Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2024

Chấn hưng văn hóa bắt đầu từ việc xây dựng con người

Văn hóa đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội. Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, việc giữ gìn, khai thác và phát triển các giá trị văn hóa có nhiều thuận lợi, nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức. Để văn hóa thực sự là “nền tảng tinh thần”,“động lực phát triển” và “soi đường cho quốc dân đi", chúng ta cần bắt đầu từ việc xây dựng con người!

 Chấn hưng văn hóa nên bắt đầu từ việc xây dựng con người.

Tại Hội nghị văn hóa Toàn quốc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết “Quyết tâm chấn hưng và xây dựng thành công một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, sau này được in trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Trong bài viết, Tổng Bí thư đã phân tích, làm rõ những thành tựu và hạn chế trên lĩnh vực xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là kể từ đổi mới đến nay. Tổng Bí thư khẳng định: Chúng ta có quyền tự hào về những đóng góp to lớn của nền văn hóa vào sự nghiệp cứu quốc và kiến quốc. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta cũng cần nhìn thẳng vào những hạn chế, tồn tại, bất cập, yếu kém trên lĩnh vực văn hóa, tìm ra nguyên nhân và giải pháp để khắc phục. Những mặt hạn chế, yếu kém nổi bật được nhắc lại nhiều lần lâu nay là văn hóa chưa được các cấp, các ngành nhận thức một cách sâu sắc và chưa được quan tâm một cách đầy đủ tương xứng với kinh tế và chính trị; chưa thật sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực của sự phát triển bền vững đất nước. Vai trò của văn hóa trong xây dựng con người chưa được xác định đúng tầm, còn có chiều hướng nặng về chức năng giải trí. Phát triển các lĩnh vực văn hóa chưa đồng bộ, còn phiến diện, nặng về hình thức, chưa đi vào chiều sâu, thực chất. Thiếu những tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật lớn, tầm cỡ, phản ánh được tầm vóc của sự nghiệp đổi mới, có tác dụng tích cực đối với việc xây dựng đất nước, xây dựng con người. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý văn hóa còn lúng túng, chậm trễ, nhất là trong việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về văn hóa… Những yếu kém, bất cập nêu trên chậm được giải quyết mặc dù đã được nhắc đi, nhắc lại trong nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng. Sự yếu kém, khuyết điểm này đã gây hệ lụy, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, đến xây dựng con người và môi trường văn hóa.

Có lẽ cũng vì thế mà hơn lúc nào hết lúc này chúng ta phải đặt ra câu chuyện về chấn hưng văn hóa. Chấn hưng văn hóa là làm cho các giá trị văn hóa của cộng đồng dân tộc, của đất nước được nâng cao hơn và phát triển mạnh mẽ hơn. Như vậy, đặt vấn đề chấn hưng văn hóa hiện nay là chúng ta muốn nói đến việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao, phát triển các giá trị văn hóa tốt đẹp để tạo động lực phát triển, nâng tầm đất nước, đưa đất nước lên một vị thế mới, đồng thời giải quyết những mặt hạn chế, thách thức của thời đại đang đặt ra hiện nay.

Văn hóa như phù sa bồi đắp dần dần, đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho tương lai và sự phát triển bền vững. Thế nhưng để chấn hưng văn hóa, chúng ta phải bắt đầu từ đâu?

Qua rất nhiều các hội nghị và các tài liệu, nhiều chuyên gia đã khẳng định, chấn hưng hay phát triển văn hóa chẳng phải thứ gì cao siêu, cũng không phải ở đâu xa, mà cần bắt đầu từ việc xây dựng con người, từ gia đình, trường học đến xã hội.

Chính môi trường văn hóa sẽ tạo ra con người văn hóa, con người văn hóa lại giữ vai trò chủ thể để giải quyết những bài toán căn cơ về phát triển văn hóa, để từ đó hình thành những giá trị chuẩn mực đạo đức, lan tỏa nét đẹp văn hóa đến mỗi người.

Hiện nay, qua báo chí và các trang mạng xã hội, chúng ta thấy ngày càng gia tăng tình trạng bạo lực, tội phạm, tệ nạn xã hội. Đau lòng thay ngay cả những người thân thích ruột thịt cũng sẵn sàng “xuống tay” sát hại nhau, để rồi dẫn đến những kết cục thật thương tâm. Rồi những vụ “đại án” mà thủ phạm lại nằm trong “bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”…

 PGS.TS Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân: Muốn có con người khỏe mạnh về tâm hồn, nhân cách thì trước tiên phải mạnh khỏe về thể xác...

Biết bao nhiêu câu chuyện buồn về văn hóa ứng xử, sự xuống cấp về đạo đức, băng hoại về lối sống, nhân cách… Nhiều người tự đặt câu hỏi phải chăng chúng ta đang ở vào thời kỳ khủng hoảng, phai nhạt, “đứt gãy” các giá trị văn hóa truyền thống vốn có?

Không ít người đổ lỗi cho cơ chế thị trường, rằng chính sự tác động từ những mặt trái của nền kinh tế thị trường đã khiến cho nhiều người, nhất là giới trẻ chạy theo lối sống thực dụng vật chất, đề cao giá trị đồng tiền, những thứ phù phiếm bề nổi, mà coi nhẹ các giá trị thực chất, bên trong, dẫn đến sự xuống cấp đạo đức xã hội. Nếu như chấn hưng văn hóa cốt lõi là xây dựng con người có văn hóa, phát triển toàn diện thì chúng ta cần phải tập trung giáo dục, đào tạo con người văn hóa trong các môi trường: gia đình - nhà trường - xã hội.

Chương trình mục tiêu quốc gia mà Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đang xây dựng trình Chính phủ hiện có 10 nội dung thành phần, trong đó nội dung: Phát triển văn hóa, con người Việt Nam được đưa lên vị trí quan trọng đầu tiên. Nguyên Thứ trưởng Bộ VHTTDL Đoàn Văn Việt cũng đã khẳng định, tất cả nội dung thành phần trong Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa đều quan trọng, nhưng ưu tiên đầu tiên là chấn hưng đạo đức, phát triển văn hóa, con người Việt Nam và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh.

Như vậy, để văn hóa thực sự “soi đường cho quốc dân đi” chúng ta phải có một chiến lược về phát triển con người. Chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại. Đúng như PGS.TS, Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân đã khẳng định: Toàn bộ mọi thứ trong xã hội đều do con người làm nên. Con người chi phối và quyết định mọi hoạt động trong xã hội. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực, là trung tâm của sự phát triển, vì vậy cần phải tập trung xây dựng chiến lược con người. Ngoài việc xây dựng tâm hồn thể chất thì phải chú trọng tới việc xây dựng sức khỏe, thể lực của con người, đặc biệt đối với thế hệ trẻ. Muốn có con người khỏe mạnh về tâm hồn, về nhân cách thì trước tiên phải mạnh khỏe về thể xác, nâng cao thể lực con người, lúc đó ta mới hy vọng con người giải quyết được những vấn đề chiến lược cao cả của đất nước./.

ST.

Chữa “bệnh” xu nịnh

Xu nịnh là hành vi khen không đúng hoặc khen quá lời nhằm mục đích cầu lợi người được khen. Xu nịnh có từ xa xưa và giờ đây “liên tục phát triển”, trở thành căn bệnh trầm kha của xã hội. Chữa “bệnh” xu nịnh là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ảnh minh họa. 

Những chuyện nịnh cười ra nước mắt

Thông thường ai cũng muốn được khen. Lời khen thực hiện đúng lúc, đúng chỗ, đúng người, đúng mực, kịp thời sẽ có tác dụng khích lệ, động viên rất lớn. Tuy nhiên, nếu khen một cách dễ dãi, khen không đúng bản chất, khen không xuất phát từ tấm lòng chân thành thì đó chính  là xu  nịnh. Có rất nhiều câu chuyện cười ta nước mắt từ việc nịnh bợ này.

Có lần,  đến thăm nhà một đồng chí cán bộ cấp trên, khi được vợ đồng chí cán bộ này mời uống nước, một thành viên trong đoàn của chúng tôi nhấp một ngụm và hỏi: “Nước chị mua ở đâu mà ngon thế?”

Vợ đồng chí cán bộ này trả lời: “Đó là nước máy, tôi đun sôi rồi để nguội chứ có mua ở đâu đâu”?

Nghe xong, cả đoàn chúng tôi nhìn nhau cười và người nịnh hót thì đỏ chín cả mặt.

Lần khác, khi dự hội thảo về “Đổi mới công tác thi đua khen thưởng”, một cán bộ trình bày tham luận với chủ đề “Phòng, chống tham nhũng trong công tác thi đua khen thưởng”, nhưng trong tham luận chẳng thấy tham nhũng, tiêu cực đâu mà chỉ thấy khen người chủ trì hội thảo, nào là “thủ trưởng luôn nhường danh hiệu thi đua cho người khác”, “thủ trưởng là người mẫu mực về đạo đức, tác phong”, “thủ trưởng là tấm gương sáng để chúng tôi học tập”… Đến lúc liên hoan “mừng thành công cuộc hội thảo”, có một cán bộ lớn tuổi đã “khen” người phát biểu đó rằng: “Anh giỏi quá, đã đổi tên cuộc hội thảo thành “Đổi mới công tác xu nịnh”.  

Thói xu nịnh  thời nay biến hóa khôn lường với muôn hình vạn trạng. Ngày xưa thường chỉ có cấp dưới nịnh cấp trên còn ngày nay, còn có hiện tượng cấp trên nịnh dưới, nhất là vào các dịp bỏ phiếu tín nhiệm, đánh giá cán bộ, chuẩn bị đại hội, bầu nhân sự ở các cấp, các ngành... Không chỉ cấp dưới trực tiếp nịnh thủ trưởng cấp trên mà còn nịnh gián tiếp qua vợ, con thủ trưởng. Không chỉ nịnh bằng lời lẽ ngon ngọt mà còn nịnh qua nhiều kênh, phương tiện, vật chất, cơ chế, chính sách…  mà chúng ta gọi là hối lộ, tham nhũng. Thậm chí có trường hợp nịnh bằng chính thân xác mình hoặc thân xác của vợ con mình cho kẻ có quyền. Người đi nịnh "sáng tạo" ra không biết bao nhiêu cách, có thể nói đạt tới trình độ "nghệ thuật". Ngay cả trong hội nghị phê bình, kiểm điểm, vẫn có người xu nịnh cấp trên: “Trưởng phòng có khuyết điểm rất lớn đó là coi thường sức khỏe của bản thân, làm việc quên cả giờ giấc”; “Khuyết điểm của thủ trưởng là thiếu quan tâm đến gia đình vợ con, suốt đêm ngày ở cơ quan và đi cơ sở”…

Hậu quả khôn lường

Không phải bây giờ thói xu nịnh mới có mà căn bệnh này đã có cách đây hàng ngàn năm, gây những hậu quả khôn lường cho xã hội.

Ở nước Việt Nam, sử sách còn ghi lại vào Vua Trần Dụ Tông (1336-1369) bất tài, bị một số quan lại triều đình nịnh bợ, không nghe theo những trung thần nên để dân chúng đói khổ, đất nước suy kiệt.

Ở Trung Quốc thời Đông Chu liệt quốc, Vua Ngô là Phù Sai vì không chịu nghe lời can gián ngay thẳng của trung thần tướng quốc Ngũ Viên, chỉ nghe lời của kẻ nịnh thần là quan thái tể Bá Hi nên mất nước vào tay Việt Vương Câu Tiễn. Thời nhà Thanh có nịnh thần nổi tiếng là Hòa Thân, do có tài nịnh, được vua Càn Long tin dùng nên Hòa Thân đã lộng hành, khuynh đảo thiên hạ, hãm hại người tài, trung thần. Tương truyền, có lần Càn Long hỏi Hòa Thân: “Khanh là trung thần hay gian thần”. Hòa Thân đáp: “Thần không phải trung thần, cũng không phải gian thần. Thần là nịnh thần”. Vua Càn Long hỏi tại sao, Hòa Thân tiếp tục đáp: “Trung thần rồi cũng sẽ bị giết. Gian thần càng bị giết. Chỉ có nịnh thần là sống lâu nhất!”…

Việc nịnh hót nói chung đã mang lại nhiều lợi ích cho cả người nịnh và người  được  nịnh. Nhưng đó là cái lợi không chính đáng và thường là cái lợi nhỏ. Còn tác hại của việc nịnh mới là cái lớn. Bởi lẽ mục đích của nịnh là vì quyền lợi, vì mưu lợi cá nhân. Những người nịnh và được nịnh có thể bóp méo sự thật, đổi trắng thay đen, biến của công thành tư, xấu thành tốt… Nhân cách phẩm giá của họ không còn. Đạo lý nghĩa tình của họ cũng hết. Từ trung thực họ thành kẻ phản bội. Họ làm băng hoại đạo lý. Thực tế cho thấy, nịnh bợ là tiền đề của tham nhũng tiêu cực và thường gắn liền với tham nhũng tiêu cực, gây ra những hậu quả khôn lường cho xã hội. Người được nịnh cứ nghĩ đó là khen thật, gây ra tâm lý tự mãn, ảo tưởng. Những cán bộ, đảng viên chân chính xung quanh thấy vậy sẽ sinh ra chán nản, giảm ý chí phấn đấu, không thiết tha cống hiến. Cơ quan, đơn vị có kẻ nịnh bợ thường dẫn đến cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm, mất đoàn kết hoặc đoàn kết xuôi chiều, từ đó năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng giảm sút, chất lượng thực hiện nhiệm vụ thấp.

Giải pháp đẩy lùi thói xu nịnh

Thói xu nịnh là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã được Đảng ta chỉ ra.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần đề cập và chấn chỉnh “căn bệnh” xu nịnh trong các mối quan hệ công tác và xã hội của cán bộ, đảng viên và trong cả quần chúng nhân dân nói chung. Năm 1947, khi kêu gọi toàn dân xây dựng “Đời sống mới”, Người đã căn dặn “Người hơn mình, thì chớ nịnh hót”. Với cán bộ, Người nhiều lần nhắc nhở về căn bệnh “Ưa người ta nịnh mình” hay bệnh “Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực”. Khi viết về những phẩm chất cần có của một “người tướng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, 1 trong 8 điều xấu phải tránh là “Hay nghe lời xu nịnh” …

Thực tế cho thấy,  người có đức, có  tài thường không xu nịnh. Người có bản lĩnh và tự trọng cũng không thích nghe nịnh. Khi năng lực và tự trọng của cán bộ được nâng cao sẽ tạo ra “sức đề kháng” để chống lại “căn bệnh” xu nịnh. Vì thế, giải pháp quan trọng nhất để đẩy lùi thói xu nịnh chính là phải giáo dục, rèn luyện cho đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, giàu lòng tự trọng. Bởi khi cán bộ, đảng viên có phẩm chất, lòng tự trọng sẽ luôn biết giữ gìn danh dự của bản thân, trung thực, giản dị, tỉnh táo, sáng suốt và không bị "mê hoặc" trước những lời lẽ vuốt ve, ca ngợi thái quá.   

Nếu người lãnh đạo, quản lý có tâm trong sáng, có tinh thần tập thể, coi trọng thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan, đơn vị, dùng “tai mắt” của quần chúng nhân dân, dư luận trong cơ quan, đơn vị để xem xét, đánh giá con người trong công tác nhân sự thì thói xu nịnh sẽ không còn đất sống.  Vì thế, để chữa trị “căn bệnh” xu nịnh, các cơ quan, đơn vị cần tạo môi trường giao tiếp, ứng xử lành mạnh để mọi người trong tập thể được bày tỏ chính kiến, lập trường đúng đắn của mình.

Để có cơ sở nhận diện đối tượng xu nịnh, trong công tác đánh giá cán bộ, mỗi tổ chức đảng, tổ chức chính trị-xã hội cần sớm nghiên cứu xây dựng các tiêu chí cụ thể để đánh giá, nhận diện biểu hiện xu nịnh; xem đó là một tiêu chí quan trọng trong hệ tiêu chí đánh giá cán bộ hiện nay. Trên cơ sở kết quả đánh giá, việc một cá nhân được số đông thành viên trong tập thể phát hiện, phản ánh có biểu hiện xu nịnh thì tổ chức và cơ quan chức năng phải quyết liệt kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh kịp thời và có biện pháp xử lý thích đáng, thậm chí phải tiến hành kỷ luật nếu cần thiết. Nhất quyết không được xem nhẹ, cả nể, bỏ qua với bất kỳ biểu hiện nào dù nhỏ nhất của "bệnh xu nịnh”. Đặc biệt, trong các dịp đánh giá cán bộ, bình xét thi đua, bầu cử các vị trí công tác chủ trì, chủ chốt thì công tác rà soát, thẩm định cán bộ đối với các biểu hiện xu nịnh cần được tiến hành nghiêm túc, quyết liệt với cách làm ngày càng bài bản, khoa học.  Khi phát hiện cán bộ, đảng viên có biểu hiện nịnh bợ thì kiên quyết đấu tranh, thải loại; tuyệt đối không để lọt vào tổ chức, không để “trèo cao, leo sâu” vào hàng ngũ những cán bộ xu nịnh, chạy chọt. Kiên quyết không đưa vào quy hoạch những người có biểu hiện xun xoe, nịnh bợ.

Cách đây hơn 5 năm, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1847/QĐ-TTg, ngày 27-12-2018 về việc phê duyệt đề án văn hóa công vụ; trong đó quy định rõ việc công chức, viên chức không nịnh bợ, lấy lòng cấp trên vì động cơ không trong sáng. Tuy nhiên, chế tài xử lý hành vi xu nịnh lại chưa rõ ràng. Vì vậy,  rất cần đưa một số điều của đề án nói trên vào các dự án Luật Cán bộ công chức, Luật Viên chức, trong đó luật hóa quy định không nịnh bợ cấp trên./.

ST.

Nguy hại của “bè phái và lợi ích nhóm”

Nguy hại của hiện tượng “bè phái và lợi ích nhóm” không nhỏ, nó là nguyên nhân đẻ ra những căn bệnh “thao túng, lạm quyền, lộng quyền, xu nịnh…" của cán bộ, đảng viên. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã không ít lần cảnh báo về những nguy hại của hiện tượng này.

 Hình minh họa. (Nguồn: thanhtra.com.vn)

Có lần, trong câu chuyện trà dư, tửu hậu, sau những chuyện trên trời, dưới biển…, ấy thế rồi chẳng hiểu đầu đuôi thế nào mà câu chuyện “bè phái và lợi ích nhóm” liên quan đến cán bộ, đảng viên lại rôm rả đến thế. Anh bạn tôi được thể “chém gió phần phật”: “Ui trời, tưởng gì to tát chứ chuyện “chia bè, kết cánh” hay “bè phái và lợi ích nhóm” có gì mới lạ đâu, ở đâu chả có. Để tôi chỉ cho các ông xem nhé, anh bạn tôi thao thao bất tuyệt: Các ông cứ nhớ lại xem, nhìn từ các vụ án, vụ việc liên quan đến cán bộ, đảng viên được báo chí truyền thông nói ra rả lâu nay, nhất là các vụ án tiêu cực, tham ô, tham nhũng… vụ nào ít nhiều chả liên quan đến “bè phái và lợi ích nhóm”, “cánh hẩu”, chả thế mà hễ có sai phạm là cả “nhóm lợi ích”, “cả dây” đều bị xử lý đấy thôi, có ông nào thoát đâu, có ông nào “ăn” được một mình đâu..., các ông cứ soi lại mà xem nhé!

Ừ nhỉ, ông bạn tôi nói cũng có cái lý của nó đấy chứ! Nếu chúng ta theo dõi thông tin báo chí, truyền thông thì không khó để nhận biết về những biểu hiện câu kết, móc nối, móc ngoặc của các “nhóm lợi ích” từ các đại án tham nhũng điển hình sai phạm trong các lĩnh vực như: Việt Á, AIC, Cục Đăng kiểm Việt Nam, Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB… kéo theo số lượng không nhỏ cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, khởi tố, bắt giam.

Cụ thể, vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á, đây là vụ án điển hình sai phạm trong lĩnh vực y tế. Cơ quan chức năng đã khởi tố, điều tra 33 vụ án, 133 bị can. Trong đó, có 3 Ủy viên Trung ương Đảng là bộ trưởng, nguyên bộ trưởng và bí thư tỉnh ủy; 1 thứ trưởng, 1 trợ lý Phó Thủ tướng Chính phủ và nhiều cán bộ cấp vụ, cục, lãnh đạo các tổ chức, cơ sở y tế địa phương…

Vụ án liên quan đến Công ty AIC - điển hình sai phạm trong thao túng đấu thầu, đấu giá, vụ án này, đã khởi tố 04 vụ án, 71 bị can, trong đó đã xử lý hình sự 1 nguyên bí thư tỉnh ủy, 1 nguyên chủ tịch tỉnh và nhiều cán bộ diện tỉnh ủy quản lý.

Vụ án Vạn Thịnh Phát là vụ án xảy ra tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB - điển hình sai phạm trong lĩnh vực ngân hàng, dùng ngân hàng để làm sân sau cho doanh nghiệp, trong hệ sinh thái. Trong đại án này, đã khởi tố 3 vụ án, 108 bị can, trong đó có 23 bị can là lãnh đạo cấp vụ, cục, cán bộ các cơ quan thanh tra, kiểm toán, thanh tra giám sát ngân hàng và lãnh đạo thanh tra, ngân hàng một số địa phương.

Vụ án xảy ra tại Cục Đăng kiểm Việt Nam và các trung tâm đăng kiểm địa phương - điển hình cho sai phạm có tính hệ thống, kéo dài, các cơ quan đã khởi tố 114 vụ án/808 bị can tại 49 địa phương, nhiều cán bộ, đảng viên liên quan bị bắt giam…

Qua những vụ án điển hình trên, phần nào cũng nói lên những biểu hiện “bè phái và lợi ích nhóm” trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Tất nhiên không hẳn cán bộ, đảng viên hễ cứ sai phạm thì đều liên quan đến “bè phái và lợi ích nhóm”. Nhưng nhìn vào các vụ án với số lượng cán bộ, đảng viên bị xử lý cho thấy khá rõ việc câu kết, móc nối, móc ngoặc của các phần tử trên - dưới, trong - ngoài để chia chác lợi ích do tiêu cực mà có. Không phải là tất cả, nhưng có lẽ những mảnh đất màu mỡ mà đám sâu mọt đục khoét tiền của của Nhà nước, của Nhân dân không dễ để hành động một mình, chúng phải có bầy đàn, câu kết thành “bè phái và lợi ích nhóm”. Xâu chuỗi từ các vụ án, cơ bản các hành vi tiêu cực, tham ô, tham nhũng đều được phân chia bởi “bè phái và nhóm lợi ích”. Đây là một thực tế hiện hữu và có nguy cơ biến tướng với thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn.

“Bè phái và lợi ích nhóm” thật là nguy hại… Nhiều người đặt câu hỏi, liệu những cán bộ, đảng viên trước khi mắc những sai lầm, sai phạm có biết điều này? Thiết nghĩ, người ta biết thì biết cả đấy, biết là sai phạm nhưng đôi khi họ lại cứ tặc lưỡi, “ngậm miệng ăn tiền” hoặc vì những lợi ích cá nhân khác mà câu kết bè phái để chia chác… Tục ngữ có câu: “sợ người ở phải, hãi người cho ăn” để cảnh tỉnh người đời luôn phải cẩn trọng trong đối nhân xử thế, đứng trước những mối lợi, không thể không suy xét thấu đáo, cho dù đơn giản chỉ là miếng ăn. Tiếc thay, ngày nay, dường như những răn dạy của cổ nhân đã bị lãng quên với nhiều người. Vì thế mới có chuyện trớ trêu cho cán bộ, đảng viên bị rơi vào tình thế “há miệng mắc quai”, chỉ đến khi những sai phạm bị phát giác thì những cán bộ, đảng viên này mới tỏ ra ăn năn, hối hận… nhưng cũng đã quá muộn màng.

Có lẽ câu chuyện “bè phái và lợi ích nhóm” đã, đang tồn tại trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là biểu hiện không còn xa lạ với nhiều người. Theo quan điểm của anh bạn tôi: “Không nói xa xôi, ngay trong mỗi gia đình, đôi khi còn chia bè, kết cách huống chi là ở tập thể, cơ quan nọ, tổ chức kia cũng là chuyện bình thường”. Tuy nhiên, kiểu bè cánh hay nói cách khác là theo “phe này”, “cánh kia” nếu chỉ xoay quanh quan điểm, sở thích giống hoặc khác nhau mà hình thành những nhóm chung sở thích có tính chất tích cực  thì nó lại không hề xấu, nó chỉ xấu và rất nguy hại khi chia bè kết cánh nhằm tạo ra “cách hẩu”, “nhóm lợi ích” để thu vén và chia chác lợi ích do tiêu cực mà có, thậm chí là đục khoét bất cứ thứ gì sơ hở của cơ quan, tổ chức, của Nhà nước và Nhân dân…

Trong bất kì tổ chức, cơ quan nào nếu tồn tại “bè phái và lợi ích nhóm” thì ở đó sẽ có nguy cơ mất đoàn kết, đấu đá, cạnh tranh ngầm, thậm chí là dùng mọi thủ đoạn để tạo sự ảnh hưởng, khẳng định vị thế của “phe nhóm lợi ích” cũng như ảo tưởng sức mạnh bản thân, ảo tưởng quyền lực một cách trơ trẽn đến thô thiển. Đây là biểu hiện khá rõ tình trạng “lợi ích nhóm”, “cánh hẩu”, “quyền anh, quyền tôi”, “quyền của phe cánh mình”. Theo đó là “bài toán lợi ích” và tất nhiên nó sẽ bao gồm tất cả những lợi ích mà “phe nhóm lợi ích” có cơ hội chiếm hữu được, từ thông tin, tiền bạc cho đến công tác tổ chức cán bộ… dùng thủ đoạn để “vận động, bao vây…” và những lá phiếu tín nhiệm, bình bầu, quy hoạch cán bộ… chẳng còn khách quan, vô tư, trong sáng như vốn có của bản chất dân chủ.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần lên án “bệnh” kéo bè, kéo cánh và gọi đây là căn bệnh “cánh hẩu” trong Đảng. Người đúc kết: Bè cánh được lôi kéo từ những người có họ hàng, là bà con, cháu, chắt, thân tín, thậm chí mở rộng ra là người cùng xóm, cùng quê; rồi “chén chú, chén anh”, tung hô nhau, ủng hộ nhau, dùng số đông, lợi dụng và bóp méo nguyên tắc tập trung dân chủ, dồn những người tốt, có tài nhưng không cùng “cánh” xuống để “tiêu diệt”, để cát cứ, thao túng…”

Nguy hại của hiện tượng “bè phái và lợi ích nhóm” không nhỏ, nó là nguyên nhân đẻ ra những căn bệnh “thao túng, lạm quyền, lộng quyền, xu nịnh…” của cán bộ, đảng viên. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã không ít lần cảnh báo về những nguy hại của hiện tượng này bằng những câu nói giản dị nhưng vô cùng sâu sắc: “cua cậy càng, cá cậy vây...”. Những cám dỗ về lợi ích, những “viên đạn bọc đường” đã hạ gục không ít những cán bộ, đảng viên mà trước đó họ được cho là những cán bộ, đảng viên trung kiên với những lời thề nguyện cống hiến, trung thành với lợi ích của Đảng, của Đất nước và Nhân dân.

Phải ngăn chặn kịp thời hiện tượng “bè phái và lợi ích nhóm” từ sớm, từ xa, bởi đây cũng là một trong những căn nguyên dẫn đến sự mất niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Hơn ai hết, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong các cơ quan, tổ chức phải nhận thức sâu sắc về những nguy hại của hiện tượng “bè phái và lợi ích nhóm”; nhất định không để lợi ích cá nhân chi phối, tác động để rồi chủ động hoặc vô tình biến mình thành kẻ “câu kết bè phái” lúc nào không hay; nhất định không để bản thân rơi vào vòng xoáy lợi ích mà quên đi bổn phận trách nhiệm của người đảng viên trước Đảng, trước Đất nước và Nhân dân./.

ST.


Nhận thức đúng về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Thế lực thù địch thường tung những luận điệu xuyên tạc cho rằng nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà nước ta đang xây dựng là một nền KTTT "méo mó, không giống ai". Thế nhưng, thực tiễn cho thấy nền kinh tế thị trường tại Việt Nam mà họ tìm mọi cách phủ nhận ấy lại đang là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới.

Kinh tế thị trường tự do đầy khuyết tật 

Từ khi kết thúc Chiến tranh lạnh, về tổng thể, thế giới đã chuyển hóa từ bối cảnh đối đầu giữa hai hệ thống XHCN và tư bản chủ nghĩa (TBCN) sang một thế giới toàn cầu hóa, chấp nhận sự đa dạng và cùng tồn tại hòa bình, hợp tác, xen lẫn cạnh tranh gay gắt trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Về cuộc khủng hoảng các mô hình phát triển kinh tế, trong chuyên luận “Covid-19: Cuộc tái cấu trúc vĩ đại” tại Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), giáo sư Klaus Schwab, nhà sáng lập và Chủ tịch điều hành WEF nhấn mạnh: Đại dịch Covid-19 đang đào sâu hơn những chia rẽ, bất bình đẳng và phân chia thế giới thành thời kỳ tiền Covid-19 và hậu Covid-19. Trong kỷ nguyên hậu Covid-19, không chỉ Mỹ mà là toàn bộ chủ nghĩa tư bản (CNTB) thế giới sẽ phải thay đổi mô hình phát triển trong trật tự thế giới đa cực. Năm 2021 là năm bản lề, năm quan trọng đối với tương lai và thế giới phải hành động để tương lai nền kinh tế và xã hội của chúng ta cần linh hoạt, bao trùm hơn và bền vững hơn; thúc đẩy quá trình chuyển đổi công nghiệp một cách có trách nhiệm; tăng cường quản trị toàn cầu, đạt tiến triển trong nỗ lực trung hòa khí thải carbon; hướng đến các hệ thống kinh tế và xã hội công bằng hơn, tạo ra đủ việc làm nhằm xây dựng một xã hội hòa nhập hơn...

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
 Một góc Thành phố Hồ Chí Minh, đầu tàu kinh tế của cả nước. Ảnh: TTXVN

Trước đó, Báo cáo trung tâm tại Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2020 cũng đã từng khuyến cáo, CNTB đang đứng trước ngã rẽ lịch sử, trong đó đã đến lúc phải đổi mới mô hình phát triển sang hướng toàn diện, có trách nhiệm xã hội hơn, giải quyết tốt hơn các vấn đề xóa đói giảm nghèo, chống tham nhũng và bảo vệ môi trường. Trong đó, các công ty tư nhân tự coi mình là người được xã hội ủy thác và hoạt động không chỉ nhằm thu được lợi nhuận kinh tế lớn, mà còn phải hướng tới khắc phục hậu quả tiêu cực đối với xã hội và môi trường, đáp ứng tốt các quyền lợi hợp pháp và nhu cầu sống của người lao động.

Trên thực tế, khủng hoảng chu kỳ, sự suy thoái kinh tế cả trong quá khứ và hiện nay đã làm phơi bày mặt trái của KTTT tự do, cả về sự đầu cơ quá mức, về thất nghiệp, chênh lệch khoảng cách giàu-nghèo và những bất công xã hội.

Thậm chí, tại nước Mỹ, nơi có nền kinh tế thị trường TBCN phát triển nhất thế giới, thì cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama đã phải thừa nhận: “Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ năm 2008 cho thấy đã qua rồi thời kỳ nước Mỹ hành động một mình mà không cần phải lắng nghe ai”. Cũng thời điểm này, lãnh đạo nhiều nước có KTTT phát triển khác, như: Anh, Pháp, Đức, Italy... cũng lên tiếng phê phán những sự ngây thơ, tin tuyệt đối vào khả năng tự điều chỉnh của KTTT tự do. Chính trị gia Bernie Sanders của Đảng Dân chủ, trong cuộc chạy đua ứng viên tranh cử Tổng thống Mỹ năm 2016 cho rằng: “Mô hình KTTT Mỹ hiện hành không thể giải quyết được triệt để những vấn đề của nước Mỹ, trước hết liên quan đến an sinh xã hội, giáo dục, y tế và bất công về giàu nghèo...”.

Thực tế cho thấy, các cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội, khủng hoảng năng lượng, lương thực, các vấn đề nóng bỏng về biến đổi khí hậu, mất đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường, an ninh phi truyền thống và dịch bệnh... đã và đang diễn ra dày đặc hơn chứng minh tính không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của thế giới hiện hành nói chung, của KTTT tự do của CNTB nói riêng. Do đó, chỉ có những ai thiếu tầm nhìn, hoặc cố tình nói ngược mới ca ngợi một chiều CNTB.

Mối quan hệ giữa “động cơ” và “bánh lái”

Xây dựng mô hình KTTT định hướng XHCN là phù hợp với xu hướng và yêu cầu thực tiễn phát triển KTTT trên thế giới. Bởi lẽ, thực tế đã, đang và sẽ ngày càng cho thấy, dù ở đâu và thời đại nào, dù chế độ và thể chế chính trị nào, song mọi mô hình KTTT muốn thành công đều phải ngày càng hội tụ vào mục tiêu cao nhất và xuyên suốt là vì phát triển đất nước bền vững và đáp ứng ngày càng tốt hơn khát vọng hạnh phúc cho người dân của quốc gia mình.

Không có bất kỳ mô hình kinh doanh và nhà nước nào ngoại lệ với đổ vỡ, khủng hoảng kinh tế, kể cả các cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới. Thế giới đã thấy rõ ý nghĩa, hiệu quả của việc phải kết hợp cả bàn tay nhà nước và bàn tay thị trường trong một mô hình nhà nước kiểu mới để bảo đảm tính bền vững và hạn chế những khuyết tật của KTTT. Các quốc gia hiện nay nhìn chung đều đề cao yêu cầu phát triển bền vững, tăng trưởng xanh. Mà có thể thấy, đây đều là những vấn đề Đảng, Nhà nước ta nhấn mạnh khi xây dựng nền KTTT định hướng XHCN.

Khi áp dụng KTTT để phát triển đất nước là Đảng ta đã sáng suốt áp dụng một thành tựu của nhân loại trong cách thức phát triển kinh tế, nhưng đồng thời gắn thêm định hướng XHCN để bảo đảm xã hội sẽ phát triển bền vững, nhân văn trong nền KTTT ấy. Đó cũng không khác gì mối quan hệ giữa "động cơ" và "bánh lái" của một con tàu. 

Chúng ta không bao giờ được quên mục tiêu phát triển nền kinh tế là để làm gì. Trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam", Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, "cá lớn nuốt cá bé" vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có...”. Đó cũng chính là những luận giải để chúng ta thấy rõ hơn mục tiêu khi xây dựng nền KTTT định hướng XHCN, từ đó tạo cơ sở vật chất cho CNXH.

Một mô hình luôn được bổ sung, hoàn thiện

Để bảo đảm xây dựng nền KTTT phát triển, nhưng vẫn bảo đảm định hướng XHCN, các văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định và làm rõ hơn những nét đặc thù quan trọng trong mô hình KTTT định hướng XHCN là: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước... Bảo đảm trên hết và trước hết lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên.

Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng mô hình KTTT định hướng XHCN là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Nền KTTT định hướng XHCN sẽ được hoàn thiện trong một quá trình dài và việc văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định “bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước” là cần thiết, tạo sự linh hoạt và vận dụng hiệu quả nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong chỉ đạo, điều hành thực tiễn của Đảng trước mọi biến động nhanh, khó lường của thế giới. 

Về phát triển kinh tế thời gian tới theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, các cơ quan chức năng đang tiếp tục xem xét, bổ sung và làm rõ hơn cơ chế quản lý nhà nước. Trong đó, quản lý nhà nước phải phù hợp với các yêu cầu, quy luật và quy trình của KTTT, cũng như với các điều khoản hội nhập quốc tế mà Việt Nam đã cam kết. Điều này là cần thiết để cơ chế thị trường được thực thi đầy đủ, bảo đảm uy tín chính trị, niềm tin thị trường và khai thác các cơ hội mới từ các FTA thế hệ mới mà Việt Nam đang và sẽ tham gia, phòng tránh lợi ích nhóm từ việc biến độc quyền nhà nước thành độc quyền tư nhân.

Đặc biệt, chức năng nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước đang từng bước được bổ sung, làm rõ hơn, bao gồm việc chủ động dự báo và ngăn chặn, xử lý các khuyết tật, tác động mặt trái và khủng hoảng chu kỳ, vốn thuộc bản chất của KTTT (như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh thiếu lành mạnh, phân hóa giàu nghèo và coi nhẹ các vấn đề y tế, môi trường, xã hội...); nâng cao chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của nền kinh tế và doanh nghiệp; phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ; cải thiện ô nhiễm môi trường và quản lý, điều tiết thị trường, khoảng cách giàu nghèo và chất lượng giáo dục, chăm sóc y tế và nhiều dịch vụ công ích khác; chống lại sự xuống cấp văn hóa, đạo đức xã hội, sự diễn biến phức tạp của tội phạm và các tệ nạn xã hội, tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Trong quá trình xây dựng KTTT định hướng XHCN ở nước ta, Đảng ta luôn mang tinh thần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc những thành tựu mới của nhân loại để nền KTTT định hướng XHCN của chúng ta luôn tươi mới, luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống.

Từ thực tiễn trong nước và quốc tế những năm qua, có thể thấy việc xây dựng nền KTTT định hướng XHCN là phù hợp với thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta. Đây là vấn đề có tính nền tảng mà mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần hiểu đúng, để xây chắc niềm tin./.

ST.