Thứ Tư, 2 tháng 10, 2024

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội đàm với Tổng thống Ireland Michael D. Higgins.

 

Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ireland từ ngày 1 đến 3-10 theo lời mời của Tổng thống Ireland Michael Higgins, sáng 2-10 (theo giờ địa phương), sau lễ đón chính thức được tổ chức trang trọng tại Phủ Tổng thống, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống Michael Higgins đã đồng chủ trì hội đàm giữa Đoàn đại biểu cấp cao hai nước.

Tại hội đàm, Tổng thống Michael Higgins nhiệt liệt hoan nghênh chuyến thăm đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Ireland; đánh giá cao đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam; khẳng định coi trọng vị thế và vai trò của Việt Nam tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương; nhấn mạnh hai nước có nhiều điểm tương đồng trong đấu tranh giành độc lập dân tộc và không có lĩnh vực nào, chủ đề nào mà hai bên không thể trao đổi, hợp tác.

Tổng thống Michael Higgins nhắc lại những ấn tượng tốt đẹp về chuyến thăm của ông tới Việt Nam vào năm 2016 và bày tỏ ấn tượng về những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, cũng như các nỗ lực thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam trong những năm vừa qua; chia sẻ với Việt Nam về những thiệt hại nặng nề do cơn bão số 3 (tên quốc tế là bão Yagi) gây ra vừa qua.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cảm ơn Tổng thống Michael Higgins về sự đón tiếp trọng thị và nồng hậu dành cho Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam, khẳng định Việt Nam coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt với Ireland; đánh giá cao việc Chính phủ Ireland đã dành cho Việt Nam vị trí ưu tiên trong chính sách hợp tác phát triển trong khuôn khổ chiến lược “Ireland toàn cầu: Triển khai hoạt động ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương đến năm 2025”. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước bày tỏ mong muốn Ireland tiếp tục cung cấp hỗ trợ phát triển cho Việt Nam trong các lĩnh vực ưu tiên như tăng trưởng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, công nghệ thông tin, chuyển đổi số, phát triển bền vững.

Nhằm tăng cường tin cậy chính trị và hiểu biết lẫn nhau, hai nhà lãnh đạo nhất trí đẩy mạnh trao đổi đoàn các cấp, đặc biệt là cấp cao, tích cực triển khai các cơ chế hợp tác hiện có. Nhân dịp này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vui mừng thông báo Chính phủ Việt Nam đã quyết định và đang triển khai các thủ tục thành lập Đại sứ quán Việt Nam tại Ireland. Hai nhà lãnh đạo bày tỏ tin tưởng quyết định này sẽ mở ra một giai đoạn phát triển mới trong quan hệ song phương, vì lợi ích chung của nhân dân hai nước.

Về hợp tác kinh tế - thương mại – đầu tư, hai nhà lãnh đạo khẳng định đây là trụ cột hợp tác quan trọng và đang phát triển tích cực khi kim ngạch thương mại hai chiều đạt 3,5 tỷ USD năm 2024. Hai bên cần tận dụng hiệu quả Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), thúc đẩy kết nối thương mại - đầu tư, hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp hai nước; phấn đấu nâng kim ngạch thương mại giữa hai nước lên 5 tỷ USD vào năm 2026 nhân dịp kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Tổng thống Ireland nhấn mạnh Việt Nam là đối tác thương mại hàng đầu của Ireland và dư địa hợp tác giữa hai nước còn rất lớn; ghi nhận đề nghị của Việt Nam về việc đẩy nhanh quá trình phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam – EU (EVIPA) nhằm mở rộng cơ hội hợp tác, đầu tư giữa cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và Ireland; mong muốn Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu nông sản, thực phẩm chất lượng cao của Ireland.

Hai bên hoan nghênh việc Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam và Bộ Giáo dục, Đại học, Nghiên cứu, Đổi mới và Khoa học Ireland thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược về Giáo dục đại học, cũng như việc ký kết Biên bản ghi nhớ (MOU) giữa Đại học Quốc gia Hà Nội và các đại học hàng đầu của Ireland. Hai nhà lãnh đạo nhất trí cho rằng đây là lĩnh vực hợp tác ưu tiên giữa hai nước, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

Để tăng cường hiểu biết lẫn nhau và gắn kết nhân dân hai nước, hai nhà lãnh đạo nhất trí đẩy mạnh giao lưu nhân dân, hợp tác văn hóa – nghệ thuật, du lịch, hợp tác giữa các địa phương.

Hai bên nhất trí tạo điều kiện thuận lợi cho kiều dân hai nước sống và làm việc, đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nhau, phát huy vai trò cầu nối cho quan hệ hữu nghị hai nước.

Trong khuôn khổ hội đàm, hai bên đã trao đổi sâu về các vấn đề an ninh khu vực cùng quan tâm như tình hình Ukraine, Trung Đông…, kêu gọi các bên bảo vệ thường dân, tiến hành đối thoại, giải quyết xung đột bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở của luật pháp quốc tế và các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc; nhất trí tăng cường hợp tác tại các diễn đàn đa phương như ASEAN-EU, Liên hợp quốc…, trong nhiều lĩnh vực như ứng phó với các thách thức toàn cầu, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, bảo đảm chuỗi cung ứng… Hai bên ủng hộ lập trường của ASEAN trong vấn đề Biển Đông về bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển ở khu vực, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.

“Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”

 Bác đã khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của chính trị đối với quân sự và quân đội. Theo Người, chính trị là hồn cốt, là yếu tố quyết định sức mạnh của quân đội. Chính trị không chỉ là đường lối, chính sách của Đảng, còn là bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tinh thần, ý chí, nghị lực, quyết tâm chiến đấu hy sinh của cán bộ, đảng viên. Quan điểm này của Hồ Chí Minh không chỉ đúng với học thuyết Mác-Lênin về xây dựng quân đội của giai cấp vô sản, mà còn kế thừa những giá trị truyền thống đặc sắc về xây dựng quân đội của ông cha ta, phù hợp với thực tiễn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc của nước ta trong điều kiện còn hạn chế về vũ khí trang bị, phương tiện chiến đấu.

Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường; xu thế quốc tế hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sự bùng nổ của công nghệ thông tin; tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường; các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta, cổ xúy cho cái gọi là “quân đội phi chính trị”, “quân đội phi đảng phái”. Do vậy, Quân đội nhân dân Việt Nam càng phải thấm nhuần hơn nữa lời dạy của Bác về xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị; quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác xây dựng quân đội về chính trị; tăng cường bản chất giai cấp công nhân, nâng cao giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vững mạnh; phát huy bản chất, truyền thống vẻ vang của Quân đội ta; tăng cường quan hệ gắn bó mật thiết giữa quân đội và nhân dân; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam.., để trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, Quân đội ta vẫn luôn giữ vững, phát huy bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc; thực sự là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và Nhà nước.

“Các cán bộ các cấp phải lãnh đạo và phải làm kiểu mẫu trong việc kiểm thảo và tự phê bình…”

 Sau thắng lợi của các trận Đông Khê, Thất Khê, Cao Bằng, đã mở ra một giai đoạn mới trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược- giai đoạn thế chủ động trên chiến trường thuộc về quân đội ta. Chiến dịch này có ý nghĩa rất quan trọng, là bước ngoặt của cuộc kháng chiến. Để khắc phục sự chủ quan, tự mãn có thể sẽ xuất hiện trong cán bộ, chiến sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời viết thư để tri ân các liệt sĩ, thăm hỏi thương binh, động viên bộ đội và huấn thị cán bộ phải làm tốt công tác lãnh đạo việc phê bình và tự phê bình.

Theo Bác, muốn phát huy tốt tác dụng của phê bình, phải tự phê bình mình trước, phê bình từ trong cấp ủy, trong chi bộ đến đơn vị. Tự phê bình không phải là tự hạ thấp mình, tự “nhún nhường” mà là thể hiện trình độ nhận thức, lòng dũng cảm, sự trung thực, ngay thẳng trước tổ chức, đồng chí, đồng đội và rộng hơn là trước Đảng, trước nhân dân; là thể hiện tinh thần cầu thị, ý chí vươn lên của bản thân.

Quán triệt tư tưởng đề cao tự phê bình và phê bình, nhất là với đối với đội ngũ cán bộ các cấp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn kiên định và thực hiện tự phê bình và phê bình trong Đảng, coi đây là nguyên tắc cơ bản xây dựng Đảng. Sự trưởng thành của Đảng ta trong gần 90 năm qua một phần quan trọng là do Đảng luôn kiên định và thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, trong đó có tự phê bình và phê bình, phát huy tốt tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ các cấp.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, đội ngũ cán bộ các cấp trong quân đội, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược luôn gương mẫu trong học tập, rèn luyện, đề cao tự phê bình và phê bình, có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, phong cách, năng lực lãnh đạo, chỉ huy tốt; có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược, phương pháp làm việc khoa học, khả năng phân tích, xử lý tốt các tình huống. Có tinh thần trách nhiệm cao, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung và khả năng phát huy sức mạnh tổng hợp của cơ quan, đơn vị; gần gũi, sâu sát với bộ đội, được cán bộ, chiến sĩ tin tưởng, yêu mến.

“Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành”

 Kỷ luật là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Chấp hành kỷ luật là một nguyên tắc trong xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, là điều kiện bảo đảm cho quân đội luôn có sự tập trung thống nhất cao về ý chí và hành động, vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”. Tuyệt đối phục tùng và chấp hành nghiêm mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên là biểu hiện tập trung cao nhất của việc chấp hành nghiêm kỷ luật. Do vậy, Người luôn yêu cầu mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải chấp hành kỷ luật một cách tự giác và nghiêm minh; đối với mệnh lệnh cấp trên ban xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành; báo cáo từ dưới lên trên phải thật thà, nhanh chóng và thiết thực; là cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức; số ít phải phục tùng đa số; địa phương phục tùng Trung ương…

Lịch sử hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, lời huấn thị “Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành” của Bác thực sự là một di sản tư tưởng, lý luận quý báu; một nguyên tắc đặc biệt quan trọng, trở thành lời thề danh dự của mỗi quân nhân đã góp phần xây dựng Quân đội ta, từ một đội quân du kích lúc ban đầu trở thành một quân đội có ý thức tổ chức kỷ luật cao, luôn kiên định trước mọi khó khăn, thử thách; cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, bản lĩnh, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

“Cán bộ phải thương yêu đội viên ”

 Tình đồng chí, đồng đội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của quân đội cách mạng, vừa là cơ sở tạo nên sức mạnh của quân đội, trong đó quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ là mối quan hệ đặc trưng bản chất. Mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam được hình thành, phát triển trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, chiến thắng của quân đội. Một mặt, dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của quân đội; mặt khác, dựa trên tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, đồng đội sâu sắc, đoàn kết gắn bó chặt chẽ keo sơn “lúc thường cũng như lúc ra trận” giữa những con người cùng chung lý tưởng, mục tiêu, cùng thực hiện nhiệm vụ cao cả của người quân nhân cách mạng. Đó cũng là nguồn sức mạnh vô tận để bộ đội ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Chính vì vậy, đòi hỏi cán bộ phải luôn là tấm gương sáng để cấp dưới và chiến sĩ học tập, noi theo. Tình thương yêu đồng chí, đồng đội được tôi luyện, thiết lập vững chắc trong Quân đội ta qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và trở thành nét đẹp truyền thống, thành bản chất, là một trong những nhân tố cấu thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống “Quyết chiến, quyết thắng” của Quân đội ta.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ căn dặn, đội ngũ cán bộ các cấp trong quân đội các thời kỳ luôn quan tâm thiết thực, chu đáo đến đời sống tinh thần và vật chất của bộ đội, hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, tôn trọng và thương yêu cấp dưới như “chân tay”, do vậy cấp dưới sẽ kính trọng, coi lãnh đạo, chỉ huy của mình “như đầu óc”, như người thân; từ đó họ sẽ mang hết khả năng của mình để thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh một cách tự giác và có hiệu quả cao nhất. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy phải thường xuyên phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện xứng đáng là người anh, người “chị hiền” tận tuỵ chăm lo cho tập thể, cho bộ đội, là hạt nhân đoàn kết thống nhất xây dựng đơn vị VMTD.

“Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”

 Ngày 23-9-1945, núp bóng quân Anh, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, rồi đánh chiếm rộng ra cả Nam Bộ, Nam Trung Bộ và phần lớn Campuchia; khống chế vùng nông thôn rộng lớn ở Lào..., hòng từng bước thực hiện dã tâm xâm lược Đông Dương lần thứ hai. Nền độc lập mà dân tộc ta mới giành lại được phải đương đầu với nhiều kẻ thù, bị uy hiếp từ nhiều phía. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư kêu gọi đồng bào Nam Bộ giữ vững tinh thần chiến đấu, quyết tâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc; trong đó Người tiếp tục khẳng định tinh thần chiến đấu anh dũng hy sinh của dân tộc ta là sức mạnh vô địch để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” là nhân tố bao trùm, tạo nên bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần quả cảm của dân tộc Việt Nam, được hun đúc trong lịch sử và tỏa sáng trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Những giá trị văn hóa ấy không chỉ có sức mạnh tập hợp, đoàn kết trong suốt hai cuộc trường kỳ kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh, mà còn lan xa, thấm đậm trong lòng bạn bè quốc tế, thức tỉnh lương tri nhân loại trên thế giới ủng hộ Việt Nam đánh bại các thế lực đế quốc, thực dân xâm lược và bè lũ tay sai, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Ra đời vào thời điểm đầy gian khó của cách mạng Việt Nam, trong cuộc đấu tranh sống còn của dân tộc chống ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân, phong kiến, Quân đội ta đã được Đảng và Bác Hồ thành lập, tổ chức, giáo dục, rèn luyện; từ 34 cán bộ, chiến sĩ, trang bị vũ khí thô sơ của ngày đầu thành lập, Quân đội ta đã không ngừng phát triển, trưởng thành, lập nên những chiến công vang dội. Cán bộ, chiến sĩ luôn hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc, sẵn sàng “Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh” trong cuộc chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng chống, giảm nhẹ thiên tai... Với truyền thống vẻ vang và những chiến công vang dội đó, Quân đội ta thật sự là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng, xứng đáng với danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ.

“Dân quân du kích ta có truyền thống rất vẻ vang…”

 Đó là lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho dân quân du kích Việt Nam trong “Thư gửi các chiến sĩ dân quân du kích”, Người viết ngày 30-10-1968.

Kế thừa truyền thống “trăm họ là binh”, “cả nước chung sức đánh giặc” của dân tộc, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy sức mạnh của cách mạng bắt nguồn từ quần chúng và đã đề ra chủ trương “vũ trang công nông”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, được nhân dân hết lòng nuôi dưỡng và đùm bọc, lực lượng dân quân tự vệ và du kích đã không ngừng phát huy bản chất cách mạng, từng bước xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, góp phần to lớn trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cùng toàn dân tộc giành độc lập dân tộc, thống nhất nước nhà; tham gia xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, xứng đáng với lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã”.

Vinh dự, tự hào với lời khen tặng của Bác kính yêu, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, quân đội, của cấp ủy, chính quyền các cấp, lực lượng dân quân tự vệ Việt Nam được xây dựng “vững mạnh, rộng khắp”, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ Đảng, chính quyền, nhân dân ở cơ sở và góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

“Chi bộ là gốc rễ của Đảng ở trong quần chúng”

 Đây là sự đánh giá, khẳng định của Bác về bản chất, nguồn gốc sức mạnh của Đảng, vai trò, mối liên hệ mật thiết giữa chi bộ với quần chúng.

Quán triệt và thực hiện lời Bác dạy, từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của chi bộ, coi chi bộ là tế bào, là cơ sở của Đảng, là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ ở cơ sở; đảng viên là những người có trách nhiệm góp phần xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; đồng thời có trách nhiệm tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đó với tư cách vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân. Do vậy, xây dựng chi bộ tốt, đội ngũ đảng viên tốt là nhiệm vụ thường xuyên, trọng yếu trong công tác xây dựng Đảng; làm cơ sở, nền tảng xây dựng Đảng ta xứng đáng với trọng trách là Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo toàn dân tộc thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Thực hiện lời Bác Hồ dạy, công tác xây dựng Đảng trong quân đội luôn được Quân ủy Trung ương, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong toàn quân quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện nghiêm túc. Chất lượng sinh hoạt, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của chi bộ không ngừng được nâng lên. Đội ngũ đảng viên trong quân đội phát triển cả số lượng và chất lượng, luôn nêu cao tính tiền phong gương mẫu, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành các nhiệm vụ được giao; kiên định lập trường giai cấp công nhân, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Đảng, của quân đội; phát huy tốt tinh thần chủ động, sáng tạo, tự nguyện, tự giác, dám nghĩ, dám làm, gương mẫu, được bộ đội tin yêu, thật sự là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết trong đơn vị.

 Đặc biệt, cán bộ, đảng viên trong toàn quân tích cực đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng với những việc làm thiết thực, hiệu quả, sát chức trách, nhiệm vụ được giao, tạo sức lan tỏa sâu rộng trong cơ quan, đơn vị, thiết thực góp phần xây dựng tổ chức đảng TSVM, cơ quan, đơn vị VMTD, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Đảng phải vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin

 Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh xem Chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc và luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo “cẩm nang thần kỳ” đó vào thực tiễn cách mạng. Sự khẳng định trên của Người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định và đánh giá cao bài học kinh nghiệm về lý luận và thực tiễn trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng. Đó là một trong những bài học có tính nguyên tắc và phổ biến, đảm bảo cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức. Thực tiễn chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể ở nước ta đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiếp tục giành những thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên giá trị, nhất là trong công tác xây dựng Đảng. Theo đó, Đảng ta lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; Đảng nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Đối với Quân đội ta, đó cũng là nguyên tắc, nền tảng tư tưởng để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu cao; xây dựng Đảng bộ Quân đội TSVM. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nêu cao tinh thần tự giác, tích cực nghiên cứu, học tập lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy đảng; đồng thời biết vận dụng sáng tạo vào hoạt động thực tiễn của đơn vị nhằm thực hiện hiệu quả chức trách, nhiệm vụ được giao.

“… Chớ nên cái gì tốt thì dành cho mình, xấu để cho người khác”

 Đây là thời điểm các ngành, các cấp ở miền Bắc ra sức thi đua thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng, Chính phủ về xây dựng HTXNN, xóa bỏ tư hữu cá nhân về ruộng đất để phục vụ xây dựng CNXH và chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Lời dạy của Bác có ý nghĩa rất sâu sắc trong bối cảnh toàn miền Bắc đang thực hiện HTXNN, việc xây dựng cũng như quản lý hợp tác xã còn gặp nhiều khó khăn, chưa có kinh nghiệm. Mặt khác, ở một bộ phận cán bộ quản lý vẫn còn tư tưởng bảo thủ, lạc hậu, cá nhân chủ nghĩa, chỉ muốn nhận cái tốt về mình và đẩy cái xấu, cái chưa tốt cho người khác, làm ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng HTXNN của Đảng và Nhà nước ta. Lời dạy của Bác trong thời điểm này không những chỉ ra hạn chế, biện pháp khắc phục mà còn là lời căn dặn, nhắc nhở đối với toàn thể cán bộ làm công tác quản lý nhà nước nói chung, quản lý HTXNN nói riêng, kịp thời chấn chỉnh những nhận thức, quan điểm lệch lạc của một số tổ chức và cá nhân trong phương thức làm ăn mới, góp phần vào xây dựng tính tập thể, tình đoàn kết toàn dân thành một khối đại đoàn kết dân tộc, tạo cơ sở cho nông nghiệp miền Bắc phát triển và đi lên CNXH; đồng thời, để cho mỗi cá nhân trong tập thể “tự soi, tự sửa”, xây dựng ý thức và hành động của bản thân, mình vì mọi người, tất cả vì miền Nam ruột thịt, góp phần vào thắng lợi của cách mạng miền Nam.

Hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, CNH, HĐH, một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; mắc "bệnh thành tích”, háo danh, phô trương, che giấu khuyết điểm… Học tập và làm theo lời Bác dạy, đòi hỏi mỗi tổ chức, cá nhân phải luôn đề cao tình đồng chí, đồng đội, biết chia sẻ khó khăn, biết trân trọng thành quả, quyết tâm khắc phục những hạn chế, thiếu sót, không mắc "bệnh thành tích”, không háo danh, phô trương, không tranh công đổ lỗi cho người khác, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm.

Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam phải luôn nêu cao tinh thần tự giác, tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực; xác định tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

“…Giao thông vận tải là mạch máu của tổ chức”

 Đây là thời điểm đất nước ta vừa giành được độc lập, công cuộc kiến thiết đất nước đặt ra nhiều “công việc khẩn cấp” phải giải quyết. Trong đó, giao thông vận tải là một trong những “công việc khẩn cấp” cần được quan tâm giải quyết ngay. Câu nói của Bác tuy giản dị, ngắn gọn nhưng rất sâu sắc, không chỉ nhấn mạnh đến vị trí, ý nghĩa, vai trò quan trọng của giao thông vận tải trong công cuộc kiến thiết đất nước mà còn là lời nhắc nhở, chỉ rõ nhiệm vụ và trách nhiệm đối với những người làm công tác giao thông vận tải. Thực hiện lời dạy của Bác, lớp lớp các thế hệ cán bộ, kỹ sư, công nhân lao động ngành giao thông vận tải Việt Nam đã luôn nỗ lực phấn đấu, tích cực, chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn gian khổ, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, lời dạy của Bác năm xưa vẫn còn nguyên giá trị, được các thế hệ cán bộ, kỹ sư, công nhân lao động ngành giao thông vận tải trên khắp mọi miền đất nước quán triệt, học tập và làm theo. Ngành giao thông vận tải đã dồn hết tâm huyết, trí tuệ, công sức vào sự nghiệp phát triển giao thông vận tải để thiết kế và xây dựng nên hệ thống cầu, đường, sân bay và bến cảng hiện đại... làm cho hệ thống hạ tầng giao thông ở nước ta ngày càng phát triển, ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Giao thông vận tải luôn “đi trước một bước”, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển kinh tế-xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, vùng trời của Tổ quốc.

Thấm nhuần lời dạy của Bác, các đơn vị quân đội, trong đó nòng cốt là lực lượng công binh, Binh đoàn Trường Sơn đã không quản ngại khó khăn, hiểm nguy, sẵn sàng chấp nhận hy sinh để mở những con đường chiến lược giúp cho bộ đội hành quân vào mặt trận chiến đấu, chiến thắng kẻ thù xâm lược trong chiến tranh và góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng đất nước ngày nay, lập nên truyền thống “Mở đường thắng lợi”. Hiện nay, nhiều đơn vị quân đội đã phát huy cao độ tiềm năng, lợi thế của mình để tích cực, chủ động tham gia có hiệu quả vào các dự án, công trình xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của đất nước, bảo đảm vừa phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, vừa phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, nhất là ở khu vực vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và các địa bàn trọng yếu, chiến lược. Những việc làm đó đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao, góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng trong thời kỳ mới.


“… Khen, chê phải đúng mức”

 Đây là sự nhắc nhở sâu sắc, có giá trị định hướng về nhận thức, tư tưởng rằng mỗi văn nghệ sĩ cần nêu cao ý thức trách nhiệm, bám sát thực tiễn, khen, chê phải đúng mức. Nói cách khác, Người yêu cầu các văn nghệ sĩ phải phản ánh trung thực và khách quan cuộc sống lao động, chiến đấu và sinh hoạt hằng ngày của nhân dân ở vùng nông thôn.

Thực hiện lời căn dặn của Bác, các thế hệ văn nghệ sĩ nước nhà đã thường xuyên bám sát đời sống nông thôn, lăn lộn trên các chiến trường đầy khói lửa; hòa mình vào cuộc sống lao động sản xuất, chiến đấu và sinh hoạt hằng ngày của nhân dân, từ đó cho ra đời nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị, tích cực cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp, đồng thời phê phán những thói hư tật xấu, lên án cái ác, cái thấp hèn… góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngày nay, trước bối cảnh phức tạp, khó lường của tình hình, lời căn dặn của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, là bài học sâu sắc định hướng nhận thức, tư tưởng, phương châm hành động của các văn nghệ sĩ; bồi dưỡng cái tâm và cái tài, cổ vũ, động viên các văn nghệ sĩ bám sát cơ sở, đi sâu khám phá cuộc sống lao động sản xuất và sinh hoạt hằng ngày của nhân dân, qua đó sáng tạo nên nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật hay và tốt để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đối với Quân đội ta, thấm nhuần lời dạy của Bác, đội ngũ văn nghệ sĩ quân đội đã thường xuyên bám sát các đơn vị cơ sở, nhất là đơn vị đóng quân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo; lăn lộn cùng với bộ đội trên các thao trường, bãi tập, nơi bộ đội làm công tác dân vận, tham gia phòng, chống thiên tai, bão lũ, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn... để phản ánh trung thực cuộc sống học tập, công tác và sinh hoạt của bộ đội. Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm định hướng nhận thức, tư tưởng và hành động của cán bộ, chiến sĩ; tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; tuyên truyền, cổ vũ, động viên kịp thời những tấm gương người tốt, việc tốt, đồng thời phê phán những cái xấu, cái tiêu cực, góp phần xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần phong phú, lành mạnh, để mỗi đơn vị quân đội thực sự là cái nôi nuôi dưỡng những giá trị văn hóa, nhân cách quân nhân, bồi đắp phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.


“… Nhờ Cách mạng Tháng Mười thành công mà một thế giới mới đã ra đời...”

 Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và những gì mà cuộc cách mạng này tạo ra có sức lan tỏa, cổ vũ, lôi cuốn, thúc đẩy mãnh liệt đối với phong trào cách mạng XHCN, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và phong trào công nhân quốc tế, làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa của thực dân, đế quốc ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latin. Đối với Việt Nam, “đi theo con đường cách mạng vô sản”, con đường của Lênin và cách mạng Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã dẫn dắt nhân dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do và quá độ tiến lên CNXH, tiến hành đổi mới, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững thành quả cách mạng, hòa bình, môi trường chính trị-xã hội ổn định để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao toàn diện chất lượng cuộc sống nhân dân.

Ngày nay, thế giới đã có những biến động, thay đổi to lớn, sâu sắc, với không ít những thách thức về chính trị, an ninh, kinh tế-xã hội, xu thế hội nhập, toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ… Song, thành quả của Cách mạng Tháng Mười vẫn còn nguyên giá trị lịch sử thời đại, đã và đang thôi thúc giai cấp công nhân và những người tiến bộ tiếp tục cống hiến, hy sinh không mệt mỏi trong cuộc đấu tranh để xây dựng một thế giới hòa bình, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, bình đẳng, bác ái, không còn áp bức, bóc lột, không còn những nguyên nhân, điều kiện dẫn đến xung đột, chiến tranh-đó là xã hội XHCN.

Đối với nước ta, bước vào giai đoạn cách mạng mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, các thế lực thù địch, phản động, chống đối tuy thất bại nhưng vẫn không chịu từ bỏ âm mưu, ý đồ chống phá sự nghiệp cách mạng của đất nước, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng với mọi phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Nhiệm vụ cách mạng thay đổi đặt ra yêu cầu cấp bách cho LLVT nhân dân, nòng cốt là Quân đội nhân dân phải kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp CNH, HĐH, bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Tuyệt đối không bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Chủ động bảo đảm nguồn rau xanh sau bão.

 

Lữ đoàn 454 (Quân khu 3) đóng quân trên địa bàn tâm bão số 3 đi qua nên chịu ảnh hưởng nặng nề với phần lớn diện tích khu tăng gia sản xuất (TGSX) bị ngập úng dài ngày; hầu hết vườn rau xanh bị giập nát, hệ thống giàn bị đổ, gãy.

Trước thực trạng đó, ngay khi bão tan, cán bộ, chiến sĩ đơn vị chủ động tiêu úng, tích cực củng cố lại vườn giàn, cải tạo đất để trồng rau, chủ động nguồn rau xanh tại chỗ.

Cuối giờ chiều, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 454 tập trung cuốc đất, lên luống, trồng và chăm sóc rau xanh tại khu tăng gia sản xuất. Đại úy Dương Văn Đoán, Đại đội trưởng Đại đội 2 cho biết: "Đơn vị có hơn 1.000m2 diện tích rau muống bị ảnh hưởng sau bão. Ngay khi bão tan, chúng tôi tổ chức khơi thông dòng chảy, bơm nước tiêu úng cho rau.

Tuy nhiên, do mưa liên tục khiến một số vườn ở dưới vùng thấp bị ngập dài ngày làm rau thối rễ, phải nhổ bỏ để trồng mới. Một số vườn rau muống ở trên cao bị táp lá, dập nát, chúng tôi phải cắt bỏ thân, giữ lại gốc, sau đó xới đất, bón đạm. Đến nay, rau đã nảy mầm, xanh luống, chăm sóc tốt thì chỉ khoảng một tuần là có thể cho thu hoạch”.

Mưa to, gió lớn cũng khiến toàn bộ diện tích trồng rau cải ngọt và hơn 100m2 giàn trồng bí xanh của Đại đội 7, Tiểu đoàn 3, Lữ đoàn 454 bị ngập úng, đổ sập nên đơn vị đang tích cực khắc phục. Thượng úy Lê Hồng Quảng, Đại đội trưởng Đại đội 7 cho biết: “Chúng tôi mua cải giống về trồng thay thế những vườn cải bị chết vì ngập nước. Như vậy cây sẽ phát triển nhanh hơn so với gieo hạt. Chỉ khoảng hai tuần là được thu hoạch. Đối với hệ thống vườn giàn bị đổ, chúng tôi tiếp tục gia cố và trồng bí xanh kết hợp trồng su su gối vụ”.

Theo Trung tá Phạm Văn Tăng, Chủ nhiệm Hậu cần-Kỹ thuật Lữ đoàn 454, cơn bão số 3 đi qua khiến hơn 12.000m2 diện tích khu TGSX của Lữ đoàn bị ngập úng; phần lớn rau xanh bị dập nát; hơn 1.000m2 giàn trồng bí xanh, mướp hương bị đổ sập; 5.000m2 ao bị ngập. Từ đó, nguồn cung cấp rau xanh cho các bếp ăn bị sụt giảm. Vì vậy, ngay khi bão tan, hậu cần đơn vị đã chỉ đạo, tổ chức cho bộ đội tích cực tiêu úng cho rau, kết hợp nhanh chóng trồng mới những khu vực rau bị chết. Cùng với đó, tổ chức gia cố bờ ao, sửa chữa hệ thống chuồng trại bị tốc mái; vệ sinh, rắc vôi, phun thuốc khử trùng để phòng bệnh cho vật nuôi.

Do ảnh hưởng của bão nên giá rau xanh ngoài thị trường trên địa bàn Lữ đoàn 454 đóng quân tăng gấp đôi so với thời điểm trước bão. Để bảo đảm định lượng rau xanh cho bộ đội ăn theo quy định, Lữ đoàn chỉ đạo các đơn vị kết hợp sử dụng củ, quả như đu đủ, bí xanh, bí đỏ với tận dụng, thu hoạch một số vườn rau muống, rau dền, rau cải còn sót lại sau bão. Bên cạnh đó, đơn vị tập trung chăm sóc các vườn rau muống và trồng một số loại rau ăn lá ngắn ngày, chủ yếu là rau cải để sớm đáp ứng nhu cầu rau xanh trước mắt cho bộ đội.

Nhờ tích cực, chủ động khắc phục nên những vườn rau xanh của Lữ đoàn 454 đang phục hồi, phát triển tốt, có thể cung cấp dồi dào, đa dạng các loại rau xanh trong thời gian ngắn. Thượng tá Nguyễn Thế Văn, Phó lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 454 cho biết: "Ngoài trồng các giống rau ăn lá ngắn ngày để giải quyết nhu cầu thiếu rau xanh trước mắt, chỉ huy Lữ đoàn chỉ đạo cơ quan hậu cần hướng dẫn các đơn vị kết hợp trồng thêm một số giống rau như: Su hào, bắp cải, su su để bảo đảm nhu cầu rau xanh trong thời gian gối vụ, bảo đảm vừa có đủ rau ăn trong thời điểm giáp vụ, đồng thời đa dạng các loại rau xanh nhập bếp, giúp nâng cao chất lượng bữa ăn bộ đội.

“… Hun đúc đạo đức của người quân nhân cách mạng cho vững vàng”

 Đó là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Thư gửi lớp “Chuẩn bị tổng phản công” Trường Lục quân trung học Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1), đăng trên Báo Cứu quốc, số ra ngày 9-11-1949.

Đây là thời điểm quân và dân ta đã bước sang năm thứ ba của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Nhằm nâng cao trình độ chính trị, quân sự, nhất là trình độ tác chiến của đội ngũ cán bộ chỉ huy các cấp, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của cuộc kháng chiến, Trường Lục quân trung học Trần Quốc Tuấn đã mở lớp “Chuẩn bị tổng phản công”. Để động viên kịp thời, Người đã viết thư gửi đến lớp học này. Lời huấn thị của Bác tuy ngắn gọn, nhưng cụ thể và rõ ràng, thể hiện sự quan tâm sát sao và nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi cán bộ chỉ huy trong quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Lục quân trung học Trần Quốc Tuấn cũng như các nhà trường khác trong quân đội.

Thấm nhuần lời dạy của Bác, gần 70 năm qua, các nhà trường quân đội đã liên tục phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, đào tạo, bồi dưỡng được hàng chục vạn cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực phục vụ kịp thời yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng LLVT nhân dân trong từng giai đoạn cách mạng, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giành thắng lợi vẻ vang trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong chiến tranh bảo vệ biên giới, cũng như trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả.

Trong những năm gần đây, thực hiện phương châm đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, lấy người học làm trung tâm, xây dựng nhà trường chính quy, tiên tiến, mẫu mực; các nhà trường đã tích cực triển khai đồng bộ, toàn diện các mặt công tác, đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội trong thời kỳ mới. Các nhà trường cũng luôn tích cực, chủ động trong công tác nghiên cứu khoa học, duy trì nghiêm nền nếp chính quy, chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khang trang, hiện đại phục vụ tốt nhiệm vụ giáo dục, đào tạo và nâng cao đời sống vật chất tinh thần của bộ đội.


“Cán bộ và bộ đội nhất định phải đi sát với nhân dân vì lực lượng của nhân dân là vô cùng mạnh mẽ”

 Với tư duy chiến lược và tầm nhìn xa trông rộng, Người đã chỉ ra được cội nguồn sức mạnh, sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội đều bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân; từ cơm ăn, áo mặc, xe cộ đi lại đến vũ khí đánh giặc đều do mồ hôi công sức nhân dân mà có. Người khẳng định: “Không có dân thì không có bộ đội”, “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”. Chỉ có đoàn kết chặt chẽ với nhân dân, dựa vào dân, được nhân dân tin yêu như con em ruột thịt thì quân đội mới có những thuận lợi trong chiến đấu, công tác, sản xuất cũng như trong cuộc sống. Không gắn bó với nhân dân, không liên hệ mật thiết với nhân dân, không dựa vào dân thì quân đội không thể có sức mạnh, không thể hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Thực tiễn hơn 70 năm xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội ta đã cho thấy, nguồn gốc sức mạnh của quân đội không chỉ bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự quan tâm của các tổ chức chính trị xã hội, từ sức mạnh bên trong của quân đội mà còn bắt nguồn từ sự đoàn kết giữa quân đội với nhân dân, sự yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân đối với quân đội.

Lời dạy của Bác năm xưa đến nay vẫn còn nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn đối với mọi cấp, mọi ngành, mọi người. Đối với quân đội, phải phát huy bản chất cách mạng, phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, không ngừng xây dựng, phát triển mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân; tôn trọng, giúp đỡ, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; một lòng một dạ chiến đấu bảo vệ nhân dân, luôn luôn giữ nghiêm kỷ luật quan hệ quân - dân, không phụ lòng tin yêu của nhân dân..., tích cực tham gia phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải không ngừng học tập, rèn luyện, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận, thực hiện tốt lời dạy của Người: “Phải dựa vào nhân dân, không được xa rời dân, nếu không thế thì sẽ thất bại”.


Hướng đi mới cho thư pháp quốc ngữ.

 

Không gian bên trong nhà Thái Học (Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Hà Nội) đậm chất nghệ thuật với những bức thư pháp được kết hợp cùng ánh sáng. Không chỉ treo trên tường, sắp đặt dưới nền nhà, các tác phẩm thư pháp còn được treo bố trí trên trần, cột nhà... Những hình ảnh trên tại Triển lãm thư pháp quốc ngữ "Nghiên bút còn thơm" gây ấn tượng với công chúng bởi sự độc đáo, phá cách.

Triển lãm giới thiệu gần 700 tác phẩm thư pháp của 15 tác giả đến từ 3 miền Bắc-Trung-Nam. Thay vì treo các tác phẩm thư pháp lên tường như truyền thống, triển lãm lần này được sắp đặt theo từng mô-đun trưng bày đều được soi sáng từ bên trong, mang lại hiệu ứng mới cho công chúng. Từng con chữ, nét bút, vết mực đều được làm nổi bật và soi rõ bằng ánh sáng.

Người xem có thể cảm nhận, tương tác hai chiều rõ ràng hơn, trực quan nhất vẻ đẹp của bút mực trên từng trang giấy. Ngoài kết hợp với ánh sáng, điểm đặc sắc làm nổi bật các tác phẩm thư pháp tại triển lãm là các dải băng giấy với tổng chiều dài 200m được sắp đặt trưng bày dạng lượn sóng vừa mang tính phá cách, vừa làm mềm cho không gian trưng bày, đồng thời mang hàm ý nghệ thuật thư pháp giống như những con sóng uốn lượn, từng đợt sóng sau tiếp đợt sóng trước, từng thế hệ sau nối tiếp thế hệ đi trước trên con đường phát triển nghệ thuật thư pháp Việt. 

Là một trong 15 tác giả tham dự triển lãm, thư pháp gia Bùi Chính Hưng (Câu lạc bộ thư pháp Việt Tâm bút) chia sẻ: "Suốt 4 tháng qua, chúng tôi miệt mài làm việc, học hỏi, sáng tạo, để tạo ra những tác phẩm tốt phục vụ công chúng. Đây là sự kết tinh của tình yêu với chữ Việt, thể hiện qua việc truyền tải những câu thơ, bài hát, áng văn nổi tiếng của các danh nhân trong lịch sử nước nhà. Thông qua triển lãm, chúng tôi mong muốn gửi gắm thông điệp về sự trường tồn của các giá trị văn hóa truyền thống, trong đó có nghệ thuật thư pháp quốc ngữ. Mỗi nét chữ ở đây đều mang trong mình một câu chuyện, mỗi tác phẩm là một phần tâm hồn của chúng tôi".

Theo giám tuyển triển lãm Vũ Thanh Tùng, người viết thư pháp phải khai thác được vẻ đẹp riêng trong từng ký tự rồi ghép lại thành một tác phẩm với những nhịp điệu như một bản giao hưởng. Ở Triển lãm thư pháp quốc ngữ “Nghiên bút còn thơm”, ngoài khai thác tính nhịp điệu đơn thuần của từng con chữ, các thư pháp gia còn làm cho chúng trở nên lung linh hơn nhờ hiệu ứng ánh sáng và màu sắc. Nhờ đó, các con chữ không đơn thuần đi theo hàng lối nữa mà đã trở thành những bức thư họa phá cách, mang đến cho người xem nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau.

TS Lê Xuân Kiêu, Giám đốc Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu-Quốc Tử Giám cho biết, Triển lãm thư pháp quốc ngữ "Nghiên bút còn thơm" định hướng sáng tác, tư duy nghệ thuật mới. Đó là phong cách tân cổ điển-bán hiện đại, kết hợp giữa kiểu truyền thống và phong cách sáng tác hiện đại, cùng với cách thức tổ chức, trưng bày hiện đại, được định hình để làm tiền đề và chuẩn mực cho những triển lãm tiếp theo về thư pháp.

"Chúng tôi mong muốn triển lãm này sẽ tạo ra nguồn cảm hứng cho những nghệ sĩ sáng tạo và định hình hướng đi mới cho thư pháp quốc ngữ. Không dừng lại ở việc viết chữ nữa, những tác phẩm thư pháp quốc ngữ phải là tác phẩm nghệ thuật phản ánh sự sáng tạo của những người hoạt động thư pháp nhằm đề cao giá trị thẩm mỹ và giá trị văn hóa của chữ Việt”, TS Lê Xuân Kiêu bày tỏ.


Kết hợp pháp trị và đức trị trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng: Bài 1: Kế thừa, vận dụng những bài học lịch sử.

                Đức trị và pháp trị là hai đường lối cai trị của bậc quân vương, trong đó, đức trị được Khổng Tử xây dựng thành học thuyết chính trị, triển khai và thực thi trong chế độ phong kiến, để lại nhiều bài học lịch sử bổ ích.

Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay, việc kết hợp, vận dụng hài hòa giữa đức trị và pháp trị sẽ phát huy tối đa hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật, thực hành Điều lệ Đảng...

Từ những bài học lịch sử, thực tiễn…

Trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, chúng ta cần quán triệt, học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần thượng tôn pháp luật, "dĩ dân vi thượng". Bác Hồ rất coi trọng đạo đức, tình cảm nhưng rất nghiêm khắc với những hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái đạo đức. Người gọi đó là giặc nội xâm, cực kỳ nguy hiểm, tự giết chết chế độ. Năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo việc xét xử nghiêm minh và y án tử hình đối với Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu về tội tham nhũng, ăn chơi sa đọa trong bối cảnh quân dân cả nước tập trung tất cả cho kháng chiến chống thực dân Pháp. Đại tá Trần Dụ Châu từng là cán bộ được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao chức vụ Cục trưởng Cục Quân nhu. Khi cán bộ này phạm trọng tội, mặc dù rất đau đớn nhưng Người vẫn kiên quyết nghiêm trị, xử lý đúng pháp luật.

Năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chuẩn y án tử hình đối với cán bộ cao cấp Trương Việt Hùng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp vì tội giết người, ăn chơi sa đọa. Những bản án nghiêm khắc ấy thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật của người đứng đầu Nhà nước, tính nghiêm minh của pháp luật Việt Nam. Thực hiện nghiêm pháp luật như vậy thực sự là không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai. Bản án tử hình đối với hai đối tượng trên đã tăng sức mạnh răn đe đến đội ngũ cán bộ cao cấp trong Đảng, Nhà nước và Quân đội, thể hiện bản chất của pháp luật là công bằng, nghiêm minh: “Pháp luật không hùa theo người sang, sợi dây dọi không uốn mình theo cây gỗ cong”. Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, xây dựng đất nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, tình hình đất nước có những giai đoạn diễn biến hết sức phức tạp, nhưng với sự nghiêm minh của pháp luật đã tạo nên hiệu ứng, hiệu quả tốt trong lãnh đạo, quản lý và điều hành xã hội của Đảng, Nhà nước ta, quy tụ lòng dân về một mối.

Hiện nay, chúng ta đang đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quản lý xã hội bằng pháp luật, đã đem lại nhiều thành tựu nhất định. Đó là, mọi hoạt động xã hội đều phải tuân theo pháp luật, người dân được làm những việc mà pháp luật không cấm, cán bộ nhà nước làm việc theo pháp luật quy định. Trong quá trình hoạt động quản lý xã hội, đội ngũ cán bộ về cơ bản hoạt động theo đúng pháp luật. Đồng thời, do rèn luyện, tu dưỡng, đại đa số đội ngũ cán bộ, đảng viên đã hình thành, tu dưỡng phẩm chất đạo đức công bộc của dân. Tuân thủ theo pháp luật một cách bắt buộc nghiêm ngặt, dần dần thành thói quen tốt của cán bộ công chức, những thói quen ấy sẽ là cơ sở cho việc giáo dục, củng cố phẩm chất đạo đức như trung thành, tự giác, mẫn cán... Đồng thời, cán bộ tu dưỡng, rèn luyện đạo đức tốt sẽ bớt tham lam, tránh được tệ hối lộ, tham nhũng; bớt cửa quyền, hách dịch, tránh được độc tài, vi phạm dân chủ; bớt đố kỵ, ganh ghét sẽ tránh được mất đoàn kết, đấu đá tranh giành quyền lực, lợi ích... Xã hội luôn luôn vận động, phát triển làm cho nhu cầu đời sống con người cũng vận động, biến đổi theo. Trong bất cứ xã hội nào, quy định của pháp luật cũng không thể bao quát hết mọi lĩnh vực của đời sống. Cán bộ không tu dưỡng đạo đức, sẽ dẫn đến không tự giác chấp hành pháp luật, tìm cách lách luật để trục lợi.

Vì thế, dù xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhưng không thể thiếu tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức tốt trong đội ngũ cán bộ. Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng đang diễn ra quyết liệt và đạt được những kết quả nhất định. Một bộ phận không nhỏ cán bộ suy thoái phẩm chất đạo đức nghiêm trọng, vì lợi ích cá nhân nên tìm mọi cách trục lợi, tham nhũng, nhận hối lộ... đã bị xử lý nghiêm minh.

Năm 2023, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 606 tổ chức đảng, hơn 24.160 đảng viên. Trong đó, thi hành kỷ luật 459 đảng viên do tham nhũng, 8.863 đảng viên do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm những điều đảng viên không được làm. Đặc biệt, có 19 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị kỷ luật. Trong 6 tháng đầu năm 2024, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 308 tổ chức đảng, 11.005 đảng viên. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 47 cán bộ diện Trung ương quản lý. 

Đúng quy định pháp luật, phù hợp lương tâm, tình cảm

Với cách làm nghiêm túc, căn cứ vào quy định pháp luật, Điều lệ Đảng để tiến hành kỷ luật cán bộ vi phạm, đã làm cho người vi phạm bị xử lý tâm phục, khẩu phục, mang tính răn đe cao trong Đảng và hệ thống chính trị.  Những tội danh như tham nhũng, hối lộ, suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên được tổ chức đảng kiểm điểm làm rõ sai phạm, được pháp luật xét xử công khai, luận tội đúng mức, hình phạt nghiêm khắc, đã tiếp tục củng cố lòng tin trong nhân dân về nhà nước pháp quyền công minh.

Nhà nước pháp quyền là nhà nước thượng tôn pháp luật, cán bộ từ Trung ương đến địa phương đều phải tuân theo pháp luật. Tính phổ biến của quy phạm pháp luật là cơ sở công bằng xã hội, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Điều này đã được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo: Phải xây dựng cho được một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể” tham nhũng, tiêu cực; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám” tham nhũng, tiêu cực; và một cơ chế bảo đảm để “không muốn”, “không cần” tham nhũng, tiêu cực; tránh bệnh sợ trách nhiệm, sợ sai, không dám làm, chống tình trạng tham nhũng tập thể, tham nhũng có tổ chức, lợi ích nhóm. Kỷ luật nghiêm minh với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai một cách bài bản, thuyết phục... Xử là phải xử nghiêm theo đúng quy định của pháp luật và phù hợp với lương tâm, tình cảm chứ không phải cứ xử nặng mới là tốt. Điều này đã tạo ấn tượng sâu sắc không chỉ trong nhân dân mà ngay những người phạm tội cũng cảm thấy ăn năn, hối cải. Nhiều người đã phải khóc trước tòa vì sự ăn năn, hối lỗi.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đã khẳng định: Tiếp tục triển khai mạnh mẽ, đồng bộ các giải pháp, kiên quyết, kiên trì đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực theo đúng phương châm “không ngừng, không nghỉ”, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Phòng, chống tham nhũng được thực hiện tốt sẽ giữ được lòng tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước, với đội ngũ cán bộ. Đội ngũ cán bộ trong sạch, bộ máy vận hành đồng bộ, trên dưới hành động thống nhất theo pháp luật sẽ tạo nên hành lang pháp lý cho xã hội và cá nhân tuân theo.

Việc kế thừa, vận dụng những bài học lịch sử từ truyền thống ông cha và học tập, làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết hài hòa mối quan hệ pháp trị và đức trị trong tình hình hiện nay là vô cùng quan trọng và cần thiết. Khi "đức trị" đạt đến sự tự giác, là nhân tố để xây dựng Đảng ta là đạo đức, là văn minh, thì tinh thần thượng tôn pháp luật, hiệu lực, hiệu quả pháp trị sẽ đạt mức tối đa. Tinh thần này cần được triển khai trong toàn Đảng và hệ thống chính trị chứ không chỉ có sự cố gắng, kiên trì, kiên quyết từ Trung ương.

Phòng, chống "diễn biến hòa bình": Đừng yêu nước kiểu mù quáng.

 

Tranh thủ cuối tuần về thăm nhà sau những ngày dài miệt mài học tập trên phố, Phương rất háo hức. Nhưng vừa bước chân qua cổng thì thấy bà Loan đặt tờ báo xuống hiên nhà, buông tiếng thở dài não nề.

“Mẹ ơi, có chuyện gì với nhà mình à? Sao mẹ buồn vậy?”, Phương hỏi mẹ.

- Con có biết tin hai mẹ con bà Ngọc ngõ trên nhà mình vừa bị bắt vì tội chống phá Nhà nước không? Mẹ thấy buồn quá!

- Con chỉ nghe loáng thoáng. Con cũng định về nhà tìm hiểu cho rõ ngọn ngành vì sự việc gần ngay nhà mình.

- Mẹ cái Duyên đó, trước nay là người hiền lành. Chẳng hiểu vì sao nghe lời con gái, mê muội tham gia tổ chức phản động chống phá Nhà nước nên cả hai mẹ con đều bị công an bắt rồi.

Đúng lúc đó thì ông Sáu, Tổ trưởng tổ dân phố bước vào cất lời: “Chào bà Loan. Bà đang nói chuyện về mẹ con bà Ngọc ngõ trên phải không?”

- Vâng, ông Sáu. Ông biết chuyện thế nào nói tôi nghe với.

- Mấy năm vừa rồi, Duyên con bà Ngọc bị kẻ xấu dụ dỗ tham gia tổ chức phản động chống phá Nhà nước, bêu xấu lãnh đạo. Những việc làm sai trái đó được ngụy biện là lòng yêu nước chân chính. Từng bị cơ quan công an mời lên làm việc, nhắc nhở, nhưng Duyên không tỉnh ngộ. Đáng buồn hơn, Duyên còn lôi kéo chính mẹ mình tham gia.

“Chú Sáu ơi, tội nghiêm trọng đến thế sao?”, Phương hỏi ông Sáu.

- Do thiếu hiểu biết, khi tham gia vào các tổ chức phản động, họ đã gieo rắc tư tưởng hận thù, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh đạo và làm mất đi niềm tin của quần chúng vào chính quyền nhân dân. Những hành động đó đe dọa đến an ninh quốc gia, phá hoại sự đoàn kết của dân tộc ta. Mà pháp luật thì nghiêm minh, không ai có thể đứng ngoài pháp luật được.

- Vậy chúng ta phải làm gì để không mắc bẫy kẻ xấu?

- Điều quan trọng nhất là phải có hiểu biết và luôn tỉnh táo trước các luồng thông tin. Bất cứ ai có biểu hiện lôi kéo hoặc bị lôi kéo tham gia các hoạt động sai trái, cần báo ngay cho cấp ủy, chính quyền địa phương để giáo dục, có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Hơn hết, mỗi người dân phải tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý, điều hành của Nhà nước, cùng nhau đoàn kết xây dựng cộng đồng vững mạnh.

Nghe ông Sáu nói, bà Loan hưởng ứng: “Ông nói phải đó. Chúng ta cần sáng suốt. Dù có chuyện gì cũng không tin theo những lời dụ dỗ của kẻ xấu mà hành động sai trái. Phương học trên phố, nhiều thông tin nhiễu loạn, nhất là trên mạng xã hội. Con phải nhớ kỹ điều đó nhé”.

“Vâng, con biết rồi ạ. Con sẽ chia sẻ với bạn bè để mọi người cùng cảnh giác, không mắc bẫy thế lực thù địch ạ”, Phương đáp lời mẹ.