Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2024

 KIẾN TẠO MÔI TRƯỜNG ĐỂ CÁN BỘ DÁM NGHĨ, DÁM LÀM 

Yêu cầu kiến tạo môi trường làm việc để cán bộ, công chức chủ động, không chỉ dám nghĩ mà còn dám làm ngày càng trở nên cấp thiết, cấp bách; mà một trong những việc cần làm ngay là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền.

1. Phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương mười (khóa XIII), đề cập các phương hướng, giải pháp chiến lược trong thời gian tới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng, phải đẩy mạnh phân cấp, phân quyền với phương châm "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm".

Rõ ràng, phân cấp, phân quyền vẫn là mối quan tâm lớn và mang tính thời sự sâu sắc hiện nay, nhất là trong mối quan hệ giữa các bộ, ngành với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; giữa cấp tỉnh với cấp huyện và giữa cấp huyện với cấp xã. Từ đầu nhiệm kỳ 2020-2025 đến nay, Thành ủy Hà Nội đã chỉ đạo đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trên tinh thần “nơi nào làm tốt thì giao cho nơi đó”.

Từng có câu chuyện dự án xây dựng trường trung học phổ thông làm thủ tục cả mấy năm mà không được duyệt, trong khi nhu cầu học tập của con em địa phương ngày càng cấp thiết. Nguyên do là trường trung học phổ thông do cấp thành phố quản lý, nên việc đầu tư xây dựng trường được hiểu là phải do cấp thành phố làm chủ đầu tư; mà cấp thành phố thì đầu việc quá lớn, không thể “tay năm tay mười” mà triển khai được ngay. Sự vướng mắc phân cấp này còn khiến không ít trường bị hỏng hóc, xuống cấp chỗ nọ, chỗ kia nhưng mãi không sửa được vì phải chờ thành phố... Sau khi xem xét kỹ về pháp lý và các vấn đề liên quan, lãnh đạo thành phố Hà Nội đã quyết định phân cấp “Đầu tư, cải tạo, nâng cấp, mở rộng trường trung học phổ thông” cho các quận, huyện. Nhờ đó, tiến độ sửa chữa, xây dựng mới các trường trung học phổ thông tăng nhanh, khiến nhiều trường mới kịp đi vào hoạt động ngay trong năm học vừa qua.

Là đơn vị dẫn đầu cả nước về phân cấp, ủy quyền, Hà Nội đã điều chỉnh bổ sung quy định phân cấp cho cấp huyện 9 lĩnh vực, gồm: Đầu tư, cải tạo, nâng cấp, mở rộng trường trung học phổ thông; đầu tư hệ thống nước sạch ở vùng sâu, vùng xa; công trình xử lý nước thải cục bộ không kết nối được với hệ thống thu gom nước, xử lý nước thải tập trung của thành phố; đầu tư chợ hạng 1; cấp điện chiếu sáng ngõ, ngách trên địa bàn các quận; quản lý tượng đài, tranh hoành tráng; di tích; bến, bãi đỗ xe; đèn tín hiệu giao thông. Kết quả sau hơn 1 năm thực hiện, Hà Nội đã tạo "bệ phóng" cho các địa phương có nguồn lực tốt, tăng tính chủ động, cải cách hành chính thực chất cho cấp huyện; đáp ứng mong muốn, đề xuất từ cơ sở.

Phân cấp, phân quyền có hiệu quả tích cực là thế, nhưng hiện nay, việc phân cấp, phân quyền vẫn còn “dư địa” lớn cần quan tâm. Việc chậm phân cấp, phân quyền ngày nào là gây ra sự lãng phí ngày đó. Ngay như việc xác định định mức kinh tế - kỹ thuật các dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước nhiều lĩnh vực ở các địa phương đều phải trông chờ vào các bộ, ngành là ví dụ. Vì thiếu định mức làm chuẩn, nhu cầu đổi mới cung cấp dịch vụ công, khắc phục những hạn chế tồn tại trong nhiều lĩnh vực văn hóa xã hội vẫn đang bị trói buộc, cản trở.

Câu chuyện gây bức xúc trên dư luận vừa qua là trường hợp nhà máy lắp ráp ô tô của Mercedes-Benz thành phố Hồ Chí Minh nộp hồ sơ 5 năm không hoàn thành được thủ tục cấp lại giấy phép cũng chính là ví dụ điển hình cho thấy sự bất cập do chậm phân cấp, phân quyền. Cho nên, nhất thiết phải đẩy mạnh, tăng tốc phân cấp, phân quyền cho các địa phương, bởi lợi ích to lớn của việc này chính là làm cho nguồn lực được khơi thông, công việc được trôi chảy.

2. Nghị quyết số 18-NQ/TƯ của Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (khóa XII) đã nêu rõ: “Thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, hợp lý giữa trung ương và địa phương, giữa cấp trên và cấp dưới, gắn quyền hạn với trách nhiệm; đồng thời, xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ bằng các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, đề cao trách nhiệm giải trình và tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Khuyến khích sự năng động, sáng tạo và phát huy tính tích cực, chủ động của các cấp, các ngành, các địa phương trong việc xây dựng, kiện toàn tổ chức, tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế”. Đây chính là đường hướng ở tầm vĩ mô, khái quát; nhưng đồng thời cũng gợi mở cách làm, xác định việc cần làm của các cấp, các ngành trong phân cấp, phân quyền. Quan trọng là tinh thần chủ động, dám làm phải được thể hiện từ tư tưởng, nhận thức đến hành động của cán bộ lãnh đạo, những người có trách nhiệm đặt bút ký phân cấp, phân quyền.

Trên thực tế, cái khó nhất của phân cấp, phân quyền chính là sự bứt phá về tư tưởng, nhận thức. Nếu tư tưởng các bộ vẫn còn muốn “ôm việc” thì rất khó đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương; thay vào đó nếu các bộ sẵn sàng san sẻ, lấy hiệu quả chung là mục tiêu thì việc phân cấp, phân quyền sẽ nhanh chóng được cải thiện. Những ví dụ về phân cấp, phân quyền tại Hà Nội vừa qua là cơ sở thực tiễn cho thấy, tính khả thi, sự cần thiết, hiệu quả của phân cấp, phân quyền. Đó còn là cơ sở tiếp thêm động lực cho các cấp, các ngành, các tỉnh, thành khác tự tin, chủ động và dám làm trong phân cấp, phân quyền.

Để đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương, qua đó kiến tạo môi trường chủ động, dám làm cần phải tăng tốc hoàn thiện thể chế. Bản chất của phân cấp là việc cấp trên chuyển giao những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định cho cấp dưới thực hiện với nguyên tắc cấp dưới có đủ điều kiện, năng lực thực hiện những nhiệm vụ đó. Cơ chế chính là bảo đảm việc thực hiện đúng nguyên tắc và bảo đảm gắn với giao nhiệm vụ là phải có các điều kiện, nguồn lực thực hiện khả thi. Phân cấp, phân quyền phải thực tế, tuyệt đối tránh hình thức, duy ý chí. Phân cấp, phân quyền phải gắn với đôn đốc, kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực.

Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng đối với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền rất quan trọng. Đây là việc khó, nếu không đưa vào các nghị quyết, chỉ thị để cấp ủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị thì khó thành công. Nếu không có sự chỉ đạo quyết liệt từ cấp ủy, trước việc khó như phân cấp, phân quyền, tâm lý cầu an, né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm sẽ lại nổi lên, cản trở dòng chảy đổi mới, dòng chảy kiến tạo môi trường chủ động, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá trong cán bộ, công chức.

MINH NGUYỆT

 CHÚNG TA CÓ QUYỀN TỰ HÀO, NHƯNG CHÚNG TA KHÔNG ĐƯỢC TỰ MÃN

“Về mặt văn hóa, thì dù ai mù quáng đến mấy cũng phải thấy rằng chế độ xã hội chủ nghĩa của ta thắng lợi vẻ vang.

Chúng ta có quyền tự hào, nhưng chúng ta không được tự mãn”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Một thắng lợi vẻ vang”, bút danh T.L, đăng trên Báo Nhân dân, số 2389, ngày 03 tháng 10 năm 1960.

Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập (02/9/1945), Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng và đặt lên hàng đầu sự nghiệp giáo dục, đào tạo và xây dựng nền văn hoá mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nền văn hoá do nhân dân lao động sáng tạo, giữ gìn và hưởng thụ - đó là nền văn hoá xã hội chủ nghĩa tiến bộ, hiện đại, nhân văn và không ngừng phát triển.

Thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về giá trị, sức mạnh và sự cần thiết của việc coi trọng xây dựng và phát triển văn hoá, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, nghị quyết nhằm xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phát triển văn hoá đi đôi với phát triển kinh tế, xã hội để hướng tới sự phát triển bền vững của đất nước. Quan tâm xây dựng nền văn hóa VIệt Nam tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc; không ngừng phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, nếp sống văn hóa, văn minh; cải thiện nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, huy động, khơi dậy tinh thần giữ gìn, sáng tạo văn hóa của cộng đồng xã hội. Qua đó, đã không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống và làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân; các nền tảng giá trị đạo đức được quan tâm gìn giữ, các qui tắc ứng xử văn hóa được hình thành, từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh trên địa bàn dân cư.

Khắc ghi lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta luôn nêu cao ý thức, trách nhiệm trong xây dựng, phát triển nền văn hoá Việt Nam phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, truyền thống tốt đẹp của quân đội, trở thành một giá trị văn hoá quân sự với những nét đặc trưng tiêu biểu được thể hiện tập trung trong 10 lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng, 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân. Thực hiện chất lượng, hiệu quả phong trào“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, gắn với phong trào thi đua Quyết thắng, các chương trình hành động và được cụ thể hóa thành cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội”, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, tiêu biểu, đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, Nhân dân giao phó.


QĐND

 MÃI RẠNG NGỜI MỐI QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM-CUBA 

Bất cứ khi nào Việt Nam tiến hành các hoạt động ngoại giao, các thế lực thù địch, phản động đều tìm cách xuyên tạc, bôi nhọ, bóp méo. Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Cuba vừa qua cũng không phải là ngoại lệ.

Trước thực tế đó, đấu tranh phản bác những luận điệu bôi nhọ, bóp méo của các thế lực thù địch là vấn đề mang tính cấp thiết, trong đó báo chí cách mạng phải là lực lượng tiên phong, đi đầu.

1. Mối quan hệ Việt Nam - Cuba là mối quan hệ đặc biệt. Trải dài theo năm tháng, mối quan hệ đó không ngừng được bồi tụ, vun đắp và mãi mãi rạng ngời. Nhằm thắt chặt và đưa tình đoàn kết hữu nghị, thủy chung, trong sáng Việt Nam - Cuba lên một tầm cao mới, vào 21h45 ngày 25-9-2024 theo giờ địa phương (sáng 26-9-2024 giờ Hà Nội), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến sân bay quốc tế Jose Marti ở thủ đô La Habana, bắt đầu chuyến thăm cấp Nhà nước tới Cộng hòa Cuba theo lời mời của Bí thư Thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba Miguel Diaz Canel Bermudez và phu nhân.

Ngay khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bắt đầu chuyến thăm chính thức tới Cuba, như thường lệ, nằm trong âm mưu, thủ đoạn chống phá Việt Nam không ngừng nghỉ, trên một số trang mạng xã hội phản động như Việt Tân, Nguyễn Văn Đài… hay các trang báo như “Thoibao.de”… lập tức đăng tải nhiều hình ảnh bôi nhọ mối quan hệ hữu nghị Việt Nam - Cuba cũng như chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tới Cuba.

Bằng những lời lẽ xuyên tạc, bóp méo, các thế lực thù địch, tổ chức phản động đã tìm mọi cách chia rẽ tình đoàn kết giữa hai dân tộc, phủ nhận vai trò và sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình của nhân dân Cuba trong kháng chiến cứu nước và trong sự nghiệp xây dựng đất nước của nhân dân Việt Nam; cũng như sự giúp đỡ về vật chất, tinh thần của nhân dân Việt Nam đã dành cho Cuba. Đây là âm mưu, thủ đoạn hết sức nham hiểm, thâm độc của các thế lực thù địch. Bởi bất cứ khi nào Việt Nam tiến hành các hoạt động ngoại giao, chúng đều rắp tâm bôi nhọ, bóp méo và chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Cuba lần này cũng không là ngoại lệ. Trước thực tế đó, đấu tranh phản bác những luận điệu bôi nhọ, bóp méo của các thế lực thù địch là vấn đề mang tính cấp thiết, trong đó báo chí cách mạng phải là lực lượng tiên phong.

2. Vốn là một quốc gia cách xa Việt Nam nửa vòng trái đất, khi nhân dân Cuba vừa trải qua một cuộc cách mạng và thành công ngày 1-1-1959, nhưng đến ngày 2-12-1960, Cộng hòa Cuba đã thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Cuba cũng là nước duy nhất ở khu vực Mỹ Latinh đã đến với nhân dân Việt Nam lúc đó, với tư cách là người bạn chân thành, người đồng chí tin cậy, sẵn sàng chia ngọt, sẻ bùi trong khó khăn hoạn nạn.

Tháng 9-1963, Ủy ban Cuba đoàn kết với miền Nam Việt Nam được thành lập. Ngay sau khi ra đời, Ủy ban đã khởi xướng, động viên, tập hợp lực lượng và tổ chức các tầng lớp nhân dân Cuba chia lửa với nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh đánh phá miền Bắc Việt Nam, tại thủ đô La Habana, nhân dân Cuba đã góp phần quan trọng vào thành công của Hội nghị đoàn kết Á - Phi - Mỹ Latinh (từ ngày 3 đến 15-1-1966). Hội nghị coi việc đoàn kết với Việt Nam, coi việc bảo vệ chính nghĩa của nhân dân Việt Nam là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược cách mạng của các dân tộc Á, Phi, Mỹ Latinh.

Cũng trong tháng 1-1966, tại cuộc mít tinh ở Quảng trường cách mạng Jose Marti ở thủ đô La Habana (Cuba), Lãnh tụ Cuba Fidel Castro phát biểu: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”. Sau lời phát biểu đầy tình nghĩa của Lãnh tụ Fidel Castro, ngày 13-3-1967, tại thủ đô La Habana, nhân “Tuần đoàn kết với nhân dân Việt Nam”, công nhân Cuba đã tổ chức “Ngày sản xuất đoàn kết với Việt Nam”, “Ngày thi đua ủng hộ Việt Nam”...

Nhìn chung, trong những năm 60 của thế kỷ XX, dù còn nhiều khó khăn về kinh tế do bị bao vây, cấm vận, Chính phủ và nhân dân Cuba vẫn dành cho Việt Nam sự ủng hộ chân thành, không toan tính cả về vật chất và tinh thần. Cuba đã cử nhiều chuyên gia, bác sĩ, nhân viên y tế sang hỗ trợ, giúp đỡ điều trị cho các thương binh và người dân bị nạn của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, cử chuyên gia cầu đường sang tham gia cùng bộ đội Trường Sơn mở rộng đường mòn Hồ Chí Minh, giúp đào tạo hơn 1.000 sinh viên Việt Nam ở trình độ đại học và cao học. Các tàu thuyền Cuba vẫn cập cảng Hải Phòng vận chuyển hàng cứu trợ của nhân dân Cuba giúp nhân dân Việt Nam.

Trên mặt trận ngoại giao, Cuba giúp vận động các nước ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc. Năm 1973, Cuba đã tặng Việt Nam 5 công trình quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội với tổng trị giá khoảng 80 triệu USD, bao gồm: Khách sạn Thắng Lợi tại Thủ đô Hà Nội, Bệnh viện Việt Nam - Cuba tại Đồng Hới (tỉnh Quảng Bình), đường Xuân Mai, Trại bò giống Ba Vì, Xí nghiệp gà Lương Mỹ. Đặc biệt, khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, từ 8h ngày 27-1-1973, cả nước Cuba tổ chức nhiều hoạt động mừng thắng lợi. Các công sở ngừng làm việc, từng đoàn người ùn ùn kéo đến Đại sứ quán Việt Nam hô khẩu hiệu và hát vang những bài ca cách mạng.

Đến ngày 16-9-1973, Chủ tịch Fidel Castro dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Đảng và Chính phủ Cuba sang thăm và chia vui với Việt Nam. Với sự kiện này, Chủ tịch Fidel Castro trở thành vị nguyên thủ nước ngoài đầu tiên đến thăm vùng giải phóng miền Nam Việt Nam trong khói bom lửa đạn.

3. Tri ân sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của Cuba, nhân dân Việt Nam nguyện cố gắng hết mình đoàn kết, ủng hộ với nhân dân Cuba trong mọi hoàn cảnh như đồng chí Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư (sau đó là Chủ tịch nước) khẳng định tại Lễ kỷ niệm 50 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Cuba (2009): “Ủng hộ và đoàn kết với Cuba là lương tâm và trách nhiệm của mỗi người Việt Nam. Đó là tư tưởng, hành động nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng chính nghĩa của nhân dân Cuba anh em”.

Tiếp đó, trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Cuba tháng 3-2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Với nhân dân Việt Nam, hai tiếng Cuba đồng nghĩa với biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng, khí phách hiên ngang, ý chí quật cường, niềm tin mãnh liệt vào lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quan hệ Việt Nam - Cuba là quan hệ anh em, đồng chí thân thiết, chân thành, trong sáng và đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ ở mỗi nước, đã được thử thách, rèn luyện qua hơn nửa thế kỷ đến ngày nay và đang tiếp tục phát triển tốt đẹp, trở thành biểu tượng của thời đại”.

Hiện nay, Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ hai của Cuba tại khu vực châu Á, với các mặt hàng xuất khẩu chính là gạo, than đá, thiết bị điện tử, điện gia dụng, quần áo, giày dép; các mặt hàng nhập khẩu từ Cuba chủ yếu là dược phẩm, nguyên liệu sản xuất trong ngành Dược. Trong giai đoạn năm 2019 trở về trước, kim ngạch xuất, nhập khẩu hai nước luôn đạt tỷ lệ tăng trưởng ấn tượng ở mức trên 20%/năm. Trong 8 tháng năm 2024, kim ngạch trao đổi thương mại song phương đạt 134,7 triệu USD, tăng 187% so với cùng kỳ năm 2023; trong đó, Việt Nam xuất khẩu sang Cuba đạt giá trị 133,36 triệu USD, tăng 184,3% và nhập khẩu tổng giá trị 1,33 triệu USD từ Cuba.

Trên nền tảng vững chắc của tình hữu nghị sâu sắc và lịch sử lâu đời, quan hệ Việt Nam - Cuba sẽ tiếp tục được củng cố và phát triển. Nhân dịp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước tới Cuba theo lời mời của Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba Miguel Diaz Canel Bermudez và phu nhân, hai bên đã ra “Tuyên bố chung” về tăng cường quan hệ đoàn kết truyền thống, hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện trong giai đoạn mới, trong đó “tái khẳng định mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, hợp tác và đoàn kết truyền thống giữa Việt Nam và Cuba là biểu tượng của thời đại và là tài sản vô giá của hai Đảng và nhân dân hai nước; quyết tâm tiếp tục kế thừa và phát huy di sản trường tồn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Lãnh tụ lịch sử của cách mạng Cuba Fidel Castro, những người tiên phong trong việc gìn giữ và phát huy quan hệ hữu nghị và hợp tác tốt đẹp, đặc biệt, truyền thống, gắn kết hai dân tộc Việt Nam - Cuba”.

Với thực tiễn đó, những lời lẽ xuyên tạc, bóp méo, chống phá của các thế lực thù địch về mối quan hệ hữu nghị truyền thống, thủy chung gắn bó Việt Nam - Cuba trở nên lạc lõng. Vì mối quan hệ Việt Nam - Cuba được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Lãnh tụ Fidel Castro đặt nền móng, được các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước không ngừng bồi tụ, vun đắp ngày càng trở nên bền chặt, gắn bó, không thế lực chống phá nào có thể chia rẽ được.

Đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Cuba không chỉ là bảo vệ mối quan hệ thủy chung, son sắt - một biểu tượng về tình đoàn kết quốc tế trong lịch sử thế giới đương đại, mà còn là bảo vệ đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh hội nhập quốc tế, góp phần vào hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.


THANH NHẬT

 KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU, CON ĐƯỜNG ĐÃ CHỌN,

LẼ SỐNG CAO ĐẸP CỦA “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

Kiên định và hiện thức hóa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH) mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là mục tiêu, lẽ sống cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Suốt 80 năm qua, nhờ sự kiên định, vững vàng mục tiêu, lẽ sống đã lựa chọn, Quân đội ta đã một lòng một dạ đi theo Đảng làm cách mạng; trở thành lực lượng nòng cốt cho toàn dân đánh giặc; đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng, cùng toàn Đảng, toàn dân ta hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng cao cả ấy bằng Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; đưa cả nước đi lên CNXH; tiến hành sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Lịch sử truyền thống vẻ vang của Quân đội ta là lịch sử thực hiện hóa mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH với những chiến công chói lọi, vô cùng tươi đẹp và rạng rỡ: Mới thành lập sau hai ngày, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - Tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam đã chiến đấu và chiến thắng vẻ vang trong hai trận Phai Khắt và Nà Ngần. Mười năm sau ngày thành lập đã trải qua nhiều chiến dịch lớn, giành nhiều thắng lợi vẻ vang và rất đỗi tự hào. Trong đó, nổi bật là thắng lợi của Chiến dịch Thu Đông 1947, Chiến dịch Biên giới 1950, để từ đó làm nên Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; buộc thực dân Pháp phải cuốn cờ về nước. 

Dấu ấn sâu đậm và thành tích đặc biệt xuất sắc, hết sức vẻ vang của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã được nhân dân yêu quý, tin tưởng, dành cho những tình cảm tốt đẹp; đã khen tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” - Bộ đội của nhân dân. Hiếm có quân đội nào trên thế giới lại có được niềm vui, hạnh phúc thiêng liêng, cao cả ấy, khi nhân dân lấy tên lãnh tụ kính yêu của mình đặt tên cho Quân đội cách mạng. Đây là niềm cổ vũ, động viên vô cùng to lớn, giúp Quân đội ta vượt ngàn chông gai, chịu đựng mọi gian khổ, hy sinh; đã anh dũng chiến đấu, làm thất bại tất cả các chiến lược chống phá Việt Nam của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, được nhân dân chở che, cưu mang, giúp đỡ, chúng ta đã đi từ những thắng lợi giòn giã, đập tan các cuộc “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh” để sau đó, đi đến Chiến thắng 30-4-1975 lịch sử, thực hiện trọn vẹn Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ “đánh cho Mỹ cút; đánh cho ngụy nhào”. 

Với lịch sử truyền thống vẻ vang, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã cùng nhân dân cả nước giành chiến thắng trong Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc những năm 1978-1979. Hơn thế, chúng ta đã phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, cùng nhân dân cả nước hiện thực hóa mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH qua 40 năm đổi mới, hoàn thành xuất sắc các chức năng, nhiệm vụ của mình; cùng nhân dân cả nước làm nên thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được tiền đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế to lớn như ngày nay.

Điều đó là hiện thực khách quan vô cùng sinh động, đã bác bỏ mọi quan điểm sai trái cho rằng, Việt Nam “đang đi theo vết xe đổ của Liên Xô”, “Việt Nam cần phải lựa chọn con đường khác chứ không phải là tiếp tục đi theo con đường CNXH, không nên tiếp tục thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta bác bỏ quan điểm sai trái, cho rằng: “Việt Nam phải thay đổi mục tiêu, con đường, định hướng phát triển; từ bỏ CNXH lúc này là rất cần thiết”; “có thay đổi thì mới có sự đổi mới; người Việt Nam sẽ có điều kiện để hòa nhập, hội nhập quốc tế, Việt Nam mới mau chóng trở thành con rồng, con hổ ở châu Á”. 

Phải nói cho rõ rằng, những người phủ nhận thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân ta bằng xương máu, mồ hôi, nước mắt mới dành được trong suốt 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng là sự phủ định sạch trơn, nói càn, viết bậy; hoàn toàn không thể chấp nhận. 

Những lời lẽ chua cay, nghiệt ngã, phê phán, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được tuôn ra từ sự thâm thù, âm mưu chống phá của các thế lực thù địch cốt để gây sự nghi ngờ, phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng, giá trị và ý nghĩa của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; về sự lựa chọn con đường đi lên CNXH ở nước ta; tạo ra “một khoảng trống về chính trị” trong lòng nhân dân; cố tình phân hóa các lực lượng “trung thành” với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó, kêu gọi người dân từ bỏ mục tiêu, con đường đi lên CNXH. Đó là quan điểm sai trái, đã lún sâu vào “vũng bùn” của nhận thức sai lầm và những hành vi sai trái chống Đảng, Nhà nước, chống phá quân và dân ta thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng; cản trở quân và dân ta thực hiện hóa mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, cần phải loại bỏ.

Lúc này đây, cán bộ, chiến sĩ Quân đội và nhân dân ta cần đẩy mạnh tuyên truyền lý luận về đường lối đổi mới của Đảng, đọc kỹ tác phẩm của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” để củng cố niềm tin tất thắng vào đường lối xây dựng CNXH ở nước ta. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là tiếng gọi từ trái tim, mệnh lệnh của cuộc sống. 

Cùng với đó, phải làm cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, hiểu rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch để có biện pháp đối phó hiệu quả. Đồng thời, giúp người dân nhận thức đúng bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Đây là biện pháp hữu dụng nhất để giúp nhân dân “miễn dịch” trước các đòn tấn công ác hiểm, thâm độc của các thế lực thù địch cả trong lý luận và trong thực tiễn; luôn tự tin, chủ động và tích cực tham gia cuộc đấu tranh bảo vệ cái đúng, cái tốt; lấy cái đẹp dẹp cái xấu.

Đối với quân và dân ta, gần 80 năm cách mạng Việt Nam đã chứng minh đầy thuyết phục rằng, chỉ có đi theo con đường CNXH thì mới xóa bỏ được tệ nạn người áp bức, bóc lột người, mới thực hiện được lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội; chỉ có CNXH mới là cái bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phát triển tự do, toàn diện của mỗi người và mọi người. 

Rõ ràng là, đi theo con đường CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là thực hiện chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, bởi vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự khái quát cao nhất cái đẹp của cuộc sống, hạnh phúc của con người, là sự chung đúc tất cả lý tưởng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội. Vì vậy, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và nhân dân ta vẫn tiếp tục, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH không thể đổi khác, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn phải là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Đây là niềm tin, ánh sáng và con đường chúng ta đi đến thắng lợi vẻ vang.

Cán bộ, chiến sĩ Quân đội và nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một, đều nhất quán, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, nhất định chúng ta sẽ hoàn thành các chỉ tiêu, mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định. Đây là sự chuẩn bị tốt nhất các điều kiện cần thiết để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tổ chức đại hội thành công đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2025-2030; tiến tới Đại hội XIV của Đảng vào đầu năm 2026. Đồng thời, là sự đáp trả đanh thép nhất, hiệu quả nhất để bác bỏ mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN ở nước ta của các thế lực thù địch./.

DƯƠNG PHƯƠNG DUY

 11 NĂM NGÀY MẤT CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP (4/10/2013-4/10/2024):

SUỐT CUỘC ĐỜI QUÁN TRIỆT TINH THẦN “DĨ CÔNG VI THƯỢNG”

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vị tướng tài ba, là “người Anh Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ một thầy giáo dạy lịch sử, được hoạt động nhiều năm bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và trở thành người học trò xuất sắc, dù ở đâu và trong hoàn cảnh nào, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng luôn quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động thực tiễn.

Đặc biệt, thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm cách mạng phải “Dĩ công vi thượng”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, đưa ông trở thành vị “Đại tướng của nhân dân”.

1. Luôn thấu triệt sâu sắc tinh thần “Dĩ công vi thượng”

“Dĩ công vi thượng” là một trong những nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Bản thân Người là một tấm gương mẫu mực về “Dĩ công vi thượng”. Đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đạo đức mới, nó tiếp thu, kế thừa và phát triển đạo đức truyền thống của dân tộc thương nước thương nòi, tương thân tương ái, kết hợp với đạo đức của nhân loại và đạo đức cộng sản chủ nghĩa. “Dĩ công vi thượng” là cốt cách người cách mạng, nếu ai không làm được điều này thì không thể trở thành người cách mạng, người cán bộ, đảng viên chân chính. Quán triệt sâu sắc tư tưởng đó, sinh thời, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Làm cách mạng phải dĩ công vi thượng, nghĩa là việc dân, việc Đảng đặt lên trên hết, không nghĩ đến cá nhân. Điều tâm đắc đó trở thành máu thịt trong tôi”[1].

Xuất phát từ quan điểm đúng đắn đó, kế thừa truyền thống yêu nước của gia đình, quê hương và sớm được tiếp thu tư tưởng cách mạng vô sản, Võ Nguyên Giáp đã giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng khi mới 14 tuổi (1925). Mười lăm năm sau, người chiến sĩ cách mạng ấy được kết nạp vào Đảng và được Trung ương cử sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (1940) khởi đầu quá trình phát huy tài năng, đức độ, cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Trước Cách mạng Tháng Tám, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã tích cực, chủ động thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng, tuyên truyền, giác ngộ, vận động quần chúng nhân dân tham gia cách mạng với phương pháp sáng tạo, hiệu quả cao; được lãnh tụ Hồ Chí Minh ủy quyền công bố Sắc lệnh thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (22-12-1944). Thông qua hoạt động thực tiễn, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã góp phần quan trọng vào xây dựng, chuẩn bị lực lượng chính trị, quân sự vững mạnh, bảo đảm cho cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, dẫn tới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945.

2. Là hiện thân của tinh thần “Dĩ công vi thượng”

 Trong cuộc đời cầm quân, Đại tướng luôn dành tình yêu thương cho cán bộ, chiến sĩ. Khi cầm quân, ra trận, cái đích cần đến của Đại tướng là “Quyết đánh, quyết thắng”, nhưng không phải thắng bằng mọi giá, mà quyết chiến, quyết thắng trên cơ sở hạn chế thấp nhất sự hy sinh tính mạng và tài sản của bộ đội và nhân dân. Khi xây dựng kế hoạch tác chiến, Đại tướng luôn tỉ mỉ, chu đáo cốt là để làm sao hạn chế sự hy sinh xương máu, giành được thắng lợi. Trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khi nghe tin một đại đội ở Thành cổ Quảng Trị chỉ còn vài cây súng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã không cầm được nước mắt. Biết tin bộ đội, chiến sĩ, đồng bào ta ở Huế hy sinh nhiều, Tổng Tư lệnh trầm tư, suy nghĩ, nhiều đêm thao thức không ngủ. Thượng tướng Trần Văn Trà đã viết: “Võ Nguyên Giáp là một Tổng Tư lệnh biết đau với từng vết thương của mỗi người lính, biết tiếc từng giọt máu của mỗi chiến binh”[2].

Là Đại tướng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân, nhưng bữa ăn và quần áo mặc hằng ngày của Đại tướng rất giản dị. Đại tướng thường nhấn mạnh đến công lao, tài năng, đạo đức của chiến sĩ và cán bộ chỉ huy các cấp, nhưng rất ít nói đến bản thân mình. Ở Đại tướng, sự độ lượng, đức khoan dung thật sâu rộng, tác phong sâu sát quần chúng, quyết đoán, nhưng rất gương mẫu, liêm khiết, giản dị về lối sống. “Ở góc độ nào ông cũng thể hiện phẩm chất sáng ngời của một vị Đại tướng giản dị, gần dân. Về Quảng Bình, Đại tướng là lão nông, xuống dòng sông Kiến Giang quê hương Đại tướng cũng như một ngư dân, lên Điện Biên thì Đại tướng như một người dân tộc thực thụ, Đại tướng nói và sinh hoạt như đồng bào vậy”[3]. Chính sự liêm khiết, giản dị, gần dân của Đại tướng nên nhân dân đặc biệt yêu mến, vinh danh Tổng Tư lệnh là “Đại tướng của nhân dân”. Đối với các thế hệ quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng bao giờ cũng là vị Tổng Tư lệnh tối cao mẫu mực, người Anh Cả kính mến. Đối với bạn bè năm châu, Võ Nguyên Giáp là vị tướng huyền thoại, người anh hùng hiện thân của sự đoàn kết, sự trường tồn của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Trên thế giới hiếm có một nhà lãnh đạo nào nhận được sự tin yêu, ngưỡng mộ của toàn dân, toàn quân và bạn bè quốc tế. Hằng năm cứ đến dịp sinh nhật, ngày lễ tết, luôn có hàng trăm đoàn khách xa, gần đến nhà Đại tướng để chúc mừng. Ngày Đại tướng mất, cả nước đau buồn tiễn đưa. Giáo sư Vũ Khiêu xúc động viết: “Bao nhiêu nước mắt khóc Bác Hồ, giờ khóc Bác Giáp”. Nhà giáo Hồ Cơ trong câu đối kính dâng Đại tướng đã khái quát toàn bộ tài năng, đức độ của vị tướng huyền thoại trong lịch sử “Văn lo vận nước, văn thành võ. Võ thấu lòng dân, võ hóa văn”.

Lịch sử đã minh chứng, trong bất cứ hoàn cảnh nào, Đại tướng cũng thể hiện bản lĩnh của người chiến sĩ cộng sản trung kiên, giữ vững khí tiết, tư tưởng tiến công, ý chí tự lực tự cường, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó. Luôn đề cao công lao, sự hy sinh to lớn của nhân dân, quân đội, những người trực tiếp chiến đấu trên chiến trường và chỉ nhận mình là “hạt nước giữa đại dương” bình đẳng với mọi người lính. Đại tướng từng nói: “Vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng như giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ. Các ngài gọi tôi là vị tướng thần thoại, nhưng tôi tự nghĩ tôi bình đẳng với những người lính của mình. Tôi hoàn thành nhiệm vụ cũng như những người lính hoàn thành nhiệm vụ. Trên bình diện nhiệm vụ thì tôi cũng là người lính bình đẳng, cho nên tôi rất tôn trọng người lính”[4]. 

Đất nước hòa bình, thống nhất, trên các cương vị là Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ (Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng đã cùng tập thể Ban Chấp hành Trung ương, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân, toàn quân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Được Đảng, Nhà nước phân công làm Phó thủ tướng phụ trách khoa học - kỹ thuật, dù công việc rất mới mẻ, nhưng Đại tướng đã nêu cao tinh thần “Dĩ công vi thượng”, trực tiếp làm việc với nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các trí thức, văn nghệ sĩ... thành tâm lắng nghe tâm tư nguyện vọng cũng như những đề đạt, nguyện vọng của họ với Đảng và Nhà nước... Nhờ đó Đại tướng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần đưa khoa học, kỹ thuật Việt Nam từng bước sánh kịp trình độ các nước trong khu vực, góp phần hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. 

Đối với Đảng, Đại tướng luôn nhấn mạnh: Phải xây dựng Đảng thật sự trong sạch vững mạnh, phải giữ nguyên tắc Đảng; sử dụng thật hiệu quả vũ khí tự phê bình và phê bình; đoàn kết thống nhất đi đôi với mở rộng dân chủ trong Đảng từ Trung ương đến cơ sở. Ngay cả khi sức khỏe giảm sút, phải nằm trên giường bệnh, nhưng nhận được tin Trung ương Đảng tổ chức thành công Hội nghị Trung ương 4 khóa XI và ra Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Đại tướng rất vui mừng, phấn chấn, khỏe mạnh hơn, rất tin tưởng vào sức mạnh đồng tâm, nhất trí cao trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta với ý chí quyết tâm chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; khắc phục bệnh quan liêu, tham nhũng, xa rời quần chúng nhân dân để Đảng ta luôn luôn xứng đáng là lương tâm, trí tuệ, là đạo đức, là văn minh, niềm vinh dự, tự hào của giai cấp công nhân, nhân dân và của toàn dân tộc Việt Nam[5].

3. Những giá trị mãi trường tồn

 Với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổ quốc, dân tộc và Đảng là trên hết, không gì thiêng liêng, cao cả hơn thế. Đại tướng luôn là chỗ dựa tinh thần vững chắc và nơi gửi gắm niềm tin của nhân dân, cán bộ, đảng viên. Đại tướng khẳng định: “Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó”[6]. Tại Hội thảo kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (2005), Đại tướng Võ Nguyên Giáp có bài tham luận với tựa đề: “Làm theo lời Bác - Dĩ công vi thượng”. Đại tướng nhấn mạnh: “Hơn 60 năm đã trôi qua, lời dạy ấy vẫn còn văng vẳng bên tai tôi. Bác chỉ nói ngắn gọn trong bốn chữ như vậy mà tôi nhớ mãi và phấn đấu làm theo lời Người suốt đời cho tới hôm nay”[7]. 

Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, học tập và làm theo Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết phải học, hiểu về tinh thần “Dĩ công vi thượng”. Đó là, làm gì cũng phải đặt lợi ích của chung lên trên hết, lợi ích của dân tộc, lợi ích của đất nước lên trên lợi ích của gia đình, lợi ích của bản thân mình. Đại tướng luôn gương mẫu và chỉ bảo, hướng dẫn mọi người cùng thực hiện theo chức trách, nhiệm vụ được giao, vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cho Tổ quốc. Tiếp thu, vận dụng sáng tạo, thành công tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn đấu tranh cách mạng, nhất là các vấn đề: Phương pháp cách mạng; vai trò của quần chúng nhân dân; chiến tranh du kích và chiến tranh nhân dân; người trước, súng sau, chính trị trọng hơn quân sự... 

Là một trong những cán bộ được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ dạy, được gần gũi, gắn bó gần 30 năm, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã sớm nghiên cứu viết về tư tưởng và cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi thôi đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo, quản lý, chấp hành sự phân công của Trung ương Đảng, với tinh thần trách nhiệm cao, Đại tướng đã chuyên tâm nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh và có nhiều đóng góp đặc biệt quý báu, góp phần xây dựng nền móng cho bộ môn khoa học Hồ Chí Minh học. Cùng với các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ, Đại tướng đã góp phần quan trọng đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. 

Cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp để lại nhiều “Di sản quý báu”, trong đó việc suốt đời quán triệt tư tưởng “Dĩ công vi thượng” có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đó là những vấn đề về nghệ thuật quân sự, khoa học quân sự, lý luận quân sự mà Đại tướng đã đúc kết từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội cũng như thực tiễn chỉ đạo kháng chiến trong 30 năm chiến tranh giải phóng. Đồng thời, những vấn đề nghệ thuật quân sự, khoa học quân sự, lý luận quân sự còn được đúc kết từ chính cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại tướng. Do đó, trách nhiệm của chúng ta hôm nay là phải tiếp tục nghiên cứu, vận dụng những quan điểm, tư tưởng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và những vấn đề về nghệ thuật quân sự, khoa học quân sự, lý luận quân sự của Đại tướng vào điều kiện cách mạng mới. Đó cũng là cách để cán bộ, chiến sĩ toàn quân nắm bắt, tiếp thu những vấn đề về chiến tranh và cách mạng vận dụng vào thực tiễn huấn luyện, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc. 

Cùng với đó, cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn là tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời, là hiện thân của tinh thần “Dĩ công vi thượng”, của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Hiện nay, cùng với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và học tập tấm gương của các vị lãnh đạo cách mạng tiền bối, chúng ta cần học tập tấm gương đạo đức cách mạng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, qua đó toàn Đảng, toàn quân và toàn dân thêm tự hào về lịch sử cách mạng của Đảng, của dân tộc, về những con người làm nên lịch sử. Đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội, đó là niềm tự hào và là biểu tượng của  Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng! 

Đại tá, PGS, TS NGUYỄN VĂN SÁU, Phó viện trưởng Viện Lịch sử quân sự

Thực hành dân chủ trong Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cách đây 55 năm, trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta bản Di chúc thiêng liêng, chứa đựng những tư tưởng lớn về Đảng và xây dựng Đảng, trong đó có nội dung hết sức sâu sắc về thực hành dân chủ trong Đảng. Quán triệt và thực hành dân chủ trong Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cách thức hữu hiệu để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, thật sự “là đạo đức, là văn minh” theo tâm nguyện của Người.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến thăm, làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội_Ảnh: TTXVN

1- Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta bản Di chúc thiêng liêng, kết tinh tư tưởng, đạo đức, phong cách và tình cảm, tâm nguyện của Người đối với dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta. Di chúc chứa đựng những tư tưởng lớn, là bản tổng kết lý luận và thực tiễn hết sức sâu sắc về cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, Di chúc đề cập nội dung hết sức  sâu sắc về dân chủ và thực hành dân chủ trong Đảng, để Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm với đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới, xứng danh là Đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền ở nước ta.

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành nhiều tâm huyết, trí tuệ và suy tư, trăn trở cho công tác xây dựng Đảng. Người căn dặn Đảng ta: việc cần làm trước tiên là “chỉnh đốn lại Đảng”, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ “đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân”; đồng thời nhấn mạnh, “Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy, chúng ta cũng nhất định thắng lợi”.

Xác định rõ tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh càng quan tâm sâu sắc tới việc làm thế nào để dân chủ trong Đảng được phát huy mạnh mẽ trong mọi hoạt động của ĐảngTheo tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ là “của quý báu nhất của nhân dân” và thực hành dân chủ là “chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn” trong quá trình Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng.

Thực hiện dân chủ trong Đảng là quá trình Đảng đưa các giá trị dân chủ vào hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, trong sinh hoạt đảng, làm cho dân chủ trở thành hiện thực trong mọi hoạt động của Đảng. Dân chủ trong Đảng là dân chủ có tính đảng, gắn với kỷ luật, kỷ cương, đối lập với tình trạng dân chủ tùy tiện, vô chính phủ, dân chủ giả hiệu.

Thực hành dân chủ trong Đảng thể hiện ở nhiều khía cạnh, trong đó có việc tổ chức đảng, đảng viên bàn bạc, thảo luận các vấn đề để đi tới hình thành quyết sách chính trị của Đảng. Dân chủ trong Đảng được phản chiếu trong văn hóa đấu tranh tự phê bình và phê bình, hoạt động chất vấn của tổ chức đảng và đảng viên; phản ánh, kiến nghị với cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời theo quy định của Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, về bản chất, dân chủ không đối lập với tập trung, kỷ luật, mà chỉ đối lập với sự quan liêu, thói gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, lộng quyền và lạm quyền. Tập trung cũng không đối lập với dân chủ, mà chỉ đối lập với phân tán, cục bộ, thói tự do vô chính phủ.

Thực hành dân chủ trong Đảng được thể hiện trong tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ. V.I. Lê-nin từng chỉ rõ: Không thể có một đảng cách mạng chân chính mà lại phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ. Nếu không có tập trung thì đảng trở thành một tổ chức biệt phái, hỗn độn, một “câu lạc bộ tranh luận”; nếu xa rời dân chủ, đảng sẽ bị biến thành một tổ chức chuyên quyền, độc đoán, quan liêu. Vận dụng đúng đắn quan điểm của V.I. Lê-nin về nguyên tắc tập trung dân chủ vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, có lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập “tập trung dân chủ”, nhưng nhiều hơn cả là Người đề cập “dân chủ tập trung”. Tập trung dân chủ bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, là nguyên tắc tổ chức cao nhất và là chế độ lãnh đạo của Đảng, phải được tuân thủ nghiêm ngặt, triệt để, làm cho Đảng ngày càng thống nhất về ý chí và hành động. Người lý giải: Đảng tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung. Nghĩa là: có Đảng chương thống nhất, kỷ luật thống nhất, cơ quan lãnh đạo thống nhất. Cá nhân phải phục tùng đoàn thể, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương; tất cả đảng viên phải chấp hành vô điều kiện nghị quyết của Đảng. Người còn chỉ rõ: “Tập trung trên nền tảng dân chủ. Cơ quan lãnh đạo của Đảng có uy tín và quyền lực chân chính. Những phương châm, chính sách, nghị quyết của Đảng, mọi đảng viên nhất định phải chấp hành. Kỷ luật của Đảng, mọi đảng viên phải tuân theo. Thế là tập trung. Nhưng tập trung ấy không phải là cá nhân chuyên chính; nó là xây dựng trên nền tảng dân chủ”. Dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung, được thể hiện ở chỗ “trong Đảng, mọi đảng viên có quyền nêu ý kiến, đặt đề nghị, tham gia giải quyết vấn đề. Nhưng quyết không được trái sự lãnh đạo tập trung của Đảng, trái nghị quyết và trái kỷ luật của Đảng”.

Để thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Phải thật sự mở rộng dân chủ để cho tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình; phải tập hợp ý kiến của đảng viên để giúp Trung ương chuẩn bị Đại hội Đảng cho thật tốt; làm như thế là khơi dậy tinh thần trách nhiệm và tính tích cực chủ động của tất cả đảng viên. Khi đã thảo luận, bày tỏ ý kiến rồi thì đi đến tập trung, làm cho “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”, tức là đề cập ý chí thống nhất, hành động thống nhất. Việc thực hành dân chủ, mở rộng dân chủ trong Đảng cũng như đi tìm chân lý trong lĩnh vực tư tưởng. Người chỉ rõ: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lýChân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân - tức là phục tùng chân lý”. Trong quá trình thực hành dân chủ phải kiên quyết chống mọi biểu hiện lệch lạc, không để “sinh ra thói “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”, “trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm”, sinh ra thói “thậm thà thậm thụt” và những thói xấu khác”.

Là tổ chức lãnh đạo xây dựng, phát triển nền dân chủ ở nước ta, Đảng phải là hạt nhân và là tấm gương thực hành, phát huy dân chủ. Vì thế, Người đòi hỏi “đảng viên ở địa vị càng cao... càng phải làm gương dân chủ”. Dân chủ trong Đảng, do đó có ý nghĩa rất lớn đối với việc phát huy dân chủ trong xã hội.

Một điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm khi phát huy dân chủ trong Đảng, đó là: Với vai trò, sứ mệnh là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội, thì Đảng phải phát huy cao độ vai trò của Mặt trận dân tộc thống nhất và các tổ chức chính trị - xã hội để thông qua các tổ chức này, nhân dân thực hiện và phát huy vai trò là chủ, làm chủ của mình. Quyền lực thuộc về nhân dân - đó chính là dấu hiệu đặc trưng của chế độ dân chủ mới. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn tình trạng người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Đảng tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng. Vì thế, thực hành dân chủ trong Đảng đòi hỏi phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng Đảng, “Phải thật sự thi hành dân chủ trong Đảng và trong quần chúng”. Đảng phải khuyến khích nhân dân trong vai trò làm chủ “giúp Chính phủ và Đoàn thể kiểm tra công việc và hành vi của các cán bộ”. Điều đó có ý nghĩa lớn trong phát triển nền dân chủ mới, giúp cho Đảng phòng, tránh được tệ quan liêu hóa, xa rời nhân dân. Để phát huy dân chủ, Đảng có trách nhiệm làm cho mỗi người dân “phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”họ phải biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm. Đó là những vấn đề có liên quan trực tiếp tới quá trình thực hành và phát triển dân chủ trong Đảng và trong xã hội. Một trong những vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm là phòng, chống việc làm đi ngược với lợi ích của quần chúng, biểu hiện lệch lạc trong quá trình dân chủ hóa. Người lên án hiện tượng một số cán bộ “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ”. Người còn chỉ rõ: “Tác phong của những “ông quan liêu” là thiếu dân chủ, không giữ đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, phân công phụ trách”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ và kỷ luật của Đảng có mối quan hệ biện chứng, là hai mặt không thể tách rời trong một thể thống nhất của chế độ sinh hoạt đảng. Người cho rằng, dân chủ phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương. “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ (thật thà tự phê bình và phê bình), thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính tổ chức và tính kỷ luật” và “thống nhất ý chí, thống nhất hành động, thống nhất kỷ luật, tập trung lãnh đạo là việc cực kỳ cần thiết và cực kỳ quan trọng”. Theo Người, “Trong nội bộ Đảng có dân chủ rộng rãi, đồng thời có kỷ luật nghiêm khắc”; do đó, phải kiên quyết chống lời nói và việc làm tự do vô tổ chức, như “không xét thời gian, địa điểm, điều kiện mà nói lung tung; tự do hành động; dân chủ quá trớn”.

2- Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để phát huy dân chủ, để cán bộ, đảng viên được phát huy tối đa năng lực cá nhân, tạo sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội chính là cách thức phát huy hiệu quả vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Vận dụng và phát triển tư tưởng về thực hành dân chủ trong Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã cụ thể hóa trong Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, Nghị quyết Đại hội các khóa và từng bước hoàn thiện trong nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, trong hoạt động thực tiễn của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên.

Những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, của công tác xây dựng Đảng là thước đo cho những giá trị đạt được về thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội. Thực tiễn cho thấy, dân chủ ngày càng được thực hiện tốt hơn qua từng năm và qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đảng. Dân chủ trong Đảng được mở rộng đúng hướng, từ đó tăng cường đoàn kết thống nhất trong nội bộ Đảng; đồng thời, phát hiện và ngăn ngừa nhiều việc làm sai trái, xử lý nghiêm không ít tổ chức đảng và đảng viên vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đề cập việc có chính sách khuyến khích và cơ chế phù hợp bảo vệ cán bộ, đảng viên có ý chí chiến đấu cao, gương mẫu thực hiện nguyên tắc của Đảng và pháp luật của Nhà nước, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Nghị quyết các kỳ Đại hội của Đảng đều được lấy ý kiến rộng rãi trong Đảng và trong xã hội. Trong công tác cán bộ, việc lấy phiếu tín nhiệm, ứng cử, đề cử đều được đưa vào quy định của Đảng, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được đẩy mạnh, đi vào chiều sâu, theo phương châm “trong trước, ngoài sau”, “trên trước, dưới sau”, “cấp trên nêu gương cho cấp dưới”, thực hành dân chủ được quán triệt và yêu cầu thực hiện trong tất cả hoạt động của Đảng, từ công tác cán bộ, khen thưởng, kỷ luật và “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ” khi xử lý sai phạm.

Trong các nhiệm kỳ gần đây, thực hành dân chủ trong Đảng tiếp tục được mở rộng, phát huy bằng những quy chế, quy định chặt chẽ hơn, như Quy định của Bộ Chính trị báo cáo công việc và hoạt động giữa hai kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương; các cấp ủy có trách nhiệm báo cáo sự lãnh đạo, chỉ đạo giữa hai kỳ họp. Quy định thời gian tiến hành tự phê bình và phê bình, lấy phiếu tín nhiệm cán bộ, đảng viên từ cơ quan cao nhất đến tổ chức cơ sở, nhân dân góp ý xây dựng Đảng. Các quy chế về thông tin, cung cấp thông tin, bảo mật thông tin được tăng cường.

Cùng với đẩy mạnh thực hành dân chủ trong Đảng, việc thực hành dân chủ trong các cơ quan nhà nước được chú trọng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) xác định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “Là tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, Nhà nước ta phải có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp và tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), tiếp tục khẳng định và nêu rõ hơn vấn đề này: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kế thừa các Hiến pháp trước đó, trên cơ sở truyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam, quán triệt việc lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, Hiến pháp năm 2013 đã cụ thể hóa tư tưởng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân.

Các đại biểu biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Bình Gia (tỉnh Lạng Sơn), nhiệm kỳ 2020 - 2025 _Ảnh: TTXVN

Trong sự vận hành của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, Đảng ta nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phải bảo đảm “tất cả quyền lực thuộc về nhân dân” thông qua kiểm soát chặt chẽ việc thực thi quyền lực của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Trong gần 40 năm đổi mới vừa qua, Đảng đã chỉ đạo xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực đạt nhiều kết quả trong thực tiễn. Nhiều văn bản liên quan được chỉ đạo xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện hiệu quả trong đời sống xã hội(20). Trong nhiều nhiệm kỳ Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, nhất là nhiệm kỳ Đại hội XII và hơn nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”. Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, Bộ Chính trị đã ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 26-10-2022, về phát huy vai trò, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng lần lượt được ban hành, như Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở...

Tuy nhiên, để dân chủ thấm sâu trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội..., chúng ta còn nhiều việc phải làm. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về dân chủ và phát huy dân chủ phần nào chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn, đặc biệt trong điều kiện mới, như phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang thúc đẩy công nghệ thông tin, công nghệ số, mạng xã hội phát triển nhanh chóng, mở ra nhiều cơ hội đồng thời đưa đến nhiều thách thức cho việc thực hành dân chủ,... Việc thực hành dân chủ có lúc, có nơi còn mang tính hình thức, nhiều mặt chưa gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện pháp luật, kỷ luật, kỷ cương. Tình trạng tùy tiện, thiếu ý thức tổ chức, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm, không chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, báo cáo không trung thực, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, làm cho một số nghị quyết của Đảng khó vào cuộc sống. Một số tổ chức đảng ở các cấp chưa được chỉnh đốn kịp thời; dân chủ bị vi phạm, kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo, nội bộ không đoàn kết, chất lượng sinh hoạt đảng giảm sút... Đại hội XIII của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra: “Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp”.

3- Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng ta là một đảng cách mạng, một đảng vì dân, vì nước”. Người cũng lưu ý: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”, vào Đảng không phải là để “làm quan cách mạng”, để “thăng quan tiến chức”, để “một người làm quan cả họ được nhờ”, “đè đầu cưỡi cổ dân chúng như dưới thời thực dân, phong kiến”,... Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải ý thức rất rõ trách nhiệm lịch sử và vinh quang khi được nhân dân và dân tộc trao sứ mệnh lãnh đạo, cầm quyền, để quyết tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, theo đó: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”. Trong bản Di chúc lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Với tư cách là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam có vai trò quyết định trong quá trình phát huy dân chủ. Dân chủ trong Đảng là một trong những tiền đề chủ yếu để thúc đẩy dân chủ trong xã hội. Đứng trước thuận lợi, thời cơ mới của đất nước sau gần 40 năm đổi mới; đối diện với nhiều khó khăn, thách thức đan xen trong quá trình phát triển đất nước, Đảng ta ngày càng nhận rõ sức mạnh của dân chủ và phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội.

Để thực hành dân chủ trong Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh một cách thực chất, hiệu quả, trước hết cần giáo dục cho cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội, làm cho họ nhận thức rõ sức mạnh và ý nghĩa hết sức to lớn của dân chủ đối với Đảng, với chế độ. Cùng với đó, quy định cụ thể, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong mọi hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên; giúp cho cán bộ, đảng viên tự giác, nghiêm túc, thường xuyên thực hiện và thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, theo hướng mở rộng dân chủ trong tất cả các khâu, từ tuyển dụng, tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đến bổ nhiệm, giới thiệu, bầu cử, sử dụng, thực hiện chính sách đối với cán bộ,... bảo đảm lựa chọn và sử dụng được người có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Hoàn thiện thể chế và cơ chế kiểm soát quyền lực đi đôi với bảo vệ, khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung; thực hiện quy định nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là của cấp ủy, người đứng đầu bảo đảm thực chất, thiết thực đồng thời với đẩy mạnh việc noi gương, học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đổi mới mạnh mẽ nội dung và hình thức sinh hoạt đảng theo hướng phát huy hơn nữa tinh thần dân chủ, tiếp thu ý kiến góp ý. Có cơ chế cụ thể để phát huy mạnh mẽ vai trò và tinh thần trách nhiệm của nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, đặc biệt là trong giám sát việc thực hiện nêu gương, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. 

Bản Di chúc thiêng liêng, trong đó có những lời căn dặn quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, luôn là kim chỉ nam, là ánh sáng soi đường để Đảng và nhân dân ta thêm kiên định, vững vàng trên nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện, xứng danh Đảng “là đạo đức, là văn minh”, tiêu biểu cho trí tuệ, lương tri, phẩm giá của dân tộc và thời đại./.

ST.

Xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ nữ đáp ứng yêu cầu giai đoạn mới

Đảng, Nhà nước ta đã luôn dành sự quan tâm đặc biệt và nhiều giải pháp, chính sách xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ nữ và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Để tăng cường hiệu quả thực hiện công tác cán bộ nữ trong giai đoạn mới, cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu và hệ thống chính trị đối với việc thực hiện có hiệu quả nghị quyết, chủ trương của Đảng đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ nữ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và những mục tiêu, chương trình về bình đẳng giới.
Các đại biểu tham quan Triển lãm thành tựu kinh tế, xã hội của phụ nữ các địa phương bên lề Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2022 - 2027 _Ảnh: TTXVN

Các đại biểu tham quan Triển lãm thành tựu kinh tế, xã hội của phụ nữ các địa phương bên lề Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2022 - 2027 _Ảnh: TTXVN

Quan điểm của Đảng về công tác cán bộ nữ

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị trí, vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhân dân ta. Người nhận xét: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”. Người luôn căn dặn các cấp ủy Đảng, cơ quan, đơn vị phải quan tâm chăm lo công tác vận động phụ nữ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ, vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”.

Bác Hồ với các đại biểu phụ nữ các dân tộc Việt Bắc, năm 1959. (Ảnh tư liệu)

Bác Hồ với các đại biểu phụ nữ các dân tộc Việt Bắc, năm 1959. (Ảnh tư liệu)

Xuyên suốt từ khi thành lập Đảng đến nay, Đảng ta đã luôn đánh giá cao sự đóng góp của phụ nữ và đề ra nhiệm vụ lãnh đạo, tạo điều kiện để phụ nữ phát huy khả năng to lớn, thực hiện nam nữ bình đẳng. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930 đã thể hiện quan điểm “Nam, nữ bình quyền”. Sau khi thành lập Đảng, ngày 20-10-1930, Đảng đã thành lập tổ chức Hội phụ nữ với chức năng tập hợp phụ nữ tham gia giải phóng dân tộc và bảo vệ lợi ích cho phụ nữ.

Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang diễn ra trong những năm tháng ác liệt, ngày 10-1-1967, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 152 - NQ/TW về một số vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận, chỉ rõ: “Tư tưởng phong kiến đối với phụ nữ còn tồn tại khá sâu sắc trong một số cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo. Thể hiện rõ nhất tư tưởng hẹp hòi, “trọng nam khinh nữ”, chưa tin vào khả năng lãnh đạo và khả năng quản lý kinh tế của phụ nữ, chưa thấy khó khăn trở ngại của phụ nữ...”.

Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 44 -CT/TW ngày 7-6-1984 về một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ, Chỉ thị chỉ rõ: “Nhiều cấp ủy Đảng và lãnh đạo các ngành buông lỏng việc chỉ đạo thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ… còn tư tưởng phong kiến, coi thường phụ nữ, đối xử thiếu công bằng với chị em…”; “Các trường lớp đào tạo, bồi dưỡng trong nước và ngoài nước, khi chiêu sinh cần quy định tỷ lệ nữ một cách thoả đáng; ... Các trường lớp tập trung cần tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo để chị em có con nhỏ gửi cháu”.

Bước vào thời kỳ đổi mới, ngày 12-7-1993 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới, Nghị quyết nhấn mạnh: “Xây dựng và sửa đổi, hoàn chỉnh các pháp luật, chính sách xã hội có liên quan đến phụ nữ và lao động nữ... Có chủ trương, chính sách phù hợp đối với phụ nữ dân tộc ít người, phụ nữ tôn giáo, phụ nữ nghèo, phụ nữ đơn thân, phụ nữ tàn tật”... Chỉ thị số 37-CT/TW, ngày 16-5-1994 của Ban Bí thư Trung ương về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới khẳng định: “Cần xây dựng Chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng lao động nữ nói chung và cán bộ nữ nói riêng... Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ nữ làm công tác khoa học - kỹ thuật, kinh tế, pháp luật, hành chính, quản lý nhà nước.... cán bộ nữ dân tộc ít người, tôn giáo, vùng sâu, vùng xa. Các trường lớp đào tạo, bồi dưỡng của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể khi chiêu sinh cần có quy định tỷ lệ nữ một cách thỏa đáng, đưa vào chương trình đào tạo những kiến thức về giới...”.

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: “Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần thực hiện bình đẳng giới. Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người. Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp. Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em. Bổ sung và hoàn chỉnh các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản, chế độ đối với lao động nữ. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”.

Đặc biệt, ngày 27-4-2007, Bộ Chính trị (khóa X) đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TƯ về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nghị quyết xác định 4 vấn đề tập trung lãnh đạo một cách đồng bộ, toàn diện, lâu dài; mang tính chiến lược sâu sắc: (1) Phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới. (2) Công tác phụ nữ phải sát hợp với từng đối tượng, vùng miền, phát huy được tinh thần làm chủ, tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng đóng góp cao nhất của các tầng lớp phụ nữ, góp phần tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, để phát triển đất nước; đồng thời chăm lo cho phụ nữ tiến bộ về mọi mặt, quan tâm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng để phụ nữ có điều kiện thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người.(3). Xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng. (4). Công tác phụ nữ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và từng gia đình. Trong đó, hạt nhân lãnh đạo là các cấp ủy đảng, trách nhiệm trực tiếp và chủ yếu là cơ quan quản lý nhà nước các cấp, vai trò chủ thể là phụ nữ mà nòng cốt là các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

Trước tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và biến động nhiều mặt của tình hình thế giới, khu vực, trong nước, ngày 20-1-2018, Ban Bí thư Trung ương Đảng tiếp tục ban hành Chỉ thị số 21-CT/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới”. Đây là sự cập nhật kịp thời đường lối của Đảng đối với công tác phụ nữ khi điều kiện thực tiễn của cách mạng có sự biến động.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: “Phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh và tinh thần làm chủ, khát vọng vươn lên của các tầng lớp phụ  nữ. Xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời đại mới. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Tăng cường các chương trình phát triển, hỗ trợ cập nhật tri thức, kỹ năng cho phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ, trẻ em và bình đẳng giới. Kiên quyết xử lý nghiêm theo pháp luật các tệ nạn xã hội; các hành vi bạo lực, mua bán, xâm hại phụ nữ Việt Nam”.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính gặp mặt các đại biểu phụ nữ tiêu biểu nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20-10_Ảnh: TTXVN

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính gặp mặt các đại biểu phụ nữ tiêu biểu nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20-10. Ảnh: TTXVN

Nhiều thành tựu quan trọng 

Công tác cán bộ nữ ở Việt Nam trong những năm gần đây đạt nhiều thành tựu quan trọng. Trên thực tế, việc xây dựng, thực hiện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng cán bộ nữ đã được chú trọng, có nhiều chương trình đào tạo cán bộ nữ theo từng lĩnh vực, gắn với quy hoạch. Dự án “Nâng cao năng lực lãnh đạo cho phụ nữ trong khu vực nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” (EOWP) do Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) và Bộ Ngoại giao phối hợp thực hiện, nhằm mục tiêu hỗ trợ nâng cao năng lực cho phụ nữ làm việc trong các cơ quan nhà nước, phát huy vai trò lãnh đạo của các cán bộ nữ tài năng trong khu vực công của Việt Nam, đã góp phần phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo nhân lực nữ cho phát triển kinh tế tri thức, thực hiện cử tuyển đào tạo cán bộ nữ trong đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo và trong các lĩnh vực có tỷ lệ cán bộ nữ chưa cao. Chính sách phát triển đội ngũ cán bộ nữ được xây dựng, sửa đổi, bổ sung và tổ chức thực hiện trong hoạt động nghiên cứu khoa học, trong công tác lãnh đạo, quản lý; ưu tiên tuyển chọn cán bộ nữ, lao động nữ có trình độ cao đẳng, đại học, trên đại học; chăm lo bồi dưỡng, phát triển tài năng nữ giới.

Kết quả thực hiện bình đẳng giới của nước ta được xếp hạng cao hơn so với nhiều quốc gia có cùng trình độ phát triển và thu nhập. Việt Nam được nhân dân và bạn bè quốc tế ghi nhận đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện bình đẳng giới, trong đó có nỗ lực tăng tỷ lệ phụ nữ tham gia vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, từng bước xóa bỏ khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị. Nhờ công tác tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ nữ được quan tâm cùng sự nỗ lực vươn lên của chính đội ngũ cán bộ nữ, tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, quản lý là nữ không ngừng gia tăng. Nhiều cán bộ nữ được tín nhiệm giữ những trọng trách và qua thực tiễn công tác, đã khẳng định và phát huy được vai trò của mình trong các cơ quan đảng, chính quyền, mặt trận và tổ chức chính trị - xã hội các cấp. Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy các cấp ngày càng nhiều. Nếu nhiệm kỳ Đại hội VIII của Đảng có 1 đồng chí nữ là Ủy viên Bộ Chính trị, thì nhiệm kỳ Đại hội XII có 3 đồng chí nữ Ủy viên Bộ Chính trị và nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng có 2 đồng chí nữ là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư. Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia các cơ quan dân cử tăng so với nhiệm kỳ trước, với 151 đại biểu nữ tham gia Quốc hội khóa XV, đạt tỷ lệ 30,26% (cao hơn 3,54% so với nhiệm kỳ trước, nhưng vẫn chưa đạt chỉ tiêu là 35% - 40% do Nghị quyết số 11-NQ/TW đề ra). Việt Nam cũng là quốc gia có số lượng nữ đại biểu Quốc hội chiếm tỷ lệ cao trong khu vực, đứng thứ 51 trên thế giới, thứ 4 ở châu Á và đứng đầu trong Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện đạt 29% (tăng so với nhiệm kỳ trước). Với tỷ lệ này, Việt Nam nằm trong nhóm các nước đứng đầu thế giới có tỷ lệ phụ nữ tham chính cao; đứng thứ 3 trong khu vực ASEAN và đứng thứ 47/187 quốc gia trên thế giới được xếp hạng về bình đẳng giới trong tham chính; xếp thứ 87/156 quốc gia về chỉ số thu hẹp khoảng cách giới. 

Đặc biệt, tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước được nâng cao cả về số lượng và chất lượng. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có lãnh đạo chủ chốt là phụ nữ chiếm 50%, tiệm cận với chỉ tiêu đề ra đến năm 2025. Nhiều đồng chí cán bộ nữ được Đảng, Nhà nước tín nhiệm giữ vị trí, trọng trách cao trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, tiêu biểu như các đồng chí Nguyễn Thị Xuân Mỹ, Nguyễn Thị Kim Ngân, Tòng Thị Phóng,  Bùi Thị Minh Hoài, Nguyễn Thị Doan, Đặng Thị Ngọc Thịnh, Võ Thị Ánh Xuân... điều đó cũng khẳng định sự thành công của Đảng trong công tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ nữ ngang tầm nhiệm vụ. Cùng với sự tiến bộ và phát triển của đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý, đội ngũ nữ trí thức, nhà khoa học không ngừng phát triển, trưởng thành. Nhiều nhà khoa học nữ xuất sắc trên các lĩnh vực được tôn vinh và trao tặng giải thưởng, trong đó có Giải thưởng Kovalevskaia - Giải thưởng dành riêng cho các nhà khoa học nữ trong nghiên cứu khoa học tự nhiên, khoa học cơ bản. Rõ ràng, phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò, vị thế, sức mạnh và uy tín trong nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị - xã hội của đất nước. 

Những vấn đề đặt ra trong công tác cán bộ nữ

Rõ ràng, ở Việt Nam hiện nay, phụ nữ ngày càng khẳng định được vai trò, vị thế trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong việc tham gia chính trị - vốn vẫn được coi là “địa hạt” nam giới có nhiều ưu thế. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn tồn tại sự bất bình đẳng khá lớn trong công tác cán bộ nữ. Cụ thể:

Thứ nhất, tỷ lệ cán bộ nữ tham gia vào các vị trí cấp chiến lược còn thấp. Trong bối cảnh hiện nay, phụ nữ Việt Nam đã tham gia tích cực vào công tác lãnh đạo, quản lý và bước đầu được ghi nhận, đánh giá cao. Tuy nhiên, so với tiềm năng và nguồn lực cán bộ nữ trong hệ thống chính trị thì tỷ lệ cán bộ quản lý, lãnh đạo nữ vẫn còn thấp so với đội ngũ lao động nữ và so với yêu cầu.

Thứ hai, có sự bất cập giữa yêu cầu thực hiện tốt công tác cán bộ nữ với các điều kiện kinh tế - văn hóa và xã hội. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách, hệ thống các văn bản pháp luật thúc đẩy bình đẳng giới trong hoạt động chính trị. Tuy nhiên, để thực hiện tốt chính sách đó thì việc bảo đảm các điều kiện về kinh tế, văn hóa - xã hội nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ phát huy vai trò của mình là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các cấp, các ngành trong thời kỳ đẩy mạnh quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển. Thực tế cho thấy rằng, mâu thuẫn giữa việc thực hiện tốt chính sách về cán bộ nữ với việc bảo đảm các điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội vẫn đang là vấn đề gặp nhiều khó khăn đối với các cấp, các ngành hiện nay. 

Thứ ba, định kiến giới đối với phụ nữ trong hoạt động lãnh đạo, quản lý vẫn còn khắt khe. Mặc dù sự định kiến giới theo quan niệm truyền thống đã giảm bớt, chuyển biến theo chiều hướng ngày càng tích cực hơn, tuy nhiên, trong nhận thức của nhiều nhóm xã hội về vai trò, vị thế chính trị của phụ nữ vẫn còn có định kiến và khắt khe hơn nhiều so với nam giới. Chính điều này là một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng và sự thăng tiến của phụ nữ trong các lĩnh vực hoạt động chính trị - xã hội.

Thứ tư, một bộ phận phụ nữ còn có tư tưởng tự ti, an phận, ngại thay đổi môi trường công tác, ngại phấn đấu.

Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới

Một là, tiếp tục thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, góp phần đạt được các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030, nhằm tiếp tục thu hẹp khoảng cách giới, tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ và nam giới bình đẳng trong mọi lĩnh vực.

Hai là, chú trọng hơn nữa công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ nữ làm công tác lãnh đạo, quản lý và phát triển toàn diện phụ nữ. Cần xác định, việc tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào công tác lãnh đạo, quản lý là trách nhiệm và công việc quan trọng, thường xuyên của Đảng và Nhà nước, các bộ, ban, ngành, các địa phương, nhất là ở cấp cơ sở, để tránh sự thiếu hụt về số lượng cán bộ nữ. Tăng cường sự tham gia tích cực, có hiệu quả của các nhóm xã hội, nhất là cán bộ nam trong việc thực hiện nghị quyết, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác phát triển đội ngũ cán bộ nữ, để có được đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ trong tổng thể chiến lược công tác cán bộ của Đảng. Công tác phụ nữ cần thực hiện sát hợp với từng đối tượng, vùng, miền, phát huy tinh thần làm chủ, tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng đóng góp cao nhất của các tầng lớp phụ nữ vào sự phát triển của đất nước; chăm lo cho phụ nữ tiến bộ về mọi mặt, quan tâm đầy đủ đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng để phụ nữ có điều kiện thực hiện tốt nhất vai trò của mình trong gia đình và xã hội.

Ba là, tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát và có hình thức xử lý đối với việc không thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác cán bộ nữ. Đối với các địa phương không thực hiện nghiêm túc các quy định của Trung ương về công tác cán bộ nữ thì cần có những hình thức đánh giá hiệu quả thực hiện và xử lý phù hợp.
 
Bốn là, việc thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới có ý nghĩa rất quan trọng trong vấn đề tham gia của cán bộ nữ vào cấp ủy nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất. Cân nhắc điều chỉnh các quy định liên quan đến công tác cán bộ nữ, tạo điều kiện để cán bộ nữ tham gia vào cấp ủy. 

Năm là, tăng cường hợp tác quốc tế nhằm phát triển phụ nữ mạnh mẽ và toàn diện nói chung, đội ngũ cán bộ nữ nói riêng. Tiếp tục chủ động phối hợp chặt chẽ và hiệu quả hơn nữa với các tổ chức quốc tế nhằm phát triển, nâng cao năng lực của phụ nữ làm việc trong các cơ quan đảng, cơ quan nhà nước; phát huy vai trò lãnh đạo của cán bộ nữ có tài năng trong khu vực công; qua đó, góp phần phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo nhân lực nữ cho phát triển kinh tế tri thức, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số; chú trọng đào tạo cán bộ nữ trong đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo và trong các lĩnh vực có tỷ lệ cán bộ nữ chưa tương xứng, nhằm phát triển toàn diện và nâng cao hơn nữa vị thế, sức mạnh và tiềm năng của phụ nữ nước ta trong bối cảnh mới./.

ST.