Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2024

Phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Các Mác - Giá trị lịch sử và thực tiễn sinh động ở Việt Nam

Phương pháp kế thừa tri thức nhân loại là đặc sắc của Chủ nghĩa Mác; nhờ phương pháp đó, Chủ nghĩa Mác đã không ngừng đổi mới, phát triển bằng cách tiếp thu có chọn lọc, có phê phán tất cả sản phẩm trí tuệ loài người đã sáng tạo ra.

Dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ và Đảng ta, phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Mác nói riêng, Chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung mãi mãi là kim chỉ nam cho hành động của cách mạng, đã, đang và sẽ tiếp tục đem lại những thắng lợi vẻ vang trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bài 1: Phương pháp kế thừa tri thức nhân loại - Nét đặc sắc của Chủ nghĩa Mác-Lênin

Nghiên cứu toàn diện và sâu sắc đồng thời tiếp thu có phê phán, chọn lọc toàn bộ tri thức nhân loại đã sáng tạo ra nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng là đặc điểm nổi bật trong phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Mác.

Trước Mác, các nhà tư tưởng hoặc là kế thừa một cách rập khuôn, giáo điều hoặc là phủ định sạch trơn, do vậy lịch sử tư tưởng nhân loại trước Mác đều có những hạn chế nhất định. Mác và Ăng-ghen đã vượt lên tất cả những hạn chế của lịch sử tư tưởng trước đó bằng cách kế thừa toàn bộ tinh hoa tri thức nhân loại, đồng thời phê phán, phủ định những hạn chế của những tư tưởng đó và sáng tạo ra chủ nghĩa mới mang bản chất khoa học và cách mạng, đó là Chủ nghĩa Mác.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Ảnh minh họa: dangcongsan.vn  

Trước Mác, Hê-ghen và Phoi-ơ-bắc đại diện cho hai trường phái triết học đối lập nhau: Hê-ghen là đại biểu cho trường phái duy tâm nhưng “hạt nhân hợp lý” trong triết học của ông là phương pháp biện chứng cách mạng (phép biện chứng); Phoi-ơ-bắc đại diện cho trường phái duy vật nhưng hạn chế trong triết học của ông là phương pháp siêu hình (phép siêu hình). Mác đứng trên lập trường duy vật cách mạng của Phoi-ơ-bắc nhưng phê phán phép siêu hình của ông ta; Mác cũng phủ định lập trường duy tâm của Hê-ghen nhưng tiếp thu “hạt nhân hợp lý” trong triết học của ông là phép biện chứng cách mạng. Nhờ đó, triết học Mác có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng: Chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng còn phép biện chứng là phép biện chứng duy vật, nó hoàn toàn khác về chất so với chủ nghĩa duy tâm biện chứng của Hê-ghen và chủ nghĩa duy vật siêu hình của Phoi-ơ-bắc. Hơn nữa, trước Mác, các nhà triết học chủ yếu là giải thích thế giới, triết học Mác không chỉ giải thích thế giới mà sứ mệnh cao cả hơn là cải tạo thế giới.  

Học thuyết về kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học cũng tương tự như vậy. Mác đã kế thừa có phê phán những tư tưởng kinh tế chính trị học cổ điển Anh và tư tưởng chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp... Trên cơ sở đó, ông đã tìm ra quy luật giá trị thặng dư và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Trong diễn văn tại Đại hội III toàn Nga của Đoàn Thanh niên Cộng sản Nga diễn ra ngày 2-10-1920, Lênin đã truyền thụ phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Mác cho thế hệ trẻ và mong muốn thế hệ trẻ sẽ là người kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng vẻ vang đó. Trong khuôn khổ bài này, tôi xin nêu hai biểu hiện đặc sắc trong phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Mác:

Một là, Mác đã nghiên cứu toàn diện và sâu sắc toàn bộ tri thức nhân loại đã sáng tạo ra. Lênin khẳng định: “Tất cả những cái mà xã hội loài người đã sáng tạo ra, Mác đã nghiền ngẫm lại một cách có phê phán, không hề bỏ sót một điểm nào”. Muốn trở thành người cộng sản, nhất là đối với thanh niên, thế hệ trẻ thì phải không ngừng học tập, nghiên cứu để có tri thức toàn diện, phong phú và sâu sắc. Lênin nhấn mạnh: “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”.

Theo chỉ dẫn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nghiên cứu, đã kế thừa toàn bộ tri thức nhân loại sáng tạo ra, trên cơ sở đó lựa chọn con đường phát triển đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đó là con đường cách mạng vô sản nhằm giải phóng dân tộc và tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), bỏ qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản. Sự lựa chọn đó đã dứt khoát từ năm 1930 và kiên định thực hiện, kể cả khi hệ thống CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, đặt CNXH trước sự phê phán gay gắt chưa từng thấy, từ nhiều hướng. Trong muôn vàn khó khăn đó, tại Đại hội VII, Đảng ta đã quyết nghị và thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh 1991): Khẳng định ý chí sắt đá, không gì lay chuyển nổi mục tiêu CNXH mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn, toàn Đảng, toàn dân ta quyết tâm theo đuổi đến cùng con đường dẫn tới mục tiêu ấy. Nhân dân ta, dưới ngọn cờ của Đảng, phát huy cao độ truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc, đã chiến đấu hy sinh ròng rã mấy chục năm trời, hoàn thành về cơ bản những nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đã chuyển sang thực hiện những nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên CNXH, không có lý gì nay lại rẽ sang con đường khác ngược với mục tiêu đã lựa chọn.

Hai là, trên cơ sở phê phán những khuyết điểm, hạn chế, Mác đã tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa tri thức nhân loại. Đây là đặc sắc trong phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Mác. Lênin nhấn mạnh: “Tất cả những cái mà xã hội loài người đã sáng tạo ra, Mác đã nghiền ngẫm lại, đã phân tích, phê phán và đã căn cứ phong trào công nhân để kiểm tra lại”. Thật vậy, Mác đã phê phán những hạn chế, khuyết điểm mà tri thức nhân loại đã sáng tạo ra, nhất là những tiền đề lý luận trực tiếp lúc bấy giờ là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học cổ điển Anh và CNXH không tưởng Pháp để xây dựng nên học thuyết mới hoàn chỉnh với ba bộ phận cấu thành gồm triết học, kinh tế chính trị học và CNXH khoa học.

Con đường tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu hiện sinh động cho phương pháp kế thừa tri thức nhân loại. Người rất khâm phục tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối nhưng không tán thành con đường cứu nước của họ, bởi phong trào cứu nước từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại. Người chọn con đường khác để tìm ra và đi theo Chủ nghĩa Mác, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo cách mạng giành độc lập dân tộc, đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên CNXH.      

Con đường đi lên CNXH ở nước ta bỏ qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản là sáng tạo đặc sắc của Việt Nam. Bỏ qua ở đây là bỏ qua quan hệ sản xuất bóc lột tư bản chủ nghĩa, bỏ qua kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, bỏ qua những thói hư, tật xấu của xã hội tư bản. Còn tiếp thu những thành tựu phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ, tiếp thu văn minh mà nhân loại đạt được trong giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản. Đồng chí Nguyễn Đức Kiên-Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ khẳng định: “Mỗi một dân tộc họ chọn một con đường khác nhau và chúng ta lựa chọn con đường xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng CNXH. Ở đây nó sáng tạo ở chỗ chúng ta tận dụng được tất cả những thành tựu của trí tuệ con người để chúng ta đạt được mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Bỏ qua chủ nghĩa tư bản, bỏ qua những vấn đề bất cập để tiến thẳng lên CNXH thì nó chính là ở khía cạnh ấy và khi người đứng đầu mà tuyên bố như thế thì nó giúp cho người điều hành trực tiếp có động lực và có niềm tin để họ có thể đi tắt, đón đầu”./.

ST.

Bệnh sính bằng cấp - cần điều trị từ gốc rễ

Câu chuyện sính bằng cấp nhiều năm gần đây luôn là vấn đề nóng trong cộng đồng xã hội, nhất là trên không gian mạng.

Nhiều ý kiến đa chiều, nhưng bao trùm vẫn là luồng ý kiến bày tỏ sự băn khoăn trước nạn “chạy bằng cấp” và hiện thực có phần vô lý về việc phải “lo” bằng cấp một cách hình thức, mà ít chú trọng đến năng lực thật của cán bộ trong quá trình đánh giá, sử dụng.

Chạy đua... bằng cấp?

Mới đây, một cán bộ nọ “ới” tôi qua điện thoại: “Cuối tuần, đồng chí phải sắp xếp về liên hoan với tôi nhé. Tôi vừa tậu thêm một cái bằng đỏ au nữa rồi đấy!”.

Nói rồi, anh kể về quá trình vừa học, vừa làm của mình. Vất vả, gian nan lắm, nhưng phải cố gắng theo đuổi đến cùng để có cái bằng không thể thiếu trong tiêu chí bổ nhiệm cương vị mới.

Câu chuyện tương tự như trên giờ diễn ra khá phổ biến, như thể cán bộ đang phải chạy đua kiếm tìm bằng cấp. Bởi lẽ, nếu cán bộ không sớm lên kế hoạch, tranh thủ thời cơ đi học cho đầy đủ bằng cấp thì dù có năng lực, thậm chí là có tài năng thì vẫn rất dễ rơi vào nguy cơ “giậm chân tại chỗ”. Hơn thế, có thêm bằng cấp, chứng chỉ là thêm phần danh giá, như thể con người ta được cộng đồng, tổ chức, dòng họ coi trọng hơn. Chính cái tâm lý xã hội ấy và tình trạng đề cao tiêu chí về bằng cấp, đã biến không ít cán bộ, đảng viên, công chức trở thành “nạn nhân” trên dặm dài kiếm tìm, chinh phục các loại bằng cấp, chứng chỉ. Ai cũng háo hức đi học, hoặc “ngậm đắng nuốt cay”, khắc phục mọi khó khăn để “theo nghiệp đèn sách”, đặng lấy được những loại giấy tờ để làm... tiền đề cho danh vọng. Cùng với đó là hệ lụy về nạn "chạy bằng", mua bằng, làm bằng cấp giả... gây nhức nhối xã hội; hay tình trạng cán bộ đua nhau ra nước ngoài “tìm kiếm bằng cấp”, dẫn đến một thực tế là hàng chục nghìn văn bằng quốc tế chưa đủ, hoặc không đủ điều kiện được công nhận, mặc dù người học đã bỏ ra chi phí rất lớn để sở hữu tấm bằng này.

Thực tế cho thấy, học là việc thiết yếu đối với mỗi con người nói chung, cán bộ nói riêng. Nó giúp cán bộ bồi đắp kiến thức, làm giàu tri thức, từ đó mà nâng cao năng lực, kỹ năng công tác, tạo thêm những giá trị nhân cách làm người, làm cán bộ. Và, theo ý nghĩa đích thực, tích cực thì bằng cấp là sự xác nhận có tính chất pháp lý, động lực phấn đấu cần thiết của các cá nhân trong quá trình tích lũy, học tập, nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Thế nhưng, nếu nhầm tưởng giữa việc học với việc thực hiện mục tiêu lấy bằng cấp; lẫn lộn giữa cái đích học để tiến bộ với học để tạo cái danh hão, cái vỏ bọc để tiến thân thì đó quả là một sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng!

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Ảnh minh họa / tuyengiao.vn 

Trong thực tiễn, có không ít cán bộ dù không nhiều bằng cấp nhưng sự trải nghiệm từ thực tiễn công tác, đúc rút kinh nghiệm một cách nghiêm túc đã giúp họ trở thành những nhân tài của đất nước. Họ lăn lộn vào thực tiễn và được thực tiễn rèn giũa, kiểm nghiệm. Cũng qua đó, họ trở thành các cán bộ xuất sắc vì được học ở đồng đội, ở nhân dân, học qua công việc được giao trên cơ sở nền tảng lý luận cơ bản. Thế nhưng đáng buồn là hiện nay vẫn còn những cán bộ tài năng, đức độ, được đồng đội, đồng nghiệp nể phục, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tổ chức đoàn thể giao phó, nhưng vì nhiều lý do khác nhau lại không có điều kiện bảo đảm các tiêu chuẩn, tiêu chí về bằng cấp, chứng chỉ nên buộc phải “an phận” với những vị trí công tác không hề tương xứng. Bấy giờ, không ít ý kiến thẳng thắn, bày tỏ tiếc nuối: Đáng ra đồng chí ấy phải phát triển cao hơn; đáng ra tổ chức phải trọng dụng anh ấy. Đó là một sự lãng phí về nguồn lực con người.

Nói đến đây, chúng ta có thể liên tưởng về việc áp đặt tiêu chí bằng cấp chẳng khác gì một “chiếc còng”, vô tình trói buộc chính đội ngũ cán bộ. Thế nhưng trong thực tế, nhiều cán bộ chỉ dám rỉ tai nhau, chứ chưa dám thể hiện chính kiến, đề xuất với cấp có thẩm quyền về việc phải sớm nghiên cứu, tiếp thu, điều chỉnh các quy định một cách phù hợp. Thậm chí, nhiều cán bộ còn "mũ ni che tai", chấp nhận hiện tượng sính bằng cấp một cách đầy nghịch lý.

Việc trọng bằng cấp là một trong những nguyên nhân khiến hiện tượng dùng bằng giả và "chạy bằng cấp" đã và đang nở rộ; trở thành biểu hiện suy thoái đạo đức, lối sống được Ban Chấp hành Trung ương xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII. Không ít câu chuyện về bằng cấp của cán bộ gây nhức nhối dư luận và tạo ra gam màu tối trong xã hội. Từ nguồn tin của quần chúng và qua thanh tra, kiểm tra, các cơ quan, tổ chức đã phát hiện nhiều người sử dụng bằng giả để được tuyển dụng vào cơ quan nhà nước, được thăng quan tiến chức, “leo cao, chui sâu” vào hệ thống chính trị. Với vi phạm này, nhiều cán bộ đã bị cách chức, giáng chức, buộc chuyển công tác và bị xử lý kỷ luật một cách nghiêm khắc; nhưng xem ra việc giải quyết thực trạng này mới ở phần ngọn. Vì vậy, việc chống tư duy sính bằng cấp, hành vi "chạy bằng", làm bằng giả cần phải có biện pháp có tính toàn diện, giải quyết vấn đề từ gốc rễ; mà trước hết phải bắt đầu từ việc sớm thay đổi tư duy, cung cách ứng xử của con người đối với bằng cấp.

Phải làm theo lời dạy của Bác Hồ

Chuẩn hóa tiêu chí bằng cấp đối với các chức danh cán bộ là việc phải làm, đây cũng là giải pháp quan trọng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp và đáp ứng yêu cầu cao về trình độ, năng lực. Thế nhưng, nếu cứ xơ cứng áp đặt, mặc định bằng cấp, chứng chỉ là tiêu chí duy nhất bất biến thì vô hình trung, chúng ta đang tự tạo ra những hệ lụy, đi ngược lại với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc trọng dụng, sử dụng cán bộ.

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cố nhiên không coi nhẹ bằng cấp, Người chỉ phê bình thói chuộng bằng cấp, học “chỉ thích đỗ đạt bằng cấp” để “thăng quan tiến chức” mà không phải “học để làm việc, làm người, làm cán bộ”, “học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Hồ Chí Minh cũng từng nhiều lần răn dạy đại ý: nên bỏ tư tưởng không đúng, khinh lao động chân tay, chỉ trọng lao động trí óc, nên bỏ tư tưởng học văn hóa để tìm bằng cấp.

Theo Bác, chạy theo bằng cấp là một trong những tàn dư của chính sách giáo dục thực dân phản động. Trong thư gửi giáo viên, học sinh, cán bộ thanh niên và nhi đồng Hà Nội, ngày 31-10-1955, Bác căn dặn: Trước hết phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng giáo dục nô dịch của thực dân còn sót lại, như: Thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân; học để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi sọ.

Trong thực tiễn, việc đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ của Bác chưa bao giờ lấy bằng cấp làm tiêu chí căn bản; thậm chí nguyên tắc lựa chọn và sử dụng cán bộ của Hồ Chí Minh không hề có yếu tố “bằng cấp”. Điển hình nhất trong cách dùng cán bộ của Bác là trường hợp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trong cuộc trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp Daniel Roussel (năm 1992), Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại: “... Tôi được gặp Hồ Chủ tịch lần đầu tiên ở Trung Quốc năm 1940. Chính ở đó, một hôm Người đã đề nghị tôi nghiên cứu vấn đề quân sự. Tôi đã trả lời Bác là tôi quen cầm bút hơn cầm kiếm. Tôi đã nói nguyên văn như vậy... Hồ Chủ tịch trao cho tôi nhiệm vụ phát triển phong trào Việt Minh ở vùng Cao Bằng. Và Người nhắc lại, tôi phải chịu trách nhiệm về vấn đề tổ chức quân sự”. Cũng từ đó, một cán bộ từng là giáo viên dạy lịch sử, một nhà báo, không có bằng cấp cao về quân sự, đã từng bước trở thành vị tướng lừng danh của dân tộc và thế giới.

Quán triệt sâu sắc tư tưởng và noi theo tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải chăng đã đến lúc chúng ta cần có tư duy, nhận thức đúng về vị trí, vai trò của bằng cấp, chứng chỉ. Quả đúng là bằng cấp phần nào thể hiện trình độ kiến thức, tư duy, trí tuệ, năng lực của mỗi người và đó là một trong những tiêu chí quan trọng để cơ quan có thẩm quyền thêm căn cứ đánh giá, tuyển dụng, bố trí, bổ nhiệm cán bộ. Tuy vậy, bằng cấp chỉ có giá trị khi người sử dụng phải được học hành, đào tạo nghiêm túc với một lượng kiến thức, trình độ, kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ đã được quy chuẩn và luật hóa theo quy định. 

Để phòng ngừa, trị bệnh "chạy bằng", sính bằng cấp, trong quá trình tuyển dụng, bố trí, bổ nhiệm cán bộ, nên xác định tiêu chí bằng cấp là điều kiện cần, chứ không phải là tiêu chí quan trọng nhất. Tuyển dụng, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ phải thông qua công tác sát hạch, kiểm tra một cách nghiêm túc, thực chất, khách quan, công bằng, minh bạch để tìm kiếm, lựa chọn những cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức trong sáng, có năng lực toàn diện để bố trí vào cương vị tương xứng. Trên thực tế, rất nhiều cán bộ dù không có nhiều bằng cấp, thậm chí là bằng cấp không cao nhưng vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, họ trở thành những điển hình tiêu biểu trong sự nghiệp cách mạng, được quần chúng yêu mến, kính trọng; được tổ chức ghi nhận, tín nhiệm bầu, đề cử lên các chức vụ chủ trì, chủ chốt trong hệ thống chính trị của Đảng, Nhà nước.

Vì thế, các cơ quan, tổ chức, cán bộ cần sớm nghiên cứu, xây dựng bộ tiêu chí khoa học để đánh giá thực chất trình độ, trí tuệ, năng lực thực tế của đội ngũ cán bộ, công chức, làm cơ sở để tuyển dụng, bổ nhiệm. Trong đó, việc xác định bằng cấp là một tiêu chí không thể thiếu, nhưng không vì thế mà xơ cứng, áp đặt theo lối: Nếu không có bằng cấp thì không thể cân nhắc bổ nhiệm, sử dụng, trọng dụng cán bộ./.

ST.

Bộ đội thời bình - những phẩm chất cao quý, không thể phủ nhận

Thật đáng lên án và bất bình trước sự bịa đặt trắng trợn của những kẻ cơ hội chính trị, hiềm khích, cố tình bôi nhọ, hạ bệ hình tượng Bộ đội Cụ Hồ.

Thật đáng lên án và bất bình trước sự bịa đặt trắng trợn của những kẻ cơ hội chính trị, hiềm khích, cố tình bôi nhọ, hạ bệ hình tượng Bộ đội Cụ Hồ. Chúng tìm mọi cách quy chụp, bóp méo sự thật, cho rằng bộ đội thời bình đang là lực lượng “vô công rồi nghề”, với "bộ máy cồng kềnh, gây hao tốn ngân sách quốc gia, kéo chậm sự phát triển đất nước", nhưng lại "được thụ hưởng cuộc sống sung túc, đủ đầy".

Với cách tiếp cận trực diện, chúng tôi sẽ phản ánh bức tranh chân thực về cuộc sống và đặc thù hoạt động, cùng những cống hiến, hy sinh của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam thời gian qua. Đây cũng là cơ sở bóc trần những mưu đồ xuyên tạc, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, hòng phá hoại quân đội, chống phá cách mạng Việt Nam.

Bài 1: Những khoảng lặng!

Do đặc thù hoạt động quân sự, có những mất mát, hy sinh mà cán bộ, chiến sĩ trong QĐND Việt Nam chỉ âm thầm chịu đựng, chấp nhận thiệt thòi về mình để hoàn thành nghĩa vụ thiêng liêng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Có thể vì nhiều lý do, những hy sinh bình dị mà cao quý ấy vẫn chưa được phản ánh đầy đủ trên các phương tiện truyền thông, nên chưa được nhiều người biết đến.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
 Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Bắc Sơn, BĐBP Quảng Ninh tuần tra, kiểm soát trên tuyến biên giới xã Bắc Sơn, thành phố Móng Cái. Ảnh: Báo Biên phòng.

1. Biên giới Tây Nam chiều 22-7-2021 ở Đồn Biên phòng Phú Hữu, Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh An Giang không còn rộ lên tiếng cười như thường nhật. Hôm nay, đơn vị có tang! Đó là lễ tang tổ chức cho cha đẻ Đại úy QNCN Diệp Sơn Đông.

Lúc 14 giờ chiều cùng ngày, Đông nhận hung tin, bố đẻ đột ngột qua đời tại quê nhà ở thị trấn Phú Thứ (Tây Hòa, Phú Yên). Thế nhưng, trong điều kiện dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, đơn vị thực hiện nhiệm vụ trực SSCĐ nên anh không thể về quê nhà chịu tang. Chia sẻ trước sự mất mát ấy, đơn vị lập bàn thờ ngay tại chốt để Đông thắp hương, bái vọng người cha đã khuất núi.

Không giấu được niềm xót xa, Đại tá Nguyễn Thượng Lễ, Chỉ huy trưởng BĐBP tỉnh An Giang xúc động chia sẻ, tính từ đầu đợt dịch Covid-19 đến nay, đơn vị có 3 cán bộ, nhân viên nhận tin cha mất mà không thể về chịu tang. Ngoài đồng chí Đông, còn có Thiếu tá QNCN Trần Hải Dương, quê ở phường Phước Long (Nha Trang, Khánh Hòa) và Trung úy Lê Văn Nguyên, quê ở thị trấn Vân Du (Thạch Thành, Thanh Hóa).

Đáng trân trọng, khâm phục là khi đón nhận những hung tin như thế, các đồng chí cán bộ, sĩ quan, QNCN dù khó giấu được cảm xúc, nhưng luôn biết cách giữ sự điềm tĩnh. Các anh đề xuất nguyện vọng với chỉ huy, rồi cùng đồng đội lặng lẽ chuẩn bị các phần việc tang lễ ở đơn vị để thực hiện đạo hiếu của người con, vì việc chung phải gác tình riêng.

Khi nghe kể về những câu chuyện ấy, nhiều người đã thốt lên: Người lính quả có sức mạnh ý chí "thép"? Nói như vậy cũng đúng, nhưng đầy đủ hơn là bởi họ có bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ-giá trị phẩm chất được tôi rèn trong thực tiễn và ngấm vào máu của từng quân nhân. Có người lại hỏi: Bộ đội Cụ Hồ có gì khác với người thường mà sức chịu đựng của họ mạnh mẽ đến vậy?-Chẳng có gì lạ cả! Bộ đội cũng là những con người bằng xương bằng thịt, cũng nức nở khóc, nuốt cay đắng vào lòng. Ai mất đi người thân mà không đớn đau, hụt hẫng; ai chẳng muốn được lần cuối nhìn mặt người thân, vấn lên trán chiếc khăn tang để bày tỏ niềm kính trọng, biết ơn đấng sinh thành... Thế nhưng, tại sao người lính lại không rời đơn vị để về nhà thực hiện đạo hiếu truyền thống ấy cho vẹn nghĩa, trọn tình? Bởi vì họ đã được trui rèn, đã quen đón nhận những hy sinh thầm lặng và trên hết là họ nhận thức rất rõ về nhiệm vụ mà mình đang thực hiện, thế nên họ không bao giờ rời bỏ vị trí...

Theo thống kê của cơ quan chức năng thuộc Bộ tư lệnh BĐBP, từ khi dịch Covid-19 bùng phát đến nay, có gần 300 trường hợp cán bộ, QNCN, hạ sĩ quan, chiến sĩ có người thân là “tứ thân phụ mẫu” từ trần mà không thể về chịu tang. Hàng nghìn đồng chí có vợ sinh con, bố mẹ đau ốm "thập tử nhất sinh" nhưng bản thân vẫn phải bám chốt, chặn dịch. Không ít cán bộ, chiến sĩ đã hơn nửa năm chưa một lần ghé thăm gia đình. Đó là những hy sinh chẳng thể nào cân đong, đo đếm được...

2. Thế nhưng câu chuyện “tạm gác tình riêng” ấy không giản đơn như những công thức số học, mà nó là sự đan lẫn muôn vàn cảm xúc, đấu tranh quyết liệt giữa thiệt-hơn, nên hay không nên trong mỗi người lính Cụ Hồ. Đơn cử như việc phải sống xa gia đình, vợ con, gắn bó với biên cương, hải đảo. Trước hết, người lính Cụ Hồ phải đối diện với nỗi nhớ thương tận cùng đằng đẵng đối với hậu phương hết tháng này sang tháng khác, hết năm này sang năm khác... Nơi biên cương heo hút đèo mây, giữa không gian thăm thẳm của chốn rừng thiêng nước độc... nỗi nhớ càng thêm chộn rộn, cồn cào. Có chiến sĩ tự bạch: Thật sự ở trên này, anh em không sợ khổ, chỉ ngại đối diện với nỗi hiu quạnh đến độ sởn gai ốc. Có lúc yếu lòng bỗng thấy cô đơn, buồn tủi trực trào, cảm giác lạnh toát chạy dọc xương sống. Những người đã lập gia đình, thèm lắm buổi tối cuối tuần được sum vầy bên mái ấm giản đơn; được đưa vợ con đi ăn, thư thái dạo quanh phố phường đông vui, tấp nập; được trò chuyện, hàn huyên thăm hỏi sức khỏe ông bà, cha mẹ. Có người thèm cồn cào ly cà phê sáng, bát phở nóng hôi hổi mỗi sớm thường nhật lành lạnh chớm thu... Lại có người thèm cái cảm giác được xoa tay vào bụng bầu của vợ mỗi tối, được ôm đứa con thơ bé bỏng lúc chào đời. Nhiều người khát cháy được kèm dạy con bi bô học bài, được nhìn “các thiên thần nhỏ” khôn lớn mỗi ngày như bao ông bố khác trong xã hội...! Vậy nhưng, những mơ ước rất đỗi bình dị ấy, người lính Cụ Hồ đâu dễ gì có được. Bởi họ đã gắn cuộc đời mình với nghiệp binh, quanh năm rong ruổi với những chuyến đi dài, với những năm tháng “để mặc” hậu phương thân yêu trong nỗi nhớ thương sâu thẳm, da diết.

Cũng đã có nhiều người lính phải đau đớn, xót xa hơn khi biết tin về những đứa con thơ thuở nào giờ đã trở nên khó bảo, thậm chí hư hỏng khi thiếu vắng sự dạy bảo của người bố trong suốt một thời gian dài. Cũng có người lặng lẽ nuốt nỗi buồn vào trong khi biết tin người yêu đi lấy chồng...

Sự thật là vậy, nhưng người lính Cụ Hồ luôn biết cách đón nhận thực tế đó bằng đức hy sinh, bao dung và cố lấp đầy những khoảng trống tinh thần bằng sự yêu thương hết thảy đối với người thân và cho nhân dân. Ví như câu chuyện mà Trung úy QNCN Phạm Văn Công, nhân viên chính trị, Ban CHQS huyện Đắk Mil (Đắc Nông) kể, khi anh xung phong lên tăng cường ở Đồn Biên phòng Đắk Lao (Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh Đắc Nông). Rằng sau những đêm dài băng rừng, lội suối tuần tra, chốt chặn bảo vệ đường biên, mốc giới, phòng, chống dịch Covid-19, niềm vui lớn của anh là được “đi tới, đi lui” trên những đỉnh núi cao, vươn tay “hứng” từng vạch sóng “chông chênh, chập chờn” để có thể thực hiện những cuộc gọi điện thoại. Chỉ cần một sự kết nối mỏng manh, anh sẽ chăm chú lắng nghe các con tíu tít kể chuyện trường, chuyện lớp, nghe vợ sẻ chia chuyện gia đình, quê hương... Chỉ cần có vậy, người lính đã cảm thấy mãn nguyện và được tiếp thêm sức mạnh, nghị lực để vượt lên khó khăn, thử thách thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

3. Có một khoảng lặng khác mà Bộ đội Cụ Hồ phải đối diện chính là muôn vàn khó khăn do điều kiện sống, công tác, điều kiện thời tiết và sự thiếu thốn vật chất đủ bề.

Nơi nghỉ của họ sau những chuyến tuần tra, chốt chặn hầu hết chỉ là những túp lều tạm. Có những cơn mưa dông bất chợt đã giật phăng mái lều của họ khiến cho đồ đạc của anh em sũng nước. Vào những ngày trung tuần, tháng 7, tháng 8 này, trên tuyến biên giới Đắc Nông trời mưa xối xả, gió rít từng hồi liên tục. Sau những chuyến tuần tra, mật phục xuyên đêm, cán bộ, chiến sĩ, dân quân thuộc Ban CHQS huyện Đắk Mil và Đồn Biên phòng Đắk Lao lại quây quần trong những căn lều dã chiến tranh tre, nứa lá, mái lợp tôn, vừa sưởi ấm, vừa tranh thủ hong khô quần áo... Nơi biên cương không có điện, không có sóng viễn thông, khi rảnh rỗi, các anh thường kể cho nhau về chuyện hậu phương hoặc mở điện thoại xem ảnh vợ con, gia đình cho vơi đi nỗi nhớ...

Đến với các tuyến biên giới, giữa ngút ngàn mây núi, ở mỗi điểm chốt chỉ có vài ba anh em bộ đội bám vào nhau mà sống và thực hiện nhiệm vụ. Các anh phải ngủ lán trại, nằm phản gỗ kê trực tiếp trên nền đất lạnh, ăn cơm với rau rừng và những loại thực phẩm lâu lâu mới được tiếp tế. Thế nhưng các anh vẫn kiên trì bám trụ, vẫn duy trì đều đặn nền nếp chính quy, canh tực, SSCĐ ở mức cao nhất. Cũng vì cái khó, cái khổ mà ước mơ của cán bộ, chiến sĩ nơi đây rất đỗi bình dị. Có người lính biên phòng kể rằng, mỗi lần có lực lượng tiếp tế từ dưới xuôi lên, thứ mà các anh mong đợi nhất chính là những cục pin sạc dự phòng hay những phong thư...

Vậy đấy, nếu chúng ta là những người lính kia, liệu có làm được những điều như họ đã và đang làm không. Bạn thử so sánh những chiếc phản gỗ khô ráp giữa rừng với chăn ga gối đệm trong những căn phòng sang trọng có máy lạnh, điều hòa và các phương tiện sinh hoạt tiện nghi, hiện đại. Bạn thử mường tượng bản thân mình đang đứng giữa biên cương thăm thẳm như các chiến sĩ biên phòng, hay giữa biển nước mênh mông ở nhà giàn DK, những điểm đảo giữa trùng khơi Trường Sa, hay trên những con tàu tuần tra, trực chiến bị quăng quật bởi sóng to, gió lớn... Bạn sẽ chịu đựng được bao lâu? Có thật sự can trường, can đảm để tiếp tục những công việc muôn vàn gian lao, vất vả, nhưng không thể điểm mặt, ghi tên tạo nên danh vọng, hay sinh ra lợi nhuận kinh tế như mỗi phần việc mà bạn vẫn hay làm?

Vì thế, trước khi nhận xét về nhiệm vụ, cuộc sống của những người lính thì cần phải đặt mình vào vị trí của những người lính kia, để xem mình có thể làm được những điều như họ đã và đang làm hay không. Còn đối với những kẻ dã tâm chống phá cách mạng, cố tình bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ thì cần phải đấu tranh, vạch trần mưu đồ, thủ đoạn của chúng; lên án thói ngông cuồng, nhận thức lệch lạc, chủ quan của một số “anh hùng bàn phím”. Những con người này vốn chỉ biết ngồi trong phòng lạnh huênh hoang, khoác lác trên mạng, còn trên thực tế thì có lẽ cái chốt của bộ đội nằm ở đâu trên tuyến biên giới thì họ cũng không hề biết và không dám đặt chân tới, chứ đừng nói đến việc có thể đến đó để thực hiện nhiệm vụ./.

ST.


Không thể xuyên tạc cuộc kháng chiến chính nghĩa dựa trên sự so sánh khập khiễng với Afghanistan

Lâu nay, với bản chất xấu độc, chống phá quyết liệt, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị… thường lợi dụng mọi cơ hội, mọi sự kiện, sự việc ở Việt Nam cũng như thế giới để xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo nhằm tuyên truyền chống phá cách mạng nước ta.

Vừa qua, trên một số trang mạng xã hội đã xuất hiện bài viết của một số đối tượng so sánh cuộc chiến tranh ở Afghanistan với cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Đây thực chất là những thông tin sai trái, xấu độc mang tính phá hoại về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của nhân dân Việt Nam.

Người Việt Nam chúng ta luôn muốn khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, nhưng không cho phép bất kỳ ai bịa đặt, xuyên tạc sự thật về cuộc kháng chiến anh dũng của mình. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu ba bài viết dưới đây để xem các đối tượng đã xuyên tạc, bịa đặt như thế nào? Đó là các bài viết: "Kabul năm 2021 có phải là Sài Gòn năm 1975?" của Jackhammer Nguyễn; "Afghanistan trong vòng vây Taliban và Sài Gòn năm 1975 có gì khác biệt?" của Minh Dũng và "Chiến tranh Afghanistan đang kết thúc như ở Việt Nam" của Việt Luận.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Các tay súng Taliban gác tại thủ đô Kabul, Afghanistan, ngày 16-8-2021. Ảnh: TTXVN 

Về nguyên nhân cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Jackhammer Nguyễn cho rằng "Cuộc chiến ở Việt Nam là để ngăn chặn làn sóng cộng sản tràn xuống Đông Nam Á". Việt Luận cũng viết "Mỹ vào Việt Nam để ngăn chặn họa Cộng sản từ phương Bắc tràn xuống". Còn Minh Dũng thì phán "Mỹ đưa quân vào miền Nam Việt Nam cũng với mục đích là ngăn chặn làn sóng cộng sản như những quân bài Domino tràn xuống Đông Nam Á".

Nhân dân Việt Nam, dư luận quốc tế, trong đó có cả người dân Mỹ đều lên án đó là cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ vào Việt Nam. Thế giới còn nhớ mãi hành động tự thiêu của một số người dân ở Mỹ và các nước khác để phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ. Thậm chí có hàng trăm sĩ quan, binh lính Mỹ trực tiếp tham chiến ở Việt Nam khi hiểu rõ sự thật, đã phản chiến để phản đối hành động xâm lược của Mỹ. Còn với Việt Nam, rõ ràng đây là cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta chống đế quốc Mỹ để bảo vệ độc lập dân tộc của mình. Vì vậy, 3 đối tượng trên không thể có lý do nào ngụy biện được cho hành vi xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ.

Trong bài viết của mình, Jackhammer Nguyễn cho rằng cuộc chiến tranh ở Việt Nam "do người Mỹ chủ động", "Đó là sự chủ động đến rồi đi của người Mỹ". Sự thật là Mỹ chủ động xâm lược Việt Nam và Mỹ đã bị Việt Nam đánh bại nên buộc phải cuốn cờ cút về nước, chứ không có chuyện Mỹ" chủ động đi” khỏi Việt Nam. Chính Minh Dũng đã viết "Mỹ đã thua cuộc ở Việt Nam, hình ảnh người Mỹ phải di tản trên nóc tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn năm 1975 là một biểu tượng thất bại, mà trong mắt nhiều người đó là một thất bại nhục nhã". Minh Dũng cũng phải thừa nhận thất bại nặng nề về nhiều mặt, trong thời gian dài của Mỹ "Cuộc chiến Việt Nam khiến nước Mỹ tổn thất hơn 58.000 quân. Chiến tranh Việt Nam gây di chứng nặng nề cho nước Mỹ, từ vấn đề xã hội, văn hóa, kinh tế, cho đến học thuyết quân sự của nước này. Nước Mỹ luôn ám ảnh với cuộc chiến ở Việt Nam qua nhiều thế hệ và có ảnh hưởng rất lớn tới các cuộc chiến tranh sau này".

Trong cuộc kháng chiến của mình, quân và dân Việt Nam đã kiên quyết, kiên trì, chiến đấu hy sinh với mục tiêu bất di bất dịch là "đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào" để giành thắng lợi cuối cùng cho độc lập dân tộc. Năm 1965, lính thủy quân lục chiến Mỹ vào Việt Nam, cũng là năm Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12, khóa III của Đảng ta hạ quyết tâm chiến lược cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân: "Động viên lực lượng cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào". Và cả dân tộc Việt Nam đã kiên định thực hiện thành công quyết tâm chiến lược đó. Ấy vậy mà trong bài "Chiến tranh Afghanistan đang kết thúc như ở Việt Nam", Việt Luận bịa đặt: "Ở Việt Nam, từ sau Mậu Thân hai ông Richard Nixon và Henry Kissinger đã đi đêm với kẻ thù, bắt tay bắt chưn, ăn chả giò…rồi ký hiệp định rút quân Mỹ để cho kẻ thù làm gì thì làm". Cũng theo Việt Luận: "Mỹ bí mật ngoéo tay với Hà Nội", "Hà Nội từ chối nói chuyện" với "người anh em trong nước", "Hà Nội một mực bác bỏ "Thiệu - Kỳ - Hương", "chỉ săn đón Mỹ mà thôi".

Trên thực tế, Mỹ không ngừng đánh phá, giết hại đồng bào ta ở miền Nam, dùng không quân và hải quân bắn phá miền Bắc, trong đó có cuộc tập kích bằng pháo đài bay B52 tháng 12 - 1972, ném bom cả vào nhà thương, trường học với ý đồ đưa miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá. Những tội ác dã man ấy đã bị quân và dân ta trừng trị đích đáng! Chả lẽ đấy lại là việc "đi đêm", "săn đón Mỹ" của quân và dân Việt Nam ư?

Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai luôn xuyên tạc, bịa đặt về cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam, về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 của quân và dân ta nhằm tuyên truyền xuyên tạc, kích động Cộng sản là "tàn ác", "Cộng sản chiếm được sài Gòn thì sẽ có tắm máu". Nhưng trên thực tế ngày 30-4-1975, quân cách mạng đã vào Sài Gòn trong niềm vui chào đón của nhân dân, với những giọt nước mắt xúc động, hạnh phúc của hòa bình, độc lập, của niềm vui chiến thắng, chứ không hề có "trả thù", "tắm máu"…Thế mà đối tượng Jackhammer Nguyễn vẫn viết liều rằng: "Đoàn người chạy loạn ở miền Nam Việt Nam trong tháng 4-1975 bị thúc đẩy bởi những cảnh giết chóc của lực lượng cộng sản năm 1968, và xa hơn nữa là cảnh đấu tố cải cách ruộng đất 1955". Đối tượng Việt Luận cũng kết bừa: "Năm xưa Việt Nam có hiệp định "chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình…" để rồi kết thúc bằng máu và nước mắt trong ngày 30 tháng Tư".

Chỉ qua những phân tích sơ bộ từ ba bài viết của ba đối tượng trên cũng đã cho thấy bộ mặt thật và những âm mưu, thủ đoạn xấu xa nhằm cố tình bịa đăt, xuyên tạc về cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Những âm mưu, thủ đoạn, hành động xấu, sai trái, thâm độc, ác ý của thế lực, các đối tượng dù là cũ rích hay mới, có thể hiện dưới hình thức nào, so sánh với gì… cũng đều không thể làm thay đổi được sự thật chính nghĩa và chiến thắng vẻ vang của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại!

ST.

Sự thật không thể phủ nhận

Từ ngày 16 đến 20-8-2021, Báo Quân đội nhân dân (QĐND) đăng loạt bài “Bộ đội thời bình-những phẩm chất cao quý, không thể phủ nhận” trong chuyên mục Làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Ngay sau khi những bài viết đầu tiên đăng tải, tòa soạn đã nhận được nhiều ý kiến phản hồi của bạn đọc, trong đó có cán bộ lãnh đạo, chuyên gia, nhà nghiên cứu... Từ hôm nay, Báo QĐND trích đăng một số ý kiến tiêu biểu, nhằm làm rõ hơn những vấn đề loạt bài đề cập, đồng thời kiến nghị thêm các giải pháp nhằm tiếp tục phát huy phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện mới.

Trong số hàng trăm ý kiến phản hồi gửi về tòa soạn, hầu hết đều nhất trí cho rằng loạt bài đã nêu lên bức tranh sự thật không thể phủ nhận về những khoảng lặng, sự cống hiến, hy sinh của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong thời bình. Đó là những cứ liệu thực tiễn sinh động, thuyết phục, góp phần bóc trần mọi âm mưu, thủ đoạn cố tình hạ bệ, bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong thời bình.

Đồng chí ĐỖ ĐỨC DUY, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Yên Bái

Bộ đội Cụ Hồ luôn đẹp trong lòng dân

Tôi rất tâm huyết và cảm động khi đọc loạt bài vừa được đăng trong tuần qua trên Báo QĐND.

Yên Bái là tỉnh miền núi, địa hình hiểm trở, chủ yếu là đồi, núi cao, độ dốc lớn, bị chia cắt bởi sông Hồng, sông Lô, sông Chảy; khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, thường xuyên xảy ra thiên tai, sự cố, nhất là lũ ống, lũ quét, sạt lở đất; công tác ứng phó, khắc phục hậu quả gặp nhiều khó khăn. Những năm gần đây, sự cố thiên tai trên địa bàn tỉnh có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp, khó lường, nhiều vụ gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản, ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế-xã hội, đời sống của nhân dân và hoạt động quân sự, quốc phòng.

Trước tình hình địa phương gặp nhiều khó khăn, hoạn nạn như vậy, chúng tôi càng thấm thía vị trí, vai trò trụ cột, đặc biệt quan trọng của lực lượng quân đội, những người lính Cụ Hồ luôn sẵn sàng xả thân cứu dân trong thiên tai, bão lũ. Trong lòng cấp ủy, chính quyền và nhân dân luôn có một ấn tượng hết sức đặc biệt, một cảm nhận rõ ràng về những việc làm thiết thực trong giúp dân của Bộ đội Cụ Hồ.

Thực tế cho thấy, trong các đợt thiên tai, bão lũ xảy ra trên địa bàn tỉnh Yên Bái, chính các anh bộ đội là lực lượng tiên phong trong giúp dân phòng chống, tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả, góp phần không nhỏ giúp đời sống nhân dân sớm trở lại ổn định. Gần đây, khi xảy ra đại dịch Covid-19, cũng chính lực lượng quân đội đã tích cực, chủ động, tham mưu hiệu quả, đồng thời trực tiếp giúp đỡ cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai các biện pháp phòng, chống dịch, không để lan rộng ra địa bàn. Có thể thấy, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, khó khăn, nguy hiểm đến mấy, Bộ đội Cụ Hồ luôn thể hiện rõ là lực lượng chủ lực, nòng cốt, tiên phong, không nề hà bất cứ việc gì. Với vai trò, vị thế vững chắc trong lòng nhân dân, chắc chắn hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ sẽ ngày càng sáng rõ hơn, đẹp đẽ hơn trong lòng đồng bào các dân tộc Việt Nam nói chung, đồng bào các dân tộc tỉnh Yên Bái nói riêng.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Đại diện Bộ CHQS tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu trao quà hỗ trợ người nghèo bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 tại địa phương. Ảnh: HOÀNG THÀNH

Nhà văn NGUYỄN VĂN THỌ, phố Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội

Kế tục xuất sắc truyền thống anh hùng

Đọc loạt 5 bài “Bộ đội thời bình-những phẩm chất cao quý, không thể phủ nhận”, đăng trên Báo QĐND, tôi thực sự xúc động. Những câu chuyện về sự cống hiến, hy sinh như sống lại một thời trai trẻ “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” của mình và đồng đội.

Loạt bài viết phản ánh một cách chân thực đời sống của cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam hiện nay, giúp chúng ta hiểu hơn những giá trị, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Tôi cũng từng là người lính Cụ Hồ, có mặt ở khắp Bắc, Trung, Nam, từ địa đầu Móng Cái đến đất mũi Cà Mau, cũng nếm trải đủ gian nguy, vất vả của người chiến sĩ. Thế nhưng quả thực, khi chứng kiến hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ ngã xuống trên đường vào cứu trợ người dân gặp nạn ở miền Trung; biết tin có thêm những sự hy sinh trong thời bình, tôi không thể nào kiềm chế được xúc động. Bao giờ cũng thế, ở đâu khó khăn, hoạn nạn, ở đâu xảy ra thiên tai địch họa, thì ở đó có quân đội. Và sự hy sinh của họ càng chứng tỏ truyền thống không bao giờ thay đổi của QĐND Việt Nam: Quân đội của Bác Hồ, quân đội của nhân dân và từ nhân dân mà ra. Sự hy sinh của những người lính thời bình đã kế tục xuất sắc trang sử anh dũng, bất khuất của những thế hệ cha anh đi trước, cũng đã từng xả thân vì trách nhiệm với nhân dân, với đất nước trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả.

Có thể dễ dàng nhận thấy: Càng trong khó khăn, gian khổ, trong mất mát, đau thương, chúng ta càng khắc ghi hình ảnh đẹp đẽ và những cống hiến, hy sinh cao quý của Bộ đội Cụ Hồ!

Đại tá VÕ SƠN ANH, Phó chính ủy Sư đoàn 320, Quân đoàn 3

Hy sinh và cống hiến hết thảy vì nhân dân

Chúng tôi nhìn thấy bóng dáng của chính mình trong loạt bài “Bộ đội thời bình-những phẩm chất cao quý, không thể phủ nhận” nên thật sự xúc động và biết ơn Báo QĐND đã nói hộ tình cảm và tâm nguyện của bộ đội trong thời bình.

Nhắc đến Quân đoàn 3, người ta nghĩ ngay đến khó khăn, gian khổ, vì địa bàn đóng quân của các đơn vị chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội còn nhiều thiếu thốn. Nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị, xây dựng địa bàn luôn đặt ra yêu cầu cao. Trong khi đó, phần lớn cán bộ của quân đoàn có quê hương, gia đình ở phía Bắc; nhiều đồng chí cả năm, thậm chí là vài năm mới về thăm quê, thăm bố mẹ được một lần.

Mặc dù vậy, các thế hệ cán bộ, sĩ quan của quân đoàn luôn đoàn kết, đồng lòng gắn bó mật thiết với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, trở thành điểm tựa vững chắc cho cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương xây dựng nông thôn mới, củng cố, tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng, an ninh. Hình ảnh cán bộ Quân đoàn 3 chỉ huy bộ đội “cõng” những ngôi nhà sàn nặng hàng chục tấn trên vai để di dời, quy hoạch xây dựng làng nông thôn mới; giúp nhân dân khai hoang, phục hóa ruộng lúa, thu hoạch mùa màng; dũng cảm, kiên cường trước “giặc lửa” để cứu rừng, cứu dân; tiên phong đi đầu trong cuộc chiến chống “giặc Covid-19”... là những minh chứng sáng ngời, tô đẹp thêm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời bình.

Đội ngũ cán bộ Quân đoàn 3 phần lớn không sinh ra và lớn lên ở Tây Nguyên nhưng luôn xem Tây Nguyên là quê hương, đồng bào các dân tộc như anh em ruột thịt; giúp nhân dân không chỉ là nhiệm vụ, trách nhiệm mà còn là sự tri ân, đền đáp tình cảm yêu thương, đùm bọc của đồng bào đối với quân đoàn trong hơn 46 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành. Càng trọng dân và yêu Tây Nguyên, chúng tôi càng quyết tâm đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng phá hoại cách mạng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hạ bệ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ... 

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Đại diện Phòng Chính trị (Bộ tư lệnh TP Hồ Chí Minh) khen thưởng các đảng viên được kết nạp Đảng ở tuyến đầu chống dịch ở quận 7, TP Hồ Chí Minh. Ảnh: HOÀNG THÀNH

Già làng KPUI DJOAT, ở làng Suối Khôn, xã Ia Piơr, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai

Đồng bào mãi ghi nhớ công ơn

Sự đóng góp, giúp đỡ của Bộ đội Cụ Hồ đối với đồng bào các dân tộc khu vực biên giới Gia Lai thì không thể nào diễn tả được hết bằng lời. Đúng như loạt bài viết trên Báo QĐND đã khái quát: Trước đây, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở vùng biên huyện Chư Prông nói riêng, tỉnh Gia Lai nói chung rất phức tạp. Nhất là một bộ phận đồng bào bị các phần tử xấu kích động, dụ dỗ, lừa bịp vượt biên trái phép; nhiều làng còn tồn tại các hủ tục lạc hậu, đời sống kinh tế khó khăn, thiếu ăn, thiếu mặc. Trước thực tế đó, cán bộ Binh đoàn 15 đã ngày đêm bám làng, bám dân thực hiện "bốn cùng" (cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng đồng bào) để tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi và hỗ trợ vốn, cây giống, con giống giúp đồng bào phát triển kinh tế, thoát nghèo bền vững và có được cuộc sống như hiện nay.

Bộ đội Biên phòng ở Gia Lai vốn chịu nhiều thiệt thòi, vất vả, nay vì đại dịch Covid-19 phức tạp nên nỗi vất vả lại nhân lên gấp bội. Già biết nhiều cán bộ biên phòng cả năm trời chưa được về thăm gia đình, thậm chí bố mẹ mất không thể về báo hiếu. Ngày nắng cũng như ngày mưa, các anh kiên cường bám chốt, thực hiện nhiệm vụ, bảo vệ biên cương, giữ vững cuộc sống bình an, hạnh phúc cho nhân dân.

Dù cuộc sống và công việc vất vả là vậy, nhưng các anh luôn dành tình cảm đặc biệt cho đồng bào. Nhìn những đứa con nuôi của các đồn biên phòng ngày càng lớn khôn hay “Bếp ăn tình thương” của Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh (Bộ đội Biên phòng tỉnh Gia Lai) luôn đỏ lửa, làm đồng bào mình ấm lòng lắm. Rồi khi thiên tai, bão lũ xảy ra, bộ đội luôn là lực lượng có mặt sớm nhất để cứu tính mạng, tài sản người dân. Các anh còn giúp nhân dân xây dựng nông thôn mới, xóa đói, giảm nghèo, từ bỏ hủ tục lạc hậu, tránh xa các tệ nạn xã hội, làm cho vùng biên ngày càng giàu mạnh.

Do đó, già và bà con Chư Prông rất không ưng cái bụng, căm ghét những kẻ nói xấu Bộ đội Cụ Hồ. Già mong chính quyền và cơ quan Nhà nước xử lý thật nghiêm những kẻ phản động hại nước, hại dân.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Chiến sĩ Trường Quân sự Bộ tư lệnh TP Hồ Chí Minh phục vụ tại Bệnh viện dã chiến điều trị Covid-19 Củ Chi. Ảnh: HOÀNG THÀNH

Đại tá, PGS, TS ĐỖ DUY MÔN, Học viện Chính trị

Quan tâm nhiều hơn đến đời sống bộ đội

Đúng như loạt bài đăng trên Báo QĐND đã phản ánh, hiện đời sống của không ít cán bộ, sĩ quan quân đội, nhất là sĩ quan trẻ gặp nhiều khó khăn về kinh tế. Để giải bài toán trên, thời gian qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp hỗ trợ, khuyến khích các gia đình quân nhân phát triển kinh tế hộ gia đình; chăm lo tặng nhà tình nghĩa, nhà đồng đội đối với đối tượng quân nhân có hoàn cảnh khó khăn.

Điển hình như: Ban Thanh niên Quân đội phát động triển khai, nhân rộng trong tuổi trẻ quân đội thực hiện hiệu quả mô hình “Ngôi nhà 100 đồng”; các cấp hội phụ nữ trong quân đội có mô hình “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình”, phối hợp với các ngân hàng, tổ chức, doanh nghiệp tổ chức cho vay tiền không lãi, hoặc lãi suất thấp để nữ quân nhân phát triển kinh tế hộ gia đình. Đặc biệt, trong mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị, cán bộ, chiến sĩ luôn phát huy nội lực, khắc phục khó khăn, duy trì thường xuyên và hiệu quả các phong trào, mô hình và hoạt động hỗ trợ, giúp đỡ nhau phát triển kinh tế; tự nguyện đóng góp kinh phí hỗ trợ gia đình quân nhân có hoàn cảnh khó khăn; tiết kiệm phụ cấp để gửi về hậu phương... Đó là những việc làm giàu ý nghĩa nhân văn, khắc họa sinh động tình đồng chí “lúc thường cũng như lúc ra trận”. Đó cũng chính là căn cứ để phủ nhận sự bịa đặt trắng trợn, cho rằng cán bộ, sĩ quan quân đội đang có cuộc sống sung túc, giàu sang hay có mức lương "quá khủng".

Những năm qua, cả nước đã có nhiều phong trào, hoạt động hướng về Trường Sa, hướng về biên cương, hải đảo, huy động các nguồn lực chăm lo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho cán bộ, chiến sĩ; chú trọng đến các chế độ, chính sách về đất ở, nhà ở cho gia đình quân nhân. Tuy nhiên, trước yêu cầu của cuộc sống mới, Đảng, Chính phủ, Quốc hội và cơ quan chức năng cần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết sát đúng; sớm điều chỉnh chính sách tiền lương cho cán bộ, sĩ quan quân đội theo hướng trả lương đặc thù cho hoạt động đặc thù... Các cấp ủy, đơn vị cần quan tâm nhiều hơn đến chính sách hậu phương quân đội; sớm có giải pháp giúp quân nhân hợp lý hóa gia đình, nhất là đối với những quân nhân công tác xa nhà quá lâu, gặp khó khăn về kinh tế... /.

ST.