Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2024

Nâng cao chất lượng công tác nắm bắt dư luận xã hội, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng

Công tác tư tưởng và dư luận xã hội (DLXH) có vai trò quan trọng, góp phần xây dựng niềm tin, tạo sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Việc đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng công tác nắm bắt DLXH trong tình hình mới có ý nghĩa quan trọng góp phần bảo vệ góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng trong tình hình hiện nay.

Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm về công tác nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội trong cán bộ, hội viên, phụ nữ ở tỉnh Đồng Tháp, ngày 3-7-2024.

Công tác nắm bắt dư luận xã hội và mối liên hệ biện chứng với hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Công tác nắm bắt dư luận xã hội (DLXH) đóng vai trò quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng, góp phần thiết yếu vào công tác lãnh đạo và nhiệm vụ tuyên giáo. DLXH - một phần của ý thức xã hội, là hình thức phản ánh xã hội đã tồn tại và phát triển cùng với lịch sử xã hội loài người, có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống xã hội.

DLXH có thể được hiểu là tổng hợp các luồng ý kiến cá nhân về các vấn đề, sự kiện và hiện tượng có tính thời sự, liên quan đến lợi ích và mối quan tâm của công chúng. DLXH không chỉ là sự cộng gộp của các ý kiến cá nhân mà còn là kết quả của quá trình tương tác và trao đổi ý kiến giữa nhiều người, từ đó hình thành các luồng ý kiến chung của một nhóm đông đảo.

Là phương thức thể hiện tâm tư, ý chí và nguyện vọng của nhân dân, DLXH có thể tác động mạnh mẽ đến công tác lãnh đạo và quản lý xã hội. DLXH không chỉ giúp dự báo các tình huống có thể xảy ra mà còn thúc đẩy dân chủ, hỗ trợ các nhà lãnh đạo trong việc hoàn thiện các chính sách quản lý xã hội. Dư luận tích cực sẽ tăng cường sức mạnh tinh thần và tạo sự đồng thuận trong xã hội, trong khi dư luận tiêu cực có thể làm suy giảm niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và gây phân rã trong xã hội.

Như vậy, nắm bắt DLXH được hiểu là các hoạt động thu thập và phân tích tâm trạng, tình cảm, ý chí, và nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân về các vấn đề, sự kiện có tính thời sự trong nước và quốc tế, đặc biệt là liên quan đến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Mục tiêu là thực hiện công tác lãnh đạo, chỉ đạo, và điều hành của các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương một cách kịp thời, trung thực và chính xác.

Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc Đảng cần có chủ nghĩa làm cốt, và tất cả các thành viên phải hiểu và theo đuổi chủ nghĩa ấy, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Đảng ta đã khẳng định “Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động". Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (năm 2016), Đảng ta tiếp tục khẳng định việc kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, và tại Đại hội XIII, Đảng ta nhấn mạnh việc vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác tư tưởng, coi đó là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng. Người nhấn mạnh rằng công tác lãnh đạo tư tưởng là then chốt, bởi khi cả Đảng và xã hội đều có tư tưởng thống nhất thì: “hành động sẽ thống nhất và nhiệm vụ sẽ đạt được thành công”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định rằng việc giữ chặt mối liên hệ với nhân dân và lắng nghe ý kiến của họ là nền tảng của sự thắng lợi của Đảng.

Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã đặc biệt quan tâm đến việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và ý chí của nhân dân, coi đây là công việc quan trọng để xây dựng các chủ trương, đường lối cách mạng phù hợp với lòng dân. Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 1-8-2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã khẳng định việc “chú trọng nghiên cứu, điều tra xã hội học, nắm bắt DLXH là một trong những nội dung giải pháp quan trọng đối với công tác tư tưởng.” Thông báo số 274-TB/TW ngày 29-9-2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng cũng đã nhấn mạnh rằng việc nắm bắt DLXH là “nhiệm vụ quan trọng và cần thiết để các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước có căn cứ khoa học để ban hành chính sách.”

Kết luận số 100-KL/TW ngày 18-8-2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc đổi mới và nâng cao chất lượng công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu DLXH đã nhấn mạnh rằng công tác này nhằm “tập hợp kịp thời và sát thực tâm tư, tình cảm, ý chí và nguyện vọng của nhân dân về các vấn đề thời sự trong nước và quốc tế, đặc biệt là đối với các chính sách của Đảng và Nhà nước.” Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã chỉ ra nhiệm vụ đối với công tác tư tưởng là “nắm chắc, dự báo đúng và định hướng chính xác các vấn đề trong tư tưởng của Đảng và xã hội.”

Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII đã cụ thể hóa chỉ đạo của Nghị quyết Đại hội XIII, nhấn mạnh việc “chú trọng nắm bắt, định hướng DLXH và nâng cao chất lượng công tác này.” Các quy định trong Luật Báo chí (2016) và Luật An ninh mạng (2018) đã thể chế hóa việc định hướng DLXH trên báo chí và không gian mạng xã hội, khẳng định vai trò quan trọng của công tác DLXH trong hoạt động quản lý, điều hành của Đảng và Nhà nước.

Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 35-NQ/TW về việc “tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.” Nghị quyết đã đề ra các mục tiêu rõ ràng về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bao gồm “củng cố niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, duy trì sự đoàn kết trong Đảng và sự đồng thuận xã hội, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, và góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.”

Trong bối cảnh hiện nay, công tác nắm bắt và định hướng DLXH là biện pháp quan trọng giúp phát hiện kịp thời những vấn đề nổi cộm và bất ổn trong xã hội, đồng thời định hướng dư luận và công chúng theo hướng thống nhất và ổn định. Kết quả của công tác này không chỉ hỗ trợ các nhà lãnh đạo trong việc thực hiện nhiệm vụ mà còn mang lại hiệu quả tích cực về nhiều mặt, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” và thực hiện các nhiệm vụ trọng yếu trong giai đoạn mới.

Thực tiễn công tác nắm bắt dư luận xã hội, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Trong thời gian qua, nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của việc nắm bắt diễn biến DLXH của các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương đã được nâng cao. Sự quan tâm và chú trọng đối với công tác này trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân ngày càng rõ nét. Công tác nắm bắt DLXH hiện được xem là một nhiệm vụ thường xuyên của toàn hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên. Nhiều đơn vị đã chủ động triển khai và thực hiện công tác này một cách đồng bộ. Một số tỉnh và thành phố đã ban hành các chỉ thị, kế hoạch điều tra và nắm bắt DLXH, đồng thời đẩy mạnh đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền và nghiên cứu tình hình tư tưởng, định hướng DLXH, gắn liền với đổi mới chỉ đạo và điều hành của cấp ủy và chính quyền địa phương. Các tỉnh, thành phố cũng đã phân công cán bộ phụ trách công tác DLXH, xây dựng mạng lưới báo cáo viên và cộng tác viên có năng lực, tâm huyết, và lập trường vững vàng. Đồng thời, các đơn vị đã xây dựng quy chế hoạt động cho mạng lưới này. Nhiều đơn vị đã thực hiện các hoạt động cụ thể và hiệu quả trong việc nắm bắt DLXH như tổ chức khảo sát, đánh giá theo Kết luận 100-KL/TW; tổ chức các cuộc họp giao ban hằng tuần, tháng; xây dựng báo cáo tổng hợp DLXH định kỳ hằng tuần; thực hiện điều tra DLXH qua bảng hỏi, hộp thư điện tử và phiếu báo cáo hằng tháng.

Công tác nắm bắt DLXH của hệ thống tuyên giáo các cấp đang dần được triển khai một cách khoa học và bài bản, bám sát các nhiệm vụ và định hướng chỉ đạo. Các cuộc điều tra thăm dò DLXH của Viện DLXH, ban tuyên giáo các tỉnh, thành ủy, cùng các tổ chức chính trị - xã hội được thực hiện hằng năm, đặc biệt chú trọng vào các nội dung như thực hiện các đề án, chương trình, quyết sách lớn, nghị quyết các kỳ đại hội đảng bộ các cấp. Qua đó, việc đánh giá diễn biến thái độ, tâm tư, tình cảm, và nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân được thực hiện.

Việc thu thập ý kiến của các tầng lớp nhân dân vào các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước được tiến hành thường xuyên, như lấy ý kiến vào văn kiện đại hội đảng bộ các cấp, dự thảo luật, các đề án, và chiến lược. Các hoạt động này không chỉ đảm bảo nguyên tắc dân chủ mà còn là kênh quan trọng để nắm bắt tình hình DLXH, tư tưởng, nguyện vọng và mong muốn của các nhóm xã hội, cũng như để so sánh sự khác biệt ý kiến giữa các tầng lớp, nhóm, giới, và thời điểm khác nhau. Dựa trên đó, có thể phân tích và nghiên cứu xu hướng biến đổi trong tư tưởng, nhận thức, niềm tin, và thái độ của nhân dân. Ví dụ, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã thu thập gần 1,2 triệu ý kiến của cán bộ, hội viên, và phụ nữ về dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII; tổ chức nhiều hoạt động để lấy ý kiến về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) với hơn 37.000 lượt tham gia khảo sát, 82% là nữ giới và 18% là nam giới, cùng với việc tổ chức hơn 26.000 hội nghị, hội thảo với trên 2.3 triệu lượt ý kiến góp ý từ tổ chức và cá nhân.

Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các nền tảng mạng xã hội đã trở thành môi trường thông tin sôi động với sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Việc xây dựng mạng lưới nắm bắt thông tin DLXH ở cấp tổ dân phố, thôn, làng đã được nhiều tỉnh, thành triển khai. Các đơn vị đã thiết lập các nhóm zalo, trang fanpage trên Facebook để cung cấp thông tin chính thống, đầy đủ, chính xác và định hướng thông tin cho người dân hiểu rõ và đầy đủ về các chủ trương và quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước. Nhiều địa phương đã áp dụng các mô hình kết nối thông tin qua zalo như “Zalo - kết nối thông tin trong hệ thống Hội”, “Zalo kết nối thông tin với phụ nữ tôn giáo”, và “Kết nối Zalo, nắm bắt kịp thời”. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức và bản lĩnh chính trị cho cán bộ và các tầng lớp nhân dân, từ đó huy động sức mạnh nhân dân trong việc phản bác các luận điệu sai trái trên các phương tiện truyền thông xã hội. Một số đơn vị đã ứng dụng công nghệ và thiết lập phần mềm giúp theo dõi, nắm bắt và tổng hợp tình hình, thông tin DLXH trên các phương tiện thông tin đại chúng một cách kịp thời và thuận lợi. Các vấn đề nóng, bức xúc từ DLXH được thống kê, tổng hợp và đề xuất các biện pháp kịp thời giải quyết, tháo gỡ vướng mắc và ổn định tư tưởng, củng cố niềm tin cho nhân dân.

Đặc biệt, việc định hướng DLXH trên nền tảng số thời gian qua đã được các cơ quan chức năng và địa phương đẩy mạnh thông qua việc chủ động lan tỏa thông tin tích cực và tăng cường đăng tải thông tin chính thống. Nghị quyết số 35-NQ/TW nhấn mạnh: “Gắn kết chặt chẽ giữa ‘xây’ và ‘chống’, ‘xây’ là cơ bản, ‘chống’ phải quyết liệt và hiệu quả. Kết hợp giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài”. Nghị quyết nêu rõ: “Chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với ngăn chặn hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu độc trên in-tơ-nét và mạng xã hội”. Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng, Đảng không chỉ nhấn mạnh việc chủ động ngăn chặn và xử lý thông tin tiêu cực, phản bác thông tin xấu, độc, quan điểm sai trái và thù địch mà còn đặc biệt coi trọng việc chủ động tăng cường thông tin tích cực. Đây chính là sự khẳng định quan điểm kết hợp giữa “xây” và “chống”, giữa “bảo vệ” và “đấu tranh”, trong đó lấy “xây” và “bảo vệ” là chính và cơ bản. Có thể thấy nhiều tin bài, clip, hình ảnh, ấn phẩm truyền thông tích cực về các tấm gương tiêu biểu, người tốt việc tốt trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng và nền tảng số. Tiêu biểu như chuyên mục “Mỗi ngày một tin tốt, mỗi ngày một câu chuyện đẹp” trên Báo Tuổi Trẻ Online của Đoàn Thanh niên Cộng sản thành phố Hồ Chí Minh, trang website “Hương sen Việt” truyền tải thông tin tích cực, chính xác và nhanh chóng; các triển lãm trực tuyến như triển lãm sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh, triển lãm “Giữ yên biên thuỳ”, triển lãm sách kỷ niệm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đặc biệt, dịp kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ vừa qua, trên mạng xã hội, người dân đã quan tâm theo dõi các sự kiện và chương trình Lễ kỷ niệm, bao gồm các bài đăng, đoạn clip của thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên, và cán bộ về các hoạt động kỷ niệm, góp phần tạo hiệu ứng tốt, lan tỏa thông điệp tích cực và khẳng định vai trò của công tác tuyên truyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời đại số.

Bên cạnh đó, nhiều bài viết chính luận sâu sắc của các chuyên gia, nhà khoa học đã giúp định hướng và tăng cường vai trò và trách nhiệm tổ chức, cá nhân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác thông tin xấu, độc, các quan điểm sai trái, thù địch. Một số ứng dụng công nghệ thông tin cũng đã được các cơ quan thí điểm và sử dụng nhằm nắm bắt, lưu trữ, tìm kiếm, thu thập và phân tích dữ liệu thôn tin trên mạng xa hội giúp nắm bắt nhu cầu, sự quan tâm, dự đoán của những người sử dụng mạng xã hội như big data (dữ liệu lớn), reputa (hệ thống lắng nghe hỗ trợ giám sát danh tiếng và thông tin trực tuyến)…

Việc thực hiện các nghị quyết và quy định của Đảng, Nhà nước, và các cơ quan chức năng về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua nắm bắt DLXH đang được triển khai tích cực, đồng bộ và có hiệu quả. Công tác này không chỉ đảm bảo thông tin chính xác, kịp thời cho các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương, mà còn là cơ sở để đánh giá đúng tình hình, tâm tư, và nguyện vọng của nhân dân, từ đó đưa ra các quyết định, chủ trương, và giải pháp phù hợp, hiệu quả.

Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả nắm bắt dư luận xã hội góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Trong bối cảnh hiện nay, tình hình thế giới và khu vực đang diễn biến phức tạp và nhanh chóng, tác động sâu rộng đến công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh những thuận lợi và cơ hội, chúng ta đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư, cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, đang dẫn đến những thay đổi căn bản trên mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội, trong đó có Việt Nam. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và các nền tảng mạng xã hội đã tạo ra một lượng thông tin đa dạng và phong phú, vừa là thuận lợi cho việc tiếp cận, nhưng cũng đồng thời làm gia tăng hiện tượng nhiễu loạn và ô nhiễm thông tin.

Mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng gây ra sự chênh lệch và phân hóa ngày càng gia tăng giữa các tầng lớp trong xã hội. Các thế lực thù địch lợi dụng các nền tảng mạng xã hội và các kênh thông tin cá nhân để lan truyền thông tin sai lệch, bóp méo sự thật và gieo rắc sự hoài nghi, gây hoang mang và làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Tình trạng này đã dẫn đến việc một số cán bộ và đảng viên không giữ vững lập trường tư tưởng, vi phạm các nguyên tắc của Đảng, để lại nhiều bài học đau xót từ các vụ việc được xử lý. Điều này đã làm giảm sút tính chiến đấu và hiệu quả của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

Trước những thách thức mới từ cả yếu tố khách quan và chủ quan, việc nắm bắt DLXH để nhận diện sớm và từ xa diễn biến tư tưởng, cũng như các ý kiến và thái độ của cán bộ, đảng viên và nhân dân về các vấn đề chiến lược trong phát triển đất nước là rất cần thiết. Để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác này, chúng tôi đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:

Một là, đẩy mạnh hơn nữa việc nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác DLXH; xác định đây là nhiệm vụ chính trị của cấp ủy, chính quyền và mỗi cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị.

Tăng cường phổ biến, nghiên cứu, quán triệt và tuyên truyền các định hướng và chỉ đạo của Đảng về công tác DLXH theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII và Kết luận số 100-KL/TW ngày 18-8-2014 của Ban Bí thư khóa XI. Mục tiêu là nâng cao nhận thức cho cấp ủy, chính quyền các cấp, lãnh đạo, cán bộ và đảng viên về vai trò của DLXH.

Các cấp ủy và chính quyền địa phương cần xác định công tác DLXH là nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tuyên giáo. Đây là nhiệm vụ thường xuyên của các chi bộ, đảng bộ và cán bộ, đảng viên trong quá trình xây dựng, ban hành và thực thi chính sách.

Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và ban hành các văn bản, quy chế, quy định để tạo cơ chế thống nhất, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên và nhân dân nhằm triển khai thực hiện hiệu quả công tác DLXH.

Hai là, đa dạng hóa hình thức nắm bắt thông tin DLXH theo nhiều chiều hướng và ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao độ chính xác, khoa học và kịp thời của công tác này.

Cần kết hợp các hình thức nắm bắt DLXH trực tiếp và trực tuyến để đảm bảo thông tin được thu thập nhanh chóng và chính xác. Đồng thời, củng cố và tăng cường hiệu quả mạng lưới nắm bắt và phản ánh thông tin DLXH từ Trung ương đến cơ sở, đặc biệt là tại cấp cơ sở.

Trong thời đại công nghệ số, cần ứng dụng các phần mềm công nghệ hỗ trợ sàng lọc, thăm dò và phân tích thông tin DLXH một cách cập nhật và nhanh chóng, sử dụng các công cụ như phần mềm reputa, big data…

Tăng cường hoạt động đối thoại trực tiếp với nhân dân để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và thắc mắc của các tầng lớp nhân dân, từ đó có phương án giải quyết kịp thời các vấn đề bức xúc, không để chúng kéo dài và trở thành điểm nóng.

Tăng cường nắm bắt DLXH trên không gian mạng và quan tâm đến DLXH của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Phát huy vai trò của các cá nhân có uy tín, ảnh hưởng trong xã hội trong việc đăng tải thông tin chính thống để hỗ trợ định hướng dư luận. Kịp thời phát hiện và phối hợp giải quyết những vấn đề bức xúc, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Ba là, phát huy vai trò dẫn dắt và định hướng thông tin của các cơ quan báo chí và truyền thông để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị làm công tác DLXH trong hệ thống tuyên giáo nhằm tăng cường hiệu quả công tác nắm bắt DLXH.

Cải thiện chất lượng nội dung các chương trình, chuyên trang và chuyên mục về thành tựu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế trong gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, cùng những định hướng lớn và đột phá trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

Phát huy hơn nữa thế mạnh của báo chí điện tử, xây dựng các trang thông tin điện tử của các ngành và địa phương với chất lượng nội dung và hình thức cao, nhằm trở thành loại hình truyền thông chính thống, hiện đại.

Thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ và nâng cao kiến thức, kỹ năng cho mạng lưới báo cáo viên và cộng tác viên để đáp ứng yêu cầu của công tác DLXH trong tình hình mới. Xây dựng đội ngũ cộng tác viên DLXH tại cơ sở nhằm bám sát và xử lý kịp thời các vấn đề nổi cộm và điểm nóng.

Đẩy mạnh việc đăng tải thông tin chính thống về đường lối, chủ trương và quyết sách của Đảng và Nhà nước trên các trang báo chính thống; phát huy vai trò quan trọng của các cơ quan báo chí trong việc ứng phó với thông tin giả mạo.

Tăng cường vai trò giám sát và phản biện xã hội của các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với các quyết sách của Đảng và Nhà nước để nâng cao hiệu quả trong xây dựng, ban hành và thực thi chính sách.

Xây dựng các bộ công cụ hỗ trợ nắm bắt DLXH theo từng nhóm đối tượng như phụ nữ, thanh niên, nông dân… nhằm nắm bắt thông tin từ các tầng lớp nhân dân một cách đồng bộ và hiệu quả.

Định hướng và giáo dục tư tưởng chính trị, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ, phóng viên, biên tập viên; nâng cao ý thức và trách nhiệm trong từng sản phẩm tin, bài, phóng sự, chuyên trang và chuyên mục, tránh để xảy ra sai sót bị các thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc, bịa đặt chống phá./.

ST.

Vì hiệu quả thực chất, bền vững...

Quyền lực là một trong những căn nguyên dễ làm tha hóa đạo đức con người. Vì thế, để ngăn chặn sự tha hóa, mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự giác trau dồi đạo đức, tích cực tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Đó cũng chính là một trong những nhân tố căn bản để rèn luyện tinh thần thượng tôn pháp luật...

Coi trọng đạo đức trong lãnh đạo, quản lý

V.I.Lênin từng nói: Có ba kẻ thù chính trong mỗi người nắm quyền lực, kẻ thù thứ nhất là tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa, kẻ thù thứ hai là nạn mù chữ, kẻ thù thứ ba là nạn hối lộ. Trong quá trình nắm quyền, người cán bộ có thể chuyển từ người tốt sang người xấu. Để ngăn chặn, phải có đạo đức và coi trọng tu dưỡng đạo đức. Đạo đức là cái gốc của người cán bộ cách mạng, đạo đức có tính tự giác, tự nguyện, là cái bên trong mỗi con người. Từ cái bên trong mà chi phối suy nghĩ, hành vi bên ngoài. Đạo đức khi được hình thành, tu dưỡng liên tục sẽ trở nên bền vững, thành nền tảng về tư cách, phẩm chất của người cán bộ cách mạng. Dù đời sống xã hội thay đổi, nhu cầu phát sinh thì nhờ có đạo đức mà điều chỉnh con người có hành vi đúng với giá trị đạo lý.

Nhờ có đạo đức mà cán bộ, đảng viên sẽ có tính hấp dẫn, tính thu hút đối với cộng đồng, xã hội. Đạo đức có sức mạnh nội sinh, tính lan tỏa lớn, đạo đức không chỉ đưa ra nguyên tắc cho cán bộ tự giác thực hiện mà còn khuyên cán bộ nên làm cái này tốt đẹp hay làm cái kia lương thiện từ đó mà tạo ra những phong trào tích cực trong xã hội. Nếu như pháp luật yêu cầu người cán bộ, đảng viên tối thiểu phải đạt được những quy định của pháp luật, bắt buộc phải thực hiện những quy phạm có tính phổ biến, phổ thông, thì ngược lại, đạo đức yêu cầu tối đa.

Đó là, đạo đức là những quy tắc, chuẩn mực có tính cách tự giác, tự nguyện, đạt đến yêu cầu cao: Khuyến khích, động viên, khêu gợi nên làm những điều cao đẹp, những điều lý tưởng, từ đó, người cán bộ hình thành những phẩm chất cao đẹp, dám hy sinh vì lý tưởng cách mạng. Đạo đức cán bộ, đảng viên tốt đẹp sẽ như ruộng lúa tốt, cỏ dại không có cơ hội mọc chen lấn, xã hội sẽ dần loại trừ những hành vi xấu, tiêu cực. Người cán bộ có đạo đức tốt sẽ khắc phục được khó khăn, gian khổ, không nề hà với công việc, rèn luyện được bản lĩnh thắng không kiêu, bại không nản, chất phác, khiêm tốn, chỉ lo hoàn thành nhiệm vụ tốt chứ không kèn cựa về lợi ích. Cũng từ đó mà người cán bộ, đảng viên tránh được tính công thần, quan liêu; không kiêu ngạo, không hủ hóa...

Lịch sử và thực tiễn cho thấy, khi chính quyền dùng đức trị bên cạnh pháp trị để quản lý, điều hành xã hội sẽ đạt được hiệu quả tối ưu. Kế thừa kinh nghiệm ấy, bên cạnh việc thực hiện quản lý, điều hành xã hội bằng pháp luật, Đảng, Nhà nước ta còn phát huy được sức mạnh của đạo đức, của nội lực bên trong. Đảng ta là đạo đức, là văn minh, tức là coi trọng đạo đức trong lãnh đạo, quản lý. Một đảng cầm quyền mà coi trọng đạo đức thì sẽ giảm bớt rất nhiều quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch. Đảng cầm quyền mà coi trọng đạo đức thì cán bộ mắc khuyết điểm sẽ yên tâm sửa chữa để tiến bộ hơn, tránh được mặc cảm, tự ti khi đã mắc khuyết điểm.

Nhận được lòng bao dung, độ lượng của các cấp lãnh đạo, cán bộ vi phạm khuyết điểm sẽ có thái độ, tư tưởng tích cực hơn trong cuộc sống cũng như trong công tác. Đảng, Nhà nước coi trọng đạo đức trong lãnh đạo, quản lý sẽ tạo điều kiện tốt cho cán bộ, đảng viên tự giác, thành khẩn nhận khuyết điểm, tránh được tình trạng che giấu khuyết điểm. Cán bộ, đảng viên có đạo đức tốt sẽ có phương pháp giúp những cán bộ có khuyết điểm sửa sai, giúp nhau tiến bộ. Nỗi ân hận, ăn năn của người vi phạm khuyết điểm cũng chính là nỗi đau của mình. Trong xã hội, giữa cái đúng, cái sai, cái tích cực và tiêu cực còn đan xen trên nhiều lĩnh vực, phân khúc, thì việc cùng nhau nhận diện, cùng giúp nhau sửa chữa, tiến bộ là vô cùng cần thiết.

Nhìn nhận con người trong bối cảnh hiện nay cần có thái độ khách quan, toàn diện, biện chứng. Cán bộ, đảng viên cần tránh thái độ thấy đồng chí, đồng nghiệp mắc khuyết điểm thì bàng quan hoặc hả hê, chì chiết, hay có tư tưởng “giậu đổ bìm leo”, "tát nước theo mưa". Làm như thế sẽ đẩy người mắc khuyết điểm đi vào ngõ cụt của cuộc sống. Đồng thời, tránh tư tưởng, thái độ, lợi dụng công tác phòng, chống tham nhũng để khai thác điểm yếu, khai thác sơ hở, lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin để cài bẫy cho đồng chí của mình mắc sai lầm. Cán bộ, đảng viên phải thẳng thắn, trung thực, chân thành để khuyên bảo nhau cùng tiến bộ. Yêu thương, quý mến nhau không có nghĩa là thấy đồng chí vi phạm khuyết điểm thì nể nang, né tránh không dám thẳng thắn góp ý phê bình. Đến khi đồng chí của mình vi phạm khuyết điểm, vi phạm pháp luật thì mới bới móc. Như thế là kẻ cơ hội, thiếu chân thành. Người cán bộ ngoài hiểu biết đạo đức cũng cần có lòng dũng cảm, khẳng khái thì mới thực hiện được đạo đức tốt đẹp.

Một con người, dù có vi phạm pháp luật, có tội lỗi cũng không thể đẩy họ ra khỏi xã hội. Họ vẫn phải sinh sống trong cộng đồng. Vì thế, bên cạnh sự nghiêm minh của pháp luật, xã hội cần có lòng nhân ái, bao dung, sẵn sàng thông cảm khi người mắc khuyết điểm biết ăn năn hối cải. Từ đó làm cho họ có bài học sâu sắc hơn trong cuộc sống. Những bài học đắt giá, bổ ích đó sẽ lan tỏa trong các thế hệ cán bộ, đảng viên. Từ những bài học trong quá khứ sẽ ngăn chặn được những hành vi tiêu cực tương tự có khả năng xảy ra trong hiện tại và tương lai.

Lấy đạo đức làm gốc, lấy pháp luật làm chuẩn

Sức mạnh của đạo đức và sức mạnh của pháp luật trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xây dựng và chỉnh đốn Đảng có quan hệ biện chứng với nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, một xã hội phát triển tốt đẹp là xã hội lấy đạo đức làm gốc, lấy pháp luật làm chuẩn. Trong công cuộc chống tham nhũng hiện nay, không thể tuyệt đối hóa vai trò của pháp luật. Mọi hành vi vi phạm chỉ xử lý theo pháp luật thì mới chỉ giải quyết quan hệ bên ngoài: Tội danh được chứng minh bằng tang chứng, vật chứng nhưng cái tâm, cái ý thức, tư tưởng chưa được giải quyết.

Trong các vụ án cán bộ tham nhũng, hối lộ, vấn đề đấu tranh rất khó khăn, phức tạp khi thiếu tang chứng, vật chứng. Tất cả những vấn đề đó là cái bên ngoài, bản thân người vi phạm có thể tìm cách để chối bỏ nhằm thoát tội. Vấn đề sâu xa của cán bộ, đảng viên là cái tâm phải thực sự trong sáng, nhận thức phải thật sự thấu đáo về khuyết điểm, về sai phạm. Cán bộ, đảng viên có nhận thức đầy đủ về giá trị của danh dự, của đạo đức cao đẹp thì mới có thể dứt bỏ được những cám dỗ của đời sống vật chất. Từ đó, mới tự giác nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, lấy những quy phạm pháp luật làm chuẩn mực của công vụ.

Trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, nếu tách rời đạo đức khỏi pháp luật hoặc coi nhẹ, việc thực thi pháp luật của Nhà nước sẽ trở nên hà khắc, thô bạo, con người với con người trở nên xa lạ, thiếu đi cái sinh động của tình nghĩa cao thượng, thiếu tính nhân văn trong đời sống xã hội. Trước tòa, với những bằng chứng tội phạm, các vị thẩm phán, các vị luật sư luận tội buộc người vi phạm phải nhận tội nhưng nếu thiếu đạo đức thì tính tâm phục không cao. Sự miễn cưỡng nhận tội của người vi phạm pháp luật sẽ xa lạ với việc tự giác chấp hành hình phạt, từ đó cũng ảnh hưởng đến chiều sâu tính nghiêm minh của pháp luật.

Đạo đức khi được phát huy giá trị cao đẹp của nó, việc thực thi pháp luật sẽ có tính hiệu quả, tính thực thi cao. Cán bộ chấp pháp mà đạo đức kém thì có thể sử dụng pháp luật không công tâm, luận tội thiếu khách quan, thiếu chuẩn mực, xảy ra oan sai, khuất tất. Từ đó, xảy ra tình trạng thực thi pháp luật khó khăn, khiếu kiện kéo dài, vụ án có thể chấm dứt nhưng dư luận vẫn âm ỉ. Ngược lại, cán bộ có đạo đức tốt, sẽ sử dụng pháp luật nghiêm minh, chặt chẽ, công khai, thấu tình đạt lý, xử đúng người, đúng tội. Từ đó, lòng tin của nhân dân vào tính chính trực của pháp luật được khẳng định.

Hiện nay, Đảng, Nhà nước ta không ngừng quan tâm giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhưng đồng thời khẳng định pháp luật Việt Nam trừng trị nghiêm khắc những ai vi phạm đạo đức, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì. Có như vậy, tính nghiêm minh của pháp luật mới được hiện thực hóa vào trong đời sống xã hội.

Kết hợp đạo đức và pháp luật trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng là vô cùng cần thiết trong tình hình hiện nay. Bởi vì, nó vừa phát huy được sức mạnh nền tảng của đạo đức, vừa bảo đảm tính chuẩn mực của pháp luật. Có như vậy, công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mới đạt được mục tiêu, kết quả thực chất, bền vững.../.

ST.

Kế thừa, vận dụng những bài học lịch sử

Đức trị và pháp trị là hai đường lối cai trị của bậc quân vương, trong đó, đức trị được Khổng Tử xây dựng thành học thuyết chính trị, triển khai và thực thi trong chế độ phong kiến, để lại nhiều bài học lịch sử bổ ích. Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay, việc kết hợp, vận dụng hài hòa giữa đức trị và pháp trị sẽ phát huy tối đa hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật, thực hành Điều lệ Đảng...

Từ những bài học lịch sử, thực tiễn…

Trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, chúng ta cần quán triệt, học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần thượng tôn pháp luật, "dĩ dân vi thượng". Bác Hồ rất coi trọng đạo đức, tình cảm nhưng rất nghiêm khắc với những hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái đạo đức. Người gọi đó là giặc nội xâm, cực kỳ nguy hiểm, tự giết chết chế độ. Năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo việc xét xử nghiêm minh và y án tử hình đối với Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu về tội tham nhũng, ăn chơi sa đọa trong bối cảnh quân dân cả nước tập trung tất cả cho kháng chiến chống thực dân Pháp. Đại tá Trần Dụ Châu từng là cán bộ được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao chức vụ Cục trưởng Cục Quân nhu. Khi cán bộ này phạm trọng tội, mặc dù rất đau đớn nhưng Người vẫn kiên quyết nghiêm trị, xử lý đúng pháp luật.

Bài 1: Kế thừa, vận dụng những bài học lịch sử
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bà con nông dân tỉnh Bắc Kạn đang thu hoạch lúa mùa, năm 1950. Ảnh tư liệu: hochiminh.vn 

Năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chuẩn y án tử hình đối với cán bộ cao cấp Trương Việt Hùng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp vì tội giết người, ăn chơi sa đọa. Những bản án nghiêm khắc ấy thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật của người đứng đầu Nhà nước, tính nghiêm minh của pháp luật Việt Nam. Thực hiện nghiêm pháp luật như vậy thực sự là không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai. Bản án tử hình đối với hai đối tượng trên đã tăng sức mạnh răn đe đến đội ngũ cán bộ cao cấp trong Đảng, Nhà nước và Quân đội, thể hiện bản chất của pháp luật là công bằng, nghiêm minh: “Pháp luật không hùa theo người sang, sợi dây dọi không uốn mình theo cây gỗ cong”. Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, xây dựng đất nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, tình hình đất nước có những giai đoạn diễn biến hết sức phức tạp, nhưng với sự nghiêm minh của pháp luật đã tạo nên hiệu ứng, hiệu quả tốt trong lãnh đạo, quản lý và điều hành xã hội của Đảng, Nhà nước ta, quy tụ lòng dân về một mối.

Hiện nay, chúng ta đang đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quản lý xã hội bằng pháp luật, đã đem lại nhiều thành tựu nhất định. Đó là, mọi hoạt động xã hội đều phải tuân theo pháp luật, người dân được làm những việc mà pháp luật không cấm, cán bộ nhà nước làm việc theo pháp luật quy định. Trong quá trình hoạt động quản lý xã hội, đội ngũ cán bộ về cơ bản hoạt động theo đúng pháp luật. Đồng thời, do rèn luyện, tu dưỡng, đại đa số đội ngũ cán bộ, đảng viên đã hình thành, tu dưỡng phẩm chất đạo đức công bộc của dân. Tuân thủ theo pháp luật một cách bắt buộc nghiêm ngặt, dần dần thành thói quen tốt của cán bộ công chức, những thói quen ấy sẽ là cơ sở cho việc giáo dục, củng cố phẩm chất đạo đức như trung thành, tự giác, mẫn cán... Đồng thời, cán bộ tu dưỡng, rèn luyện đạo đức tốt sẽ bớt tham lam, tránh được tệ hối lộ, tham nhũng; bớt cửa quyền, hách dịch, tránh được độc tài, vi phạm dân chủ; bớt đố kỵ, ganh ghét sẽ tránh được mất đoàn kết, đấu đá tranh giành quyền lực, lợi ích... Xã hội luôn luôn vận động, phát triển làm cho nhu cầu đời sống con người cũng vận động, biến đổi theo. Trong bất cứ xã hội nào, quy định của pháp luật cũng không thể bao quát hết mọi lĩnh vực của đời sống. Cán bộ không tu dưỡng đạo đức, sẽ dẫn đến không tự giác chấp hành pháp luật, tìm cách lách luật để trục lợi.

Vì thế, dù xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhưng không thể thiếu tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức tốt trong đội ngũ cán bộ. Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng đang diễn ra quyết liệt và đạt được những kết quả nhất định. Một bộ phận không nhỏ cán bộ suy thoái phẩm chất đạo đức nghiêm trọng, vì lợi ích cá nhân nên tìm mọi cách trục lợi, tham nhũng, nhận hối lộ... đã bị xử lý nghiêm minh.

Năm 2023, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 606 tổ chức đảng, hơn 24.160 đảng viên. Trong đó, thi hành kỷ luật 459 đảng viên do tham nhũng, 8.863 đảng viên do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm những điều đảng viên không được làm. Đặc biệt, có 19 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị kỷ luật. Trong 6 tháng đầu năm 2024, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 308 tổ chức đảng, 11.005 đảng viên. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 47 cán bộ diện Trung ương quản lý. 

Đúng quy định pháp luật, phù hợp lương tâm, tình cảm

Với cách làm nghiêm túc, căn cứ vào quy định pháp luật, Điều lệ Đảng để tiến hành kỷ luật cán bộ vi phạm, đã làm cho người vi phạm bị xử lý tâm phục, khẩu phục, mang tính răn đe cao trong Đảng và hệ thống chính trị.  Những tội danh như tham nhũng, hối lộ, suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên được tổ chức đảng kiểm điểm làm rõ sai phạm, được pháp luật xét xử công khai, luận tội đúng mức, hình phạt nghiêm khắc, đã tiếp tục củng cố lòng tin trong nhân dân về nhà nước pháp quyền công minh.

Nhà nước pháp quyền là nhà nước thượng tôn pháp luật, cán bộ từ Trung ương đến địa phương đều phải tuân theo pháp luật. Tính phổ biến của quy phạm pháp luật là cơ sở công bằng xã hội, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Điều này đã được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo: Phải xây dựng cho được một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể” tham nhũng, tiêu cực; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám” tham nhũng, tiêu cực; và một cơ chế bảo đảm để “không muốn”, “không cần” tham nhũng, tiêu cực; tránh bệnh sợ trách nhiệm, sợ sai, không dám làm, chống tình trạng tham nhũng tập thể, tham nhũng có tổ chức, lợi ích nhóm. Kỷ luật nghiêm minh với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai một cách bài bản, thuyết phục... Xử là phải xử nghiêm theo đúng quy định của pháp luật và phù hợp với lương tâm, tình cảm chứ không phải cứ xử nặng mới là tốt. Điều này đã tạo ấn tượng sâu sắc không chỉ trong nhân dân mà ngay những người phạm tội cũng cảm thấy ăn năn, hối cải. Nhiều người đã phải khóc trước tòa vì sự ăn năn, hối lỗi.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đã khẳng định: Tiếp tục triển khai mạnh mẽ, đồng bộ các giải pháp, kiên quyết, kiên trì đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực theo đúng phương châm “không ngừng, không nghỉ”, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Phòng, chống tham nhũng được thực hiện tốt sẽ giữ được lòng tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước, với đội ngũ cán bộ. Đội ngũ cán bộ trong sạch, bộ máy vận hành đồng bộ, trên dưới hành động thống nhất theo pháp luật sẽ tạo nên hành lang pháp lý cho xã hội và cá nhân tuân theo.

Việc kế thừa, vận dụng những bài học lịch sử từ truyền thống ông cha và học tập, làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết hài hòa mối quan hệ pháp trị và đức trị trong tình hình hiện nay là vô cùng quan trọng và cần thiết. Khi "đức trị" đạt đến sự tự giác, là nhân tố để xây dựng Đảng ta là đạo đức, là văn minh, thì tinh thần thượng tôn pháp luật, hiệu lực, hiệu quả pháp trị sẽ đạt mức tối đa. Tinh thần này cần được triển khai trong toàn Đảng và hệ thống chính trị chứ không chỉ có sự cố gắng, kiên trì, kiên quyết từ Trung ương./.

ST.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác thông tin đối ngoại: Một số bài học cho giai đoạn phát triển mới

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng sôi động, phong phú của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp tham gia hoạt động tuyên truyền đối ngoại cũng như công tác ngoại giao. Người đã để lại những bài học lớn và sâu sắc, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô cùng quan trọng đối với công tác thông tin đối ngoại.

​ Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Đoàn Nghị sỹ Quốc hội Anh sang thăm Việt Nam (4-5-1957). (Ảnh: Tư liệu).

​ Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Đoàn Nghị sỹ Quốc hội Anh sang thăm Việt Nam (4-5-1957). (Ảnh: Tư liệu).

NHỮNG BÀI HỌC LỚN

Thứ nhất, xác định nội dung tuyên truyền phù hợp, bám sát mục tiêu cách mạng.

Trong thời gian 30 năm hoạt động tại nước ngoài tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã đi đến nhiều nước trên thế giới, vừa lao động mưu sinh, vừa tự học tập, hoạt động cách mạng và nghiên cứu. Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa, viết nhiều bài đăng trên các báo “Người cùng khổ”, “Đời sống thợ thuyền”,... Đặc biệt, Người viết tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” lên án mạnh mẽ chế độ thực dân, tố cáo sự thối nát, bất công, vô nhân đạo của chủ nghĩa thực dân Pháp và chế độ thống trị của chúng tại Đông Dương; đồng thời, thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân các nước thuộc địa. Tất cả các bài viết đều được truyền bá trong các tầng lớp nhân dân và bí mật chuyển về nước. Với những hoạt động này, Nguyễn Ái Quốc khẳng định nguyện vọng tự do, ý chí bảo vệ nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam là chính đáng.

Ở giai đoạn này, công tác thông tin đối ngoại được Người hướng đến mục tiêu tuyên truyền cách mạng trong nhân dân các nước thuộc địa; đồng thời, tố cáo, lên án những chính sách cai trị cùng các thủ đoạn đàn áp, cướp bóc của thực dân Pháp ở Đông Dương, thuyết phục nhân dân tiến bộ Pháp đồng tình, ủng hộ cuộc đấu tranh vì tự do và công lý của nhân dân Việt Nam.

Năm 1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông, sáng lập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, ra báo Thanh niên để truyền bá những tư tưởng cách mạng chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước, thổi lên ngọn lửa yêu nước trong lòng nhân dân; đồng thời mở lớp đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam, chuẩn bị quan trọng về tổ chức để tiến tới thành lập chính đảng của giai cấp vô sản ở Việt Nam. Nhờ đó, nhân dân cũng nhận định được về tình hình thế giới, đặc biệt là những biến chuyển diễn ra trong lịch sử các cường quốc, hướng mọi người đến cái nhìn về cuộc sống tự do, hạnh phúc của Đảng Cộng sản đem lại.

Ngay sau khi nước ta tuyên bố độc lập ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp lãnh đạo và triển khai công tác đối ngoại. Đồng hành với các hoạt động đối ngoại của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác thông tin đối ngoại giai đoạn này nhằm mục đích hướng tới việc quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam tự do, dân chủ, độc lập và hòa bình, muốn làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ, không gây thù oán với một ai và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ, làm cho dư luận thế giới thấy rõ thiện chí hòa bình của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dưới sự chỉ đạo sát sao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác thông tin đối ngoại được đẩy mạnh nhằm mở rộng quan hệ đối ngoại phục vụ công cuộc xây dựng miền bắc; tranh thủ sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam; vận động, thúc đẩy hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam và phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh; tạo ra cục diện mới đấu tranh ngoại giao sắc bén trong đàm phán, nhất là tại Hội nghị Pa-ri, kết hợp với mặt trận quân sự và chính trị để kết thúc chiến tranh một cách có lợi nhất cho đất nước, tạo tiền đề cho thắng lợi của cuộc tổng tiến công Mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Thứ hai, xác định đối tượng tuyên truyền có trọng tâm, trọng điểm.

Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng tới tính riêng biệt và đặc trưng của từng nhóm đối tượng công chúng, sao cho cách tiếp cận, phương thức truyền tải phù hợp và hiệu quả nhất. Các nhóm đối tượng được phản ánh trong những tác phẩm chính luận lớn, những bài diễn văn hay những lần trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài của Chủ tịch Hồ Chí Minh gồm:

(1) Đảng, Chính phủ và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa.

Tiêu biểu là lá thư gửi Stalin thông báo về sự tồn tại của dân tộc Việt Nam cùng với cuộc chiến giành lại độc lập từ thực dân Pháp năm 1945; lá thư gửi Chính phủ Liên Xô đề nghị đưa vấn đề Việt Nam ra trước Hội đồng Liên Hợp Quốc; chùm bài báo “Thư từ Trung Quốc” đăng trên báo “Notre voix” (Tiếng nói của chúng ta) từ 1938-1939 nói về tinh thần chiến đấu ngoan cường của nhân dân Trung Quốc chống lại phát xít Nhật; loạt 10 bài báo đăng trên tờ “Cứu vong nhật báo” của Trung Quốc với bút danh Bình Sơnnăm 1940; các bài trả lời phỏng vấn báo chí các nước Liên Xô và XHCN Đông Âu….

(2) Chính giới và nhân dân các nước đế quốc.

Tiêu biểu là việc Nguyễn Ái Quốc gửi Bản yêu sách 8 điểm của Nhân dân An Nam năm 1919 tới hội nghị các nước thắng trận trong Chiến tranh Thế giới lần thứ Nhất. Bản yêu sách sau đó được đăng lại bởi cơ quan ngôn luận Đảng Xã hội Pháp với nhan đề “Quyền các dân tộc”. Ngoài ra, còn có thư gửi Tổng thống Mỹ Truman năm 1946 đề nghị Mỹ ủng trợ cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam; trả lời phỏng vấn báo Newsweek năm 1949; thư gửi Chính phủ, Quốc hội và Nhân dân Pháp 1947...

(3) Nhân dân các nước thuộc địa (tại châu Phi, Trung Đông, Mỹ La Tinh).

Người gửi rất nhiều thông điệp, thể hiện sự đồng cảm, kêu gọi nhân dân các dân tộc thuộc địa tăng cường đoàn kết trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa; ra sức ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh.

(4) Giai cấp công nhân, những người theo chủ nghĩa cộng sản trên thế giới.

Năm 1922 Nguyễn Ái Quốc lập ra báo Người cùng khổ (Le Paria) - cơ quan ngôn luận của Hội Liên hiệp Thuộc địa, phản ánh nội dung xoay quanh tinh thần đoàn kết và giải phóng con người. Nguyễn Ái Quốc cũng viết bài cộng tác với các báo cách mạng nổi tiếng thế giới như: L' Humanité (Nhân đạo) của Đảng Cộng sản Pháp, La Vie d'Ouvriers (Đời sống thợ thuyền) của Liên đoàn Lao động Pháp, Mezdunarodnaia Telegramma (Điện tín Quốc tế) của Quốc tế Cộng sản III, Pravda (Sự thật) của Đảng Cộng sản Liên Xô...

(5) Việt kiều ở các nước đế quốc đấu tranh cho cuộc đấu tranh giành độc lập của nước nhà.

Tiêu biểu là Lời kêu gọi gửi tới người Việt tại Pháp tháng 5/1945 tán dương sự phản đối của Việt kiều tại Anh đòi Chính phủ rút quân Anh - Ấn khỏi miền Nam Việt Nam; đồng thời kêu gọi họ đại diện mạnh mẽ cho tiếng nói của dân tộc Việt Nam trên thế giới.

(6) Người dân Việt Nam ở trong nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng hoạt động thông tin nhằm cổ vũ nhân dân đi theo cách mạng và học hỏi kinh nghiệm đấu tranh, tổ chức của các nước khác. Người thành lập báo Thanh niên - Cơ quan ngôn luận của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội nhằm đóng góp vào việc truyền bá tư tưởng Mác - Lênin trong nhân dân Việt Nam, tăng cường hiểu biết của người dân về tình hình thế giới, lịch sử của các nước đế quốc, tình hình ở Liên Xô. Năm 1926, Người thành lập báo Công nông; năm 1927, thành lập báo Lính Kách mệnh, trong đó thường xuyên có một số tin bài tiếng nước ngoài như Hán, Anh, Pháp... với nội dung đa dạng, bám sát mục tiêu cách mạng.

Thứ ba, đa dạng phương thức và phong cách truyền thông đối ngoại của Hồ Chí Minh.

Trước hết, báo chí là phương thức truyền thông đối ngoại chủ lực mà Hồ Chí Minh sử dụng. Hồ Chí Minh viết báo - làm báo - tiếp xúc với báo chí một cách tích cực, chủ động để tận dụng tối đa hiệu quả mà phương thức truyền thông này mang lại.

Trong suốt thời gian hoạt động ở nước ngoài, Người thường xuyên viết các bài báo dưới nhiều thứ tiếng khác nhau, đăng trên các tờ báo khác nhau để vạch ra tội ác của thực dân Pháp và nỗi khổ của nhân dân lao động, trong đó có Việt Nam. Các bài báo Vấn đề dân bản xứ, Phong trào công nhân ở Viễn Đông,... đăng trên L’Humanité, La Vie Ouvrière, Thông tin Quốc tế, Quốc tế Nông dân, báo Sự thật… hướng tới cả nhân dân các nước thuộc địa và nhân dân Việt Nam. Đồng thời, các bài báo trên các tờ báo nước ngoài là phương tiện để Hồ Chí Minh trực tiếp vạch mặt tội ác của thực dân Pháp, phản đối hoạt động chiến tranh của các thế lực phản động Mỹ. Bên cạnh đó, đây là kênh thông tin giúp nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới hiểu rõ bản chất của các đế quốc, tính phi nghĩa của các hành động xâm lược, can thiệp, qua đó thúc đẩy sự ủng hộ nhân dân Việt Nam.

Đáng chú ý, Hồ Chí Minh cũng chủ động trả lời phỏng vấn báo chí như một kênh hữu hiệu để dư luận thế giới hiểu rõ tình hình, chủ trương của Việt Nam. Tính từ năm 1945, Người đã tham gia trả lời hơn 100 bài phỏng vấn báo chí trong và ngoài nước.

Bên cạnh đó, Người cũng triển khai hoạt động thông tin đối ngoại thông qua việc xuất bản sách và nhiều tác phẩm chính luận đặc sắc, có tác động lớn lao tới dư luận trong nước và cộng đồng quốc tế. Cuốn Đường Kách mệnh tổng hợp những bài giảng của Người tại các lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc) trong những năm 1925-1927. Tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” được xuất bản lần đầu tiên năm 1925 ở thủ đô Pa-ri, Pháp, được đánh giá là một trong những tác phẩm phóng sự vừa giàu chất báo chí, vừa giàu chất văn học.

Đặc biệt, Hồ Chí Minh rất chú trọng sử dụng phương thức truyền thông dưới dạng tiếp xúc, quảng bá. Thứ nhất, Người tích cực tham gia và phát biểu trên các diễn đàn quốc tế lớn. Trong quá trình tham dự các buổi sinh hoạt chính trị đó, Người đã khéo léo lồng ghép các vấn đề thuộc địa và tình hình Việt Nam, từ đó lên án mạnh mẽ chủ nghĩa thực dân. Thứ hai, Người tham gia sinh hoạt tại nhiều câu lạc bộ địa phương như Phôbua, Hội nghệ thuật và khoa học, Hội những người bạn của nghệ thuật, Hội du lịch, Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, định hướng tư tưởng và vận động các thành viên tham gia vào cuộc đấu tranh dân tộc. Thứ ba, Người thành lập Hội Liên Hiệp thuộc địa và là thành viên của Ban chấp hành để kêu gọi sự đoàn kết của các nước trong công cuộc giải phóng khỏi thực dân. Thông qua việc tạo dựng vị trí của mình tại các trung tâm phong trào quốc tế, Người có cơ hội để nói lên các vấn đề về thuộc địa và Việt Nam.

Thứ tư, về phong cách tuyên truyền đối ngoại.

Có thể thấy rõ sự kiên định, thẳng thắn của Hồ Chí Minh trong công tác tuyên truyền đối ngoại khi lên án chủ nghĩa thực dân và kẻ thù. Trên các diễn đàn, hội nghị, Người sẵn sàng phê bình Đảng Cộng sản Pháp chưa có sự quan tâm đúng mực với tình hình các nước thuộc địa. Khi tiếp cận nhân dân các nước trên thế giới cũng như nhân dân Việt Nam, Người lại thực sự giản dị, thái độ chân thành dễ cảm hóa và thuyết phục lòng người. Với bất kì hoạt động tuyên truyền đối ngoại nào, Người cũng nhất quán quan điểm và khẳng định mạnh mẽ thông điệp chống lại áp bức bóc lột và đòi hỏi nhân quyền.

Phong cách viết cũng như đối thoại của Hồ Chí Minh luôn ngắn gọn, súc tích, lý lẽ khách quan, khoa học lồng ghép trong yếu tố văn hóa, nghệ thuật xen lẫn với sự hài hước, dí dỏm rất tinh tế.

PHÁT HUY GIÁ TRỊ NHỮNG BÀI HỌC QUÝ TRONG CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI

Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, những biến chuyển nhanh chóng trong tình hình thế giới và khu vực đang đặt ra cho công tác thông tin đối ngoại cả thuận lợi và thách thức đan xen. Thuận lợi là những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới, cơ đồ và vị thế ngày càng được nâng cao của đất nước. Địa bàn và đối tượng của công tác thông tin đối ngoại ngày càng mở rộng, có nhiều kênh thông tin, quảng bá hình ảnh Việt Nam. Đặc biệt sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ giúp thông tin đối ngoại tiếp cận các phương tiện, kỹ thuật thông tin hiện đại, những phương thức chuyển tải thông tin mới phong phú, đa dạng và hiệu quả. Mặt khác, công tác thông tin đối ngoại cũng đứng trước nhiều thách thức. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, nhiều trào lưu, khuynh hướng tư tưởng, thông tin sai trái dễ xâm nhập vào xã hội ta, tác động tới tư tưởng, tình cảm và lối sống của con người Việt Nam. Các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước tiếp tục sử dụng những chiêu bài “dân chủ, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”, “bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ” để xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Việt Nam, kích động nhằm làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, công tác thông tin đối ngoại đã từng bước trưởng thành và đạt nhiều thành tựu quan trọng, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những tư tưởng, phương châm đối ngoại kinh điển mà Bác chỉ ra như “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “ngoại giao tâm công”, “ngũ tri” (biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng, biết biến) cũng như những bài học tuyên truyền làm sao để “dân nhớ, dân hiểu, dân tin và dân làm theo” mãi là những bài học nằm lòng đối với đội ngũ cán bộ làm công tác thông tin đối ngoại.

Trong tình hình hiện nay, thực hiện phương châm mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra: Đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đối ngoại”, yêu cầu cấp thiết đối với hoạt động thông tin đối ngoại Việt Nam là cần đổi mới tư duy và nâng cao khả năng thích ứng. Công tác Thông tin đối ngoại cần được triển khai toàn diện, chủ động, tích cực, đổi mới theo hướng hiện đại. Phát huy tính chủ động, đổi mới, sáng tạo, đa dạng hóa các phương thức tuyên truyền, đặc biệt là phương thức truyền thông mới trên nền tảng Internet, mạng xã hội, không gian mạng.  

Công tác thông tin đối ngoại sẽ tiếp tục học tập và phát huy các bài học lý luận và thực tiễn quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không ngừng đổi mới và sáng tạo, nâng cao hiệu quả quảng bá cơ đồ, tiềm năng đất nước, nâng cao uy tín và vị thế quốc gia, góp phần xứng đáng vào việc triển khai thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng./.

ST.