đầu tư bảo tồn, phát huy giá trị, bản sắc văn hóa, xem đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, bảo đảm cho sự phát triển ổn định và bền vững của tỉnh.

Tận dụng nguồn tài nguyên văn hóa đa dạng với nhiều danh lam thắng cảnh, kiến trúc nghệ thuật, tỉnh đẩy mạnh khai thác, phát huy các giá trị di sản văn hóa để quảng bá, thu hút khách đến địa phương thông qua tổ chức các lễ hội truyền thống, như lễ hội khai ấn Đền Trần, lễ hội Phủ Dầy, lễ hội chùa Cổ Lễ, lễ hội chợ Viềng… được tổ chức thường niên, nhận được sự quan tâm, tham gia, hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân và du khách thập phương tham quan, du lịch. Đây là kênh quảng bá giá trị văn hóa, tinh thần của cộng đồng trên địa bàn, qua đó góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa mang bản sắc dân tộc và đặc trưng văn hóa của con người Nam Định đến với đông đảo bạn bè trong và ngoài nước.

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư, các cấp ủy đảng, chính quyền trong tỉnh đã có nhiều chủ trương, chính sách tập trung xây dựng con người Nam Định phát triển toàn diện về nhân cách, đạo đức, tri thức, thể chất, tâm hồn và trách nhiệm xã hội. Đặc biệt, Nam Định chú trọng đến việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng và phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ. Tỷ lệ lao động có việc làm đã qua đào tạo đạt trên 75%. Công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức được chú trọng, chất lượng ngày càng nâng lên. Ngành giáo dục và đào tạo của tỉnh - nhân tố quan trọng trong sự nghiệp trồng người với mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” - được đặc biệt quan tâm và đạt kết quả nổi bật với thành tích gần 30 năm liên tục trong tốp đầu cả nước về chất lượng giáo dục; nhiều học sinh đoạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, quốc tế. Trong 9 năm tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia, Nam Định luôn nằm trong 3 tỉnh đứng đầu toàn quốc về điểm trung bình các môn thi, trong đó có 6 năm đứng thứ nhất. Những kết quả đó đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng con người Nam Định đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Bên cạnh đó, Nam Định thường xuyên chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ làm công tác văn hóa, văn học, nghệ thuật, nhất là lực lượng trẻ. Nhiều tấm gương sáng trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và từ các phong trào thi đua yêu nước của các địa phương, đơn vị được biểu dương, khen thưởng kịp thời, tạo sự lan tỏa trong đời sống xã hội, cộng đồng dân cư, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của chính quyền các cấp và sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc./.

Sưu tầm

Không thể xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước” của Đảng ta

Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước là chủ trương quan trọng được Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang ra sức xuyên tạc, phủ nhận chủ trương này. Vì vậy, nhận diện đúng và có giải pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước” là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay.

Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam thành công tốt đẹp là dấu son trong lịch sử vẻ vang của Đảng ta, dân tộc ta. Đại hội lần đầu tiên đề cập đến chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, thể hiện sự phát triển về tư duy lý luận của Đảng. Cụm từ này xuất hiện đậm đặc trong chủ đề của Đại hội; quan điểm chỉ đạo tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng; mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng; quan điểm phát triển, mục tiêu chiến lược, đột phá chiến lược giai đoạn 2021 – 2030. Đây là một điểm mới, điểm nhấn quan trọng về sức mạnh nội sinh và phương thức phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Do vậy, không thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng và dân tộc ta. Bảo vệ, khẳng định, lan toả và hiện thực hoá chủ trương này là vấn đề vừa có ý nghĩa cơ bản, lâu dài, vừa có ý nghĩa cấp thiết hiện nay.

Trước những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân cần tỉnh táo, cảnh giác cao và nhận rõ đó là những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, thâm độc, hòng chống phá vai trò lãnh đạo của Đảng, làm nhụt chí quyết tâm của toàn dân tộc trên con đường phát triển giàu mạnh, phồn vinh. Chúng ta khẳng định: chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng ta là đúng đắn, khoa học, khả thi với những luận cứ xác đáng, thuyết phục.

Thực tiễn lịch sử xã hội loài người chứng minh, sự hình thành, phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc phụ thuộc trước hết vào khát vọng sống, tồn tại và vươn lên của cộng đồng dân tộc đó. Lúc thuận lợi cũng như khi khó khăn, sức mạnh của tinh thần, của ý chí, nhất là ý chí của cả một dân tộc giữ vai trò hết sức quan trọng, thậm chí là quyết định. Khát vọng phát triển của một dân tộc là nguồn năng lượng nội sinh to lớn và sức mạnh vô địch; là động lực trung tâm của một quốc gia - dân tộc trên con đường đi tới tương lai. Sự phát triển “kỳ diệu” của một số quốc gia hùng mạnh trong tiến trình lịch sử nhân loại đều bắt nguồn chính từ những khát vọng vươn lên hùng cường như Mông Cổ trong thế kỷ XIII; Anh trong thế kỷ XIX; Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore trong thế kỷ XX và Trung Quốc trong thế kỷ XXI.

Rõ ràng, Đảng ta không tuyệt đối hóa vai trò động lực của khát vọng phát triển đất nước mà xác định đây là một trong những động lực cho đổi mới, phát triển; là động lực thúc đẩy chứ không thể thay thế vai trò cơ sở, nền tảng quyết định của yếu tố kinh tế, vật chất, kỹ thuật và đặc biệt là chất lượng nguồn nhân lực.

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được tiến hành toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, “năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng được nâng lên”, “hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước được củng cố và tăng cường”. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được tiến hành quyết liệt, đạt được những kết quả quan trọng; tuyệt đại đa số ý kiến người dân (93%) tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Tích cực đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, thực chất nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân dân. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên, các tầng lớp nhân dân theo hướng thiết thực, hướng về cơ sở, chú ý những nhân tố mới, những cách làm sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh, vươn lên làm giàu chính đáng. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát và phản biện xã hội; hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp dân, đối thoại; giải quyết những vấn đề bức xúc của nhân dân ngay từ cơ sở. Đấu tranh với các biểu hiện thờ ơ, vô cảm, cửa quyền, hách dịch, nhũng nhiễu đối với nhân dân.

Tóm lại, “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” là chủ trương đúng đắn, khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ta có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn thuyết phục, sống động để phản bác các luận điệu chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Trong hành trình vĩ đại của dân tộc tiến lên giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần phấn đấu không mệt mỏi, bền gan vững chí, vượt qua mọi khó khăn thử thách, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu, tầm nhìn phát triển mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã hoạch định, đúng như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng chính đáng ngàn đời của toàn dân tộc./.

Sưu tầm

Chống “bệnh lười” học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

“Bệnh lười” học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nguyên nhân sinh ra chủ quan và suy thoái về tư tưởng chính trị, dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đe dọa sự tồn vong của Đảng.

Vì thế, chống “bệnh lười” học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng  Hồ Chí Minh trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là yêu cầu thường xuyên và cấp bách hiện nay.

Nhận thấy vai trò đặc biệt quan trọng của lý luận Mác-Lênin, Hồ Chí Minh cho rằng: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là Chủ nghĩa Lênin”. Việc khẳng định Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt và lựa chọn Chủ nghĩa Mác-Lênin làm cốt chính là việc xác định lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng của Đảng.

Từ vai trò to lớn và hết sức quan trọng của lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh-nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã và đang đặt ra yêu cầu thường xuyên và cấp bách đối với mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết chống “bệnh lười” học tập, nghiên cứu lý luận, góp phần tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Điều đáng lo ngại hiện nay là một số cơ sở nghiên cứu, giáo dục-đào tạo (GD-ĐT), nhất là những cơ sở nghiên cứu, GD-ĐT lý luận chính trị chưa thật chú trọng quan tâm và đặt ra yêu cầu cao về học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều đó dẫn tới một bộ phận không nhỏ cán bộ khoa học, sinh viên và học viên sau đại học còn ngại, né tránh, mắc “bệnh lười” học tập và tìm tòi, nghiên cứu để nắm vững tính cách mạng, khoa học, nhân văn trong tư tưởng, quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh và bảo vệ, vận dụng, phát triển sáng tạo những tư tưởng, quan điểm đó trong thực tiễn. Bên cạnh đó, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo, sách tham khảo, khóa luận, luận văn và luận án nghiên cứu trên lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn không chú trọng đi sâu luận giải có tính hệ thống đầy đủ và sâu sắc cơ sở lý luận và những nội dung lý luận cụ thể, cần thiết liên quan tới đề tài nghiên cứu-biểu hiện của “bệnh lười” học tập, nghiên cứu lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong khi đó, có nhiều hội đồng nghiệm thu đề tài, duyệt sách và chấm khóa luận, luận văn, luận án đã coi nhẹ và không kiên quyết đòi hỏi thực hiện nghiêm túc yêu cầu này, dẫn tới dễ dãi, bỏ qua hạn chế, góp phần làm cho “bệnh lười” học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh càng thêm trầm trọng hơn.

Thực trạng và tính chất nguy hại của “bệnh lười” học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong một bộ phận cán bộ, đảng viên nêu trên đặt ra yêu cầu thường xuyên và cấp bách phải kiên quyết chống “căn bệnh” này, góp phần bảo vệ và tăng cường nền tảng tư tưởng của Đảng thêm vững chắc trong tình hình mới./.

“Bệnh lười” học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay là một trong những mối đe dọa “đạo đức, văn minh” và sự tồn vong của Đảng; nó sinh ra “bệnh chủ quan” và dẫn tới suy thoái về tư tưởng chính trị, làm suy yếu nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây chính là một trong những khuyết điểm, sai lầm trong đội ngũ chiến sĩ tiên phong của Đảng. Chính vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng lúc này cần phải thấm nhuần lời dạy của V.I. Lênin: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta... Nếu chúng ta sai lầm mà gây ra sự chia rẽ thì tất cả sẽ sụp đổ”. Từ đó, phải kiên quyết chống “căn bệnh” này, thông qua tích cực học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Sưu tầm

 

Phát huy giá trị văn hóa Việt Nam thành sức mạnh mềm bảo vệ 

Tổ quốc trong tình hình mới


“Sức mạnh mềm” là một vấn đề đang được xác nhận về tầm quan trọng lớn của nghiên cứu nghiên cứu, các mục tiêu chính sách, các giá trị chính... trên thế giới trong những năm gần đây. Việt Nam với hàng tân hình thành và phát triển, chúng tôi có cả một truyền thống hào hùng và dày văn hóa lâu đời. Giá trị của nền văn hóa hóa chiến năm lịch sử đã và đang góp phần tạo nên sức mạnh, làm cho tiềm năng, vị trí và uy tín của Việt Nam ngày càng tăng cao trên trường quốc tế.
Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự tổng hòa của rất nhiều nhân tố kết tinh lại, trong đó giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc, là một bộ phận có ý nghĩa, vai trò quan trọng hàng đầu. Điều đó đặt ra cho chúng ta cần có phương pháp hướng dẫn, giải pháp để phát huy, chuyển hóa các giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước. Trong đó trọng tâm là phát huy, lan tỏa những giá trị truyền thống tốt đẹp, bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử hàng đá xây dựng nước và giữ nước như: lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong quá trình xử lý, tính giản dị trong đường. sống... Đây là những tài sản hết sức quý báu, trở thành nền tảng, hành động trang để dân tộc ta tiến bước vào giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Một là,  nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, địa phương và toàn xã hội về vị trí, vai trò, đóng góp của văn hóa hóa trong phát triển bền vững Kinh tế - xã hội và hội nhập quốc gia tế. 
Hải là,  khơi dậy mạnh mẽ hơn nữa tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển đất nước vinh, hạnh phúc của toàn dân tộc; phát huy cao độ những giá trị văn hóa, sức mạnh và tinh thần cống hiến của mọi người Việt Nam, tạo nguồn lực nội sinh và động lực đột phá để thực hiện thành công mục tiêu phát triển đất nước. 
Ba là,  xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, phát triển toàn diện. 
Bốn là,  Thúc đẩy ngoại giao văn hóa, chủ động hợp tác và quảng bá các giá trị văn hóa của Việt Nam ra thế giới, phát huy sức mạnh văn hóa, tạo môi trường hòa bình bình, bảo vệ vững chắc Tổ quốc , đảm bảo sự phát triển vững chắc và hội nhập quốc tế. 
Năm nay,  xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh để hình thành nên những quan hệ văn hóa lành./.

 CUỘC KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG

1. Thân thế và sự nghiệp của Hai Bà Trưng

Hai bà, Trưng Trắc và Trưng Nhị sinh ra trong một gia đình quý tộc địa phương thuộc dòng dõi các vua Hùng. Cha là ông Trưng Định (Hùng Định) là một hiền sĩ, văn võ toàn tài, được cử làm quan lạc tướng đất Mê Linh. Khi ông Trưng Định về đất Cổ Lai (nay là làng Hạ Lôi, xã Mê Linh) ẩn thân dạy học đã gặp bà Trần Thị Đoan con gái cụ Trần Minh (cũng là cháu chắt bên ngoại của vua Hùng, một gia đình phong lưu lệch tộc cao môn), ông đã xin đính ước cầu hôn cùng bà.

Bà Đoan là người công dung, ngôn hạnh, đức độ hiền hòa, thông thạo nông trang, giỏi chăn tằm, dệt lụa. Nghe tin vợ chồng ông Đỗ Năng Tế và bà Tạ Thị Cẩn Nương quê ở xứ Đoài là người hiền tài, giỏi việc quân bà Đoan liền mời hai người về dạy dỗ cho con. Chẳng bao lâu Trưng Trắc và Trưng Nhị đã trở thành những người giỏi võ công, văn trị.

Lúc bấy giờ ở thành Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay), có tên Ngụy Húc người Hán rất giỏi võ nghệ và thâm độc. Hắn vờ mở đài thi võ để tập trung người tài Việt Nam rồi tìm cách triệt hại. Vô cùng căm phẫn trước hành động gian ác của giặc, Hai Bà quên tuổi 17 cải trang giả làm trai đến tỷ thí võ nghệ với hắn. Cuối cùng Hai Bà đã giết chết được tên Ngụy Húc, trừ họa cho dân.

Năm 19 tuổi Trưng Trắc kết duyên cùng Thi Sách cũng là con Lạc tướng ở huyện Chu Diên. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” có xác nhận sự kiện này: “Thi Sách cũng là con Lạc tướng, con hai nhà tướng kết hôn với nhau”. Hai thế lực ở địa phương gắn bó với nhau bằng con đường hôn nhân làm cho thanh thế của hai họ càng lên cao khiến cho giặc lo sợ.

Bấy giờ nhà Đông Hán đang cai trị nước ta, chúng chia nước ta thành bá quận: Giao Chỉ (Bắc Bộ ngày nay), Cửu Chân (Thanh, Nghệ, Tĩnh) và Nhật Nam (từ phía nam Hoành Sơn đến núi Đại Lãnh) để dễ bề cai trị và thực hiện âm mưu đồng hóa. Nhà Hán bắt nhân dân ta phải cống nộp đủ mọi thứ của ngon vật lạ như: ngà voi, sừng tê giác, đồi mồi, ngọc ngà, châu báu… và bóc lột tô thuế nặng nề làm cho đời sống nhân dân ta vô cùng khổ cực.

Trước cảnh mất nước, nhà tan Thi Sách và Trưng Trắc bàn mưu tính kế nổi dậy chống lại nhà Đông Hán. Lúc này khắp nơi trong nước nhân dân đã sục sôi có chí nổi dậy chống lại sự tàn bạo của chính quyền đô hộ phương Bắc. Biết được điều đó, tên Thái thú Tô Định đã lập mưu kế hãm hại ông Thi Sách nhằm lung lạc ý chí của Bà Trưng Trắc và tinh thần đấu tranh của nhân dân ta. Nhưng hành động đó của Tô Định chỉ làm thổi bùng thêm ngọn lửa căm thù giặc trong lòng Trưng Trắc. Bà cùng với em gái của mình là Trưng Nhị đã đứng lên kêu gọi nhân dân khởi nghĩa, chống quân Đông Hán.

Cuộc nổi dậy của nhân dân Âu Lạc bùng nổ vào tháng 3 năm 40, do Trưng Trắc (có chồng là Thi Sách, bị quan đô hộ Đông Hán là Tô Định giết) cùng em là Trưng Nhị - con gái lạc tướng huyện Mê Linh - lãnh đạo, nhằm lật đổ ách đô hộ của nhà Đông Hán, dựng lại cơ nghiệp của các vua Hùng. Từ trung tâm Mê Linh thuộc quận Giao Chỉ (vùng đất Ba Vì - Tam Đảo ngày nay), sau cuộc hội thề tụ nghĩa ở Hát Môn (Phúc Thọ, Hà Tây), nghĩa quân tấn công đô úy trị nhà Hán ở Giao Chỉ ở Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh). Quân Đông Hán phải rút chạy về nước. Thái thú Tô Định phải lẩn trốn về Nam Hải (Quảng Đông – Trung Quốc). Cuộc khởi nghĩa lan rộng, được nhân dân các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, Uất Lâm hưởng ứng, hạ 65 thành, chiếm các quận huyện. Khởi nghĩa thắng lợi, Trưng Trắc lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Hè năm 42, nhà Đông Hán sai Mã Viện đem 2 vạn quân chủ lực, 2 nghìn xe thuyền sang xâm lược. Trong cuộc chiến đấu chống giặc ở Lãng Bạc, quân của Hai Bà bị thiệt hại nặng, phải lui về Cổ Loa, rồi Cấm Khê (chân núi Ba Vì, Hà Tây) lập căn cứ chống giữ. Sau một năm chiến đấu quyết liệt, Hai Bà đã hy sinh vào mùa hè năm 43.

2. Cuộc Khởi Nghĩa Hai Bà Trưng

Sau khi ông Thi Sách bị Tô Định giết, bà Trưng Trắc quyết chí phục thù, bà cùng mẹ và em gái đi khắp mọi miền đất nước phát động trong toàn quận Giao Chỉ, tập hợp bạn hữu, Lạc tướng, tích trữ lương thảo chuẩn bị nổi dậy. Bà lập căn cứ ở đất Phong Châu, tập hợp thu dụng những anh hùng hào kiệt, những người cùng chí hướng, đồng thời bà Trưng Trắc cũng đến nhiều nơi vận động đồng bào, chiêu binh tuyển tướng ở các địa phương khởi nghĩa nên người theo về ngày càng đông, các thủ lĩnh ở khắp nơi đều hướng về đại nghĩa. Sau 15 ngày, hàng nghìn tướng sĩ các miền đã đến tụ nghĩa đông đảo, chuẩn bị lực lượng chờ ngày nổi dậy.

Mùa hè năm Canh Tý (năm 40 sau Công nguyên) Bà Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị lãnh đạo quân dân đứng lên đánh đổ ách thống trị của nhà Đông Hán. Hai Bà dựng cờ khởi nghĩa ở cửa sông Hát Môn. Tại đây Hai Bà đã lập đàn thề trên bãi Trường Sa. Trước mặt quận sĩ và dân chúng Trưng Trắc đã long trọng tuyên đọc lời thề xuất quân:

“Một xin rửa sạch quốc thù

Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng

Ba kẻo oan ức lòng chồng

Bốn xin vẻn vẹn thửa công lênh này”

Tháng Giêng năm Canh Tý 40 (sau Công nguyên), tất cả các tướng ở mọi vùng đều tiến quân về hợp tại thành Phong Châu. Sở dĩ có cuộc tập hợp lực lượng ở bên bờ Bắc sông Bạch Hạc là để tránh sự áp sát với quân địch đang đóng đô úy trị ở vùng giữa châu thổ sông Hồng.

Sau khi chuẩn bị đầy đủ quân lương, thời cơ chín muồi, ngày mùng 6 tháng Giêng (năm Canh Tý) Hai Bà đã cho quân sĩ lập đàn tế cáo trời đất tiến hành cuộc khởi nghĩa. Chỉ trong một thời gian ngắn cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã thành công. Hai Bà đã là người phất ngọn cờ hiệu triệu nhân dân ở bốn quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố. Hai Bà đã kéo quân đánh thành Luy Lâu, thủ phủ của chính quyền đô hộ nhà Đông Hán lúc đó, đập tan bộ máy thống trị của địch.

Trước khí thế ngút trời của quần chúng khởi nghĩa, bọn quan lại Đông Hán không chống cự nổi phải tháo chạy về nước. Thái thú Tô Định bỏ thành trì, ấn tín, cắt tóc, cạo râu trốn chạy về Hải Nam. Chỉ trong vòng hai tháng, quân của Hai Bà Trưng đã thu phục được 65 thành trì, giải phóng toàn bộ đất nước, giành chủ quyền về tay dân tộc.

Mùa hè năm Canh Tý 40 (sau CN), bà Trưng Trắc được tướng sĩ tôn lên làm vua, lấy hiệu là Trưng Vương, đóng đô tại lị sở Mê Linh quê hương của Hai Bà Trưng (nay là làng Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Hà Nội). Sau khi lên ngôi vua Trưng Vương tôn thân mẫu là Hoàng Thái hậu, phong cho em gái Trưng Nhị là Bình Khôi công chúa. Các tướng sĩ có công lao đánh giặc cứu nước đều được phong thưởng chức tước, tiền bạc, ruộng đất. Nhân dân cả nước được xá thuế trong 02 năm.

Được tin Trưng Trắc xưng vương, Hoàng đế Nhà Đông Hán lúc bấy giờ là Hán Quang Vũ Đế vô cùng tức giận lập tức sai Phục Ba tướng quân Mã Viện đem 2 vạn quân chủ lực cùng 2000 thuyền xe kéo sang xâm lược nước ta bằng hai cánh quân thủy và bộ. Cánh quân thủy do tướng Đoàn Chí chỉ huy. Mã Viện trực tiếp chỉ huy cánh quân bộ. Tại Vân Đồn tướng Lê Chân bố trí trận đánh mai phục chặn cánh quân thủy của Đoàn Chí. Lê Chân lợi dụng nước thủy triều lên xuống, cho quân đóng cọc ở lòng sông cửa biển. Nước thủy triều lên phủ kín cọc, thuyền bè Đoàn Chí tiến vào trận địa mai phục của Lê Chân đến khi nước thủy triều rút cọc, thuyền bè của Đoàn Chí mắc cọc không tiến, không lui được. Lê Chân lệnh cho quân ở hai đảo Cái Bầu tấn công, tướng Đoàn Chí bị tử trận và quân của Mã Viện thiệt hại nặng.

Mã Viện thâu tóm chỉ huy cả hai cánh quân thủy và bộ. Hai Bà Trưng lệnh cho tướng Đống, tướng Hựu, Nàng Tía Thanh Trì, các tướng Phương Dung, Đào Kỳ, các tướng Đô Dương, Chu Bá và Cửu Chân đưa quân ra hợp binh chống giặc và chặn đứng quân Mã Viện ở Tây Vu. Mã Viện phải rút quân về Lãng Bạc. Trưng Vương cùng các tướng sĩ phát quân từ Mê Linh qua Cổ Loa đánh thẳng vào doanh trại Lãng Bạc. Tướng của Mã Viện là Lạc Đình Hầu bị trúng tên của quân đội do Trưng Nhị chỉ huy chết tại trận.

Cũng thời gian này, Nhà Tây Thục cử thêm binh mã tiến vào nước ta. Tướng Hà Tơ và tướng Hà Liễu đem quân chặn đánh nhưng binh mã của chúng vẫn tiến được tới Tuyên Quang. Trưng Vương ra lệnh cho tướng Thánh Thiên đem đạo binh lên phối hợp với Hà Tơ, Hà Liễu để chống giặc. Đồng thời Trưng Vương cũng lệnh cho tướng Đống và tướng Hựu từ Lãng Bạc đem quân lên phối hợp để chặn đánh giặc, nhưng hai ông không gặp quân Tây Thục. Quân Tây Thục đã tới được Lãng Bạc hợp binh với quận của Mã Viện phản công lại, buộc Hai Bà Trưng phải phân tán lực lượng để chống đỡ.

Sau một năm trời cầm cự với giặc, quân Hai Bà đã chiến đấu vô cùng anh dũng, nhưng vì lực lượng hai bên quá chênh lệch, Hai Bà vừa đánh vừa rút về Cấm Khê (Yên Lạc, Vĩnh Phúc ngày nay). Mã Viện đem quân đuổi theo, Hai Bà đã quyết chiến đến hơi thở cuối cùng, về đến Hát Môn hội quân rồi gieo mình xuống dòng sông Hát Giang tuẫn tiết, hôm đó là ngày mùng 8 tháng 3 năm Quý Mão năm 43 (sau CN) tức mùng 6 tháng 2 âm lịch. Để ghi nhớ công tích và báo đáp ơn đức của Hai Bà, nhiều nơi đã lập đền thờ: ở Đồng Nhân (quận Hai Bà Trưng), ở Hạ Lôi (huyện Mê Linh); ở Hát Môn (huyện Phúc Thọ), ở Phụng Hưng (Hưng Yên)….

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng với sự thành công nhanh chóng và sự suy tôn Trưng Trắc lên nắm quyền quản lý, điều hành đất nước là sự trỗi dậy của ý thức dân tộc, của ý thức tự chủ của nhân dân ta, phủ định hiên ngang cái cường quyền sai trái của Đại Hán. Đây thực chất là một cuộc đồng khởi của toàn dân trên phạm vi cả nước, dưới sự lãnh đạo của người phụ nữ chưa tròn đôi mươi. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vì thế trở thành một hiện tượng độc đáo trong lịch sử dân tộc và hiếm có trong lịch sử thế giới. Đây là một mốc bản lề khẳng định những giá trị vĩnh viễn của thời kỳ Hùng Vương - An Dương Vương và định hướng cho tương lai phát triển của đất nước. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà là một chiến công hiển hách, một bản anh hùng ca, một trang lịch sử bất hủ của dân tộc. Cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Hai Bà đã làm chấn động cõi Nam, là lời tuyên bố hào hùng về truyền thống yêu nước, lòng dũng cảm trong việc bảo vệ chủ quyền của dân tộc. Đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, tuy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, song tinh thần của cuộc khởi nghĩa cùng chiến tích của Hai Bà vẫn sống mãi trong lòng người dân đất Việt.

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và triều đại Trưng Vương chỉ tồn tại vẻn vẹn có 3 năm nhưng công lao to lớn đóng góp cho lịch sử đời sau là tinh thần  đấu tranh giành độc lập tự chủ với những chính sách xây dựng đất nước mang đậm tính nhân văn.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực xấu

 

Có thể nói rằng, lợi dụng vấn đề chủ quyền lãnh thổ, trong đó có chủ quyền vê biên giới, biển, đảo nhằm xuyên tạc sự thật, kích động dư luận và gây rối vốn là âm mưu quen thuộc của các thế lực thù địch. Như một chu kỳ, cứ mỗi khi đến dịp kỷ niệm các sự kiện như cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc (1979), trận hải chiến bảo vệ Trường Sa (1988)… các thế lực thù địch, các tổ chức phản động kêu gọi trên các diễn đàn mạng xã hội hoạt động tụ tập đông người tại những địa điểm công cộng như Bờ Hồ (Hà Nội); tượng đài Nguyễn Huệ (TP Hồ Chí Minh) và một số thành phố lớn khác nhằm thực hiện các hành vi biểu tình, gây rối trật tự công cộng. Thông qua các bài viết trên mạng xã hội, các đối tượng sử dụng nhiều hình thức và thủ đoạn tinh vi, giảo hoạt, tung ra những thông tin và tư liệu lịch sử sai lệch để đánh lừa dư luận.

Thủ tướng Phạm Minh Chính hội kiến Chủ tịch Thượng viện Australia

 

Chiều 7/3 (giờ địa phương), tại nhà Quốc hội, Thủ đô Canberra, Australia, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã có cuộc hội kiến với Chủ tịch Thượng viện Australia Sue Lines.

 NGƯỜI ANH HÙNG 53 LẦN LÀ DŨNG SĨ DIỆT MỸ

   Anh hùng Trịnh Tố Tâm sinh năm 1945, tại thôn Mỹ Cầu, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội). Năm 1965, ông viết thư xin gia nhập quân ngũ, tình nguyện vào chiến đấu tại chiến trường miền Nam, và được điều động vào chiến trường Quảng Trị - Thừa Thiên. Từ năm 1967 đến năm 1970, Anh hùng Trịnh Tố Tâm tham gia chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên, ông đã chỉ huy đơn vị mình đánh 58 trận, diệt 1.500 tên địch (trong đó có 700 tên lính Mỹ), phá hủy 61 xe quân sự, đánh bật 19 đoàn tầu hỏa, đánh sập 28 cầu, cống. Riêng ông diệt 272 tên địch (trong đó có 185 lính Mỹ), bắn rơi và phá hủy 3 máy bay lên thẳng. Với những chiến công lớn, Trịnh Tố Tâm đã được tặng thưởng 5 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng Nhất, 2 hạng Nhì, 2 hạng Ba) và 53 lần được công nhận là “Dũng sỹ”. Ngày 20-9-1971, Trịnh Tố Tâm được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh Hùng lực lượng vũ trang nhân dân. ST

Đấu tranh với các tài khoản, trang mạo danh Công an nhân dân trên không gian mạng

Thời gian qua, nhiều đơn vị Công an nhân dân trên cả nước đã tạo lập các tài khoản, trang trên không gian mạng. Các tài khoản, trang mạng xã hội được các cơ quan đơn vị sử dụng như là một kênh chính thống, phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, cảnh báo phương thức hoạt động của tội phạm, phản bác quan điểm sai trái thù địch, lan tỏa các thông tin tích cực; đồng thời cũng là phương tiện tương tác trực tiếp, hướng dẫn giải quyết các khó khăn, vướng mắc của công dân gửi đến lực lượng Công an trên không gian mạng.

Bên cạnh đó, nhiều tài khoản, trang mạng mạo danh lực lượng Công an với mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người dân, một số phương thức chủ yếu như mạo danh Công an để yêu cầu chuyển tiền giải quyết các thủ tục pháp lý, 

Bên cạnh đó, người dân cần nhận diện các thông tin xấu độc, thông tin sai sự thật, thông tin gán ghép các tài khoản, trang mạo danh cho lực lượng Công an nhằm bôi nhọ, hạ uy tín lực lượng Công an nhân dân của các thế lực thù địch; tích cực phối hợp với lực lượng Công an phát hiện, gỡ bỏ, xử lý các hành vi vi phạm để xây dựng môi trường mạng “xanh”, sạch, văn minh phục vụ cuộc sống./.

Phát huy ưu thế, vai trò, tầm quan trọng công tác tuyên truyền miệng

Nhận thức của các cấp ủy đảng, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền miệng (TTM) được tăng lên rõ rệt, phát huy hiệu quả vai trò của đội ngũ báo cáo viên (BCV), góp phần định hướng tư tưởng, dư luận xã hội, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động.

Hoạt động của đội ngũ BCV, TTV đi vào nền nếp, bám sát cơ sở, làm tốt vai trò là lực lượng nòng cốt thực hiện công tác TTM của Đảng và hệ thống chính trị, góp phần tăng cường sự gắn bó giữa Đảng với nhân dân, tăng cường sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, đẩy mạnh thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, đơn vị.

Sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương được đẩy mạnh, có nhiều đổi mới trong chia sẻ trách nhiệm, tinh thần hợp tác đã tạo điều kiện làm phong phú các nội dung tuyên truyền của BCV, TTV.

Thường xuyên tổ chức khảo sát, kiểm tra công tác TTM từ Trung ương tới cơ sở; việc thực hiện Quy chế hoạt động của đội ngũ BCV, TTV của Đảng để kịp thời phát hiện, nhân rộng những mô hình sáng tạo, hiệu quả; uốn nắn, chấn chỉnh những tập thể, cá nhân chưa hoàn thành nhiệm vụ./.

Ngăn ngừa suy thoái trong công nghiệp văn hóa

Tại Hội nghị toàn quốc về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa (CNVH) Việt Nam. Cần có sự chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức, tư duy đến hành động, đổi mới tư duy, đột phá trong cách làm... đồng thời nhận diện thời cơ, thách thức của CNVH Việt Nam trong thời gian tới.

Công nghiệp văn hóa là một khái niệm có biên độ tư duy và phạm vi ứng dụng rộng, đa ngành, đa lĩnh vực, đa phương thức. Trên thế giới, tùy vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội và đặc trưng văn hóa, mỗi quốc gia có cách phát triển CNVH khác nhau.

Sự “lệch chuẩn” trong CNVH, từ những góc nhìn cận cảnh trên thực tế, có thể thấy, nó xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển CNVH của Đảng. Từ đó dẫn đến tư duy phiến diện trong một bộ phận tổ chức, cá nhân làm văn hóa.

Những ồn ào dư luận xoay quanh một số bộ phim điện ảnh, tác phẩm văn học thời gian qua cho thấy, nhiều giá trị cốt lõi của văn hóa, truyền thống dân tộc bị “hư cấu” theo những góc nhìn phiến diện.

Tác phẩm lớn xứng tầm thời đại luôn được hình thành trên nền tảng truyền thống văn hóa, cốt cách dân tộc. Rời bỏ giá trị cốt lõi ấy, tác phẩm chỉ là sự vay mượn, lai căng, nó có thể gây sốt thị trường ở một lúc, một nơi nào đó, nhưng chắc chắn khó tránh khỏi "chết yểu". Mà bản chất CNVH thì không thể nào chấp nhận những "cái chết" kiểu như vậy./

Hành động trách nhiệm và tiếng nói lương tri vì sự bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc

Tôn giáo và đất đai là những vấn đề mà các thế lực thù địch đang lợi dụng để xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta. Âm mưu này của chúng sẽ thất bại, bởi Việt Nam đã đạt được những thành tựu không thể phủ nhận trong đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và giải quyết vấn đề về đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).

Chính sách của Việt Nam đã đem lại sự thay đổi căn bản trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người DTTS.

Các tôn giáo chung sống hòa hợp trong cộng đồng các dân tộc. Ở Việt Nam không có xung đột tôn giáo. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, không có sự kỳ thị về tín ngưỡng, tôn giáo giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau hay không có tín ngưỡng, tôn giáo; giữa người DTTS theo tôn giáo và người Kinh theo tôn giáo. Được phép thành lập trường đào tạo, mở lớp bồi dưỡng những người chuyên hoạt động tôn giáo để đáp ứng nhu cầu của tổ chức tôn giáo.

Các cấp chính quyền cũng rất nhanh chóng trong việc khắc phục những vấn đề liên quan. Có rất nhiều chương trình, dự án để đảm bảo không một người DTTS nào bị bỏ lại phía sau. /.

Cần tránh những gì trong tổ chức các phong trào thi đua yêu nước

Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặc biệt quan tâm đến các phong trào thi đua yêu nước. Hồ Chí Minh và Đảng cũng sớm chỉ ra những việc cần làm và cả những việc cần phải tránh để tổ chức có chất lượng, hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước.

Cần phải tránh một số nhận thức không đúng về thi đua yêu nước. Theo Người, cần tránh cho rằng thi đua yêu nước là việc khác với những công việc hằng ngày mà các tổ chức, cá nhân làm, vì thực tế công việc hằng ngày cũng chính là thi đua.

Tất cả những việc làm như vậy đều nói lên tinh thần yêu nước, đạo đức trong sáng, thuần phong mỹ tục của nhân dân. 

Cần tránh tình trạng nhất thời, chỉ tiêu, kế hoạch không sát thực tế, đầu voi, đuôi chuột. 

Phải tránh tình trạng mất đoàn kết, cá nhân, cạnh tranh, ganh đua, giấu nghề… không lành mạnh trong thi đua yêu nước.

Với sự nỗ lực, phấn đấu, đoàn kết của toàn thể cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong cả nước, công tác thi đua khen thưởng và phong trào thi đua yêu nước của nước ta trong thời gian tới nhất định sẽ có nhiều thành công mới, tạo ra động lực mới, quan trọng, góp phần vào tiến trình đẩy mạnh công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước”./.

Bài trừ mê tín dị đoan tại các lễ hội.

Mặc dù cấp ủy, chính quyền, các ngành chức năng địa phương thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường tuyên truyền, vận động, quản lý, kiểm tra, kiểm soát, tuy nhiên thời gian qua, nhiều cá nhân, tổ chức vẫn lợi dụng phong tục cổ truyền, tín ngưỡng dân gian để thực hiện hành vi “buôn thần bán thánh” tại các lễ hội nhằm trục lợi.

Hoạt động này càng trở nên khó kiểm soát vào thời điểm đầu xuân khi nhiều lễ hội diễn ra đồng loạt, trong thời gian dài với rất đông du khách thập phương tham gia.

Tình trạng phổ biến diễn ra trong nhiều năm qua tại nhiều cơ sở tín ngưỡng, thờ tự đó là người dân đốt hương, vàng mã tràn lan, không chỉ tốn kém, lãng phí mà còn gây ô nhiễm môi trường, tiềm ẩn nguy cơ hỏa hoạn. Bên cạnh đó, một số hoạt động như dâng sao giải hạn, cúng vong, trục vong, cúng oan gia trái chủ, xem bói, hầu đồng, đoán tướng cũng bị biến tướng nhằm mục đích trục lợi. 

Để những lễ hội đầu xuân diễn ra an toàn, vui tươi, lành mạnh, văn minh, mỗi người dân cần phân biệt giữa tín ngưỡng, tôn giáo với các hoạt động mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội; chấp hành nghiêm các quy định của địa phương và ban tổ chức, ban quản lý khi tham gia lễ hội. Điều này sẽ góp phần tôn vinh giá trị truyền thống trong cuộc sống hiện đại, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của quần chúng nhân dân./.