Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2024

Phương pháp luận Hồ Chí Minh với phát triển bền vững đất nước

Hồ Chí Minh không chỉ để lại cho Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam di sản về tư tưởng, đạo đức, phong cách mà có cả một hệ thống phương pháp luận cách mạng đặc sắc. Hệ thống phương pháp luận Hồ Chí Minh có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với công cuộc đổi mới và phát triển bền vững đất nước trong giai đoạn hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phòng làm việc của Người ở căn cứ Việt Bắc. (Ảnh: Tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phòng làm việc của Người ở căn cứ Việt Bắc. (Ảnh: Tư liệu)

Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng lớn, tiêu biểu nhất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Từ người Việt Nam yêu nước chân chính trở thành chiến sĩ cộng sản quốc tế vĩ đại, Hồ Chí Minh là người đầu tiên thấy được vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản Việt Nam, đem ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin soi đường cho cách mạng Việt Nam. Nhờ nắm vững những đặc điểm và quy luật của thời đại, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, nên đóng góp lớn nhất của Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam và sự phát triển của cách mạng thế giới là đã tìm và xác định được một con đường cách mạng, một hướng đi và tiếp theo đó là một phương pháp để thức tỉnh hàng triệu triệu con người bị áp bức trong các nước thuộc địa và lạc hậu những năm đầu thế kỷ XX.

Đường lối quyết định phương pháp, đồng thời, phương pháp trở thành một trong những yếu tố đảm bảo cho đường lối thành công. Vì vậy, phương pháp luận Hồ Chí Minh là phương pháp luận cách mạng. Nguồn gốc chủ yếu của phương pháp luận đó là từ chủ nghĩa Mác - Lênin, “được Hồ Chí Minh tiếp thu, đã có sự bổ sung, phát triển mang những đặc trưng mới, độc đáo của Hồ Chí Minh trên cơ sở kết hợp những nguyên tắc phương pháp luận Mác-Lênin với những nhân tố duy vật biện chứng của triết học phương Đông, của tư duy truyền thống Việt Nam và rút ra từ cuộc đời hoạt động phong phú, đầy biến cố và những kinh nghiệm ứng nhân xử thế của Người”, nhằm giải quyết những vấn đề do thực tiễn Việt Nam, thế giới lúc bấy giờ đặt ra cho chính Người và cho cách mạng Việt Nam. Có thể khẳng định, những thành tựu mà Đảng và dân tộc Việt Nam đạt được trong thời gian qua còn gắn liền với phương pháp luận Hồ Chí Minh. Đó là chỉnh thể của sự thống nhất giữa tư tưởng với phương pháp và đạo đức, phong cách; giữa nhận thức và hành động của Người. Do đó, để tiếp tục có những bước chuyển đột phá trong công cuộc đổi mới, phát triển bền vững đất nước hiện nay thì việc trở lại nghiên cứu phương pháp luận Hồ Chí Minh và vận dụng vào thực tiễn để giải quyết những vấn đề đặt ra trong tiến trình cách mạng Việt Nam là sự lựa chọn có ý nghĩa sâu sắc.

NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN HỒ CHÍ MINH

Một là, từ yêu cầu thực tiễn của Tổ quốc, của dân tộc Việt Nam về độc lập, tự do và ấm no, hạnh phúc mà hành động cách mạng. Trong bối cảnh nước mất nhà tan, nhân dân chịu cảnh lầm than, nô lệ, Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh ra đi và tranh đấu, lấy mục tiêu độc lập của dân tộc, tự do của nhân dân, hạnh phúc của đồng bào làm chuẩn mực hành vi, thước đo của hoạt động, tiêu chuẩn của chân lý. Cũng từ mục tiêu cao cả và nhất quán đó, Người đã xử lý, giải quyết vô cùng khéo léo, hài hoà nhiều mối quan hệ. Tiêu biểu là các mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa dân tộc và quốc tế, giữa nội lực và ngoại lực, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa nhân vǎn.                

Hai là, kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn, thống nhất hữu cơ giữa lý luận và thực tiễn. Hồ Chí Minh tiếp cận với nhiều hệ tư tưởng, nhiều học thuyết và rút ra những giá trị tốt đẹp, tích cực, tiến bộ, chân chính của mỗi hệ tư tưởng, mỗi học thuyết. Theo Người, học chủ nghĩa Mác - Lênin cốt nắm lấy tinh thần, bản chất và phương pháp để xử lý, giải quyết một cách độc lập, tự chủ, sáng tạo mọi quan hệ với con người và công việc. 

Ba là, nhạy bén nắm bắt, thấu hiểu, tôn trọng quy luật khách quan để hành động phù hợp, đúng đắn và đi đến thành công. Hồ Chí Minh luôn quan tâm và coi trọng quy luật vận động khách quan của mọi việc, từ sự phát triển của thế giới, trong nước đến nhiều lĩnh vực. Người yêu cầu phải nắm vững quy luật phát triển của cách mạng, phải tính toán cẩn thận những điều kiện cụ thể, những biện pháp cụ thể, kế hoạch phải chắc chắn, chớ đem chủ quan của mình thay cho điều kiện thực tế…

Bốn là, giữ vững nguyên tắc chiến lược kết hợp với mềm dẻo trong sách lược, linh hoạt về phương pháp.Hồ Chí Minh sáng tạo và thực hành đầy bản lĩnh phương pháp cách mạng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Chiến lược một khi đã được xác định đúng còn phải có sách lược mềm dẻo, sát hợp. Người chủ trương phải thực hành tốt một số vấn đề: Khoa học kết hợp với nghệ thuật trong việc tạo thời cơ, chớp lấy thời cơ; “Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ, kiên quyết không ngừng thế tiến công”; “Biến đại sự thành tiểu sự, biến tiểu sự thành vô sự”; “Thế và lực trong cách mạng và trong phát triển là ở Đại Đoàn kết”,…

Năm là, nhân dân là lực lượng quý nhất, mạnh nhất, phải luôn dựa vào dân, phục vụ nhân dân.Theo Hồ Chí Minh, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, đấu tranh giành, bảo vệ độc lập tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội đều do nhân dân thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng. Do đó, tất cả mọi nhận thức và hành động phải xuất phát từ dân, từ ý chí, nguyện vọng của dân, vì lợi ích của dân. Trong diễn đạt, nói và viết sao cho giản dị, rõ ràng, chính xác cốt để quần chúng hiểu ngay, hiểu đúng và làm được, làm tốt, làm mau.

Sáu là, cán bộ là gốc, quyết định sự thành bại của mọi công việc,phải dùng cán bộ đúng và khéo. Để cán bộ thực sự là gốc của mọi công việc thì phải đào tạo, huấn luyện cán bộ sao cho đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn cán bộ trong từng thời kỳ, giai đoạn cách mạng. Phải ra sức rèn luyện cán bộ trong đấu tranh, cán bộ phải hết lòng vì dân, vì nước, diệt trừ chủ nghĩa cá nhân, trau dồi đạo đức cách mạng… Phải phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài qua thực tiễn và qua sự tín nhiệm của quần chúng, nhân dân.

Bảy là, quan điểm về phát triển, đổi mới và hướng về cái mới. Hồ Chí Minh có quan niệm đổi mới từ rất sớm, từ khi Đảng chưa ra đời. Hành động sang phương Tây tìm đường cứu nước của Người là bước đánh dấu đầu tiên cho sự đổi mới không chỉ nhận thức mà cả hành động; từ tư duy đến lý luận và thực tiễn. Đổi mới thực sự từ hành động, bằng hành động, thực hiện được các mục tiêu, mục đích: chống giặc ngoại xâm, đánh bại giặc nội xâm, giành lấy hệ giá trị: Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Đổi mới gắn liền với phát triển, từ độc lập dân tộc tới chủ nghĩa xã hội, một xã hội giàu mạnh, văn minh, hiện đại và gắn liền với hệ giá trị Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

VẬN DỤNG TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẤT NƯỚC

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đã trải qua gần 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó có 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển) năm 2011, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020. Ðại hội lần thứ XIII của Ðảng là dấu mốc quan trọng, có ý nghĩa định hướng tương lai, mang khát vọng và tầm nhìn đưa nước ta trở thành một nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ.

Trước vận hội mới, cơ đồ mới của đất nước và dân tộc, càng thấm nhuần sâu sắc những di huấn của Hồ Chí Minh về việc vận dụng một số phương pháp luận sau:

Thứ nhấtcó tư duy độc lập, sáng tạo; gắn đổi mới với phát triển bền vững đất nước. Trong Bài nói chuyện về Bản Tổng cương và Điều lệ của Đảng năm 1950, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Học chủ nghĩa Mác - Lênin không phải nhắc như con vẹt “Vô sản thế giới liên hiệp lại” mà phải thống nhất chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nói đến chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam là nói đến chủ trương, chính sách của Đảng. Ví dụ đại đoàn kết”. Vì vậy, giáo điều và câu nệ sách vở là xa lạ với bản chất độc lập sáng tạo của tư duy và tư tưởng, phương pháp luận Hồ Chí Minh. 

Nhìn lại 90 năm xây dựng và phát triển, nhờ có sự nhạy bén, sáng suốt, đổi mới tư duy, Đảng đã giành chính quyền từ tay phát-xít Nhật trong Cách mạng Tháng Tám. Nhờ có tư duy sáng suốt mà nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành thắng lợi to lớn ở Điện Biên Phủ vang dội năm châu, chấn động địa cầu. Nhờ có tư duy sáng tạo: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” mà Đảng đã hình thành chiến lược để làm nên mùa Xuân đại thắng năm 1975. Có rất nhiều những mốc son chói lọi ghi dấu ấn xuất phát từ đổi mới tư duy của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng.

Ra khỏi cuộc chiến tranh, đất nước Việt Nam bị cấm vận tứ bề, kinh tế chậm phát triển, nhân dân đói, nghèo, Đảng phải làm cuộc cách mạng Đổi mới từ năm 1986. Trước hết là đổi mới tư duy, đổi mới nhận thức, đổi mới kinh tế, vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập, Việt Nam làm bạn với tất cả các nước trên thế giới. Đổi mới lan tỏa sâu rộng, đã chắp cánh cho bao giấc mơ được hiện thực hóa, để rồi đất nước trong những thập niên sau đó đã vượt qua cái đói, cái nghèo, muôn nhà “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” như chính mong ước khát khao nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tỷ lệ giảm nghèo và tỷ lệ tầng lớp trung lưu tăng hằng năm ở nước ta 15%. Đây là một trong những cuộc vượt đói nghèo vĩ đại nhất trong lịch sử các nước. Gần 40 năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đổi mới mang tầm vóc lịch sử và ý nghĩa cách mạng to lớn, là một quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện triệt để, là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân.

Đổi mới theo Hồ Chí Minh là sự biến đổi theo chiều hướng tích cực. Đó chính là sự thay thế cái cũ, lạc hậu, lỗi thời, thậm chí phản động, cản trở sự phát triển bằng cái mới tiến bộ, lành mạnh, phục vụ cho sự phát triển chứ không phải cái mới bất kỳ. Người chỉ rõ: “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ. Thí dụ: Ta phải bỏ hết tính lười biếng, tham lam. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Thí dụ: Đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi. Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm. Thí dụ: Ta phải tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân hơn khi trước. Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm. Thí dụ: Ăn ở cho hợp vệ sinh, làm việc cho có ngăn nắp. Làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn. Đó là mục đích của đời sống mới”. Vì vậy, suy ngẫm di cảo của Hồ Chí Minh, chúng ta không những nhận thức được tư duy biện chứng của Người về đổi mới, mà còn có quan điểm về phát triển, đó là sự phát triển hài hòa, phát triển bền vững, nghĩa là phát triển kinh tế đồng thời với phát triển văn hóa, chính trị, xã hội. Người đã có một sự khái quát vấn đề này đạt đến tầm triết lý mang ý nghĩa phương pháp luận như sau: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề cùng phải chú ý đến, cùng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa”. Như vậy, quan niệm đúng về phát triển và phát triển bền vững cho thấy rõ vai trò to lớn của văn hóa đối với phát triển vì sự tiến bộ của con người và xã hội.

Hệ thống quan điểm của Đảng về lãnh đạo sự nghiệp phát triển nền văn hóa Việt Nam ngày càng hoàn thiện. Xây dựng và phát triển văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành Văn hóa mà là của tất cả các cấp, các ngành và của toàn xã hội. Văn kiện Đại hội đã XII nhấn mạnh: Các cấp, các ngành phải nhận thức đầy đủ và thực hiện có kết quả mục tiêu: xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Trong hội nhập văn hóa, phải tìm hiểu yếu tố nào là truyền thống, cốt lõi của văn hóa Việt Nam, trên cơ sở đó xây dựng cốt cách của mình, đồng thời, tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm cho văn hóa dân tộc. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, bảo đảm vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại”; “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường... tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc; khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Qua đó, cho thấy mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế, chính trị và văn hóa ngày càng chiếm vị trí đặc biệt trong đường lối xây dựng và phát triển đất nước, thể hiện tầm nhìn sáng suốt của Đảng về quá trình phát triển bền vững đất nước. Đây cũng chính là sự trở lại với tư tưởng, phương pháp luận Hồ Chí Minh.

Thứ hai, lý luận gắn với thực tiễn, nói đi đôi với làm. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc căn bản trong học thuyết của Mác - Lênin đã được Hồ Chí Minh tiếp thu, học tập và vận dụng sáng tạo trong quá trình nhận thức cũng như trong thực tiễn hoạt động, hành động cách mạng của Người. 

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn luôn gắn lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tinh hoa văn hóa nhân loại vào hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam, coi đó là “kim chỉ nam” dẫn đường, chỉ lối cho cách mạng Việt Nam tiến lên. Cũng chính thực tiễn cách mạng Việt Nam giúp Người bổ sung và hoàn chỉnh lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin không phải trên cơ sở kinh nghiệm chủ nghĩa giáo điều sách vở mà là trên cơ sở của sự thống nhất nhuần nhuyễn giữa lý luận cách mạng và hoạt động thực tiễn cách mạng.

Công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề mới, khó khăn, thách thức, mà không phải mọi vấn đề lý luận và thực tiễn đều đã được lý giải một cách đầy đủ. Vì thế, không chỉ gắn lý luận và thực tiễn trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, mà nguyên tắc này cần được quán triệt trong nhận thức, hành động của Đảng và nhân dân trên tất cả mọi lĩnh vực của cuộc sống. Thấm nhuần nguyên tắc này sẽ giúp cho Đảng và nhân dân tránh vấp phải những sai lầm như trước đổi mới, đồng thời, giải quyết tốt những yêu cầu mà công cuộc đổi mới đặt ra hiện nay nhằm thực hiện thắng lợi những đường lối mang tính đột phá của Đảng trong điều kiện mới.

Đối với Hồ Chí Minh, nói đi đôi với làm là thể hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tư tưởng và hành động, nhận thức và việc làm. Đây không chỉ là  phương pháp luận mà trở thành lẽ sống, nguyên tắc xây dựng đạo đức cách mạng theo tư tưởng của Người. Điều này cũng đúng với tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin, mọi vấn đề không chỉ dừng lại ở việc nhận thức mà còn cải tạo thế giới. Đối với mỗi người, để thực hiện được việc thống nhất giữa lời nói với việc làm, phải có nhận thức đúng và quyết tâm vượt qua chính mình. Có nhận thức đúng nhưng không vượt qua được sự cám dỗ của lợi ích cá nhân sẽ dẫn đến nói không đi đôi với làm. Để nói đi đôi với làm, còn cần có sự cố gắng, bền bĩ, dẻo dai, có kế hoạch và quyết tâm, bởi bất kỳ công việc nào, nhiệm vụ gì, dù lớn hay nhỏ, khó hay dễ, phức tạp hay giản đơn, nhưng nếu không ra sức phấn đấu thì cũng không thể thành công được. Nói đi đôi với làm thể hiện bằng kết quả công việc, với những sản phẩm cụ thể. Kết quả công việc là thước đo sự cống hiến của mỗi người. Với các cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo thì lời nói đi đôi với việc làm lại càng quan trọng và cần thiết, vì cán bộ là gốc của mọi công việc, là những tấm gương để quần chúng noi theo. Nói đi đôi với làm còn là biểu hiện của sự gương mẫu, trung thực, trong sáng của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nêu gương trước nhân dân. Bởi “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.

Nói đi đôi với làm ở mỗi cán bộ đảng viên và nhân dân thể hiện qua việc cần phải lấy lợi ích quốc gia dân tộc là lợi ích tối thượng, trong đó lợi ích của nhân dân, của tập thể không tách rời với lợi ích quốc gia dân tộc. Đó cũng là mẫu số chung, là nguyên tắc của đại đoàn kết theo quan điểm Hồ Chí Minh. Người là biểu tượng, là linh hồn của khối đại đoàn kết ấy. Người nêu cao sức mạnh đoàn kết bằng chính việc làm, hành vi và hành động của mình, chứ không chỉ là đưa ra định nghĩa và dừng lại ở lời giải thích về đại đoàn kết. Thấu hiểu rằng, có dân chủ thực chất thì mới có đại đoàn kết thật sự, trong suốt quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xác lập và hiện thực hóa hệ thống quan điểm về dân chủ trong tổ chức xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa. Hay nói cách khác, một chế độ dân chủ mới trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội đã được Người khẳng định và quán triệt trong tất cả các lĩnh vực của đời sống của xã hội. Vì vậy, để thực hiện thật hiệu quả công cuộc đổi mới và phát triển bền vững Việt Nam, Đảng và nhân dân cần tiếp tục thường xuyên quan tâm, nghiên cứu, tổng kết và vận dụng, phát triển sáng tạo những quan điểm có tính phương pháp luận này của Người vào thực tiễn cuộc sống.

Thứ ba, bất biến gắn liền với khả biến. Với phương pháp “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin ở một nước thuộc địa. Trên cơ sở của phương pháp biện chứng duy vật mácxít, Hồ Chí Minh đã làm cho hệ thống phương pháp cách mạng nói chung, phương pháp “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Người nói riêng không chỉ mang tính cách mạng khoa học mà còn mang tính nghệ thuật rất cao. Phương pháp “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” Hồ Chí Minh góp phần đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những khó khăn, thử thách để làm nên những thắng lợi trong cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.

Những thành tựu của công cuộc đổi mới mà Đảng và nhân dân Việt Nam đạt được đã khẳng định sự vận dụng sáng tạo phương pháp “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” Hồ Chí Minh của Đảng trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa diễn ra mạnh mẽ. Tuy vậy, trong những năm tiếp theo để tiếp tục đạt được những thắng lợi to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đảm bảo cho sự phát triển bền vững, Đảng và Nhà nước cần quán triệt hơn nữa phương pháp “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” Hồ Chí Minh theo những nguyên tắc: biết mình, biết người, biết thời, công việc thành công; lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động; chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả. Điều này cũng góp phần bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, nhằm ngăn chặn biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm thất bại âm mưu “chiến thắng không cần chiến tranh” của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. 

Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng yêu cầu: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Hồ Chí Minh chỉ rõ “xây” phải đi đôi với “chống”, trong đó “xây” là chính. Vì vậy, không chỉ học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mà còn cả phương pháp luận của Người chính là một trong những giải pháp hữu hiệu cho việc thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW ngày 18/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, đảm bảo tính bất biến trước muôn vàn khả biến trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay. Thực hiện đúng những nguyên tắc trên là cơ sở, là nền tảng để sự nghiệp đổi mới của nước ta đạt đến mục tiêu mang lại hạnh phúc thật sự cho nhân dân.

Thứ tư, lấy hạnh phúc của nhân dân là mục đích tối thượng gắn liền với lợi ích quốc gia dân tộc trong xu thế hội nhập quốc tế. Quan điểm cơ bản nhất của phương pháp luận Hồ Chí Minh chính là câu nói đanh thép của Người trong cuốn sách Đường Cách mệnh (1927): Cách mệnh! Cách mệnh! Cách mệnh! Hiểu rộng ra, đó là cuộc đấu tranh kiên cường và bền bỉ nhằm xóa chế dộ áp bức, bóc lột, thiết lập chế độ không có áp bức, bóc lột. Con người, nhân dân, các dân tộc làm chủ vận mệnh của mình, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu, đem lại ánh sáng, tự do và hạnh phúc của con người.

Quan điểm dân sinh và triết lý nhân sinh trong chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đã trở thành quan điểm, triết lý cho phương pháp luận cách mạng Hồ Chí Minh. Tất cả vì cuộc sống ngày một cao đẹp cho mỗi con người và cho cả cộng đồng xã hội. Theo Hồ Chí Minh, con người không thể mưu cầu hạnh phúc nếu chỉ biết trông đợi sự ban phát, hay sự hỗ trợ từ bên ngoài mà phải bắt tay hành động để tự mình giành lấy hạnh phúc cho chính mình và cho mọi người. Chỉ có cải tạo xã hội và thực hiện tiến bộ xã hội con người mới hoàn thiện được chính bản thân mình, thực hiện được ước mơ, mục đích và lý tưởng của mình. Trong suốt cuộc đời đấu tranh của mình, Hồ Chí Minh đã tiến hành đấu tranh không mệt mỏi, cống hiến không tiếc sức mình cho độc lập dân tộc, cho tự do và hạnh phúc của nhân dân. Ngay cả khi từ biệt thế giới này để đến với thế giới người hiền, Hồ Chí Minh vẫn lấy làm tiếc vì không còn được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Suốt cuộc đời phục vụ, mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân nhưng với bản thân Người, Người không hề đòi hỏi bất cứ điều gì cho riêng mình. 

Một điểm đặc sắc trong tư duy phát triển bền vững của Hồ Chí Minh còn là khởi đầu và kết thúc mọi vấn đề đều từ con người và gắn con người với mối quan hệ đầu tiên là gia đình. Ngay từ tháng 1/1959, trong bài nói chuyện tại Hội nghị thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm khẳng định: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý đến hạt nhân cho tốt”. Trong vấn đề gia đình, Người đặc biệt quan tâm xây dựng văn hóa gia đình, xem văn hóa gia đình là một trong những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển bền vững của gia đình và xã hội Việt Nam, vì theo Người đó là cội nguồn của hạnh phúc con người. 

Hiện nay, sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, trên nền tảng lý luận về gia đình của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam càng nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của gia đình với tư cách là “tế bào” vững chắc của xã hội, là môi trường lành mạnh để xây dựng nguồn lực con người; coi văn hóa gia đình và xây dựng gia đình văn hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết. Vị trí, vai trò của gia đình, nhất là văn hóa ngày càng được khẳng định và các gia đình Việt Nam ngày càng “khỏe mạnh” hơn để giữ vững vai trò là nền tảng xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo đà cho Việt Nam “cất cánh” nhanh và bền vững. 

Chính vì vậy, một trong những điểm mới của văn kiện Đại hội XIII  là quán triệt tinh thần đổi mới sáng tạo, khơi dậy giá trị con người Việt Nam, tranh thủ cách mạng công nghiệp lần thứ 4, vì một “Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc”. Yếu tố “hạnh phúc” là một điểm nhấn trong các văn kiện lần này. Điều này đã trở lại đúng tinh thần phương pháp luận cách mạng, nhân văn Hồ Chí Minh./.

ST.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh vào sự phát triển đất nước trong giai đoạn cách mạng mới

Cuộc đời 79 mùa xuân của Người là biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Người là kết tinh rạng ngời của tư tưởng đạo đức, trí tuệ, khí phách, lương tri của dân tộc và thời đại. Do vậy, cần quán triệt tư tưởng của Người vào sự phát triển của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

Bác Hồ nói chuyện với công nhân ngành đường sắt (Ảnh tư liệu)

Bác Hồ nói chuyện với công nhân ngành đường sắt (Ảnh tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác xây dựng Đảng, để Đảng ta thật sự là một Đảng cách mạng chân chính, là đạo đức, là văn minh.

Trong những năm qua, thực hiện Di chúc của Bác: “Trước hết nói về Đảng”, phải thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, Đảng có thực sự vững mạnh thì mới tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp cách mạng thành công trong giai đoạn mới, Đảng ta đã triển khai Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và đang đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Đây là việc làm vừa cơ bản, cấp bách vừa thường xuyên, lâu dài, kếp hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, lấy “chống” làm nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, đột phá trên nguyên tắc giữ vững sự ổn định chính trị để phát triển đất nước vừa đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng vừa tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, nhất là cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, bảo đảm quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; có chế tài xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm; ngăn chặn, đấu tranh, xử lý triệt để, đúng pháp luật các vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm, tư tưởng cục bộ, bè phái, chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy dự án, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng… Vừa tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng, vừa phát huy cao độ vai trò giám sát, phản biện của các tổ chức chính trị-xã hội, của nhân dân ngay từ khi xây dựng và trong quá trình thực thi chính sách, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa khi mới có dấu hiệu vi phạm. Trước mắt cần tập trung kiểm tra, xử lý dứt điểm những vụ tham nhũng phức tạp, các vụ việc vi phạm trong thực thi quyền lực, nhất là các vi phạm trong công tác cán bộ đang gây bức xúc trong xã hội, bất bình trong nhân dân.

Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời, mẫu mực về đạo đức cách mạng. Do vậy, học tập Người, chúng ta phải thường xuyên đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Thực tiễn xây dựng chính đảng Mác-xít đã chứng minh, đảng cầm quyền lãnh đạo đất nước nếu không thực hiện tốt đạo đức cách mạng, không làm tốt nhiệm vụ chống tha hóa, hủ bại, suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống thì càng ngày sẽ càng trở nên khó khăn, có nhiều thách thức hơn. Muốn kiên định, kiên quyết xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh thì mọi cán bộ, đảng viên càng cần phải nêu gương, đi đầu trong việc chống tha hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên, thực hiện liêm, chính trong Đảng.

Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Nếu Đảng ta không thực sự vững vàng về chính trị tư tưởng; không thống nhất cao về ý chí, hành động; không trong sạch về đạo đức lối sống; không chặt chẽ về tổ chức bộ máy; không được nhân dân đồng tình ủng hộ thì Đảng ta không thể đứng vững và đủ sức đưa đất nước đi lên”. Do vậy, cùng với việc tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản về trách nhiệm nêu gương, như: Quy định số 101-QĐ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI), Quy định số 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII), đặc biệt tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa XII), Ban Chấp hành Trung ương ban hành Quy định số 08-QĐ/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng”. Việc thực hiện nêu gương của cán bộ, đảng viên là tỏ rõ sự biết ơn Bác, tự hào và nguyện làm theo Bác. Nêu gương về lòng trung thành với lý tưởng cách mạng, suốt đời phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao. Nêu gương về đạo đức, lối sống trong sáng, về bản lĩnh, trách nhiệm, niềm tin. Nêu gương phải thực chất, tránh hình thức, cố tạo ra hình ảnh, phải thực sự chân thực trong công việc, cuộc sống của mỗi người lãnh đạo, bình dị, giản dị như cuộc đời của Bác. Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” có hiệu quả.

Thấm nhuần những lời dạy của Bác, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thống nhất và nâng cao nhận thức về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế nhanh, bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Mục tiêu của Đảng ta là xây dựng nước ta sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại là một dấu mốc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở ra những điều kiện mới, thuận lợi hơn cho việc tiếp tục xây dựng, phát triển đất nước lên tầm cao mới, cải thiện đời sống nhân dân, tăng cường thế và lực của đất nước trong giai đoạn cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tác động đến tất cả các quốc gia trên thế giới. Để đạt được mục tiêu ấy, cần phải nhận thức đầy đủ và vận dụng đúng các quy luật phát triển, huy động được các nguồn lực của đất nước mà trước hết, quan trọng nhất là nguồn lực con người, phải có một lộ trình kế hoạch để thực hiện từng bước có hiệu quả cao nhất.

Tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm của Bác “Dân là gốc”, Đảng ta xác định nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, đối tượng của công cuộc đổi mới, đồng thời là động lực quyết định của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhà nước của chúng ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và nhân dân là người làm chủ. Do vậy, mọi thành quả của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước đều vì hạnh phúc của nhân dân, vì mục tiêu không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Mọi nhiệm vụ cách mạng đều do nhân dân thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là yêu cầu xuất phát từ bản chất tốt đẹp và ưu việt của chế độ ta.

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Thực hiện thắng lợi phương châm: “Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt và xây dựng nền văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội”. Đồng thời Đảng ta cũng xác định công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm, quan trọng nhất. Gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với kinh tế tri thức, kinh tế số của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Thực hiện tư tưởng của Bác phải tiếp tục tăng cường bồi dưỡng, đào tạo, rèn luyện cán bộ, đáp ứng những yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng nhằm bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau đạt hiệu quả; đảm bảo xây dựng đội ngũ kế cận như Bác nói vừa “hồng” vừa “chuyên”, hoàn thành tốt trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó, cần phải chú trọng nguồn lực con người – coi con người là yếu tố cơ bản cho sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững; tập trung đổi mới, căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ trên cơ sở gắn với cách mạng công nghiệp lần thứ tư để đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả nền kinh tế, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Đồng thời thấm nhuần lời dạy của Người, các cấp ủy, chính quyền, ban, ngành chức năng từ Trung ương đến địa phương cần tập trung quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, Nhà nước về vị trí, vai trò của thế hệ trẻ, về đổi mới nội dung, phương thức chính trị, tư tưởng, truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng, lòng yêu nước, xây dựng đạo đức lối sống lành mạnh, ý thức tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật cho cán bộ, dảng viên, nhất là thế hệ trẻ… Phát huy vai trò của thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ, giai đoạn 2015-2030”. Đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình – nhà trường – Đoàn Thanh niên – xã hội trong đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ toàn diện về mọi mặt; trong đó chú trọng nguyên tắc đào tạo gắn với bồi dưỡng, tin tưởng giao việc, tạo điều kiện để tuổi trẻ được trải nghiệm, phấn đấu và trưởng thành; xây dựng người cán bộ trẻ, đảm bảo quy hoạch cho trước mắt và lâu dài như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Phải khéo léo kết hợp cán bộ già với cán bộ trẻ”, “không nên coi thường cán bộ trẻ”…

Tiếp tục thực hiện tư tưởng của Người, Đảng ta không ngừng mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tư tưởng chỉ đạo của Bác về “vấn đề đoàn kết quốc tế” mở ra khả năng rộng lớn để vận dụng, thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ đối ngoại mà các Đại hội Đảng và Đại hội XIII của Đảng đề ra. Vì vậy, bước vào thời kỳ mới, Đảng ta tiếp tục khẳng định phương châm và định hướng lớn của hoạt động đối ngoại là “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại… Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(1). Thực hiện Lời dạy của Bác, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược và các nước lớn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của đất nước, đưa quan hệ đã được xác lập vào thực chất hiệu quả của sự hợp tác cùng có lợi. Chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là Liên hợp quốc, ASEAN và APEC. Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh như tham gia Hội nghị cấp cao An ninh châu Á, còn gọi là Đối thoại Shangri-la tại Xin-ga-po hằng năm… Triển khai đồng bộ hoạt động đối ngoại, cả về chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội. Không ngừng nâng cao chất lượng tham mưu về đối ngoại và hội nhập quốc tế. Tăng cường công tác thông tin đối ngoại để quảng bá những thành tựu, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra bên ngoài và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước trong tình hình mới./.

ST.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dựa vào dân để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh trong thời kỳ mới

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, gắn bó “máu thịt” với nhân dân, vì hạnh phúc của nhân dân, là nhiệm vụ then chốt có vị trí rất quang trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Việc vận dụng tư tưởng của Người vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay sẽ góp phần to lớn vào công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, xây dựng và phát triển đất nước giàu mạnh, hùng cường, thịnh vượng.

Ảnh tư liệu

Ảnh tư liệu

1. Gắn bó với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng có vai trò hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với sự sống còn của Đảng, của dân tộc và của chế độ. Đó là nguồn gốc sức mạnh, là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng ta.

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định Đảng ta là đạo đức, văn minh, là lương tâm và trí tuệ của dân tộc. Điều đó yêu cầu toàn Đảng và từng tổ chức đảng, mỗi đảng viên của Đảng phải trong sạch, vững mạnh. Muốn vậy, phải tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức và phong cách, về tổ chức và cán bộ để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Trong Di chúc, Người đã chỉ rõ “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

 

Trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, theo Hồ Chí Minh, Đảng phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Hai mặt lãnh đạo và đầy tớ không tách rời nhau, không đối lập nhau. Trong điều kiện Đảng cầm quyền thì càng phải ý thức thật sự sâu sắc tinh thần, thái độ trách nhiệm phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước là nhằm xây dựng một Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đảng không có quyền lợi gì riêng của mình, ngoài quyền lợi của giai cấp, của dân tộc. Đảng không ở trên dân, cũng không ở ngoài dân, mà ở trong dân, trong lòng dân, Đảng lấy dân làm gốc. Chính vì vậy, xây dựng Đảng không chỉ là công việc của Đảng mà còn là công việc, trách nhiệm của nhân dân. Nhân dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là nguồn sức mạnh của Đảng; phục vụ nhân dân là mục tiêu của Đảng, nhân dân có trọng trách to lớn là xây dựng Đảng của mình trong sạch, vững mạnh. “Dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng” luôn là nguyên tắc xây dựng Đảng và được khẳng định trong cương lĩnh và các nghị quyết của Đảng.

 

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục yêu cầu và khẳng đinh: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dụng Đảng. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp uỷ đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận; có cơ chế phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới”. Một trong những bài học kinh nghiệm của 35 năm đổi mới đó là “Đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm "dân là gốc", vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân”.

 

Nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của nhân dân trong xây dựng Đảng, trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp để phát huy vai trò nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Cùng với quan điểm, đường lối của Đảng, Hiến pháp năm 2013 đã tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cũng như quan hệ giữa Đảng với nhân dân, nhiều đạo luật được sửa đổi, bổ sung để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo cơ sở pháp lý để thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; sự ra đời của Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị, Quy định về việc đảng viên tham gia sinh hoạt ở khu dân cư, Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia giám sát, phản biện, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền… đã tăng thêm cơ chế, điều kiện để nhân dân góp ý kiến để xây dựng và bổ sung, hoàn thiện đường lối của Đảng; chính sách và pháp luật của Nhà nước; tham gia giám sát cán bộ, đảng viên, công chức và các tổ chức đảng, tổ chức chính quyền trong việc thực hiện chủ trương, chính sách và pháp luật, giám sát đảng viên thực hiện Điều lệ Đảng, Quy định về những điều đảng viên không được làm, giám sát việc thực hiện đạo đức, lối sống và trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước.

 

2. Tiếp tục quán triệt, thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cần chú trọng một số nội dung chủ yếu sau đây:

 

Một là, yếu tố quan trọng hàng đầu để nhân dân có thể phát huy vai trò tham gia xây dựng Đảng là phải thực hành dân chủ rộng rãi, để làm sao thật sự dân là chủ, dân làm chủ, từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ từ trong Đảng đến dân chủ trong xã hội được thực hiện ở các cấp, các địa bàn, các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Đẩy mạnh thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với thực tiễn và đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng về phát huy quyền dân chủ, về mối quan hệ "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ", nhất là nội dung nhân dân làm chủ và phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng" để nhân dân thực hiện tốt hơn quyền dân chủ trực tiếp cùng với quyền dân chủ gián tiếp thông qua đại diện của mình một cách thiết thực, hiệu quả.

 

Hai là, Đảng, Nhà nước cần đổi mới cơ chế và quy trình ra quyết định lãnh đạo, quản lý theo hướng phát huy dân chủ, phát huy vai trò của nhân dân trong việc tham gia xây dựng chủ trương, chính sách, bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình ra các quyết định liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng, thiết thân, hợp pháp của nhân dân, từ việc nêu sáng kiến đến tham gia góp ý, thảo luận, tranh luận, phản biện, đến việc giám sát quá trình thực hiện, bảo đảm nguyên tắc: Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều phải vì lợi ích của nhân dân. Đẩy mạnh thực hiện các định chế phát huy dân chủ hiện có như: Quy chế dân chủ ở cơ sở, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Đồng thời, cần tập trung nghiên cứu, xây dựng để sớm ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ ở cơ sở một cách đồng bộ, thực chất, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

 

Ba là, cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân phát huy vai trò và bảo đảm điều kiện cần thiết để tham gia giám sát các cơ quan, tổ chức đảng thực hiện chức năng, nhiệm vụ, giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền ở các cấp thực hiện nhiệm vụ người đảng viên có đạo đức, trách nhiệm công vụ, chấp hành chủ trương, chính sách, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Hoạt động giám sát, phản biện và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền cần tập trung vào quá trình xây dựng các chủ trương, nghị quyết của Đảng, việc ban hành các quyết định quản lý và các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và chính quyền các cấp, bảo đảm các chủ trương, quyết sách thật sự gắn với thực tiễn, hợp với lòng dân, tạo sự đồng thuận xã hội, sự ủng hộ của người dân trong tổ chức thực hiện.

 

Bốn là, để nhân dân có thể giám sát, phản biện và góp ý thì việc cung cấp thông tin chính thống từ phía cơ quan Đảng, Nhà nước hết sức cần thiết. Cần thực hiện nghiêm túc chế độ cung cấp thông tin cho nhân dân và trách nhiệm tiếp thu, trách nhiệm giải trình của cá nhân, tổ chức được giao nhiệm vụ trước nhân dân. Cán bộ, đảng viên phải thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương, giải quyết yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; tăng cường quy định về dân chủ trong Đảng và chế độ trách nhiệm đối với nhân dân. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, đó là:  “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Củng cố lòng tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”.

 

Năm là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất và uy tín ngang tầm nhiệm vụ. Phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực, trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên có ảnh hưởng quyết định đến uy tín, danh dự của Đảng, tác động trực tiếp đến mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Do đó, phải phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, tự giác tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Các ấp uỷ, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cần tự soi, tự sửa chính mình và đơn vị tổ chức; thực hiện nói đi đôi với làm, không nể nang, né tránh, tìm ra những ưu điểm để phát huy, có các biện pháp khắc phục sửa chữa sai lầm, yếu kém, khuyết điểm một cách thiết thực, hiệu quả. Vấn đề đặt ra hiện nay là phải kiên quyết làm trong sạch đội ngũ của Đảng, khắc phục các biểu hiện sa sút, thoái hóa về phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; xử lý nghiêm minh, thích đáng những hiện tượng trù dập, ức hiếp quần chúng, tham nhũng, tiêu cực. Chú trọng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất và năng lực, thật sự tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật. Cần tiếp tục thể chế hoá,  cụ thể hóa các quan điểm của Đảng về phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về các quyết định của mình - như Hiến pháp đã khẳng định. Giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, những kiến nghị chính đáng của nhân dân. Trong quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế, cần đẩy mạnh việc thực hiện Quy chế công tác dân vận của cơ quan nhà nước, Quy chế dân vận của hệ thống chính trị, làm cho nhân dân thật sự tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ đất nước.

 

Sáu là, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội theo hướng phát huy dân chủ, tôn trọng nguyên tắc liên minh chính trị, hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, bảo đảm để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội gần dân, sát dân, thật sự là cầu nối liền giữa Đảng với nhân dân, đồng thời, đoàn kết trong Đảng chính là hạt nhân để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thật sự là động lực và nguồn lực quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính tri-xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội. Thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, tăng cường đối ngoại nhân dân. Xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước để xây dựng, bảo vệ và phát triển nhanh, bền vững đất nước Việt Nam phồn vinh, thịnh vượng và hạnh phúc./.

ST.


Động lực tinh thần đi tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sự kiện ngày 5 tháng 6 năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (sau này là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh) rời Bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước đã mở đầu cho huyền thoại về một vĩ nhân trong lịch sử dân tộc Việt Nam - Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới - Hồ Chí Minh. 

Bác Hồ tại Đại hội Tours năm 1920. Ảnh: T.L

Bác Hồ tại Đại hội Tours năm 1920. Ảnh: T.L

Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người đã gắn liền với thắng lợi vẻ vang nhất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX; sau hơn 113 năm, kể từ ngày Bác Hồ rời bến Nhà Rồng, tìm hiểu động cơ đi tìm đường cứu nước của Người chúng ta lại càng thấy rõ trí tuệ mẫn tiệp, tính nhân văn sâu sắc và tầm nhìn vượt thời đại của một vĩ nhân. 

Động lực đi tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh được hội tụ ở lòng yêu nước, ý thức dân tộc, tình yêu thương con người, sự khát khao giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao động thoát khỏi áp bức bóc lột, bất công, đưa con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp, “tự do, bình đẳng, bác ái”. Cụ thể, động lực ấy xuất phát từ những nội dung chủ yếu sau:

Một là, chủ nghĩa yêu nước chân chính động cơ bao trùm, định hướng thúc đẩy Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.

Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu lòng nhân ái, có tinh thần yêu nước sâu đậm. Từ lúc thiếu thời đến tuổi trưởng thành, Nguyễn Tất Thành đã nhận được sự giáo dục và nuôi dưỡng lòng yêu nước, truyền thống nhân ái của dân tộc: thương người, thương dân, khát vọng có cuộc sống tự do, no ấm, hạnh phúc. Chính lòng yêu nước, ý thức dân tộc đã đưa Nguyễn Tất Thành đi sang Pháp và các nước phương Tây để tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ, bị áp bức, bóc lột.

Ngay từ ngày đầu ra đi tìm đường cứu nước và quá trình bôn ba ở nước ngoài, từ khi là Nguyễn Tất Thành rồi đến Nguyễn Ái Quốc và trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người luôn luôn hướng về Tổ quốc, day dứt nỗi đau mất nước; luôn đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, lấy đó làm động lực vượt qua mọi khó khăn thử thách để tìm ra con đường cách mạng đúng đắn. Người có một nỗi khát khao tột bậc, làm sao cho nước nhà được độc lập, nhân dân được sống tự do, ai cũng có cơm ăn áo mặc, cũng được học hành. Nỗi khát khao đó chính là động lực tinh thần thôi thúc Người quyết chí ra đi tìm con đường cứu nước cho dân tộc.

Từ ngày 5 tháng 6 năm 1911, rời bến cảng Nhà Rồng đi sang nước Pháp cho đến lúc đọc được bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin; từ việc đi ra nước ngoài học hỏi kinh nghiệm cách mạng Mỹ, Pháp, Trung Hoa,… đến việc tin theo V.I.Lênin, tin theo Quốc tế III đều xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước. Chính chủ nghĩa yêu nước đã giúp Nguyễn Ái Quốc đến với Quốc tế III, ủng hộ nước Nga Xô-viết. Đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, Người đã sáng tỏ nhiều điều về con đường để giải phóng dân tộc Việt Nam. Người cho rằng, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản; vấn đề độc lập dân tộc ở Việt Nam phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Người nói: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”! Từ đó, tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.

Từ bản khi nghiên cứu Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.LLênin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy phương hướng và đường lối cơ bản của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới theo lập trường của giai cấp công nhân, trong đó có cách mạng Việt Nam. Niềm tin ấy là ngọn cờ tư tưởng để Nguyễn Ái Quốc vững bước đi theo con đường cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin. Quyết tâm đi theo con đường của V.I.Lênin đã vạch, Nguyễn Ái Quốc xin gia nhập Uỷ ban Quốc tế III. Sau này, hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đặc biệt là những năm ở Mát-xcơ-va, trong Quốc tế III, chủ nghĩa yêu nước chân chính vẫn là mục tiêu là động lực xuyên suốt trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc. Vì vậy, gần 40 năm sau, trong bài viết Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin, đăng trên Báo Nhân dân, số 2226, ngày 22-4-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.

Như vậy, từ năm 1911 đến năm 1920, là thời kỳ Nguyễn Ái Quốc khảo sát, nghiên cứu để lựa chọn con đường giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp và phong kiến tay sai. Như vậy, sau năm 1920 đã đánh dấu một bước chuyển biến quyết định, bước nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người: Từ lòng yêu nước nồng nàn, ý thức dân tộc sâu sắc, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhắc lại sự kiện này, Hồ Chí Minh đã viết: “Cá nhân tôi, từ lúc đầu nhờ được học tập truyền thống cách mạng oanh liệt và được rèn luyện trong thực tế đấu tranh anh dũng của công nhân và của Đảng Cộng sản Pháp, mà tôi đã tìm thấy chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, đã từ một người yêu nước tiến bộ thành một chiến sĩ xã hội chủ nghĩa”.

Tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin (L’Admiral Latouche Trévill), nơi Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp khi rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước (6/1911)

Tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin (L’Admiral Latouche Trévill), nơi Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp khi rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước (6/1911)

Thứ hai, tìm hiểu thực chất “tự do, bình đẳng, bác ái” của các nước phương Tây, là động lực tinh thần trực tiếp thúc đẩy Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.

Sự thất bại của các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục của cuộc vận động Duy Tân và phong trào chống thuế ở các tỉnh Trung Kỳ đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành hướng về các nước phương Tây, mong muốn được đến tìm hiểu xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái”? Trả lời câu hỏi đó, trong tác phẩm Chính sách thuộc địa (Theo báo cáo của mật thám Pháp ngày 13-12-1920, đây là bài báo Nguyễn Ái Quốc viết cho báo Nhân đạo (L’ Humanité)) Người đã sớm đưa ra câu trả lời “Nước Pháp thì, núp sau lá cờ ba sắc tự do, bình đẳng, bác ái, đang đưa vào các thuộc địa của nó rượu, thuốc phiện, mại dâm và gieo rắc nghèo đói, lụn bại và chết chóc cho dân bản xứ bên cạnh sự giàu sang kiếm được bằng cách bất lương của nó.

Quyết tâm đi ra nước ngoài để “xem nước Pháp và các nước khác làm như thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào” nhằm mục đích cao cả là tìm con đường giải phóng dân tộc đúng đắn, khắc phục sự hạn chế của các phong trào yêu nước bị thất bại của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã khẳng định tư duy “vượt thời đại” của Người so với nhân sĩ, trí thức yêu nước ở Việt Nam lúc bấy giờMặc dù sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho, sớm thông tuệ đạo Thánh hiền, “lấy đức trị quốc”, nhưng Nguyễn Tất Thành đã vượt qua phương thức chống giặc ngoại xâm theo lập trường của phong kiến, không đi theo con đường cứu nước của Nho giáo. Vượt qua tư tưởng Tôn Quân, Nguyễn Tất Thành phê phán tất cả các phong trào yêu nước “nặng cốt cách phong kiến” dù cốt cách đó có chiều dày hàng ngàn năm lịch sử. Người cũng đã vượt qua lập trường dân chủ tư sản và tiểu tư sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam; đồng thời phê phán tính không triệt để của nó; thấy được lập trường dân chủ tư sản, tiểu tư sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến chưa đủ sức tập hợp lực lượng để chống lại chủ nghĩa thực dân, tất yếu sẽ bị thất bại, bị thực dân Pháp đàn áp dã man.

Nguyễn Tất Thành luôn khát khao vươn tới đỉnh cao văn minh, trí tuệ nhân loại, không muốn tìm câu trả lời có sẵn, mặc dù những điều đã có là truyền thống dân tộc. Nói về mục đích ra đi của Nguyễn Tất Thành, trong bài viết Thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản -  Nguyễn Ái Quốc của nhà báo Liên Xô Ôxíp Manđenxtam, đã dẫn lại lời của Người rằng: Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy. Nhưng trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người như dạy con vẹt. Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách của các nhà văn mới, mà cả Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì phải làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài. Một lần khác trả lời một nhà văn Mỹ, Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”(6).

Từ những động lực tinh thần mạnh mẽ, lý tưởng khát khao vươn tới đỉnh cao văn minh, trí tuệ của nhân loại, Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc để đi đến các nước: Pháp, Anh, Mỹ, I-ta-li-a, Thụy Sĩ, Đức, Toà thánh Vaticăng, Liên Xô, Trung Quốc, Thái Lan và các nước châu Phi... Người đi nhiều nơi trên thế giới, chiêm nghiệm nhiều và chứng kiến biết bao cảnh người dân lao động bị áp bức, bóc lột trên thế giới; Người tự lao động để sống, để học tập, để hoạt động cách mạng, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã tích lũy được rất nhiều bài học kinh nghiệm để lãnh đạo cách mạng sau này.

Từ bản lĩnh vượt lên chính mình cho thấy, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là một con người vừa có tâm, vừa có tầm và vừa trí, nặng lòng lòng yêu nước, thương dân. Người biết nhìn xa, trông rộng, thấy được xu thế phát triển của thời đại, thấu suốt tình hình thế giới, trong nước; thấy được lợi ích căn bản của dân tộc và lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động Việt Nam. Người là hiện thân của nghị lực vượt mọi khó khăn để vươn lên, tinh thần học hỏi cầu tiến bộ, biết vứt bỏ các thiên kiến cũ để có được sự chỉ dẫn bởi tri thức của Nhân dân, học hỏi được tinh hoa văn hoá nhân loại, nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin để nâng tầm bản thân, đưa dân tộc ta vươn tầm thời đại.

(Ảnh tư liệu)

(Ảnh tư liệu)

Ba là, khát vọng giải phóng dân tộc, vì ấm no, tự do và hạnh phúc thực sự của Nhân dân là động lực tinh thần trực tiếp thúc đẩy Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước

Đi từ miền Trung đến miền Nam, Nguyễn Tất Thành hiểu rõ: dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp ở Nam Kỳ, cũng chẳng khác gì dưới chế độ bảo hộ ở Trung Kỳ và dưới chế độ nửa thuộc địa, nửa bảo hộ ở Bắc Kỳ. Ở đâu nhân dân cũng bị áp bức, bóc lột, đồng bào cũng bị đọa đày, khổ nhục. Điều đó càng thôi thúc Nguyễn Tất Thành đi sang các nước phương Tây để xem nhân dân các nước ấy làm như thế nào mà trở nên độc lập, hùng cường, rồi sẽ trở về “giúp đỡ đồng bào” đánh đuổi thực dân Pháp. Động lực tinh thần ấy đã dẫn Người từng bước đi tìm một phương hướng mới để cứu nước, cứu nhân dân ta thoát khỏi cảnh bị áp bức, lầm than.

Quá trình tìm đường cứu nước, văn minh phương Tây đã đem lại những giá trị mới mang tính cách mạng và khoa học trong tư tưởng cứu nước của Nguyễn Tất Thành mà ở phương Đông lúc bấy giờ chưa có. Đó là những khái niệm: tự do, bình đẳng, bác ái, nhân quyền, dân quyền, pháp quyền, dân chủ, cách mạng xã hội, đặc biệt là chủ nghĩa cộng sản và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo Luận cương của V.I.Lênin. Từ thực tiễn tìm hiểu con đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã học được rất nhiều về các mô hình tổ chức đời sống nhà nước và đời sống xã hội theo hình thức chính thể cộng hoà, dân chủ. Những giá trị tiến bộ của phương Tây đã ảnh hưởng rất sâu sắc đến tư tưởng của Người. Những tư tưởng tiến bộ và cách mạng của thế giới được Nguyễn Áí Quốc áp dụng vào quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng xã hội mới ở Việt Nam sau này.

Trong Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945, Người viết: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(7) Những giá trị mà theo Hồ Chí Minh là quý nhất như “độc lập”, “tự do” là “quyền tự nhiên”, không có trong các chế độ phong kiến chuyên chế phương Đông và ở các nước thuộc địa. Đây là những giá trị của văn minh nhân loại, phản ánh những quyền cơ bản của con người, của các dân tộc. Bất kỳ một lực lượng cách mạng nào, một nhà nước nào muốn tập hợp nhân dân, muốn đoàn kết nhân dân, trước hết phải thực hiện những quyền cơ bản đó.

Như vậy, nhờ có động lực tinh thần đúng đắn, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc cho dân tộc ta.  Thay cho lời kết, chúng tôi xin nhắc lại bài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh của Báo Dranma, Cu Ba: “Một con người đã tập trung vào mình tất cả những đặc điểm cao nhất không những của một dân tộc đặc biệt mà của cả một lớp nhân loại khác thường: đó là lớp nhân loại biết sống mãi mãi một cuộc sống tươi trẻ và không vụ lợi, một lớp nhân loại biết nuôi dưỡng và thúc đẩy trí tuệ của cách mạng, làm cho cách mạng phát triển một cách chắc chắn,…”./.

ST.