Thứ Tư, 2 tháng 10, 2024

NGHĨA ĐỒNG BÀO

 Cũng vì hai tiếng “đồng bào” ấy, mà bao thế hệ đã chiến đấu, hy sinh giải phóng ách nô lệ, giành độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho đồng bào mình.

Chúng ta, ai cũng từng được nghe sự tích Âu Cơ - Lạc Long Quân với bọc trăm trứng nở ra một trăm người con. Đó chính là cội nguồn của dân tộc Việt Nam, cắt nghĩa hai chữ “đồng bào”, chung một nguồn cội con Rồng - cháu Tiên.
“Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Tiếng “đồng bào” cất lên thật gần gũi, đầy xúc cảm khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập vào ngày 2/9/1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cũng vì hai tiếng “đồng bào” ấy, mà bao thế hệ đã chiến đấu, hy sinh giải phóng ách nô lệ, giành độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho đồng bào mình.
Cơn bão số 3 (Yagi) vừa tàn phá nhiều tỉnh thành phía Bắc được đánh giá là siêu bão, với sức gió giật cấp 15, 16, chưa từng có trong 30 năm trở lại đây. Bão vừa đi qua, thì lũ lụt, sạt lở đất ập về gây biết bao thiệt hại cho Nhà nước và đồng bào. Tính đến nay, đã có hàng trăm người chết và mất tích, con số này còn thay đổi khi tình hình mưa lũ, sạt lở đất vẫn diễn biến phức tạp.
Cũng giống như các đợt thiên tai hoành hành trước, ở đâu đồng bào ta gặp thiên tai, ở đó đều nhận được sự chia sẻ, tinh thần tương thân, tương ái của nhân dân cả nước. Cả hệ thống chính trị gồm chính quyền các cấp, quân đội, công an và nhân dân đều vào cuộc. “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ” thực sự là truyền thống quý báu của dân tộc, là nghĩa đồng bào đã kết tinh vào văn hóa, vào thái độ sống của mỗi người dân Việt Nam.
Tôi thực sự xúc động trước hình ảnh chia sẻ trên mạng xã hội: Những xe ô tô đi chậm để che chắn gió cho người đi xe máy trên cây cầu Nhật Tân, Vĩnh Tuy hoặc trên đường cao tốc khi bão dữ dằn đổ vào Hà Nội. Tôi khâm phục những con người bất chấp nguy hiểm lao vào cứu đồng bào mình trong đống đổ nát do sụt lở đất gây ra. Cơn bão vừa đi qua, ở nhiều địa phương, người dân cùng lực lượng chức năng tự nguyện dọn dẹp, cưa cắt những cây xanh bị đổ để cho bà con được đi lại bình thường.
Với chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và người đứng đầu Chính phủ, không để người dân nào bị đói rét, không có chỗ ở; không để bất cứ ai bị bỏ lại phía sau. Hàng trăm nghìn cán bộ, chiến sĩ bộ đội, công an đã hành quân xuyên đêm vào vùng lũ để cứu giúp người dân. Hình ảnh bộ đội, công an ngâm mình trong nước lũ, cõng trên lưng những bà mẹ già, bế những em bé thoát khỏi vùng nguy hiểm đã trở nên quá đỗi quen thuộc. Họ sẵn sàng vì nhân dân quên mình vì đó là nhiệm vụ của người lính, nhưng trên hết, đó là mệnh lệnh từ trái tim với đồng bào mình.
Cơn bão số 3 vừa đi qua, mưa lớn xối xả, nước lũ tràn về, tin tức về những vùng bị thiệt hại khiến người dân cả nước xót xa. Ngay từ thời điểm ấy, những hội nhóm thiện nguyện, những con người tình nguyện đã kêu gọi mọi người chung tay vì đồng bào nơi thiên tai. “Một miếng khi đói không bằng một gói khi no”, những chuyến hàng cứu trợ xuyên đêm, xuyên mưa đã đến tay đồng bào ở những vùng thiên tai.
Bà con ở Thái Nguyên, Tuyên Quang và nhiều nơi khác nằm trong vùng ảnh hưởng của bão lũ. Người sắp bị ngập thì giúp đồng bào ở những nơi ngập sâu, những hộp cơm thơm dẻo nghĩa tình làm ấm lòng đồng bào trong cơn hoạn nạn.
“Nhà tôi có phòng ở xin được đón bà con vùng thiên tai”, “Tôi có mấy đôi thuyền xin được góp ứng cứu đồng bào vùng lũ”, “Doanh nghiệp của tôi có mười xe tải vận chuyển miễn phí hàng cứu trợ”... Những dòng trạng thái như thế xuất hiện ngày một nhiều trên mạng xã hội.
Trong triệu triệu tấm lòng hướng về đồng bào vùng thiên tai, điều gây cảm xúc lớn cho tôi chính là nhóm phản ứng nhanh ở Huế, ở Quảng Bình. Họ là đồng bào ở khúc ruột miền trung thân yêu, nơi luôn chịu những đau thương, mất mát do bão lũ. Ngay sau khi thấy đồng bào miền Bắc chịu nhiều thiệt hại to lớn do bão, họ đã tình nguyện lên đường. Người nọ nói với người kia, lúc này là lúc phải đền đáp lại nghĩa tình của đồng bào cả nước đối với nhân dân miền Trung, cứ thế, đoàn tình nguyện ngày một đông hơn. Họ đến Hải Phòng, Quảng Ninh cưa cắt cây xanh bị đổ, dọn dẹp đường phố, làm bất cứ việc gì mà địa phương yêu cầu...
Đã có người nói với tôi rằng, xã hội bây giờ, tình nghĩa con người ngày một kém đi. Tôi thì không nghĩ như vậy! Nghĩa đồng bào trong con người Việt Nam ta không bao giờ mất, nó là một “mã gen” bất biến trong mỗi con dân đất Việt; nó ẩn chứa trong dòng máu, trong hơi thở con cháu dòng dõi Tiên - Rồng. Nó tạm lắng ẩn để rồi lại bùng lên mạnh mẽ khi Tổ quốc gặp khó khăn cần chung tay, góp sức; khi đồng bào gặp hoạn nạn cần sẻ chia cứu giúp.
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
Câu ca dao ăn sâu vào tiềm thức mỗi người dân Việt Nam, là lời ru của mẹ lúc đầu đời đã thổi vào tâm hồn mỗi chúng ta về cách đối nhân xử thế với đồng bào mình, nhất là trong những thời điểm khó khăn nhất.
Thế giới rồi sẽ biến động, nhưng có một điều không bao giờ thay đổi ở con người Việt Nam chúng ta, đó là nghĩa đồng bào. Tính bất biến trong nghĩa đồng bào, tạo nên sức mạnh nội sinh, giúp chúng ta thêm gắn kết, cùng chung tay đẩy lùi mọi vật cản trên con đường đi tới tương lai ấm no, giàu mạnh của dân tộc./.
St

Tán phát thông tin phá hoại tư tưởng, kích động chống phá

 Với âm mưu lâu dài là xoá bỏ chế độ XHCN, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức phản động lưu vong Việt Tân tiếp tục thay đổi phương thức hoạt động. Các đối tượng triệt để sử dụng không gian mạng để thực hiện “Chiến lược diễn biến hoà bình”, “đấu tranh bất bạo động”; lợi dụng tình hình, vụ việc “nóng” để tiến hành các hoạt động khủng bố, phá hoại, kích động, bạo loạn, biểu tình chống Đảng, Nhà nước.

YÊU CẦU NÊU GƯƠNG VỚI CÁN BỘ HIỆN NAY

 

Đối với cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo phải ra sức rèn luyện, nêu cao bản lĩnh chính trị, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, năng động và sáng tạo. Từ trí tuệ, năng lực và nhân cách của mình mà phấn đấu, cống hiến cho Đảng, đất nước và xã hội, không cơ hội chính trị, không chạy chức, chạy quyền, không tham vọng quyền lực hoặc lợi dụng chức quyền của mình để trục lợi, xếp đặt chức quyền cho người nhà, người thân. Khi tự mình thấy không có đủ năng lực và uy tín hoặc để xảy ra vụ việc nghiêm trọng thuộc trách nhiệm lãnh đạo, quản lý thì nên chủ động từ chức. Cùng với đó, cán bộ, đảng viên cần nêu gương về lập trường quan điểm, kiên quyết đấu tranh chống những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ và kiên định con đường xã hội chủ nghĩa.

 

BIẾT YÊU VÀ BIẾT ĐỦ

 “Biết yêu và biết đủ - nhìn từ cơn bão số 3” là chủ đề diễn đàn của nhiều tổ chức, hội, nhóm người trẻ nhằm lan tỏa những giá trị sống đẹp, trách nhiệm của mỗi người trong việc kiến tạo môi trường sống an toàn, hạnh phúc.

Điều mà chắc hẳn mọi người đều thấy trong cơn bão số 3, triết lý sống của người Việt Nam như “bầu ơi thương lấy bí cùng”, “thương người như thể thương thân” được hiện thực hóa một cách rõ nét. Những giá trị này không chỉ là tục ngữ hay triết lý sống đơn thuần, mà là tất cả sự yêu thương và sẻ chia sâu sắc của cộng đồng, đã trở thành ánh sáng dẫn đường trong thời khắc khó khăn.
Biết yêu thương, sẻ chia mà các diễn đàn đúc rút từ thảm họa của thiên tai, không chỉ là tình yêu với nhân loại, mà còn bao hàm trách nhiệm của mỗi người trong việc kiến tạo môi trường sống an toàn cho cộng đồng. Nhiều người vẫn hy vọng rằng, mất mát, đau thương sau cơn bão sẽ là bài học thức tỉnh lương tri của những ai đã từng hay có ý định đánh cắp, phá hủy tài nguyên và môi trường sống trong lành.
Cơn bão số 3 là lời nhắc nhở mạnh mẽ từ thiên nhiên về những hậu quả mà chính con người gây ra. Chặt phá rừng, khai thác thiên nhiên một cách không kiểm soát đã đẩy chúng ta đối diện với những cơn thịnh nộ của đất trời. Khi thiên nhiên bị tàn phá, dòng nước hiền hòa trở nên hung hãn, cơn mưa nhẹ nhàng trở thành lũ dữ cuốn phăng đi tất cả.
Vì lợi ích cá nhân trước mắt, đâu đó người ta quên mất rằng thiên nhiên là "người bạn", "người mẹ" nuôi dưỡng ta. Khi chúng ta biết đủ, biết trân quý những gì thiên nhiên ban tặng, không tham lam khai thác đến cạn kiệt, thì thiên nhiên sẽ mang lại cho ta sự bình yên và ấm áp. Yêu thiên nhiên, bảo vệ môi trường chính là cách chúng ta cùng kiến tạo một môi trường sống thân thiện, an toàn cho chính bản thân và cộng đồng. Tất cả chúng ta đều phải có trách nhiệm trong việc bảo đảm rằng, không còn một hành động phá hủy môi trường nào được tái diễn.
Những nỗi đau, vụn vỡ khó có thể chữa lành sau cơn lũ dữ cũng khiến chúng ta nhìn lại cuộc sống của chính mình. Hạnh phúc không phải là sở hữu thật nhiều, mà là biết trân trọng những gì mình đang có. Khi bão đến, một căn nhà nhỏ, khoảnh khắc quây quần bên gia đình bỗng trở nên quý giá hơn bao giờ hết. Điều quan trọng là phải biết đủ - đủ yêu thương, đủ bình yên, đủ để cảm thấy hạnh phúc mỗi ngày.
Bài học từ cơn bão số 3 không chỉ nằm ở việc sửa chữa những gì đã mất, mà còn là học cách sống sao để biết yêu và biết đủ, để mỗi ngày, dù mưa hay nắng, chúng ta đều có thể tìm thấy hạnh phúc từ những điều giản dị./.
St

TIẾP TỤC KIÊN TRÌ VÀ VẬN DỤNG SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH CỤ THỂ CỦA ĐẤT NƯỚC

 

Quán triệt, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Điều này đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu sâu sắc, toàn diện và có hệ thống những di sản tư tưởng, lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh; phải đổi mới tư duy để trở về đúng bản chất hệ thống luận điểm đã hình thành trong những điều kiện lịch sử cụ thể.

Phải đặt những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong cả hệ thống như một chỉnh thể, với quan hệ gắn bó giữa các luận điểm.

 Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải trên cơ sở khách quan, dám nhìn thẳng vào sự thật và chấp nhận thách thức, cương quyết phê phán những quan điểm đi ngược lại những gì thuộc về bản chất, nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 

Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin nghĩa là phải nắm vững bản chất khoa học và cách mạng, vận dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta. Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải trên cơ sở thực tiễn xây dựng đất nước, phải luôn tìm tòi sáng tạo những giải pháp đặc thù cho sự phát triển đất nước. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải vận dụng sáng tạo, hình thành những giải pháp hợp lý, xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước để từng bước thực hiện mục tiêu giải phóng và phát triển con người toàn diện. Từ định hướng có tính nguyên tắc chung ấy cần phải cụ thể hóa nhanh chóng thành các chính sách, xây dựng cơ chế bảo đảm thực hiện các chính sách để người Việt Nam ngày càng được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cùng với tiến trình phát triển đất nước.

 

TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG ĐẢNG, CHỐNG QUAN ĐIỂM ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG

 

Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, phẩm chất đạo đức, tổ chức, cán bộ; đổi mới phương thức lãnh đạo, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm cho Đảng đủ sức lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước không ngừng phát triển.

Tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới; khẳng định bản chất và mô hình của thể chế chính trị và bộ máy nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Hiến pháp năm 2013;

Tuyệt đối không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; kiên quyết đấu tranh với những quan điểm tư tưởng chính trị sai trái, thù địch đòi đa nguyên, đa đảng.

 

NƠI NÀO CÓ DÂN, NƠI ẤY CÓ ĐẢNG

 Xác định tổ chức cơ sở Đảng (TCCSĐ) có vai trò quan trọng, là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị lãnh đạo mọi mặt hoạt động ở cơ sở, thời gian qua, Đảng bộ huyện Phong Thổ đã chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các TCCSĐ và chất lượng đội ngũ đảng viên. Với tinh thần “Nơi nào có dân, nơi ấy có Đảng” mọi chủ trương, đường lối, chính sách đã được cụ thể hóa đi vào cuộc sống giúp thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị được giao, đưa huyện vùng biên ngày càng phát triển.

Đảng - Dân: chan chứa ân tình.
Phong Thổ là huyện biên giới mang trong mình những khó khăn của vùng cao song dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp là Đảng bộ tỉnh Lai Châu, huyện Phong Thổ đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thành quả trong gian khó là minh chứng xác thực để trong suốt quá trình xây dựng, trưởng thành, Đảng bộ huyện Phong Thổ càng thêm tin tưởng vào hướng đi đúng đắn, kiên quyết trung thành, kiên định với lý tưởng, mục tiêu một Đảng duy nhất.
Đảng hiện hữu trong tâm trí mỗi người dân.
Trở lại thăm huyện Phong Thổ những ngày tháng 9 khi khắp các tuyến đường trang hoàng cờ, hoa rực rỡ chào mừng kỷ niệm 79 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, chúng tôi cảm nhận được sự đổi thay tích cực của huyện anh hùng. Diện mạo huyện từ đô thị đến nông thôn khởi sắc, tràn đầy sức sống mới. Người dân nơi nơi hân hoan niềm vui trong ngày Tết Độc lập. Ấn tượng nhất là ngay trong câu chuyện của các thế hệ, tư tưởng, nhận thức về Đảng có sự chín chắn, sâu sắc.
Bà Trần Thị Đặm - 67 tuổi, người dân thôn Vàng Bó (thị trấn Phong Thổ) phấn khởi chia sẻ: bà sinh sống lâu năm ở huyện, chứng kiến đời sống của bà con thay đổi từng ngày. Người người có cơm ăn, áo mặc đầy đủ, nhà cửa xây dựng khang trang, con cháu được học hành không còn phải nghỉ học đứt bữa như trước. Gia đình bà cũng ổn định đời sống, có của ăn, của để. Bà thấy vui mừng, thầm cảm ơn Đảng, cảm ơn Bác Hồ đã mang lại cuộc sống ấm no cho nhân dân.
Được biết, với người dân huyện Phong Thổ, Đảng còn hiện hữu thường xuyên qua các chủ trương, đường lối cụ thể, qua các TCCSĐ và từng đảng viên. Đảng có mặt trong cuộc sống hàng ngày một cách rõ ràng, cụ thể. Theo chia sẻ của cô giáo Hà Thị Tiền - Đảng viên Chi bộ Trường THPT Phong Thổ thì chị kết nạp đảng năm 2018. Trong những năm qua, tính tiền phong gương mẫu của người đảng viên luôn nhắc nhở chị không ngừng cố gắng hoàn thiện bản thân, thực hiện tốt mọi công việc được giao của một giáo viên dạy môn Hóa Học các khối 10, 11, 12.
Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, đồng chí Đinh Quang Tuấn - Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Phong Thổ cho biết: Những năm qua, các TCCSĐ đã có nhiều cố gắng để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, là “sợi dây” kết nối giữa Đảng với quần chúng. Chỉ tính riêng trong nhiệm kỳ 2015-2020, chỉ thị, nghị quyết của Đảng được quán triệt, học tập kịp thời; công tác phát triển đảng viên được quan tâm cả về số lượng và chất lượng. Việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở, thôn, bản được quan tâm. Công tác cán bộ được triển khai đồng bộ ở tất cả các khâu, đảm bảo nguyên tắc, đúng quy trình, thủ tục theo quy định...
Nhìn thẳng, nói thật, không né tránh.
Bên cạnh kết quả đạt được, trong nhiệm kỳ 2015-2020 các TCCSĐ trong huyện vẫn còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế như: có TCCSĐ chậm đổi mới phương thức lãnh đạo; chất lượng sinh hoạt chi bộ có nơi còn thấp, mang tính hình thức, tinh thần tự phê bình và phê bình chưa cao. Việc vận dụng, triển khai thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng ở một số nơi, trong một số lĩnh vực kết quả đạt thấp, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.
Trên tinh thần nhìn thẳng, nói thật, không né tránh, các TCCSĐ từ huyện đến cơ sở thẳng thắng chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế cả về chủ quan và khách quan. Đó là phương thức lãnh đạo, phong cách, lề lối làm việc của một số cấp ủy, đảng viên là người đứng đầu ở cơ sở chưa thật sự đổi mới, chưa thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ của cấp dưới; chưa coi trọng vị trí, vai trò của sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp ủy đối với việc xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh; năng lực, ý thức trách nhiệm của một số cán bộ, công chức còn hạn chế, có mặt chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong khi trình độ, nhận thức của một bộ phận nhân dân còn hạn chế…
Nhìn lại chặng đường khi mới thành lập (năm 2002), Đảng bộ Công an huyện Phong Thổ chỉ có 33 đảng viên tham gia sinh hoạt ở 4 chi bộ. Sau này, Đảng bộ phát triển dần lên 7 chi bộ với 78 đảng viên. Trong quá trình hoạt động, Đảng bộ gặp phải khó khăn do một số TCCSĐ đông đảng viên nhưng không có cán bộ chuyên trách, bí thư cấp ủy kiêm nhiệm. Đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ chuyên trách công tác đảng ít kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng, chưa thường xuyên được bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ, cập nhật kiến thức mới… những điều này phần nào ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của TCCS Đảng.
Với Đảng bộ xã Bản Lang, năm 2019 mới có 218 đảng viên, việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ gặp khó do trình độ của một số đồng chí Bí thư, Phó Bí thư Chi bộ còn hạn chế, chưa quan tâm đến tạo nguồn phát triển đảng viên. Trong khi đoàn viên trong xã đi làm ăn xa nhiều, ít tham gia hoạt động của bản. Hay như ở Chi bộ Trường THPT Phong Thổ vẫn có đảng viên tinh thần phê bình và tự phê bình chưa cao, khi tham gia đóng góp ý kiến còn nể nang, ngại va chạm.
Trước những khó khăn, tồn tại, hạn chế được chỉ ra đòi hỏi các TCCSĐ trong Đảng bộ huyện nỗ lực, cố gắng không ngừng. Bước sang nhiệm kỳ 2020-2025, nhiều giải pháp đã được triển khai và càng khó khăn thì ý chí, nghị lực, tinh thần của người cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ huyện càng được thể hiện, phát huy. Tập thể Đảng bộ huyện kiên định mục tiêu lý tưởng 1 đảng duy nhất, kiên quyết lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi khó khăn, tháo gỡ mọi tồn tại, hạn chế để xây dựng tổ chức Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân./.
St

THỰC HIỆN NGHIÊM NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ ĐỂ BẢO ĐẢM CÔNG TÁC CÁN BỘ ĐẠT CHẤT LƯỢNG TỐT

  Sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh rất chú trọng nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng Đảng và hoạt động lãnh đạo của Đảng. Trong quá trình phát triển, Đảng ta luôn thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ, nên đã đạt được những kết quả quan trọng, song việc thực hiện nguyên tắc này ở một số tổ chức đảng còn nhiều hạn chế, khuyết điểm. Để xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc và thực hiện nghiêm nguyên tắc đặc biệt quan trọng này.

1. Mở đầu.
Ngay từ khi thành lập Đảng và trong suốt quá trình lãnh đạo Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trung thành và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về đảng cộng sản, trong đó đặc biệt chú trọng việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Hồ Chí Minh đề cập đến nguyên tắc tập trung dân chủ trong việc Đảng đề ra và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương; là nguyên tắc tổ chức cơ bản, chi phối sâu sắc các mặt công tác và hoạt động, trong đó có công tác cán bộ của Đảng. Thực hiện nghiêm nguyên tắc này là cơ sở để ra quyết định, chủ trương đúng và thực hiện tốt công tác cán bộ.
2. Quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng ta về nguyên tắc tập trung dân chủ.
Trong các bài viết, bài nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng phổ biến khái niệm “dân chủ tập trung”, đó là phong cách ngôn ngữ dịch trong thời kỳ đó và từ cuối năm 1959, Người dùng khái niệm “nguyên tắc tập trung dân chủ”. Qua các trình bày, giải thích của Hồ Chí Minh thấy rõ, quan điểm của Người về bản chất, nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ là sự quán triệt sâu sắc quan điểm về nguyên tắc tập trung dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung. Nghĩa là: có Đảng chương thống nhất, kỷ luật thống nhất, cơ quan lãnh đạo thống nhất. Cá nhân phải phục tùng đoàn thể, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương”. Người giải thích cụ thể: “có việc gì thì ai cũng được bàn, cũng phải bàn. Khi bàn rồi thì bỏ thăm, ý kiến nào nhiều người theo hơn thì được. Ấy là dân chủ. Đã bỏ thăm rồi, thì giao cho hội ủy viên làm, khi ấy thì tất cả hội viên phải theo mệnh lịnh hội ấy. Ấy là tập trung”. Người chỉ rõ sự thống nhất giữa dân chủ và tập trung trong nguyên tắc tập trung dân chủ: “Tập trung trên nền tảng dân chủ... Dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung”; “Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau... Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung”.
Về vai trò, tầm quan trọng của nguyên tắc tập trung dân chủ, Người khẳng định: “thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”. Đối với Đảng, nếu các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên nhận thức đúng, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ thì Đảng ngày càng vững mạnh, thống nhất cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động, để “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”.
Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức được khẳng định ngay từ Điều lệ đầu tiên của Đảng và được khẳng định nhất quán. Nhờ được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng đã phát huy được trí tuệ của toàn Đảng để đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, nội bộ Đảng đoàn kết, tổ chức chặt chẽ, hoạt động thông suốt, lãnh đạo dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đảng ta tổng kết: “Sự chặt chẽ về nguyên tắc là vấn đề sống còn của Đảng và bảo đảm quan trọng nhất cho sức sống, sự trong sạch và vững mạnh của Đảng”.
Điều lệ Đảng do Đại hội XI của Đảng thông qua tiếp tục khẳng định: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Điều 9 Điều lệ Đảng (Đại hội XI) đã xác định những nội dung cơ bản của nguyên tắc tập trung dân chủ gồm: “1 - Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; 2 - Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc; cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên; giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ; 3 - Cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp, trước cấp ủy cấp trên và cấp dưới; định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện tự phê bình và phê bình; 4 - Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng; thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương; 5 - Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành; trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình; đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp ủy cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Đảng; cấp ủy có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số; 6 - Tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không được trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên”.
Các nội dung đó chi phối, điều chỉnh hoạt động lãnh đạo của Đảng và tất cả các hoạt động trong nội bộ Đảng. Tổ chức đảng nào thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ thì đoàn kết thống nhất, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao; trái lại, tổ chức đảng nào không thực hiện nghiêm nguyên tắc thì nội bộ sẽ mất đoàn kết, suy giảm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, có thể dẫn đến các vi phạm, làm tổn hại đến sức mạnh và uy tín của Đảng. Thực tế thời gian qua cho thấy, hầu hết các tổ chức đảng, cán bộ bị xử lý kỷ luật đều do vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ.
3. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ thời gian qua.
Với vai trò, trách nhiệm của Đảng cầm quyền, Đảng thực hiện sự lãnh đạo đối với công tác cán bộ của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị”. Do trong các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đều có tổ chức đảng, các tổ chức đảng ấy đều thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, nên thông qua các tổ chức đảng này, nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ được áp dụng ở tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị.
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, trước yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp từ trung ương đến cơ sở, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữ vững độc lập tự chủ, đi lên CNXH; trên cơ sở các nguyên tắc được xác định trong Điều lệ Đảng và xuất phát từ thực trạng công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tập trung chỉ đạo nghiên cứu, ban hành nhiều nghị quyết, quyết định, quy chế, quy định để cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện.
Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chú trọng chỉ đạo việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống các quy chế làm việc của các cơ quan lãnh đạo đảng (cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng), trong đó xác định rõ thẩm quyền của tập thể lãnh đạo, trách nhiệm của cá nhân cán bộ lãnh đạo, mối quan hệ công tác giữa cơ quan lãnh đạo với cấp ủy, cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy cấp trên; với cơ quan lãnh đạo đảng cấp dưới trực tiếp; với các tổ chức đảng có liên quan; v.v..
Các quy chế làm việc này là văn bản thể hiện cụ thể nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của cơ quan lãnh đạo đảng, trong đó có công tác cán bộ; là căn cứ để kiểm tra, giám sát và kết luận, xử lý vi phạm (nếu có), khắc phục tình trạng chung chung, mơ hồ về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11-7-2023 của Bộ Chính trị “Về kiểm soát quyền lực và phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ” giúp cho việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ được nghiêm túc, chặt chẽ hơn.
Đồng thời, để đề cao vai trò của cá nhân người đứng đầu trong công tác cán bộ, ngày 23-4-2024, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 142-QĐ/TW thí điểm giao quyền, trách nhiệm cho người đứng đầu trong công tác cán bộ, gồm: giới thiệu nhân sự bầu cử, bổ nhiệm cấp phó của người đứng đầu; bầu bổ sung ủy viên ban thường vụ cấp ủy cùng cấp; bổ nhiệm, miễn nhiệm cấp trưởng cấp dưới trực tiếp thuộc thẩm quyền quản lý. Tuy nhiên, người đứng đầu chỉ giới thiệu nhân sự, còn thẩm quyền quyết định vẫn thuộc về tập thể cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị theo nguyên tắc tập trung dân chủ; đây là chủ trương thí điểm, người đứng đầu có thể thực hiện hoặc không thực hiện thẩm quyền này và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng được quy định trong Điều lệ Đảng đã cơ bản bảo đảm tính bao quát, toàn diện, đầy đủ và phù hợp... các nội dung cơ bản của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng quy định trong Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn của Trung ương đã được các cấp ủy, tổ chức đảng tuân thủ và thực hiện nghiêm túc” Để bảo đảm ngăn chặn kịp thời các tác động tiêu cực, gây cản trở việc xem xét, xử lý vi phạm đối với cán bộ, ngày 23-5-2024, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định 148-QĐ/TW về thẩm quyền của người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ cấp dưới trong trường hợp cần thiết hoặc khi có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, việc tạm đình chỉ công tác chỉ là việc buộc cán bộ dừng thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao trong thời hạn nhất định, không phải là hình thức kỷ luật; việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật vẫn thuộc thẩm quyền của tập thể cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra của cấp ủy theo quy định của Điều lệ Đảng.
Hầu hết các cấp ủy, tổ chức đảng đã quán triệt, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ. Do đó, các chủ trương về công tác cán bộ và việc thực hiện các khâu trong công tác cán bộ được các cấp ủy, tổ chức đảng bàn bạc, thảo luận dân chủ và quyết định theo đa số.
Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng được quy định trong Điều lệ Đảng đã cơ bản bảo đảm tính bao quát, toàn diện, đầy đủ và phù hợp... các nội dung cơ bản của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng quy định trong Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn của Trung ương đã được các cấp ủy, tổ chức đảng tuân thủ và thực hiện nghiêm túc”.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, Đảng ta đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động lãnh đạo nói chung, trong công tác cán bộ nói riêng. Hội nghị Trung ương 4 khóa XI nêu: “Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm. Do vậy, vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõ trách nhiệm cá nhân, vừa không khuyến khích người đứng đầu có nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm; tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ, hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân”.
Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số tổ chức đảng còn chưa nghiêm, thậm chí vi phạm”; “Nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện chưa nghiêm, thậm chí có nơi còn vi phạm nghiêm trọng… Một bộ phận cấp ủy viên chưa nắm vững và chấp hành nghiêm Điều lệ Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; thực hiện chưa đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn của đảng viên và của cấp ủy viên”.
Những biểu hiện vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ thường thấy là: một số người đứng đầu lợi dụng việc nguyên tắc này có nội dung chưa được quy định cụ thể, nhất là về mối quan hệ, trách nhiệm giữa tập thể, cá nhân người đứng đầu, chưa có chế tài trách nhiệm của cá nhân khi xảy ra sai phạm để áp đặt, thực hiện ý muốn của cá nhân mình, dẫn đến việc bổ nhiệm, bố trí cán bộ không trong sáng, “thần tốc”, cục bộ địa phương, vì “nhóm lợi ích”… quá trình thực hiện đúng quy trình, thủ tục, nhưng bổ nhiệm không đúng người, để lọt người không xứng đáng hoặc để sót người xứng đáng, một số cán bộ sau khi đã chuyển công tác, nghỉ công tác bị phát hiện có sai phạm, thậm chí bị xử lý hình sự.
4. Giải pháp để thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ.
Một là, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy viên, thành viên đảng đoàn, ban cán sự đảng, cán bộ, đảng viên về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, chỉ đạo toàn bộ công tác tổ chức và hoạt động của Đảng, đồng thời có quan hệ mật thiết với các nguyên tắc tổ chức và hoạt động khác của Đảng. Công tác cán bộ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng nên việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ có ý nghĩa, vai trò hết sức quan trọng, phải được nhận thức đúng để có hành động đúng, phải thống nhất về nhận thức để có sự thống nhất trong hành động.
Tiếp tục quán triệt sâu rộng đến các cấp ủy, tổ chức đảng và toàn thể cán bộ, đảng viên những quy định của Điều lệ Đảng; các nghị quyết của Đại hội Đảng; các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương; các nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư liên quan đến nguyên tắc tập trung dân chủ và công tác cán bộ. Trên cơ sở nhận thức đầy đủ, sâu sắc, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp xác định rõ trách nhiệm của mình trong thực hiện nghiêm nguyên tắc; định kỳ kiểm điểm việc thực hiện nguyên tắc, thẳng thắn chỉ ra những biểu hiện lệch lạc, vi phạm nguyên tắc để kịp thời chấn chỉnh, khắc phục. Chú trọng việc rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy chế làm việc của cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng, nhất là những quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể cấp ủy, tập thể ban thường vụ cấp ủy, tập thể đảng đoàn, ban cán sự đảng và bí thư, phó bí thư cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng; của cấp ủy viên, thành viên đảng đoàn, ban cán sự đảng đồng thời là người đứng đầu cơ quan nhà nước; về các chế độ thông tin, báo cáo, giải trình.
Cán bộ, đảng viên cần nhận thức đầy đủ tầm quan trọng, yêu cầu cấp bách và nội dung của việc thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ, từ đó vừa tự giác thực hiện đúng, vừa góp phần cùng tổ chức đảng thực hiện nghiêm nguyên tắc.
Hai là, cụ thể hóa, quy chế hóa nội dung nguyên tắc tập trung dân chủ trong các khâu của công tác cán bộ.
Cũng như mọi nguyên tắc, nguyên tắc tập trung dân chủ mang tính khái quát, trừu tượng. Khi đã khẳng định vai trò của nguyên tắc và trách nhiệm phải thực hiện nghiêm nguyên tắc và có quan điểm, chủ trương đúng đắn, cần có cách thức, quy trình, biện pháp nhằm thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong từng khâu của công tác cán bộ, tránh sai phạm.
Mặc dù Điều lệ Đảng đã xác định các nội dung của nguyên tắc, Ban Chấp hành Trung ương đã có các hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng và Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ trong các quy định, nhưng vẫn không thể quy định cụ thể, chi tiết cho từng tổ chức đảng ở từng cấp, từng lĩnh vực. Vì vậy, trên cơ sở các quy định của Trung ương, các cấp ủy, tổ chức đảng cần vận dụng, cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ phù hợp với thẩm quyền của cấp mình và đặc điểm đội ngũ cán bộ ở địa phương, cơ quan, đơn vị để bảo đảm công tác cán bộ được thực hiện đúng nguyên tắc nhưng không máy móc.
Để công tác cán bộ được thực hiện thống nhất, nền nếp, tránh tùy tiện, cần tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh các quy chế, quy định đối với từng khâu trong công tác cán bộ. Trong các quy chế, cùng với việc hoàn thiện quy trình, thủ tục thực hiện, cần quy định rõ trách nhiệm của từng chủ thể: tập thể ban chấp hành, tập thể ban thường vụ, bí thư, ủy ban kiểm tra, ban tổ chức của cấp ủy; cấp ủy viên phụ trách tổ chức đảng cấp dưới. Đối với những việc dễ xảy ra sai phạm, cần quy định chế tài xử lý vi phạm để phòng ngừa từ sớm, từ xa. Rút kinh nghiệm từ thực tế một số nơi thực hiện đúng quy trình nhưng vẫn không lựa chọn, bổ nhiệm đúng cán bộ để hoàn thiện các quy chế về công tác cán bộ.
Ba là, mở rộng dân chủ, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và các cán bộ có trách nhiệm trong công tác cán bộ.
Thực chất của nguyên tắc tập trung dân chủ là hướng tới sự tập trung, thống nhất trên cơ sở dân chủ, sau khi đã thảo luận một cách thật sự dân chủ, không phải là tập trung quan liêu, tập trung độc đoán. Theo đó, trong công tác cán bộ, cần mở rộng và phát huy mạnh mẽ dân chủ trong tổ chức đảng. Thực hiện công khai các quy định của Đảng và Nhà nước về cán bộ và công tác cán bộ, công khai tiêu chuẩn từng loại cán bộ, công khai quy hoạch cán bộ, công khai kê khai tài sản và thu nhập của cán bộ theo quy định…
Trong quá trình xây dựng các văn bản, chủ trương về công tác cán bộ, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy thực hiện dân chủ thật sự, tạo điều kiện để các cấp ủy viên, ủy viên ban thường vụ cấp ủy phát biểu thẳng thắn ý kiến của mình, trao đổi kỹ lưỡng, có thể yêu cầu bí thư cấp ủy, ban tổ chức và ủy ban kiểm tra của cấp ủy cung cấp thêm thông tin, giải trình các dư luận về cán bộ (nếu có); chỉ khi đã thảo luận, làm rõ mọi khía cạnh mới tiến hành biểu quyết; nếu thấy chưa có đủ căn cứ xác đáng, ý kiến của các thành viên còn nhiều khác nhau, thì có thể để lại xem xét sau, chưa biểu quyết quyết định.
Từng cấp ủy viên, ủy viên ban thường vụ cấp ủy phải phát huy đầy đủ trách nhiệm trong tập thể lãnh đạo khi thảo luận, quyết định các vấn đề về công tác cán bộ và quyết định đối với cán bộ. Muốn vậy, mỗi thành viên trong tập thể cấp ủy phải nắm vững các chủ trương, quy định của Đảng về công tác cán bộ; có kiến thức nhất định về các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực mà cán bộ xem xét bổ nhiệm đang công tác; phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác, trung thực đến cấp có thẩm quyền những nội dung có liên quan đến nhân sự thuộc thẩm quyền được phân công theo dõi, quản lý; có thái độ thật sự công tâm, khách quan, trong sáng, không cục bộ, “lợi ích nhóm”; có dũng khí bảo vệ cán bộ tốt và mạnh dạn chỉ ra những hạn chế, biểu hiện chưa xứng đáng của cán bộ được xem xét đưa vào quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử; am hiểu đối tượng cán bộ thuộc thẩm quyền cấp ủy quản lý; lắng nghe dư luận của cán bộ, công chức trong cơ quan, đơn vị và nhân dân về cán bộ và công tác cán bộ; v.v..
Để phát huy dân chủ và đồng thời với mở rộng dân chủ, cần xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy và cán bộ có trách nhiệm trong công tác cán bộ, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu. Bí thư cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng là người chủ trì việc thực hiện dân chủ trong tập thể lãnh đạo, nên cần có ý thức đầy đủ về phát huy trí tuệ tập thể trong công tác cán bộ, chỉ đạo chuẩn bị đầy đủ các thông tin cần thiết phục vụ việc thảo luận trong tập thể lãnh đạo; triệu tập đủ và đúng thành phần khi họp bàn về công tác cán bộ; bố trí đủ thời gian; bảo đảm dân chủ trong thảo luận, ghi phiếu biểu quyết, phiếu giới thiệu, phiếu tín nhiệm đúng quy định; động viên các thành viên phát biểu đầy đủ, thẳng thắn ý kiến của mình; không áp đặt ý kiến cá nhân cho tập thể; kết luận trung thành với ý kiến của đa số và thực hiện đúng quy định về bảo lưu ý kiến của thành viên có ý kiến khác; báo cáo đầy đủ các ý kiến khác nhau trong thảo luận với cấp ủy cấp trên.
Thực hiện nghiêm túc Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11-7-2023 của Bộ Chính trị về việc kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Bí thư cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng chịu trách nhiệm của người đứng đầu; các thành viên cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo chịu trách nhiệm khi để xảy ra tiêu cực, sai phạm trong công tác cán bộ ở địa phương, cơ quan, đơn vị, lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao phụ trách; người đứng đầu các cơ quan tham mưu, cán bộ tham mưu thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong công tác cán bộ theo quy định, nhất là khi để xảy ra tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.
Bốn là, tập trung tháo gỡ các vướng mắc, chỉ đạo thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong các công việc, các khâu có nhiều vấn đề phức tạp.
Công tác cán bộ có nhiều nội dung, nhiều khâu có mối liên hệ, gắn bó mật thiết với nhau, làm cơ sở cho nhau, thực hiện không tốt một nội dung, một khâu sẽ dẫn đến kết quả công tác cán bộ không đạt yêu cầu. Thực tế cho thấy, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong một số công việc, một số khâu còn có những vấn đề vướng mắc và thường xảy ra vi phạm, như: đánh giá cán bộ, bổ nhiệm cán bộ, quản lý cán bộ. Do vậy, cần tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận để xác định rõ định hướng giải quyết các vấn đề đặt ra, các khó khăn, vướng mắc và tập trung hoàn thiện, bổ sung các quy chế, quy định để thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong những khâu dễ xảy ra sai phạm.
Trong những năm qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã có chủ trương, thực hiện nhiều thí điểm trong công tác cán bộ. Vấn đề hiện nay là chỉ đạo tổ chức thực hiện khẩn trương, có chất lượng các thí điểm này và sớm tổng kết, kết luận để hình thành chủ trương chính thức, áp dụng rộng rãi gắn với những vấn đề mới trong tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, nhất là việc sắp xếp lại các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; xây dựng chính quyền đô thị; thực hiện chuyển đổi số quốc gia; v.v..
Năm là, tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đề cao việc kiểm tra, kiểm soát cán bộ: “phải luôn luôn kiểm soát cán bộ”; “Có kiểm tra mới… biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”. Đối với công tác kiểm tra việc thực hiện công tác cán bộ, Người phê bình: “Công tác kiểm tra còn bị động và nặng về giải quyết những vụ vi phạm kỷ luật trước mắt, chưa chủ động về việc giải quyết toàn diện vấn đề giữ gìn kỷ luật và chấp hành Điều lệ của Đảng, để nâng cao ý thức của đảng viên và cán bộ một cách căn bản và lâu dài”.
Thực tế các vụ việc vi phạm của các cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng về công tác cán bộ bị xử lý kỷ luật vừa qua đều do vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ. Điều này cho thấy, công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ nói chung, trong công tác cán bộ nói riêng cần được xem là nội dung trọng yếu trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Theo đó, các cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp cần xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ; việc kiểm tra, giám sát phải bảo đảm đúng nguyên tắc, phương pháp, phát huy dân chủ, tăng cường đoàn kết, kỷ luật trong Đảng, đồng thời xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ.
5. Kết luận.
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nội dung cốt lõi trong công tác cán bộ. Thực hiện tốt nguyên tắc này là điều kiện cơ bản bảo đảm công tác cán bộ đạt chất lượng tốt, xây dựng được đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu, tránh được các tiêu cực trong công tác cán bộ. Thời gian qua, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ có nhiều ưu điểm, nhưng cũng bộc lộ không ít hạn chế, khuyểt điểm. Để thực hiện tốt nguyên tắc này cần nâng cao nhận thức của các cơ quan lãnh đạo và cán bộ, đảng viên; tiếp tục hoàn thiện quy chế, quy định và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc./.
St

TẠI SAO PHẢI BẢO VỆ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

 

Đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin cũng là bảo vệ đường lối chính trị của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng, là yêu cầu tất yếu của cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào.  Bác Hồ  luôn khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”. Người khẳng định: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”. Vì vậy, bảo vệ sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin là bảo vệ đường lối của Đảng.

 

NÊU GƯƠNG LÀ GÌ?

 

Nêu gương là tuyệt đối trung thành với lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, với mục tiêu, con đường cách mạng gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Đó là sự lựa chọn duy nhất đúng, bảo đảm đưa sự nghiệp cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và thành công như ngày nay. Dù thế giới có đổi thay, dù còn phải vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, song lý tưởng và mục tiêu cao cả của cách mạng mãi soi sáng nhận thức và hành động của mọi cán bộ, đảng viên và mỗi người bằng hành động, việc làm cụ thể, phấn đấu hết sức mình, nêu gương trước nhân dân vì khát vọng độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

 

Phòng, chống "diễn biến hòa bình": Đừng yêu nước kiểu mù quáng

 

Tranh thủ cuối tuần về thăm nhà sau những ngày dài miệt mài học tập trên phố, Phương rất háo hức. Nhưng vừa bước chân qua cổng thì thấy bà Loan đặt tờ báo xuống hiên nhà, buông tiếng thở dài não nề.

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM CHO RẰNG ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ "THIẾU KHOA HỌC, KHÔNG KHẢ THI"

 Sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy vậy, một số thế lực thiếu thiện chí vẫn có cái nhìn phiến diện, cho rằng đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam là “thiếu khoa học, không khả thi”, không tạo ra được chuyển biến căn bản cho sự nghiệp phát triển đất nước. Đây là vấn đề hết sức nguy hiểm, đòi hỏi chúng ta phải đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà đất nước ta đạt được trong gần 40 năm đổi mới là minh chứng cho thấy, đường lối đổi mới của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, khả thi, đáp ứng với đòi hỏi của thực tiễn, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Tuy nhiên, với mưu đồ thâm độc, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động đã “tung ra” không ít những luận điệu sai trái, thù địch cho rằng: đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam là “thiếu khoa học, không khả thi”, không tạo ra được sự chuyển biến căn bản cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Chúng còn xuyên tạc rằng, sự phát triển của Việt Nam là chậm so với các nước trong khu vực và thế giới. Hơn thế nữa, chúng rêu rao “võ đoán” rằng, những thành tựu mà đất nước ta đạt được gần 40 năm qua chỉ là “ăn may”, chứ không phải là do đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, khoa học, khả thi, v.v. Phải khẳng định ngay rằng, những quan điểm trên là hoàn toàn sai trái, phản khoa học, mang động cơ chính trị xấu, nhằm mục đích phủ nhận đường lối đổi mới, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; làm giảm sút lòng tin, cũng như tính tích cực chính trị - xã hội của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mục tiêu cuối cùng của chúng là lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Tính khách quan, khoa học và khả thi của đường lối đổi mới của Đảng
Thực tế cho thấy, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, được mở đầu từ Đại hội VI của Đảng năm 1986, đó là một tất yếu khách quan, xuất phát từ quá trình vận động, biến đổi và phát triển của đất nước, do những quy luật khách quan chi phối, cùng với những đòi hỏi bức thiết của cuộc sống, nhằm đưa đất nước vượt qua những khó khăn, thử thách, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Mặc dù sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta đã tạo ra được những tiền đề nhất định để xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong đó, tập trung vào phát triển kinh tế, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị, cải biến các mặt của đời sống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, đất nước còn đứng trước nhiều thử thách, khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng làm cho kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, v.v. Để đưa đất nước vượt qua khó khăn, có bước phát triển mạnh mẽ mang tính đột phá, nhất thiết phải thực hiện một sự thay đổi mang tính cách mạng, nhằm chuyển đổi mô hình quản lý và phát triển kinh tế - xã hội cho phù hợp với tình hình mới. Đó là cơ sở để Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước vào năm 1986.
Có thể khẳng định, đường lối đổi mới của Đảng là khoa học, cách mạng và khả thi. Bởi đường lối ấy được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - học thuyết khoa học và cách mạng vì sự nghiệp giải phóng nhân loại, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, cũng như xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở nền tảng tư tưởng ấy, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới khoa học và cách mạng, mang tính sáng tạo, đột phá, được thể hiện tập trung ở ba trụ cột chủ yếu là: lý luận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Theo đó, lý luận “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là một sáng tạo đột phá của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lý luận về đường lối đổi mới. Lý luận này được đề xuất trên cơ sở tổng kết thực tiễn chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới thế kỷ XX, cũng như xuất phát từ thực tế khủng hoảng kinh tế - xã hội trong nước theo mô hình kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu, bao cấp đã tồn tại lâu dài trong chủ nghĩa xã hội. Lý luận này tạo ra bước ngoặt căn bản cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo tiền đề cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đại hội IX của Đảng xác định mô hình kinh tế tổng quát ở Việt Nam là “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”1. Từ Đại hội IX đến Đại hội XIII, lý luận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa càng được nhận thức, bổ sung, phát triển đầy đủ, sâu sắc. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”2.
Tiếp đó, sự hình thành khái niệm “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” là một trong những đóng góp quan trọng bổ sung, phát triển cơ sở lý luận về nhà nước của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, làm thay đổi căn bản lý luận về quyền lực chính trị trong chủ nghĩa xã hội hiện thực. Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng là bước đột phá trong đổi mới tư duy chính trị của Đảng ta, đánh một dấu mốc quan trọng trong đổi mới hệ thống chính trị nói chung, đổi mới Nhà nước ở nước ta nói riêng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cùng với đó, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của chủ nghĩa xã hội cũng là sự phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng. Thực tế cho thấy, dân chủ là một nội dung của cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo từ khi mới thành lập - cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Sau 40 năm đổi mới đất nước, từ quan điểm “Dân là gốc”, “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đến “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã tạo cơ sở, điều kiện cho toàn thể nhân dân lao động Việt Nam thực hiện được những quyền và thụ hưởng được những lợi ích căn bản của mình, góp phần giải phóng, phát triển con người và hoàn thiện xã hội.
Như vậy, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được coi là trụ cột của đường lối đổi mới. Bởi lẽ, ba yếu tố này tạo nên nền tảng cho chế độ kinh tế, chế độ chính trị và chế độ xã hội của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ba yếu tố này làm điều kiện, tiền đề cho nhau, vừa tạo ra sự vững chắc, ổn định, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo ra nền tảng vật chất cho nhà nước xã hội chủ nghĩa, thông qua vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; đồng thời, tạo ra cơ chế tự do, tự chủ thúc đẩy sự tiến bộ của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở cho sự giải phóng và phát triển con người. Nhà nước xã hội chủ nghĩa đảm bảo tính định hướng, cơ chế, chính sách thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng và minh bạch; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, dân chủ trong xã hội. Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Chỉ khi nào có dân chủ thực sự thì kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới có môi trường phát triển đầy đủ, lành mạnh và khi có dân chủ thực sự thì quyền lực của nhà nước xã hội chủ nghĩa mới được thực thi một cách thực chất. Do đó, không thể phán bừa rằng đường lối đổi mới của Đảng là không khoa học, không có cơ sở lý luận và thực tiễn,... như những luận điệu xuyên tạc thường rao giảng.
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử gần 40 năm qua là minh chứng rõ nhất khẳng định tính đúng đắn, khả thi của đường lối đổi mới
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau gần 40 năm đổi mới đất nước, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: “Kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố”3. Có được kết quả đó là nhờ có đường lối phát triển đúng đắn, “phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”4. Chính vì vậy mà cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước đang ngày càng được tăng cường, củng cố. Điều đó được thực tế minh chứng, bác bỏ những quan điểm, nhận định sai trái, phiến diện của các thế lực thù địch.
Hiện nay, Việt Nam là một quốc gia độc lập, toàn vẹn, có chủ quyền, được tất cả các nước trên thế giới trong Liên hợp quốc công nhận. Việt Nam có tiềm lực ngày càng mạnh mẽ về kinh tế, quân sự, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…; tham gia các tổ chức quốc tế lớn, như: Liên hợp quốc, Hội đồng nhân quyền và nhiều tổ chức quốc tế khác. Những giá trị bản sắc văn hóa truyền thống, con người Việt Nam đang được phát huy mạnh mẽ, góp phần định hình những giá trị chung cho nhân loại.
Trên lĩnh vực kinh tế, quy mô GDP của Việt Nam năm 2023 đạt khoảng 433,3 tỷ USD, xếp thứ 5 trong khu vực Đông Nam Á và là nền kinh tế lớn thứ 34 trên thế giới. Năm 2024, quy mô GDP của Việt Nam được dự báo đạt khoảng 469,67 tỷ USD5. Thu nhập bình quân đầu người đạt ngưỡng 4.000 USD/người/năm; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mức kỷ lục 732 tỷ USD, đưa Việt Nam vào trong nhóm 20 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới và duy trì xuất siêu năm thứ bảy liên tiếp6. Đặc biệt, giai đoạn 1986 - 2022, Việt Nam nằm trong top 5 nước có quy mô kinh tế tăng nhiều nhất thế giới.
Về chính trị, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc được củng cố; dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục phát huy được quyền làm chủ của nhân dân. Đảng Cộng sản cầm quyền ngày càng khẳng định vai trò lãnh đạo đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được xây dựng và ngày càng hoàn thiện, góp phần quan trọng trong bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng hệ thống chính trị và đời sống xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Về xã hội, việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển đạt được nhiều tiến bộ vượt bậc. Con người trở thành mục tiêu, động lực của sự phát triển. Người dân được thụ hưởng những thành quả của sự nghiệp đổi mới, chất lượng cuộc sống được nâng cao rõ rệt. Tuổi thọ trung bình, giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe,… đạt mức độ tương xứng với trình độ phát triển của nhiều nước trên thế giới. Năm 2023, tuổi thọ trung bình của cả nước là 73,7 (năm 2022 là 73,6 tuổi), trong đó nam là 71,1 tuổi và nữ là 76,5 tuổi7. Chỉ số Phát triển con người (HDI) của Việt Nam ngày càng tăng cao; từ năm 1990 đến năm 2022, giá trị HDI của Việt Nam thay đổi từ 0,492 lên 0,726, tăng gần 50%. Việt Nam liên tục đạt được tiến bộ trong 30 năm qua8.
Về văn hóa, những giá trị cốt lõi của văn hóa, con người Việt Nam như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng, ý chí tự lực, tự cường, tự tôn, tự hào dân tộc, nhân cách, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ,… được phát huy mạnh mẽ. Tính tích cực xã hội, sức sáng tạo, những năng lực bản chất nhất của con người Việt Nam được khơi dậy mạnh mẽ. Đây là sức mạnh vĩ đại, nguồn lực to lớn, mạnh mẽ, sống động,… thúc đẩy sự phát triển của quốc gia - dân tộc trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Về quốc phòng, an ninh, gần 40 năm đổi mới, đất nước luôn giữ được ổn định về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; quốc phòng được củng cố và bảo vệ vững chắc “Năm 2023, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia cải thiện thứ hạng về chỉ số hòa bình, tăng 4 hạng lên vị trí 41/163 quốc gia và vùng lãnh thổ”9. Với chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động tích cực hội nhập quốc tế, là bạn là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, hợp tác và phát triển, Việt Nam trở thành địa điểm gặp gỡ, giao lưu văn hóa, kinh tế, đối thoại an ninh, chính trị an toàn của nhiều quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế lớn trên thế giới, như: Chủ tịch ASEAN-2020, AIPA-41, Ủy viên không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 77; tổ chức thành công Hội nghị Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN, Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Triều lần 2; Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA, Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014 - 2016, 2023 - 2025, Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013 - 2017, Hội đồng Kinh tế - Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016 - 2018, v.v.
Thế giới đánh giá cao lực lượng gìn giữ hòa bình của Việt Nam tại Phái bộ Cộng hòa Trung Phi, Cộng hòa Nam Sudan, Khu vực Abyei và đội tham gia tìm kiếm, cứu nạn ở Thổ Nhĩ Kỳ..., qua đó góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhân văn và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, v.v.
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 40 năm đổi mới đất nước đã minh chứng cho tính ưu việt về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, tính đúng đắn, khả thi của đường lối đổi mới và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như những nỗ lực của toàn thể nhân dân Việt Nam trong hành trình gian nan đó. Điều này bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, phản động đối với đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo./.
St

QUÂN ĐỘI LÀ MÔI TRƯỜNG ĐỂ RÈN LUYỆN THANH NIÊN

 Hàng năm, vào đầu xuân mới hàng vạn thanh niên cả nước lại lên đường nhập ngũ. Đây vừa là nghĩa vụ, là vinh dự cũng là trách nhiệm của thanh niên Việt Nam.

Được học tập, rèn luyện trong quân đội là điều kiện tốt để thanh niên tô luyện những phẩm chất nhân cách cần thiết đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Có thể nói, môi trường quân đội với kỷ luật nghiêm minh nhưng sẽ giúp cho thanh niên hình thành và phát triển những phẩm chất mà môi trường khác khó có thể mang lại. Khi mới nhập ngũ, thanh niên phải tuân thủ nghiêm khắc với những quy định, điều lệnh, điều lệ quân đội, phải chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy.
Thực tế, thanh niên bước vào quân đội với nhiều đặc điểm tâm lý khác nhau, hội tụ từ nhiều vùng miền khác nhau, những thói quen cũ như sự tùy tiện, buông lỏng, tự do vô kỷ luật thì nay vào quân đội họ phải chuyển hóa một cách nhanh chóng theo yêu cầu quân đội.
Đó cũng chính là sự thay đổi từ nhận thức, thói quen, ngôn ngữ, cử chỉ, tác phong… đạt ở mức độ chuẩn hóa và thống nhất trong một tập thể quân sự. Môi trường quân đội cũng giúp cho thanh niên chuyển biến nhanh chóng về mặt nhận thức, đó chính là sự vững vàng về phẩm chất chính trị, về lập trường quan điểm…, từ đó hình thành nên sự đề kháng tốt giúp cho thanh niên luôn có ý thức được nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong môi trường quân đội, thanh niên cũng được hình thành lối sống mới như quan hệ đồng chí, đồng đội, ý thức tập thể, quan hệ quân dân, giải quyết các vấn đề lợi ích phù hợp theo chuẩn mực xã hội.
Bên cạnh đó, khi thanh niên vào quân đội cũng được hình thành những phẩm chất chuyên môn nghề nghiệp theo các lĩnh vực cụ thể, điều đó sẽ làm cơ sở để mỗi quân nhân có thể vận dụng kiến thức vào cuộc sống sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự của mình.
Trong môi trường quân đội, với đội ngũ cán bộ các cấp, họ vừa là người chỉ huy, vừa là nhà giáo dục có thể giúp quân nhân hình thành những tính cách tốt đẹp như sự trung thực, thẳng thắn, tính kiên cường…, điều này cũng giúp ích cho thanh niên có thể vững bước trong cuộc sống sau này. Có thể nói, được học tập, rèn luyện ở môi trường quân đội là điều kiện tốt cho thanh niên phát huy trên nhiều lĩnh vực./.
st

NÊU CAO TINH THẦN CẢNH GIÁC, ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG, TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

Chúng ta phải thường xuyên đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chủ động nhận diện thủ đoạn chống phá tinh vi của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị, với mưu đồ vu cáo, xuyên tạc, phủ nhận hiện thực lịch sử; đồng thời cảnh giác trước những âm mưu “làm mới” hệ tư tưởng để xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với vai trò là nền tảng tư tưởng của Đảng; những thủ đoạn “dân túy”, nhân danh “cách mạng”, “yêu nước”, “lợi ích dân tộc” để kích động, chia rẽ, lôi kéo quần chúng. Ngoài ra, cần xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật đối với những đối tượng có hành vi xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dưới bất kỳ hình thức nào. Hơn lúc nào hết, toàn Đảng, từng cán bộ, đảng viên của Đảng, trước hết là cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp phải tỉnh táo, thận trọng, sáng suốt và nhạy bén trong nhìn nhận, đánh giá những biểu hiện của các trào lưu tư tưởng phi mácxít, đặc biệt là chủ nghĩa cơ hội, xét lại, từ đó đề xuất chủ trương, biện pháp đấu tranh quyết liệt, phù hợp, kịp thời và hiệu quả, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi là nền tảng tư tưởng của Đảng, là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam.

Sự phản khoa học của luận điệu xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam

 

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân (QPTD) vững mạnh là chủ trương chiến lược, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta, nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng, khả năng phòng thủ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Với mưu đồ chống phá, làm suy yếu Việt Nam, các thế lực thù địch xác định lĩnh vực quốc phòng là một trong những trọng điểm, với âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc; nội dung chống phá trên nhiều phương diện, từ quan điểm, chủ trương, đường lối đến chính sách quốc phòng Việt Nam.

ĐÒI “ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP” LÀ ÂM MƯU MUỐN XOÁ BỎ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

 

 Các thế lực thù địch tiếp tục tuyên truyền thuyết “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, phủ nhận tính hợp pháp và tính chính đáng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ yêu cầu đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” vì cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”.

Bằng luận thuyết, luận điểm này, các thế lực phản động, thù địch muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận những thành quả mà Đảng và dân tộc Việt Nam đã giành được trong 94 năm qua; đồng thời qua đó muốn hợp pháp hóa sự ra đời của các tổ chức chính trị đối lập với Đảng ta. Chúng ta cần biết rằng: “Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”

 

ĐỂ NÊU GƯƠNG, CÁN BỘ PHẢI LÀM GÌ?

 

Trách nhiệm nêu gương đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên gương mẫu, tự giác chấp hành Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không có bất cứ hành động hay phát ngôn trái với đường lối, quan điểm của Đảng, gây tổn hại đến uy tín và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; hoàn thành tốt nhất trọng trách, nhiệm vụ được giao với tinh thần suốt đời phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân. Khi trách nhiệm được đề cao, có thể khắc phục được những khó khăn, hạn chế, yếu kém. Đảng cũng nhấn mạnh trách nhiệm của người đứng đầu trong xử lý các mối quan hệ với tổ chức đảng và chính quyền; gương mẫu thực hiện nghiêm nguyên tắc lãnh đạo của Đảng.

 

MẠNG XÃ HỘI KHÔNG PHẢI LÀ CÔNG CỤ KÍCH ĐỘNG HẬN THÙ, CHIA RẼ ĐOÀN KẾT

 



       Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, Internet và mạng xã hội đang tác động, ảnh hưởng ngày càng lớn đến mọi mặt đời sống xã hội. Chúng ta không phủ nhận những tiện ích to lớn mà mạng xã hội đem lại cho cộng đồng. Thế nhưng các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại triệt để lợi dụng những ưu thế mà mạng xã hội đem lại để tăng cường tuyên truyền, xuyên tạc nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam.

Thực tiễn tổ chức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay của Bộ đội Biên phòng

 


Bộ đội Biên phòng (BĐBP) là lực lượng vũ trang nhân dân, thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, là lực lượng nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, với đường biên giới đất liền dài khoảng 5.044,806 km, bờ biển dài khoảng 3.260 km. Khu vực biên giới có 1.083 xã, phường, thị trấn/233 huyện, thị thuộc 44 tỉnh, thành phố; dân số khoảng 2,4 triệu hộ/9,7 triệu nhân khẩu (dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14,4%) với 51 dân tộc, 06 tôn giáo chính. Trong thời gian qua, BĐBP đã thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái:

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 

Trong thời thời gian gần đây các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đang ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, đã triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội để chống phá Việt Nam với nhiều phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Các hoạt động chống phá của chúng diễn ra trên phạm vi rộng, cường độ cao, cả ở trong và ngoài nước. Về nội dung, chúng tập trung tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta bằng các luận điệu sai trái, thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đối lập Đảng với Nhà nước, tiến tới xóa bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đồng thời, lợi dụng một bộ phận cán bộ đảng viên yếu kém, suy thoái về đạo đức lối sống để đồng nhất cả về tổ chức, sự lãnh đạo của Đảng và phẩm chất của cán bộ, đảng viên. Đối với các lực lượng vũ trang, chúng tìm mọi thủ đoạn, biện pháp để gây mâu thuẫn giữa Quân đội và Công an, cổ súy cho việc xây dựng một quân đội nhà nghề, nhằm phi chính trị hóa quân đội.