Thứ Hai, 2 tháng 12, 2024

Có nền kinh tế phát triển cao, nền văn hóa tiên tiến là đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 


Xây dựng nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp là quan điểm nhất quán của Đảng hướng tới xây dựng một xã hội phát triển, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đây là điều kiện suy đến cùng làm cho chủ nghĩa xã hội chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản.

Lực lượng sản xuất hiện đại mà nhân dân ta xây dựng đó là lực lượng sản xuất dựa trên hệ thống công nghệ mới với khoa học công nghệ hiện đại tạo ra năng suất lao động rất cao, bảo vệ môi trường sinh thái, hàm lượng tri thức trong mỗi sản phẩm chiếm tỷ lệ ngày càng cao. Đồng thời, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại phải dựa trên quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp, bảo đảm sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân và đem lại những tiến bộ thật sự cho xã hội.

Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là đặc trưng quan trọng, thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng ta về phát triển một xã hội toàn diện, hài hòa. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc - tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội.

Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, hiện đại, tiếp thu có chọn lọc những giá trị, tinh hoa văn hóa nhân loại; đồng thời kế thừa, phát triển giá trị bản sắc văn hóa của dân tộc, tạo nên sự thống nhất trong đa dạng. Sự kết hợp hài hòa những giá trị tiên tiến, hiện đại với những giá trị mang đậm bản sắc dân tộc, làm cho văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của sự phát triển đất nước.

Tất cả vì con người, cho con người, chăm lo xây dựng con người và phát triển con người toàn diện (đức, trí, thể, mỹ) thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có người xã hội chủ nghĩa”[1]. Trong chủ nghĩa xã hội, hệ giá trị phản ánh nhu cầu chính đáng, nguyện vọng thiết thực của con người là: Có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 123.

Nhân dân làm chủ là đặc trưng cơ bản của đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 


Đặc trưng này chi phối và thể hiện trong toàn bộ hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước. Đảng ta nhận thức rằng sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đó là sự nghiệp của mọi người dân yêu nước, bất kể đó là người Việt Nam ở trong nước hay định cư ở nước ngoài, các giai cấp, dân tộc, tôn giáo, các doanh nhân…

Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trên thực tế, trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân và được thực hiện trên thực tế ở tất cả các lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, xuất phát từ nguyện vọng chính đáng và có sự tham gia ý kiến của nhân dân.

Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội

 


Đây là đặc trưng tổng quát, bao trùm, chi phối các đặc trưng khác. Đảng ta xác định, chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng phải thiết thực, cụ thể, phải làm sao cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; mọi người đều được hưởng quyền tự do, dân chủ, được sống cuộc đời hạnh phúc… Đồng thời, đây là khát vọng tha thiết của toàn thể nhân dân Việt Nam, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội mới mà nhân dân ta xây dựng.

Dân giàu, là một trong những tiêu chí cốt lõi của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thể hiện sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội qua phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, tạo nên nguồn của cải vật chất dồi dào, đời sống vật chất của nhân dân ngày càng nâng cao.

Nước mạnh, là một tiêu chí quan trọng nhằm đưa đất nước vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu. Sức mạnh quốc gia được nâng cao toàn diện trên tất cả các lĩnh vực xã hội. Quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; giữ vững môi trường hoà bình để phát triển đất nước; vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam tiếp tục được nâng cao.

Dân chủ, là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân.

Công bằng, đảm bảo toàn diện trên các lĩnh vực xã hội đối với nhân dân. Về kinh tế, thực hiện công bằng xã hội đối với các thành phần kinh tế, xóa bỏ những thành kiến thiên lệch trong sự đánh giá và đối xử với người lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Về xã hội, từng bước hoàn thiện chính sách xã hội, làm tốt chính sách bảo trợ xã hội, xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu nghèo. Về xây dựng hệ thống chính trị, công bằng xã hội phải được thể hiện trong từng hoạt động, từng chính sách phát triển.

Văn minh, xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội hiện đại, văn minh, giàu bản sắc dân tộc. Xây dựng một xã hội có sự tiếp thu những thành tựu của văn minh nhân loại kết hợp với sự kế thừa những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc.

Chủ nghĩa xã hội là một xã hội công bằng và hợp lý, do quần chúng nhân dân xây dựng nên.

 


Các dân tộc trong nư­­ớc đều bình đẳng, miền núi đ­ược giúp đỡ tiến kịp miền xuôi; luôn đoàn kết hữu nghị với các dân tộc trên thế giới. Thực hiện công bằng xã hội nhằm mang lại một xã hội tốt đẹp cho tất cả mọi người là mục tiêu hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”[1]. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của nhân dân ta. Đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế đã trở thành chiến lược cách mạng của Đảng ta, gắn liền với những thắng lợi vẻ vang của dân tộc, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”[2].

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tin tưởng mãnh liệt vào sức mạnh của quần chúng nhân dân và tôn trọng, kính trọng nhân dân lao động. Người trích lại câu nói của V.I.Lênin: “Lênin nói: Chủ nghĩa xã hội là do quần chúng nhân dân tự mình xây dựng nên”[3], từ đó Người khẳng định: “Đó là công trình tập thể của quần chúng lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng ta[4]. Theo Người, chủ nghĩa xã hội không phải là cái gì cao xa mà cụ thể là ý thức lao động tập thể, ý thức kỷ luật, tinh thần thi đua yêu nước, tăng gia sản xuất cho hợp tác xã, tăng thu nhập cho xã viên, tinh thần đoàn kết tương trợ, tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, không sợ khó, ý thức cần kiệm. Và chính nhân dân là chủ thể, là động lực của sự nghiệp vĩ đại đó.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 404.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 628.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 568.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 609.

Chủ nghĩa xã hội là một chế độ do nhân dân lao động làm chủ.

 


Nhà n­ước phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân để huy động tính tích cực, sáng tạo của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng đất n­­ước. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, đó là mục tiêu chính trị của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội là chế độ chính trị dân chủ, do nhân dân lao động là chủ và làm chủ; Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước có hai chức năng: Dân chủ với nhân dân phát huy quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của nhân dân; chuyên chính với kẻ thù của nhân dân, với thiểu số phản động chống lại lợi ích của nhân dân, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa.

Giá trị dân chủ là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội được Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ bình dị: dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân[1], bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân[2]. Người chỉ rõ con đường và biện pháp phát huy quyền làm chủ của nhân dân qua thực hiện các hình thức dân chủ trực tiếp, nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội của quần chúng; củng cố các hình thức dân chủ đại diện, tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, xử lý và phân định rõ chức năng của chúng.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 457.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 232.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội

 


Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội luôn thể hiện tính thống nhất biện chứng giữa các nhân tố: Kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và đạo đức. Theo Người, “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”[1].

Theo cách tiếp cận riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều quan niệm khác nhau về chủ nghĩa xã hội. Tiếp cận theo mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, Người đặt câu hỏi:Chủ nghĩa xã hội là gì”[2] và trả lời: “Chủ nghĩa xã hội nhằm làm cho đời sống nhân dân ngày càng sung sướng, ăn no, mặc ấm, được học hành, ốm đau có thuốc”[3]. Tiếp cận theo các mặt của xã hội: Về phân phối sản phẩm: “Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con[4]. Về lĩnh vực chính trị: “Nhà nước xã hội chủ nghĩa và dân chủ nhân dân chỉ lo làm lợi cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, ngày càng tiến bộ về vật chất và tinh thần, làm cho trong xã hội không có người bóc lột người”[5].

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm tổng quát: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”[6]. Tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội ngày càng được thể hiện rõ cả về lý luận và thực tiễn, một xã hội phát triển hài hòa trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, vì con người.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 438.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 399.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 437.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 390.

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 453.

[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 415.

Những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội

 


Khẳng định hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, mà giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội với tư cách là một xã hội mới, tiến bộ hơn chủ nghĩa tư bản, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Trước hết, việc quản lý công nghiệp và tất cả các ngành sản xuất nói chung sẽ không còn nằm trong tay của cá nhân riêng lẻ cạnh tranh với nhau nữa. Trái lại, tất cả các ngành sản xuất sẽ do toàn thể xã hội quản lý,... Do đó, chế độ tư hữu cũng phải được thủ tiêu và phải được thay bằng việc sử dụng chung tất cả mọi công cụ sản xuất và việc phân phối sản phẩm theo sự thỏa thuận chung,... Thủ tiêu chế độ tư hữu là một cách nói vắn tắt nhất và tổng quát nhất về việc cải tạo toàn bộ chế độ xã hội; việc cải tạo này là kết quả tất yếu của sự phát triển của công nghiệp. Cho nên, những người cộng sản hoàn toàn đúng khi đề ra việc thủ tiêu chế độ tư hữu thành yêu cầu chủ yếu của mình”[1]. Kế thừa và bổ sung phát triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội là sản phẩm của nền đại công nghiệp cơ khí. Và nếu quần chúng lao động đang xây dựng chủ nghĩa xã hội mà không biết đem ứng dụng những cơ quan của mình cho phù hợp với những phương thức hoạt động của đại công nghiệp cơ khí, thì không thể nói đến việc thiết lập chủ nghĩa xã hội được”[2]. Trên cơ sở luận chứng một cách khoa học về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội như sau:

Cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền công nghiệp hiện đại.

Chủ nghĩa xã hội xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.

Chủ nghĩa xã hội tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới.

Chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động.

Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, thực hiện bình đẳng xã hội, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 467.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 36, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 193.

Quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội

 


Trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa xã hội khoa học khẳng định, sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là kết quả tất yếu của sự phủ định biện chứng hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, do sự vận động, phát triển của các quy luật khách quan chi phối, mà trước hết và chủ yếu là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn về kinh tế và chính trị - xã hội trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa.

Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện và được phân chia thành các thời kỳ và các giai đoạn khác nhau. Dựa trên cơ sở khoa học, chủ nghĩa Mác - Lênin phân chia hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa thành một thời kỳ (thời kỳ quá độ) và hai giai đoạn: Giai đoạn thấp (Chủ nghĩa xã hội); giai đoạn cao (Chủ nghĩa cộng sản).

Chủ nghĩa xã hội, theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, là giai đoạn thấp của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, là kết quả trực tiếp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với những cơ sở kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội tương ứng bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội tồn tại và phát triển lên chủ nghĩa cộng sản.

Trách nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam và cán bộ quân sự cơ sở trong thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam

 


Quân đội nhân dân Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội đặc thù, một tổ chức công cụ bạo lực của giai cấp công nhân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo. Với chức năng, nhiệm vụ của Quân đội là đội quân vũ trang và lực lượng chính trị, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, để bảo vệ những thành quả cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân ta đã giành được; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đất nước, bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội, thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam. Do đó, việc chăm lo xây dựng Quân đội vững mạnh về mọi mặt để hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm vụ của mình là một vấn đề quan trọng thường xuyên của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Nhất là trong tình hình mới hiện nay, trước yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng Quân đội ta theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở. Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bưc hiện đại, một s quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưỏng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội và Công an tuyệt đốì trung thành với Tổ quốc, vi Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưng cách mạng của Đảng, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống[1]. Thực hiện tốt việc tăng cường giáo dục, rèn luyện bản chất giai cấp công nhân cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức quốc phòng trong Quân đội. Kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, nhất là trước âm mưu tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa hòng “phi chính trị hóa Quân đội”. Trước thực tiễn đó, Quân đội ta cần phải phát huy tốt vai trò chức năng của mình hơn bao giờ hết để góp phần thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam, xây dựng và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 157 - 158.

Bổ sung, sửa đổi, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng giai cấp công nhân.

 


Đại hội XIII, Đảng ta chỉ rõ: “Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân[1]. Rà soát, bổ sung, sủa đổi, xây dựng các chính sách, pháp luật về lao động, việc làm và đời sống vật chất, tinh thần; tập trung trước hết vào những chính sách liên quan trực tiếp đến những vấn đề bức xúc đang đặt ra về việc làm và đời sống của công nhân. Bổ sung, sửa đổi, xây dựng các chính sách để phát huy các nguồn lực và trách nhiệm của cả Nhà nước, người sử dụng lao động, các tổ chức chính trị - xã hội, của toàn xã hội và của công nhân trong việc chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân tương xứng với năng suất lao động và những đóng góp của công nhân. Nhà nước có chính sách đầu tư cho các tỉnh, thành phố để xây dựng nhà ở và các công trình phúc lợi công cộng cho công nhân. Đại hội XIII, Đảng ta yêu cầu: “Đổi mới tổ chức và hoạt động của công đoàn phù hợp với cơ cấu lao động, nhu cầu, nguyện vọng của công nhân và yêu cầu hội nhập quốc tế”[2]. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng trong xây dựng giai cấp công nhân. Khẩn trương xây dựng và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả chiến lược về giai cấp công nhân gắn với chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, bao gồm các chủ trương, chính sách lớn về đào tạo, trí thức hóa công nhân; về vấn đề xuất khẩu lao động, kể cả ở các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư kinh doanh ở nước ngoài; vấn đề tạo nguồn để phát triển đảng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị, trong quản lý sản xuất kinh doanh xuất thân từ công nhân; vấn đề nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân...



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, nâng cao trí tuệ từng bước trí thức hóa giai cấp công nhân.

 


Đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho công nhân, nhằm phát triển về số lượng, bảo đảm về chất lượng, hợp lý về cơ cấu, để nước ta có một đội ngũ công nhân có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp ngày càng cao, có khả năng tiếp thu nhanh và làm chủ công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc cho giai cấp công nhân. Cần nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp và bản lĩnh chính trị, ý thức công dân, tinh thần dân tộc, gắn bó thiết tha với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, ý chí vươn lên thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tinh thần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tinh thần phấn đấu vươn lên ngang tầm thời đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế, quyết tâm chiến thắng trong cạnh tranh, tinh thần đấu tranh xây dựng, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động, lương tâm nghề nghiệp... cho công nhân. Đại hội XIII, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Tăng cường tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho giai cấp công nhân”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị

    Sáng 27/11, tại Hà Nội, Trường Sỹ quan chính trị phối hợp với Cục Tuyên huấn và Báo Quân đội nhân dân (Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam) tổ chức Hội thảo khoa học "80 năm xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị - Thành tựu và kinh nghiệm."

Đây là hoạt động hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944-22/12/2024) và 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989-22/12/2024).

Khai mạc Hội thảo, Trung tướng Nguyễn Văn Đức, Cục trưởng Cục Tuyên huấn, đồng Trưởng ban Tổ chức Hội thảo, khẳng định xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị là một nguyên tắc cơ bản, vấn đề xuyên suốt, tạo tiền đề để quân đội tiến lên chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo đảm cho quân đội luôn "Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng."

80 năm qua, từ khi quân đội ta ra đời đến nay, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, góp phần quan trọng để quân đội nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, cùng toàn Đảng, toàn dân lập nên những chiến công chói lọi.

Phát biểu chỉ đạo, Thượng tướng, TS. Lê Huy Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nhấn mạnh thực tiễn 80 năm xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân.

Nắm vững nguyên tắc đó, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị. Đó là bài học xuyên suốt, tạo tiền đề vững chắc để xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, bảo đảm cho quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Hội thảo nhằm tiếp tục khẳng định phát triển và làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận, thực tiễn, khái quát thành tựu và rút ra những bài học kinh nghiệm qua 80 năm xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị; định hướng, đề xuất giải pháp, kiến nghị với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Đây cũng là điều kiện để các cơ quan, đơn vị, nhà trường trong toàn quân tiếp tục xây dựng, bổ sung những luận cứ khoa học về đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu lực, hiệu quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân đội, xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần, bảo đảm cho quân đội hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.

Đề dẫn Hội thảo, Thiếu tướng Đoàn Xuân Bộ, Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân, đồng Trưởng ban Tổ chức Hội thảo gợi mở một số vấn đề cần tập trung thảo luận. Theo đó, các đại biểu tập trung nghiên cứu, bổ sung và phát triển lý luận xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, đánh giá khách quan, toàn diện, chính xác những thành tựu, nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm quý báu về vấn đề này.

Bên cạnh đó, các đại biểu đề xuất các giải pháp liên quan đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo và phát huy vai trò trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chủ trì, cán bộ chính trị, chính ủy, chính trị viên và cán bộ, đảng viên, chiến sỹ trong xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị ở từng loại hình cơ quan, đơn vị, nhà trường quân đội..., từ đó có khuyến nghị, định hướng cơ bản, chiến lược nhằm góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Theo Giáo sư, TS. Đinh Xuân Dũng, nguyên Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn (Tổng cục Chính trị), nguyên Phó Chủ tịch không chuyên trách Hội đồng Lý luận phê bình Văn học nghệ thuật Trung ương, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị phải bao hàm nhiều lĩnh vực, song yếu tố cốt lõi của toàn bộ quá trình đó là nuôi dưỡng, xây dựng, giữ gìn và phát triển phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, hay là kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ.

Đó là việc chuyển từ yêu cầu, nhận thức chính trị thành tình yêu, niềm tin, sự giác ngộ sâu sắc và tự nguyện, để những giá trị văn hóa thấm sâu trong các thế hệ người lính; để lòng trung thành với lý tưởng của Đảng, lòng hiếu thảo với nhân dân và khát vọng cao đẹp xã hội chủ nghĩa trở thành nội lực, nhu cầu tự thân của cán bộ, chiến sỹ, khi "Ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình."


Trung tướng Nguyễn Quốc Tuấn, Chính ủy Trường Sĩ quan chính trị cho rằng, bối cảnh tình hình hiện nay đặt ra yêu cầu xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị càng phải được coi trọng, là vấn đề cơ bản, cấp bách nhằm góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa" trong mọi tình huống.

Để thực hiện mục tiêu này, có thể kể đến một số giải pháp quan trọng như tiếp tục quan tâm đổi mới, tăng cường chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho bộ đội; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ "vừa hồng, vừa chuyên;" nâng cao chất lượng tuyển quân, tuyển sinh quân sự, giáo dục, đào tạo, huấn luyện ở các đơn vị nhằm cung cấp nguồn lực chất lượng cao cho sự nghiệp xây dựng Quân đội; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, âm mưu, hoạt động "diễn biến hòa bình," "phi chính trị hóa" quân đội của các thế lực thù địch./.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân


Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân; công cụ tổ chức quản lý kinh tế, đời sống, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời là người đại diện cho nhân dân trong quan hệ với các nhà nước và dân tộc khác. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có vai trò hết sức quan trọng đối với việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thực hiện phương hướng này, đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý bảo đảm cho nhà nước thực sự đại diện cho quần chúng nhân dân, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân. Xây dựng tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành của nhà nước phù hợp. Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có đủ trình độ, phẩm chất, năng lực, thực sự là công bộc của nhân dân; gắn với đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. 

Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

 


Phương hướng này quán triệt quan điểm, nguyên tắc: Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giữa phát huy nội lực với tranh thủ ngoại lực. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, việc quán triệt quan điểm, nguyên tắc này càng có ý nghĩa quan trọng, góp phần tạo sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng và Nhà nước ta phải luôn giữ thế chủ động trong quan hệ đối ngoại, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu; đồng thời phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; tăng cường quan hệ hữu nghị với các nước, các tổ chức quốc tế, trên cơ sở luật pháp quốc tế và bình đẳng cùng có lợi.

Phương hướng này quán triệt quan điểm “lấy dân làm gốc” và thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Về xây dựng nền dân chủ: Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của tiến trình cách mạng; nhân dân là người suy đến cùng quyết định đến thành bại của cách mạng. Xây dựng nền dân chủ tiến bộ, tạo điều kiện cho con người phát triển, đồng thời huy động được sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Không ngừng mở rộng, phát huy dân chủ, thực hành dân chủ rộng rãi trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; đưa các giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc của dân chủ vào thực tiễn cuộc sống, bảo đảm cho quần chúng nhân dân được tham gia quản lý nhà nước, bàn bạc các chủ trương, quyết sách liên quan đến vận mệnh dân tộc. Xác định những chủ trương, giải pháp phù hợp thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, quy tụ toàn dân tộc tạo động lực và nguồn lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

 


Phát triển kinh tế gắn với xây dựng, phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, chăm lo, phát triển con người toàn diện là bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Qua đó, sẽ động viên, khơi dậy được tính tích cực, sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ chế độ xã hội mới. Thực hiện phương hướng này, phải xây dựng nền văn hoá mới, tiên tiến cả về nội dung và hình thức, trong đó phải giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại. Đồng thời quan tâm, chăm lo đến sự phát triển toàn diện cả phẩm chất, năng lực của con người, trên cơ sở đặt con người đúng vị trí trung tâm của sự phát triển; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển đất nước với thực hiện chính sách xã hội đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc và sự bình đẳng cho nhân dân.