Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2024

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chính sách dân tộc ở Việt Nam

Các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách thông tin sai lệch bản chất chính sách dân tộc nhằm gây hoài nghi, dao động, giảm sút niềm tin của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) với Đảng, Nhà nước; kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Nhận diện luận điệu, thủ đoạn của chúng để nâng cao cảnh giác, đấu tranh phản bác, đồng thời khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng về vấn đề dân tộc là rất quan trọng.

Vùng dân tộc thiểu số và miền núi là địa bàn trọng điểm để các thế lực thù địch lợi dụng

Trong 12 năm, từ 2011 - 2023, vùng DTTS và miền núi xảy ra hai vụ việc rất nghiêm trọng. Vụ thứ nhất, từ 30/4 - 6/5/2011, một số phần tử xấu dùng nhiều thủ đoạn kích động, lừa mị lôi kéo hàng nghìn đồng bào Mông từ nhiều xã trong huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên và các địa phương khác: Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Sơn La, Đắk Nông, Đắk Lắk… tụ tập về bản Huổi Khon, xã Nậm Kè để chờ ngày chúa phán quyết (21/5/2011) và xưng vua.

 Hiện trường vụ việc hàng nghìn đồng bào Mông bị kích động, lừa mị, lôi kéo tụ tập về bản Huổi Khon, xã Nậm Kè để chờ ngày chúa phán quyết và xưng vua, gây mất trật tự trị an, hồi trung tuần tháng 5/2011 (ảnh: Báo Công an Nhân dân)

Các thế lực thù địch đã lợi dụng trình độ dân trí thấp, đời sống khó khăn và sự cả tin của đồng bào trong âm mưu xưng vua của một số phần tử cầm đầu; lợi dụng tôn giáo, tuyên truyền đạo trái pháp luật hòng làm mất ổn định chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn biên giới.

Vụ thứ hai, đêm 10/6, rạng sáng 11/6/2023, gần 100 đối tượng người DTTS, chia thành 2 nhóm tấn công trụ sở xã Ea Ktur và Ea Tiêu, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk giết chết 4 cán bộ Công an xã, làm bị thương 2 cán bộ Công an xã khác, đập phá, thiêu đốt tài sản nhà nước và công dân... Trên đường rút chạy, các đối tượng tiếp tục phá hoại tài sản của người dân; uy hiếp 3 người dân làm con tin; giết chết 2 cán bộ xã và 3 người dân. Đây là vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của cán bộ, người dân, phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, mục đích nhằm lật đổ chính quyền nhân dân để thành lập cái gọi là “Nhà nước Đêga”.

Kết quả điều tra xác định, do thiếu hiểu biết, vướng mắc trong cuộc sống cá nhân nên một số đối tượng là người DTTS ở tỉnh Đắk Lắk đã bị các đối tượng phản động, lưu vong ở Mỹ là Y Mút Mlô, Y Čik Niê, Y Niên Êya, Y Bút Êban (Y Bé Êban), Y Chanh Byă, Y Sôl Niê... dùng nhiều thủ đoạn tuyên truyền, kích động, lôi kéo, dụ dỗ tham gia tổ chức phản động. Các đối tượng cốt cán trong nước nghe theo chỉ đạo của các đối tượng nước ngoài tiếp tục lôi kéo, dụ dỗ, đe dọa, cưỡng ép một số người DTTS nhẹ dạ, cả tin khác trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk thành lập nhóm vũ trang lấy tên gọi là “Lính Đêga” để tiến hành hoạt động khủng bố, phá hoại...

Ngoài hai vụ việc trên, tại vùng DTTS và miền núi, những năm gần đây, còn xảy ra một số vụ đồng bào DTTS khiếu kiện, tranh chấp đông người; phát sinh một số vụ mâu thuẫn giữa đồng bào DTTS với người Kinh, với doanh nghiệp, chính quyền… 

Từ những sự việc trên cho thấy, vùng DTTS và miền núi là địa bàn trọng điểm mà “thế lực thù địch, phản động đang đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn lật đổ đối với nước ta, trong đó các vùng chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ là những mắt xích chiến lược, các thế lực thù địch đang tập trung “đột phá”.

Được sự tiếp sức, hậu thuẫn của thế lực thù địch, một số đối tượng cầm đầu trong các tổ chức phản động người DTTS lưu vong đã lập ra cái gọi là “nhà nước” của người DTTS ở bên ngoài như: Nhà nước “Đề ga” của người Thượng, “Nhà nước Mông”, “Chính phủ Chăm lưu vong”… Từ đó, chúng chỉ đạo, móc nối với số đối tượng trong nội địa tập hợp lực lượng, củng cố tổ chức… để khi có thời cơ sẽ tổ chức biểu tình, bạo loạn cướp chính quyền, thành lập “nhà nước” ở từng vùng DTTS nước ta”.

 Một trong những hiện trường vụ án gần 100 đối tượng người DTTS, chia thành 2 nhóm tấn công trụ sở xã Ea Ktur và Ea Tiêu, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk giết chết 4 cán bộ Công an xã, làm bị thương 2 cán bộ Công an xã khác, đập phá, thiêu đốt tài sản nhà nước và công dân... Trên đường rút chạy, các đối tượng tiếp tục phá hoại tài sản của người dân; uy hiếp 3 người dân làm con tin; giết chết 2 cán bộ xã và 3 người dân (ảnh:TTXVN)

Đưa ra các quan điểm sai trái, thù địch, vu cáo, xuyên tạc là thủ đoạn phổ biến

Một thuộc tính cố hữu trong bản năng chống Cộng của các phần tử thù địch đối với cách mạng Việt Nam nói chung và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng đó là nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp và phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đa số đồng bào DTTS sinh sống ở vùng miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt khó khăn. Lợi dụng trình độ dân trí thấp, bản tính thật thà, chất phác của đồng bào và những khó khăn, thiếu sót trong thực hiện chủ trương của Đảng về chính sách dân tộc, các thế lực thù địch, phản động thường đưa ra các quan điểm sai trái, thù địch, vu cáo, xuyên tạc: “Đảng, Nhà nước Việt Nam “phân biệt đối xử” với các DTTS” hoặc “chính sách ngược đãi các DTTS đang diễn ra ở Việt Nam”. Mục đích của chúng là thông tin sai lệch bản chất chính sách dân tộc nhân văn, tốt đẹp, làm mất uy tín của Đảng, gây hoài nghi, dao động, giảm sút niềm tin của đồng bào với Đảng, Nhà nước; kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc, hình thành lực lượng phản động là người DTTS làm đối trọng với lực lượng cách mạng trên địa bàn, thúc đẩy xu hướng ly khai, tự trị dân tộc, gây ra các vụ xung đột, bạo loạn, khủng bố… để “quốc tế hóa” vấn đề dân tộc, tạo cớ cho các thế lực thù địch can thiệp vào công việc nội bộ, phá hoại nền độc lập, thống nhất và sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa của cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam.

Có thể thấy rõ âm mưu, thủ đoạn này của chúng qua phân tích trong bài viết “Nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc về quyền của nhóm dễ bị tổn thương ở Việt Nam hiện nay” đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 4 (32) - 2023 của PGS,TS Nguyễn Thị Báo, Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Tác giả nêu: “lợi dụng vụ khủng bố ở Đắk Lắk ngày 11/6/2023, các thế lực thù địch đã chớp thời cơ đưa ra nhiều luận điệu xảo trá xuyên tạc chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta; vu khống, bôi nhọ Việt Nam, kích động tư tưởng ly khai dân tộc, tạo điểm nóng về nhân quyền, gây bão dư luận quốc tế, gây bất ổn định từ bên trong và kiếm cớ kêu gọi quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam nhân danh bảo vệ nhân quyền của đồng bào DTTS: Đài Á châu tự do đã đăng tải bài viết có nội dung kích động, xuyên tạc chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta, cho rằng: trên thực tế Đảng ta không thực hiện đúng chính sách đại đoàn kết dân tộc, áp dụng chính sách “thuộc địa”, vi phạm quyền sở hữu đất đai của người Thượng dẫn đến tình trạng “tức nước vỡ bờ”. Đài VOA đăng tải, “giật tít” nhiều bài viết đánh lừa người đọc, trích dẫn nhiều lời sai trái, bịa đặt của các phần từ phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài như: Y Phíc - đối tượng thuộc nhóm “Người Thượng vì công lý - MSFJ”), Nguyễn Đình Thắng - kẻ cầm đầu BPSOS, CAMSA ở Mỹ xuyên tạc chính sách pháp luật của Việt Nam về quyền của người DTTS, những kẻ này không bỏ lỡ cơ hội kiếm Đô-la bằng nhiều câu từ mang tính kích động, hằn học, bêu riếu chính quyền, cho rằng vụ tấn công của người Thượng ở Đắc Lắc là do họ bị “đẩy đến đường cùng”.

Báo điện tử Công an nhân dân phản ánh: “Báo điện tử BBC Tiếng Việt ngày 23/6 đăng bài “Câu chuyện Tây Nguyên và người dân sắc tộc của núi rừng trong lòng tôi” đã đưa nhiều thông tin sai sự thật, có các bình luận mang tính chụp mũ, suy diễn. Bài viết cố tình hướng lái sai mục đích, ý nghĩa của vấn đề di dân, phát triển kinh tế ở Tây Nguyên, từ đó quy chụp “không gian của các sắc tộc bị tan vỡ”! Người viết đưa ra những câu từ vừa trái bản chất, vừa mang tính kích động như “Sau biến cố 30/4/1975, Tây Nguyên bước vào kỷ nguyên bị phá vỡ”.

Các thế lực thù địch đã triệt để “lợi dụng và xoáy sâu vào vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, đất đai, xem đây là những “ngòi nổ” để kích động tư tưởng ly khai, tự trị, “bài Kinh”. Trên phương diện quốc tế, các tổ chức phản động lưu vong và các đối tượng xấu triệt để lợi dụng Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị để tuyên truyền xuyên tạc. Lợi dụng các diễn đàn quốc tế vu cáo Việt Nam “đàn áp, diệt chủng người dân tộc ở Tây Nguyên”, kêu gọi Mỹ, Liên hiệp quốc can thiệp, gây sức ép ngoại giao với Việt Nam”.

Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc - Y Thông, dẫn đầu đoàn công tác liên ngành của Việt Nam đàm phán đối thoại bảo vệ Báo cáo Quốc gia lần thứ 5 (CERD 5) của Chính phủ Việt Nam tại Kỳ họp thứ 111 Ủy ban Công ước quốc tế xóa bỏ mọi
hình thức phân biệt chủng tộc (CERD) tại Geneve (Thuỵ Sĩ) - ngày 29-30/11/2023
 (ảnh: webtv.un.org)

Những luận điệu sai trái, xuyên tạc một khi bị thổi phồng, nói đi nói lại có thể gây ra một số cách hiểu chưa đúng, chưa đầy đủ, méo mó, phiến diện; làm cho một số nước hoặc một số tổ chức quốc tế mặc dù rất ủng hộ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta đối với công tác dân tộc, nhưng đôi khi bị nhiễu loạn thông tin, hiểu sai, hiểu nhầm. Chẳng hạn, trong một số vấn đề đề nghị phía Việt Nam giải thích thêm trong vòng 48 giờ sau các phiên bảo vệ Báo cáo quốc gia lần thứ 5 thực hiện Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (Báo cáo CERD 5) (tháng 11/2023), Uỷ ban Công ước quốc tế xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD) nêu câu hỏi: “Chiếm đất là một trong những hành vi vi phạm nghiêm trọng nhất quyền lợi của người dân bản địa. Chúng tôi nhận được nhiều báo cáo rằng chính phủ hoặc chính quyền địa phương tịch thu đất đai của người dân bản địa đã sống ở đó nhiều thế hệ với lý do là các dự án trữ nước hoặc xây dựng sân gôn và khu nghỉ dưỡng. Những người đó đã bị đuổi khỏi đất đai của họ chỉ với sự hỗ trợ tái định cư và bồi thường tài chính tối thiểu. Xin giải thích về hành vi vi phạm như vậy đối với người bản địa?”

Về câu hỏi này, không cần đến 48 giờ, ông Y Thông - Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc, Trưởng đoàn công tác liên ngành đàm phán đối thoại bảo vệ Báo cáo CERD 5 rất nhanh chóng đã khẳng định: “Ở Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền phải thông báo cho người có đất ở thu hồi thuộc đối tượng phải di chuyển chỗ ở về dự kiến phương án bố trí tái định cư và niêm yết công khai ít nhất là 15 ngày tại trụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bố trí tái định cư. Người có đất thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất có dự án tái định cư hoặc có điều kiện bố trí tái định cư. Ưu tiên vị trí thuận lợi cho người có đất bị thu hồi. Việc thu hồi đất ở Việt Nam được thực hiện công khai, minh bạch, tạo điều kiện tốt nhất cho người có đất thu hồi sớm ổn định cuộc sống tại nơi tái định cư. Không có việc người dân bị chính quyền “đuổi” ra khỏi nơi cư trú một cách vô cớ. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở do Nhà nước thu hồi đất ở thì được hỗ trợ tái định cư”...

ST.

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: TRUYỀN THÔNG CAMPUCHIA ĐÁNH GIÁ CAO TIỀM NĂNG THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ VỚI VIỆT NAM!

         Trong hai ngày 7 và 8/3, các cơ quan báo chí truyền thông Campuchia liên tục đăng phát nhiều chủ đề thông tin, hình ảnh về các hoạt động của Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam - Campuchia (VCBA) tại địa bàn, đánh giá cao tiềm năng hợp tác, thúc đẩy đầu tư của Campuchia với các doanh nghiệp Việt Nam!

Theo phóng viên TTXVN tại Phnom Penh, nhiều trang báo hàng đầu Campuchia như SBM NEWS, Phnom Penh Post, CNC, Khmer Times, Nokorwat News Daily... đã cập nhật nhiều chủ đề bài viết xoay quanh các cuộc gặp làm việc, kết nối giao thương giữa các doanh nghiệp VCBA với các cơ quan bộ, ngành Campuchia như Hội đồng Phát triển Campuchia (CDC), Bộ Nông, Lâm và Ngư nghiệp Campuchia, Phòng Thương mại Campuchia... trong hai ngày 6 và 7/3 vừa qua.

Các bài viết được đăng phát cả trên phiên bản tiếng Khmer và tiếng Anh của các báo, chủ yếu tập trung vào cuộc gặp, làm việc giữa đoàn lãnh đạo các doanh nghiệp thuộc VCBA với ông Sun Chanthol, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng gia Campuchia kiêm Phó Chủ tịch thứ nhất CDC, trong đó hai bên nhất trí hợp tác trong việc thúc đẩy giới thiệu tiềm năng của Campuchia nhằm thu hút các nhà đầu tư Việt Nam đầu tư tại đất nước Chùa Tháp.

Đưa tin về cuộc gặp trên, bài viết trên trang tin SBM NEWS cho biết tại cuộc gặp, ông Oknha Leang Rithy, Chủ tịch VCBA, cam kết nỗ lực hợp tác với CDC nhằm giới thiệu tiềm năng của Campuchia tới các nhà đầu tư tại Việt Nam nhằm thu hút đầu tư vào nhiều lĩnh vực, đặc biệt là nông nghiệp.

Trên danh nghĩa người đứng đầu VCBA, Oknha Leang Rithy cũng bày tỏ ấn tượng với sự phát triển đáng ghi nhận của Campuchia, đặc biệt là những nỗ lực của Chính phủ Hoàng gia Campuchia nhiệm kỳ mới; đồng thời chia sẻ kinh nghiệm của mình trong quá trình đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp ở Campuchia, đặc biệt là ngành hàng lúa gạo và cao su.

Về phần mình, Phó Chủ tịch thứ nhất CDC nhấn mạnh những yếu tố thuận lợi của Campuchia đối với các nhà đầu tư như môi trường hòa bình, ổn định kinh tế, luật đầu tư thông thoáng, hệ thống cơ sở hạ tầng thuận lợi cho hoạt động vận tải theo đường cao tốc và các bến cảng..., trong bối cảnh Chính phủ Hoàng gia Campuchia có kế hoạch sử dụng 70% năng lượng sạch vào năm 2030. Bên cạnh đó, ông Sun Chanthol cũng cảm ơn các nhà đầu tư đã lựa chọn Campuchia, đồng thời kỳ vọng các doanh nghiệp đang hoạt động tại Campuchia sẽ tiếp tục mở rộng quy mô đầu tư.

Cùng đưa tin về cuộc gặp trên, trang web chính thức của Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) cho biết Chủ tịch VCBA Oknha Leng Rithy đã dẫn đầu đoàn đại biểu VCBA gồm đại diện của 16 công ty tới gặp Phó Thủ tướng Sun Chanthol. Ông Leng Rithy đã cam kết hợp tác với CDC để thúc đẩy tiềm năng của Campuchia trong việc thu hút các nhà đầu tư Việt Nam đầu tư tại Campuchia trong nhiều lĩnh vực khác nhau, nhất là lĩnh vực nông nghiệp.

Trong khi đó, báo Phnom Penh Post cho biết kim ngạch thương mại giữa Campuchia và Việt Nam được dự đoán sẽ tăng trưởng khi đại diện VCBA cam kết thúc đẩy cơ hội đầu tư cho các nhà đầu tư Việt Nam tại Vương quốc Campuchia. Theo báo trên, ông Leng Rithy cho biết các thành viên của hiệp hội quan tâm đến sự phát triển nhanh chóng của Campuchia, đặc biệt là những nỗ lực của Chính phủ Hoàng gia mới trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa VII. Ông cũng khẳng định rằng thông qua sự hợp tác hiệu quả với CDC, VCBA cam kết tăng cường giới thiệu cơ hội đầu tư của Campuchia tới nhiều nhà đầu tư Việt Nam hơn.

Phnom Penh Post dẫn lời ông Leng Rithy nêu rõ: “VCBA sẽ hợp tác với CDC để giới thiệu tiềm năng của Campuchia với các nhà đầu tư tại Việt Nam, nhằm mục đích thu hút họ đến với nhiều lĩnh vực khác nhau của Campuchia, đặc biệt là nông nghiệp”.

Ông Chea Chandara, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp chuỗi cung ứng và hậu cần tại Campuchia (LOSCBA), cho biết, là một quốc gia có chung đường biên giới gần gũi và duy trì quan hệ ngoại giao mạnh mẽ với Việt Nam, Campuchia đã chứng kiến sự gia tăng không ngừng trong hoạt động xuất nhập khẩu và dòng vốn đầu tư trực tiếp từ Việt Nam. Ông giải thích rằng các hoạt động vận tải xuyên biên giới được tiến hành thường xuyên, trong đó Campuchia xuất khẩu một lượng lớn nông sản sang Việt Nam như lúa, cao su, hạt điều, sắn, ngô, chuối, xoài, thuốc lá và tài nguyên thiên nhiên.

Chủ tịch LOSCBA đánh giá nhập khẩu từ Việt Nam đa dạng với nhiều sản phẩm, bao gồm thực phẩm, nhu yếu phẩm hàng ngày, máy móc, thiết bị điện, linh kiện điện tử, phân bón hóa học và vật liệu xây dựng. Ông nhấn mạnh đà tăng trưởng xuất nhập khẩu giữa hai nước ngày càng tăng, số lượng nhà đầu tư Việt Nam sang làm ăn tại Campuchia cũng tăng lên.

Trong khi đó, ngày 8/3, trang tin CNC cho biết ông Neak Oknha Lim Heng, quyền Chủ tịch Phòng Thương mại Campuchia (CCC) đã có cuộc gặp và làm việc với đoàn doanh nghiệp thuộc VCBA do Chủ tịch Leng Rithy dẫn đầu, nhằm thiết lập mối quan hệ chặt chẽ hơn nữa với CCC, cũng như các tổ chức liên quan khác tại Campuchia.

Tại cuộc gặp có sự tham dự của lãnh đạo các doanh nghiệp lớn Việt Nam và Campuchia, CCC và VCBA đã nhất trí mở rộng quan hệ hợp tác. Trang tin CNC cho rằng sự hiện diện của nhiều lãnh đạo doanh nghiệp lớn của Việt Nam trong các lĩnh vực viễn thông, ngân hàng, hàng không... cho thấy các nhà đầu tư Việt Nam đang kinh doanh thành công tại Campuchia.

Ông Neak Oknha Lim Heng cho biết, trong thời gian qua, CCC đã tham gia tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc của các nhà đầu tư Việt Nam với các cơ quan hữu quan sở tại. Để triển khai thực hiện tốt Hiệp định thương mại biên giới giữa hai nước, lãnh đạo CCC đề nghị hai bên cùng trao đổi, thảo luận, hướng tới thành lập Hội đồng Doanh nghiệp Campuchia-Việt Nam để giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, cũng như người dân ở khu vực biên giới, khu vực tư nhân.

VCBA được Bộ Nội vụ Campuchia cấp giấy phép, chính thức thành lập từ cuối tháng 1/2024, trên cơ sở nâng cấp từ Câu lạc bộ Doanh nghiệp Việt Nam tại Campuchia, vốn được thành lập vào năm 2018 với hơn 100 công ty thành viên. Trong tôn chỉ mục đích của VCBA, một trong những mục tiêu hoạt động chính của hiệp hội là thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam-Campuchia, tăng cường phát triển nguồn nhân lực, giáo dục, đào tạo nghề và thương mại./.

Yêu nước ST.

Việt Nam tích cực thực hiện Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc

Thừa nhận và đảm bảo quyền con người là một chỉ báo đánh giá sự phát triển văn minh, tiến bộ của mỗi xã hội, là cơ sở để Nhà nước ghi nhận và đảm bảo quyền cho người dân. Trên quan điểm đó, Việt Nam đã phê chuẩn và tham gia Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD) và là thành viên tích cực thực hiện theo đúng các nội dung của Công ước này.

Ngày 19/12/2023, ngành Ngoại giao tổ chức Hội nghị lần thứ 32. Tới dự và phát biểu tại hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Có thể nói, chưa bao giờ vị thế, uy tín và hình ảnh một nước Việt Nam độc lập, tự chủ, phát triển năng động, là bạn bè thuỷ chung, chân thành, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có trách nhiệm lại nổi bật trên trường quốc tế như hiện nay”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị lần thứ 32 Ngành Ngoại giao Việt Nam (ngày 19/12/2023) - ảnh: PV

Nhận định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chính là sự ghi nhận kết quả đạt được sau một quá trình bước ra hội nhập với sân chơi thế giới của Việt Nam. Về mặt đối ngoại, với tư cách là thành viên của Liên hợp quốc, Việt Nam đã cố gắng hoàn thành trách nhiệm và nghĩa vụ của nước thành viên. Hiện nay, Liên hợp quốc có 24 công ước quốc tế liên quan đến quyền con người, trong đó có 9 công ước được coi là quan trọng và cơ bản nhất.

Việt Nam đã tham gia phê chuẩn và cam kết thực hiện 7/9 công ước có liên quan đến quyền con người, gồm: Công ước về quyền dân sự và chính trị, Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Công ước quốc tế về Quyền trẻ em, Công ước về quyền của người khuyết tật, Công ước chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người.

Trong Chương trình bình luận “Việt Nam bảo vệ quyền con người” (Thứ bảy ngày 10/12/2022, trên kênh VTV1 - Đài Truyền hình Việt Nam), PGS,TS Nguyễn Thị Thanh Hải - Phó Viện trưởng Viện Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nhận xét, nếu so sánh cuối những năm 1980, thời kỳ bắt đầu công cuộc Đổi mới với hiện nay thì có thể thấy rất rõ sự phát triển trong cách tiếp cận, quan điểm của Việt Nam về quyền con người.

Nếu những năm đầu Đổi mới, quyền con người là vấn đề “nhạy cảm”, thậm chí là cấm kỵ thì hiện nay đã được thừa nhận rộng rãi trong quan điểm, trong hệ thống văn bản của Đảng, Nhà nước ta, là nội dung giảng dạy trong trường học. Từ chỗ quyền con người được tiếp cận thụ động, thậm chí mang tính chất đối phó với những phê phán, chỉ trích từ bên ngoài thì nay đã được coi là mục tiêu cốt lõi của quá trình phát triển của Việt Nam.

PGS,TS Nguyễn Thị Thanh Hải còn cho rằng, sự thừa nhận và đảm bảo quyền con người là một chỉ báo đánh giá sự phát triển văn minh, tiến bộ của mỗi xã hội, là cơ sở để Nhà nước ghi nhận và đảm bảo quyền cho người dân.

Trên quan điểm như vậy, trong các công ước quốc tế Việt Nam đã phê chuẩn và tham gia có một công ước quan trọng, trực tiếp liên quan đến quan hệ giữa các dân tộc, đó là Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc.

Ra đời từ năm 1965, Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD) lên án nạn phân biệt chủng tộc và xác lập nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết và không trì hoãn các chính sách nhằm loại trừ các hình thức phân biệt dựa trên chủng tộc, màu da, dòng dõi, dân tộc hoặc gốc người thiểu số.

Việt Nam tham gia Công ước CERD từ năm 1982 và từ đó đến nay, luôn là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đã và đang thực hiện nghiêm túc các nội dung của Công ước CERD; đồng thời thực hiện nhiều chủ trương, chính sách nhằm thể hiện sự tôn trọng, bảo đảm, thúc đẩy quyền của đồng bào dân tộc thiểu số.

Ông Y Thông - Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc khẳng định, tham gia Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, Việt Nam có cơ hội giúp bạn bè quốc tế có cái nhìn đúng đắn, những đánh giá, nhận định khách quan về chủ trương, đường lối công tác dân tộc và những thành tựu đạt được trong thực hiện chính sách dân tộc, đồng thời đón nhận những tri thức quốc tế để xem xét vận dụng vào quá trình hoạch định chính sách dân tộc phù hợp với thực tiễn của đất nước.

Song, tham gia Công ước cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ phù hợp với cơ chế Công ước như: Nội luật hoá các quy định, nguyên tắc về quyền của người dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, truyền thống lịch sử, văn hoá; đảm bảo tiến bộ thực sự về nhân quyền cho mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt chủng tộc, dân tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, chính kiến, nguồn gốc xuất thân…; định kỳ thực hiện Báo cáo quốc gia về tình hình thực hiện Công ước; thực hiện các khuyến nghị, trả lời kháng thư về quyền con người; triển khai các hoạt động giáo dục, thông tin về quyền con người và một số thủ tục khác theo yêu cầu của Uỷ ban Công ước CERD.

Việt Nam tham gia Công ước CERD từ năm 1982 và từ đó đến nay, luôn là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đã và đang thực hiện nghiêm túc
các nội dung của Công ước CERD 

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, vấn đề đảm bảo quyền con người của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam luôn không tách rời các hoạt động giám sát của các cơ quan của Liên hợp quốc, của các cơ quan điều ước quốc tế về quyền con người.

Tham gia Công ước CERD, Việt Nam chấp nhận sự giám sát quốc tế về quyền của người dân tộc thiểu số thông qua các hình thức: Xem xét báo cáo quốc gia theo cơ chế đánh giá định kỳ; Thực hiện các thủ tục đặc biệt nhằm điều tra, đánh giá các vấn đề, tình huống về quyền con người cụ thể; Đưa ra các bình luận, khuyến nghị đối với Việt Nam liên quan trực tiếp đến các quyền của người dân tộc thiểu số…

Ngoài cơ chế giám sát của các cơ quan của Liên hợp quốc, của các cơ quan điều ước quốc tế về quyền con người, ở cấp độ song phương, Việt Nam hiện có cơ chế Đối thoại nhân quyền chính thức với 5 đối tác là: Mỹ, EU, Thuỵ Sĩ, Na Uy và Australia. Việt Nam cũng có nhiều kênh trao đổi không chính thức về các vấn đề quyền con người, tham gia nhiều diễn đàn liên quan đến các khía cạnh khác nhau của quyền con người.

Ở đây, cũng cần nói thêm rằng trong lĩnh vực nhân quyền “vẫn đang diễn ra cuộc đấu tranh giữa lực lượng tiến bộ nhằm phát huy những giá trị cốt lõi thuộc về con người với các thế lực lợi dụng nhân quyền để thực hiện ý đồ chính trị[1]”.

Nhìn chung, trong các hoạt động hợp tác song phương cũng như tại các diễn đàn đa phương về quyền con người, Việt Nam luôn tích cực, chủ động và có những đóng góp thiết thực nhằm thúc đẩy nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực quyền con người trên tinh thần đối thoại, tăng cường hiểu biết lẫn nhau.

Đấu tranh trên lĩnh vực nhân quyền nói chung, quyền của người dân tộc thiểu số nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là khi một số lực lượng chính trị, xã hội quốc tế sử dụng nhân quyền như một công cụ để thực hiện các cuộc “cách mạng màu” nhằm lật đổ các chế độ xã hội mà họ coi là “không phù hợp” với quan điểm của họ, với các giá trị nhân quyền phổ biến thì cuộc đấu tranh trên lĩnh vực này đã mang những nội dung và tính chất mới đối với nhiều quốc gia - dân tộc nhằm bảo vệ nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của các thành viên Liên hợp quốc.

Đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người ở Việt Nam có nhiệm vụ quan trọng là bảo vệ các quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền con người, bảo vệ các thành quả về quyền con người mà nhân dân Việt Nam nói chung, cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam nói riêng đã đạt được trong hơn 9 thập niên qua; đồng thời kiên quyết chống lại các luận điệu sai trái, xuyên tạc, vu cáo của một số thế lực thù địch nhằm lợi dụng vấn đề dân tộc để kích động, chia rẽ, tạo sự bất ổn về chính trị, xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, làm suy giảm lòng tin của đồng bào vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước…

Thực hiện Công ước CERD, Chính phủ Việt Nam đã giao Uỷ ban Dân tộc chủ trì phối hợp với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành liên quan xây dựng báo cáo quốc gia và tổ chức bảo vệ tại Ủy ban Công ước CERD, hướng tới mục tiêu đóng góp vào việc ngăn chặn và chống lại sự phân biệt chủng tộc.

Việt Nam đã 4 lần bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia thực thi Công ước CERD vào các năm 1983, 1993, 2000 và 2012. Tại khóa họp lần thứ 111 (ngày 29, 30/11/2023), Việt Nam trình bày báo cáo quốc gia định kỳ từ lần thứ 5 theo hướng dẫn của Ủy ban Công ước CERD.

Báo cáo tập trung thể hiện kết quả Việt Nam thực thi Công ước CERD từ năm 2013 - 2019, cụ thể là các nội dung: Hệ thống pháp luật Việt Nam và các thiết chế bảo đảm, thúc đẩy quyền của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam; Định nghĩa phân biệt chủng tộc và đánh giá sự phù hợp của định nghĩa phân biệt chủng tộc trong các điều luật của Việt Nam; Vai trò quan trọng của công tác dân tộc và thực hiện các chính sách dân tộc trong việc xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Kết quả thực hiện các cam kết cấm và xoá bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam; Các biện pháp đảm bảo cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam không phải chịu bất cứ hành động phân biệt chủng tộc nào.

Ngoài việc bảo vệ báo cáo quốc gia trước Uỷ ban Công ước CERD, Việt Nam còn tham gia tích cực các phiên đối thoại với các Ủy ban Công ước CERD và nghiêm túc xem xét các khuyến nghị, nghiên cứu, xây dựng kế hoạch triển khai tăng cường thực thi các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên./.

ST.

Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc

Từ chủ trương, đường lối đến hiện thực cuộc sống đều là những luận cứ đanh thép, thuyết phục, có ý nghĩa then chốt trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc; bác bỏ những luận điệu sai trái, vu cáo, xuyên tạc của các thế lực thù địch hòng phủ nhận thành tựu bảo đảm quyền cho người dân tộc thiểu số và lợi dụng vấn đề dân tộc để kích động, chia rẽ, tạo sự bất ổn về chính trị ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Bắc
 (ảnh tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Sinh thời, trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ miền núi, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Chính sách của Đảng và Chính phủ ta đối với miền núi là rất đúng đắn. Trong chính sách đó có hai điều quan trọng nhất là: Đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào”.

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, với 53 dân tộc thiểu số. Kể từ ngày thành lập, 94 năm qua (1930 - 2024), Đảng ta luôn vận dụng sáng tạo, hiệu quả chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh cùng sự phát triển, không ngừng tự hoàn thiện nhận thức, lý luận về vấn đề dân tộc và giải quyết quan hệ dân tộc phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước và yêu cầu nhiệm vụ đặt ra cho từng thời kỳ.

Ngay từ Đại hội Đảng lần thứ I (tháng 3/1935), Đảng đã đề ra Nghị quyết về công tác trong các dân tộc thiểu số. Nghị quyết có đoạn nêu rõ: “Đảng Đại hội xét rằng lực lượng tranh đấu của các dân tộc thiểu số là một lực lượng rất lớn”… và “sự miệt thị công tác trong các dân tộc thiểu số là một lầm lỗi chính trị rất to lớn”…

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2/1951), Đảng chỉ rõ: “Các dân tộc trên đất nước Việt Nam được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết giúp đỡ nhau để kháng chiến và kiến quốc. Kiên quyết chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đánh đổ âm mưu gây chia rẽ dân tộc của đế quốc và bè lũ tay sai. Cải thiện đời sống đồng bào, giúp họ tiến bộ về mọi mặt, đảm bảo họ tham gia chính quyền và dùng tiếng mẹ đẻ trong giáo dục địa phương thiểu số”.

Tháng 8/1952, Bộ Chính trị có nghị quyết về “Chính sách dân tộc thiểu số của Đảng hiện nay”.

Ngày 22/6/1953, Chính phủ ban hành chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam, trong đó khẳng định đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ để kháng chiến, kiến quốc, giúp nhau tiến bộ về mọi mặt.

Đại hội IV (1976), Đảng chủ trương: “Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam… Chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ít người với dân tộc đông người; đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp; làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, văn minh, hạnh phúc, đoàn kết giúp nhau tiến bộ, cùng làm chủ tập thể Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Đại hội VI (1986) là Đại hội của đường lối Đổi mới đất nước, song với vấn đề dân tộc, Đảng ta kiên trì chủ trương: “Phát triển mối quan hệ tốt đẹp gắn bó giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng làm chủ tập thể, kết hợp phát triển kinh tế và phát triển xã hội”.

Qua các kỳ Đại hội VII đến XII, Đảng ta đều tiếp tục khẳng định lại và bổ sung, đổi mới trong việc đề ra chủ trương, đường lối để lãnh đạo về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc.

Như vậy, có thể thấy rất rõ, qua các thời kỳ khác nhau, với những nhiệm vụ cách mạng khác nhau nhưng quan điểm của Đảng ta về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, chính sách dân tộc luôn nhất quán quan điểm: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Thực hiện tốt chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, giúp nhau cùng phát triển”, Việt Nam không ủng hộ phân biệt đối xử giữa các dân tộc.

Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam luôn bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển

Sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trên cơ sở nhận định sâu sắc tình hình trong nước, thế giới cũng như tầm quan trọng của vấn đề dân tộc và giải quyết quan hệ dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 12/3/2003, tại Hội nghị lần thứ 7 khóa IX, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc trong tình hình mới. Trong Nghị quyết này, Ban Chấp hành Trung ương đề ra 5 quan điểm, đó là:

Thứ nhất, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.

Thứ hai, các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

Thứ ba, phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội; thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Thứ tư, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc thiểu số và miền núi; trước hết, tập trung phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.

Thứ năm, công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.

Riêng đối với Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc trong tình hình mới, Đảng ta đã 2 lần tiến hành tổng kết. Lần đầu vào năm 2009, sau đó, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 57-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW. Lần tổng kết thứ hai vào năm 2019, sau đó, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, trong đó Đảng đã đề ra chủ trương, đường lối cho công tác dân tộc giai đoạn 2021 - 2030 với rất nhiều điểm mới, mang tính đột phá.

Đến Đại hội XIII (2021), Đảng đã khẳng định chủ trương về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc cho giai đoạn 2021 - 2025, đó là: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc trên tất cả các lĩnh vực, nhất là các chính sách đặc thù giải quyết những khó khăn của đồng bào dân tộc thiểu số. Tạo sinh kế, việc làm, định canh, định cư vững chắc cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Tập trung triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Bảo vệ và phát triển dân số các dân tộc thiểu số có dưới 10.000 người, đặc biệt là những dân tộc thiểu số có nguy cơ suy giảm giống nòi”.

Không lâu sau Đại hội XIII, nhân kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2021) và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 (ngày 23/5/2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.

Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phân tích và nêu rõ: một trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là “các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển”…; “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam; không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo”.

Cùng với đó, trong bài viết “Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc, là cội nguồn sức mạnh để dân tộc ta mãi mãi trường tồn và phát triển, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là đường lối chiến lược, có ý nghĩa sống còn của cách mạng Việt Nam”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Nền tảng vững chắc của đại đoàn kết dân tộc là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; là mối quan hệ “máu thịt” giữa Đảng với nhân dân, là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta; là sự đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, giữa cộng đồng các dân tộc Việt Nam, giữa đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa những người theo các tôn giáo khác nhau; giữa người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài; là đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới".

Như vậy, về mặt đối nội, hệ thống các quan điểm, đường lối vấn đề dân tộc của Đảng là mục tiêu, căn cứ, cơ sở chính trị để Nhà nước thể chế thành Hiến pháp, pháp luật và các chính sách dân tộc, huy động các tổ chức chính trị - xã hội cùng phối hợp thực hiện, tạo ra sức mạnh tổng thể của cả hệ thống chính trị cùng nhau xây dựng các mối quan hệ dân tộc tốt đẹp; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ổn định chính trị và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa mang đặc trưng của Việt Nam./.

ST.

Nghiên cứu lý luận chính trị góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Những năm qua, đặc biệt từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự đã quán triệt, xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo và tổ chức thực hiện phù hợp, trong đó đã thể hiện rõ vai trò của nghiên cứu lý luận chính trị trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự là cơ quan nghiên cứu khoa học đa ngành có chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, tổng kết, phát triển và ứng dụng tri thức khoa học xã hội nhân văn vào lĩnh vực quân sự. Những năm qua, Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự đã chủ động đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận chính trị. Qua đó, trực tiếp góp phần quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Cụ thể, công tác nghiên cứu lý luận chính trị ở Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự đã góp phần tổng kết, bổ sung phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Trên cơ sở bám sát chức năng, nhiệm vụ được giao, hằng năm, Viện đã tổ chức nghiên cứu khoa học chặt chẽ, tuân thủ các nguyên tắc lãnh đạo, chỉ huy và quản lý tập trung, thống nhất của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng Cục Chính trị và Học viện Chính trị; triển khai đồng bộ nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhiều loại hình nghiên cứu, cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng; cả nghiên cứu lý luận chính trị, cả tổng kết thực tiễn với nhiều loại hình và quy mô đề tài khác nhau, nhiều chuyên đề khoa học, hội thảo, tọa đàm, sinh hoạt học thuật, biên soạn sách, viết báo, tạp chí và thực hiện nhiều nhiệm vụ nghiên cứu, tổng kết lý luận do Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, Học viện Chính trị giao. Trong đó, đã tâp trung nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới.

Đặc biệt, Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự đã có đóng góp quan trọng vào việc tổng kết công tác lý luận trong thời kỳ đổi mới; tổng kết nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; tổng kết quan điểm lý luận bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam và 10 năm thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Tổng kết, bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991; tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 9/10/2014 của Bộ Chính trị về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030; nghiên cứu, tổng kết đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc đối với Việt Nam; tiếp tục nghiên cứu kiện toàn cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam và sự nghiệp quốc phòng.

Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu lý luận chính trị của Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự còn góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước, Quân đội hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, xây dựng quân đội tinh nhuệ về chính trị trong tình hình mới.

Hội thảo đề cương chi tiết xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh nhuệ về chính trị trong tình hình mới do Viện Khoa học xã hội  và Nhân văn Quân sự chủ trì thực hiện. (Ảnh: Ngọc Tân). 

Viện đã triển khai đồng bộ nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhiều loại hình nghiên cứu, trong đó nghiên cứu lý luận chính trị của Viện được đẩy mạnh. Tập trung nghiên cứu tổng kết quá trình hình thành, phát triển chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam, qua đó đóng góp quan trọng vào việc tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; góp phần phát triển khoa học xã hội và nhân văn quân sự, đóng góp quan trọng vào việc bổ sung và phát triển lý luận bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh nhuệ về chính trị trong điều kiện mới.

Với kết quả nghiên cứu lý luận nói chung và nghiên cứu lý luận chính trị nói riêng, Viện đã tham mưu, đề xuất và trực tiếp nghiên cứu nhiều vấn đề mới đặt ra trong bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Các công trình nghiên cứu của Viện đã cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách quốc phòng, quân sự Việt Nam, góp phần phát triển và từng bước hoàn thiện tư duy lý luận của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng quân đội tinh nhuệ về chính trị trong thời kỳ mới.

Đặc biệt, công tác nghiên cứu lý luận chính trị của Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự cũng góp phần cung cấp luận cứ, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng.

Là một trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn quân sự của quân đội, Viện đã tích cực, chủ động thực hiện nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với nhiều cách thức, phương pháp hiệu quả. Trong đó, coi trọng nghiên cứu lý luận chính trị, tổng kết thực tiễn, góp phần nhận diện rõ hơn, đầy đủ hơn về các thế lực thù địch, đề xuất đúng, trúng các nội dung, hình thức, biện pháp đấu tranh. Thông qua đề tài khoa học, sách, hội thảo, các bài báo, bài viết chính luận đấu tranh có tính lý luận và thực tiễn cao, giàu tính thuyết phục, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Phân tích, nêu bật giá trị, sức sống, khả năng tiếp thu và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Làm rõ bản chất cách mạng, khoa học của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo sự đồng thuận và nhất trí cao trong quán triệt, tổ chức thực hiện, đưa chủ trương, chính sách vào cuộc sống. Phản bác kịp thời những luận điệu xuyên tạc đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Vạch mặt những thủ đoạn lợi dụng dân chủ, núp bóng “phản biện” bóp méo các chủ trương, chính sách trên các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, khoa học, quốc phòng - an ninh, đối ngoại gây sự phân tâm, giảm sút lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Đây có thể coi là những điểm mấu chốt của đổi mới, nâng cao chất lượng đấu tranh tư tưởng, lý luận ở Viện trong tình hình mới.

Hiện nay, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và cả hệ thống chính trị. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII đã khẳng định rõ yêu cầu: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Quán triệt sâu sắc quan điểm nói trên, để phát huy vai trò nghiên cứu lý luận chính trị ở Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng nghiên cứu lý luận chính trị ở Viện. Đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu; mà nội dung chủ yếu là phải thường xuyên quán triệt đầy đủ, sâu sắc các chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên về nghiên cứu khoa học và nghiên cứu lý luận chính trị; cấp ủy, chỉ huy các cấp phải coi trọng việc quán triệt, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho đội ngũ đảng viên, cán bộ nghiên cứu; tăng cường hội thảo, tọa đàm, trao đổi nâng cao nhận thức, trách nhiệm về nghiên cứu lý luận chính trị ở Viện.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, sự quản lý của người chỉ huy các cấp đối với nghiên cứu lý luận chính trị, làm cho hoạt động này luôn được lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý chặt chẽ, bảo đảm tính khoa học và giữ vững định hướng chính trị trong nghiên cứu. Cùng với tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Tổng cục Chính trị, Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện Chính trị, phải bảo đảm sự lãnh đạo thường xuyên, trực tiếp của Đảng ủy, quản lý của Chỉ huy Viện; phát huy vai trò của các chi bộ, chi ủy các ban nghiên cứu; xây dựng Viện, các ban vững mạnh toàn diện, ngang tầm, đủ sức lãnh đạo hoạt động nghiên cứu lý luận chính trị.

Ba là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ nghiên cứu lý luận chính trị. Nhận thức được tầm quan trọng của cán bộ nghiên cứu khoa học, trong thời gian tới, Đảng ủy, Chỉ huy Viện sẽ tập trung vào tuyển chọn, tạo nguồn, quy hoạch cán bộ nghiên cứu lý luận chính trị; đồng thời yêu cầu phải bồi dưỡng nâng cao tri thức, trình độ, đúc rút phương pháp, qua thực tiễn triển khai các công trình, đề tài nghiên cứu lý luận chính trị; làm tốt công tác quản lý, đánh giá, luân chuyển, bố trí, sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận chính trị; coi trọng phát huy tính chủ động, tự giác của đội ngũ cán bộ, phấn đấu, tu dưỡng, học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất, năng lực, phong cách công tác.

Bốn là, xác định chính xác các nội dung, vận dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp nghiên cứu lý luận chính trị. Đây là một trong những yêu cầu rất cao nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu lý luận chính trị của Viện trong thời gian tới. Trong đó, cần tập trung xác định những vấn đề lý luận quan trọng đã được vận dụng và đang nảy sinh đặt ra, đón trước các vấn đề cần nghiên cứu tổng kết trong thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng quân đội tinh nhuệ về chính trị; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; những vấn đề về giữ vững bản chất chính trị của Quân đội, nguyên tắc lãnh đạo và tổ chức quân đội dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Đồng thời, phải coi trọng vận dung phương pháp nghiên cứu lý luận chính trị, thực hiện đa dạng các loại hình, cấp độ nghiên cứu, làm cho hoạt động nghiên cứu lý luận chính trị của Viện ngày càng đi vào chiều sâu, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao./.

ST.