Thứ Tư, 2 tháng 10, 2024

Toàn văn bài phát biểu chính sách của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Trường Đại học Trinity Dublin của Ireland.

                    Tiếp tục chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ireland, chiều 2-10, tại thủ đô Dublin, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thăm Trường Đại học Trinity Dublin. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có bài phát biểu chính sách quan trọng “Tầm nhìn về kỷ nguyên mới trong quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam–Ireland, vì hòa bình, hợp tác và phát triển”.

Báo Quân đội nhân dân xin trân trọng giới thiệu nội dung bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm:

Thưa ông Patrick O’Donovan, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đại học và Sau đại học, Nghiên cứu, Đổi mới và Khoa học Ireland,

Thưa bà Orla Sheils, Phó Hiệu trưởng Đại học Trinity Dublin,

Thưa ông Martin Murray, Giám đốc điều hành của Tổ chức Asia Matters,

Thưa các quý vị và các bạn,

Thưa các bạn sinh viên Việt Nam,

1. Tôi rất vui mừng đến thăm trường Đại học Trinity Dublin, một trong những trường Đại học lâu đời và danh giá nhất thế giới. Từ lâu, tôi đã ấn tượng về Trường, nơi đã đào tạo ra những nhân tài vĩ đại, trong đó có Ngài Douglas Hyde - Tổng thống đầu tiên của Ireland; bà Mary Robinson - nữ Tổng thống đầu tiên của Ireland và đại văn hào Oscar Wilde.

Đến với Trường Đại học của các Bạn hôm nay, tôi đã được chiêm ngưỡng Cuốn sách “Kells” và cây đàn hạc “Brian Boru” lừng danh . Việc gửi gắm cho Trường lưu giữ những kiệt tác nghệ thuật này thể hiện sự trân trọng của Chính phủ và người dân Ireland, đối với ngôi trường của các bạn nói riêng và sự nghiệp giáo dục đào tạo nói chung.

Ngay ngày đầu tiên tại Ireland, là trải nghiệm đặc biệt đối với tôi. Thay mặt Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam, tôi chân thành cảm ơn sự đón tiếp nồng hậu của Chính phủ và Nhân dân Ireland. Tôi cũng cảm ơn Ban Lãnh đạo của Đại học Trinity Dublin và Tổ chức Asia Matters đã tổ chức cuộc gặp gỡ rất có ý nghĩa ngày hôm nay. Sự hiện diện của đông đảo các quý vị và các bạn, trong đó có nhiều sinh viên Việt Nam, cho tôi niềm tin về triển vọng tươi sáng của mối quan hệ giữa hai nước chúng ta.

VIỆT NAM – IRELAND: NHỮNG GIÁ TRỊ CHUNG CÙNG CHIA SẺ

Thưa các quý vị và các bạn,

2. Trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam năm 2016, Tổng thống Ireland Michael Higgins đã chia sẻ rằng, Việt Nam–Ireland, có nhiều điểm tương đồng về lịch sử và văn hóa.

Hai dân tộc chúng ta đều trải qua nhiều hi sinh mất mát to lớn trên hành trình đấu tranh kiên cường, bất khuất vì tự do, độc lập dân tộc. Cuộc Khởi nghĩa Phục sinh năm 1916 và Cuộc chiến giành độc lập của Ireland giai đoạn 1919 - 1921 đã để lại một di sản không thể nào quên đối với cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trên toàn thế giới. Còn Việt Nam được biết đến với chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 - đánh dấu sự khởi đầu của quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới, và Đại thắng Mùa xuân năm 1975 - thắng lợi mang tính biểu tượng cho công lý và chính nghĩa, cho tiến bộ xã hội, cho chủ nghĩa nhân văn và lương tri của thời đại.

Nếu Ireland có anh hùng dân tộc Michael Collins, người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho lý tưởng tự do và độc lập dân tộc, thì Việt Nam vô cùng tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới.

Hai nước chúng ta đều đề cao truyền thống hiếu học, sự hòa hiếu và mến khách, giá trị gia đình và tình đoàn kết. Bởi thế, trong quan hệ với các đối tác và bạn bè quốc tế, chúng ta luôn tìm kiếm sự hòa hợp, thúc đẩy các điểm đồng và giảm thiểu những khác biệt, đề cao hợp tác đa phương và tinh thần đoàn kết quốc tế.

Tôi tin rằng, chủ nghĩa yêu nước, lý tưởng vì tự do, độc lập dân tộc, khát vọng hòa bình cùng những giá trị văn hóa chung sẽ là “chất keo” gắn kết hai dân tộc của chúng ta hôm nay và mai sau, là nền tảng cho quan hệ của Việt Nam-Ireland, phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.

Thưa các quý vị và các bạn,

3. Việt Nam đánh giá cao những thành tựu phát triển vượt bậc về kinh tế-xã hội của Ireland. Chỉ trong hơn một thập kỷ, từ một trong những nước nghèo nhất châu Âu, Ireland, đã vươn lên thành một nền kinh tế tri thức hàng đầu thế giới, một hình mẫu về sự phát triển cho nước vừa và nhỏ.

Ireland còn là một biểu tượng của tinh thần đoàn kết và uy tín quốc tế. Trong hơn 6 thập kỷ qua, Ireland liên tục cử quân tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; đã 4 lần được tín nhiệm bầu là Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Ireland còn là một trong những nước đi đầu thế giới về viện trợ phát triển. Cộng đồng gần 80 triệu người Ireland và gốc Ireland ở nước ngoài đã có những đóng góp nổi bật vào sự lớn mạnh và phồn vinh của nhiều cường quốc trên thế giới, trong đó có nước Mỹ.

4. Tôi xin chia sẻ với các bạn câu chuyện về Việt Nam. Trong gần 80 năm lập nước và gần 40 năm Đổi mới, dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã giành được tự do, độc lập dân tộc, và đã đạt nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử.

Từ một đất nước nghèo nàn lạc hậu, bị tàn phá sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế mở, năng động, một điểm sáng về tăng trưởng. Sau gần 4 thập kỷ từ khi Đổi mới và mở cửa (từ năm 1986 đến nay), quy mô nền kinh tế Việt Nam đã tăng 96 lần. Mạng lưới hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam ký kết và triển khai với hơn 60 quốc gia và nền kinh tế lớn đã góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và 20 nền kinh tế hàng đầu thế giới về thu hút đầu tư nước ngoài và về quy mô thương mại.

Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, mà gần đây nhất là với Malawi, nhân dịp tôi tham dự Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 79 vừa qua. Chúng tôi cũng đã nâng cấp, nâng tầm các mối quan hệ với mạng lưới 31 khuôn khổ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện, trong đó có toàn bộ các nước là Ủy viên Thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các nền kinh tế Nhóm G7. Mới hôm qua, tôi đã cùng Tổng thống Mông Cổ ra Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam–Mông Cổ.

Có được những thành tựu này là trước hết là nhờ sự đồng lòng, đồng sức, nỗ lực, quyết tâm và tinh thần “Tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường và tự hào dân tộc” của toàn thể hơn 100 triệu người dân Việt Nam cùng hơn 6 triệu người Việt Nam ở trên toàn thế giới. Những kết quả mà Việt Nam đạt được ngày hôm nay cũng không thể thiếu sự đóng góp, hỗ trợ quý báu, chí tình, chí nghĩa của các nước bạn bè và cộng đồng quốc tế, trong đó có Ireland.

Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ quý báu mà Chính phủ và nhân dân Ireland đã dành cho công cuộc phát triển của Việt Nam trong gần 30 năm qua, nhất là trên lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, khắc phục hậu quả chiến tranh, hỗ trợ các đối tượng dễ bị tổn thương, nâng cao năng lực quản lý kinh tế, bình đẳng giới và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam kiên định mục tiêu “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, lấy đây làm tư tưởng, kim chỉ nam để bảo vệ và phát triển đất nước. Việt Nam cũng tiếp tục lấy con người là trung tâm, là động lực của phát triển; xây dựng Nhà nước pháp quyền, của dân, do dân và vì dân; triển khai nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện.

Là thành viên của Cộng đồng ASEAN, Việt Nam đang nỗ lực đóng góp vào việc hiện thực hóa .Tầm nhìn đến năm 2045. Việt Nam cũng được bạn bè quốc tế đánh giá là một câu chuyện thành công, một nước đi đầu trong thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc, và đang tích cực triển khai cam kết đưa phát thải ròng về “0” vào năm 2050. Cùng các đối tác và bạn bè quốc tế, Việt Nam đang nỗ lực tìm kiếm giải pháp cho các thách thức toàn cầu, trong đó có biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, bệnh dịch, an ninh nguồn nước; và đóng góp vào việc xây dựng một trật tự quốc tế công bằng, bình đẳng, minh bạch, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.

Chúng tôi cũng tin tưởng rằng, hòa bình là nền tảng để phát triển. Do đó, kế thừa truyền thống của dân tộc về yêu chuộng hòa bình, “hòa hiếu”, “lấy chí nhân thay cường bạo”, Việt Nam kiên trì chính sách quôc phòng “bốn không”: (1) Không tham gia liên minh quân sự; (2) Không liên kết với nước này để chống nước kia; (3) Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; (4) Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Việt Nam ủng hộ việc tôn trọng các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; ủng hộ mạnh mẽ việc giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, phản đối các hành động đơn phương, chính trị cường quyền, sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Với tâm thế đó, Việt Nam đã đóng góp tích cực vào các vấn đề hòa bình và an ninh quốc tế. Trong 10 năm qua, hàng nghìn chiến sỹ Việt Nam đã đồng hành cùng Liên hợp quốc trong các nỗ lực gìn giữ hòa bình, an ninh quốc tế và cải thiện đời sống cho nhân dân ở nhiều quốc gia trên thế giới. Việt Nam cũng tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa cho nhiều nước trên thế giới.

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, với thế và lực mới, Việt Nam quyết tâm thực hiện hiệu quả ngoại giao thời đại mới, sẵn sàng đóng góp tích cực và chủ động hơn nữa vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu và nền văn minh nhân loại.

KỶ NGUYÊN MỚI TRONG QUAN HỆ HỮU NGHỊ VÀ HỢP TÁC VIỆT NAM–IRELAND

Thưa các quý vị và các bạn,

5. Sau gần 3 thập kỷ thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Ireland ngày càng phát triển tích cực. Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Ireland, một thành viên năng động của EU, một quốc gia tiên phong về đổi mới sáng tạo và cội nguồn của tinh hoa thế giới. Tôi mong chuyến thăm lần này của tôi tới Ireland sẽ đóng góp tích cực vào việc tăng cường hơn nữa quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước chúng ta.

Sáng nay, tôi đã có cuộc hội đàm rất thành công với Ngài Tổng thống Michael Higgins. Chúng tôi đã nhất trí các nguyên tắc và phương hướng hợp tác lớn để đưa quan hệ song phương bước sang kỷ nguyên mới, toàn diện, sâu rộng, hiệu quả và thực chất hơn. Chúng tôi cũng tái khẳng định các giá trị chung mà hai nước chia sẻ. Đó là trân trọng hòa bình, tinh thần độc lập tự chủ, đề cao chủ nghĩa đa phương, tôn trọng luật pháp quốc tế và sức mạnh của tình hữu nghị và đoàn kết quốc tế.

Tôi vui mừng thông báo Việt Nam sẽ chính thức mở Đại sứ quán tại Ireland. Tôi tin tưởng rằng, đây sẽ là một dấu mốc quan trọng, góp phần tạo xung lực mới cho hợp tác giữa Việt Nam và Ireland trong thời gian tới.

Thưa các quý vị và các bạn,

6. Thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại. Trong đó, châu Âu và châu Á–Thái Bình Dương là hai khu vực chịu nhiều tác động sâu sắc nhất. Từ nay đến năm 2030, và nhìn xa hơn là đến năm 2045, là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới. Những chuyển biến có tính thời đại đem đến thời cơ, thuận lợi mới cho tất cả các quốc gia, nhưng cùng với đó là nhiều thách thức.

Đối với Việt Nam, đây là thời kỳ cơ hội chiến lược quan trọng, giai đoạn nước rút để kiến tạo kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam; hiện thực hóa các mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030, nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045, và khát vọng xây dựng nước Việt Nam “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Với Ireland, đây là giai đoạn then chốt để hoàn thành Khuôn khổ Kế hoạch Quốc gia 2040, chuyển đổi thành công mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững và cân bằng hơn, vì một cuộc sống tốt đẹp hơn của mọi người dân Ireland. Để tận dụng tối đa thời cơ chiến lược, chuyển hóa các thách thức thành cơ hội, và xây dựng tương lai thịnh vượng cho cả hai nước chúng ta, tôi xin nhấn mạnh các phương hướng sau đây:

Thứ nhất, chủ động kiến tạo không gian phát triển mới vì lợi ích và thịnh vượng của nhân dân hai nước. Trong kỷ nguyên Cách mạng công nghiệp 4.0, 5.0 và có thể là X.0 trong tương lai, động lực phát triển phải đến từ việc định hình những mô hình tăng trưởng mới, mang tính đột phá, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao làm nền tảng; bảo đảm nguyên tắc phát triển bền vững và lành mạnh, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế; lấy con người làm động lực, chủ thể và trung tâm của phát triển.

Tôi tin tưởng rằng, Khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược trong trong lĩnh vực giáo dục đại học mà hai nước vừa sẽ thiết lập trong chuyến thăm lần này của tôi sẽ góp phần phát huy thế mạnh của mỗi nước và những thành tựu hợp tác song phương trong gần 30 năm qua; khai mở những hướng đi mới cho hợp tác, gắn với các xu hướng của thời đại; làm lan tỏa mạnh mẽ hơn những giá trị chung mà hai nước chúng ta cùng chia sẻ tới thế hệ trẻ, trong đó có các bạn sinh viên có mặt tại đây hôm nay - chủ nhân tương lai của hai nước chúng ta.

Thứ hai, tạo đột phá trong việc nâng cao tính tự chủ, tự lực, tự cường và khả năng thích ứng trước các thách thức toàn cầu mới. Chúng ta cần cùng nhau thay đổi tư duy và phương thức xử lý các thách thức toàn cầu, từ “ứng phó, khắc phục có tính bị động” sang “chủ động phòng ngừa, kiểm soát từ sớm, từ xa”; chủ động tạo dựng lợi thế mới và nâng cao sức mạnh nội sinh, khả năng chống chịu trước các tác động từ môi trường bên ngoài.

Là thành viên của ASEAN và EU, hai cộng đồng năng động hàng đầu thế giới, Việt Nam và Ireland cần tăng cường kết nối hơn nữa, bổ trợ cho nhau, phát huy thế mạnh của mỗi bên, nhằm nâng cao hiệu quả xử lý các thách thức toàn cầu và sớm thực hiện các mục tiêu phát triển 2040 và 2045.

Phát huy tinh thần đại đoàn kết, hai nước chúng ta cũng cần tăng cường hỗ trợ, chia sẻ kinh nghiệm với các quốc gia kém phát triển hơn, để “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối cho Ireland và EU mở rộng hợp tác ASEAN.

Thứ ba, nâng tầm và chủ động mở rộng đóng góp của Việt Nam và Ireland cho các vấn đề hòa bình, hợp tác và phát triển quốc tế. Cùng là thành viên tích cực và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, Việt Nam và Ireland cần tiếp tục thúc đẩy hợp tác đa phương, tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là việc giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; đề cao vai trò của Liên hợp quốc; chủ động khởi xướng các ý tưởng hợp tác mới, vì hòa bình, an ninh, ổn định và phát triển của nhân loại. Đặc biệt, cần đóng góp tích cực hơn vào việc duy trì an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở các vùng biển và đại dương, phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và luật pháp quốc tế. Chúng ta cũng cần tiếp tục thúc đẩy tự do hóa thương mại và đầu tư; tham gia xây dựng, định hình các luật chơi mới, khuôn khổ hợp tác kinh tế quốc tế mới, công bằng, minh bạch và bình đẳng hơn.

Tôi vui mừng được biết, Trường Trinity Dublin đang triển khai nhiều chương trình hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu của Việt Nam. Hàng trăm giảng viên, sinh viên Việt Nam đã và đang được tiếp cận với nền giáo dục và nghiên cứu chất lượng đẳng cấp quốc tế của các Bạn. Tôi mong rằng, các chương trình hợp tác này sẽ đạt nhiều kết quả tích cực hơn nữa, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển dài hạn của cả hai nước và đưa quan hệ Việt Nam–Ireland phát triển ngày càng sống động và thực chất.

Thưa các quý vị và các bạn,

7. Nhìn lại chặng đường gần 30 quan hệ vừa qua, tôi tin tưởng sâu sắc rằng, trong những thập kỷ tới và xa hơn nữa, mối quan hệ Việt Nam–Ireland sẽ ngày càng được củng cố và nâng lên tầm cao mới.

Xin kết thúc bài phát biểu bằng câu thành ngữ của các bạn: “Trong tất cả những mối quan hệ, tình bạn là tốt nhất và sẽ luôn là như vậy”.            

Tôi tin tưởng Việt Nam và Ireland sẽ tiếp tục sát cánh cùng nhau, hợp tác chặt chẽ, hướng tới tầm vóc quan hệ cao hơn trong tương lai, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì một tương lai hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở hai khu vực và trên thế giới.

Xin chúc toàn thể quý vị và các bạn sức khỏe, hạnh phúc và thành công!

Xin trân trọng cảm ơn!

Ninh Bình thực hiện lời dạy của Bác.

 

Từ tháng 1-1946 đến tháng 7-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 5 lần về thăm Ninh Bình. Những lời căn dặn cùng tình cảm, sự quan tâm của Bác đã trở thành động lực to lớn để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Ninh Bình không ngừng phấn đấu, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, ra sức thi đua, đẩy mạnh sản xuất, từng bước xây dựng Ninh Bình ngày càng giàu mạnh, phát triển.

Vinh dự 5 lần đón Bác Hồ về thăm

Trong khoảng 15 năm, Đảng bộ và nhân dân Ninh Bình vinh dự và tự hào được 5 lần đón Bác Hồ về thăm. Ngày 13-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Giám mục Lê Hữu Từ và cán bộ, nhân dân thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn; ngày 10-2-1947, Bác về dự và chủ trì Hội nghị điền chủ toàn tỉnh Ninh Bình do Bộ Canh nông tổ chức tại thôn Sào Thượng, xã Lạng Phong, huyện Nho Quan; ngày 15-3-1959, Người về kiểm tra và động viên công tác chống hạn tại xã Khánh Cư, huyện Yên Khánh; ngày 18-10-1959, Bác về dự và chỉ đạo Hội nghị sản xuất vụ đông-xuân năm 1959-1960 và về thăm Nông trường quốc doanh Đồng Giao, ngày 20-7-1960.

Mỗi lần được đón Bác là vinh dự to lớn không chỉ đối với địa phương, đơn vị Bác đến thăm mà là niềm vui chung, vinh dự lớn lao đối với Đảng bộ, nhân dân tỉnh Ninh Bình và những lời căn dặn của Bác chính là nhiệm vụ cách mạng mà Bác mong muốn Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Ninh Bình cần tập trung thực hiện.

Những lời căn dặn của Bác về đoàn kết toàn dân, đoàn kết trong Đảng, đoàn kết ngoài Đảng, đoàn kết lương-giáo; thi đua sản xuất, thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội; thực hành tiết kiệm đều là những vấn đề căn cốt mà Đảng bộ, quân và dân Ninh Bình luôn khắc ghi và thực hiện tốt để vươn lên, phát triển vững mạnh về mọi mặt, góp phần cùng nhân dân cả nước đưa sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc đến thắng lợi vẻ vang.

Khắc ghi lời dạy của Bác, cùng với việc thực hiện những điều căn dặn của Bác trong Di chúc, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Ninh Bình luôn đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, góp phần cùng với nhân dân cả nước giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Kháng chiến thành công, nhân dân Ninh Bình tích cực khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, từng bước phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội. Đặc biệt, từ sau khi được tái lập (năm 1992) đến nay, tỉnh Ninh Bình đã vươn lên giành được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực.

Phát triển kinh tế theo hướng nhanh, mạnh và bền vững

Qua nhiều nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã đưa ra nhiều quyết sách đúng đắn như: Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, lấy công nghiệp làm chủ đạo; phát triển các ngành dịch vụ, trọng tâm là phát triển du lịch; chuyển đổi tư duy sản xuất nông nghiệp đơn thuần sang phát triển kinh tế nông nghiệp. Đến nay, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã định hình rõ quan điểm phát triển kinh tế theo hướng nhanh, mạnh và bền vững, tập trung vào 3 trụ cột động lực để tăng trưởng kinh tế: Công nghiệp phụ trợ công nghệ cao, công nghệ sạch; nông nghiệp hữu cơ, sinh thái, tiên tiến; phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn. Ninh Bình phấn đấu đến năm 2035, xây dựng tỉnh Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương theo đặc trưng đô thị di sản thiên niên kỷ, thành phố sáng tạo, cực tăng trưởng khu vực các tỉnh phía Nam Đồng bằng sông Hồng, hình mẫu kết hợp hài hòa giữa phục dựng, bảo tồn di sản và tăng trưởng xanh, hướng vào chất lượng phát triển, giữ vững địa bàn vững chắc về quốc phòng và an ninh.

Nhờ những chủ trương đúng đắn, kinh tế của tỉnh Ninh Bình đã đạt được mức tăng trưởng khá qua các giai đoạn. Quy mô nền kinh tế không ngừng được mở rộng. Năm 2022, lần đầu tiên trong lịch sử, Ninh Bình tự cân đối được ngân sách và có điều tiết ngân sách về Trung ương. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, là cơ cấu vàng khi công nghiệp, xây dựng và dịch vụ xấp xỉ 90%, chủ yếu là công nghiệp xanh, sạch. Du lịch Ninh Bình có sự chuyển mình mạnh mẽ, nhất là từ sau khi Quần thể danh thắng Tràng An được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh là Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới (năm 2014) đã mở ra cơ hội lớn đưa du lịch Ninh Bình trở thành ngành kinh tế mũi nhọn...

Đặc biệt, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của Ninh Bình có sự nhiều đổi mới, sáng tạo theo hướng quyết liệt, trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả thực chất, do đó, đã đem lại nhiều kết quả nổi bật. Năm 2022, Ninh Bình là một trong 3 tỉnh đầu tiên trên cả nước hoàn thành kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, 1 trong 20 tỉnh, thành phố thực hiện kết nối chính thức để khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ chuyển đổi số. Năm 2023, chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) của Ninh Bình đạt 88,72%, xếp thứ 11/63 tỉnh, thành phố trong cả nước; chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) đạt 44,07 điểm, xếp thứ 14 toàn quốc; chỉ số đổi mới, sáng tạo cấp địa phương xếp thứ 16/63; chỉ số về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) xếp thứ 19/63.

Bác đã đi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng tình cảm và những lời căn dặn của Người vẫn luôn được khắc ghi trong tâm khảm và trái tim của lớp lớp thế hệ cán bộ, nhân dân Ninh Bình, trở thành động lực lớn lao trên con đường xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUÂN ĐỘI LÀ MÔI TRƯỜNG ĐỂ RÈN LUYỆN THANH NIÊN!

     Hàng năm, vào đầu xuân mới hàng vạn thanh niên cả nước lại lên đường nhập ngũ. Đây vừa là nghĩa vụ, là vinh dự cũng là trách nhiệm của thanh niên Việt Nam!

Được học tập, rèn luyện trong quân đội là điều kiện tốt để thanh niên tô luyện những phẩm chất nhân cách cần thiết đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Có thể nói, môi trường quân đội với kỷ luật nghiêm minh nhưng sẽ giúp cho thanh niên hình thành và phát triển những phẩm chất mà môi trường khác khó có thể mang lại. Khi mới nhập ngũ, thanh niên phải tuân thủ nghiêm khắc với những quy định, điều lệnh, điều lệ quân đội, phải chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy.

Thực tế, thanh niên bước vào quân đội với nhiều đặc điểm tâm lý khác nhau, hội tụ từ nhiều vùng miền khác nhau, những thói quen cũ như sự tùy tiện, buông lỏng, tự do vô kỷ luật thì nay vào quân đội họ phải chuyển hóa một cách nhanh chóng theo yêu cầu quân đội.

Đó cũng chính là sự thay đổi từ nhận thức, thói quen, ngôn ngữ, cử chỉ, tác phong… đạt ở mức độ chuẩn hóa và thống nhất trong một tập thể quân sự. Môi trường quân đội cũng giúp cho thanh niên chuyển biến nhanh chóng về mặt nhận thức, đó chính là sự vững vàng về phẩm chất chính trị, về lập trường quan điểm…, từ đó hình thành nên sự đề kháng tốt giúp cho thanh niên luôn có ý thức được nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Trong môi trường quân đội, thanh niên cũng được hình thành lối sống mới như quan hệ đồng chí, đồng đội, ý thức tập thể, quan hệ quân dân, giải quyết các vấn đề lợi ích phù hợp theo chuẩn mực xã hội. 

Bên cạnh đó, khi thanh niên vào quân đội cũng được hình thành những phẩm chất chuyên môn nghề nghiệp theo các lĩnh vực cụ thể, điều đó sẽ làm cơ sở để mỗi quân nhân có thể vận dụng kiến thức vào cuộc sống sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự của mình.

Trong môi trường quân đội, với đội ngũ cán bộ các cấp, họ vừa là người chỉ huy, vừa là nhà giáo dục có thể giúp quân nhân hình thành những tính cách tốt đẹp như sự trung thực, thẳng thắn, tính kiên cường…, điều này cũng giúp ích cho thanh niên có thể vững bước trong cuộc sống sau này. Có thể nói, được học tập, rèn luyện ở môi trường quân đội là điều kiện tốt cho thanh niên phát huy trên nhiều lĩnh vực./.


Theo báo QĐND.
Môi trường ST.

“Phải cần mà phải cẩn nữa”

 Đây là thời điểm đất nước mới giành được độc lập, chính quyền cách mạng mới được thiết lập, phải đối diện với một khối lượng lớn công việc cần được giải quyết, đòi hỏi đội ngũ cán bộ các cấp phải dốc hết tâm huyết, nhiệt tình, trách nhiệm, song cần phải có sự tổ chức khoa học, hiệu quả. Do vậy, Bác đã viết bài để căn dặn đội ngũ cán bộ các cấp chỉ làm việc chăm chỉ là chưa đủ, mà phải làm việc khoa học, mới mang lại hiệu quả cao trong tổ chức, sắp xếp công việc của chính quyền mới.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” và “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Thấu suốt quan điểm của Người, trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của dân tộc, chế độ; là khâu then chốt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nên đã dày công tổ chức, đào tạo, rèn luyện, xây dựng được đội ngũ cán bộ tận tụy, kiên cường, chất lượng ngày càng cao, là nhân tố quan trọng đóng góp vào những thành quả vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Đội ngũ cán bộ quân đội được giao trọng trách lãnh đạo, chỉ huy, quản lý từ cấp cơ sở đến toàn quân; là lực lượng nòng cốt trong thực hiện đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, nhân tố có vai trò quyết định trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, SSCĐ và chiến đấu của Quân đội ta. Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã có nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Quân đội làm nòng cốt để toàn quân hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Chất lượng toàn diện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, tác phong, phong cách lãnh đạo, chỉ huy của đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, có phương pháp, tác phong công tác khoa học, luôn nêu cao tính đảng, tính chiến đấu, nói và làm theo chỉ thị, nghị quyết. Luôn chủ động, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có ý thức kỷ luật cao, tận tâm, tận lực với công việc, gương mẫu cả trong lời nói và việc làm, có khả năng xử lý những vấn đề phức tạp do thực tiễn đặt ra, có uy tín cao trước bộ đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

“Có mắt ta phải trông, có óc ta phải nghĩ...”

 Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; từ đây chính quyền cách mạng được thiết lập từ Trung ương đến cơ sở, song chính quyền mới phải đối diện với muôn vàn khó khăn, gian khổ, đặc biệt về Công tác cán bộ (CTCB) vừa thiếu, vừa yếu, kinh nghiệm trong quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện còn nhiều hạn chế. Để khắc phục, chấn chỉnh những bất cập, khó khăn trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài để huấn thị đội ngũ cán bộ các cấp.

Cán bộ và CTCB luôn là vấn đề quan trọng, có ý nghĩa quyết định tới sự thành bại của cách mạng. Xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong từng thời kỳ được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, với việc ban hành nhiều quyết sách quan trọng về cán bộ và CTCB; kiên trì, kiên quyết lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện và đã đạt được những kết quả quan trọng. Phần lớn đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức, lối sống giản dị, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, hoàn thành nhiệm vụ được giao; nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế... Tuy nhiên, bên cạnh đó, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đến nay vẫn còn một số hạn chế, bất cập, nhất là việc điều động, bổ nhiệm vi phạm nguyên tắc, lợi ích nhóm, tệ nạn chạy chức, chạy quyền diễn ra ở một số cơ quan, địa phương… gây bức xúc trong dư luận.

CTCB và xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội là một bộ phận quan trọng trong CTCB của Đảng; một nội dung cơ bản của hoạt động Công tác Đảng, Công tác Chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Trước yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN thì nhiệm vụ xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quân đội càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân đã tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch; có tinh thần trách nhiệm cao, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tận tâm, tận lực với công việc, gương mẫu trong cả lời nói và việc làm, khả năng tư duy sáng tạo, năng lực lãnh đạo, chỉ huy giỏi; trình độ, kiến thức chuyên môn ngày càng cao; có uy tín trong tập thể; sức khỏe và độ tuổi phù hợp, luôn gần gũi, sâu sát với bộ đội, làm nòng cốt trong xây dựng tổ chức Đảng TSVM, đơn vị VMTD, đảm bảo cho quân đội không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Việt Nam khẳng định cam kết quyết tâm bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

                Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) Liên hợp quốc (LHQ) vừa chính thức thông qua Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV. Nhân dịp này, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đỗ Hùng Việt đã trả lời phỏng vấn về kết quả Phiên họp thông qua Báo cáo UPR chu kỳ IV của Việt Nam.

Phóng viên (PV): Thưa Thứ trưởng, HĐNQ LHQ đã thông qua Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo cơ chế UPR chu kỳ IV ngày 27-9 tại Geneve, Thụy Sĩ. Xin Thứ trưởng chia sẻ thêm về kết quả này?

Thứ trưởng Đỗ Hùng Việt: Đây là kết quả của một quá trình dài chuẩn bị của Chính phủ Việt Nam. Ngay sau Phiên đối thoại vào tháng 5 vừa qua, Bộ Ngoại giao đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan tích cực tiến hành rà soát kỹ lưỡng tất cả 320 khuyến nghị đã nhận được từ 133 nước, báo cáo Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Tại Phiên họp ngày 27-9, Việt Nam đã thông báo quyết định chấp thuận 271 trên tổng số 320 khuyến nghị các nước đưa ra, đạt tỷ lệ 84,7%. Đây là tỷ lệ chấp thuận cao nhất của ta trong 4 chu kỳ. Điều này thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam đối với tiến trình UPR, cũng như khẳng định mong muốn và quyết tâm của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

Có khoảng 90 nước, các tổ chức quốc tế và một số tổ chức phi chính phủ tham dự Phiên họp. Có thể nói tuyệt đại đa số các ý kiến phát biểu đều đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam, sự tham gia của đoàn Việt Nam trong trao đổi, đối thoại cởi mở, thẳng thắn, có nhiều thông tin hữu ích, giúp cộng đồng quốc tế hiểu hơn về tình hình Việt Nam.

Nhân dịp này, chúng ta cũng đã cập nhật thông tin về các tiến triển mới kể từ Phiên đối thoại tháng 5 vừa qua trên các lĩnh vực như xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật, tiếp tục bảo đảm các nền tảng cơ bản về phát triển kinh tế - xã hội để bảo đảm tốt hơn quyền con người ở Việt Nam.

Đồng thời, đoàn Việt Nam cũng đã kịp thời có những ý kiến phản bác những luận điệu sai lệch, sử dụng những thông tin chưa được kiểm chứng thể hiện định kiến về Việt Nam trong phát biểu của một số ít tổ chức phi chính phủ tại Phiên họp. Chúng ta khẳng định luôn tạo môi trường thuận lợi cho người dân tham gia đóng góp xây dựng chính sách pháp luật; khẳng định việc thực hiện các quyền con người cũng cần dựa trên thượng tôn pháp luật, tôn trọng quyền và lợi ích của cá nhân, cộng đồng, vì sự ổn định và thịnh vượng của cả đất nước; nhấn mạnh quyết tâm không khoan nhượng trước những hành động lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để kích động, gây bất ổn.

PV: Xin Trưởng đoàn chia sẻ thêm về những nội dung đáng chú ý nhất trong phát biểu của các nước tại Phiên thông qua?

Thứ trưởng Đỗ Hùng Việt: Điều đặc biệt xúc động tại Phiên họp ngày 27-9 là việc các nước, các bạn bè quốc tế đã tranh thủ sử dụng thời lượng ít ỏi mà Hội đồng Nhân quyền dành cho phát biểu của mình để bày tỏ tình cảm đoàn kết, chia sẻ với những đau thương, mất mát do cơn bão Yagi vừa gây ra cho nhân dân Việt Nam. Phát biểu của đại biểu bày tỏ với nỗ lực, cam kết của Chính phủ, đời sống lao động, sản xuất của người dân sẽ sớm được ổn định, hậu quả sớm được khắc phục để tiếp tục đà tăng trưởng. Đồng thời, cũng có những ý kiến đánh giá cao ý nghĩa của việc Việt Nam tiến hành các hoạt động đối thoại về UPR tại HĐNQ ở Geneva, Thụy Sĩ đúng vào năm 2024, kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ và ký kết Hiệp định Geneva về kết thúc chiến tranh và lập lại hòa bình ở Đông Dương. Một số phát biểu cũng điểm lại quá trình đấu tranh của nhân dân Việt Nam để tự quyết định vận mệnh và con đường đi tới độc lập, tự do, hạnh phúc, coi đó là nền tảng để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam.

Với mục đích chính của Phiên họp là về kết quả rà soát chu kỳ IV với Việt Nam, tất cả các nước phát biểu đều khuyến nghị HĐNQ thông qua báo cáo quốc gia chu kỳ IV của ta, cùng với lập trường với 320 khuyến nghị mà ta đã thông báo. Các nước hoan nghênh việc ta chấp thuận số lượng lớn các khuyến nghị, thể hiện cam kết mạnh mẽ với tiến trình UPR nói riêng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người nói chung. Các nước cũng có những đánh giá tích cực về nỗ lực, thành tựu của ta trên một số khía cạnh như thúc đẩy phát triển bền vững để bảo đảm tốt hơn quyền con người, có cách tiếp cận giảm nghèo đa chiều, quan tâm đến thúc đẩy bình đẳng giới và bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương… Đồng thời, một số nước đánh giá ta có những kinh nghiệm tốt về tham gia hiệu quả UPR và đề nghị ta tiếp tục chia sẻ cùng các nước.

Tôi cho rằng các ý kiến đánh giá toàn diện, khách quan, và cũng rất sát với thực tế ở Việt Nam cho thấy các đối tác quốc tế có sự quan tâm tích cực, hiểu biết sâu sắc với thông tin được cập nhật đất nước, con người, lịch sử, văn hóa và quá trình phát triển ở Việt Nam, cũng như thể hiện vị thế, uy tín quốc tế của chúng ta tại các diễn đàn đa phương. Đây là điểm chúng ta cần tiếp tục bồi đắp, phát huy trong thời gian tới.

PV: Xin Thứ trưởng chia sẻ thêm về các bước tiếp theo của Việt Nam nhằm thực hiện 271 khuyến nghị Việt Nam đã tuyên bố chấp thuận trong chu kỳ IV?

Thứ trưởng Đỗ Hùng Việt: Chúng ta đã có kinh nghiệm triển khai thực hiện các khuyến nghị UPR tại ba chu kỳ trước đây. Tại chu kỳ IV này, Bộ Ngoại giao sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành để xây dựng và báo cáo Thủ tướng Chính phủ thông qua một Kế hoạch tổng thể nhằm triển khai thực hiện 271 khuyến nghị đã chấp thuận. Kế hoạch tổng thể này sẽ phân công cụ thể trách nhiệm, nhiệm vụ cho từng Bộ, ngành, cơ quan thực hiện các khuyến nghị, cũng như đề xuất cơ chế theo dõi, đánh giá việc thực hiện đó. Ta cũng có kế hoạch tiến hành kiểm điểm giữa kỳ để xác định tiến độ thực hiện và những lĩnh vực cần đẩy mạnh nỗ lực hơn nữa.

Trong quá trình này, Việt Nam sẽ tiếp tục hợp tác với LHQ, các đối tác quốc tế, các nước bạn bè để có thêm các nguồn lực giúp chúng ta có thể thực hiện tốt nhất các khuyến nghị này.

“Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”

 Giữa lúc công cuộc kháng chiến, kiến quốc của dân tộc ta ở vào thời điểm vô cùng cam go, quyết liệt, đòi hỏi phải huy động sức mạnh của cả dân tộc; nhận thức sâu sắc và đánh giá cao vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Dân vận”. Đây là “cẩm nang”, kịp thời chỉ dẫn một cách đầy đủ và sâu sắc cả về mục đích, đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp, tính hiệu quả... của công tác dân vận đối với cán bộ, đảng viên; tổ chức đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể.

Thấu triệt tư tưởng chỉ đạo của Bác, các cương lĩnh, văn kiện, nghị quyết của Đảng, Nhà nước ta luôn xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, vì nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân, từ đó luôn chủ trương phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, để xây dựng khối đại đoàn kết và không ngừng phát huy sức mạnh của cả dân tộc.

Ngành Dân vận và đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận (CTDV) đã luôn chủ động tham mưu cho Đảng và Nhà nước những chủ trương, chính sách lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt CTDV, xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc. Cán bộ làm CTDV luôn tích cực học tập, nghiên cứu nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; phong tục, tập quán của từng địa phương, từng dân tộc; âm mưu, thủ đoạn chống phá của địch, để tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân thông suốt, hiểu được quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyết tâm cùng toàn Đảng, toàn quân vượt mọi khó khăn, thử thách trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hy sinh; luôn được dân mến, dân tin, dân giúp đỡ. Cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn tích cực hưởng ứng và làm tốt CTDV, tham gia xóa đói, giảm nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới. Các phong trào, mô hình: “Cảnh sát biển đồng hành cùng ngư dân”, “Tết quân dân”, “Xuân biên cương, Tết hải đảo”, “Tết Biên phòng, ấm lòng dân bản”… đã và đang được triển khai quyết liệt với tình cảm, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ toàn quân, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.


“Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”

 Sau khi dựng lên sự kiện vịnh Bắc Bộ (năm 1964), từ năm 1965, đế quốc Mỹ sử dụng không quân, hải quân mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Miền Bắc từ thời bình chuyển sang thời chiến, nhằm đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ và làm tròn vai trò, nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Giữa muôn vàn khó khăn, dù tuổi đã cao, sức đã yếu nhiều, nhưng Người vẫn luôn dành cho ngành giáo dục nước nhà sự quan tâm ân cần, đặc biệt, với bao tâm huyết, kỳ vọng để chuẩn bị tốt nhất nguồn nhân lực cao cho công cuộc kiến thiết đất nước.

Thực hiện lời dạy của Bác, đội ngũ nhà giáo, cán bộ, người lao động, học sinh, sinh viên, học viên ngành giáo dục không ngừng nỗ lực, vượt qua mọi khó khăn, thử thách; mỗi nhà giáo luôn là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo, chung sức, chung lòng xây dựng nền giáo dục nước nhà, đào tạo cho đất nước nguồn nhân lực chất lượng ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu công cuộc kháng chiến, thống nhất đất nước, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Lớp lớp các thế hệ học sinh, sinh viên, học viên… luôn tâm niệm sâu sắc lời Bác dạy năm xưa, đoàn kết, thi đua “Học, học nữa, học mãi”, “Học để lập thân, lập nghiệp”… vươn lên giành nhiều thành tích cao trong học tập, rèn luyện. Hằng năm, các đội tuyển học sinh Việt Nam tham dự các kỳ thi cấp châu lục và thế giới đều đạt giải cao, góp phần nâng cao uy tín, vị thế nước nhà trên trường quốc tế, thiết thực góp phần chuẩn bị tốt để đất nước hội nhập, phát triển trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Các học viện, nhà trường, giáo viên, học viên trong quân đội luôn chủ động khắc phục khó khăn, gian khổ, thi đua “Dạy tốt, học tốt, phục vụ tốt”, đào tạo kịp thời, có chất lượng hàng chục vạn cán bộ có chất lượng tốt cung cấp cho các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, đáp ứng kịp thời trong điều kiện chiến tranh cũng như giai đoạn hiện nay. Đối với các cơ quan, đơn vị, học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, đã cụ thể hóa thành các phong trào thi đua: “Huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, sẵn sàng chiến đấu cao”, “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”… góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.

“Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”

 Cách mạng Tháng Tám thành công dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Đất nước ta, dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, đã xuất hiện một bộ phận nhỏ cán bộ có tư tưởng công thần, hách dịch, vun vén lợi ích cá nhân, thiếu sâu sát, quan tâm đến đời sống của quần chúng nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm phát hiện và Người viết bài đấu tranh, lên án gay gắt; đồng thời nghiêm khắc chấn chỉnh.

Suốt cuộc đời, Hồ Chí Minh luôn mưu cầu cuộc sống tốt đẹp cho mỗi người, quyền có cuộc sống ấm no, được học hành, được chăm sóc sức khỏe, trẻ em được nuôi dưỡng, chăm sóc, người già, người nghèo, người tàn tật được giúp đỡ. Các quyền con người về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội được chú trọng và hoàn thiện. Ở Bác, quyền dân tộc và quyền con người là thống nhất trong cả nhận thức và hành động, trong quan điểm, đường lối, chính sách và pháp luật mà Người mong muốn thực hiện. Không có độc lập chân chính, bền vững thì không thể thực hiện được quyền con người và thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản, thiết thực của con người.

Quán triệt tư tưởng của Người, những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, quan tâm chăm lo nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; chú trọng phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Những nhiệm vụ trọng tâm đó là sự thống nhất giữa quyền và lợi ích dân tộc với quyền, lợi ích và nghĩa vụ của con người, của công dân, như tâm nguyện của Bác kính yêu.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong quân đội luôn tập trung lãnh đạo, chỉ huy đơn vị hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng tổ chức đảng TSVM, đơn vị VMTD. Thường xuyên quan tâm, chăm lo bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội; coi đây là trách nhiệm, là tình cảm với bộ đội; hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, tôn trọng và thương yêu cấp dưới, để bộ đội yên tâm công tác, xác định tốt nhiệm vụ, thật sự làm cho cấp dưới kính trọng, tin tưởng, học tập và noi theo, góp phần giữ gìn và phát huy phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG THỐNG IRELAND VÀ PHU NHÂN CHỦ TRÌ LỄ ĐÓN TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÔ LÂM!

         Trưa ngày 2/10 giờ địa phương, Tổng thống Ireland Michael D. Higgins và Phu nhân chủ trì lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới thăm cấp Nhà nước Ireland!

Lễ đón được tổ chức trọng thể tại Phủ Tổng thống Ireland. Tổng thống Ireland Michael D. Higgins và Phu nhân ra tận nơi đỗ xe đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; đông đảo các thiếu nhi Ireland cầm trên tay quốc kỳ hai nước vẫy chào.

Cục trưởng Cục Lễ tân Ireland trân trọng mời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vào vị trí danh dự. Sau đó, Quân nhạc cử Quốc thiều Việt Nam và Quốc thiều Ireland./.





Khuyết danh ST.

“Làm sao cho được 50 người hiểu rõ, còn hơn là được 500 người hiểu lờ mờ”

 Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyên truyền cách mạng là một hoạt động thống nhất trên ba mặt. Một là, nhận thức đúng đắn về mục đích, vai trò của tuyên truyền. Hai là, phương pháp tuyên truyền. Ba là, những yêu cầu đối với người làm công tác tuyên truyền. Cả ba mặt trên luôn phải thống nhất, liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, nhận thức mục đích đóng vai trò chủ đạo, chi phối trực tiếp đến mọi phương pháp hoạt động tuyên truyền. Những lời khuyên và chỉ bảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như phong cách nói và viết của Người đã vượt qua giới hạn của kỹ năng sử dụng ngôn ngữ đơn thuần, trở thành một nghệ thuật giàu khả năng chinh phục, thấm sâu vào lòng người đọc, người nghe để đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền học tập và làm theo.

Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, ý nghĩa quan trọng của công tác tuyên truyền đối với toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng, thông qua công tác tuyên truyền đã góp phần làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ngày càng thấm sâu vào đời sống xã hội. Đồng thời, đây cũng là một vũ khí sắc bén đấu tranh chống lại các quan điểm thù địch, sai trái, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; góp phần quan trọng giáo dục, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đoàn kết một lòng, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng.

Công tác tuyên truyền trong quân đội luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư các nguồn lực để tiến hành ở tất cả các cơ quan, đơn vị trong toàn quân. Bám sát sự phát triển của tình hình thế giới, khu vực, trong nước, nhất là những sự kiện chính trị thời sự nổi bật, được đông đảo dư luận trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm để tiến hành tuyên truyền. Nội dung tuyên truyền được biên tập công phu, chặt chẽ, phản ánh tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, khoa học công nghệ và môi trường… Các nội dung được luận giải, thuyết phục bằng những cơ sở lý luận, thực tiễn sát đúng, có tính chiến đấu cao, dự báo và định hướng tư tưởng rõ ràng. Phương pháp truyền tải đã có nhiều đổi mới, kết hợp sử dụng các thiết bị, phương tiện hiện đại và tăng cường đối thoại, giao lưu trực tiếp với người tiếp nhận thông tin. Vì vậy đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

“... đối với những người mắc sai lầm thì phải phê bình, kiểm thảo giúp họ sửa chữa”

 Lời Bác căn dặn năm xưa đến nay vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn đối với việc thực hiện công tác thi đua, khen thưởng và kỷ luật đối với mọi cấp, mọi ngành và mọi người. Bởi nếu làm tốt công tác thi đua, khen thưởng là trực tiếp giáo dục, cổ vũ, động viên, khích lệ các tập thể, cá nhân phát huy tính tích cực, chủ động, năng lực sáng tạo, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu đã đề ra, tạo sức lan tỏa sâu rộng trở thành phong trào hành động cách mạng, thiết thực xây dựng cơ quan, đơn vị VMTD.

Kỷ luật nghiêm minh, đúng mức, khách quan, công khai, công bằng, đúng người, đúng tội là công việc quan trọng và cần thiết nhằm giữ vững kỷ cương, kỷ luật của mỗi tổ chức, bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động, tăng cường sức chiến đấu, đề cao tự phê bình và phê bình; là điều kiện để xây dựng, phát triển đất nước.

Kỷ luật là yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta. Chấp hành kỷ luật là một nguyên tắc trong xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, là điều kiện bảo đảm sự tập trung thống nhất cao về ý chí và hành động, vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”. Để giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống đoàn kết, kỷ luật tự giác, nghiêm minh, những năm qua, Bộ Quốc phòng và các cơ quan chức năng đã ban hành nhiều văn bản pháp quy, nhằm bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong quân đội. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp luôn làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, đẩy mạnh Phong trào Thi đua Quyết thắng, gắn với thực hiện tốt các cuộc vận động của các cấp, các ngành; đồng thời, tăng cường quản lý kỷ luật, xây dựng đơn vị có nền nếp chính quy, nên hạn chế được tình hình vi phạm kỷ luật, nhất là kỷ luật nghiêm trọng, xây dựng tổ chức đảng TSVM, đơn vị VMTD, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

“... thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh”

 


“Tôn sư trọng đạo” là truyền thống quý báu, là bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta, được vun đắp qua nhiều thế hệ, góp phần tạo nên nền văn hiến Việt Nam với bề dày hàng nghìn năm lịch sử. Từ xưa đến nay, nghề giáo luôn được xã hội tôn vinh là nghề cao quý; cha ông ta từng nói: “Không thầy đố mày làm nên”. Bác Hồ cũng đã dạy: “Nhiệm vụ giáo dục là rất quan trọng và vẻ vang, nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục… không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế-văn hóa”; “Thầy cô giáo tốt là những anh hùng vô danh”; cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng nhấn mạnh: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý”.

Nghị quyết của Đảng qua các kỳ đại hội luôn coi giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội; đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế” đã chỉ rõ: “Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo”.

Quán triệt các quan điểm chỉ đạo về phát triển giáo dục, đào tạo, xây dựng đội ngũ giáo viên của Đảng và Nhà nước, công tác giáo dục-đào tạo trong Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, xây dựng đội ngũ giáo viên các học viện, nhà trường quân đội nói riêng đã có sự trưởng thành và lớn mạnh, hòa nhập với tiến trình đổi mới chung của nền giáo dục quốc dân, ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Các thế hệ nhà giáo quân đội đã không ngừng nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần đào tạo hàng chục vạn cán bộ, hạ sĩ quan có chất lượng tốt, đáp ứng kịp thời nhu cầu của chiến trường trong những năm tháng kháng chiến giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế cao cả; là lực lượng nòng cốt trong xây dựng đơn vị VMTD, có chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng SSCĐ ngày càng cao. Nhiều tấm gương nhà giáo tận tụy, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục, đào tạo, vì học viên thân yêu là những biểu tượng cao đẹp để các thế hệ giáo viên, học viên mãi mãi học tập, noi theo, xứng đáng với sự đánh giá, ghi nhận của Bác Hồ kính yêu.