Thứ Tư, 2 tháng 10, 2024

Bác Hồ cảnh báo sự tha hóa của quyền lực

 

.Quyền lực có xu hướng tha hóa. Quyền lực tuyệt đối, tha hóa tuyệt đối. Bài viết - thông qua vài mẩu chuyện viết báo của Bác - phân tích một số khía cạnh, nêu sự cảnh báo của Người trong việc lạm quyền, để cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc rằng có quyền mà thiếu lương tâm là hủ bại, tha hóa, liên quan đến sự tồn vong của Đảng và chế độ.

Sự tha hóa của quyền lực

Cách đây 74 năm, sau khi cách mạng vừa thành công, Bác phải lo trăm công nghìn việc, trăm đầu nghìn mối, đều những việc mới lạ, để kiến thiết đất nước về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự, ngoại giao… Nhưng nỗi bận tâm lớn nhất của Bác là khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền. Bác lo lắng vì quyền lực có xu hướng tha hóa, quyền lực tuyệt đối, tha hóa tuyệt đối.

Đảng lãnh đạo toàn dân giành được chính quyền là cần thiết, nhưng quan trọng hơn là Đảng, cán bộ, đảng viên sử dụng quyền lực như thế nào. Nếu dùng quyền lực để phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, thì đó là mặt tốt, mặt phải của quyền lực. Nhưng nếu dùng quyền lực để phục vụ lợi ích cá nhân, bộ phận, họ hàng, bà con… thì đó là mặt xấu, mặt trái của quyền lực.

Lo lắng, bận tâm như vậy, nên đúng 15 ngày sau Tuyên ngôn độc lập, cùng với nhiều hoạt động khác, Bác viết một bức thư gửi các đồng chí tỉnh nhà. Gửi cho tỉnh nhà nhưng ý nghĩa trên phạm vi cả nước. Nội dung thư đề cập nhiều vấn đề, nổi lên là “Đề phòng hủ hóa”.

Người cảnh báo có cán bộ hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, độc hành độc đoán, “dĩ công dinh tư”, dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đảng. Tính từ ngày 17-9 đến ngày 17-10, trong vòng một tháng, cùng với bao công việc bộn bề khác, Bác viết 25 bài báo với nhiều nội dung khác nhau, trong đó nổi bật là chỉ ra những căn bệnh của Đảng cầm quyền và đề nghị phải lấy lòng “chí công vô tư” để lập tức sửa đổi ngay.

Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Bác là Chính phủ, Đảng, cán bộ, đảng viên phải là đầy tớ, công bộc của dân. Bác nói phải chọn những người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi quần chúng, có năng lực làm việc đưa vào chính quyền địa phương. “Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác mà chui vào lọt các Ủy ban đó”. Bác đã cảnh báo hiện tượng “bán ngôi thứ”.

Đó là hành động “làm cho đầu óc người ta đen tối thêm, có hại cho sự tiến hóa của dân”. Người cũng chỉ rõ cái tật ngông nghênh cậy thế cậy quyền của một số cán bộ, họ nắm được chút quyền trong tay thì hay lạm dụng, đè đầu dân, cưỡi cổ dân, vác mặt làm quan cách mạng. Đó là những lầm lỗi như trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo.

Tất cả những sự hủ bại, hủ hóa đó - dưới nhiều biểu hiện và mức độ khác nhau - đang hiện hữu như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và thực tế chỉ ra. Chẳng hạn Bác viết “cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu ra mình để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân”. “Lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức. Ông ủy viên đi xe hơi, rồi bà ủy viên, rồi đến các cô các cậu ủy viên, cũng dùng xe hơi của công”. “Kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài”.

Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) nêu cái mới là “chỉ ra một cách có hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”, thế mà 74 năm trước đây, Bác đã nói với chúng ta về sự suy thoái đó. Sự linh cảm đặc biệt về sự tha hóa của quyền lực khi cái quyền đó trao vào tay những người không giữ được đạo đức. Đó là cách làm “trao trứng cho ác”.

Gần hơn một chút, 72 năm trước, vẫn sự linh cảm đặc biệt về chính trị với sự trải nghiệm già dặn hơn, ngay sau khi cả dân tộc vừa bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, viết về Đời sống mới, Bác cảnh báo rằng “những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”.

Người nói rõ đời sống mới trong công sở là từ Chủ tịch đến nhân viên là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân, phải được dân tin cậy. Vì vậy, phải làm gương đời sống mới cho dân bắt chước. Tức là mình làm việc công, phải có công tâm, công đức. Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con bầu bạn mà kéo vào chức nọ chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình. Chớ lên mặt làm quan cách mạng.

Chỉ trong 8 tháng - từ tháng 3-1947 đến tháng 10-1947 - Bác viết nhiều tác phẩm bàn về tư cách của một Đảng chân chính cách mạng cô đúc và trọn vẹn nhất, hoàn chỉnh nhất là tác phẩm Sửa đổi lối làm việc. Trong tác phẩm này, Bác đã thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống các căn bệnh, những sai lầm, khuyết điểm (ngày nay ta gọi là suy thoái) về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Hiện nay, tất cả những căn bệnh đó vẫn đang tái phát ở các biểu hiện, mức độ trầm trọng khác nhau. Có những bệnh mới trầm kha. Có những bệnh cũ nhưng lại ít được nhắc đến như thói ba hoa, dài dòng rỗng tuếch; báo cáo giả dối, thành công ít, suýt ra nhiều; bệnh hay nói chữ như tục ngữ nói “xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ”; không học cách nói của quần chúng, lại nói như giảng sách. Có những bệnh bây giờ đang nghiên cứu, tìm hiểu, xem xét, thế mà trong Sửa đổi lối làm việc Bác đã nói rõ, đó là bệnh xu nịnh, a dua. Tức là có những người “trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái”. Hoặc là bệnh giấu giếm khuyết điểm. Bác nói rất rõ rằng “nói về Đảng, một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng.

Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Rồi bệnh xa nhân dân; nghị quyết một đường, thi hành một nẻo; bệnh xem thường nhân dân, không hiểu quyền hành, lực lượng, trí tuệ, của cải ở dân, nên không thèm học hỏi, bàn bạc, giải thích cho dân...

Liền mạch tư duy, cuối thập kỷ bảy mươi, cách đây đúng 70 năm, trong 5 tháng, Bác viết hàng chục bài báo, trong đó nổi bật là hai tác phẩm: Cần Kiệm Liêm Chính (6-1949) và Dân vận (10-1949). Chữ “Liêm” trong tác phẩm Cần Kiệm Liêm Chính là sự tiếp nối tư duy phê phán về sự tha hóa quyền lực. Tác phẩm chỉ rõ sự bất liêm của cán bộ thể hiện ở nhiều chỗ, nhiều việc, nhưng đặc biệt là tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút. Dìm người giỏi để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm).

Cái nguy hại của bất liêm là ở chỗ “người mà không liêm, không bằng súc vật”; “Ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy”. Một luận điểm có tính chất đúc kết về xu hướng tha hóa của quyền lực, đó là “cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”.

Làm thế nào để chống tha hóa quyền lực

Đã bất liêm là có tội với nước với dân thì phải dùng pháp luật xử lý. Pháp luật không có khái niệm “vùng cấm”. Nói đến những kẻ bất liêm - như Bác Hồ đã chỉ ra - “pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào và làm nghề nghiệp gì”.

Có quyền mà thiếu lương tâm là hủ bại, suy thoái, biến chất, tha hóa. Có nhiều biện pháp để giải quyết, cần đặc biệt chú ý trui rèn đạo đức một cách liên tục, bền bỉ, thật sự, hằng ngày, suốt đời. Bởi vì, thiếu một phẩm chất nào đó của đạo đức là không thành người. Mặt khác, tính xấu của một người thường, chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của đảng viên, của cán bộ, của người đứng đầu, của các chức vụ vị trí cao sẽ có hại đến Đảng, đến nhân dân.

Điều này đã được Bác đúc kết trong Di chúc. Người viết rằng “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Đây là biện pháp nói đến việc cá nhân tu dưỡng, nhất là người đứng đầu phải nêu gương, gương mẫu. Ai cũng biết “thượng bất chính hạ tắc loạn”; ngược lại “một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Hiện nay, nghị quyết Đảng nói rõ rằng các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương gương mẫu, nêu gương, thì có sức lan tỏa lớn trong Đảng và toàn xã hội. Đó là nguồn cảm hứng cho công cuộc đổi mới.

Một biện pháp khác rất có hiệu nghiệm, đó là dùng nhiều hình thức và phương pháp kiểm tra, kiểm soát từ dưới lên để nhổ đi nhổ lại cho sạch hết cỏ rác. Từ dưới lên tức là quần chúng kiểm soát sự sai lầm của lãnh đạo. Cách này là tốt nhất; là “cái lồng nhốt quyền lực” - từ dùng của người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta hiện nay - chắc chắn nhất.

Phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế, bảo đảm tính khoa học của bộ máy, đặc biệt là xây nền dân chủ. Dân chủ là người dân dám nói, dám bàn, dám làm, được kiểm tra, được quyết định. Muốn thế, phải công khai minh bạch; điều “trưng cầu dân ý” trong Hiến pháp phải được luật hóa. Tất cả những điều đó là cái chìa khóa vạn năng, là động lực. Bài học lịch sử cho thấy lúc nào, ở đâu mất dân chủ là khó khăn, dẫm chân tại chỗ, đi đến thất bại.

Một điều rất quan trọng là Đảng phải luôn luôn kiểm tra những nghị quyết và chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Như Đảng ta đã chỉ ra, trong Đảng những năm qua, có những khuyết điểm, yếu kém kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục. Phải trả lời được câu hỏi lớn đặt ra ở đây là “vì sao?”. Phải tìm ra được cái gốc của vấn đề để “đào tận gốc”. Xử lý ngọn cũng cần nhưng không căn bản. Bài toán chưa có lời giải đúng là chưa xong.

Tất cả những biện pháp nêu trên đã được các nghị quyết của Đảng gần đây nêu lên. Trong đó chú trọng nêu gương, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực của người có chức, có quyền; phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội. Điều còn lại là nói đi đôi với làm với một quyết tâm chính trị cao, thật sự, kiên quyết, kiên trì.

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về công tác phòng chống tham nhũng, ngày 25-6-2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Phải biết dựa vào dân, lắng nghe dân, cái gì mà quần chúng nhân dân hoan nghênh, ủng hộ thì chúng ta phải quyết tâm làm và làm cho bằng được; ngược lại, cái gì nhân dân không đồng tình, thậm chí căm ghét, phản đối thì chúng ta phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các sai phạm”. Đó có thể coi là mệnh lệnh từ trái tim của mỗi cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay.

Cảnh giác nguy cơ tiềm ẩn "Cách mạng màu"


"Cách mạng màu" được biết đến như một chiêu bài chính trị kiểu mới của các thế lực thù địch, phản động nhằm kích động, gây mất trật tự xã hội, gây bất ổn, xung đột, tạo điểm nóng ở một số nơi và thổi nóng các mâu thuẫn trong một bộ phận quần chúng nhân dân. Với những thủ đoạn chống phá tinh vi, diễn biến phức tạp; “cách mạng màu” như một ngọn lửa cháy âm ỉ trong đời sống chính trị - xã hội Việt Nam. Hiện “cách mạng màu” đang tiềm ẩn những nguy cơ vô cùng to lớn đối xã hội chủ nghĩa nước ta hiện nay. Âm mưu của chúng là tác động trực tiếp và gián tiếp đến các lĩnh vực của đời sống, chính trị, kinh tế, văn hoá ở nước ta...

Vậy “cách mạng màu” là gì, cách mạng màu có nguy cơ tiềm ẩn như thế nào đối với Đảng và Nhà nước ta hiện nay? “Cách mạng màu” hay còn gọi là “cách mạng nhung”, “cách mạng đường phố”… là thuật ngữ chỉ những phong trào phản kháng với đặc điểm nổi bật là dùng phương pháp phi bạo lực, phi vũ trang nhằm lật đổ chính quyền nhà nước đương nhiệm, đòi hỏi lập ra bộ máy cầm quyền mới của lực lượng đối lập được các thế lực phản động hậu thuẫn. “Cách mạng màu” là một trong những thủ đoạn vô cùng nguy hiểm nằm trong âm mưu diễn biến hoà bình mà các thế lực thù địch đã và đang thực hiện. Một trong những mục tiêu quan trọng được ưu tiên của âm mưu này là nhằm lật đổ các nước xã hội chủ nghĩa. Thủ đoạn của chúng là lợi dụng những vụ việc không may xảy ra, chúng xuyên tạc, “bẻ lái”, viện cớ để kích động, nhen nhóm lên những đốm lửa phá hoại, gieo rắc tâm trạng bất mãn, tiêu cực cho một bộ người dân để đến khi thích hợp sẽ tổ chức kích động, tiến hành bạo loạn.

Ở Việt Nam, các thế lực thù địch cũng đã manh nha sử dụng kịch bản này đã gây ra một số vụ việc bạo loạn. Ví dụ như: Năm 2016, dưới danh nghĩa bảo vệ môi trường sau sự cố môi trường biển do công ty Formosa gây ra, các đối tượng đã kích động một số cuộc tụ tập đông người có hành vi bạo lực vi phạm pháp luật dưới chiêu bài “vì môi trường, chống Công ty Formosa Hà Tĩnh”. Năm 2018, các phần tử xấu hô hào gọi là “Hoạt động phản đối Dự thảo Luật Đặc khu”, “thể hiện lòng yêu nước”… lôi kéo kích động người dân tụ tập đông người trái phép, gây rối an ninh, trật tự, chống người thi hành công vụ, cố ý huỷ hoại tài sản, đập phá trụ sở cơ quan công quyền. Và năm 2019, tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” có trụ sở tại Mỹ do Đào Minh Quân - quốc tịch Mỹ cầm đầu, chỉ huy đã dựng lên các chiêu trò bịp bợm, lôi kéo bằng những lời hứa hẹn sẽ cấp đất, xây nhà, hỗ trợ tài chính cho người nghèo để đánh vào lòng tham của một bộ phận thiếu hiểu biết, hứa hẹn phong chức tước, bổ nhiệm cho các thành viên, đồng thời bịa đặt những thông tin, luận điệu xuyên tạc nhằm lừa phỉnh những người nhẹ dạ, nhất là những người có trình độ học vấn thấp hay những người bất mãn, tiêu cực… đổi lại những ai đăng ký nhận hỗ trợ sẽ phải tham gia “trưng cầu dân ý” thể hiện quan điểm chống đối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Cái kết đã làm cho nhiều người cứ chờ đợi trong hy vọng; nhà, đất không thấy đâu chỉ thấy vướng vào vòng lao lý.

Các cuộc “cách mạng màu” thường diễn ra theo lộ trình ba giai đoạn. Mỗi giai đoạn đều được chuẩn bị kỹ lưỡng, tinh vi nhằm đạt được mục tiêu lớn nhất của “cách mạng màu” là thiết lập được một chính quyền thân Mỹ và các nước phương Tây. Đầu tiên là giai đoạn chuẩn bị. Đây là giai đoạn tạo ra các điều kiện cần thiết cho việc gây ra một cuộc “cách mạng màu”, công cuộc mị dân, các thế lực thù địch tuyên truyền những luận điệu, tư tưởng sai trái nhằm hạ uy tín, hình ảnh, thổi phồng các khuyết điểm, yếu kém của chính quyền đương nhiệm đồng thời cũng tô, vẽ cho các nhân vật thuộc phe đối lập thành những “anh hùng dân tộc mới” chắc chắc sẽ đem lại tự do, dân chủ, ấm no cho nhân dân. Khi những bước đầu của “cách mạng màu” đã thành công, giai đoạn tiến hành được tiếp tục triển khai. Đây là giai đoạn mà phe đối lập ở trong nước phối hợp với các thế lực thù địch ở nước ngoài tiến hành các kịch bản đã được xây dựng sẵn khi mọi điều kiện và thời cơ đã chín muồi. Sau giai đoạn tiến hành “cách mạng màu”, công việc cuối cùng của lực lượng đối lập là tiến hành kết thúc cách mạng. Phụ thuộc vào kết quả của cuộc cách mạng thành công hay thất bại, lực lượng đối lập trong nước và các thế lực bên ngoài sẽ tiến hành những công việc phù hợp với tình hình.
“Cách mạng màu” chính là vũ khí để các nước tư bản chủ nghĩa ứng xử theo tư duy “chân lý thuộc về kẻ mạnh”, coi thường luật pháp quốc tế, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của các quốc gia độc lập có chủ quyền. “Cách mạng màu” là công cụ đắc lực cho Mỹ và các nước phương Tây để áp dụng với các nước nhỏ, không chịu theo quỹ đạo “độc quyền” mà họ đã đề ra. Mục tiêu tổng quát của “cách mạng màu” là lật đổ những người đứng đầu nhà nước như tổng thống, thủ tướng, chủ tịch nước, lật đổ chính quyền nhà nước đương nhiệm. Sau khi “cách mạng màu” diễn ra thành công, đảng phái đối lập sẽ nhanh chóng lên nắm quyền và thiết lập bộ máy nhà nước mới trên cơ sở có lợi cho những “đạo diễn” của “cách mạng màu” là Mỹ và các nước phương Tây. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, công cuộc mị dân của “cách mạng màu” trong những năm vừa qua đã khiến nhiều nước lâm vào tình cảnh khốn cùng.

Ở một số nơi diễn ra “cách mạng màu”, Mỹ và phương Tây hứa hẹn sẽ mang đến những điều tốt đẹp nhất cho người dân nhưng thực chất đã khiến đời sống của họ sau “cách mạng màu” rơi vào tình thế cùng cực. Điển hình như sau “thành công” của “cách mạng cam” tại Ukraine (năm 2004) lật đổ Thủ tướng Vichto Yanukovich đưa Viktor Yushchenko lên cầm quyền và hướng đất nước về phía Tây với sự gia nhập EU và NATO; chính quyền sở tại đã khiến 46 triệu dân Ukraine phải trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội “đen tối của lịch sử nước này”, với chỉ số báo động: Năm 2008 - 2009, GDP của nước này giảm 15%; lạm phát tăng 16,4%; thu nhập thực tế của người dân giảm gần 11%, số thất nghiệp tăng gấp ba. Những vấn đề xã hội bức xúc xảy ra như: xung đột vùng miền, chia rẽ sắc tộc, bạo lực, trả thù cá nhân, chính sách xã hội không thực thi hiệu quả… 

Kinh tế ngày càng trầm trọng, nợ nước ngoài tăng nhanh; lãnh đạo nước này rơi vào cảnh “gà mắc tóc”; dù Mỹ và phương Tây có viện trợ tới 35 tỷ USD để cứu vãn nền kinh tế Ukraine thoát khỏi nguy cơ sụp đổ của chính quyền thân Mỹ. Thậm chí, tại thời điểm này, Ukraine hiện đang tham chiến quân sự với Nga khiến cuộc sống của hàng nghìn người dân luôn trong tình trạng khó khăn, bất ổn.
Thiết nghĩ, để ngăn chặn nguy cơ “cách mạng màu” ở Việt Nam, cần thiết tăng cường nguồn sức mạnh nội sinh - những yếu tố chủ quan làm thành trì vững chắc để đấu tranh với các yếu tố tác động bên ngoài. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh. Tăng cường công tác vận động quần chúng nhất là vận động đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. Tập trung phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao trình độ dân trí, đảm bảo đời sống cho nhân dân. Bên cạnh đó, cũng cần công khai, minh bạch, nhanh chóng, kịp thời thông tin những vụ việc phức tạp, để người dân được tiếp cận tình hình, không để các thế lực thù địch lợi dụng, bịa đặt, gây hoang mang trong dư luận. Đặc biệt, quan tâm đến công tác tuyên truyền với sinh viên, thanh niên, trí thức - đây là lực lượng nòng cốt đông đảo trong các cuộc biểu tình của “cách mạng màu” trên thế giới đã diễn ra. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, luôn đề cao cảnh giác và thực hiện các giải pháp nhằm kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn để tiến hành “cách mạng màu ở Việt Nam”.

 “Cách mạng màu” là mối nguy hiểm tiềm tàng bởi đây là một bộ phận hợp thành của chiến lược “diễn biến hòa bình” với mục tiêu phá hoại nền độc lập của các quốc gia, dân tộc. Nếu để “cách mạng màu” có mầm mống, nguy cơ xảy ra thì tình hình chính trị - xã hội của quốc gia trong tương lai sẽ khó tránh khỏi việc mất độc lập, đe doạ đến an ninh quốc gia và sự tồn vong. Khi các hoạt động này thực hiện, chúng tác động đến các lĩnh vực của đời sống, chính trị, xã hội, tác động trực tiếp và gián tiếp đến chính trị, kinh tế, văn hoá ở nước ta... Từ đó, có thể dẫn đến những nguy cơ nguy hiểm tiềm ẩn mất trật tự xã hội, gây bất ổn, xung đột, tạo điểm nóng ở một số nơi và nguy cơ gây nên mâu thuẫn trong một bộ phận quần chúng nhân dân… Khi đó, dù là một quốc gia độc lập nhưng/. họ sẽ luôn bị thao túng, trói buộc mọi phương diện dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của chế độ tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, “không có gì quý hơn độc lập tự do” không chỉ là lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm kháng chiến mà đây còn là bài học sâu sắc mà chế độ xã hội chủ nghĩa xã hội đã sớm nhận ra và thực hiện./.

Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên trong bối cảnh hiện nay

 

Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên là nội dung, biện pháp quan trọng của việc đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo để gắn kết dạy “chữ” với dạy “người”, đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao “vừa hồng”, “vừa chuyên” cho đất nước. Bài viết làm rõ vai trò của giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên; thực tiễn giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên với những điểm mạnh, hạn chế, nguyên nhân; đồng thời, đề xuất các biện pháp tăng cường giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên trong thời gian tới.

Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay có vai trò đặc biệt quan trọng. Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên”(1). Một mặt, khơi dậy truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc, mặt khác đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ gắt gao cho sinh viên - những người có tri thức, trình độ cần giữ gìn và phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, để phát triển kinh tế - xã hội một cách ổn định, bền vững đất nước; góp phần xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam, đáp ứng với những đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường, thịnh vượng, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

1. Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên, gắn dạy chữ với dạy người

Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc được hình thành, phát triển từ thực tiễn đấu tranh chinh phục tự nhiên, chống thiên tai, địch họa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Trải qua hàng nghìn năm đấu tranh bảo vệ nền độc lập, tự do dân tộc, xây dựng cuộc sống nhân dân ta đã đúc kết nên những truyền thống vô cùng quý báu, Đó là: lòng yêu nước nồng nàn; ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng khoan dung, nhân ái, độ lượng; tinh thần lạc quan; cần cù, thông minh, sáng tạo trong cuộc sống, lao động sản xuất.

Những giá trị truyền thống dân tộc đó đã thấm sâu trong nhân dân, như mạch ngầm trong mỗi con người, mỗi xóm làng, nên những giá trị đạo đức vô cùng đặc sắc, tạo nên sức mạnh phi thường, để dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, hiểm nguy, trường tồn và phát triển. Các giá trị đạo đức truyền thống là một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại, được thể hiện và phát huy trong một môi trường tự nhiên - xã hội riêng có của con người Việt Nam; không ngừng được củng cố, bổ sung, phát triển phù hợp với đặc điểm tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng ở mỗi giai đoạn, thời kỳ lịch sử của đất nước.

Những giá trị đó là sức mạnh nội sinh, là nền tảng tinh thần vững chắc, là động lực của sự nghiệp đổi mới đất nước, mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hoá thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn… phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao”(2).

Sinh viên là những người trẻ, khoẻ, trí tuệ, nhiệt huyết, xung kích, sáng tạo đi đầu trong mọi hoạt động, tiếp thu và ứng dụng rất nhanh những thành tựu của khoa học công nghệ vào đời sống, dám đối mặt với khó khăn, thử thách. Tuy nhiên thanh niên, sinh viên cũng rất nhạy cảm, có bản tính phiêu liệu dễ hành động thiếu chín chắn, mang tính bột phát, thích khám phá để chứng minh khả năng bản thân trước tập thể, chưa có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn. Do vậy, vai trò của giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên là hết sức cần thiết.

Một là, giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên giúp nâng cao ý thức tự cường, niềm tự hào về lịch sử dân tộc. Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc không phải tự nhiên mà có, mà được hình thành bởi con người của dân tộc Việt Nam trên cơ sở của điều kiện tự nhiên, lịch sử của dân tộc. Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc là niềm tự hào của mỗi người dân Việt Nam. Giá trị đạo đức truyền thống thể hiện bản lĩnh dân tộc, ý thức tự cường, niềm tự hào về lịch sử dân tộc.

Mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng vừa đem lại cơ hội để chúng ta giao lưu, học hỏi, song cũng là “mảnh đất” màu mỡ để văn hóa xấu độc len lỏi, xâm nhập, làm phai nhạt giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, “nhiều sản phẩm văn hoá độc hại từ bên ngoài đã xâm nhập vào nước ta bằng nhiều con đường, tác động rất xấu đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, tâm lý, hành vi của một bộ phận nhân dân, nhất là thanh, thiếu niên, làm huỷ hoại, xói mòn nền tảng và những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc”(3).

Vì vậy, giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc làm cho sinh viên hiểu rõ lịch sử, truyền thống dân tộc, từ đó, đánh thức, khơi dậy niềm tự hào, nâng cao bản lĩnh sống, vững vàng trước những cám dỗ, những tác động tiêu cực từ bên ngoài.

Hai là, giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc giúp sinh viên có thêm kiến thức, kỹ năng ứng xử phù hợp với môi trường giáo dục, đào tạo. Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc là nền tảng, là cái “gốc” để hình thành, phát triển nhân cách.

Cùng với trang bị những kiến thức của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã ở Việt Nam, giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên để mỗi sinh viên điều chỉnh thái độ, suy nghĩ, hành vi trong môi trường giáo dục, đào tạo, nhất là trong quan hệ ứng xử với môi trường tự nhiên, môi trường sống và với chính bản thân mình.

Các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, là động lực, ý chí khát vọng vươn lên trong học tập, rèn luyện, của mỗi sinh viên. Qua đó, góp phần quan trọng vào phát huy sức mạnh của dân tộc vào quá trình xây dựng, bảo vệ đất nước hiện nay.

Ba là, giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên là điều kiện bảo đảm cho dân tộc ta hội nhập, hợp tác và phát triển bền vững. Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc là đặc điểm nổi bật của dân tộc ta, do chính dân tộc ta tạo nên và được dân tộc ta tiếp thu một cách sáng tạo từ bên ngoài. Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên là bao hàm cả giáo dục các giá trị truyền thống và các giá trị hiện đại.

Phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ. Trong quá trình giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, đồng thời phải mở rộng giao lưu, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ của các dân tộc khác. Sinh viên các trường đại học có rất nhiều cơ hội, điều kiện để, giới thiệu, lan tỏa giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với bạn bè quốc tế. Vì thế, giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên là yếu tố rất quan trọng để gắn kết các nền văn hoá quốc gia, dân tộc với nhau. Trên cơ sở, nền tảng của giá trị đạo đức truyền thống dân tộc bổ sung, phát triển những giá trị mới phù hợp với bối cảnh lịch sử mới.

Bốn là, giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc giúp sinh viên bổ sung “kháng thể” trước những quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Hiện nay, các thế lực thù địch đang gia tăng các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta trên các lĩnh vực, trong đó, đối tượng trọng tâm của chúng là sinh viên. Do đó, giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc để sinh viên nhận diện rõ hơn các âm mưu, thủ đoạn nham hiểu, thâm độc, tinh vi, lan truyền văn hoá phẩm đồi truỵ, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc làm cho một bộ phận sinh viên mở hồ, ảo tưởng về văn hóa phương Tây phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Đảng ta khẳng định: “Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”(4).

2. Hoạt động giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên hiện nay

Hoạt động giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên được cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo, các cơ quan, Đoàn thanh niên quan tâm, chú trọng; có nhiều đổi mới về nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực hiện.

Các chủ thể lãnh đạo, quản lý giáo dục đã làm tốt công tác quán triệt, tuyên truyền, phổ biến đến sinh viên quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng mục tiêu, yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Quá trình giảng dạy, nghiên cứu giảng viên các trường đại học có sự lồng ghép nội dung giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên.

Theo kết quả điều tra xã hội học đối với 125 sinh viên năm thứ hai, khoa Xây dựng Đảng, khoa Chính trị và Luật trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh; khoa Luật Hành chính - Nhà nước, trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (thời gian tháng 5 và 6/2023) cho thấy: có 48 ý kiến (38,4%) cho rằng, giảng viên thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc; có 38 ý kiến, chiếm 30,4% cho rằng giảng viên đã đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, lồng ghép các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc vào bài giảng; có 22 ý kiến (17,6%) cho rằng, giảng viên đã gắn nội dung giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp dân tộc với hoạt động thực của xã hội; có 17 ý kiến (13,6%) cho rằng, các nội dung giáo dục giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp dân tộc của giảng viên cơ bản phù hợp với đặc điểm tâm lý của sinh viên.

Cùng với thời gian và địa điểm trên, khảo sát 85 giảng viên có 27 ý kiến, (31,7%) cho rằng, giảng viên luôn quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước về đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, gắn “dạy chữ” với “dạy người”; có 23 ý kiến (27,0%) cho rằng, giảng viên luôn kết hợp nhuẫn nhuyễn phương pháp dạy học truyền thống với phương pháp dạy học hiện đại, tăng tính trực quan, hình ảnh cho sinh viên; có 18 ý kiến (21,1%) cho rằng, giảng viên luôn phát huy tính tích cực, chủ động của người học; có 17 ý kiến (20,0%) cho rằng, giảng viên luôn cập nhật tin tức, thực trạng xã hội đang diễn ra đưa vào nội dung bài giảng.

Kết quả khảo sát trên cho thấy, công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mỗi chủ thể, lực lượng về tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên về cơ bản là rất tốt; sinh viên xứng đáng là bộ phận ưu tú của thanh niên Việt Nam, lực lượng nòng cốt của phong trào thanh niên cả nước, có sự trưởng thành về nhiều mặt, giữ vững và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường, thịnh vượng.

Giảng viên giảng dạy đã quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng về đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, kết hợp “dạy chữ”, “dạy người”, “học đi đôi với hành”, “lý luận gắn với thực tiễn”…Vì vậy, kết quả thi kiểm tra kết thúc môn học của sinh viên về được điều tra cơ bản đều đạt khá, giỏi, không có sinh viên phải thi lại.

Trong những năm qua, các trường đại học đã phối hợp với Bộ Thông tin - Truyền thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, tổ chức các cuộc thi: “Tìm hiểu về lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam”, “Tìm hiểu về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Tìm hiểu Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng”, “Thi tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”…

Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp với các trường đại học tổ chức nhiều cuộc thi, chương trình, triển lãm để giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, tiêu biểu, như: “Nét đẹp sinh viên Văn Hiến”, “Sinh viên với tình yêu biển, đảo quê hương”; “Tìm hiểu Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII”; “Tổ chức hội thi Olympic các môn khoa học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”; triển lãm sinh viên “Dám sống một cuộc đời rực rỡ”, “Sinh viên tình nguyện”…

Nhiều trường đại học thành lập Câu lạc bộ lý luận trẻ, như: Trường đại học Thủ Dầu Một (Bình Dương) đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, cụ thể để sinh viên phát huy năng lực, sở trường, thế mạnh bản thân: tổ chức các buổi sinh hoạt, tọa đàm, diễn đàn, hội thảo, nghe báo cáo chuyên đề của các chuyên gia trên các lĩnh vực, giao lưu nhân chứng lịch sử, nhà khoa học; Câu lạc bộ lý luận trẻ của nhà trường đã phối hợp với Câu lạc bộ Lý luận trẻ của Tỉnh đoàn trình bày cuốn sách Búp sen xanh; thảo luận về giải pháp “giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ trên không gian mạng”(5); các trường đại học hằng năm tổ chức hội thi Olympic các môn khoa học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho sinh viên, tổ chức cho sinh viên “hành quân về nguồn”, tham quan di tích lịch sử cách mạng, căn cứ kháng chiến.

Phòng công tác sinh viên của các trường Đại học ở thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện tốt công tác quản lý sinh viên. Hàng năm, Phòng Tổ chức sinh viên tổ chức “Tuần lễ sinh hoạt công dân - học sinh sinh viên” với các về phổ biến pháp luật, chuyên đề về an ninh quốc phòng; học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh… Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chính trị cho sinh viên trong học tập, rèn luyện; có hành vi ứng xử đúng đắn, phù hợp với giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, quy định của pháp luật.

Chỉ thị số 31-CT/TW ngày 4/12/2019 về tăng cường giáo dục, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên đã chỉ rõ: “phần lớn học sinh, sinh viên có đạo đức tốt, kính trọng ông, bà, thầy, cô giáo, người lớn tuổi, có tinh thần đoàn kết, tích cực học tập, rèn luyện, tu dưỡng; có ý thức chấp hành pháp luật tốt, lối sống đẹp, lành mạnh; có lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc; tham gia vào các hoạt động vì cộng đồng xã hội”(6).

Tuy nhiên, bên cạnh những hoạt động được thực hiện nhằm giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên, công tác này còn một số hạn chế: Một số cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý cơ quan, khoa giáo viên chưa làm tốt công tác giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên; việc giảng dạy kiến thức trên lớp còn, chưa lồng ghép nội dung giáo dục vào từng bài giảng; hình thức, biện pháp giáo dục chưa phong phú, đa dạng, hấp dẫn, cuốn hút sinh viên; một bộ phận sinh viên ngại học, ngại khổ, ngại rèn, sống thực dụng, sa sút về phẩm chất đạo đức, lối sống, thích hưởng thụ lại lười học, lười hoạt động.

Nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm trên Đảng ta đánh giá: “Môi trường văn hoá bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mĩ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh thiếu niên rất đáng lo ngại”(7).

Công tác tuyên truyền, giáo dục của cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp, cán bộ quản lý giáo dục, làm chưa thường xuyên, chưa có trọng tâm, trọng điểm, thiếu kiểm tra, đánh giá chưa thật sự sâu sát, cụ thể, tỉ mỉ; Nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục chưa có nhiều đổi mới, gắn với thực tiễn, mang tính đột phá; Công tác phối kết hợp giữa các tổ chức, lực lượng, nhất là gia đình chưa chặt chẽ; Một bộ phận sinh viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức, lối sống, không có mục đích, động cơ phấn đấu vươn lên.

Quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước về đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, “dạy chữ” gắn với “dạy người”; khơi dậy ý chí, khát vọng cống hiến phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo quan điểm Đại hội XIII của Đảng cho thanh niên sinh viên; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao;  làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch,… đặt ra những yêu cầu, biện pháp vừa mang tính cụ thể, trước mắt, vừa mang tính lâu dài cho hoạt động giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên các trường đại học để hiện thực quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(8).

3. Giải pháp tăng cường giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên hiện nay

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể về tầm quan trọng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên.

 “Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần, trách nhiệm với đất nước, với xã hội”(9). Với tinh thần này, cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp, lãnh đạo khoa, phòng quản lý sinh viên, giảng viên quán triệt, phổ biến, tuyên truyền đến sinh viên các chủ trương về xây dựng, văn hoá con người Việt Nam thời kỳ mới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Lồng ghép các nội dung giáo dục giá trị đạo đức truyền thống vào từng môn học; coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, không chủ quan, lơ là, làm qua loa, hình thức. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục kiên trì, coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, học tập, nghiên cứu và vận dụng chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng vào thực tiễn”(10). Giảng viên hàng ngày, lên lớp cho sinh viên, phải chú trọng việc khơi dậy các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc thông qua những sự kiện lịch sử, các nhân vật tiêu biểu. Tổ chức các hoạt động để sinh viên tham gia, phát huy năng lực, sở trường, thế mạnh vào từng công việc, nhiệm vụ cụ thể.

Làm tốt công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập, rèn luyện của sinh viên. Đối với sinh viên xếp hạnh kiểm khá, trung bình cần có sự gặp gỡ, trao đổi riêng, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất phương hướng, biện pháp khắc phục, sửa chữa. Đối với sinh viên có hoàn cảnh khó khăn nhưng vươn lên trong học tập, rèn luyện, đạt kết quả cao, tích cực tham gia vào các hoạt động của nhà trường, xã hội biểu dương, khen thưởng, lan toả hành động, việc làm của tấm gương sinh viên đó trong toàn trường.

Các chủ thể lãnh đạo, quản lý, bồi dưỡng, giáo dục sinh viên đề cao tinh thần, trách nhiệm; phát huy tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, không chỉ có dạy chữ mà còn bao hàm cả dạy người, dạy cách đối nhân xử thế, biết trân trọng các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc.

Hai là, vận dụng linh hoạt, sáng tạo nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên.

Chỉ thị số 31-CT/TTg yêu cầu: “Tiếp tục rà soát đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy môn giáo dục đạo đức, các môn học chính khoá và các hoạt động giáo dục khác có liên quan… Đổi mới phương pháp đánh giá đạo đức, khen thưởng, kỷ luật đối với học sinh, sinh viên”(11). Theo đó, về nội dung, thường xuyên cập nhật, bổ sung; coi trọng việc gắn lý luận với thực tiễn, lấy dẫn chứng, ví dụ chứng minh cho nội dung bài giảng sát với thực tiễn. Thường xuyên cập nhật thông tin, nội dung mới về tình hình thế giới, khu vực, trong nước đưa vào bài giảng.

Giảng viên ở các trường đại học là lực lượng quan trọng quyết định đến nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nói chung và giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc nói riêng “Giảng viên cao đẳng, đại học có trình độ tự thạc sỹ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm”(12). Theo đó, giảng viên cần tích cực, chủ động đổi mới nội dung dạy học; có năng lực, phương pháp, tác phong sư phạm tốt để truyền dạy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên; từ đó kích thích, khơi dậy, làm bừng sáng tinh thần, khí thế học tập sôi nổi, hào hứng trong sinh viên; giảng viên cần kết hợp nhuẫn nhuyễn giữa phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại, sử dụng linh hoạt, sáng tạo ngôn ngữ truyền đạt.

Về hình thức, phương pháp giáo dục cần coi trọng hoạt động thực tiễn, đưa sinh viên vào những tình huống có vấn đề, khó khăn, phức tạp để mỗi sinh viên được trải nghiệm, thấu hiểu vất vả, cực nhọc người lao động, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, bộ đội nơi biên giới, hải đảo. Đoàn thanh niên tổ chức những hoạt động tình nguyện, tiếp sức mùa thi, ngày Chủ nhật đỏ, cuộc thi để sinh viên có cơ hội, điều kiện thể hiện tài năng, sở trường, thế mạnh của bản thân; Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Cần coi trọng giáo dục qua thực tiễn phong trào, lựa chọn phương thức giáo dục phù hợp với từng lứa tuổi”(13); đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong chia sẻ, kết nối và lan toả những tấm gương “người tốt”, “việc tốt” trong sinh viên về học tập, rèn luyện, tham gia hoạt động xã hội.

Ba là, phát huy sức mạnh của các tổ chức, lực lượng trong giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên.

Giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, gia đình, nhà trường và xã hội. Giáo dục gia đình rất quan trọng, là cơ sở, nền tảng ban đầu không thể thiếu được trong quá trình trưởng thành, phát triển của sinh viên. Nếu gia đình có nền nếp thì con cái sẽ chăm ngoan, tiến bộ, ngược lại, gia đình không hoà thuận, mất đoàn kết, không có sự tôn trọng giữa các thành viên thì con cái sẽ bị ảnh hưởng. Theo đó, xây dựng gia đình ngày càng ấm no, hạnh phúc, thật sự là chỗ dựa vững chắc về tinh thần cho sinh viên; các thành viên gia đình thường xuyên có sự quan tâm, động viên, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn trong công việc, cuộc sống; tôn trọng, lắng nghe ý kiến của các thành viên; Gia đình cần phối hợp chặt chẽ với cơ sở đào tạo để nắm bắt tình hình mọi mặt học tập, rèn luyện của con em, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống.

Đối với nhà trường, quản lý chặt chẽ sinh viên trong giờ học, tăng cường công tác kiểm tra, nhắc nhở, uốn nắn đối với sinh viên không chấp hành đúng nội quy của nhà trường như ăn, mặc, phát ngôn, quan hệ xã hội… Thông tin đến phụ huynh sinh viên về kết quả học tập, rèn luyện của từng năm học, nắm chắc diễn biến tâm lý, tư tưởng của sinh viên, kịp thời phối hợp với cơ quan, ban, ngành giải quyết sự việc. Phát huy vai trò nòng cốt của Đoàn thanh niên các trường đại học trong đồng hành cùng sinh viên, tạo ra sân chơi bổ ích, lý thú, nhân văn để sinh viên được tôi luyện, rèn rũa về mọi mặt.

Bốn là, xây dựng môi trường văn hoá trong sạch, lành mạnh để giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên.

Xây dựng môi trường văn hoá trong sạch, lành mạnh nhằm điều chỉnh hành vi của sinh viên theo những chuẩn mực giá trị đạo đức truyền thống dân tộc hiện nay. Những hiện tượng tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu cũng như sự xuất hiện của những nhân tố mới tiến bộ đều tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của sinh viên. Theo đó, cần có những điều chỉnh về pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm tạo dựng môi trường văn hoá trong sạch, lành mạnh để sinh viên có khả năng phát huy tốt nhất năng lực của mình cũng như được hưởng thụ thành quả của xã hội, mà trong đó có sự đóng góp của mỗi cá nhân.

Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “xây dựng môi trường, điều kiện học tập, lao động, giải trí, rèn luyện để phát triển lành mạnh, toàn diện, hài hoà cả về trí tuệ, thể chất và giá trị thẩm mỹ”(14).

Xây dựng mối quan hệ trong gia đình, nhà trường, xã hội trong sạch, lành mạnh, giản dị, giàu tính nhân văn; những hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội dần bị loại bỏ ra khỏi đời sống, cái xấu, cái ác bị lên án, đẩy lùi, cái tốt, cái đẹp nảy nở, phát triển. Các trường đại học có cơ chế, chính sách phù hợp để sinh viên được tham gia vào các hoạt động xã hội, cống hiến tài năng, trí tuệ trong học tập, xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt, có cơ chế, chính sách đặc thù đối với sinh viên nghèo vượt khó, sinh viên khuyết tật nhưng có nghị lực, ý chí vươn lên mạnh mẽ, lan toả giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong toàn trường.

Năm là, phát huy tính tích cực, chủ động của sinh viên trong tự giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Bản thân mỗi sinh viên phải luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn, giản dị, cầu tiến bộ; dưỡng tâm trong, trí sáng, hoài bão lớn. Ra sức đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực, tệ nạn xã hội và luận điệu sai trái của các thế lực thù địch”(15). Mỗi sinh viên là chủ thể năng động, tích cực trong các hoạt động của nhà trường và xã hội. Mỗi sinh viên phải đặt ra yêu cầu cao cho bản thân trong tự bồi dưỡng, rèn luyện về kiến thức, năng lực, phẩm chất đạo đức, lối sống; không tự bằng lòng, thoả mãn với kết quả hiện có. Bản thân luôn phải nỗ lực phấn đấu trong tiếp nhận giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện, giải quyết các mối quan hệ xã hội hợp tình, hợp lý. Bản thân tự kiểm tra, đánh giá kiến thức, thấy yếu, hổng chỗ nào tập trung nghiên cứu, tìm hiểu, học hỏi; không tự ti, nhưng cũng không kiêu ngạo, tự cao, tự đại, luôn khiêm tốn, giản dị, chân thành, ham học hỏi, cầu tiến bộ, lắng nghe ý kiến đóng góp của thầy, cô, bạn bè, người lớn tuổi; thường xuyên đặt mình vào trong tổ chức, trước khi hành động suy nghĩ kỹ, cân nhắc; “tự soi”, “tự sửa” thái độ, hành vi, suy nghĩ phù hợp với môi trường sống, học tập, công tác; không ngại khó, ngại khổ, phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ trong đổi mới sáng tạo. Mỗi sinh viên thường xuyên trau dồi đạo đức không nhụt trí trước khó khăn; sẵn sàng đi bất cứ đâu, làm bất kỳ việc gì khi Tổ quốc cần; luôn nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão lớn trong cuộc đời./.

 

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” trong tình hình hiện nay

 

Suy ngẫm tư tưởng Hồ Chí Minh về “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” và nghiên cứu Điều 3 Quy định số 144 để thấy được bước phát triển của Đảng về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.

“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Theo Người, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc,... Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”[1]. Người từng nhắc nhở: “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”[2].

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là những phẩm chất đạo đức nhằm giải quyết mối quan hệ “với tự mình”, để cán bộ làm gương cho Nhân dân theo, để lợi cho nước, cho dân.

Bác giải thích: “Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai. Dao siêng mài thì sắc bén. Ruộng siêng làm cỏ thì lúa tốt. Điều đó rất dễ hiểu. Siêng học tập thì mau biết. Siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến. Siêng làm thì nhất định thành công. Siêng hoạt động thì sức khoẻ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với lời dạy: Cán bộ cách mạng phải thực hành "Cần, kiệm, liêm chính, trí công, vô tư"

Người phân tích: “Kiệm là thế nào? Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. Cần với kiệm, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người.”

Bác chỉ rõ: “Liêm là trong sạch, không tham lam”. “Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất liêm…”. “Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp "dĩ công vi tư". Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ liêm trước, để làm kiểu mẫu cho dân”. Người kết luận: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”.

Theo Bác, Chính: là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không thẳng thắn, đứng đắn tức là tà. Đối với mình: không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình. Đối với người: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc: để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính cần có của con người, một lẽ tự nhiên như bốn mùa của trời, bốn phương của đất. Nó là thước đo chất người của mỗi người, vì “thiếu một đức thì không thành người”. Cần, kiệm, liêm, chính đặc biệt cần thiết đối với cán bộ, đảng viên vì họ là những người có quyền, nếu thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút. Cán bộ, đảng viên mà suy thoái đạo đức thì ảnh hưởng đến thanh danh của Đảng, đến nhiệm vụ cách mạng. Đảng viên sai lầm sẽ đưa quần chúng đến sai lầm.

Còn “Chí công vô tư” là khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; là lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào. Thực hành chí công vô tư gắn liền với chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là “chỉ lo mình béo mặc thiên hạ gầy”; là việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết; là chỉ biết “mọi người vì mình” mà không lo “mình vì mọi người”.

“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” trong Quy định số 144-QĐ/TW

Với vị trí, vai trò là "then chốt của then chốt", công tác cán bộ luôn được Đảng ta đặc biệt quan tâm. Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng diễn ra từ ngày 15 - 17/5/2023 đã đánh giá “công tác cán bộ tiếp tục được coi trọng hơn, đúng mức hơn; có nhiều cách làm, quy định mới, hiệu quả cao hơn, gắn kết chặt chẽ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung”.

 

Một trong những quy định mới liên quan đến công tác cán bộ là ngày 9/5/2024, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 144-QĐ/TW quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới (Quy định số 144). Quy định gồm 6 điều, trong đó có Điều 3. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Các nội dung cụ thể của Điều 3 được cụ thể hoá thành 5 khoản cụ thể trên tinh thần kế thừa các chuẩn mực mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra và cập nhật những yêu cầu mới cho phù hợp.

- “Cần” trong Quy định số 144 được giải thích là: Tâm huyết, trách nhiệm, dấn thân, nỗ lực hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao, có ý chí, quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo”.

- “Kiệm” trong Quy định số 144 được giải thích là: Quản lý, sử dụng tài sản công đúng mục đích, đúng quy định; tiết kiệm và hiệu quả; không xa hoa, lãng phí thời gian, tiền bạc, công sức và các nguồn lực vật chất khác của tập thể và cá nhân.

- “Liêm” trong Quy định số 144 được giải thích là: Trong sạch, không tham ô, tham nhũng, tiêu cực, không gây phiền hà, sách nhiễu. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

- “Chính” trong Quy định số 144 được giải thích là: Trung thực, thẳng thắn, khách quan, công tâm, tích cực đấu tranh tự phê bình và phê bình, không giấu khuyết điểm, không nói sai sự thật; thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh.

- “Chí công vô tư” trong Quy định số 144 được giải thích là: Nêu cao lòng tự trọng, danh dự, không cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, giữ gìn phẩm giá của người cán bộ, đảng viên, không để tác động lôi kéo, cám dỗ tiêu cực. Không để gia đình, người thân và người khác lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để trục lợi; bảo vệ uy tín, danh dự của bản thân và tổ chức đảng. Thực hiện văn hóa từ chức khi không đủ khả năng, uy tín.

Có thể thấy, bên cạnh tiếp tục kế thừa nội hàm các định nghĩa “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” theo tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ tình hình thực tiễn và đòi hỏi của công tác cán bộ trong tình hình mới, Đảng ta đã cập nhật, mở rộng từng khái niệm với những giải thích rõ ràng, có tính định lượng, giúp mỗi cán bộ, đảng viên dễ soi chiếu để thực hiện, gắn với mục tiêu góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; đồng thời nhân dân cũng có thể hiểu để giám sát việc thực hiện quy định của Đảng ở mỗi cán bộ, đảng viên.

Sự mở rộng khái niệm thể hiện ở những nội dung như: yêu cầu cán bộ, đảng viên phải chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ”; phải dũng cảm “thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh”; trách nhiệm nêu gương không để gia đình, người thân và người khác lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để trục lợi; bảo vệ uy tín, danh dự của bản thân và tổ chức đảng… Đây đều là những đòi hỏi hết sức “thời sự”, cần thiết và cấp thiết trong bối cảnh tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng, lối sống, đạo đức cách mạng; một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Đảng với nhân dân.

Lúc sinh thời, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói: “Cần, kiệm, liêm, chính là đặc điểm của xã hội hưng thịnh. Có điều trái lại là đặc điểm của xã hội suy vong”.

Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng từng cảnh báo những “thói hư tật xấu” trong “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên” suy đến cùng là do không vượt qua được chủ nghĩa cá nhân… Mọi thứ xấu xa, hư hỏng đều sinh ra từ căn bệnh này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Chủ nghĩa cá nhân là mối nguy hại cho Đảng và cả dân tộc: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”[3].

Bởi vậy, “Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” , “tự chuyển hóa” trong nội bộ là cuộc chiến đầy cam go, nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến vận mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ ta”, vì “từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội các lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh.

Thực hiện tinh thần đó, trong thông báo một số kết quả Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII (họp tại Thủ đô Hà Nội, từ ngày 15 - 17/5/2023) đã nêu rõ: “Đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã xem xét cho thôi giữ chức vụ, cho nghỉ công tác, nghỉ hưu, bố trí công tác khác đối với 14 cán bộ diện Trung ương quản lý; các địa phương cũng bố trí công tác và thực hiện chính sách đối với 22 trường hợp cán bộ sau khi bị kỷ luật theo đúng chủ trương của Đảng về việc "có vào, có ra; có lên, có xuống"; thể hiện tinh thần kiên quyết, gương mẫu, nghiêm minh, nhân văn, có tác dụng giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe trong đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên”. “Công tác phát hiện và xử lý tham nhũng đã được chỉ đạo và thực hiện một cách bài bản, đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả, tạo bước đột phá trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; khẳng định quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, và "không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai; và không chịu sức ép của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào” cho thấy Đảng ta  đang đẩy mạnh trọng tâm là phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, coi đây là gốc của mọi vấn đề.

Nhìn vào những kết quả trên và suy ngẫm lại tư tưởng Hồ Chí Minh về “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, đồng thời nghiên cứu Điều 3 Quy định số 144 về vấn đề này để mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức rõ hơn nội dung, ý nghĩa của Quy định và cũng để thấy bước phát triển của Đảng về xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Điều này rất có ý nghĩa trong bối cảnh Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030 sắp diễn ra, hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Nhân dân cả nước rất kỳ vọng công tác chuẩn bị nhân sự của Đại hội Đảng các cấp sẽ lựa chọn được những đảng viên trong sạch, có phẩm chất, có đạo đức, có năng lực, có uy tín, đủ sức gánh vác sứ mệnh dẫn dắt đất nước tiếp tục đi lên.

Quốc kỳ Việt Nam được quy định sử dụng như thế nào?

 

Khoản 1 Điều 13 Hiến pháp năm 2013 quy định: Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.

Khoản 1 Điều 1 Hướng dẫn số 3420/HD-BVHTTDL Hướng dẫn quy định về hình Quốc kỳ:

Hình Quốc kỳ: “…Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh…”

- Điểm giữa ngôi sao vàng đặt đúng điểm giữa (điểm giao nhau của hai đường chéo) Quốc kỳ.

- Khoảng cách từ điểm giữa ngôi sao đến đầu cánh sao bằng một phần năm chiều dài của Quốc kỳ.

- Một cánh sao có trục vuông góc với cạnh dài Quốc kỳ và hướng thẳng lên phía trên theo đầu cột treo Quốc kỳ.

- Tạo hình ngôi sao: từ đầu cánh sao này đến đầu cánh sao đối diện là đường thẳng, không phình ở giữa, cánh sao không bầu.

- Hai mặt của Quốc kỳ đều có ngôi sao vàng trùng khít nhau.

- Nền Quốc kỳ màu đỏ tươi, ngôi sao màu vàng tươi

Khoản 2 Điều 1 của Hướng dẫn số 3420/HD-BVHTTDL quy định cách treo và thời gian treo Quốc kỳ:

- Khi treo Quốc kỳ chú ý đừng để ngược ngôi sao.

- Treo ảnh, chân dung lãnh tụ cùng với Quốc kỳ thì ảnh phải thấp hơn Quốc kỳ hoặc để ảnh trên nền Quốc kỳ dưới ngôi sao

Về thời gian treo Quốc kỳ:

- Quốc kỳ được treo trong các phòng họp, hội trường của các cấp chính quyền, cơ quan nhà nước và các đoàn thể khi họp những buổi họp long trọng.

- Quốc kỳ được treo ngoài trời vào dịp các ngày lễ lớn, sự kiện chính trị, Tết cổ truyền của dân tộc và theo thông báo của Trung ương và chính quyền địa phương.

- Quốc kỳ được treo hoặc mang đi ở những nơi tổ chức mít-tinh, diễu hành, động viên quần chúng, phát động thi đua sản xuất, thực hiện các phong trào cách mạng.

- Các cơ quan Nhà nước, các nhà trường (kể cả học viện), các đơn vị vũ trang, các cửa khẩu biên giới, các cảng quốc tế phải có cột cờ và treo Quốc kỳ trước công sở, hoặc nơi trang trọng trước cửa cơ quan, Quốc kỳ phải đúng tiêu chuẩn về kích thước, màu sắc đã được Hiến pháp quy định.

- Trụ sở Phủ Chủ tịch, trụ sở Quốc hội, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, trụ sở Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao, Đại sứ quán Việt Nam tại các nước, Cột cờ Hà Nội, trụ sở Ủy ban nhân dân các cấp (trừ Ủy ban nhân dân phường ở thành phố, thị xã), các cửa khẩu và cảng quốc tế treo Quốc kỳ 24/24 giờ hằng ngày.

- Trụ sở các bộ, cơ quan ngang bộ, các đơn vị vũ trang, nhà trường treo Quốc kỳ từ 6 giờ đến 18 giờ hằng ngày.

- Tất cả các cơ quan và đơn vị nói trên, đặc biệt là các cơ quan đối ngoại, khi có khách nước ngoài từ cấp Bộ trưởng trở lên đến thăm chính thức phải treo cờ quốc gia của khách cùng với Quốc kỳ…

Trước 1/10/2025, chuyển tài khoản thu phí sang tài khoản giao thông kết nối với phương tiện thanh toán

 

Nhà cung cấp dịch vụ thanh toán tiền sử dụng đường bộ hoàn thiện việc chuyển tài khoản thu phí của chủ phương tiện sang tài khoản giao thông kết nối với phương tiện thanh toán của chủ phương tiện trước ngày 01/10/2025.

Chính phủ ban hành Nghị định 119/2024/NĐ-CP ngày 30/9/2024 quy định về thanh toán điện tử giao thông đường bộ

Nhà cung cấp dịch vụ thu phí dịch vụ sử dụng đường bộ được quy định theo Quyết định số 19/2020/QĐ-TTg ngày 17 /6/2020 của Thủ tướng Chính phủ là Nhà cung cấp dịch vụ thanh toán tiền sử dụng đường bộ được quy định tại Nghị định này.

Nhà cung cấp dịch vụ thanh toán tiền sử dụng đường bộ tiếp tục thu tiền sử dụng đường bộ theo các quy định về thu phí dịch vụ sử dụng đường bộ theo hình thức điện tử không dừng tại Quyết định số 19/2020/QĐ-TTg ngày 17/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ đến ngày 01/7/2026.

Nhà cung cấp dịch vụ thanh toán giao thông đường bộ và Nhà cung cấp dịch vụ thanh toán tiền sử dụng đường bộ kết nối hệ thống điều hành và trung tâm dữ liệu để kết nối, chia sẻ thông tin tài khoản giao thông đến ngày 01/7/2026. Chi phí kết nối theo thỏa thuận giữa các bên với nhau.

Trước 1/10/2025, chuyển tiền từ tài khoản thu phí sang phương tiện thanh toán của chủ phương tiện được kết nối với tài khoản giao thông

Các cơ quan, đơn vị liên quan điều chỉnh hợp đồng dự án và các nội dung liên quan đã thực hiện theo Quyết định số 19/2020/QĐ-TTg ngày 17/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ để phù hợp với Nghị định này. Việc bổ sung dịch vụ thanh toán điện tử giao thông đường bộ vào hợp đồng ký giữa Nhà cung cấp dịch vụ thu phí dịch vụ sử dụng đường bộ được quy định theo Quyết định số 19/2020/QĐ-TTg ngày 17/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ với cơ quan có thẩm quyền thực hiện trên cơ sở đàm phán, điều chỉnh hợp đồng.

Nhà cung cấp dịch vụ thanh toán tiền sử dụng đường bộ hoàn thiện việc chuyển tài khoản thu phí của chủ phương tiện theo Quyết định số 19/2020/QĐ-TTg ngày 17/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ sang tài khoản giao thông kết nối với phương tiện thanh toán của chủ phương tiện trước ngày 01/10/2025.

Nhà cung cấp dịch vụ thanh toán tiền sử dụng đường bộ hoàn thiện việc chuyển tiền từ tài khoản thu phí của chủ phương tiện theo Quyết định số 19/2020/QĐ-TTg ngày 17/6/ 2020 của Thủ tướng Chính phủ sang phương tiện thanh toán của chủ phương tiện được kết nối với tài khoản giao thông trước ngày 01/10/2025.


VTT