Xây dựng nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản
xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp là quan điểm
nhất quán của Đảng hướng tới xây dựng một xã hội phát triển, nhân dân có cuộc
sống ấm no, hạnh phúc. Đây là điều kiện suy đến cùng làm cho chủ nghĩa xã hội chiến
thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản.
Lực
lượng sản xuất hiện đại mà nhân dân ta xây dựng đó là lực lượng sản xuất dựa
trên hệ thống công nghệ mới với khoa học công nghệ hiện đại tạo ra năng
suất lao động rất cao, bảo vệ môi trường
sinh thái, hàm lượng tri thức trong mỗi sản phẩm chiếm tỷ lệ ngày càng
cao. Đồng thời, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại
phải dựa trên quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp, bảo đảm sự phát triển bền vững của nền kinh
tế quốc dân và
đem lại những tiến bộ thật sự cho xã hội.
Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc là đặc trưng quan
trọng, thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng ta về phát triển một xã hội toàn
diện, hài hòa. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc - tạo
thành nền tảng tinh thần của xã hội.
Xây
dựng nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, hiện đại, tiếp thu có chọn lọc những giá trị, tinh hoa văn
hóa nhân loại; đồng thời kế thừa, phát triển giá trị bản sắc văn hóa của dân tộc, tạo nên
sự thống nhất trong đa dạng. Sự kết hợp hài hòa những giá trị tiên tiến, hiện đại với những giá trị mang đậm
bản sắc dân tộc, làm cho văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của sự
phát triển đất nước.
Tất cả vì con
người, cho con người,chăm lo xây dựng con người và phát triển con người toàn
diện(đức, trí, thể, mỹ) thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng. Đây
vừa là mục tiêu, vừa là động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có người xã hội chủ
nghĩa”[1].
Trong chủ nghĩa xã hội, hệ giá trị phản ánh nhu cầu chính đáng, nguyện vọng
thiết thực của con người là: Có cuộc sống
ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
[1]Hồ Chí Minh, Toàn
tập, tập 12, Nxb Chính trị
quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 123.
Đặc trưng này chi phối và thể hiện trong toàn bộ hoạt động chính trị,
kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa
là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước.Đảng ta nhận
thức rằng sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đó là sự nghiệp của mọi
người dân yêu nước, bất kể đó là người Việt Nam ở trong nước hay định cư ở nước
ngoài, các giai cấp, dân tộc, tôn giáo, các doanh nhân…
Xây dựng và từng
bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là bảo đảm quyền làm
chủ của nhân dân trên thực tế, trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân và được thực hiện
trên thực tế ở tất cả các lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước, các tổ
chức chính trị - xã hội.Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách và pháp luật của Nhà nước đều vì
lợi ích của nhân dân, xuất phát từ nguyện vọng chính
đáng và có sự tham gia ý kiến của nhân dân.
Đây là đặc trưng
tổng quát, bao trùm, chi phối các đặc trưng khác. Đảng ta xác định, chủ nghĩa
xã hội mà nhân
dân ta xây dựng phải thiết thực, cụ thể, phải làm sao cho dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh; mọi người đều được hưởng quyền tự do, dân chủ,
được sống cuộc đời hạnh phúc… Đồng thời, đây là khát vọng tha thiết của toàn thể nhân
dân Việt Nam, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội mới mà nhân dân ta xây
dựng.
Dân giàu, là một trong những tiêu chí cốt lõi của chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam thể hiện sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội qua phát triển mạnh mẽ lực lượng
sản xuất, tạo nên nguồn của cải vật chất dồi dào, đời sống vật chất của
nhân dân ngày
càng nâng cao.
Nước
mạnh, là một tiêu chí quan trọng nhằm đưa đất nước vươn lên sánh vai với các cường quốc năm
châu.Sức mạnh quốc gia được nâng cao toàn
diện trên tất cả các lĩnh vực xã hội. Quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế
ngày càng sâu rộng; giữ vững môi trường hoà bình để phát triển đất nước; vị thế
và uy tín quốc tế của Việt Nam tiếp tục được nâng cao.
Dân
chủ, là bản chất
của chế độ xã hội chủ nghĩa, mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Đồng thời,
dân chủ vừa là
mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân.
Công
bằng, đảm bảo toàn diện trên các lĩnh vực xã hội đối với nhân dân. Về kinh tế, thực hiện công
bằng xã hội đối với các thành phần kinh tế, xóa bỏ những thành kiến thiên lệch
trong sự đánh giá và đối xử với người lao động thuộc các thành phần kinh tế
khác nhau.Về xã hội, từng bước hoàn thiện chính sách xã hội, làm tốt
chính sách bảo trợ xã hội, xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch
giàu nghèo. Về xây
dựng hệ thống chính trị, công bằng xã hội phải được thể hiện trong từng hoạt
động, từng chính sách phát triển.
Văn
minh, xã hội xã
hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội hiện đại, văn minh, giàu bản sắc dân tộc. Xây dựng
một xã hội có sự
tiếp thu những thành tựu của văn minh nhân loại kết hợp với sự kế thừa những
giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc.
Các dân tộc trong nước đều bình đẳng,
miền núi được giúp đỡ tiến kịp miền xuôi; luôn đoàn kết hữu nghị với các dân
tộc trên thế giới.Thực
hiện công bằng xã hội nhằm mang lại một xã hội tốt đẹp cho tất cả mọi người là
mục tiêu hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: Làm
nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người
già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”[1]. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết là một truyền
thống cực kỳ quý báu của nhân dân ta.
Đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế đã trở
thành chiến lược cách mạng của Đảng ta, gắn liền với những thắng lợi vẻ vang
của dân tộc, “Đoàn kết, đoàn kết,
đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”[2].
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn
tin tưởng mãnh liệt vào sức mạnh của quần chúng nhân dân và tôn trọng, kính
trọng nhân dân lao động. Người trích lại
câu nói của V.I.Lênin: “Lênin nói: Chủ nghĩa xã hội là do quần chúng nhân
dân tự mình xây dựng nên”[3],
từ đó Người khẳng
định:
“Đó là công trình tập thể của quần chúng lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng ta”[4]. Theo Người, chủ nghĩa xã hội
không phải là cái gì cao xa mà cụ thể là ý thức lao động tập thể, ý thức kỷ
luật, tinh thần thi đua yêu nước, tăng gia sản xuất cho hợp tác xã, tăng thu
nhập cho xã viên, tinh thần đoàn kết tương trợ, tinh thần dám nghĩ, dám nói,
dám làm, không sợ khó, ý thức cần kiệm. Và chính nhân dân là chủ thể, là động
lực của sự nghiệp vĩ đại đó.
[1]Hồ Chí Minh, Toàn
tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 404.
[2]Hồ Chí Minh, Toàn
tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 628.
[3]Hồ Chí Minh, Toàn
tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 568.
[4]Hồ Chí Minh, Toàn
tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 609.
Nhà nước phải phát huy quyền
làm chủ của nhân dân để huy động tính tích cực, sáng tạo của nhân dân vào sự
nghiệp xây dựng đất nước.Chủ tịch Hồ
Chí Minh chỉ rõ, đó là mục tiêu chính trị của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ
nghĩa xã hội là chế độ chính trị dân chủ, do nhân dân lao động là chủ và
làm chủ; Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước có hai
chức năng: Dân chủ với nhân dân phát huy quyền dân chủ
và sinh hoạt chính trị của nhân dân; chuyên chính với kẻ thù của nhân dân, với thiểu số phản động chống lại lợi ích của nhân dân, chống
lại chế độ xã hội chủ nghĩa.
Giá
trị dân chủ là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội được Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ bình dị: “dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”[1], “bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân”[2].Người chỉ rõ con đường và biện pháp phát huy
quyền làm chủ của nhân dân qua thực hiện các hình
thức dân chủ trực tiếp, nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức chính trị -
xã hội của quần chúng; củng cố các hình thức dân chủ đại diện, tăng cường hiệu
lực và hiệu quả quản lý của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, xử lý
và phân định rõ chức năng của chúng.
[1]Hồ Chí Minh, Toàn
tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 457.
[2]Hồ Chí Minh, Toàn
tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 232.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội luôn thể hiện
tính thống nhất biện chứng giữa các nhân tố: Kinh tế, chính trị, xã hội, văn
hóa và đạo đức. Theo Người, “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng,
tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”[1].
Theo cách tiếp cận riêng,Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều quan
niệm khác nhau về chủ nghĩa xã hội. Tiếp cận theo
mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, Người đặt câu
hỏi: “Chủ nghĩa xã hội là gì”[2] và trả lời: “Chủ nghĩa xã hội nhằm làm cho
đời sống nhân dân ngày càng sung sướng, ăn no, mặc ấm, được học hành, ốm đau có
thuốc”[3].Tiếp cận theo các mặt của xã hội: Về phân phối sản phẩm: “Ai
làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất
nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con”[4].Về lĩnh vực chính trị: “Nhà nước xã hội chủ nghĩa và
dân chủ nhân dân chỉ lo làm lợi cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao động,
ngày càng tiến bộ về vật chất và tinh thần, làm cho trong xã hội không có người
bóc lột người”[5].
Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm tổng quát: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ
nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm
cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”[6].Tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã
hội ngày càng được thể hiện rõ cả về lý luận và thực tiễn, một xã hội phát
triển hài hòa trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, vì con người.
[1]Hồ Chí
Minh, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 438.
[2]Hồ Chí Minh, Toàn
tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 399.
[3]Hồ Chí
Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 437.
[4]Hồ Chí Minh, Toàn
tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 390.
[5]Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia
Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 453.
[6]Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia
Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 415.
Khẳng định hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ
nghĩa, mà giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội với tư cách là một xã hội mới,
tiến bộ hơn chủ nghĩa tư bản, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Trước
hết, việc quản lý công nghiệp và tất cả các ngành sản xuất nói chung sẽ không
còn nằm trong tay của cá nhân riêng lẻ cạnh tranh với nhau nữa. Trái lại, tất
cả các ngành sản xuất sẽ do toàn thể xã hội quản lý,... Do đó, chế độ tư hữu
cũng phải được thủ tiêu và phải được thay bằng việc sử dụng chung tất cả mọi
công cụ sản xuất và việc phân phối sản phẩm theo sự thỏa thuận chung,... Thủ tiêu chế độ tư
hữu là một cách nói vắn tắt nhất và tổng quát nhất về việc cải tạo toàn bộ chế
độ xã hội; việc cải tạo này là kết quả tất yếu của sự phát triển của công
nghiệp. Cho nên, những người cộng sản hoàn toàn đúng khi đề ra việc thủ tiêu
chế độ tư hữu thành yêu cầu chủ yếu của mình”[1]. Kế thừa và bổ sung phát
triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội
là sản phẩm của nền đại công nghiệp cơ khí. Và nếu quần chúng lao động đang xây
dựng chủ nghĩa xã hội mà không biết đem ứng dụng những cơ quan của mình cho phù
hợp với những phương thức hoạt động của đại công nghiệp cơ khí, thì không thể
nói đến việc thiết lập chủ nghĩa xã hội được”[2].Trên cơ sở luận chứng một cách khoa
học về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, các nhà kinh điển chủ
nghĩa Mác - Lênin chỉ ra những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội như sau:
Cơ
sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền công nghiệp hiện đại.
Chủ nghĩa xã hội xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, xây
dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.
Chủ nghĩa
xã hội tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới.
Chủ nghĩa xã hội
thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa
là nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích,
quyền lực và ý chí của nhân dân lao động.
Con người được
giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, thực hiện bình đẳng xã hội, tạo điều kiện cho
con người phát triển toàn diện.
[1]C.Mác và
Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr.467.
[2]V.I.Lênin,
Toàn tập, tập 36, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 193.
Trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ
nghĩa xã hội khoa học khẳng định, sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cộng
sản chủ nghĩa là kết quả tất yếu của sự phủ định biện chứng hình thái kinh tế -
xã hội tư bản chủ nghĩa, do sự vận động, phát triển của các quy luật khách quan
chi phối, mà trước hết và chủ yếu là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh
giải quyết các mâu thuẫn về kinh tế và chính trị - xã hội trong lòng xã hội tư
bản chủ nghĩa.
Hình thái kinh tế
- xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến
hoàn thiện và được phân chia thành các thời kỳ và các giai đoạn khác nhau. Dựa
trên cơ sở khoa học, chủ nghĩa Mác - Lênin phân chia hình thái kinh tế - xã hội
cộng sản chủ nghĩa thành một thời kỳ
(thời kỳ quá độ) và hai giai đoạn: Giai đoạn thấp (Chủ nghĩa xã hội); giai đoạn
cao (Chủ nghĩa cộng sản).
Chủ nghĩa xã hội, theo
quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin,là giai
đoạn thấp của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, là kết quả trực
tiếp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với những cơ sở kinh tế, chính
trị, văn hoá, xã hội tương ứng bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội tồn tại và phát
triển lên chủ nghĩa cộng sản.
Quân đội nhân dân Việt Nam là một tổ chức
chính trị - xã hội đặc thù, một tổ chức công cụ bạo lực của giai cấp công nhân
Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục,
rèn luyện và lãnh đạo. Với chức năng, nhiệm vụ của Quân đội là đội quân vũ
trang và lực lượng chính trị, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, để bảo
vệ những thành quả cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân ta đã giành được;
bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đất nước,
bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội, thực hiện sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân Việt Nam. Do đó, việc chăm lo xây dựng Quân đội vững mạnh về
mọi mặt để hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm vụ của mình là một vấn đề quan
trọng thường xuyên của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Nhất là trong tình hình
mới hiện nay, trước yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng Quân đội ta theo hướng cách
mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó lấy xây dựng về chính
trị làm cơ sở. “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách
mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bướchiện đại, một
số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025,
cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn
đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy,
tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưỏng, đạo đức, tổ chức và cán
bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội
và Công an tuyệt đốì trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà
nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng
của Đảng, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu
cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống”[1]. Thực hiện tốt việc tăng cường giáo dục, rèn luyện bản chất giai cấp công
nhân cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức quốc phòng trong Quân đội. Kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái của chủ nghĩa đế
quốc và các thế lực thù địch, nhất là trước âm mưu tách Quân đội khỏi sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa hòng “phi chính trị hóa Quân
đội”. Trước thực tiễn đó, Quân đội ta cần phải phát huy tốt vai trò chức năng
của mình hơn bao giờ hết để góp phần thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân Việt Nam, xây dựng và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
[1]Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính
trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 157 - 158.
Đại hội XIII, Đảng tachỉ rõ: “Chăm lo đời sống
vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân”[1]. Rà
soát, bổ sung, sủa đổi, xây dựng các chính sách, pháp luật về lao động, việc
làm và đời sống vật chất, tinh thần; tập trung trước hết vào những chính sách
liên quan trực tiếp đến những vấn đề bức xúc đang đặt ra về việc làm và đời
sống của công nhân. Bổ sung, sửa đổi, xây dựng các chính sách để phát huy các
nguồn lực và trách nhiệm của cả Nhà nước, người sử dụng lao động, các tổ chức
chính trị - xã hội, của toàn xã hội và của công nhân trong việc chăm lo cải
thiện đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân tương xứng với năng suất lao
động và những đóng góp của công nhân. Nhà nước có chính sách đầu tư cho các
tỉnh, thành phố để xây dựng nhà ở và các công trình phúc lợi công cộng cho công
nhân.Đại hội XIII, Đảng ta yêu cầu: “Đổi
mới tổ chức và hoạt động của công đoàn phù hợp với cơ cấu lao động, nhu cầu,
nguyện vọng của công nhân và yêu cầu hội nhập quốc tế”[2]. Tăng cường sự lãnh đạo của
các cấp ủy đảng trong xây dựng giai cấp công nhân. Khẩn trương xây dựng và lãnh
đạo thực hiện có hiệu quả chiến lược về giai cấp công nhân gắn với chiến lược
phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh
tế quốc tế, bao gồm các chủ trương, chính sách lớn về đào tạo, trí thức hóa
công nhân; về vấn đề xuất khẩu lao động, kể cả ở các doanh nghiệp Việt Nam đầu
tư kinh doanh ở nước ngoài; vấn đề tạo nguồn để phát triển đảng và bồi dưỡng
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị, trong quản lý sản
xuất kinh doanh xuất thân từ công nhân; vấn đề nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của công nhân...
[1]Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1,
Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị
quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.
Đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn,
chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho công nhân, nhằm phát triển về số lượng, bảo
đảm về chất lượng, hợp lý về cơ cấu, để nước ta có một đội ngũ công nhân có
trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp ngày càng cao, có khả năng
tiếp thu nhanh và làm chủ công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động, chất
lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh.Quan tâm
bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc cho
giai cấp công nhân. Cần nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai
cấp và bản lĩnh chính trị, ý thức công dân, tinh thần dân tộc, gắn bó thiết tha
với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, ý
chí vươn lên thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tinh thần xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, tinh thần phấn đấu vươn lên ngang tầm thời đại trong điều kiện phát triển
kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế, quyết tâm chiến thắng trong cạnh
tranh, tinh thần đấu tranh xây dựng, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động,
lương tâm nghề nghiệp... cho công nhân.Đại hội XIII, Đảng ta đãnhấn mạnh: “Tăng cường tuyên truyền, giáo dục
chính trị, tư tưởng cho giai cấp công nhân”[1].
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị
quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.
Sáng 27/11, tại Hà Nội, Trường Sỹ quan chính trị phối hợp với Cục Tuyên huấn và Báo Quân đội nhân dân (Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam) tổ chức Hội thảo khoa học "80 năm xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị - Thành tựu và kinh nghiệm."
Đây là hoạt động hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944-22/12/2024) và 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989-22/12/2024).
Khai mạc Hội thảo, Trung tướng Nguyễn Văn Đức, Cục trưởng Cục Tuyên huấn, đồng Trưởng ban Tổ chức Hội thảo, khẳng định xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị là một nguyên tắc cơ bản, vấn đề xuyên suốt, tạo tiền đề để quân đội tiến lên chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo đảm cho quân đội luôn "Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng."
80 năm qua, từ khi quân đội ta ra đời đến nay, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, góp phần quan trọng để quân đội nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, cùng toàn Đảng, toàn dân lập nên những chiến công chói lọi.
Phát biểu chỉ đạo, Thượng tướng, TS. Lê Huy Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nhấn mạnh thực tiễn 80 năm xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân.
Nắm vững nguyên tắc đó, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị. Đó là bài học xuyên suốt, tạo tiền đề vững chắc để xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, bảo đảm cho quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.
Hội thảo nhằm tiếp tục khẳng định phát triển và làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận, thực tiễn, khái quát thành tựu và rút ra những bài học kinh nghiệm qua 80 năm xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị; định hướng, đề xuất giải pháp, kiến nghị với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Đây cũng là điều kiện để các cơ quan, đơn vị, nhà trường trong toàn quân tiếp tục xây dựng, bổ sung những luận cứ khoa học về đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu lực, hiệu quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân đội, xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần, bảo đảm cho quân đội hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.
Đề dẫn Hội thảo, Thiếu tướng Đoàn Xuân Bộ, Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân, đồng Trưởng ban Tổ chức Hội thảo gợi mở một số vấn đề cần tập trung thảo luận. Theo đó, các đại biểu tập trung nghiên cứu, bổ sung và phát triển lý luận xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, đánh giá khách quan, toàn diện, chính xác những thành tựu, nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm quý báu về vấn đề này.
Bên cạnh đó, các đại biểu đề xuất các giải pháp liên quan đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo và phát huy vai trò trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chủ trì, cán bộ chính trị, chính ủy, chính trị viên và cán bộ, đảng viên, chiến sỹ trong xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị ở từng loại hình cơ quan, đơn vị, nhà trường quân đội..., từ đó có khuyến nghị, định hướng cơ bản, chiến lược nhằm góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Theo Giáo sư, TS. Đinh Xuân Dũng, nguyên Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn (Tổng cục Chính trị), nguyên Phó Chủ tịch không chuyên trách Hội đồng Lý luận phê bình Văn học nghệ thuật Trung ương, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị phải bao hàm nhiều lĩnh vực, song yếu tố cốt lõi của toàn bộ quá trình đó là nuôi dưỡng, xây dựng, giữ gìn và phát triển phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, hay là kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ.
Đó là việc chuyển từ yêu cầu, nhận thức chính trị thành tình yêu, niềm tin, sự giác ngộ sâu sắc và tự nguyện, để những giá trị văn hóa thấm sâu trong các thế hệ người lính; để lòng trung thành với lý tưởng của Đảng, lòng hiếu thảo với nhân dân và khát vọng cao đẹp xã hội chủ nghĩa trở thành nội lực, nhu cầu tự thân của cán bộ, chiến sỹ, khi "Ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình."
Trung tướng Nguyễn Quốc Tuấn, Chính ủy Trường Sĩ quan chính trị cho rằng, bối cảnh tình hình hiện nay đặt ra yêu cầu xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị càng phải được coi trọng, là vấn đề cơ bản, cấp bách nhằm góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa" trong mọi tình huống.
Để thực hiện mục tiêu này, có thể kể đến một số giải pháp quan trọng như tiếp tục quan tâm đổi mới, tăng cường chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho bộ đội; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ "vừa hồng, vừa chuyên;" nâng cao chất lượng tuyển quân, tuyển sinh quân sự, giáo dục, đào tạo, huấn luyện ở các đơn vị nhằm cung cấp nguồn lực chất lượng cao cho sự nghiệp xây dựng Quân đội; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, âm mưu, hoạt động "diễn biến hòa bình," "phi chính trị hóa" quân đội của các thế lực thù địch./.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân, là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân; công
cụ tổ chức quản lý kinh tế, đời sống, bảo vệ Tổ
quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời là người đại diện cho nhân dân
trong quan hệ với các nhà nước và dân tộc khác. Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa có vai trò hết sức quan trọng đối với việc phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thực hiện phương hướng này, đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ
máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ,
phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý bảo đảm cho
nhà nước thực sự đại diện cho quần chúng nhân dân, đáp ứng được nhu cầu, nguyện
vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân. Xây dựng tổ chức bộ máy, cơ chế vận
hành của nhà nước phù hợp. Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có đủ trình độ,
phẩm chất, năng lực, thực sự là công bộc của nhân dân; gắn với đấu tranh phòng,
chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
Phương hướng này quán triệt
quan điểm, nguyên tắc: Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giữa
phát huy nội lực với tranh thủ ngoại lực. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay,
quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, việc quán triệt
quan điểm, nguyên tắc này càng có ý nghĩa quan trọng, góp phần tạo sức mạnh
tổng hợp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng và Nhà nước ta phải
luôn giữ thế chủ động trong quan hệ đối ngoại, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc và
giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu; đồng thời phải chủ động và
tích cực hội nhập quốc tế; tăng cường quan hệ hữu nghị với các nước, các tổ
chức quốc tế, trên cơ sở luật pháp quốc tế và bình đẳng cùng có lợi.
Phương hướng này quán triệt quan điểm “lấy dân
làm gốc” và thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Về
xây dựng nền dân chủ: Dân chủ vừa là mục tiêu,
vừa là động lực của tiến trình cách mạng; nhân dân là người suy đến cùng
quyết định đến thành bại của cách mạng. Xây dựng nền dân chủ tiến bộ, tạo điều
kiện cho con người phát triển, đồng thời huy động được sức mạnh đoàn kết của
toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Không
ngừng mở rộng, phát huy dân chủ, thực hành dân
chủ rộng rãi trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; đưa các giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc của dân chủ vào
thực tiễn cuộc sống, bảo đảm cho quần chúng nhân dân được tham gia quản lý nhà
nước, bàn bạc các chủ trương, quyết sách liên quan đến vận mệnh dân tộc. Xác
định những chủ trương, giải pháp phù hợp thực hiện đại đoàn kết toàn dân
tộc và tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, quy tụ toàn dân tộc
tạo động lực và nguồn lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Phát triển kinh tế gắn với xây dựng, phát triển
văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của nhân dân, chăm lo, phát triển con người toàn diện là bản chất tốt
đẹp của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Qua đó, sẽ động viên, khơi dậy được
tính tích cực, sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ
chế độ xã hội mới. Thực hiện phương hướng này, phải xây dựng nền văn hoá mới,
tiên tiến cả về nội dung và hình thức, trong đó phải giữ gìn, phát huy bản sắc
văn hoá tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại. Đồng
thời quan tâm, chăm lo đến sự phát triển toàn diện cả phẩm chất, năng lực của
con người, trên cơ sở đặt con người đúng vị trí trung tâm của sự phát triển;
giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển đất nước với thực hiện chính
sách xã hội đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc và sự bình đẳng cho nhân dân.