Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2024

Khắc phục tư tưởng "tốt khoe, xấu che"

 

Trong công tác cán bộ nói chung, đánh giá cán bộ lâu nay vẫn là phần việc khó đối với tất cả cấp ủy, tổ chức đảng các cấp.

Tập thể đánh giá cá nhân, rồi cá nhân đánh giá cá nhân để vừa đánh giá đúng, đánh giá khách quan, không bị nể nang, cảm tính, cũng không để bị yêu-ghét chi phối trong từng lời nhận xét, đánh giá là việc đã khó. Nhưng, để mỗi cán bộ, đảng viên tự nhìn nhận, đánh giá đúng về chính mình cũng là việc không dễ dàng.

Người xưa có câu: “Ngọc còn có vết”, “nhân vô thập toàn”, “bàn tay ngón dài, ngón ngắn”... đại ý để khuyên răn hậu thế rằng, dù là bất kỳ ai cũng có ưu điểm, khuyết điểm riêng, không ai có thể tốt đẹp một cách toàn vẹn “mười phân vẹn mười”. Ấy thế nhưng, tâm lý chung của đại đa số là “tốt đẹp khoe ra” chứ ít ai dám tự mình phô bày ra cái xấu, mặt còn chưa tốt, cái còn đang khuyết thiếu của mình. Vì còn giữ thể diện, sợ mất uy tín nên có mấy ai dám tự “vạch áo cho người xem lưng”, thậm chí còn tìm cách để che giấu khuyết điểm...


Đó là những diễn biến tâm lý hết sức bình thường của con người trong đời sống, sinh hoạt hằng ngày. Nhưng trong công tác cán bộ, nhất là khâu đánh giá, nhận xét cán bộ, biểu hiện “tốt khoe, xấu che” vẫn len lỏi trong tâm lý, hành vi của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Các căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân như tự mãn, kiêu ngạo, công thần vẫn tồn tại, diễn biến trong tâm lý, tư tưởng của nhiều người. Không ít cán bộ, đảng viên sinh hoạt trong tập thể nhưng đặt cái tôi của mình lên trên tập thể, bởi nghĩ mình có năng lực hơn người nên nghiễm nhiên tự cho mình là “cây cao bóng cả” so với phần còn lại. Cá biệt hơn, có người còn tự đề cao bản thân, bao nhiêu thành tích của tập thể thì vơ hết vào, coi đó là công trạng của mình... Những nguyên nhân trên phần nào lý giải, ở nhiều cơ quan, tổ chức, từ năm này qua năm khác, phần việc cán bộ tự đánh giá, tự nhận xét, phần việc tự phê bình của cán bộ, đảng viên vẫn chưa thể thực chất. 

Tự đánh giá, nhận xét chính mình, hay nói cách khác là “tự soi”, đó là quá trình mỗi người tự nhận thức về bản thân để làm sao nhìn nhận thấu tỏ những điều còn đang khuyết thiếu, những mặt chưa toàn vẹn, từ đó mà “tự sửa” bản thân, để đặt mình và hòa mình trong tập thể, với quần chúng chứ không thể đặt lên trên, lên trước; nếu không sẽ thật dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân. “Tự soi” cũng có nghĩa rằng, bản thân mỗi người phải tự chẩn đoán bệnh, tự kê đơn, bốc thuốc để “sửa” mình. Đó là cuộc đấu tranh diễn ra trong nội tâm mỗi người, là sự thử thách bản lĩnh của mỗi cán bộ, đảng viên khi đứng trước “cái tôi” trong chính mình.

Để mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng tiến bộ, hoàn thiện bản thân, “tự soi” và “tu thân” là những việc nên làm và cần làm trước hết. 

Tâm sự đảng viên: Không thể cào bằng

 

Đến hẹn lại lên, vào thời điểm cuối năm, các cơ quan, đơn vị lại bước vào mùa bình bầu thi đua, đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ.

Đây là phần việc hết sức quan trọng của tổ chức, nhằm ghi nhận, tạo động lực cho cán bộ tiếp tục phấn đấu công tác, cống hiến; cũng là căn cứ để hiện thực các khâu, các bước khác trong công tác cán bộ.

Điều đáng nói là sau những hội nghị đánh giá, xếp loại cán bộ hằng năm, nhiều nơi thường xem đây là một dịp tổ chức liên hoan, tiệc tùng. Trong khi đó, một số hội, nhóm cũng rủ nhau tụ tập vui vẻ, chúc mừng những thành quả đạt được sau một năm công tác, cống hiến.

Tất nhiên, không ít cán bộ tham gia liên hoan dịp cuối năm là bởi luôn đề cao trách nhiệm với tổ chức, thật lòng muốn gắn kết, gắn bó với các thành viên trong tập thể. Thế nhưng, cũng không ít cá nhân vui vẻ, phấn khởi bởi bản thân được tổ chức ưu ái một cách khác thường; đánh giá, xếp loại ở mức cao hơn nhiều so với thực tế kết quả đã hoàn thành. Thậm chí, dù cán bộ chưa thật sự cố gắng, nhiệt huyết không nhiều, chưa có đóng góp đáng ghi nhận... nhưng tập thể vẫn “dí” cho mức xếp loại “Hoàn thành nhiệm vụ” nên niềm vui cá nhân như thể trực trào.

Theo nhiều cán bộ tốt, sở dĩ, ở nhiều nơi vẫn tiếp diễn câu chuyện đánh giá cán bộ thiếu thực chất là bởi có phần nguyên nhân từ sự áp đặt, giao khoán chỉ tiêu (tỷ lệ) trong công tác đánh giá cán bộ. Ví như, một tổ chức đảng, chi bộ, cơ quan, đơn vị thì phải bảo đảm bao nhiêu phần trăm cán bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; bao nhiêu phần trăm hoàn thành nhiệm vụ và cũng ấn định con số cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ...

Vì áp đặt chỉ tiêu và vận hành cứng nhắc nên tổ chức cấp dưới rất dễ sinh ra biểu hiện “lựa gió, bẻ măng”, cho rằng cấp trên “đã cho cơ chế” thì việc gì phải nặng nhẹ với anh em đồng chí, đồng nghiệp trong nội bộ. Hơn thế, nếu có nhiều người hoàn thành xuất sắc, hoàn thành nhiệm vụ thì tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị nơi ấy càng bảo đảm các tiêu chí xếp loại tổ chức ở mức cao hơn.

Nhiều cán bộ, đảng viên đề xuất: Việc đặt ra các tỷ lệ phần trăm trong đánh giá cán bộ là cần thiết, nhưng phải nhất quán quan điểm mềm dẻo trong vận dụng đối với mỗi cấp, mỗi loại hình, đặc thù tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương. Bởi, hiện nay có nhiều tổ chức gồm những cán bộ rất xứng đáng được đánh giá ở mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; nhưng cũng có tổ chức không tìm đâu ra cán bộ bảo đảm các tiêu chí ở mức hoàn thành xuất sắc. Lại có không ít nơi, cán bộ không đạt mức hoàn thành nhiệm vụ, nhưng do rập khuôn về định mức tỷ lệ, chỉ tiêu theo quy định nên cơ sở tiện bề vận dụng, sinh ra cả nể, rồi bình xét, đánh giá cán bộ theo lối cào bằng.

Dư luận cho rằng, nếu từng tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương không cứng nhắc, áp đặt trong vận dụng các tiêu chí, chỉ tiêu và khắc phục triệt để những biểu hiện nặng thành tích trong đánh giá cán bộ thì chắc chắn mặt công tác này sẽ có những bước chuyển biến tích cực, dần tiệm cận đến sự thực chất, đúng đắn!

“Quả bóng” trách nhiệm

 

Sau bữa cơm tối, ông Nam sang nhà đồng chí bí thư chi bộ thôn để bàn bạc một số công việc của chi bộ trong tháng tới. Vừa nhấp chén trà còn nóng hổi, ông Nam thở dài kể lại chuyện hôm đầu tuần lên UBND xã nhưng không được việc.

Ông bảo: “Đúng là quả bóng trách nhiệm, cứ người này đá cho người kia, cấp này đá lên, đá xuống cho cấp kia, còn người dân không biết đường nào mà bắt...”. 

Chuyện là đầu tuần, ông Nam lên trụ sở UBND xã để hỏi một số thông tin liên quan đến các chế độ, chính sách mới về đất đai. Ngồi chờ ở bộ phận một cửa chừng 15 phút mới tới lượt, ông được giới thiệu sang gặp cán bộ địa chính để tìm hiểu thông tin cho kỹ hơn. Đang chăm chú hoàn tất một số công việc để kịp trình lãnh đạo UBND xã nên đồng chí cán bộ làm công tác địa chính xã mời ông ngồi chờ ít phút. Quãng chừng 30 phút sau, đồng chí cán bộ địa chính mới tạm dừng việc để nghe ông trình bày công việc cần giải quyết. Ông Nam vừa dứt lời, đồng chí cán bộ địa chính trả lời qua loa, rằng “vấn đề này vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể, bác chờ thêm một thời gian nữa, hoặc mời bác lên UBND huyện để hỏi cho rõ hơn”.

Nghe xong câu chuyện, đồng chí bí thư chi bộ cười mỉm đầy ẩn ý. Đồng chí bí thư chi bộ phân tích: Không phủ nhận rằng, đội ngũ cán bộ cơ sở quá nhiều công việc cần giải quyết, trong khi biên chế vốn đã ít nhưng vẫn tiếp tục tinh giản nên một người phải cáng đáng nhiều việc quá. Hai nữa, bà con ta mặc dù ai cũng có một chiếc điện thoại thông minh, vào mạng xã hội, rồi lướt web không kém gì lớp trẻ, nhưng chẳng mấy ai biết tận dụng công nghệ để tìm hiểu thông tin, nắm bắt chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước. Hễ có việc to, việc nhỏ gì là lại lên tìm cán bộ xã, thành ra “trăm dâu đổ đầu cơ sở” là vì thế. 

Ngoài ra, cũng cần phê phán một bộ phận cán bộ, công chức xã, mặc dù hằng ngày phải giải quyết nhiều thủ tục hành chính, xử lý nhiều vấn đề bức xúc của nhân dân liên quan đến các chế độ, chính sách nhưng không chịu khó học tập nâng cao nghiệp vụ, lười nghiên cứu các văn bản mới trong lĩnh vực phụ trách mà cứ phải chờ hướng dẫn của trên. Không ít lĩnh vực, công việc có sự giao thoa, chồng chéo nên người này đẩy việc cho người kia, rồi cấp dưới đẩy việc lên cấp trên, hoặc ngược lại... Chính những vấn đề nhỏ nhặt ở cơ sở không được giải quyết sớm, kịp thời nên dẫn đến quần chúng bức xúc, tạo thành điểm nóng trong dư luận và là nguyên nhân dẫn đến đơn, thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp...

Nghe đồng chí bí thư chi bộ phân tích, ông Nam gật gù tâm đắc và chợt nhận ra, bấy lâu nay mình vẫn chưa sử dụng hết công năng của chiếc điện thoại thông minh, thành ra có nhiều việc vừa tự làm khó mình, vừa “phiền” cán bộ.

“Cán bộ phải tuyệt đối tránh bệnh quan liêu, mệnh lệnh, phải hết sức chống bệnh hình thức, chống lãng phí, tham ô”

 

Lời nói trên, Bác Hồ nói trong buổi gặp gỡ đồng bào các dân tộc tỉnh Tuyên Quang, ngày 21-3-1961, trong hoàn cảnh miền Bắc nước ta đang bắt tay vào việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, vừa xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, tiếp tục cải tạo chủ nghĩa xã hội và củng cố quan hệ sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân về mọi mặt; đồng thời, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh giữ gìn trật tự an ninh bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần thiết thực vào thực hiện sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà.

Bác mong muốn và nhắc nhở cán bộ dù ở cấp nào, ngành nào đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân, tất cả cán bộ phải một lòng, một dạ phục vụ nhân dân; phải hết sức quan tâm đến đời sống nhân dân; thực hiện theo đúng chính sách của Đảng; đồng thời, tuyệt đối tránh bệnh quan liêu, mệnh lệnh, phải hết sức chống bệnh hình thức, chống lãng phí, tham ô. Do đó mà lãnh đạo phải dân chủ, thiết thực, cụ thể và toàn diện. Phải tránh cách lãnh đạo đại khái, phiến diện chung chung. Trong mọi công việc, đảng viên và đoàn viên thanh niên phải làm gương mẫu, để lôi cuốn nhân dân cùng tiến bộ.

Hiện nay, tình hình thế giới và trong nước có nhiều diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, các thế lực thù địch đang ra sức lôi kéo, thực hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; những tác động của mặt trái kinh tế thị trường đã làm thay đổi nấc thang giá trị đạo đức cách mạng. Song giá trị lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Cán bộ phải tuyệt đối tránh bệnh quan liêu, mệnh lệnh, phải hết sức chống bệnh hình thức, chống lãng phí, tham ô”, được Đảng ta quán triệt, thực hiện nghiêm túc và phát huy mạnh mẽ trong công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ ở tất cả các cấp, các ngành và cả trong sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ phải luôn coi trọng việc khắc phục những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức trong sáng, kiến thức chuyên môn, trách nhiệm với công việc là vấn đề quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết.

Là một bộ phận cán bộ trọng yếu của Đảng trong quân đội, đội ngũ cán quân đội luôn thấm nhuần lời dạy của Bác, dù trong điều kiện hoàn cảnh nào, đội ngũ cán bộ trong quân đội đều nhận thức rõ điều đó, luôn giữ vững lập trường quan điểm, phẩm chất đạo đức cách mạng, kiên định mục tiêu lý tưởng chiến đấu, tích cực tự giác nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Việc làm đó, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước giai đoạn hiện nay.

Người đứng đầu không chỉ nêu gương là xong

 Trong quá trình triển khai thực hiện việc học tập và làm theo Bác, vai trò nêu gương và làm gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu hết sức quan trọng. Sinh thời, trong công việc cũng như trong sinh hoạt, Bác Hồ chính là người nêu gương rất mẫu mực.

Chúng ta học tập và làm theo Bác chính là học tư tưởng, phong cách, đạo đức của Người và thực hành chính những điều ấy trong công tác và sinh hoạt hằng ngày. Chính vì lẽ đó, để việc học tập và làm theo Bác được thực chất thì người đứng đầu trong mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương phải nêu gương và làm gương học trước, làm theo trước, từ đó dẫn dắt, truyền cảm hứng, tạo ra những giá trị tốt đẹp, mẫu mực cho người khác học tập và làm theo.

Đối với chức trách, nhiệm vụ được giao, người đứng đầu phải trở thành những tấm gương sáng mẫu mực về phẩm chất và năng lực để cấp dưới và nhân dân noi theo trong những công việc cụ thể, trong mọi việc làm, hành động, ứng xử, sinh hoạt hằng ngày.

Người đứng đầu nêu gương chưa hẳn đã xong mà phải chịu trách nhiệm trước cấp trên về kết quả triển khai thực hiện việc học tập và làm theo Bác ở cơ quan, đơn vị mình. Cán bộ, đảng viên, nhân viên cấp dưới để xảy ra sai phạm mà có liên quan đến những vấn đề về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... thì có nghĩa người đó đã không thường xuyên thực hành việc học tập và làm theo Bác. Điều này cũng đồng nghĩa với việc, người đứng đầu không nêu gương, hoặc buông lỏng khâu quản lý, kiểm tra, giám sát nên phải quy kết cả trách nhiệm của người đứng đầu.

Tăng cường kiểm tra đột xuất và mở rộng kênh giám sát

 Bên cạnh những mặt tích cực đã được các cấp, các ngành chỉ rõ thì vẫn còn nhiều nơi, việc học tập và làm theo Bác còn nặng về hình thức, thậm chí có nơi chỉ “phát mà không động”, “đánh trống bỏ dùi”... Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng một trong những nguyên nhân khiến "bệnh hình thức" vẫn có “đất diễn” đó là công tác kiểm tra, giám sát, khen thưởng, xử phạt chưa thật sự được chú trọng và quan tâm đúng mức.

Tôi cho rằng, để việc học và làm theo Bác đi vào thực chất, trở thành việc làm thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên thì công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành thường xuyên, toàn diện, nhất là phải tăng cường kiểm tra đột xuất. Kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm; giám sát rộng rãi và thường xuyên, trong đó mở rộng kênh giám sát và chú trọng kênh giám sát từ quần chúng. Khi thực hiện công tác kiểm tra, giám sát cần đến tận nơi, kiểm tra một cách thiết thực chứ không chỉ nghe báo cáo và những con số trên mặt giấy. Kiểm tra phải chỉ rõ khuyết điểm, tồn tại và chú trọng đến kiểm tra lại để đánh giá thực chất việc khắc phục những tồn tại, hạn chế.

Bên cạnh đó, kiểm tra phải đi liền với kỷ luật nghiêm minh những trường hợp sai phạm, đồng thời, khen thưởng, động viên những việc làm tốt, những cách làm hay nhằm lan tỏa giá trị tốt đẹp trong cộng đồng...

Khoán sản phẩm mỗi ngày học một điều về Bác

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn đội ngũ cán bộ: “Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to”.

Chúng ta vẫn thường nói rằng, “học tập và làm theo Bác là việc làm thường xuyên”. Vậy thiết nghĩ cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần vận dụng lời dạy này của Người vào phần việc “thường xuyên” ấy theo phương châm “khoán sản phẩm”. Có nghĩa rằng, hằng năm khi cán bộ, đảng viên, quần chúng viết đăng ký kế hoạch thực hiện việc học và làm theo Bác, việc cam kết thực hiện phải được định lượng bằng sản phẩm cụ thể. Theo đó, từng người phải cam kết thực hiện mỗi ngày đọc một mẩu chuyện về Bác, mỗi ngày thực hành một phong cách làm việc theo gương Bác Hồ.

Với cách làm này, nếu được duy trì liên tục thì chắc chắn việc học tập và làm theo Bác sẽ thực sự trở thành việc làm thường xuyên và khi đó, những giá trị cốt lõi trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh sẽ thực sự thấm sâu vào nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên. Tất nhiên, việc khoán sản phẩm như vậy cần phải được gắn chặt với kiểm tra, giám sát và đánh giá chất lượng bằng sự chuyển biến trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ chuyên môn và lề lối, tác phong công tác, sinh hoạt hằng ngày của cán bộ, đảng viên.

 Kiên định, vững vàng vượt khó khăn, thách thức

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng: Chúng ta tự hào, tin tưởng tiến lên dưới lá cờ vẻ vang của Đảng trong bối cảnh tình hình thế giới, trong nước bên cạnh những thời cơ, thuận lợi cũng sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức lớn.

Trên thế giới, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại tiếp tục diễn ra gay gắt; tranh chấp chủ quyền biển, đảo diễn biến phức tạp; các cuộc xung đột quân sự tác động đến địa chính trị, địa kinh tế, an ninh năng lượng và chuỗi cung ứng toàn cầu; khoa học - công nghệ và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo ra cả thời cơ và thách thức mới đối với mọi quốc gia, dân tộc; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các vấn đề an ninh truyền thống, phi truyền thống có thể đe dọa nghiêm trọng đến sự ổn định, bền vững của thế giới, khu vực và đất nước ta...

Ở trong nước, thị trường tài chính - tiền tệ, nhất là thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp diễn biến rất phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Hoạt động sản xuất, kinh doanh ở một số ngành, lĩnh vực có xu hướng suy giảm; đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn. Giải ngân vốn đầu tư công chưa đạt yêu cầu...

Tốc độ tăng thu ngân sách nhà nước có dấu hiệu suy giảm; nợ xấu ngân hàng, nợ thuế có xu hướng tăng; bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh mạng, trật tự, an toàn xã hội, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân... có nhiều khó khăn, thách thức. Việc tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách, thực thi công vụ vẫn là khâu yếu; kỷ luật, kỷ cương ở nhiều nơi chưa nghiêm... Các thế lực thù địch, phản động tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta...

Trên cơ sở đánh giá khách quan, toàn diện những kết quả đã đạt được; những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và phân tích nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm; đồng thời, phân tích thấu đáo bối cảnh tình hình trong nước, quốc tế, thấy rõ những biến đổi sâu sắc, diễn biến phức tạp, khó lường và dự báo xu thế phát triển trong thời gian tới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải hết sức bình tĩnh, sáng suốt, phát huy thật tốt những kết quả, bài học kinh nghiệm đã có, khắc phục những hạn chế, yếu kém để tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, nỗ lực phấn đấu, tranh thủ mọi thời cơ, thuận lợi; vượt qua mọi khó khăn, thách thức, triển khai thực hiện thắng lợi các chương trình, kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước kết hợp với sức mạnh của thời đại; khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Bệnh hình thức trong kiểm tra

 Vào những tháng cuối năm thường có nhiều đoàn cấp trên đến kiểm tra cấp dưới. Thời bao cấp, nhiều người dân và một bộ phận cán bộ, nhân viên cấp dưới cảm thấy ám ảnh khi nghe tin có đoàn kiểm tra cấp trên đến địa phương, cơ sở mình.

Bởi, mỗi khi cấp trên đến kiểm tra, cấp dưới không chỉ lo lắng ngày đêm chuẩn bị văn bản báo cáo cho "ra môn ra khoai" mà còn phải nháo nhào chạy đi chạy lại lo ăn ở chu đáo cho thượng cấp. Trong tâm lý của cấp dưới, nếu không ứng xử mặn mà, hậu hĩnh khi cấp trên đến kiểm tra thì nguy cơ bị “vạch lá tìm sâu”, khui ra khuyết điểm nhiều hơn ưu điểm là nhãn tiền. Thế nên, trong dân gian mới truyền tai nhau bài thơ trào phúng nghe mà ai oán: “Bộ về, thì tỉnh mổ trâu/ Tỉnh lên, bộ hỏi đi đâu thế này?/ Tỉnh về, thì huyện giết cầy/ Huyện lên, tỉnh hỏi chú mày đấy a?/ Huyện về, thì xã thịt gà/ Xã lên, huyện hỏi bỏ nhà đi đâu?”.

Xã hội văn minh lên từng ngày, những năm gần đây, công tác kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới ngày càng đi vào nền nếp, thực chất hơn. Nhiều nơi, cấp dưới cũng không còn tâm lý quá lo ngại, sợ sệt khi cấp trên đến kiểm tra, bởi ai nấy đều hiểu rằng, một trong những chức năng cơ bản của hoạt động lãnh đạo, quản lý là công tác kiểm tra. Không có công tác kiểm tra thì hoạt động lãnh đạo, quản lý sẽ không hiệu lực, hiệu quả, thậm chí bị vô hiệu hóa. Kiểm tra-vì thế được coi là chế độ, công việc bình thường trong hoạt động lãnh đạo, quản lý.

Tuy nhiên, không hẳn mọi nơi, mọi chuyện về hoạt động kiểm tra đều sáng rõ như ban ngày. Những khúc quanh, góc khuất, nốt trầm trong công tác kiểm tra vẫn là điều khiến dư luận xã hội chưa hết băn khoăn, trăn trở. Bản chất của kiểm tra là tra xét kỹ lưỡng xem có đúng hay không. Kiểm tra còn là điều kiện để cấp trên bồi dưỡng giúp cấp dưới nâng cao trình độ nghiệp vụ. Nếu cấp trên, cơ quan chức năng kiểm tra cấp dưới thực hiện các nguyên tắc, quy trình, quy định bảo đảm chặt chẽ, khách quan, minh bạch, nhận định chính xác, đánh giá công tâm, công bố công khai thì hiệu lực, hiệu quả kiểm tra mới trở nên hiện hữu trong thực tế. Ngược lại, nếu kiểm tra qua loa, đại khái, không truy tìm gốc gác của những sai sót, khuyết điểm của đối tượng được kiểm tra, hoặc có thái độ nể nang, xuề xòa, dĩ hòa vi quý thì sẽ triệt tiêu tác dụng của công tác kiểm tra.

Điều đáng quan ngại của hoạt động kiểm tra ở một số nơi hiện nay là rơi vào bệnh hình thức. Tức là sau khi cấp trên có công văn dấu đỏ áp xuống, cấp dưới phải chuẩn bị đủ thứ văn bản, giấy tờ hành chính để báo cáo cấp trên. Mà thời đại 4.0, công nghệ sao-chép, đánh bóng hồ sơ, làm đẹp văn bản, vuốt ve thành tích... vốn là một trong những “kỹ năng điêu luyện” ở nhiều nơi, nhiều bộ phận, nhiều cán bộ, nhân viên. Trong khi cấp trên đến làm việc, kiểm tra lại chỉ thích ngồi trong phòng lạnh để nghe cấp dưới trình bày báo cáo, rồi kết luận dăm câu ba điều chung chung theo kiểu "phát huy ưu điểm, khắc phục tồn tại, khuyết điểm" thì lại... hòa cả làng!

Sự hình thức trong hoạt động kiểm tra có vẻ như làm lợi cả đôi đường, tức là cấp trên kiểm tra thì được tiếng là bao dung, độ lượng, sẻ chia với cấp dưới, không làm mất lòng cấp dưới; còn cấp bị kiểm tra thì cảm thấy "mát lòng mát dạ" vì cấp trên đã “giơ cao đánh khẽ”, khuyết điểm ít bị khui ra, sai phạm ít bị đụng tới. Nhưng hậu quả là hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra bị giảm sút, thậm chí bị tê liệt; phẩm chất trung thực, tinh thần liêm chính của tổ chức/cá nhân có thẩm quyền kiểm tra bị nhạt phai, thậm chí vẩn đục; còn tổ chức/cá nhân bị kiểm tra thì sinh ra chủ quan, tự mãn và cũng từ đó có thể tự đưa mình trượt dài trên con đường thoái hóa, biến chất. Nói thế để thấy, nếu còn bệnh hình thức trong hoạt động kiểm tra thì đây chính là một trong những tác nhân làm mọt ruỗng văn hóa chính trị, lung lay đạo đức công vụ từ gốc rễ.

Bệnh hình thức khiến con người bị mê hoặc và hủy hoại nền tảng tinh thần xã hội

 

Không ngẫu nhiên mà Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra rằng, phải “kiên quyết khắc phục bệnh hình thức”, vì đây là những biểu hiện lệch chuẩn văn hóa, lệch chuẩn đạo đức.

Đã nói đến lệch chuẩn giá trị văn hóa có nghĩa là đã chỉ ra nguy cơ lâu dài cho sự phát triển bền vững của đất nước, dân tộc. Do đó, việc nhận diện, phê phán, khắc phục bệnh hình thức cần phải được coi là một trong những việc làm cấp bách hiện nay nhằm giữ gìn nền tảng tinh thần lành mạnh cho quốc gia và thể chế chính trị-xã hội.            

1. Mong muốn có vẻ ngoài đẹp đẽ, hấp dẫn người khác là một khao khát chính đáng của con người. Nhu cầu trang điểm, làm đẹp xuất hiện. Ban đầu nó là một nhu cầu tâm lý lành mạnh, hướng tới cái đẹp. Đó là nhu cầu được hơn cái phần tự nhiên vốn có, đầu tiên là ở bề ngoài, là vẻ hấp dẫn người khác. Ở cây cối hay loài vật cũng có nhu cầu hấp dẫn đối tượng nhưng chỉ có ở con người điều đó mới được thực hành một cách có ý thức, có kỹ năng. Đó cũng là một phần của cuộc sống. Nó bắt đầu từ con người, từ khát vọng hướng tới cái đẹp. Từ con người, sự việc mở rộng ra những gì liên quan đến con người. Từ chuyện của cá nhân mở rộng ra phạm vi xã hội.

Từ khởi đầu là tâm lý, dần dần vượt ra khỏi khuôn khổ, muốn vươn tới cái ngoài mình, lớn hơn, không có của mình nhưng có thể đem lại cho mình lợi ích. Cũng vẫn là cho con người nhưng chuyện “làm đẹp” từ chuyện của cá nhân đã dần dần mở ra các hoạt động khác, liên quan đến người khác ở phạm vi rộng lớn hơn. Rồi từ những vẻ đẹp tự nhiên ban đầu, nhu cầu ấy mở dần ra những lĩnh vực khác như danh tiếng, địa vị, tiền tài... Nhưng mở đến đâu là vừa, theo hướng nào là phù hợp, làm thế nào là thiết thực là vấn đề của nhận thức, là những giá trị văn hóa.

Cùng với sự vận động và biến đổi trong quá trình “xã hội hóa”, khao khát ban đầu đã bị biến đổi dần theo hướng vụ lợi. Đầu tiên là danh rồi từ danh sinh ra lợi, từ nhu cầu ban đầu ít gắn với giá trị kinh tế, lợi ích vật chất dần dần khao khát ấy ngày càng tỏ ra thích ứng với những đam mê vật chất hơn. Thế cho nên, từ xa xưa người ta đã phải đề ra những nguyên tắc, tiêu chuẩn mang tính đạo đức rồi sau đó là pháp lý để hạn chế những việc đi quá giới hạn này.

Khi vượt qua những giới hạn đạo đức và pháp luật, nhu cầu “được hưởng nhiều hơn những thứ cá nhân ấy có” trở thành một khuyết tật không chỉ của cá nhân nữa mà là của cộng đồng. Nó trở thành căn bệnh của cả cá nhân và xã hội. Một khi thói háo danh, chuộng hình thức trở nên quá đà sẽ thành một mối nguy cơ cho xã hội vì nó làm lệch lạc giá trị tinh thần của xã hội. Người xưa đúc kết “Y phục xứng kỳ đức” và “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” là để nhắc nhở con người đừng quá đà mà mắc sai lầm khi đề quá cao hình thức, chạy theo hình thức mà quên mất cái thực chất, cái quyết định nên giá trị sự vật là ở chính cái phần nội dung của nó.

2. Nhìn lại lịch sử dân tộc có thể thấy một bài học xương máu: Khi nào bệnh hình thức trở thành một “quốc nạn” thì đất nước sẽ lao đao. Vua chúa, quan lại đua đòi ăn chơi, đám người có của coi sự hơn người về dinh thự, tiền bạc, quyền lực, danh vọng thể hiện “đẳng cấp” xã hội của họ sẽ dẫn đến sự suy thoái của dân khí, sẽ làm suy yếu sức mạnh quốc gia.

Hưng Đạo Đại vương từng phải khuyến cáo tướng sĩ ở thời bình đừng quên những ngày gian khổ chiến tranh, đừng mải nghĩ đến chuyện vui chơi mà sao nhãng luyện tập vì điều đó liên quan đến chuyện thắng thua, còn mất không chỉ của cá nhân họ mà còn của quốc gia. Nguyễn Trãi cũng từng mắng Lương Đăng khi được giao lo chuyện lễ lạt ở tầm quốc gia chỉ chăm chú vào tiêu khiển, ăn chơi, làm đẹp lòng vua quan mà quên đi sứ mệnh của người làm nghề.

Đưa ra mấy ví dụ nhỏ thế để muốn nói rằng thói chạy theo cái bề ngoài, hoặc nghiêm trọng hơn là căn bệnh hình thức vốn gắn với những nhận thức chưa đúng của con người có thể gây hại cho chính con người và xã hội.

3. Nhu cầu làm đẹp là nhu cầu tự nhiên của con người nhưng khi nhu cầu ấy trở thành “bệnh” thì nó đã biến dạng sang một cấp độ khác. Thời xưa đã thế, thời nay cũng thế. Thể chế xã hội nào cũng có những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp để cho “bệnh” hình thức xuất hiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng căn bệnh tệ hại này bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân.

Chủ nghĩa cá nhân bắt nguồn từ đề cao cá nhân mình, vọng tưởng về vị trí và quyền lực của mình, cho mình có quyền ban phát chân lý và đứng cao hơn tất cả, kể cả luật pháp nên mọi thứ cá nhân ấy làm “chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể”.

Bệnh hình thức bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân - lối sống chỉ mưu lợi cho cá nhân và đồng bọn. Nó có thể làm suy yếu xã hội, gây ra nguy cơ cho một đơn vị, cộng đồng, thậm chí quốc gia. Bởi như Bác Hồ từng cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Như vậy, bệnh hình thức không chỉ là một căn bệnh thuộc về đạo đức cá nhân nữa mà nó là biểu hiện sự tha hóa của cá nhân, một tổ chức chính trị. Nó là nguồn gốc của thói vị kỷ, là nguồn gốc sinh ra căn bệnh chủ nghĩa cá nhân. Căn bệnh này, ở các mức độ nặng nhẹ khác nhau tồn tại song song với sự tồn tại của con người nên để tránh nó, con người phải luôn đấu tranh với nó để làm lành mạnh xã hội.

Cuộc đấu tranh này không chỉ nhìn từ góc nhìn đạo đức mà trước hết phải từ những chủ trương, đường hướng đúng đắn, được cụ thể ra bằng những điều luật, cơ chế, bằng những biện pháp tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả ở mọi cấp độ, đặc biệt ở góc độ nêu gương, tu thân.

Việc này không thể giao cho một tổ chức chính trị - xã hội hay một ngành nào quản lý, thực hiện mà phải làm đồng bộ, liên tục, quyết liệt. Cái đích của nhiệm vụ này không phải chỉ là nhằm giải quyết một vấn đề nảy sinh trong một thời điểm nào đó của xã hội mà nó đòi hỏi phải làm thường xuyên, đồng bộ, liên tục, quyết liệt. Ở bình diện phát triển xã hội bền vững, đích của nó là dân khí quốc gia, là nền tảng tinh thần của sự phát triển, là bảo đảm cho một xã hội phồn vinh và hạnh phúc.

Vì vậy mà Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra, phải “kiên quyết khắc phục bệnh hình thức” vì đây là những biểu hiện lệch chuẩn văn hóa, lệch chuẩn đạo đức. Đã nói đến lệch chuẩn giá trị văn hóa có nghĩa là đã chỉ ra nguy cơ lâu dài cho sự phát triển bền vững của đất nước, dân tộc.

4. Nhìn vào thực trạng xã hội hiện nay, chúng ta không khỏi lo lắng vì căn bệnh hình thức, phô trương không còn là của cá nhân, không chỉ là căn bệnh đua đòi, chướng tai gai mắt mà đã ăn sâu vào ý thức của một bộ phận không nhỏ của xã hội, có trường hợp đã bộc lộ ra ở tầm chính sách. Nó không còn là chuyện hình thức vặt, hào nhoáng nhất thời mà là một phần của sự suy thoái, băng hoại nhân cách cán bộ, đảng viên, nguyên tắc tổ chức, lạm dụng chính sách gây ra những tổn hại lớn cả về kinh tế lẫn nền tảng tinh thần của xã hội.

Khi người ta cố tình hiểu sai một đường lối đúng đắn để phát triển đất nước với mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài nên đã ồ ạt mở các trường đại học mới, nhất loạt nâng cấp các cơ sở cao đẳng lên đại học. Cơ cấu ngành nghề sai, thực lực đội ngũ giáo viên yếu, cơ sở vật chất thiếu thốn, năng lực người học không đáp ứng được yêu cầu tiếp nhận tri thức... nhưng để có thành tích, việc “vơ bèo vạt tép” cho đủ chỉ tiêu được giao đã diễn ra ở nhiều nơi.

Chỉ tiêu này gồm cả danh và lợi: Trường đại học thu hút nhiều người học, hoàn thành trách nhiệm xã hội, uy tín trường được nâng cao, thu nhập của trường tăng, cán bộ quản lý ngành được ghi nhận là có tầm nhìn... Nhưng hệ quả của quá trình này là trong khoảng hai chục năm qua chúng ta đã cấp bằng cấp thật cho nhiều đối tượng đào tạo “nửa thật, nửa giả”, khiến nhiều sản phẩm của quá trình đào tạo này dở thầy, dở thợ.

Tệ sính bằng cấp, chuộng hư danh... đã làm nảy sinh những cuộc “chạy marathon” bằng cấp, học vị. Nhiều “lò ấp” đã đẻ ra những người có học vị tiến sĩ nhưng thực ra rất khó dùng họ vào việc gì. Rồi nhờ tiền bạc, quan hệ, họ “chui” vào cơ quan nhà nước. Số cán bộ này khiến cho nhiều cơ quan nhà nước bị xuống cấp cả ở năng lực chuyên môn lẫn ý thức nghề nghiệp. Họ lũng đoạn cơ quan nơi họ được sử dụng, có khi ngồi ở vị trí lãnh đạo, điều hành. Nhiều ban lãnh đạo của nhiều địa phương, cơ quan, tổ chức xã hội vi phạm khuyết điểm, vi phạm pháp luật đã bị xử lý.

Chất lượng giáo dục phổ thông cũng chịu sự “tàn phá” của thói giả dối, bệnh thành tích. Một bộ phận người lớn đã làm hỏng nhiều người trẻ bằng những lựa chọn lệch chuẩn của mình. Nguy cơ không phải chỉ đối với cá nhân đứa trẻ mà là với cả một thế hệ, ở hướng đi, ở nhận thức quyền lợi và trách nhiệm công dân trước các vấn đề xã hội. Những chuyện vi phạm pháp luật trong tuyển sinh, tuyển chọn cán bộ ở nhiều cơ quan, nhiều cấp bậc từ thấp đến cao, ở mọi địa phương là hồi chuông báo động cho tình trạng này.

Thời gian qua, người ta thấy khá nhiều vụ lùm xùm xung quanh suy tôn các danh hiệu, giải thưởng cao quý, kể cả giải thưởng cấp nhà nước về khoa học - công nghệ, văn học-nghệ thuật. Đây là sự tôn vinh các giá trị tinh thần trước đây vốn được coi là cao quý “không gì mua được” vì nó thuần túy là sự tôn vinh những giá trị đích thực. Thế nhưng những kiện tụng, ì xèo, thậm chí bị tước danh hiệu đã xảy ra-điều mấy chục năm về trước chưa hề có.

Còn các danh hiệu “kỷ lục này nọ” thì không ít trường hợp gây ra sự nhạo báng của xã hội. Nó bị biến thành phương tiện để mua danh, để đánh bóng cá nhân. Nhiều lúc dư luận xã hội chê cười việc làm ấy nhưng sau khi sự phê phán về mặt đạo đức xã hội chìm xuống, không có cơ quan nào xử lý về mặt pháp luật hay hành chính thì trong hồ sơ của họ vẫn nghiễm nhiên tồn tại những danh hiệu này. Người ta nói đến khá nhiều những danh hiệu không xứng đáng là “danh hiệu của các hội đồng” chứ không phải là giá trị đích thực.

5. Căn bệnh háo danh, chạy theo hình thức tưởng nhỏ mà không nhỏ. Từ góc độ đạo đức, nếu nó là của cá nhân thì tác hại không thật lớn nhưng nếu nó bị thổi lên như là căn bệnh của một thời thì rất nguy hiểm. Vì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, nó có nguồn gốc của chủ nghĩa cá nhân mà chủ nghĩa cá nhân thì không bao giờ đem lại điều gì tích cực cho xã hội.

Nó chỉ mang ý nghĩa tiêu cực, chỉ phá hoại và khi ở mức cao nhất, nó có thể gây ra sức mạnh hủy hoại nền tảng tinh thần của một quốc gia. Sự nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân là nó luôn khoác cái áo vì tập thể, vì tương lai, vì cộng đồng nên nó vẫn có thể mê hoặc con người. Nguy hiểm hơn là khi vẫn có những tổ chức và cá nhân có quyền lực là bệ đỡ cho nó.

Do vậy, cần nhận thức thấu đáo về mối nguy hại của căn bệnh này và phải có những biện pháp thật sự nghiêm khắc để phòng ngừa, chữa trị và đẩy lùi căn bệnh hình thức, phô trương trong xã hội nói chung, trong bộ máy công quyền nói riêng.

Tâm lý bất mãn - trạng thái nguy hiểm dễ bị kẻ xấu lợi dụng

 

Trong cơ quan, đơn vị, cũng như xã hội thường có những người bất đắc chí, không được toại nguyện theo nhu cầu bản thân, từ đó sinh ra trạng thái buồn chán, bất mãn, luôn nhìn đời bằng lăng kính xám màu.

Đây chính là một trạng thái tâm lý nguy hiểm, dễ bị kẻ xấu lợi dụng. Thế lực thù địch luôn dùng các thủ đoạn thao túng tâm lý để lôi kéo, kích động các đối tượng nói trên thực hiện theo mưu đồ của chúng hòng gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ cơ quan, tổ chức, cũng như gây bất ổn xã hội. Do đó, cần những giải pháp hiệu quả để hạn chế, ngăn chặn hiện tượng trên.

Tôi có quen một nghệ sĩ tài danh. Tuy nhiên, đáng tiếc là người nghệ sĩ này có một con mắt nhìn đời rất u ám. Bất cứ việc gì, dù là những việc tốt lành, những thành tựu, thành công của đất nước, anh cũng luôn nhìn dưới góc nhìn đầy nghi kỵ, với đủ thuyết âm mưu và đều có xu hướng phủ nhận những thành tựu ấy, cho rằng đó chỉ là sự “đánh bóng, không đúng thực tế”, “không thực chất”.

Ngay cả thành công của bóng đá Việt Nam trong những năm qua, anh cũng cho là “do ăn may”. Theo cách nghĩ của anh thì đất nước Việt Nam luôn đầy rẫy những yếu kém, bất cập, tiêu cực, không minh bạch và “có nằm mơ mới bắt kịp được trình độ phát triển của các nước trên thế giới”. Chính cách nhìn đời u ám ấy khiến anh luôn có một trạng thái tâm lý đầy bức bối.

Những người có trạng thái tâm lý như trên không hiếm gặp. Đáng lo ngại có cả những cán bộ, đảng viên, thay vì thể hiện tính tiền phong, gương mẫu, hăng hái trong thi đua thực hiện nhiệm vụ thì lại có trạng thái tâm lý rất tiêu cực, ngồi đâu cũng nói xấu lãnh đạo cấp trên, nói xấu đồng nghiệp, để từ đó ảnh hưởng tới chất lượng công tác của bản thân, tới uy tín của cơ quan, đơn vị, địa phương, gây tâm lý hoài nghi trong quần chúng, nhân dân.

Có nhiều nguyên nhân tạo ra trạng thái tâm lý đó, nhưng có lẽ chủ yếu xuất phát từ sự bất mãn cá nhân, do những mong muốn, nguyện vọng của bản thân không được đáp ứng, tích tụ lâu ngày hình thành tâm lý bất mãn, thậm chí thù ghét mọi thứ xung quanh.

Trong cơ quan, đơn vị rất khó tránh việc xuất hiện những người bất đắc chí, ấy là vì họ chưa được đề bạt, cất nhắc, bổ nhiệm; chưa được vào biên chế; chưa được nâng lương, thăng quân hàm đúng niên hạn; chất lượng hoàn thành công việc không được đánh giá cao; bị kỷ luật vì có vi phạm, khuyết điểm... Nếu những trạng thái tâm lý này không được kịp thời phát hiện, sớm có biện pháp giải tỏa thì lâu ngày sẽ tạo thành một căn bệnh bất mãn kinh niên, rất nguy hiểm cho sự ổn định của cơ quan, đơn vị, tổ chức.    

Việc có cách nhìn bi quan, u ám về cuộc sống, về môi trường làm việc trước hết ảnh hưởng tới bản thân mỗi con người. Những người mang tâm lý ủ dột, bức xúc thì kết quả lao động, sản xuất, thực hiện nhiệm vụ thường không tốt. Họ thường không muốn làm việc, không muốn cống hiến tối đa năng lực của mình, vì thế rất khó phát triển, thậm chí còn bị thụt lùi. Vì họ thường tự kỷ ám thị, cường điệu thái quá về những mặt trái, những hiện tượng tiêu cực trong môi trường xung quanh, từ đó tự đánh mất động lực để phấn đấu.

Họ nghĩ rất tiêu cực rằng có làm việc, cống hiến tới đâu thì kết quả cuối cùng dành cho bản thân vẫn không tương xứng với công sức bỏ ra. Trạng thái tâm lý đó hết sức nguy hiểm, bởi không chỉ ảnh hưởng tới chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của nhân sự trong cơ quan, đơn vị mà còn có thể dẫn đến những rủi ro khó lường khác.  

Đáng chú ý là các thế lực xấu, thù địch luôn ra sức lợi dụng, sử dụng các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị làm lực lượng xung kích, tiên phong để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”. Những kẻ xấu, thế lực thù địch thường lợi dụng tâm lý bất ổn của một số cá nhân trong cơ quan, tổ chức và nhóm người trong xã hội để tiếp tục bơm thông tin xấu độc, lôi kéo, kích động, thao túng tâm lý, từ đó tạo ra ý muốn phản kháng.

Ở nước ta, theo thống kê, đến nay có khoảng 77,93 triệu người dùng internet. Sự phát triển của mạng xã hội khiến các thông tin xấu độc có cơ hội luồn lách đi sâu vào đời sống của mỗi con người, rất khó kiểm soát. Các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng mạng xã hội để thao túng tâm lý, kiểm soát tâm trí con người bằng cách đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, bịa đặt, dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, mất niềm tin, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động sự gây rối, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Chúng ta thấy rất đáng tiếc có những cán bộ, công chức vốn là người tốt, nhưng khi công việc, cuộc sống không được như ý thì sinh ra bất mãn, bỗng “nghe theo đài địch” từ đó tuyên truyền thông tin, quan điểm sai trái. Nếu không được phát hiện và có những giải pháp kịp thời thì những người này càng ngày càng trượt dài theo con đường tăm tối, trở thành những phần tử gây rối, thậm chí chống Đảng, chống Nhà nước.   

Nhận thức được vấn đề nêu trên, các cơ quan, đơn vị, địa phương cần quan tâm, thực hiện tốt một số biện pháp như sau:

Thứ nhất, xây dựng lối suy nghĩ tích cực, lối sống tích cực trong cơ quan, đơn vị, địa phương. Cán bộ, đảng viên phải tích cực nêu gương, phải là những tấm gương sáng về công tác, lao động, học tập để tạo niềm tin cho tập thể, cho quần chúng, nhân dân.

Thứ hai, quan tâm, giải quyết tốt các chế độ, chính sách cho cán bộ, đảng viên, quân nhân, công chức, viên chức, người lao động. Lãnh đạo đơn vị nên thường xuyên động viên, thăm hỏi, giải quyết tốt các vướng mắc phát sinh trong quá trình công tác, lao động, học tập, sinh hoạt của đội ngũ cán bộ, nhân viên thuộc quyền.

Thứ ba, kịp thời nắm bắt tâm lý, tình cảm, đời sống cá nhân của từng cán bộ, nhân viên trong cơ quan, đơn vị mình. Quan sát kỹ các trạng thái, cử chỉ, hành động giao tiếp hằng ngày để nắm bắt và phát hiện những biểu hiện tâm lý bất ổn, những vấn đề phát sinh, từ đó có giải pháp cụ thể để giải quyết.

Thứ tư, chủ động cung cấp thông tin chính thống, giải đáp kịp thời mọi thắc mắc của cán bộ, nhân viên trong cơ quan, đơn vị. Trước những sự kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... nhất là những sự kiện phức tạp, nhạy cảm thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận, các cơ quan chức năng cần thông tin kịp thời, chính xác cho công chúng và định hướng suy nghĩ, hành động theo hướng có lợi cho Đảng, Nhà nước và nhân dân. 

Thứ năm, nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm soát, quản lý thông tin, phòng, chống tin giả, tin đồn, thông tin xấu độc trên không gian mạng. Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong kiểm tra, xác minh, điều tra, truy vết và xác định các hành vi, đối tượng có biểu hiện thông tin sai trái, xuyên tạc để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Thứ sáu, tiếp tục thực hiện tốt công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng môi trường cơ quan, đơn vị, địa phương lành mạnh, minh bạch.

Tựu trung, mỗi cán bộ, đảng viên, nhân viên cũng như mỗi người trong xã hội cần luôn tỉnh táo nhận diện để bản thân có một đôi mắt nhìn đời tinh anh, một lăng kính chính xác, không tô hồng, cũng không bôi đen sự thật. Cần luôn giữ một tinh thần lạc quan, một năng lượng tích cực, hết sức tránh sa vào trạng thái tâm lý tiêu cực không chỉ làm khổ bản thân mà còn có hại cho cơ quan, đơn vị, tổ chức và xã hội.

Nguy cơ suy thoái từ kiểu nhân vật bị biến dạng

 Trong phạm vi bài này, chúng tôi không bàn sâu về chuyên môn, học thuật của hoạt động VHNT. Công việc đó thuộc về các nhà nghiên cứu, lý luận phê bình VHNT. Nêu những vấn đề trên là để có cơ sở thấy rõ hơn những nguy cơ suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức lối sống trong những phân khúc nhất định của đời sống VHNT. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ rõ, một trong những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là: “... Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng...”.

Bởi, sự cảm thụ, đánh giá tác phẩm VHNT là yếu tố thiên về cảm tính nên những biểu hiện lệch lạc trong sáng tác, quảng bá tác phẩm VHNT cũng rất khó để có thể “chỉ mặt, đặt tên”. Tuy nhiên, đứng trên lập trường quan điểm của Đảng về VHNT, không khó để chúng ta cảm nhận, nhận diện những kiểu lệch lạc ấy. Một trong những biểu hiện đó là kiểu làm biến dạng nhân vật thời đại. Chẳng hạn, khi xây dựng nhân vật cán bộ lãnh đạo thì đó là kiểu người tham ô, tham nhũng, thủ đoạn, dối trá... đến tận cùng. Nhân vật doanh nhân thành đạt thì hóa ra lại là “ông trùm xã hội đen”, buôn ma túy. Nhân vật trí thức thì xảo trá, ma mãnh, lừa thầy, phản bạn... Đọc sách chỉ thấy từ đầu đến cuối bức tranh xã hội đầy màu đen của tiêu cực; xem phim chỉ thấy toàn cảnh đâm chém, máu me rợn người, lọc lừa, dâm ô, ngoại tình... Đành rằng sáng tạo tác phẩm VHNT là phải hư cấu, nhưng khi mặt trái của xã hội bị khai thác, đẩy đi quá đà thì thông điệp về cái hay, cái đẹp, cái nhân văn (nếu có) cũng sẽ bị lu mờ, che lấp. Khi tuyến nhân vật trung tâm bị “nhào nặn”, hư cấu quá đà dẫn đến biến dạng, đời sống cảm xúc, tinh thần của công chúng sẽ bị lôi kéo, tác động, ám ảnh rất ghê gớm.

Vừa qua, tại một số diễn đàn về điện ảnh trên không gian mạng, nhiều khán giả đã để lại những dòng bình luận đáng suy ngẫm, chẳng hạn: “Vào rạp xem phim từ đầu đến cuối chỉ thấy xã hội đen thanh toán, đâm chém, hãm hiếp... thấy mệt mỏi quá”. Hoặc “Cuộc sống đã quá nhiều áp lực rồi, các nhà làm phim làm ơn mang đến nguồn năng lượng tích cực đi”... Có tài khoản thì mượn thơ của Lưu Quang Vũ để gửi thông điệp: “Bác thợ mộc nói sai rồi/ Nếu cuộc đời này toàn chuyện xấu xa/ Tại sao cây táo lại nở hoa/ Sao rãnh nước trong veo đến thế?...”.

Chính vì đề cao tính giải trí, muốn tác phẩm được chú ý bằng mọi giá nên không ít tác giả, tác phẩm đã bỏ quên chức năng xây dựng con người, chỉ chú trọng các mảng miếng câu khách. Ở đó, nhân vật trung tâm bị làm méo mó, biến dạng để trở thành công cụ gây sốc, giật gân. Trong một số trường hợp, đó còn là sự bắt chước nước ngoài một cách nhố nhăng, phản cảm...

Để ngăn chặn, phòng ngừa suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đời sống VHNT, cần thực hiện tổng hòa các giải pháp theo định hướng của Đảng. Nhưng trước hết và trên hết, vẫn là ý thức sáng tạo của nhà văn, nghệ sĩ. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định rõ: “Chú trọng nâng cao giá trị tư tưởng nghệ thuật, đồng thời bảo đảm tự do, dân chủ trong sáng tạo VHNT; khuyến khích những tìm tòi mới làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt Nam; hạn chế các lệch lạc, các biểu hiện chạy theo thị hiếu tầm thường”.

Cụ thể hóa quan điểm của Đảng, một trong những yêu cầu đặt ra cho lao động sáng tạo của nhà văn, nghệ sĩ, đó là không được làm biến dạng nhân vật thời đại. Rõ ràng, xu thế thời đại và nhu cầu công chúng luôn luôn cần những tác phẩm phản ánh chân thực, sinh động cái hay, cái đẹp, cái nhân văn... của đời sống xã hội. Với phương châm lấy “xây” để “chống”, cái xấu xa, tiêu cực, có chăng chỉ là chất liệu, phương tiện để làm nổi bật hơn cái đẹp. Đó là cách để lấy hoa thơm lấn át cỏ dại, lấy cái đẹp dẹp cái xấu. Khi tác giả làm biến dạng nhân vật thời đại, vườn hoa trong mắt công chúng chỉ còn là đám cỏ dại. Những mầm mống suy thoái trong VHNT cũng từ đó mà ra...