Thứ Tư, 2 tháng 10, 2024

UY TÍN CỦA ĐẢNG VÀ NIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN

 Những thành tựu vô cùng to lớn mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã giành được trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, là minh chứng cho năng lực lãnh đạo, cầm quyền và uy tín của Đảng ta. Bài viết đánh giá rõ hơn về vai trò và uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, qua đó gợi mở những vấn đề trọng tâm để mỗi tổ chức cơ sở đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần triển khai thực hiện tốt góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước ta thực sự trong sạch, vững mạnh và uy tín, củng cố thêm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng ta trong giai đoạn hiện nay.

Từ ngày thành lập (3-2-1930) cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng nghiên cứu, tổng kết, đổi mới, đúc rút kinh nghiệm để ngày càng hoàn thiện hơn về vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền trong quá trình giành độc lập cho dân tộc, xây dựng đất nước và trong giai đoạn xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đồng thời, thể hiện quan điểm, lập trường, tư tưởng nhất quán, kiên định của Đảng ta trong việc vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Đảng đã quy tụ được sức mạnh, tiềm năng, khát vọng, ý chí của Nhân dân và chuyển hóa thành sức mạnh quần chúng - sức mạnh tổng hợp để xây dựng xã hội và cuộc sống của người dân ngày một thịnh vượng… đó chính là “uy tín” của Đảng ta mà “niềm tin” của Nhân dân dành chọn, gửi gắm.
Trải qua 94 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo, cầm quyền và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, ngoại giao… Đảng ta ngày càng vững mạnh là điều kiện quyết định nhất để chúng ta xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công.
Sau những năm tiến hành công cuộc đổi mới (từ năm 1986), Đảng ta đã đúc rút kinh nghiệm và nhấn mạnh: “Điều kiện cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa và đi đến thành công là trong quá trình đổi mới Đảng phải kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo xã hội. Đảng phải tự đổi mới và chỉnh đốn, không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của mình”.
Thập niên 90 của thế kỷ trước, tình hình thế giới có nhiều biến động to lớn, đặc biệt là sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu; ở trong nước có một số cán bộ, đảng viên dao động, hoài nghi về sự lựa chọn mô hình phát triển kinh tế - xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Các thế lực thù địch, phản động tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam dưới nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm… hòng gây chia rẽ sự đoàn kết nội bộ trong Đảng và gây sự hoài nghi, dao động trong mọi tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, nhờ kiên định đường lối đã chọn, sáng suốt, tài tình trong lãnh đạo của Đảng, Đảng ta đã đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991). Cương lĩnh năm 1991 nhấn mạnh: xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ; có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
Do đó, trong giai đoạn năm 1991-1995, đất nước ta dần ra khỏi tình trạng trì trệ, suy thoái, nền kinh tế tiếp tục đạt được nhiều thành tựu quan trọng; GDP bình quân tăng 8,2%/năm; hầu hết các lĩnh vực kinh tế đều đạt nhịp độ tăng trưởng tương đối khá. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đánh giá: “Nước ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm, tuy còn một số mặt chưa vững chắc, song đã tạo được tiền đề cần thiết để chuyển sang một thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Những thành tựu vô cùng quan trọng mà đất nước ta đạt được trong giai đoạn năm 1991-1995 là thể hiện rõ vai trò và uy tín của Đảng ta đã ngày càng vững mạnh về bản lĩnh chính trị, về tính khoa học đúng đắn trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; về tầm cao tư duy dám đổi mới, sáng tạo phù hợp với điều kiện ở trong nước cũng như bối cảnh thế giới, khu vực lúc bấy giờ. Mặt khác, trong Đảng đã dám nhìn thẳng vào sự thật để đánh giá khách quan, khoa học những hạn chế, khuyết điểm, cả những việc chúng ta chưa làm được, chưa thành công… để rút kinh nghiệm, tìm tòi giải pháp để khắc phục, sửa chữa. Đồng thời, trong giai đoạn này Đảng ta tích cực, chủ động trong việc mở rộng quan hệ kinh tế, ngoại giao với các quốc gia, vùng lãnh thổ, với phương châm và quan điểm rõ ràng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”.
Từ ngày 11-7-1995, giữa Mỹ và Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao, dỡ bỏ lệnh cấm vận về kinh tế đối với Việt Nam. Đây là điều kiện quan trọng để Việt Nam từng bước ký kết các hiệp định thương mại với các quốc gia, tổ chức trên thế giới, góp phần tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và là tiền đề để Đảng, Nhà nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (từ Đại hội IX của Đảng); từng bước đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng lên.
Cụ thể, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn sản xuất hàng hóa với thị trường; Đảng và Nhà nước ta đẩy mạnh thực hiện có kết quả chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, phát huy ngày càng tốt hơn tiềm năng của các thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, mô hình các hợp tác xã, tổ chức phát triển kinh tế…). Trong đó, trọng tâm là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần được hình thành, kinh tế vĩ mô đã cơ bản ổn định. Việt Nam đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), thực hiện cam kết về khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Thương mại thế giới (WTO). Đặc biệt, tính đến tháng 8-2023, Việt Nam đã ký kết các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với các quốc gia, tổ chức kinh tế trên thế giới đang còn hiệu lực (16 hiệp định) và tiếp tục đang đàm phán 3 hiệp định(4). Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký kết hơn 90 hiệp định thương mại song phương với các nước, trong đó, Việt Nam đã nâng tầm quan hệ “Đối tác chiến lược toàn diện” với 7 quốc gia gồm: Trung Quốc (tháng 5-2008), Liên bang Nga (tháng 7-2012), Ấn Độ (tháng 9-2016), Hàn Quốc (tháng 12-2022), Hoa Kỳ (tháng 9-2023), Nhật Bản (tháng 11-2023), Ô-xtrây-li-a (tháng 3-2024) và 18 đối tác chiến lược, 12 đối tác toàn diện.
Trải qua 47 năm (từ ngày 20-9-1977) Việt Nam chính thức gia nhập Liên hiệp quốc, với những đóng góp của mình, Việt Nam đã được tín nhiệm bầu vào nhiều vị trí, cơ quan quan trọng của Liên hiệp quốc và ghi được nhiều “dấu ấn” tại các cơ quan như Hội đồng Bảo an, Hội đồng Nhân quyền... Đặc biệt, ngày 9-4-2024, Hội đồng Kinh tế - xã hội (ECOSOC) đã nhất trí bầu Việt Nam vào Hội đồng Chấp hành cơ quan Liên hiệp quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ (UN Women) nhiệm kỳ 2025-2027.
Với chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta trong triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Tính đến ngày 30-6-2023, cả nước có 6.022/8.177 xã (73,65%) đạt chuẩn nông thôn mới; 1.331 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 176 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Bình quân cả nước đạt 16,9 tiêu chí/xã; có 263/644 đơn vị cấp huyện (40,8%) thuộc 58 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới(5). Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”.
Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến phát triển toàn diện con người Việt Nam về sức khỏe, giáo dục và thu nhập cũng như những thụ hưởng về văn hóa, tinh thần… Theo Báo cáo Phát triển con người (HDR) toàn cầu 2021/2022 được Chương trình Liên hiệp quốc tại Việt Nam công bố tháng 9-2022 cho biết: Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam năm 2021 là 0,703, tăng hai bậc trong bảng xếp hạng toàn cầu, từ 117/189 quốc gia vào năm 2019 lên 115/191 quốc gia trong năm 2021; HDI của Việt Nam xếp thứ 6 trong khu vực Đông Nam Á. Tính đến đầu năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều cả nước giảm còn 2,93% (giảm 1,1% so với cuối năm 2022), Việt Nam là 1 trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới và là quốc gia đầu tiên của châu Á áp dụng chuẩn nghèo đa chiều, bảo đảm mức sống tối thiểu và thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (6 chiều về việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, thông tin). Có thể khẳng định, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong công tác xóa đói, giảm nghèo.
Những thành tựu trên được các quốc gia và chính đảng các nước đánh giá cao. Ông Walter Sorrentino, Phó Chủ tịch Đảng Cộng sản Bra-xin khẳng định: “Từ thực tiễn của Việt Nam, chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội mà chính quyền phục vụ Nhân dân, lấy Nhân dân làm gốc. Kết quả xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam là minh chứng có giá trị hơn mọi lời nói. Điều này càng được thể hiện rõ ràng trong đại dịch COVID-19, cho thấy rõ tính ưu việt trong phòng, chống dịch bệnh của chính quyền các nước xã hội chủ nghĩa… Có được điều này là bởi chủ nghĩa xã hội là nhân văn, là động lực để nhân loại hướng tới một xã hội thịnh vượng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo vệ độc lập, tự chủ và môi trường thiên nhiên. Nó đòi hỏi phải có một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa quản lý mọi mặt đời sống xã hội, trong đó Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”.
Tại sự kiện “Người Việt Nam có tầm ảnh hưởng 2024” (VGLF) ở Pháp, ông Philipp Rösler - nguyên Phó Thủ tướng Đức đánh giá: “Việt Nam đang đứng trước cơ hội, thời điểm để tìm ra con đường hướng tới sự thịnh vượng. Bên cạnh đó, Việt Nam là đất nước trung lập trong nhiều thế kỷ và tìm ra các giải pháp hòa bình. Vì thế, Việt Nam có thể đóng vai trò lớn hơn vì lợi ích của nhân loại”. Khi phân tích, đánh giá bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, ông Petro Simonenko, Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản U-crai-na nêu rõ: “Những thành tựu của Việt Nam hiện nay một lần nữa chứng minh ưu thế vượt trội của chủ nghĩa xã hội so với chủ nghĩa tư bản, đó là bảo đảm sự thỏa mãn tối đa các nhu cầu văn hóa và vật chất ngày càng tăng của cả xã hội bằng cách không ngừng nâng cao và hoàn thiện phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa trên cơ sở các thành tựu khoa học - công nghệ mới nhất… Một lần nữa chúng tôi tin tưởng rằng, những ưu việt của việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là rõ ràng và không thể bàn cãi”.
Đặc biệt, kết quả tích cực về cải cách thể chế và đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước làm cho Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có hệ thống chính trị phát triển, ổn định hàng đầu thế giới. Minh chứng rõ nhất là thành phố Hà Nội đã được lựa chọn là nơi tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên lần hai từ ngày 27 đến ngày 28-2-2019 giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và lãnh đạo Kim Jong-un; đồng thời lần đầu tiên trong lịch sử ngoại giao của Việt Nam, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã thăm cấp nhà nước tới Việt Nam (từ ngày 10 đến ngày 11-9-2023) theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đây là sự khẳng định cho một thể chế chính trị Việt Nam phát triển hài hòa và mô hình kinh tế hiệu quả; là thể hiện rõ nét nhất về vai trò và uy tín của Đảng và Nhà nước ta trên trường quốc tế. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”.
Để Đảng ta luôn thực sự là một đảng cầm quyền duy nhất, lãnh đạo toàn diện đất nước trong mọi hoàn cảnh, đòi hỏi Đảng phải thật sự “trí tuệ”, luôn đổi mới, sáng tạo phương thức cầm quyền và phải “tỉnh táo” trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Thực tế, từ ngày thành lập cho đến nay, Đảng ta đã hoàn thành tốt sứ mệnh mà nhân dân giao phó, ngày càng đem lại niềm tin vững chắc đối với nhân dân.
Có được niềm tin rất lớn ở Nhân dân là do Đảng ta đã thẳng thắn đánh giá, chỉ rõ những khuyết điểm, tồn tại trong lãnh đạo, chỉ đạo, để từ đó đề ra giải pháp phù hợp, quyết liệt nhằm sửa chữa, khắc phục. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt và thực hiện một số nghị quyết còn chậm, chưa quyết liệt, chưa hiệu quả. Thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số tổ chức đảng còn chưa nghiêm, thậm chí vi phạm”(11). Điều này cho thấy bản lĩnh chính trị của Đảng ta, dám nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, chứ không né tránh, “che đậy” những hạn chế, cũng chính từ sự “bản lĩnh” này mà Nhân dân càng tin tưởng vào sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay.
Xác định đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhiệm vụ lâu dài, nên Đảng ta luôn kiên quyết, kiên trì. Từ năm 2013, khi Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được thành lập, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được thực hiện quyết liệt, đạt được nhiều kết quả toàn diện. Từ tháng 9-2021, để công tác phòng, chống tham nhũng tiếp tục đi vào chiều sâu, toàn diện, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được Bộ Chính trị quyết định bổ sung chức năng, nhiệm vụ, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trọng tâm là chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta; đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng liêm chính, trong sạch, vững mạnh.
Với quan điểm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là: “Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” và “Tiền hô hậu ủng, nhất hô bá ứng”. Nhằm cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Bộ Chính trị đã quyết định cho tiến hành từng bước thành lập các ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, do đồng chí bí thư tỉnh ủy làm trưởng ban, đã góp phần gắn kết chặt chẽ hơn giữa phòng và chống theo đúng tinh thần chỉ đạo của Đảng đề ra từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Từ khi thành lập đi vào hoạt động, các ban chỉ đạo cấp tỉnh đã có sự chuyển biến rõ rệt, với nhiều kết quả nổi bật trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Cụ thể, về công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng, trong năm 2023, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 606 tổ chức đảng, hơn 24.160 đảng viên (tăng 12% về số đảng viên bị kỷ luật so với năm 2022). Trong đó, thi hành kỷ luật 459 đảng viên do tham nhũng, 8.863 đảng viên do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm những điều đảng viên không được làm. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 19 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Trong đó, lần đầu tiên có 6 cán bộ bị xử lý kỷ luật do vi phạm trong kê khai tài sản, thu nhập. Các cơ quan chức năng đã cho thôi giữ chức vụ, nghỉ công tác, bố trí công tác khác đối với 9 cán bộ diện Trung ương quản lý. Các địa phương đã cho từ chức, miễn nhiệm, bố trí công tác khác hơn 360 trường hợp sau khi bị kỷ luật, trong đó có 92 cán bộ thuộc diện tỉnh ủy, thành ủy quản lý. Tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, đã thi hành kỷ luật 105 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 22 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng. Về công tác điều tra, truy tố, xét xử, năm 2023, các cơ quan tiến hành tố tụng trên cả nước đã khởi tố hơn 4.500 vụ, hơn 9.370 bị can về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ (tăng 46% về số vụ án so với năm 2022). Riêng án tham nhũng tăng gần hai lần về số vụ và hơn hai lần về số bị can.
Bất kể cán bộ, đảng viên giữ vị trí công tác nào (dù đương chức hay đã nghỉ công tác) nếu vi phạm “những điều đảng viên không được làm” thì đều bị xử lý kỷ luật kể cả mặt đảng và chính quyền, điều này cho thấy công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta là “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, “bất kể người đó là ai”. Qua điều tra xã hội học về nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân khi được hỏi, thì đại đa số người dân rất đồng tình, ủng hộ cao cách làm quyết liệt, triệt để, khoa học, thận trọng từng bước khi phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các cá nhân, tổ chức có dấu hiệu vi phạm, để không bỏ sót, bỏ lọt đối tượng, tránh oan sai. Điều này cho thấy sự đồng thuận, đặt niềm tin rất lớn của người dân vào quyết tâm làm trong sạch bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị; quyết tâm diệt trừ tận gốc tệ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó dự đoán; ở trong nước vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức đan xen; các thế lực thù địch, phản động vẫn tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam; sự phát triển của khoa học công nghệ, các nền tảng mạng xã hội khó kiểm soát… Đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục tăng cường bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng là những việc rất quan trọng, do đó trong thời gian tới cần thực hiện tốt một số nội dung sau:
Một là, giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để thực hiện tốt được điều này, trước hết mỗi tổ chức đảng phải thực hiện nghiêm những quy định về nguyên tắc tổ chức hoạt động cơ bản của Đảng ta là:
1) Tập trung dân chủ trong Đảng;
2) Tự phê bình và phê bình;
3) Đoàn kết thống nhất;
4) Gắn bó mật thiết với Nhân dân;
5) Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Đồng thời, phải hết sức chú trọng đến các nguyên tắc trong công tác tư tưởng như: nguyên tắc tính Đảng; nguyên tắc tính khoa học; nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, lời nói đi đôi với việc làm. Đặc biệt là “tính Đảng” cần hết sức coi trọng, trên cơ sở đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng, xác định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Vì vậy, phải tăng cường đổi mới mạnh mẽ tư duy và cách thức làm công tác tư tưởng, mở rộng tính dân chủ, công khai, minh bạch, kiên quyết đấu tranh loại bỏ những phần tử có thái độ hữu khuynh hoặc mơ hồ những vấn đề tư tưởng có tính nguyên tắc.
Tại Phiên họp đầu tiên của Tiểu ban nhân sự chuẩn bị cho Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Tiểu ban chủ trì phiên họp có đề cập và nhấn mạnh đến những vấn đề có tính nguyên tắc của Đảng ta và cũng phù hợp với thể chế chính trị ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đó là: “Tập thể lãnh đạo”, “Lãnh đạo tập thể”, “Lãnh tụ tập thể”. Có thể nói, đây cũng là lần đầu tiên khái niệm “lãnh tụ tập thể” được nhấn mạnh trong công tác chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Bởi vì, tầm đặc biệt quan trọng của công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa lịch sử, là trọng trách nặng nề; “Lãnh tụ tập thể” còn có hàm nghĩa quy tụ, hội tụ được những cán bộ, đảng viên thực sự có đức, có tài, trong đó đức là gốc. Cụ thể, là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, nhân sự trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng phải thực sự là một khối thống nhất, thông suốt trong hành động, trong lãnh đạo, chỉ đạo những vấn về quan trọng của đất nước.
Hai là, tiếp tục đổi mới nội dung, phong cách, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta phù hợp với xu thế thời đại và thực tiễn đất nước. Đảng ta là đảng cầm quyền, những thắng lợi và thành tựu, những thất bại và tổn thất của cách mạng đều gắn liền với trách nhiệm của Đảng. Sự lãnh đạo của Đảng tác động trực tiếp đến toàn bộ hệ thống để bảo đảm giữ vững quyền lực chính trị của nhân dân. Tính nhất quán tạo nên phong cách, sự kiên định tạo nên sức mạnh, nghĩa là nhất quán trong việc ban hành chỉ thị, nghị quyết với hành động; kiên trì, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn. Do đó, đổi mới nội dung, phong cách và phương thức lãnh đạo của Đảng không phải là để hạ thấp hay xóa bỏ vai trò lãnh đạo, mà chính là để nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng; tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với Nhân dân, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong đó, cần phân rõ được đúng chức năng giữa Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị, trước hết là giữa Đảng với Nhà nước, có cơ chế và phương thức hoạt động khoa học, phù hợp, linh hoạt để phát huy dân chủ và đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng đất nước.
Ba là, quyết liệt, mạnh mẽ trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta sớm nhận diện và ngày càng xác định rõ hơn về nguy cơ, tác hại của tệ tham nhũng, tiêu cực đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp xây dựng đất nước. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng thẳng thắn đánh giá: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở một số địa phương, bộ, ngành chưa có chuyển biến rõ rệt; công tác phòng ngừa tham nhũng ở một số nơi còn hình thức. Việc phát hiện xử lý tham nhũng, lãng phí vẫn còn hạn chế, nhất là việc tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí trong nội bộ cơ quan, đơn vị còn yếu; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong một số cơ quan, đơn vị khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được đẩy lùi… Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị còn chậm đổi mới, có mặt lúng túng”.
Do đó, chúng ta phải quyết liệt, mạnh mẽ trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài.
Bốn là, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và lựa chọn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý “có tâm”, “có tầm”. Trong công tác cán bộ, từ khâu tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm phải thận trọng, khách quan, công tâm, đặc biệt đối với những cán bộ cấp chiến lược, cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải là người thực sự tiêu biểu về phẩm chất đạo đức, lối sống, nổi trội về năng lực lãnh đạo, quản lý, có tầm nhìn chiến lược dài hạn; tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách để bảo vệ, khuyến khích những cán bộ có tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; có tinh thần cống hiến, phụng sự Tổ quốc… Hiện nay, chúng ta đang chuẩn bị cho công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng (nhiệm kỳ 2026-2030), đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, có ý nghĩa lịch sử trong chặng đường tiếp theo của cách mạng Việt Nam.
Năm là, tiếp tục thực hiện nghiêm, hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Trung ương về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Mỗi cơ quan, đơn vị cần xây dựng chương trình, kế hoạch để triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, hiệu lực, hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Trung ương, trọng tâm là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đặc biệt, phải thực hiện nghiêm, hiệu quả Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11-7-2023 của Ban Chấp hành Trung ương về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.
Sáu là, tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế với các chính đảng trên thế giới, đặc biệt là Đảng Cộng sản các nước. Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã xác định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Với phương châm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế, nhận được sự tin cậy của bạn bè thế giới và đem lại nhiều thành tựu trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế và văn hóa xã hội. Tăng cường giao lưu, hợp tác với các chính đảng, các quốc gia trên thế giới còn nhằm tranh thủ sự ủng hộ, đồng thuận; làm cho các quốc gia, tổ chức hiểu rõ hơn về bản chất tốt đẹp của Đảng Cộng sản và con người Việt Nam; giảm bớt sự thù địch, chống phá của các thế lực phản động.
Có thể khẳng định, thực hiện hiệu quả những nội dung cơ bản nêu trên không chỉ góp phần tạo thêm uy tín của Đảng, củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân, mà còn thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Trọng tâm là những nhiệm vụ rất quan trọng trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030, phấn đấu đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao; xây dựng một nước Việt Nam “giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, thể hiện sự nhất quán về quan điểm, chủ trương của Đảng ta về phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, góp phần tiếp tục bổ sung, phát triển nhận thức lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Không còn uy tín là mất niềm tin và mất niềm tin là mất tất cả, vì vậy đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức đảng phải thực sự gương mẫu, thực sự liêm chính trong sạch, vững mạnh; đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phải hợp lòng dân, vì lợi ích của nhân dân, đem lại cuộc sống khá giả cả về vật chất lẫn tinh thần cho người dân… Thực hiện được những điều đó, thì Nhân dân sẽ mãi một lòng sắt son đối với Đảng./.
St

BÁC HỒ VỀ ĐOÀN KẾT, THỐNG NHẤT TRONG ĐẢNG

 Một trong những giá trị truyền thống vô cùng quý báu của dân tộc chúng ta qua hàng nghìn năm lịch sử là truyền thống đoàn kết xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Truyền thống đó đã được Đảng Cộng sản Việt Nam giữ gìn, phát huy, nâng lên tầm thời đại, trong đó lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là người khởi xướng và duy trì. Sự sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta là đã tìm ra những hình thức tốt nhất để tập hợp quần chúng, nhân dân làm cách mạng, tiêu biểu là Mặt trận Dân tộc thống nhất, Mặt trận Việt Minh và các tổ chức đoàn thể quần chúng sau này, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Theo Bác Hồ, Đảng đoàn kết “làm cho quần chúng mến Đảng, ra sức ủng hộ Đảng và tự giác, tự nguyện chịu Đảng lãnh đạo” (1); “củng cố mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng... nhân dân thấm nhuần và thực hiện chính sách của Đảng” (2).

Đoàn kết trong Đảng trước hết là để xây dựng, thực hiện chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng. Nói như Bác Hồ thì: “Người vào Đảng phải thừa nhận Đảng cương và Đảng chương. Phải tham gia công tác trong một tổ chức của Đảng. Phải tuyệt đối phục tùng nghị quyết của Đảng. Phải nộp đảng phí.” (3). Đoàn kết trong Đảng để thực hiện Đảng cương của Đảng, bởi: “Đảng cương là lý luận nền tảng. Đảng dùng lãnh đạo cách mạng. Nó đảm bảo cho chính trị thống nhất, tư tưởng thống nhất của Đảng. Vì vậy, mỗi đảng viên nhất định phải thừa nhận và theo đúng Đảng cương. Nếu không vậy, thì tư tưởng sẽ rối loạn, ý kiến sẽ lung tung, Đảng sẽ yếu đuối, rời rạc không làm được gì” (4).
Đoàn kết, thống nhất trong Đảng để thực hiện tốt Đảng chương của Đảng. “Đảng chương là một văn kiện quy định: Phương pháp hành động, hình thức tổ chức, khuôn phép sinh hoạt nội bộ của Đảng. Nó bảo đảm tổ chức thống nhất của Đảng. Vì vậy, mỗi đảng viên phải tuyệt đối thừa nhận và làm đúng Đảng chương. Nếu không vậy, nếu ai muốn làm sao thì làm, thì kết quả sẽ đưa Đảng đến chỗ tan rã... Mỗi đảng viên phải tuyệt đối tuân theo kỷ luật của Đảng. Có như vậy mới thành một Đảng đoàn kết chặt chẽ, ý chí thống nhất, hành động nhất trí. Đảng cương và Đảng chương là để đảm bảo sự thống nhất của Đảng về chính trị, về tư tưởng, về tổ chức, về hành động. Đó là cái nguồn gốc của lực lượng của Đảng” (5). Một trong những tiêu chí đánh giá sự đoàn kết thống nhất trong Đảng là gữi gìn kỷ luật của Đảng. Theo Bác: “Nhờ kỷ luật của Đảng mà đoàn kết, nhất trí, mạnh mẽ để lãnh đạo nhân dân đến thắng lợi. Sự nghiệp cách mạng của Đảng do đảng viên mà hoàn thành, cho nên mọi đảng viên phải thật thà chấp hành chính sách và nghị quyết của Đảng. Lợi ích của Đảng là lợi ích chung, đảng viên phải ra sức giữ gìn nó, cái gì trái với nó, thì đảng viên phải kiên quyết đấu tranh chống lại” (6). Một trong những nguyễn tắc bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng là nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Bác khẳng định: “Chỉ có Đảng chân chính cách mạng và chính quyền thật sự dân chủ mới dám mạnh dạn tự phê bình, hoan nghênh phê bình và kiên quyết sửa chữa. Do tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên - mà chúng ta đoàn kết càng chặt chẽ, càng đồng tâm nhất trí, càng tiến bộ không ngừng, càng chắc chắn thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh” (7). Nếu toàn Đảng đoàn kết nhất trí, toàn dân đoàn kết nhất trí dưới sự lãnh đạo của Đảng, phấn đấu thi hành đường lối của Đảng thì nhất định “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, làm cho danh dự của Đảng, vai trò của Đảng càng lớn, Đảng ta càng vĩ đại.
Với Hội nghị thành lập Đảng, tên gọi mới của Đảng và Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm cho Đảng tiếng nói chung, “mẫu số chung” cho cả ba tổ chức cộng sản. Đó là sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức trên cơ sở một đường lối, chính cương, sách lược đúng, thống nhất trên cơ sở điều lệ đúng, vừa bảo đảm được dân chủ nhưng vừa tuân thủ tập trung. Từ khi ra đời, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ cách mạng trong đó đều thể hiện sự đoàn kết đúng như lời nhận định của Người: “Đảng ta tuy đông người nhưng khi tiến đánh chỉ như một người”. Trong lễ ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam ngày 3-3-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào: Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm tám chữ là: “Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Đây không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, mà cũng là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc, vì nó là đòi hỏi khách quan của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh tự giải phóng.
Giáo sư Trần Văn Giàu đã nhận xét: “Đến Cụ Hồ thì đại đoàn kết được xây dựng trên cả một lý luận chứ không còn đơn thuần là tình cảm tự nhiên của người trong một nước phải thương nhau cùng”(
😎
. Theo số liệu thống kê, trong 1.921 bài viết của Bác có tới 839 bài Người đề cập đến vấn đề đoàn kết thống nhất và có tới 1.809 lần Bác dùng từ “đoàn kết”, “đại đoàn kết”. Trong Di chúc, chỉ có chưa đầy 20 dòng nói về Đảng nhưng đã có đến 5 lần Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến “đoàn kết”. Người khẳng định: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Không chỉ nói đoàn kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nói đến ba cụm từ: “Đoàn kết chặt chẽ”, “Đoàn kết nhất trí”, “Đoàn kết và thống nhất” và đặc biệt là Người dùng hình ảnh “con ngươi của mắt” ví với vấn đề đoàn kết. Ở một văn bản quan trọng đã nhiều năm suy ngẫm, ở một con người mà văn phong đã được cân nhắc từng câu, từng chữ, thì những cụm từ này càng có ý nghĩa sâu sắc. Nó không chỉ là điệp khúc trong bản anh hùng ca của Đảng và dân tộc, tạo ra sức mạnh vô địch để làm nên thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Nó còn là ý niệm và hành động thường trực trong bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh và rồi khi Người đi xa, nó sẽ tiếp tục là ý thức thường trực, là phương châm hành động của những người cộng sản Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “trong Đảng cần phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình”. Một lần nữa, lời dạy của Bác thể hiện mối quan tâm đến sự đoàn kết thống nhất thực sự trong tư tưởng và hành động của Đảng chứ không phải là cái vỏ bề ngoài. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tổ chức Đảng là đơn vị chiến đấu phải mạnh trong thực chất chứ không phải là trên hình thức. Quan điểm của Người là: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(9). Mọi sự đoàn kết giả tạo, xuê xoa, đoàn kết về hình thức thì trước sau cũng không thể tồn tại. Đoàn kết phải dựa trên nền tảng dân chủ vì chỉ có trên cơ sở dân chủ nội bộ thì đảng viên mới thật sự trung thực, chân thành, thẳng thắn với nhau.
Trong Di chúc của mình, bản sửa năm 1965, bên cạnh dòng chữ được đánh máy “Trong Đảng thực hành dân dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn bổ sung một dòng chữ viết tay phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Lời nhắc nhở này là một luận điểm rất quan trọng về đoàn kết trong Đảng. Nó cho thấy, bên cạnh tính kiên quyết trong tự phê bình và phê bình, Bác rất chú trọng tới cái tâm trong sáng trong sinh hoạt Đảng, cái “tình” trong đoàn kết, trong cuộc sống của Đảng. Không xuất phát từ “tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” thì mọi cuộc tự phê bình và phê bình sẽ đưa lại kết quả không tốt đẹp, thậm chí, có thể tạo nên một bầu không khí đấu đá, một cuộc thanh trừng trong Đảng. Điều đó chỉ làm suy yếu sức mạnh của Đảng mà thôi. Kết hợp với dân chủ, tình đồng chí thương yêu lẫn nhau sẽ tạo được bầu không khí cởi mở, tin cậy, khơi dậy mọi tiềm năng sáng tạo để xây dựng Đảng, xây dựng đất nước. Luận điểm này là một cống hiến lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho ngành khoa học xây dựng Đảng và vô cùng phù hợp khi đặt trong hoàn cảnh cụ thể của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như tâm lý, truyền thống “có lý, có tình” của của người Việt Nam.
Trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, mặc dù các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội có nhiều âm mưu phá hoại, xuyên tạc, nói xấu Đảng ta, nhưng nếu toàn Đảng đoàn kết, nhất trí như những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì không có thế lực nào có thể phá hoại được. Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ huy dàn nhạc cử bài “Kết đoàn” sẽ in sâu vào trong tâm khảm của mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta ngày hôm nay, để chúng ta cùng phát huy những thành tựu đã đạt được, kiên quyết sửa chữa những khuyết điểm, yếu kém, tiếp tục phấn đấu vươn lên, góp phần xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, ngang tầm với yêu cầu của thời kỳ mới, xứng đáng với công sức và niềm tin của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.
St

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH

 Trong xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm giáo dục cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về nội dung tự phê bình và phê bình. Theo Người, tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén để chiến đấu và chiến thắng với những sai lầm, khuyết điểm, là quy luật sống còn đối với sự tồn tại, phát triển của Đảng ta.

Theo Người: "Phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình. Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của mình. Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau"1. Tự phê bình và phê bình theo tư tưởng của Bác là phải có quan điểm toàn diện, phải chú ý cả ưu điểm và khuyết điểm, phải kết hợp chặt chẽ cả hai mặt tự phê bình và phê bình. Điều này tưởng như đơn giản, nhưng trước kia cũng như hiện nay, đã có không ít cán bộ, đảng viên thường tiến hành phê bình một cách phiến diện, chỉ nêu khuyết điểm mà ít chú ý ưu điểm của đồng chí; chỉ đi phê bình người, mà ít quan tâm tới tự phê bình mình. Đây là căn bệnh phải kiên quyết khắc phục. Song, để khắc phục được nó, chắc chắn phải là một quá trình đấu tranh lâu dài, đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên phải có ý thức tự giác và tinh thần trách nhiệm rất cao.
Sinh thời, Bác Hồ kịch liệt phê phán thái độ "dĩ hòa vi quý", e dè nể nang, che dấu khuyết điểm, ngại đấu tranh phê bình. Người luôn nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên phải kiên quyết chống thói "trước mắt thì nể, kể lể sau lưng". Người đã phân tích một cách sâu sắc, sinh động về thái độ nể nang, né tránh đấu tranh phê bình và tự phê bình rằng: "Nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc. Thế thì khác nào thấy đồng chí mình ốm, mà không chữa cho họ. Nể nang mình, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào tự bỏ thuốc độc cho mình!"2. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, thái độ e dè, nể nang, né tránh tự phê bình và phê bình vẫn còn tồn tại ở một số đảng bộ, chi bộ. Nhìn chung, đảng viên ngại phê bình cán bộ và cán bộ cấp dưới ngại phê bình cán bộ cấp trên. Cá biệt, có trường hợp, cán bộ cấp dưới chẳng những không phê bình cán bộ cấp trên, mà còn nịnh nọt, tâng bốc cán bộ cấp trên để nhằm vụ lợi. Thực tế ở đại hội đảng bộ các cấp vừa qua cho thấy, thái độ né tránh tự phê bình và phê bình còn diễn ra ở một số đảng bộ, chi bộ. Đặc điểm nổi lên là, báo cáo chính trị của một số đại hội chủ yếu trình bày thành tích, ưu điểm, mà ít chú ý tới thiếu sót, khuyết điểm. Không khí thảo luận ở một số đại hội còn xuôi chiều, tán dương thành tích, tính chiến đấu, tinh thần tự phê bình và phê bình còn hạn chế.
Để tự phê bình và phê bình đạt hiệu quả thiết thực, Hồ Chí Minh luôn quan tâm giáo dục cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về mục đích, ý nghĩa của việc tự phê bình và phê bình. Người đã nhiều lần nhấn mạnh, tự phê bình và phê bình là để cho mọi người học tập ưu điểm của nhau, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, cùng nhau đoàn kết thống nhất, cùng nhau tiến bộ, trưởng thành. Theo Người, muốn đạt được mục đích cao đẹp nêu trên, thì khi tiến hành tự phê bình và phê bình, mỗi người cán bộ, đảng viên phải có động cơ, thái độ và phương pháp phê bình đúng; đồng thời, phải luôn gương mẫu trong thực hiện tự phê bình và phê bình. Người đã nhiều lần xác định, động cơ phê bình đúng là động cơ trong sáng, thái độ chân tình, hết lòng vì sự tiến bộ của đồng chí. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên: "Phê bình thì phải rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, thành thật - mục đích là cốt sửa chữa, chứ không phải để công kích, cốt giúp nhau tiến bộ, chứ không phải làm cho đồng chí khó chịu, nản lòng"3.
Về phương pháp phê bình đúng, Người chỉ rõ, cách phê bình phải sao cho "thấu lý, đạt tình", "Ta phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa"4. Thực tế tiến hành tự phê bình và phê bình ở nhiều đảng bộ, chi bộ đã khẳng định rằng, chỉ có động cơ trong sáng, thái độ chân tình, mềm dẻo, lời lẽ thuyết phục, thì tự phê bình và phê bình mới đem lại hiệu quả cao.
Người khuyên cán bộ, đảng viên phải có thái độ tiếp thu phê bình đúng mực, khi bị phê bình "phải vui lòng nhận xét để sửa đổi" và không vì bị phê bình mà "nản chí hoặc oán ghét". Theo Người, điều quan trọng là phải thành tâm sửa hết khuyết điểm và có nhiều biện pháp khắc phục hết sai lầm. Tiếp thu phê bình là khâu cuối cùng của quá trình tự phê bình và phê bình. Chúng ta đều biết rằng, cho dù có nội dung phê bình đúng, có động cơ phê bình tốt, có phương pháp phê bình hay, nhưng cán bộ được phê bình không thành thật tiếp thu, không tự giác sửa chữa khuyết điểm, thì phê bình không thể đạt được kết quả. Chính vì thế, tiếp thu phê bình đúng mực là vấn đề cực kỳ quan trọng. Để tiếp thu phê bình đúng mực, cán bộ, đảng viên được phê bình phải thực sự cầu thị, cầu tiến bộ, phải nghiêm khắc tự đấu tranh với bản thân mình để vừa loại bỏ tính chủ quan, bảo thủ; vừa loại bỏ tính tự ti, nản chí. Đối với đảng bộ, chi bộ, phải có lòng khoan dung, độ lượng, tìm mọi cách để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm. Đặc biệt, phải kịp thời cổ vũ động viên, trân trọng với những bước tiến nhỏ của cán bộ, đảng viên có quyết tâm sửa chữa khuyết điểm. Thực hiện tốt các vấn đề trên, thì nhất định cán bộ, đảng viên sẽ tiếp thu phê bình đúng mực, hiệu quả tự phê bình và phê bình sẽ được nâng cao.
Khi tiến hành phê bình, mỗi cán bộ, đảng viên phải bình tĩnh, lời lẽ rõ ràng, nhẹ nhàng, tinh tế. Bất kỳ cán bộ cấp nào, khi tiến hành phê bình cũng không được dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc và phải chú ý chỉ phê bình việc làm sai, chứ không phê bình con người. Đặc biệt, trong tiến hành phê bình, chúng ta kiên quyết phản đối thái độ thiếu xây dựng, thái độ "đao to búa lớn", "truy chụp vu cáo", lợi dụng phê bình để moi móc, công kích. Khi tự phê bình và phê bình, mọi cán bộ, đảng viên cần chú ý chỉ rõ nguyên nhân thiếu sót, khuyết điểm; đồng thời, nêu rõ những biện pháp cụ thể để sửa chữa, khắc phục. Trên cơ sở thực hiện được tự phê bình và phê bình như vậy, nhất định đảng viên sẽ tiến bộ, tổ chức đảng sẽ vững mạnh, trưởng thành.
Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng Đảng đang đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nỗ lực phấn đấu, rèn luyện toàn diện. Trong đó, vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện có hiệu quả tự phê bình và phê bình là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết để góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ mới./.
St

GHI CHÉP: VỰC DẬY SAU ĐAU THƯƠNG, ƯƠM MẦM SỐNG MỚI

 Trận lũ ống, lũ quét gây ra sạt lở kinh hoàng ở Làng Nủ (xã Phúc Khánh, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai) đã biến ngôi làng cư dân quần tụ đông đúc trở thành một bình địa trắng với bùn lầy nhão nhoét, nước suối cuộn đục ngàu. Sau trận sạt lở, các lực lượng đã tích cực tìm kiếm những nạn nhân nằm ở đâu đó dưới lớp bùn sâu, bên bìa rừng, khe suối. Trên mảnh đất chất chứa nỗi buồn tang thương ấy, tất cả cùng chung sức đồng lòng tìm kiếm nạn nhân, cứu trợ thân nhân người bị nạn và khẩn trương tiến hành tái thiết cuộc sống mới cho người dân Làng Nủ

Cơn lũ đi qua, nỗi đau để lại
Chiều Làng Nủ phủ đầy bóng hoàng hôn. Con đường mòn ven làng khi lũ tràn qua ngập đầy bùn thì nay đã khô lại. Vết chân người in trên đất chằng chịt, đường cuộn đầy bụi. Thường ngày, trên con đường ấy trẻ em vui đến trường, xe chạy bon bon lên phố huyện, người làng dắt trâu bò đủng đỉnh ra đồng. Nhịp sống yên bình dưới thung lũng Làng Nủ đẹp như một bức tranh. Thế mà chỉ một cơn lũ kinh hoàng, tất cả bị san phẳng chìm sâu dưới bùn nâu lạnh ngắt. Trời xám màu tang thương.
Lặng bước trên con đường làng, chị Sầm Thị Nhiên như người vô hồn. Những bước chân mệt mỏi rã rời. Cả 5 người trong gia đình chị bị vùi dưới bùn sâu. Những ngày qua chị vật lộn kiếm tìm mà lòng đau như cắt. Được lực lượng chức năng hỗ trợ, những người thân bị nạn lần lượt được tìm thấy đưa về. Bàn tay chị tự lo chôn cất trong nỗi đau đớn xót xa. Chồng chị Nhiên bị thương nặng phần đầu, con gái nhỏ 7 tuổi bị gãy chân, thương tích đầy mình đang nằm điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Bảo Yên. Thương chồng con nhưng chị chưa thể gặp mặt vì còn lo chuyện hậu sự ở nhà. Vừa mới chôn cất bà nội trở về, chị Nhiên nói trong nước mắt: “Em lo chồng con em lắm. Cả hai bị thương nặng không biết sau này có phục hồi không”.
Tôi vẫn ám ảnh bởi tiếng gào như xé ruột của chị Hoàng Thị Bóng trên đường vào Làng Nủ. Chị khóc thương người chồng xấu số. Ngôi nhà chị Bóng trước đây ở giữa làng được xây dựng khang trang bằng số tiền tích góp của gia đình cộng thêm vay mượn người thân. Có nhà, niềm vui nhen lên trên từng gương mặt các thành viên. Người chồng ở nhà chịu khó cấy trồng, chăn nuôi. Còn chị Bóng lên thành phố Lào Cai xin làm giúp việc. Trước khi đi, chị dặn chồng cẩn thận: “Mình ở nhà, em đi xa kiếm ít tiền, đủ trả nợ thì về”. Lời dặn trước lúc đi xa nào ngờ lại là lời cuối vợ chồng tâm sự với nhau. Chị mãi mãi không gặp lại người chồng. Đi ven suối, tiếng người phụ nữ dân tộc Tày cứ gào lên thảm thiết: “Các chú ơi, tìm chồng giúp tôi với…”.
Anh Hoàng Văn Thới kê khai thông tin thân nhân bị nạn
Nỗi đau không dễ gì nguôi ngoai khi chỉ còn một mình không có người thân bên cạnh. Anh Hoàng Văn Thới suốt những ngày qua mặt bơ phờ, mắt trũng sâu, người rộc rạc, luôn tự trách mình không thể cứu được mẹ, vợ và 3 con. Cái đêm định mệnh ấy, anh đã đưa 5 người đi tránh trú sạt lở ở nhà họ hàng còn mình ở lại trông nhà. Nơi tránh trú tưởng là an toàn ngờ đâu lại hứng chịu trận sạt lở kinh hoàng. Cả 5 người đã nằm sâu dưới bùn đất. Anh còn một mình cứ lang thang dọc bờ suối, khe sâu. Có lúc chân anh khuỵu xuống, mong tìm người thân để đưa về an táng. Khi được gọi đến nhận quà hỗ trợ, người đàn ông ngoài ba mươi tuổi lại bật khóc.
Thôn Làng Nủ trước khi bị sạt lở vùi lấp có cư dân quần tụ đông đúc, nhiều gia đình khá giả xây được nhà hai tầng khang trang. Trận sạt lở kinh hoàng cuốn trôi 35 ngôi nhà làm 56 người chết, 11 người mất tích, 14 người bị thương đang điều trị tại bệnh viện. Trong đó, có 2 gia đình người bị t.ử n.ạ.n hết không còn một ai.
Trong những ngày chỉ đạo công tác tìm kiếm các nạn nhân tại Làng Nủ, ông Trịnh Xuân Trường, Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai chia sẻ: “Đây là trận sạt lở kinh hoàng, chưa bao giờ thiệt hại về người lại lớn như vậy”. Nhiều ngày qua những con số nạn nhân mất tích vẫn cứ ám ảnh khi chưa thể xóa đi trên bản đồ tìm kiếm. Họ vẫn nằm đâu đó mà chưa thể trở về để người thân vơi đi nỗi mong ngóng chờ trông.
Bộ đội hết mình vì người dân Làng Nủ
Trong những ngày qua chứng kiến những việc làm nghĩa tình của bộ đội, tôi càng thấm thía lời của Trung tá Lương Vĩnh Phúc, Phó chính ủy Trung đoàn 98 (Sư đoàn 316, Quân khu 2): “Chúng tôi về với dân như trở về nhà. Bộ đội giúp dân tận tâm tận lực, bằng cả trái tim”.
Khi nhận lệnh tìm kiếm cứu nạn ở Làng Nủ, 300 cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 98 đã thức trắng đêm để làm công tác chuẩn bị vật chất và tức tốc cơ động thực hiện nhiệm vụ. Mặc dù trước đó, bộ đội đã dầm mình chống lũ ở huyện Hạ Hòa (tỉnh Phú Thọ). Không để bà con chờ mong, bộ đội xuyên đêm về Làng Nủ. Đường đi uốn theo sườn núi quanh co, mưa tuôn xối xả, đất đá sạt lở chắn lối. Không quản hiểm nguy, bàn tay bộ đội lại xúc đất mở đường. Đoàn xe nối đuôi nhau ôm cua tiến về tâm sạt lở. Khi thấy bóng những chiến sĩ đặt chân xuống con đường ngập bùn lầy lội, người dân đã ào chạy ra hô lên: “Bộ đội về rồi, bà con ơi!”.
Bộ đội về, bà con sẽ không đơn độc, địa phương có điểm tựa để tìm kiếm nạn nhân, khắc phục hậu quả bão lũ. Những công việc chất chồng được triển khai nhanh chóng. Sở chỉ huy tìm kiếm cứu nạn được thiết lập ngay tại thực địa cạnh khu vực sạt lở. Các lực lượng tìm kiếm, thông tin, cảnh giới, cứu hộ cơ động thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công hiệp đồng. Những người lính mặc áo phao, đeo găng tay, chân đi ủng, mang trên mình dây kéo, bình tông, áo mưa, dũng cảm tiến về phía sạt lở. Trận chiến đấu vô cùng gian nan khi bãi sạt lở có phạm vi 24 ha. Bùn sâu ngập ngang bụng. Dưới sình lầy, cây cọc lổng chổng, rác thải ngập ngụa, chứa đầy vật sắc nhọn. Nước từ thượng nguồn vẫn đổ về cuộn lên đục ngầu. Trên cao đất đá no nước, chực chờ đổ ập xuống bất kỳ lúc nào. Bao nhiêu gian khó và cả những hiểm nguy luôn rình rập. Thế nhưng những người lính không chùn bước. Họ ngập mình dưới bùn sâu, lật từng cọc gỗ, bới từng đống rác để tìm nạn nhân. Có những tổ, nhóm đi hàng chục ki-lô-mét men theo suối xuôi về hạ lưu để tìm vớt thi thể.
Vất vả và cả những hiểm nguy luôn thường trực khi điều kiện địa hình, thời tiết không ủng hộ. Ban ngày trời nắng như rang nhưng đêm xuống lại sầm sập đổ mưa. Có khi bộ đội đang tìm kiếm thì tín hiệu từ các vọng quan sát cảnh giới báo tin, tiếng kẻng báo động vang lên thất thanh khi nước từ trên thượng nguồn bất ngờ đổ về hay điểm sạt lở trên núi cao ập xuống. Các chiến sĩ gắng sức chạy từ dưới điểm sạt lở lên bờ, áo quần lấm bết bùn đất.
Cùng với các lực lượng chức năng, cán bộ, chiến sĩ Trường trung cấp 24 Biên phòng phối hợp tham gia tìm kiếm các nạn nhân mất tích ở Làng Nủ. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, những người lính quân hàm xanh đã sử dụng “đội quân đặc biệt” là những chú chó nghiệp vụ được huấn luyện bài bản và từng tham gia nhiều hoạt động tìm kiếm cứu nạn trong nước và quốc tế. Trong công tác tìm kiếm cứu nạn càng về sau càng gặp khó khăn do điều kiện địa hình thay đổi, các loại mùi gia súc gia cầm, cá chết, cỏ cây thối rữa pha tạp. Mỗi chú chó với khả năng đặc biệt đã xông xáo lội bùn, chui rúc vào những nơi thấp hẹp tích cực đánh hơi, tìm kiếm nạn nhân.
Trong những ngày qua không thể kể hết những khó khăn vất vả của bộ đội. Khu vực sạt lở chứa trong đó là bùn lầy, đá hộc, đinh, dao sắc nhọn. Nhưng cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 316 (Quân khu 2) sẵn sàng lao xuống với tinh thần nước lũ rút ra thì bộ đội tiến vào, không một ai chùn bước. Và đã có những giọt máu thấm bùn. Binh nhì Thào Mí Lình, chiến sĩ, Đại đội 5, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 98 (Sư đoàn 316) bị đinh nhọn cắm sâu vào lòng bàn chân khiến máu chảy rất nhiều. Quân y đã khẩn trương sơ cứu, chích rộng vết thương khử trùng, tiêm phòng uốn ván và đưa Lình đi viện điều trị. Ở khu vực tâm sạt lở, Binh nhất Phùng Như Quyền, chiến sĩ, Đại đội 7, Tiểu đoàn 8 và Hạ sĩ Đỗ Tiến Nam, chiến sĩ, Đại đội 6, Tiểu đoàn 8 cũng bị vật sắc nhọn đâm vào bàn chân. Thế nhưng khi vết thương tạm ổn, hai đồng chí đã xung phong xin ra viện trở về chung sức cùng đồng đội ở Làng Nủ.
Vất vả, khó khăn và cả những hiểm nguy luôn thường trực thế nhưng không một ai ngại khó, ngại khổ. Trước khi thực hiện nhiệm vụ, đơn vị đã tổ chức quán triệt chặt chẽ, động viên tư tưởng bộ đội. Tất cả đều hăng hái coi cứu người bị nạn như cứu người thân trong gia đình mình. Cùng hành quân tìm kiếm với bộ đội khắp lòng suối, bìa rừng, Trung tá Lương Vĩnh Phúc, Phó chính ủy Trung đoàn 98 cho biết: “Bộ đội nhìn thấy mất mát ngoài thực địa đều chia sẻ nỗi đau sâu sắc với bà con. Cán bộ, chiến sĩ nhìn khu sạt lở càng hiểu khối lượng công việc rất lớn, rất khó khăn. Thế nhưng, động lực tiếp sức ấy là tinh thần vì nhân dân. Khi bên cạnh người chiến sĩ luôn có đồng đội thì khó khăn đến mấy cũng vượt qua”.
Trong bóng chiều chạng vạng, đồng chí Phó chính ủy Trung đoàn 98 đi cùng bộ đội bỗng dừng lại. Anh lấy trong túi lọ dầu gió ra rồi nhỏ vài giọt vào khẩu trang đeo lại cho chiến sĩ. Mùi dầu gió át đi mùi hôi khó chịu. Thì ra đã có nạn nhân được tìm thấy. Một nhóm chiến sĩ gạt bùn đất đưa thi thể nạn nhân về bàn giao cho gia đình. Niềm mong ngóng của thân nhân người bị nạn vơi đi phần nào nhờ công sức của những chiến sĩ đã dấn thân nơi gian khó, hiểm nguy.
Hơi ấm tình người
Đêm ở Làng Nủ bóng tối xuống nhanh. Núi cao im lìm lừng lững như những người khổng lồ đen ngòm đang nằm ngủ. Nhìn có vẻ yên bình và tĩnh lặng đấy, thế nhưng khi núi khẽ cựa mình trở dậy là sạt lở, là sập đổ, là tan hoang. Ngồi trong nhà, bà cụ Hoàng Thị Thủy cứ lẩm nhẩm cầu khấn xin trời đừng đánh sấm tạo mưa, chọc tức những quả núi đã uống no bụng nước. Mưa xuống, từng mảng đất sẽ ập đổ bất cứ lúc nào. Trong căn nhà sàn nhỏ, mấy chục chiến sĩ đang nằm nghỉ sau một ngày tìm kiếm mệt nhoài. Nghe tiếng sấm rền, cả chủ nhà và bộ đội đều thao thức âu lo, mong sao trời đừng đổ mưa, để việc tìm kiếm nạn nhân được thuận lợi, để mảnh đất này bớt đi những nguy hiểm rập rình.
Sớm hôm sau, những chiến sĩ trẻ lại tiếp tục hành quân ra hiện trường vụ sạt lở. Đồng hành cùng bộ đội là bà con Làng Nủ. Nhiều người dân xung phong vào các tổ tìm kiếm, dẫn đường, canh gác, cảnh giới vị trí có nguy cơ sạt lở ở phía núi cao. Người dân phối hợp chặt chẽ trong công tác cung cấp thông tin để việc tìm kiếm đạt hiệu quả. Từng tốp, từng nhóm cứ thế lặng lẽ dầm mình dưới bùn sâu, nước lạnh để tìm người bị nạn. Khi quá trưa trở về, tất cả lại cùng nhau ăn bữa cơm chung dưới nếp nhà sàn. Dẫu vất vả nhọc nhằn nhưng không một lời kêu than. Bộ đội giúp dân, dân càng thương bộ đội.
Làng Nủ trong những ngày đau thương, ngọn cờ treo rủ trên nóc nhà văn hóa. Cùng với bộ đội, các lực lượng đều hướng về nơi đây, chung sức đồng lòng trong công tác tìm kiếm hỗ trợ người dân. Suốt những ngày qua, bà Hoàng Thị Sợi thơ thẩn đi tìm con cháu. Bốn người trong gia đình bà đã t.ử n.ạ.n. Bà đau như cắt từng khúc ruột. Nhà không còn để về. Khi các đoàn thiện nguyện đến, địa phương mời bà đến nhận hỗ trợ. Nhận gói quà trên tay mà nước mắt bà ngắn dài chỉ ngậm ngùi cúi đầu cảm ơn. Một miếng khi đói bằng một gói khi no, những sự giúp đỡ lúc này thực sự quý báu. Bà Sợi đón nhận tấm lòng của đồng bào giúp đỡ để lo cuộc sống sau này.
Thương người trong cơn hoạn nạn, cộng đồng cùng chung tay giúp đỡ người dân Làng Nủ. Khi biết tin nhiều hộ gia đình mất người thân, nhà cửa sập đổ, các hộ dân ở tổ 9A, thị trấn Phố Ràng (huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai) đã tự nguyện quyên góp thực phẩm đến nhà chị Đào Thị Ninh để cùng nấu ăn tiếp tế cho người dân Làng Nủ và các đoàn xe thiện nguyện chạy trên dọc đường. Hay như các gia đình trong thôn Bảo Vinh (xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai) mặc dù bị ảnh hưởng của mưa lũ ngập nhà nhưng mọi người đã gác lại việc riêng đến tận Làng Nủ nấu hàng trăm suất cơm hỗ trợ bà con nơi đây. Những hộp cơm nóng, canh ngọt tuy nhỏ nhưng thực sự nghĩa tình giúp sưởi ấm lòng người giữa những ngày đau thương tê tái.
Con đường từ trung tâm huyện Bảo Yên về tới Làng Nủ quanh co đèo dốc, sạt lở liên tiếp thế nhưng từng đoàn xe vẫn theo nhau tiến vào. Trên mỗi tấm băng rôn in những khẩu hiệu giản dị mà ấm áp: “Đoàn xe thiện nguyện về vùng bão lũ”, “Tất cả vì bà con Làng Nủ”, “Mỗi chuyến xe triệu tấm lòng”… Quả thực, mỗi chuyến xe thiện nguyện chất chứa trong đó biết bao tình cảm sẻ chia của đồng bào trong cả nước. Chị Từ Thu Thủy trong đoàn thiện nguyện ở huyện Nhơn Trạch (tỉnh Đồng Nai) chia sẻ: “Khi biết chúng tôi ra đây hỗ trợ bà con Làng Nủ, người thì góp bao gạo, thùng mỳ, người thì ủng hộ hộp bánh, bịch sữa. Họ đến gửi gắm mà nước mắt rưng rưng, mong sao những món quà nhỏ sớm đến tay người bị nạn”.
Những đoàn xe từ Đồng Nai, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Hà Tĩnh, Thanh Hóa… cứ nối đuôi nhau về đây. Họ thấu hiểu và cảm thông sự khó khăn, thiếu thốn của người dân Làng Nủ, bởi chính họ cũng đã từng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh và nhận được sự hỗ trợ kịp thời. Địa phương đã đứng ra tiếp nhận những tấm lòng thơm thảo của đồng cả nước và trao lại cho người dân Làng Nủ. Ông Đoàn Xuân Hưng, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Bảo Yên, Trưởng ban vận động cứu trợ huyện Bảo Yên chia sẻ: “Hơn 300 đoàn đã đến ủng hộ bà con bị thiệt hại do ảnh hưởng của bão số 3 gây ra. Đây là sự hỗ trợ hết sức quý báu giúp người dân vơi bớt khó khăn, sớm khắc phục hậu quả để ổn định cuộc sống”.
Cơn bão đi qua để lại hậu quả nặng nề. Nhưng trong đau thương hoạn nạn càng thấy tình quân dân, nghĩa đồng bào thực sự ấm áp, nghĩa tình. Cách đó chừng hơn 1 ki-lô-mét, chính quyền địa phương, bộ đội, dân quân chung sức dựng 25 ngôi nhà tạm để người dân mất nhà trở về tạm trú. Và xa hơn, khu tái định cư mới được khởi công xây dựng trên khu vực đồi Sim (rộng khoảng 10ha). Khu vực này cách chỗ sạt lở thôn Làng Nủ khoảng 2 ki-lô-mét. Các ngôi nhà được xây dựng theo kiến trúc truyền thống của đồng bào dân tộc Tày, đồng thời đảm bảo các điều kiện sinh hoạt và sản xuất. Về khu ở mới, người dân Làng Nủ sẽ có 300m2 đất ở, 500-1.000m2 đất để trồng rau, chăn nuôi. Khu đất mới qua khảo sát được xác định bảo đảm an toàn, có các điều kiện phù hợp cho đồng bào sinh kế./.
ST

Lật tẩy những luận điệu lạc lõng, xuyên tạc về hoạt động của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hoa Kỳ

 Vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã tham dự Hội nghị Thượng đỉnh tương lai, Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 79 và làm việc tại Hoa Kỳ.

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SINH HOẠT TƯ TƯỞNG

 Sinh hoạt tư tưởng là một nội dung quan trọng trong sinh hoạt chi bộ nhằm giúp đảng viên có nhận thức, hiểu biết đúng đắn đối với những vấn đề cuộc sống đặt ra theo quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là với những vấn đề đang có ý kiến khác nhau. Qua đó, góp phần tích cực phòng, chống những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của đảng viên trong chi bộ.

Ý nghĩa của sinh hoạt tư tưởng
Sinh hoạt tư tưởng vừa giải quyết vấn đề tư tưởng, vừa góp phần vào việc xử lý những vấn đề cụ thể của chi bộ, đơn vị. Một cuộc sinh hoạt tư tưởng có hiệu quả có nhiều ý nghĩa thiết thực:
Là dịp để đảng viên trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, trong việc học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và trong công tác xây dựng đảng…
Là cơ hội để mỗi đảng viên thể hiện những suy nghĩ, bức xúc mà vì một lý do nào đó chưa có dịp bày tỏ, kể cả những việc của cá nhân hoặc những việc của cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng và các vấn đề khác của xã hội.
Đảng viên hiểu, chia sẻ và thông cảm, gắn bó, trân trọng nhau hơn. Mỗi đảng viên tự mình và giúp nhau tu dưỡng, rèn luyện, học tập để nâng mình lên. Từ đó thông suốt tư tưởng, đoàn kết nhất trí, có thêm động lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Là dịp để đảng viên điều chỉnh suy nghĩ, nhận thức chưa đúng, tránh trở thành “cái loa” tuyên truyền cho những luận điệu xấu, nhất là khi thiếu thông tin mà ngộ nhận điều sai trái là đúng.
Đối với cấp ủy, sinh hoạt tư tưởng là dịp để phát hiện đảng viên trong chi bộ có những biểu hiện không bình thường, lệch lạc về nhận thức, tư tưởng, tình cảm và có biện pháp chấn chỉnh kịp thời. Bởi khi đảng viên có những vấn đề tư tưởng nhưng không bộc lộ, không ai biết, lâu ngày “tự diễn biến” trong tư tưởng, nếu không được khắc phục kịp thời sẽ “tự chuyển hóa”, dẫn đến hành động sai trái để lại hậu quả nặng nề.
Yêu cầu để sinh hoạt tư tưởng đạt hiệu quả
Để buổi sinh hoạt tư tưởng có kết quả tích cực, cần có sự tham gia của nhiều phía:
Thứ nhất, cấp ủy cấp trên nên có định hướng với các chi bộ trực thuộc nội dung sinh hoạt tư tưởng trong chi bộ. Có thể là một phần riêng hoặc lồng ghép trong suốt cuộc họp chi bộ.
Thứ hai, cấp ủy, bí thư chi bộ phải tạo được không khí dân chủ, cởi mở, chân thành và thẳng thắn, tạo điều kiện để mọi người có thể thoải mái trình bày ý kiến của mình mà không lo bị quy chụp, đánh giá tư cách, thái độ. Người chủ trì phải làm chủ, dẫn dắt cuộc trao đổi, tránh để các đảng viên công kích lẫn nhau hoặc tranh luận quá đà, không những không giải quyết được vấn đề tư tưởng mà còn làm trầm trọng thêm. Một chi bộ có những đảng viên có uy tín, am hiểu nhiều lĩnh vực, luôn thẳng thắn và tôn trọng các ý kiến khác nhau, nhất là các đồng chí trong cấp ủy mới có thể đưa ra những ý kiến định hướng thiết thực, xác đáng, thuyết phục.
Thứ ba, mỗi đảng viên cần nhận thức mình phát biểu suy nghĩ cá nhân không chỉ thể hiện chính kiến mà còn góp phần vào việc định hướng tư tưởng cho người khác nên phải có sự chuẩn bị tốt, chọn lọc điều cần nói và bằng một phong cách phù hợp. Tức là, bản thân đảng viên nên tự biết cần nói gì, nói cho ai nghe, nói để làm gì và nói như thế nào. Có như vậy thì sinh hoạt tư tưởng mới thực sự có ích cho mỗi đảng viên và cho chi bộ, cho đơn vị. Nếu có những băn khoăn thì chi bộ chính là nơi tốt nhất để chia sẻ, mọi người cùng nghe và giúp đỡ. Với những chi bộ có sự chênh lệch về trình độ giữa các đảng viên, chính các buổi sinh hoạt tư tưởng tạo điều kiện cho các đảng viên cùng chia sẻ nhận thức, quan điểm rút ngắn khác biệt trong nhận thức, suy nghĩ, tư tưởng và hành động.
Thứ tư, thư ký cuộc họp cần ghi chép trung thực vào biên bản các nội dung liên quan đến sinh hoạt tư tưởng. Cần ghi đầy đủ mọi ý kiến, cả những ý kiến băn khoăn, chưa đúng và những ý kiến định hướng cụ thể, rõ ràng. Tránh ghi vắn tắt hoặc “diễn” lệch lạc, làm người khác đọc biên bản hiểu nhầm, không đúng sự việc.
Trong các buổi sinh hoạt chi bộ, dù là một phần riêng hay lồng ghép thì nội dung sinh hoạt tư tưởng đều rất quan trọng. Sinh hoạt tư tưởng có hiệu quả là điều kiện cơ bản để chi bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới./.
St

THỰC HIỆN CHỮ "KIỆM" THEO LỜI DẠY CỦA BÁC HỒ

 Trong những năm qua, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhất là học tập và làm theo chuẩn mực "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" đã trở thành phong trào thi đua rộng rãi trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và bước đầu đã thu được những kết quả tốt đẹp. Tuy nhiên, tình trạng lãng phí sức người sức của, lãng phí thời gian, lãng phí công quỹ của Nhà nước vẫn còn khá phổ biến ở các cơ quan, đơn vị, địa phương. Chính vì thế, việc đẩy mạnh học tập và thực hiện chữ "Kiệm" theo lời dạy của Bác Hồ là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết hiện nay.

Theo Bác Hồ, “Kiệm” là tiết kiệm, không xa xỉ, hoang phí, bừa bãi. Người còn chỉ rõ, kiệm và cần phải đi đôi với nhau, nó như hai chân của một con người vậy. Người đã từng phân tích rằng, cần mà không kiệm thì "làm chừng nào xào chừng ấy", nó như cái thùng không đáy, nước đổ chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không. Mặt khác, kiệm mà không cần thì không tăng thêm, không phát triển và sẽ dẫn tới thoái bộ, thụt lùi.
Để cán bộ, bộ đội và nhân dân hiểu đầy đủ về chữ kiệm, về tiết kiệm, Bác Hồ đã có nhiều chỉ dẫn rất sâu sắc. Theo Người, tiết kiệm không phải là bủn xỉn, mà những việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng. Người luôn khẳng định, tiết kiệm là tích cực, là góp phần tiến lên, góp phần phát triển. Bàn về tiết kiệm để đẩy mạnh tăng gia sản xuất, Người đã nhấn mạnh: "Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc. Trái lại, tiết kiệm cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, mà tăng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân. Nói theo lối khoa học, thì tiết kiệm là tích cực, chứ không phải là tiêu cực"1.
Về nội dung tiết kiệm, Bác Hồ xác định nó được thể hiện ở các vấn đề chủ yếu sau:
- Một là, tiết kiệm sức lao động. Theo Người, có nhiều biện pháp để tiết kiệm sức lao động, nhưng quan trọng nhất là phải biết tổ chức sắp xếp lực lượng cho khéo, phải nâng cao năng suất lao động, phải phấn đấu để "1 người làm bằng 2, 3 người".
- Hai là, tiết kiệm thời giờ. Đây là nội dung tiết kiệm rất quan trọng, nhưng nhiều người lại thường xem nhẹ, bỏ qua. Để mọi người thấu hiểu vấn đề này, Bác Hồ đã khẳng định rằng, thời giờ là tiền bạc. Và, Người đã có lời dạy rất sâu sắc: "Ai đưa vàng bạc vứt đi, là người điên rồ. Thì ai đưa thời giờ vứt đi, là người ngu dại"2. Người luôn nhắc nhở cán bộ và nhân dân phải biết tiết kiệm thời giờ cho mình và tiết kiệm thời giờ cho người khác.
- Ba là, tiết kiệm tiền của. Theo Bác Hồ, tiết kiệm tiền của có quan hệ mật thiết với tiết kiệm sức lao động và tiết kiệm thời gian. Người luôn yêu cầu tất cả các cơ quan, đơn vị, địa phương, tất cả cán bộ, đảng viên phải hết sức chú ý tiết kiệm tiền của của Nhà nước, của nhân dân và của chính mình.
Quán triệt và thực hiện chữ "Kiệm" theo lời dạy của Bác Hồ, trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức nhiều hoạt động thực hành tiết kiệm cụ thể, thiết thực. Kế thừa Nghị quyết số 21 của Bộ Chính trị (khóa X), Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) đã ra Chỉ thị số 21-CT/TW về việc đẩy mạnh thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Chỉ thị đã xác định rõ yêu cầu, nội dung, biện pháp cần phải tiến hành của các cấp, các ngành, các địa phương.
Thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư, thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Sơn La, Hà Giang, Hải Dương, Hà Nam, Khánh Hòa, Kiên Giang… đã ra chỉ thị về tăng cường thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trên địa bàn. Đặc biệt, một số tỉnh, thành ủy còn ra chỉ thị về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong những hoạt động đặc thù như Thành ủy Hà Nội có Chỉ thị số 11 về thực hiện nếp sống văn minh, tiết kiệm trong việc cưới trên địa bàn Thủ đô; Tỉnh ủy Hà Giang có Chỉ thị số 05 về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong tổ chức đón tết nguyên đán…
Về hoạt động của chính quyền, các cơ quan nhà nước đã nhanh chóng luật hóa và chỉ đạo thực hiện quyết liệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Ngày 26-11-2013, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí với sự đồng thuận cao. Tiếp đó, ngày 8-9-2014, Chính phủ đã ra Nghị định số 84/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, góp phần đưa Bộ luật quan trọng này vào cuộc sống.
Căn cứ vào các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp quy của Nhà nước, các cơ quan, đơn vị và các địa phương đã xây dựng nhiều chương trình, kế hoạch về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo phạm vi quyền hạn được xác định. Trên khắp đất nước, các cơ quan, đơn vị và các địa phương đã phát động nhiều phong trào thi đua về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, với nhiều nội dung, biện pháp phong phú, cụ thể, thiết thực. Các phong trào này đã thu được nhiều kết quả, tạo ra sự chuyển biến, tiến bộ trên nhiều mặt, ở nhiều địa bàn. Có thể nói, ở hầu hết các cơ quan, đơn vị và các địa phương đã thực hiện tinh giản biên chế, giảm bớt quỹ lương, hạn chế mua sắm ô tô công, giảm bớt mua sắm trang thiết bị ở các cơ quan công sở, hạn chế tổ chức các lễ hội, các cuộc chiêu đãi, tiệc tùng tràn lan. Một số điển hình nổi lên như: Bộ Công an từ chối nhận hoa và quà trong dịp kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống của Ngành. Tỉnh Quảng Ninh kiên quyết thực hiện tinh giản biên chế theo quy hoạch đã xác định. Thủ đô Hà Nội thực hiện nếp sống văn minh, trong việc cưới, với tiêu chí lễ cưới không quá 300 khách mời, không tổ chức cưới ở những nhà hàng sang trọng, đắt tiền, tăng cường thiếp báo hỉ thay cho thiếp mời dự tiệc cưới.
Tuy nhiên, những kết quả trên chỉ là bước đầu và hiệu quả đem lại chưa lớn, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả thực hiện chữ ''Kiệm" theo lời dạy của Bác Hồ, trong thời gian tới, các cơ quan, đơn vị và các địa phương cần phải thực hiện đồng bộ nhiều nội dung, biện pháp, trong đó trước hết cần tập trung thực hiện tốt một số biện pháp chủ yếu đó là:
- Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, tạo sự thống nhất cao về nhận thức ở tất cả các ngành, các cấp, trước hết là cán bộ chủ chốt, thấy rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, coi đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm về thực hiện Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" trong những năm tới.
- Gắn các nội dung thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị, các phong trào thi đua của từng ngành, từng địa phương, cơ quan, đơn vị với những chỉ tiêu cụ thể, thiết thực.
- Động viên các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia giúp đỡ, giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
- Mỗi cá nhân, đơn vị, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp phải đặt ra những chỉ tiêu phấn đấu cụ thể về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo cương vị, chức trách được giao.
Tiến hành tốt các biện pháp trên, đó là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó các đồng chí bí thư cấp ủy, thủ trưởng cơ quan, cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp phải nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu trong tổ chức thực hiện. Chỉ có trên cơ sở như vậy, việc thực hiện chữ "Kiệm" theo lời dạy của Bác Hồ mới ngày đạt được nhiều kết quả tốt đẹp./.
ST