Chủ Nhật, 8 tháng 6, 2025

Dựa vào nhân dân để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch

Trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng dân tộc Việt Nam, một chân lý không bao giờ thay đổi, trường tồn mãi mãi theo dòng lịch sử cho đến ngày nay và mai sau, đó là quan điểm: “Dân vi bản” (Dân là gốc), chân lý ấy luôn nền tảng cốt lõi cho công cuộc dựng nước và giữ nước, như Vua Lý Thái Tổ khi ban hành Chiếu dời đô đã khẳng định: “Trên vâng mệnh trời, dưới hợp lòng dân”, hay như Nguyễn Trãi viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” khẳng định nhân nghĩa là làm cho dân yên ổn, thể hiện rõ tư tưởng dân là trung tâm của quốc gia; “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”, khẳng định sức mạnh to lớn của Nhân dân.

Trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc ta, một trong những bài học lớn mang tính sống còn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trong bầu trời không gì quý bằng Nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết toàn dân”; người cũng khẳng định: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Lòng dân chính là cội nguồn sức mạnh, là “thành trì vững chắc” để xây dựng ĐảngTrong bối cảnh hiện nay, khi Đảng ta đang đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch vững mạnh, việc phát huy thế trận lòng dân càng trở nên quan trọng. Do vậy, cần phải nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của “thế trận lòng dân”.

Khi nền tảng tư tưởng của Đảng được tuyên truyền, thấu triệt sâu sắc trong quần chúng Nhân dân, Nhân dân tin tưởng tuyệt đối vào những luận cứ khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì những tư tưởng, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch khó có thể xâm nhập, lôi kéo, kích động quần chúng Nhân dân. Bên cạnh đó, Nhân dân còn chính là “tai mắt” của Đảng, kịp thời phát hiện những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch ngay từ cơ sở để thông tin cho Đảng, không thật sự là lực lượng nòng cốt nhưng là hàng rào tự nhiên ngăn chặn sự xuyên tạc, phá hoại về mặt tư tưởng của các lực lượng phản động.

Khi Nhân dân được hưởng thụ thành quả từ cách mạng như cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và quyền làm chủ xã hội, niềm tin vào sự lãnh đạo Đảng được củng cố vững chắc. Chính những lợi ích thiết thực đó là minh chứng sống động cho vai trò lãnh đạo của Đảng, từ đó tạo cơ sở để nhân dân tích cực bảo vệ Đảng, bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp cách mạng của Đảng và của chính Nhân dân ta.

Đây là biện pháp hết sức quan trọng, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm tham nhũng, tiêu cực sẽ góp phần củng cố niềm tin trong Nhân dân về sự liêm chính và minh bạch của Đảng. Vì vậy, cần phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, kiên quyết, kiên trì thực hiện nghiêm quy định của Đảng về phòng, chống tham nhũng; tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý quyền lực, ban hành sửa đổi và hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm bịt các “kẽ hở” dễ phát sinh tham nhũng; tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động công vụ, nhất là các hoạt động đầu tư công, quản lý đất đai, tài chính, tuyển dụng cán bộ... Bên cạnh đó, cần phải phát huy vai trò giám sát của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hôi; tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên; nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan phòng, chống tham nhũng...

Đây là biện pháp có vai trò quyết định đến phương hướng, mục đích hoạt động của Đảng; là yếu tố then chốt góp phần củng cố mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân, cụ thể hóa Phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Vì vậy, Đảng phải xây dựng và thực hiện chính sách an sinh xã hội bằng, triển khai chính sách tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động bằng cách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo nghề, thu hút đầu tư, xóa bỏ khoảng cách giàu, nghèo, tạo đồng thuận xã hội; đồng thời phải tăng cường phòng, chống tham nhũng chính sách của Nhân dân; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm khi đời sống Nhân dân được cải thiện, người dân sẽ thấy rõ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Trong bối cảnh đất nước hội nhập sâu rộng, bên cạnh thời cơ là vô vàn thách thức, thì việc củng cố và phát huy thành trì vững chắc “thế trận lòng dân” sẽ góp phần xây dựng Đảng và bảo vệ Đảng từ gốc rễ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Nhân dân không chỉ là chỗ dựa vững chắc mà còn là chủ thể tích cực trọng việc phát hiện, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc, bảo vệ chân lý của cách mạng. Lòng dân chính là gốc của nước, là nơi sản sinh ra sức mạnh vô tận giúp Đảng trường tồn và phát triển. Hơn lúc nào hết, từng cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần tư tưởng “dân là gốc”, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, phải luôn sâu sát Nhân dân, lắng nghe dân, dựa vào Nhân dân để hoàn thiện mình và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Chỉ khi gắn bó máu thịt với Nhân dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đảng mới không ngừng tự chỉnh đốn, tự đổi mới, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch vững mạnh; vững bước trên con đường lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi./.

Sưu tầm

Phản bác luận điệu “việc xử lý cán bộ tạo ra những bất ổn chính trị”

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã nỗ lực không ngừng nghỉ trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kiên quyết, kiên trì xử lý những cán bộ vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Điều đó cho thấy sự nghiêm minh, không có vùng cấm, đồng thời thể hiện rõ tính nhân văn, “thấu lý đạt tình” xem xét, cân nhắc trên nhiều mặt... Tuy nhiên, trên mạng xã hội lại có những ý kiến “phản biện” rằng, việc xử lý cả những cán bộ cấp cao như vừa qua là một biểu hiện của “những bất ổn chính trị”. 

Liên quan đến những sai phạm xảy ra tại một số ngành, lĩnh vực, một số cán bộ, trong đó có lãnh đạo chủ chốt, lãnh đạo cấp cao cũng đã bị thôi các chức vụ. Theo cơ quan kiểm tra của Đảng, những cán bộ này phải chịu trách nhiệm người đứng đầu theo các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước hoặc đã có vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên...

Từ những kết quả đạt được vừa qua, có thể khẳng định, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được Đảng và Nhà nước ta tiến hành bài bản, đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, thận trọng, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể đó là ai; bảo đảm thực hiện nghiêm những kết luận của Ban Chỉ đạo như kết luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên họp của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày 10/5/2023(3).

Việc xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật cũng cho thấy tính hiệu quả của việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ; là biện pháp nhằm sàng lọc, củng cố, xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Qua đó nhằm giữ vững kỷ cương của Đảng và thực hiện nghiêm minh pháp luật của Nhà nước.

Thay vì ủng hộ những động thái tích cực, mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước ta, một số đối tượng, trong đó có cả những cá nhân là công dân Việt Nam đã cố tình bôi nhọ, suy diễn, bóp méo và gán ghép “hiện tượng” thành “bản chất” từ một số vụ việc đơn lẻ nhằm quy chụp, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Những “nhà ngụy lý luận” trên không gian mạng còn lớn tiếng về cái gọi là “những sai lầm” trong công tác quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ, công tác chuẩn bị nhân sự tại Đại hội Đảng. Một số “nhà dân chủ mạng” thì lu loa về cái gọi là “khủng hoảng nhân sự cấp cao” khi một số lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước xin thôi chức và được Trung ương chấp nhận. Không ít những nội dung trên các mạng xã hội xuyên biên giới còn “lên tiếng yêu cầu” lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước “phải chịu trách nhiệm” cho các vi phạm khuyết điểm của cán bộ, đảng viên...(!).

Cần khẳng định lại, việc xử lý những cán bộ có khuyết điểm ở nước ta trong thời gian qua là sự thể hiện ý chí, quyết tâm lớn cũng như như năng lực, bản lĩnh của Đảng và Nhà nước trong phát hiện, xử lý những sai phạm của cán bộ, đảng viên, kể cả nhân sự cấp cao trong hệ thống chính trị. Thay vì xuê xoa, bao che, Đảng, Nhà nước đã có những hành động quyết liệt, nghiêm khắc trong xử lý; nghiêm túc trong phê bình và tự phê bình; công khai, minh bạch trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý những cán bộ trót “nhúng tràm”. Đây cũng là một cách để khẳng định tính chính danh của Đảng cầm quyền, để giữ vững niềm tin cho các đảng viên và quần chúng nhân dân. Việc làm này không chỉ góp phần quan trọng làm trong sạch đội ngũ mà còn tạo thêm xung lực mới cổ vũ, động viên khích lệ toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tiếp tục đóng góp tích cực cho sự nghiệp cách mạng trong bối cảnh mới.

Thời gian qua, nếu như chúng ta không kịp thời trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, mạnh mẽ trong đấu tranh xử lý tội phạm thì những con “bạch tuộc” như AIC, Phúc Sơn, Xuyên Việt Oil, Thuận An… sẽ tiếp tục âm thầm gặm nhấm nền kinh tế, những hậu quả và hệ lụy về nhiều mặt sẽ còn nặng nề và to lớn hơn rất nhiều. Hoạt động phi pháp của những doanh nghiệp này cùng với sự tiếp tay của một số cán bộ, đảng viên có chức quyền không chỉ làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh tế mà còn làm tác động tiêu cực đến tính liêm chính của hệ thống chính trị, tạo nên sự bất bình đẳng rất lớn giữa các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế.

Rõ ràng là không hề có sự “khủng hoảng niềm tin” hay “khủng hoảng nhân sự lãnh đạo” ở Việt Nam như những giọng điệu suy diễn, xuyên tạc của các thành phần chống phá, bất mãn hoặc thiếu hiểu biết rêu rao trên không gian mạng. Việc một số cán bộ lãnh đạo vi phạm pháp luật, vi phạm Điều lệ Đảng bị xử lý là hoàn toàn bình thường thậm chí rất đáng hoan nghênh. Điều đó cho thấy hệ thống quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã ngày càng hoàn thiện, chặt chẽ, nghiêm minh. Công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại Việt Nam đang đi đúng hướng, vừa nhân văn, vừa nghiêm khắc, vừa chặt chẽ, vừa bao dung. Việc “mạnh tay” xử lý cán bộ kể cả cán bộ cấp chiến lược, thay đổi cán bộ tuyệt nhiên không ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị của đất nước./

Sưu tầm

Xuyên tạc, bóp méo: “Tâm đen” của những kẻ lật sử

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã đập tan hơn 1 triệu quân ngụy, lật đổ hoàn toàn chế độ ngụy quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam, đánh dấu kết thúc 21 năm kháng chiến chống Mỹ, đồng thời, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt việc các cường quốc thế giới can thiệp trực tiếp bằng quân sự vào Việt Nam trong suốt 100 năm. Thế nhưng, ở bên kia chiến tuyến và ngoài biên giới của Tổ quốc, vẫn có kẻ cố chấp, cực đoan, có thái độ hằn thù dân tộc đến cuồng loạn và hành vi chống phá Việt Nam tàn ác. Một trong những việc làm sai trái, rất đáng lên án của họ là dùng mạng xã hội, viết tin, bài, dàn dựng các video clip, các cuộc phỏng vấn, trả lời phỏng vấn để nói xấu Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN; bôi đen bức tranh xã hội Việt Nam sau 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất, chiến công hiển hách nhất của lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, cùng với trận Bạch Đằng (1288), Chi Lăng (1427), Đống Đa (1789) đến Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) chống quân Pháp, đã cắm cột mốc vinh quang chói lọi trong quá trình đi lên của lịch sử nước ta, tô đậm truyền thống kiên cường, bất khuất của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 nói riêng và cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung, không chỉ là thắng lợi riêng của dân tộc Việt Nam mà còn là thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.

Nhưng ngược lại, hiện nay, vẫn còn những “kẻ chạy đi” không biết phục thiện lại ra sức chống đối bằng việc đăng tải các bài viết, video, hình ảnh nhằm xuyên tạc, bôi nhọ chiến thắng của nhân dân ta, đất nước ta, hòng kích động tư tưởng chống phá, dấy lên thù hằn dân tộc, bới móc lại những vết thương của lịch sử với những luận điệu vu khống, bịa đặt trắng trợn. Hàng trăm bài viết kèm các hình ảnh phản cảm dưới tiêu đề “ngày quốc hận”, “tháng tư đen” được chia sẻ, lan truyền trên mạng xã hội để hướng lái dư luận, đánh tráo bản chất chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Nhiều bài viết với nội dung sai trái, tiêu cực được đăng tải trên Internet như: “Tháng tư vẫn là một kỷ niệm đau buồn cho những người ly hương vì mất nước”; “tháng tư quốc hận, xin nghiêng mình tưởng niệm những nạn nhân đã ra đi không đến bến bờ và xin ngưỡng mộ những người đã bỏ hết những gì có được, ra đi để lập lại cuộc đời trên đất nước tự do”. Bằng những luận điệu xuyên tạc trắng trợn về Chiến thắng 30/4, phi lý nhất là họ cào bằng giữa vai trò của kẻ đi xâm lược, đã từng gây vô vàn tội ác cho dân tộc Việt Nam với chính nghĩa là những người đã không tiếc máu xương hy sinh vì hoà bình, độc lập, tự do và thống nhất cho Tổ quốc. Họ khuấy đảo mối thù hận bằng cách gây tâm lý hoài nghi, mập mờ về tính chính nghĩa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam. Sự can thiệp trắng trợn, vô nhân đạo, hành động tàn sát, giết người hàng loạt của đế quốc Mỹ và đồng minh tại Việt Nam lại được coi là một “Sự lựa chọn chính trị khác”, hoặc miền Nam Việt Nam có một “Lý tưởng khác” hoặc “Miền Bắc xâm lược miền Nam hay cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ 1954 đến 1975 chỉ là nội chiến”; ngày 30/4 là Ngày quốc hận. Từ đó, phủ định ý nghĩa Chiến thắng 30/4/1975, đòi từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà nhân dân Việt Nam đã lựa chọn, bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ Đảng với nhân dân, kích động hận thù, ly khai; phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân; làm giảm ý chí quyết tâm, đóng góp xây dựng đất nước của nhân dân, trong đó có đồng bào sống xa Tổ quốc; cố tình đả kích, phủ nhận chính sách và nỗ lực hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước ta. Những luận điệu này không mới, nó đã được tua đi tua lại nhiều lần, nhân dân ta hầu hết đều đã rõ chân tướng sự sai trái, xuyên tạc của những kẻ bại vong, dùng “đại bác để bắn vào quá khứ”. Vì mục đích của họ là “che giấu sự cay đắng vì bại trận” và phủ nhận giá trị, ý nghĩa sự hy sinh xương máu của nhân dân ta.

Nhìn vào những mốc son trong quá khứ, chúng ta đều biết rằng, sau Hiệp định Giơnevơ (1954) được ký kết, cầu Hiền Lương, sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) của tỉnh Quảng Trị trở thành giới tuyến quân sự tạm thời phân chia nước ta thành 2 miền Nam-Bắc. Theo Hiệp định, sau 2 năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Thế nhưng, với âm mưu chia cắt lâu dài nước ta, Mỹ đã đưa quân xâm lược miền Nam và tìm mọi cách để đánh chiếm miền Bắc, buộc nhân dân ta phải sống, chiến đấu anh dũng. Đến ngày 30/4/1975, khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước ta mới trọn niềm vui thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà, đúng như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để có ngày toàn thắng, non sông thu về một mối, nhân dân ta đã phải trải qua 21 năm trường kỳ kháng chiến, hy sinh, gian khổ, hàng vạn thanh niên đã dâng trọn tuổi thanh xuân cho đất nước, giữ trọn lời thề “Sinh Bắc, tử Nam”, “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Bởi vì, Nam-Bắc là một nhà, cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc của quân và dân ta là cuộc kháng chiến chính nghĩa, được cả thế giới và ngay cả người dân Mỹ tiến bộ ủng hộ. Đấy là chân lý thời đại, là cái “dĩ bất biến” của một dân tộc yêu nước, yêu hòa bình chứ không phải là ý niệm và hành động của kẻ hiếu chiến, kích hoạt chiến tranh.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 được coi là ngày hội thống nhất non sông không chỉ của người dân sinh sống tại Việt Nam, mà còn là ngày hội của hàng triệu đồng bào ta đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Ngày hội thống nhất non sông mang ý nghĩa cao cả và có tầm vóc to lớn gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc. Quá khứ được ghi ơn một cách trân trọng, sâu sắc, bởi vì điều quan trọng hơn là lời nhắc nhở về tinh thần yêu quý hòa bình, hòa giải, hòa hợp và đoàn kết dân tộc. Đánh giá tầm vóc, ý nghĩa của Chiến thắng mùa Xuân năm 1975, Đại hội lần thứ IV của Đảng đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”. Cho nên, mọi sự chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị đều không thể làm phai nhạt giá trị, ý nghĩa lịch sử, chủ nghĩa anh hùng cách mạng./.

Sưu tầm

Nhận diện, đấu tranh với sự biến tướng của căn bệnh quan liêu

Quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ, ngoài mệnh lệnh hành chính, nếu người chỉ huy và cấp dưới đặt mình vào vị trí của nhau để cùng chia sẻ, thấu hiểu trách nhiệm ở mỗi cấp thì sẽ tạo được sự đoàn kết nhất trí cao, trên dưới một lòng và hiệu quả công việc sẽ cao hơn. Tuy nhiên, do mắc vào căn bệnh “quan liêu” nên vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) xa rời thực tế, xa quần chúng; nặng về áp dụng phương pháp mệnh lệnh hành chính; chỉ biết hô hào khẩu hiệu chỉ thị, xem báo cáo, làm việc qua loa; lời nói không đi đôi với việc làm; chủ quan, tự mãn. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan chủ”. Đây chính là biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của CB, ĐV cần phải đấu tranh loại bỏ.

Chân dung của người CB, ĐV mắc bệnh quan liêu theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phác họa là “nghị quyết đầy túi áo, thông cáo đầy túi quần”. Vì mắc bệnh quan liêu, tất nhiên những CB, ĐV này sẽ không sâu sát thực tế, quen ngồi nghe báo cáo không kiểm tra, nên sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng trong hai khâu quan trọng nhất là:  Hoạch định chính sách, ra quyết định và công tác cán bộ. Và chân dung người CB, ĐV mắc bệnh quan liêu như Bác đã chỉ ra vẫn còn xuất hiện đâu đó trong những hội nghị, sự kiện quan trọng thời gian qua. Cụ thể, hiện nay là thời điểm các chi bộ trực thuộc Đảng ủy cơ sở trong toàn Đảng tiến hành đại hội. Đại hội là một sự kiện chính trị quan trọng, không chỉ đánh dấu một kỳ sinh hoạt chính trị sâu rộng trong Đảng, mà còn là dịp để mỗi đảng viên cùng nhau nhìn lại quá trình hoạt động, phát triển và đóng góp của chi bộ trong nhiệm kỳ qua. Trước thềm một sự kiện chính trị quan trọng như vậy, bao giờ cũng có đại biểu cấp trên về dự. CB, ĐV và nhân dân rất phấn khởi khi biết tin, sẽ có thủ trưởng cấp trên về dự và phát biểu chỉ đạo. Do tâm lý chung của mọi người đều rất kỳ vọng vào lãnh đạo cấp trên, bởi vì cấp trên bao giờ cũng công tâm, khách quan, nhìn thẳng, nhìn thật, nhìn sâu vào thực tiễn cơ sở bằng lăng kính của người lãnh đạo, bằng tư duy sâu sắc và tầm nhìn phổ quát để định hướng những nội dung có tâm, có tầm, khác về chất so với nhận thức của cấp dưới và quần chúng, từ đó giúp cấp dưới định hướng phương hướng thời gian tới để thực hiện tốt hơn. Thế nhưng, tại đại hội long trọng ấy, mọi sự háo hức của CB, ĐV và nhân dân bỗng trở thành nỗi thất vọng. Sau phần nghe báo cáo trung tâm và các ý kiến thảo luận, đại hội rất mong được lĩnh hội chỉ đạo của đại biểu cấp trên để sớm tháo gỡ một số vướng mắc trong công tác, tổ chức thực hiện và định hướng phương hướng thời gian tới. Thế nhưng, sự chờ đợi ấy bỗng trở thành công cốc vì bài phát biểu chỉ đạo của cấp trên quá dài, khoảng 4 đến 5 nghìn chữ và cứ thế đọc một lèo, chủ yếu nhắc lại nội dung trong báo cáo. Những ý thoát ly được văn bản lại quá chung chung, chưa sát, đúng với đặc điểm tình hình thực tế. Thoạt đầu, mọi người còn chú ý lắng nghe; nhưng về sau, bài phát biểu cứ thế kéo dài, với giọng đọc chậm rãi, đều đều nên sinh ra nhàm chán. Việc CB, ĐV cấp trên phát biểu chỉ đạo “mênh mông” nêu trên cũng là thực trạng tồn tại từ nhiều năm nay ở đội ngũ cán bộ nhiều cấp. 

Thông qua biểu hiện trên cho thấy, những CB, ĐV mắc căn bệnh “quan liêu” thì trong nhận thức họ đã tự đánh mất chính vai trò lãnh đạo của mình. Còn trong hoạt động thực tiễn, những CB, ĐV này không nêu cao được trách nhiệm để đưa nghị quyết vào cuộc sống; họ sẽ hành động theo thói quen, được chăng hay chớ. Rõ ràng, một bộ phận CB, ĐV như vậy, cho dù là ở cấp cơ sở cũng sẽ là lực cản làm giảm năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu rất cao với đội ngũ cán bộ trong lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Theo Người: “Cố nhiên, không phải cứ ngồi trong phòng giấy mà viết kế hoạch, ra mệnh lệnh”. Để tránh tình trạng lý luận không phản ánh đời sống thực tiễn, thiếu tính khoa học và cách mạng, Bác đặc biệt nhắc nhở CB, ĐV tránh tình trạng rất dễ mắc phải là lý luận suông, lý luận thuần túy sách vở, xa rời cuộc sống, không có căn cứ, giáo điều, kinh viện. Người chỉ rõ: “Lý luận mà không có liên hệ thực tiễn là lý luận suông”. Đặc biệt, Người phê phán cách chỉ đạo thiếu cơ sở, chỉ đạo cho có, chỉ đạo nhiều nhưng hiệu quả không cao. Những chỉ dạy quý báu đó đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự và giá trị sâu sắc cả về mặt lý luận và thực tiễn. Bởi vì, cán bộ lãnh đạo là người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương nên công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của cơ quan, đơn vị, địa phương. Mặt khác, việc xây dựng đường lối lãnh đạo đúng đắn, hoạch định chiến lược phát triển, nội dung chỉ đạo đúng, trúng không chỉ khẳng định năng lực lãnh đạo của người đứng đầu mà còn thể hiện sự hiểu biết về ngành, lĩnh vực và địa phương mình đang phụ trách. Từ chuyện chỉ đạo chung chung, phương phưởng, ai cũng nghĩ vô hại, nhưng đặt ra yêu cầu cần chỉnh sửa ngay lề lối làm việc, tác phong công tác của CB, ĐV nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp, để CB, ĐV có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đột phá vì lợi ích chung; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết là rất quan trọng, cần thiết, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. 

Vì vậy, để tránh mắc vào căn bệnh “quan liêu” và những biến tướng nguy hiểm của nó, thì trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác, mỗi CB, ĐV nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt phải tăng cường hoạt động thực tiễn, sẵn sàng dấn thân, hy sinh lợi ích cá nhân. Dám đi đầu, đổi mới, loại bỏ cái cũ, cái lạc hậu; khơi thông điểm nghẽn, giải quyết vướng mắc, ách tắc trong thực tiễn, mang lại hiệu quả cao trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Đó cũng là cơ sở để bản thân hoàn thành tốt nhiệm vụ, khi cấp trên hoàn thành nhiệm vụ là đồng nghĩa với sự thấu hiểu nhiệm vụ cấp dưới của mình, nhìn thấy rõ vấn đề cơ sở đang cần, cấp dưới chưa biết, hoặc khơi gợi, giúp cấp dưới cách thức, hướng đi nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nảy sinh từ thực tiễn. Có vậy thì cấp dưới mới nghe, mới cần, mới tin và trân quý sự chỉ đạo. Muốn làm được như thế, cán bộ lãnh đạo nhất thiết phải là những người sâu sát, gần gũi với cơ sở; kiểm tra phải thực chất để nắm rõ, hiểu sâu từng thế mạnh, từng điểm yếu, điểm nghẽn mà cơ sở đang vướng mắc để có những vạch định sát, đúng, chỉ đạo sát sao, kịp thời. Bên cạnh đó, cán bộ chủ trì, chủ chốt phải không ngừng học tập, trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực lãnh đạo, thực sự là những “chuyên gia” hàng đầu trong ngành, lĩnh vực mình phụ trách. Có như vậy, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ mới đi vào thực chất, hiệu quả và căn bệnh “quan liêu” sẽ tiêu tán không còn./.

Sưu tầm

CHA ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: CHUYÊN ÁN PY27 - SƠN LA TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC!

     Toán biệt Kích Castor (Rái Cá) nhảy dù xuống khu vực đỉnh Pu Nhi, nay ở bản Hý xã Phiêng Ban, huyện Bắc Yên. Đây là toán biệt kích đầu tiên bị bắt ở miền Bắc Việt Nam và là chuyên án đấu trí ly kỳ của an ninh Việt Nam với CIA Mỹ.

22 giờ 5 phút ngày 27-5-1961, trạm cảnh giới ở khu vực châu Phù Yên (Nghĩa Lộ) phát hiện tiếng máy bay lạ đã lập tức báo động. Lực lượng quân đội, công an, dân quân cùng đông đảo nhân dân địa phương khẩn trương tổ chức truy lùng gián điệp biệt kích theo kế hoạch. Ðiểm cao 828 thuộc bản Hỳ (Phiêng Ban, Phù Yên) được xác định là nơi gián điệp biệt kích nhảy dù đã bị bao vây chặt. Sáng sớm ngày 28-5, tên Lò Văn Piếng, trung sĩ nhất truyền tin bị bắt khi đang chuẩn bị máy vô tuyến điện định liên lạc về trung tâm chỉ huy địch.

Ngay sau đó, các tên Quách Thức, Lò Văn Phéng và Hà Văn Chấp (toán trưởng toán gián điệp biệt kích) lần lượt bị bắt. Sau ba ngày truy lùng khẩn trương, ta đã bắt toàn bộ toán gián điệp biệt kích gồm bốn tên, thu toàn bộ phương tiện hoạt động khi chúng chưa kịp liên lạc về trung tâm. Qua khai thác toán Castor (mật danh của toán gián điệp biệt kích này), ta đã nắm được các mật khẩu an ninh và quy ước liên lạc với trung tâm chỉ huy địch. Toán trưởng Hà Văn Chấp và nhân viên truyền tin Lò Văn Piếng tỏ ra ăn năn và tình nguyện lập công chuộc tội. Khống chế được toán trưởng và nhân viên truyền tin là điều kiện tiên quyết để ta mở hướng đấu tranh mới.

Sau khi nghe lãnh đạo Cục Bảo vệ Chính trị trực tiếp báo cáo về vụ Castor, Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn chỉ đạo: "Lập chuyên án đấu tranh nhằm đi sâu tìm hiểu âm mưu địch từ cơ quan đầu não của chúng; nắm cho được số biệt kích chúng đang huấn luyện; dụ chúng đưa hết số biệt kích đã huấn luyện ra bắc để bắt".

Lúc 12 giờ 30 phút ngày 9-6-1961, ta cho liên lạc phiên đầu tiên với trung tâm chỉ huy địch. Nhận được thông tin từ nhóm Castor, Bộ chỉ huy địch ở Sài Gòn mừng rơn vì cho là Castor an toàn, hẹn đêm 1-7-1961 sẽ tiếp tế hàng và tăng thêm người.

Quân địch hý hửng dùng máy bay C47 thực hiện chuyến tiếp tế đầu tiên cho Castor. Nhưng đã xảy ra tình huống ngoài dự kiến khi chiếc C47 bị bắn rơi tại Ninh Bình. Trung tâm chỉ huy địch nghi ngờ Castor bị ta khống chế cho nên đã tiến hành hàng loạt các biện pháp kiểm tra an ninh trong suốt tám tháng liên tục. Ban chuyên án đã khôn khéo thỏa mãn các yêu cầu của địch, buộc chúng tin rằng Castor vẫn an toàn. Kể từ đây, mọi hoạt động của trung tâm chỉ huy địch tại Sài Gòn đều nằm trong vòng kiểm soát và điều khiển của Cơ quan An ninh ta. Trung tâm chỉ huy địch thông báo cho Castor sẽ tăng cường thêm người và tiếp tế hàng theo yêu cầu.

Từ toán Castor, ta đã sử dụng "trò chơi nghiệp vụ" câu nhử địch để mở rộng tiếp ba chuyên án khác; bắt và tiêu diệt 55 tên gián điệp biệt kích, thu 140 kiện hàng (trong đó có nhiều phương tiện hoạt động gián điệp biệt kích hiện đại), góp phần phá hủy hai máy bay địch. Toàn bộ phương tiện hoạt động gián điệp biệt kích thu được ta đã chuyển ngay vào miền nam để lực lượng an ninh tập kích vào các cơ quan ngụy quân, ngụy quyền địch.

Khai thác số gián điệp biệt kích bị bắt, ta không chỉ nắm được căn bản âm mưu của địch mà còn nắm được cụ thể tên tuổi, quê quán số biệt kích đang được huấn luyện, sắp được tung ra miền bắc. Có nhiều toán ta biết trước cả thời gian và địa bàn chúng sẽ xâm nhập để tổ chức đón bắt. Sau gần sáu năm đấu tranh, chuyên án gián điệp biệt kích có bí số PY27 kết thúc. Theo kế hoạch của ta, ngày 4-7-1967, Castor thực hiện phiên liên lạc cuối cùng và nửa chừng bỏ máy.

Chuyên án kết thúc. Ðến lúc đó kẻ địch vẫn không hay biết chúng đã mắc bẫy "trò chơi nghiệp vụ" của lực lượng An ninh ta. Vì thế, các chuyên án đấu tranh chống gián điệp biệt kích khác vẫn được Cơ quan An ninh tiếp tục đến năm 1973 bảo đảm bí mật tuyệt đối./.
Ảnh: Lực lượng Công an bắt tên Lò Văn Piếng, nhân viên truyền tin của toán gián điệp Castor trong Chuyên án PY27 - Sơn La tháng 5-1961.
Yêu nước ST.

Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2025

KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH - SỰ THẬT VÀ NHỮNG LUẬN ĐIỆU CẦN BÁC BỎ

BÀI CUỐI: BỐN TRỤ CỘT KIẾN TẠO KỶ NGUYÊN MỚI!
     Trong bối cảnh toàn cầu hóa và những thách thức mới của thế kỷ 21, Việt Nam đã đứng trước những cơ hội, thách thức đòi hỏi sự lãnh đạo toàn diện, sáng tạo, đổi mới của Đảng. Để đạt được mục tiêu này, Đảng và Nhà nước đã có nhiều quyết sách chiến lược và đột phá khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Từ cơ sở khách quan, nội lực chủ quan đến tầm nhìn chiến lược – Việt Nam không còn “chờ cơ hội”, mà đã tạo ra cơ hội cho chính mình. “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” không chỉ là viễn cảnh, mà đang dần hiển hiện – bằng những bước đi bài bản, vững chắc, kiên cường.

Có thể thấy, với những thời cơ mà bối cảnh thời đại mang lại cùng những thành tựu to lớn mà Việt Nam đạt được qua gần 40 năm đổi mới đất nước thì hiện tại chính là thời điểm hội tụ tổng hòa các lợi thế, sức mạnh, cơ hội để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tiếp sau kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội và kỷ nguyên đổi mới.

Mặc dù chỉ rõ những điều kiện hiện thực cùng cơ sở định vị mục tiêu đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc song với tinh thần khách quan nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức phải đối mặt. Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị ngày 18/5/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã thẳng thắn thừa nhận, đất nước đang đối mặt với những thách thức lớn. Tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu chậm lại; năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo còn hạn chế; chất lượng tăng trưởng chưa thực sự bền vững; nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình cao vẫn hiện hữu. Môi trường kinh doanh tuy đã cải thiện nhưng vẫn còn nhiều rào cản; hạ tầng thiếu đồng bộ; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn chưa hoàn thiện.

“Chúng ta có quyền tự hào, nhưng cũng phải thẳng thắn nhìn nhận: phía trước còn nhiều thách thức gay gắt, đòi hỏi chúng ta không được chủ quan, không được ngủ quên bên vòng nguyệt quế, không được chậm trễ, càng phải không ngừng đổi mới, cải cách, phát huy mọi nguồn lực và động lực trong xã hội, trong nhân dân, triển khai một cách sâu sắc, toàn diện, quyết liệt, quyết tâm đạt được mục tiêu lớn đã đề ra. Những đổi mới, cải cách mà chúng ta đang triển khai không chỉ là yêu cầu khách quan của phát triển mà còn là mệnh lệnh từ tương lai dân tộc” Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh.

Để vượt qua các thách thức, để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới cần quyết tâm thực hiện cho được các định hướng chiến lược như: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, bảo đảm Đảng là người cầm lái vĩ đại, đưa dân tộc ta tiến lên bứt phá, tăng tốc trong kỷ nguyên mới; tăng cường tính Đảng trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân nhằm tập trung tháo gỡ điểm nghẽn lớn nhất trong ba điểm nghẽn là thể chế; tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bảo đảm đồng bộ, kết nối, thông suốt, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; thực hiện chuyển đổi số hướng đến xác lập một phương thức sản xuất mới tiên tiến, hiện đại – “phương thức sản xuất số”.

Đồng thời tạo động lực mới cho phát triển, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi do Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư đem lại, đưa đất nước đi tắt đón đầu phát triển vượt bậc; đẩy mạnh phòng chống lãng phí tương đương với phòng chống tham nhũng, tiêu cực; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; thực hiện đồng bộ các giải pháp định hướng chiến lược phát triển kinh tế, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu, bẫy thu nhập trung bình, trong đó cần đặc biệt chú trọng thực hiện các đột phá mạnh mẽ, quyết liệt về thể chế phát triển; tháo gỡ điểm nghẽn, rào cản, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, huy động, khơi thông mọi nguồn lực bên trong, bên ngoài, nguồn lực trong dân, phát triển khoa học và công nghệ đồng bộ, thông suốt… Tất cả vì mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Thể hiện rõ cho quyết tâm tháo gỡ những điểm nghẽn trên, chỉ trong vòng nửa năm (từ tháng 12/2024 đến tháng 5/2025), Tổng Bí thư Tô Lâm đã thay mặt Bộ Chính trị ban hành liên tiếp bốn nghị quyết có tính chất đột phá – được ví như “Bộ tứ trụ cột” của tiến trình phát triển đất nước trong thời đại mới. Đó là: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.

Nhìn về tương lai, chúng ta xác định rõ: muốn phát triển nhanh và bền vững, Việt Nam không thể đi theo lối mòn cũ. Chúng ta phải dám nghĩ lớn, hành động lớn, thực hiện những cải cách lớn với quyết tâm chính trị cao nhất và nỗ lực bền bỉ nhất.

Bốn nghị quyết lớn của Bộ Chính trị đã cùng tạo nên một chỉnh thể thống nhất về tư duy và hành động chiến lược cho sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Mặc dù mỗi nghị quyết tập trung vào một lĩnh vực trọng yếu, nhưng dược liên kết chặt chẽ, bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình quán triệt và tổ chức thực hiện. Cả bốn nghị quyết đều thống nhất mục tiêu: xây dựng nền tảng vững chắc để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Nghị quyết số 66-NQ/TW yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật minh bạch, hiện đại, bảo đảm quyền con người và quyền công dân. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là trụ cột tăng trưởng mới. Nghị quyết số 59-NQ/TW mở rộng không gian phát triển thông qua hội nhập quốc tế chủ động, tích cực. Nghị quyết số 68-NQ/TW thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân trở thành động lực trung tâm cho nền kinh tế.

Bốn nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị ban hành trong thời gian gần đây sẽ là những trụ cột thể chế nền tảng, tạo động lực mạnh mẽ đưa đất nước ta tiến lên trong kỷ nguyên mới, hiện thực hóa tầm nhìn Việt Nam phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. 

Cũng tại Hội nghị quán triệt các nghị quyết trên, Tổng Bí thư Tô Lâm đã kêu gọi: “Tôi kêu gọi toàn hệ thống chính trị, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân hãy chung sức, đồng lòng, vượt qua mọi khó khăn, biến khát vọng thành hành động, biến tiềm năng thành sức mạnh thực tế, để cùng nhau đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên phát triển, thịnh vượng, hùng cường của dân tộc Việt Nam”.

Lịch sử đã chọn chúng ta cho một sứ mệnh lớn. Tương lai sẽ chỉ đến nếu chúng ta dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm trước dân tộc với tư duy chủ động, hành động quyết liệt và tài năng lãnh đạo xứng tầm kỷ nguyên mới.

Tóm lại, kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – không phải là một khẩu hiệu mơ hồ, càng không phải là thứ niềm tin mù quáng. Đó là kết tinh của một quá trình phát triển liên tục, bền bỉ, có căn cứ khoa học và thực tiễn sinh động, từ khát vọng độc lập dân tộc, xây dựng đất nước, đến công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập sâu rộng hôm nay. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong gần 40 năm qua đã minh chứng cho sự đúng đắn, sáng suốt của con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Những thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gieo rắc tâm lý hoài nghi, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, với luận điệu mị dân, phản động. Họ cố tình lờ đi sự thật rằng chính dưới sự lãnh đạo kiên định, đổi mới và quyết đoán của Đảng, Việt Nam đã vượt qua biết bao thử thách khốc liệt, vươn lên từ nghèo nàn, lạc hậu để trở thành một quốc gia đang phát triển năng động, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế.

Càng trong thời điểm bản lề của lịch sử, chúng ta càng cần vững tin và cảnh giác. Phản bác những luận điệu sai trái không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan lý luận, truyền thông, mà là nghĩa vụ của mỗi công dân yêu nước. Bởi vì bảo vệ niềm tin chính trị không phải là bảo thủ, mà là bảo vệ nền tảng tư tưởng đúng đắn – nơi hội tụ trí tuệ, bản lĩnh, và khát vọng Việt Nam.

Kỷ nguyên mới đang mở ra trước mắt, nhưng không dành cho những ai hoài nghi, do dự. Đó là kỷ nguyên của những con người biết dấn thân, hành động và phụng sự. Chúng ta không chọn con đường dễ đi, mà chọn con đường đúng đắn. Và chính con đường ấy, với Đảng là người dẫn đường, với Nhân dân là chủ thể kiến tạo, sẽ đưa đất nước đến đích vinh quang: Một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai cùng năm châu như Bác Hồ hằng mong mỏi./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TẠO CƠ SỞ HIẾN ĐỊNH CHO VIỆC TINH GỌN BỘ MÁY!

     Hiến pháp là luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất, là cơ sở cho việc xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Tất cả các văn bản quy phạm pháp luật đều phải phù hợp với Hiến pháp và không được trái Hiến pháp. Bởi vậy, mỗi khi điều kiện, định hướng phát triển kinh tế-xã hội thay đổi thì việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là đòi hỏi tất yếu của lịch sử.

Từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (ngày 2-9-1945) đến nay, chúng ta đã trải qua 5 lần ban hành và sửa đổi Hiến pháp với các bản: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 đang thực hiện hiện nay.

Hiến pháp năm 1946 có ý nghĩa vô cùng quan trọng với nhiều nội dung tiến bộ, tạo nền tảng cho xây dựng và bảo vệ đất nước. Năm 1959, sửa đổi Hiến pháp để thực hiện mục tiêu xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, làm hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam, thực hiện mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Sau giải phóng miền Nam, năm 1980, chúng ta tiếp tục sửa đổi Hiến pháp để xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước, thúc đẩy kinh tế xã hội chủ nghĩa trong thời điểm đất nước đã hòa bình.

Khi tình hình kinh tế-chính trị thế giới thay đổi, mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, nhiều quốc gia định hướng phát triển xã hội xã hội chủ nghĩa tích cực tiến hành đổi mới kinh tế, cải cách xã hội trong thời kỳ mới thì Việt Nam cũng sửa đổi và ban hành Hiến pháp năm 1992. Đến năm 2013, đất nước từng bước phát triển, thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì Hiến pháp lại được sửa đổi để đáp ứng yêu cầu thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội trong thời kỳ hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.

Đến nay, trước tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tổ chức lại bộ máy của hệ thống chính trị thì việc xây dựng lại hệ thống pháp luật là đòi hỏi tất yếu của lịch sử. Theo Hiến pháp hiện nay, chính quyền được tổ chức làm 4 cấp là chính quyền Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Tổng kết thực tiễn thực hiện pháp luật trong những năm qua cho thấy, cấp huyện là cấp trung gian có lượng cán bộ, công chức, viên chức khá lớn.

Việc tinh gọn bộ máy, bỏ cấp huyện, tăng thẩm quyền cho cấp xã là chủ trương đúng đắn, hoàn toàn hợp lý. Một nguyên tắc chung là quản lý nhà nước từ chủ trương, đường lối của Đảng đến chính sách và pháp luật của Nhà nước. Trong đó, chủ trương, đường lối là những tư tưởng định hướng đi trước, sau đó sẽ thể chế hóa thành pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, tổng kết thực tiễn rồi hoàn thiện lại chính sách, tiếp tục sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật...

Đảng ta đã chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị bảo đảm yêu cầu tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12-4-2025 của Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã thống nhất định hướng xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, sắp xếp các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 trong thời điểm hiện nay là tất yếu, tạo cơ sở hiến định cho việc thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy, xây dựng, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới-kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc.

Mục đích, yêu cầu của việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, trước hết là thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; tạo cơ sở hiến định cho việc sắp xếp cơ quan của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, hoàn thiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp theo hướng gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân tốt hơn.

Sắp xếp lại tổ chức bộ máy là điều kiện quan trọng để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, giúp phát triển quan hệ sản xuất. Bộ máy được tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy ứng dụng khoa học-công nghệ hiện đại, làm cho công cụ lao động tiên tiến, người lao động tiến bộ, đáp ứng được yêu cầu làm chủ công nghệ để phát triển kinh tế-xã hội. Đó là những đổi mới vô cùng quan trọng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, kinh tế-xã hội phát triển, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước một cách nhanh chóng./.
Ảnh: Một góc TP Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: GIỮ NGUYÊN TẮC "VÌ VIỆC MÀ BỐ TRÍ NGƯỜI" TRONG TINH GỌN BỘ MÁY!

     Để thực hiện thành công cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị cần triển khai đồng bộ, hiệu quả nhiều việc, trong đó, một vấn đề đặc biệt quan trọng là công tác cán bộ!

Hiện tượng “chạy chức” và “chia phần”

Có dịp tiếp xúc, trò chuyện với một số cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan, đơn vị, địa phương thuộc diện phải sáp nhập, sắp xếp, tổ chức lại, chúng tôi cảm nhận được suy nghĩ, cách hành xử khác nhau của mỗi người. Phần nhiều cán bộ, công chức bày tỏ sự tin tưởng vào chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, coi việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị là tất yếu khách quan, từ đó luôn nỗ lực, quyết tâm làm việc và nghiêm chỉnh chấp hành sự phân công, sắp xếp của tổ chức. Một số nhận thấy trình độ, năng lực không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới hoặc phải làm việc xa gia đình, điều kiện hoàn cảnh khó khăn, hoặc tìm được cơ hội việc làm phù hợp bên ngoài... nên chủ động xin nghỉ hưu sớm và hài lòng với những chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cần cảnh giác với những biểu hiện “chạy chức, chạy quyền” để có được vị trí cao hơn, “ngon” hơn. Những người này coi việc sắp xếp lại bộ máy là cơ hội “nghìn năm có một”, vì từ nhiều phòng sáp nhập thành một phòng, từ nhiều cơ quan tổ chức lại thành một cơ quan, từ nhiều tỉnh hợp nhất thành một tỉnh... do đó, địa bàn sẽ rộng hơn, quy mô quản lý lớn hơn, thẩm quyền cao hơn... đồng nghĩa là sẽ có nhiều “bổng lộc” hơn nếu trở thành cán bộ có chức, có quyền ở những cơ quan, đơn vị, địa phương này. Bởi vậy, họ sẵn sàng “chạy” nhiều nơi, qua nhiều “cửa” với hy vọng sẽ “thu hoạch” được nhiều hơn thế.

Vậy họ “chạy” bằng cách nào? Câu trả lời là vẫn bằng những thủ đoạn không mới: Tận dụng các mối quan hệ sẵn có hoặc nhờ bạn bè, người thân giới thiệu, “dẫn lối” nhằm tiếp cận và dùng tiền hoặc các lợi ích vật chất, phi vật chất khác để nhờ vả, “đặt vấn đề” với những cá nhân giữ trọng trách, lãnh đạo cấp trên, từ đó tác động, gây ảnh hưởng, can thiệp vào quy trình công tác cán bộ theo hướng có lợi. “Cái mới” của việc “chạy chức, chạy quyền” trong bối cảnh sắp xếp, tổ chức lại bộ máy là những người này rất nhanh nhạy phát hiện ra các vị trí công tác “béo bở”, tiềm năng, những cán bộ có khả năng sẽ đảm nhận cương vị lãnh đạo trong cơ quan, đơn vị, địa phương sau khi tổ chức lại để tạo quan hệ, đồng thời rất “quyết đoán” trong “đầu tư” nhằm không bỏ lỡ cơ hội.

Cùng với “chạy chức, chạy quyền”, cần đề phòng một biểu hiện tiêu cực khác trong công tác cán bộ khi sắp xếp, tổ chức lại bộ máy là tư tưởng “chia phần”. Đó là việc một số vị trí được “chia” cho các cán bộ từ cao xuống, bất chấp tình hình thực tiễn, phẩm chất, năng lực, sở trường, quy trình công tác cán bộ. Điều này khiến cán bộ, công chức ở cơ sở dù có trình độ, năng lực, kinh nghiệm cũng không còn cơ hội phấn đấu. Đó còn là tình trạng khi sáp nhập, nếu địa phương của anh, cơ quan của anh có người đảm nhận vị trí lãnh đạo sở, ngành này, phòng kia thì địa phương của tôi, cơ quan của tôi cũng phải được “chia phần” để giữ vị trí tương ứng...

Niềm tin suy giảm theo hiệu ứng domino

Những biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ nói trên nếu không được phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn sẽ dẫn tới những hệ lụy nghiêm trọng. Trước hết, niềm tin của đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước rất có thể sẽ bị suy giảm theo hiệu ứng domino (lan truyền từ việc này sang việc khác). Thực vậy, sắp xếp, tổ chức lại bộ máy là cuộc cách mạng, được cả hệ thống chính trị thực hiện với quyết tâm rất cao. Cách mạng có nghĩa là phải xóa bỏ cái cũ, cái lạc hậu, mang lại cái mới, cái tiến bộ-đây là mục tiêu và cũng là kỳ vọng của toàn xã hội. Thế nhưng, khi đã được thực hiện với tư cách một cuộc cách mạng, nếu vẫn để xảy ra các biểu hiện tiêu cực, trong đó có tiêu cực trong công tác cán bộ thì sẽ khó tránh khỏi những băn khoăn, nghi ngại của dư luận: Vậy trong thực hiện các chủ trương, chính sách khác thì sao? Niềm tin bị suy giảm khiến lòng dân thiếu đồng thuận, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, là mầm mống xuất hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển của đất nước.

Cùng với đó, nạn “chạy chức”, “chia phần” còn ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu, kết quả của việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy theo hướng hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Đó là vì điều này sẽ dẫn tới tình trạng cán bộ, công chức “ngồi nhầm ghế”. Hậu quả là một số cán bộ thiếu tâm, thiếu tầm, thiếu tài, không đủ tiêu chuẩn, điều kiện nhưng lại chiếm giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy công quyền. Ngược lại, nhiều cán bộ có năng lực, trình độ, phẩm chất tốt lại bị đẩy ra ngoài, tạo ra sự "chảy máu chất xám", lãng phí nguồn lực, làm giảm động lực phấn đấu, sáng tạo của cán bộ...

"Vì việc mà bố trí người"

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Phương cách “dụng nhân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sử dụng cán bộ “đúng chỗ, đúng việc”, “tùy tài mà dùng người”... Có thể nhận thấy cốt lõi của phương cách này chính là nguyên tắc “vì việc mà bố trí người”.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng, xác định công tác cán bộ là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là “then chốt của then chốt”, từ đó có nhiều chỉ thị, nghị quyết, quy định... để lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tiêu cực. Công tác cán bộ trong cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy cũng không nằm ngoài dòng chảy đó.

Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu rõ nguyên tắc “vì việc mà bố trí người” trong quá trình sáp nhập, hợp nhất, tinh gọn bộ máy và chuẩn bị nhân sự đại hội Đảng khi nhấn mạnh “phải lấy tiêu chuẩn cao nhất là vì yêu cầu công việc, sau đó mới đến các tiêu chí khác”. Mới đây, ngày 25-5-2025, Bộ Chính trị cũng đã ban hành Kết luận số 157-KL/TW về triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính. Kết luận nêu rõ phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tuyệt đối tránh khuynh hướng, tư tưởng cục bộ địa phương, "lợi ích nhóm", tiêu cực...; nghiêm cấm việc tác động, can thiệp trong quá trình sắp xếp nhân sự...

Đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực như nạn “chạy chức, chạy quyền”, “chia phần” trong công tác cán bộ, giữ vững nguyên tắc “vì việc mà bố trí người” trong tinh gọn bộ máy là vấn đề quan trọng, cấp thiết. Để làm được điều này, trước hết, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cơ quan, đơn vị, địa phương cùng cấp ủy đảng phải là “chốt chặn” đầu tiên. Bởi thực tế cho thấy, nếu người đứng đầu thực sự gương mẫu, công tâm, không tham nhũng, tiêu cực, không dao động, nể nang trước sức ép, sự “gửi gắm” từ cấp trên; sức chiến đấu của các tổ chức đảng thực sự được phát huy thì tiêu cực sẽ khó có thể tồn tại. Bên cạnh đó, cần rà soát, hoàn thiện các quy định, quy trình công tác cán bộ theo hướng chặt chẽ, dân chủ, công khai, minh bạch, gắn với những tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể, phù hợp, rõ ràng, tránh tình trạng lấy tập thể làm bình phong cho những quyết định mang tính cá nhân. Mặt khác, cũng rất cần có cơ chế gắn trách nhiệm của các tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu với việc thực hiện công tác cán bộ, đồng thời tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời các biểu hiện vi phạm.

Cuối cùng, cần phải khẳng định rằng, phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm của từng cán bộ, công chức là nền tảng vững chắc để công tác cán bộ không bị tha hóa bởi những biểu hiện tiêu cực nói chung, giữ vững nguyên tắc “vì việc mà bố trí người” nói riêng. Mơ ước, khát vọng phát triển sự nghiệp của mỗi người là hoàn toàn chính đáng, song phải bằng tài năng, phẩm chất chứ không phải thông qua “chạy chức, chạy quyền”. Đây mới là con đường bền vững, đúng đắn mà mỗi cán bộ, công chức cần lựa chọn, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước./.
Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: ĐỂ NHÀ NƯỚC KHÔNG PHẢI "GẶM XƯƠNG"!:

     Trong không khí đổi mới tư duy, Nghị quyết 68 của Trung ương mở ra cánh cửa lớn cho kinh tế tư nhân tham gia vào phát triển hạ tầng quốc gia. Khuyến khích tư nhân là chính sách đúng đắn. Nhưng không thể lấy "giấc mơ lớn" làm bằng chứng cho năng lực. Họ cần được thử thách qua các tuyến nhỏ, phân đoạn độc lập, hợp tác minh bạch. Và quan trọng nhất: họ phải sẵn sàng chịu lỗ bằng tài sản thật, không phải chỉ bằng lời hứa.

✅ TƯ NHÂN KHÔNG PHẢI NHÀ NƯỚC KHÁC

Kinh tế tư nhân, xét về bản chất, là sự kết tinh giữa tư lợi và rủi ro. Tư nhân làm tốt vì họ biết kiếm lợi và biết sợ mất tiền. Họ khôn ngoan vì buộc phải sống sót trong thị trường. Họ sáng tạo vì phải cạnh tranh. Và họ linh hoạt vì không bị ràng buộc vào máy móc hành chính. Nhưng điều đó chỉ đúng trong giới hạn: họ chỉ làm điều có lợi và né điều quá rủi ro - hoặc đùn đẩy rủi ro nếu có thể.

Tư nhân không sinh ra để “phục vụ cộng đồng” như một sứ mệnh hiển nhiên. Họ phục vụ lợi ích xã hội chỉ khi điều đó trùng khớp với lợi ích cá nhân. Đây là điều Adam Smith đã chỉ ra - bàn tay vô hình điều tiết xã hội thông qua tư lợi. Nhưng điều đó không có nghĩa ta có thể giao toàn quyền trong những lĩnh vực mà rủi ro xã hội cao hơn lợi ích cá nhân.

Lịch sử tư bản phương Tây đầy rẫy bài học: khi có lợi - họ đầu tư, cải tiến, tạo ra việc làm. Nhưng khi rủi ro vượt ngưỡng - họ thanh lý, sa thải, rút lui. Cái gọi là “trách nhiệm xã hội” chỉ có khi doanh nghiệp có lãi và cần hình ảnh - còn khi lỗ, họ chỉ chịu trách nhiệm đóng cửa đúng thủ tục. Không hơn.

✅ KHÔNG THỂ PHÓ THÁC HẠ TẦNG QUỐC GIA CHO NHỮNG TAY CHƠI CƠ HỘI

Khi một doanh nghiệp tư nhân tuyên bố muốn đầu tư vào các dự án trăm nghìn tỷ kéo dài hàng chục năm, điều đầu tiên không phải là vỗ tay hoan nghênh, mà là đặt ra ba câu hỏi thiết yếu:
1. Doanh nghiệp đó đã từng làm dự án nào tương tự chưa?

2. Họ có tài sản nào đủ lớn để chịu trách nhiệm nếu thất bại?

3. Nếu thua lỗ, họ có sẵn sàng tiếp tục gánh vác, hay sẽ rút lui, để lại công trình dở dang và gánh nặng cho ngân sách?

Nếu câu trả lời là “chưa từng”, “không rõ” và “khó nói trước” - thì đó không phải là doanh nghiệp để đặt cược vào những công trình như đường sắt cao tốc Bắc - Nam, sân bay Long Thành hay hạ tầng viễn thông quốc gia.

Tư nhân có thể là đối tác, là nhà thầu, là người đồng hành. Nhưng không thể là chủ trò nếu chưa qua thử thách thực tế, chưa có lịch sử thành công trong các dự án tương đương. Đặt cược vào họ không phải là phát triển, mà là thí nghiệm ngân sách bằng giấc mơ giấy.

✅ KHÁT VỌNG KHÔNG THỂ THAY THẾ CHO NĂNG LỰC 

Tư nhân sẽ làm metro nếu đó là tuyến nội đô sinh lời. Họ sẽ làm mạng di động nếu đó là khu vực đông dân, thu nhập cao. Họ sẽ làm hạ tầng nếu có sẵn nguồn thu để hoàn vốn nhanh. Nhưng họ sẽ né những nơi xa, ít dân, lãi mỏng hoặc lỗ chắc. Nếu không có chính sách hỗ trợ - họ không làm.

Đó là lý do nhà nước phải đứng ra lo phần còn lại: cầu ở vùng sâu, ga metro nối khu dân nghèo, mạng viễn thông phủ sóng biên giới, hạ tầng mở rộng vào vùng yếu thế. Đây là phần "xương" của công cuộc phát triển, nơi mà tư nhân không chạm tới - hoặc chạm tới là để… rút lui khi hết lợi.

Vì thế, khi một doanh nghiệp chưa từng làm hạ tầng, chưa từng huy động vốn quốc tế, nhưng đề xuất dự án 60 tỷ USD kèm theo điều kiện: nhà nước bảo lãnh, hỗ trợ lãi vay 30 năm - thì đó không phải là đầu tư. Đó là một canh bạc tài khóa, mà người chịu rủi ro không phải là họ - mà là ngân sách, là người dân.

Trong mọi nền kinh tế, nguyên tắc tối thiểu là: tiền của ai, người đó phải quản lý. Nếu nhà nước rót vốn, thì nhà nước phải có quyền kiểm soát, đánh giá hiệu quả, lựa chọn đối tác. Không thể để một doanh nghiệp “môi giới rủi ro”, đứng giữa để hưởng phần chênh, trong khi bản thân không đủ tài sản lẫn uy tín để gánh trách nhiệm nếu dự án trật bánh.

Nếu không, họ sẽ chỉ là người đến ăn tiệc khi mâm cơm đã dọn sẵn - và rút lui khi món chính không hợp khẩu vị. Còn phần dọn dẹp hậu quả - như thường lệ - lại là việc của Nhà nước và nhân dân./.
Yêu nước ST.

Thứ Sáu, 6 tháng 6, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: FIDEL CASTRO VÀ NHÂN DÂN CUBA VỚI VIỆT NAM!

         Năm 1969, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh mất, Cuba và nhiều nước trên thế giới (có những nước không thuộc chế độ Cộng Sản) đã tổ chức Quốc tang 7 ngày.
Năm 1973, khi chiến tranh Việt Nam đang trong giai đoạn cực kỳ căng thẳng. Fidel Castro trực tiếp đến Việt Nam, tham gia vào phòng tuyến Quảng Trị. Trong chuyến thăm này, Cuba tặng Việt Nam nhiều công trinh kinh tế - xã hội trị giá khoảng 80 triệu đô la gồm:

- Khách sạn Thắng Lợi ở Hà Nội, trên đường Yên Phụ, Hồ Tây. Hiện nay vẫn còn sử dụng tốt

- Nông trường bò sữa Mộc Châu với 1.200 con bò thụ thai ở Cuba và đẻ ở Việt Nam (trẻ em Cuba được uống sữa miễn phí hằng ngày, còn trẻ em Việt Nam không có sữa mà uống vì các công trình y tế, trang trại bị Mỹ ném bom phá hủy)

- Nông trường gà ở Lương Mỹ (Hòa Bình) sau thành nơi cung cấp gà giống cho cả miền Bắc (sữa không có mà uống, thịt không có mà ăn) ==>(?!!!)

- Bệnh viện Cuba 500 giường ở Đồng Hới (Quảng Bình). Ai là dân Quảng Bình chắc chắn phải biết nhờ cái bệnh viện này hàng trăm nghìn người đã được chăm sóc y tế, đã được cứu sống.

- Chính phủ Cuba ngoài viện trợ lương thực, y tế còn quyết định chi hơn 6 triệu USD để mua các trang thiết bị hiện đại từ Nhật Bản và cử một số sĩ quan, chuyên viên sang Việt Nam để tu sửa, xây dựng cầu đường.

Năm 1977, Cuba vận động tất cả các nước Mỹ Latinh bỏ phiếu ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc.

Năm 1979, khi Trung Quốc tấn công biên giới phía Bắc Việt Nam. Fidel Castro lại một lần nữa nhấn mạnh "Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình". Ông ra lệnh cho quân đội sẵn sàng đến trợ giúp Việt Nam. Tuy nhiên ngay sau đó, Liên Xô đưa quân đội cùng rất nhiều tên lửa đến sát biên giới Trung Quốc và tuyên bố sẽ san phẳng Bắc Kinh nếu như Trung Quốc không rút quân về nước. Trung Quốc vội vàng thu quân.

Những năm 80, Mỹ cấm vận, trừng phạt kinh tế, dùng nhiều thủ đoạn để cắt đứt mọi quan hệ ngoại giao của Việt Nam với thế giới, Cuba vẫn luôn luôn viện trợ Việt Nam về mọi mặt.

Năm 1973 Cuba giúp ta bắc cầu treo Bến Tắt qua thượng nguồn sông Bến Hải vào nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn trên đường Hồ Chí Minh nhánh đông và rải nhựa đoạn này trước khi giải phóng miền Nam. Năm 2005 lũ lớn cuốn trôi cầu ta phải phục chế lại để giữ kỷ niệm của nước bạn... Đến nay nhiều bạn trẻ không biết nghĩa tình chung thủy VN- CB son sắt đến mức nào

Năm 1986 xảy ra thảm họa nguyên tử Chernobyl ở Ukraine. Hàng ngàn trẻ em Ukraine đã được sang Cuba điều trị miễn phí. Tuy không được phía Cuba tiết lộ, các quan chức chính phủ Ukraine ước tính chi phí điều trị cho đến nay không dưới 300 triệu USD.
Mặc dù hiện nay Ukraine bài trừ cộng sản nhưng Tổng Thống Ukraine Petro Poroshenko, sau khi biết tin ông Fidel Castro mất, đã gửi lời tri ân đến ông và nhân dân Cuba về điều này.

Những năm 1980, 1990 Việt Nam ở trong tình trạng khan hiếm vaccine. Giá vaccine thời ấy cực kỳ đắt đỏ. Trẻ sơ sinh có tỷ lệ tử vong tăng cao. Cuba đã viện trợ rất nhiều vaccine cho Việt Nam, đồng thời đào tạo nhiều y bác sỹ cho Việt Nam. 
Thế hệ 8x và 9x của Việt Nam cao lớn và khỏe mạnh như hiện nay đều nhận những mũi vaccine từ Cuba... Fidel Castro và người dân Cuba đã vì Việt Nam như thế./.
Yêu nước ST.

Lời bịa đặt của Việt Tân

Mặc dù công cuộc phòng, chống tội phạm trên không gian mạng đã và đang diễn ra triệt để có hiệu quả từ trước đến nay. Nhưng tổ chức khủng bố Việt Tân vẫn tuyên truyền, xuyên tạc nhằm mục đích chống phá Việt Nam. Chúng đưa ra những thông tin hoàn toàn sai sự thật để vu cáo, quy kết nhằm tạo dư luận xấu, hướng cho người dân hiểu sai về mục đích, tiến trình công cuộc phòng, chống tội phạm trên không gian mạng của Việt Nam.

Ngày 25/5/2025 trên trang fanpage của tổ chức khủng bố Việt Tân có bài đăng “TELEGRAM CHÍNH QUYỀN KHÔNG QUẢN ĐƯỢC THÌ CẤM”. Trong bài viết có quan điểm “Telegram không gây hại gì, chỉ có chính quyền Việt Nam không quản lý được thì cấm” Đây là luận điệu của những kẻ chống phá, xuyên tạc, hoàn toàn sai sự thật, hòng lừa bịp những người còn thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin, hướng dư luận hiểu sai về pháp luật ở Việt Nam.

Ngày 21/5/2025, Cục Viễn thông ban hành Công văn 2312/CVT-CS năm 2025 quy định về ngăn chặn hoạt động của dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Trong đó có nêu về khi nào Telegram bị chặn tại Việt Nam.

Theo đó, tại Công văn 2312/CVT-CS năm 2025 Cục Viễn thông chuyển văn bản 2898/A05-P5 của Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, kèm theo thông tin về việc Telegram vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại Điều 9 Luật Viễn thông 2023.

Theo cơ quan Công an thông tin về các vi phạm pháp luật liên quan đến ứng dụng Telegram như có tới 68% kênh, nhóm xấu độc trong tổng số 9.600 kênh, nhóm Telegram tại Việt Nam, nhiều hội, nhóm với hàng chục nghìn đối tượng tham gia, do các đối tượng chống đối, phản động tạo lập, tán phát tài liệu chống phá, xảy ra nhiều vụ việc liên quan đến lừa đảo, rao bán dữ liệu người dùng, ma túy; có trường hợp nghi vấn liên quan đến khủng bố... Bên cạnh đó, do không có văn phòng đại diện tại Việt Nam, thiếu sự phối hợp với cơ quan chức năng, Telegram gây khó khăn trong quá trình xử lý các yêu cầu pháp lý. Điều này gây khó khăn lớn trong việc kiểm soát, gỡ bỏ nội dung vi phạm, quản lý an ninh mạng hiệu quả tại Việt Nam. Với những sự nguy hại do mạng xã hội Telegram mang đến cho người dân và toàn xã hội thì việc cấm sử dụng Telegram tại Việt Nam là hoàn toàn chính xác.

Do vậy, chúng ta cần lên án và phê phán mạnh mẽ các hành vi “đổi trắng thay đen” của cá nhân, tổ chức phản động trong và ngoài nước. Đồng thời cũng cảnh tĩnh người đọc cần phải tìm hiểu chính xác các nguồn thông tin từ nhiều hướng để có góc nhìn chính xác trước các sự việc không để kẻ xấu lợi dụng.

Sưu tầm

Phản bác luận điệu xuyên tạc, chống phá chính sách hỗ trợ học sinh của tổ chức phản động Việt Tân

Mới đây, tổ chức phản động Việt Tân đăng tải bài viết với tiêu đề "Suất ăn không trả tiền nhưng có thật miễn phí?", xuyên tạc chính sách hỗ trợ bữa ăn trưa miễn phí cho học sinh tại Hà Nội. Bài viết không chỉ bôi nhọ chính quyền, cá nhân Tổng Bí thư Tô Lâm, mà còn cố tình gieo rắc nghi ngờ về mục đích nhân văn của Đảng và Nhà nước ta. Đây là một trong những chiêu trò tuyên truyền độc hại nhằm kích động tâm lý bất mãn, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Chính sách "Suất ăn miễn phí” là chính sách nhân văn, xuất phát từ mục tiêu đảm bảo dinh dưỡng, nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt cho học sinh vùng khó khăn. Nhiều nước phát triển như Nhật Bản, Phần Lan đã thực hiện từ lâu. Tuy nhiên, tổ chức Việt Tân lại cho rằng việc nghiên cứu triển khai bữa ăn trưa miễn phí là "tốn kém", "lấy tiền thuế của dân", thậm chí vu cáo rằng đây là cách để "bù đắp tham nhũng". Các luận điểm trên hoàn toàn là bịa đặt, xuyên tạc, do việc thực hiện chính sách đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, nguồn kinh phí thực hiện được minh bạch công khai nhằm đảm bảo tính khả thi và hiệu quả.

Bài viết của Việt Tân còn đưa ra những nhận định vô căn cứ như: "Thực phẩm bẩn sẽ tuồn vào trường học" → Thực tế, Nhà nước đã và đang đã siết chặt quy định an toàn thực phẩm, tăng cường thanh tra, xử lý nghiêm các vi phạm. Hay luận điệu, "Phụ huynh mất quyền giám sát nếu không đóng tiền" → Hoàn toàn sai lệch, vì phụ huynh và xã hội vẫn có thể giám sát thông qua hội cha mẹ học sinh, ban đại diện phụ huynh. Những luận điệu này cho thấy Việt Tân cố tình bôi nhọ đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, gây mất niềm tin vào hệ thống trường học.

Không dừng lại ở việc xuyên tạc chính sách, bài viết còn công kích cá nhân Tổng Bí thư Tô Lâm, cho rằng chủ trương này là "nhiệm vụ được giao" một cách máy móc. Đây là chiêu trò quen thuộc của các thế lực thù địch nhằm hạ uy tín lãnh đạo Đảng, tạo cớ kích động tâm lý chống đối, gây nghi ngờ về tính minh bạch của chính sách, dù thực tế mọi quyết định đều được thảo luận công khai.

Chính sách hỗ trợ bữa ăn trưa miễn phí cho học sinh là một bước tiến nhân văn, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với thế hệ tương lai. Thay vì nghe theo những thông tin xuyên tạc, nhân dân cần tin tưởng vào đường lối đúng đắn của Đảng, Nhà nước và đoàn kết, cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch.

Sưu tầm

Không thể bóp méo sự thật để xuyên tạc vai trò của lực lượng công an nhân dân

Ngày 28/5/2025, tổ chức phản động lưu vong Việt Tân tiếp tục đưa ra những luận điệu sai trái, bóp méo sự thật về việc tổ chức lại lực lượng Công an chính quy ở cấp xã, cho rằng đây là biểu hiện của “chế độ công an trị”, là biện pháp “kiềm kẹp người dân”, thậm chí vu cáo lực lượng công an tiếp tay cho tham nhũng, lạm quyền

Đây là luận điệu không mới, nhưng hết sức nguy hiểm, thể hiện rõ mục tiêu kích động tâm lý chống đối chính quyền, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và lực lượng Công an nhân dân - lực lượng nòng cốt trong bảo đảm an ninh, trật tự, giữ gìn cuộc sống bình yên cho nhân dân.

Thứ nhất, việc sắp xếp, tổ chức lại lực lượng công an là yêu cầu thực tiễn và đúng định hướng

Thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, Bộ Công an đã triển khai chủ trương đưa công an chính quy về đảm nhiệm các chức danh Công an xã.

Tính đến tháng 6/2023, theo số liệu từ Cổng Thông tin Bộ Công an, đã có 100% xã, thị trấn trên toàn quốc bố trí công an chính quy, với tổng số gần 70.000 cán bộ, chiến sĩ. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc chính quy hóa lực lượng bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở – nơi trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, nơi xảy ra đa phần các vấn đề dân sự, hình sự.

Luận điệu cho rằng mỗi xã bố trí 60 công an, 6–10 điều tra viên là hoàn toàn bịa đặt, không có trong bất kỳ văn bản pháp luật hoặc báo cáo chính thức nào của Quốc hội, Chính phủ hay Bộ Công an. Thực tế, mỗi xã hiện nay bố trí trung bình từ 5–7 công an chính quy, tùy theo đặc điểm địa bàn, tình hình an ninh trật tự và khối lượng công việc thực tế.

Thứ hai, Công an về cơ sở là để bảo vệ nhân dân, không phải để “trị dân”

Trong bài phát biểu tại Quốc hội ngày 27/5/2025, Viện trưởng Viện KSND tối cao Nguyễn Huy Tiến không hề “cảnh báo nguy cơ công an trị”, mà đề xuất bổ sung lực lượng điều tra viên để tăng cường hiệu quả giải quyết các vụ việc ngay từ cấp cơ sở – nơi dễ xảy ra tình trạng mâu thuẫn kéo dài nếu không được xử lý đúng lúc, đúng pháp luật.

Việc tăng cường lực lượng điều tra viên không có nghĩa là hình sự hóa đời sống xã hội, mà là tăng cường hiệu quả phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm ngay từ gốc, giảm tải cho cấp huyện và tỉnh. Đây là chủ trương vừa hợp lý, vừa sát thực tiễn, được đông đảo cử tri và đại biểu Quốc hội ủng hộ.

Thứ ba, lực lượng Công an là lực lượng trọng yếu, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân

Xuyên suốt chiều dài lịch sử, lực lượng Công an nhân dân luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, lập nhiều chiến công trong công cuộc bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, nhất là trong phòng chống tội phạm, phòng chống dịch bệnh, thiên tai, đảm bảo an toàn các sự kiện chính trị, văn hóa lớn của đất nước.

Việt Tân cố tình xuyên tạc rằng công an là công cụ “kiểm soát xã hội” và “trục lợi từ dân”. Đây là sự bịa đặt, xúc phạm trắng trợn đối với hàng vạn cán bộ, chiến sĩ công an ngày đêm làm nhiệm vụ vì sự bình yên của Tổ quốc, nhiều người trong số đó đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

Các vụ việc vi phạm nếu có xảy ra đều được xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ - điều đó thể hiện rõ quyết tâm xây dựng lực lượng Công an “chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, được nhân dân tin yêu và ủng hộ.

Việt Tân và các thế lực phản động luôn lợi dụng các vấn đề nội bộ của đất nước để “đục nước béo cò”. Chúng núp bóng dân chủ để xuyên tạc các chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước, kích động tâm lý chống đối và làm mất ổn định xã hội.

Chúng ta cần nhận diện rõ bản chất của các luận điệu sai trái, không để bị dẫn dắt bởi những thông tin giả mạo, thiếu kiểm chứng. Mỗi người dân cần tỉnh táo, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ và sứ mệnh cao cả của lực lượng Công an nhân dân – vì nước quên thân, vì dân phục vụ.

Sưu tầm

Việt Tân lại trò hề đánh tráo sự thật

Trong thời gian gần đây, tổ chức phản động lưu vong Việt Tân lại tiếp tục tung ra các bài viết, video với nội dung xuyên tạc, đánh tráo bản chất của các chính sách và hành động của Nhà nước Việt Nam. Trong một bài viết ngày 28 tháng 5 năm 2025 của tác giả Đức Trọng được lan truyền trên mạng xã hội, Việt Tân lại lớn tiếng cho rằng “không thấy nhà nước có chính sách nào chăm lo cho dân” mà thay vào đó là cách nhìn dân như “con mồi béo bở để làm thịt đúng quy trình”. Đây không chỉ là một sự vu khống trắng trợn, hồ đồ, mà còn là chiêu trò quen thuộc để gieo rắc hoài nghi và kích động tâm lý bất mãn trong nhân dân.

Sự thật thì ai cũng thấy rõ: trong suốt nhiều năm qua, từ chương trình giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đến các chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người dân sau thiên tai, dịch bệnh, miễn học phí từ mầm non đến trung học Phổ thông công lập bắt đầu từ tháng 9/2025, xoá nhà tạm, nhà dột nát... Tất cả đều cho thấy sự nỗ lực rõ rệt của Đảng và Nhà nước trong việc chăm lo cho đời sống người dân. Khi dịch COVID-19 bùng phát, Nhà nước không chỉ triển khai tiêm vaccine miễn phí mà còn ban hành hàng loạt gói hỗ trợ tài chính cho người lao động, doanh nghiệp và người yếu thế. Đó là hành động cụ thể, chứ không phải lời nói suông.

Việt Tân cố tình phớt lờ những thực tế ấy để dựng lên một hình ảnh méo mó về đất nước. Họ xuyên tạc các khoản thuế, lệ phí hay các biện pháp quản lý hành chính là “công cụ hút máu dân”, mà không đề cập đến mục tiêu vì cộng đồng, vì quốc gia đằng sau các chính sách đó. Mọi quốc gia, bộ máy muốn vận hành đều phải dựa vào nguồn lực tài chính, nhưng vấn đề nằm ở chỗ nguồn lực đó có được sử dụng minh bạch, hiệu quả vì lợi ích chung hay không. Và ở Việt Nam, không thể phủ nhận vẫn còn tồn tại những tiêu cực, lãng phí, nhưng không thể vì vài cá nhân sai phạm mà quy chụp cả bộ máy nhà nước là “làm thịt dân đúng quy trình”.

Điều đáng lo ngại hơn là Việt Tân đang cố tình nuôi dưỡng sự hoài nghi và thù ghét trong lòng dân bằng cách đánh vào cảm xúc, dùng ngôn từ độc địa thay vì dẫn chứng, số liệu cụ thể. Đây là kiểu tuyên truyền bẩn, có chủ đích.

Người dân Việt Nam không cần ai dạy cách yêu nước bằng thù hận và phá hoại. Chúng ta cần sự phản biện có trách nhiệm, góp ý xây dựng, chứ không phải kiểu “ném đá giấu tay” như Việt Tân đang làm. Nhìn thẳng vào khuyết điểm để sửa chữa là điều cần thiết, nhưng tuyệt đối không để những kẻ núp bóng yêu nước lợi dụng để gây chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Sưu tầm

Luận điệu "châm dầu vào lửa"

Trong bối cảnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” do Đảng lãnh đạo đang diễn ra quyết liệt, còn lâu dài và phức tạp. Những hiện tượng tiêu cực trong xã hội đã ít nhiều làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, nhà nước và pháp luật. Khoét sâu những khuyết điểm, tổ chức phản động Việt Tân ngày càng ráo riết lợi dụng sự bất mãn trong một bộ nhân dân để tuyên truyền, kích động, lôi kéo người dân. Chúng không nhằm mục đích xây dựng hay cải cách đất nước, mà mục tiêu cuối cùng là gây mất ổn định, chia rẽ nội bộ, tiến tới lật đổ và thay thế bằng một thể chế không rõ ràng, vô trách nhiệm và càng dễ bị ngoại bang chi phối.

Sự thật là trong khi một bộ phận người dân đang phẫn nộ vì các vụ tham ô hàng ngàn tỷ, hay vì những phát ngôn gây tranh cãi của quan chức, thì Việt Tân lại cố tình “châm dầu vào lửa”, dựng lên hình ảnh một Việt Nam suy đồi không thể cứu vãn. Chúng kêu gọi “đấu tranh dân chủ”, nhưng thực chất là cổ vũ cho bạo loạn, đả phá mọi thành tựu dù là nhỏ nhất của đất nước. Một số cá nhân, vì quá phẫn nộ trước bất công, có thể bị lôi kéo mà không nhận ra rằng mình đang trở thành công cụ trong chiến lược phá hoại quốc gia từ bên ngoài.

Phê phán tham nhũng, đòi hỏi minh bạch, công lý, đó là quyền chính đáng của mỗi người dân yêu nước. Nhưng để một tổ chức như Việt Tân - tổ chức lưu vọng, bị xếp vào danh sách phản động, nhận tài trợ từ nước ngoài và không có nền tảng xã hội trong nước đứng ra “lãnh đạo” các phong trào chính trị là điều nguy hiểm. Chúng không đại diện cho dân chủ, mà đang lợi dụng dân chủ để nói xấu chế độ ta, chống phá Đảng, Nhà nước ta và đi ngược lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Tại báo cáo giải trình, tiếp thu, Bộ Công an cho biết việc đề xuất bỏ tử hình đối với tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ vì 4 lý do.

Thứ nhất, thực tiễn cho thấy tội danh này đã được đa số các nước trên thế giới không quy định hình phạt tử hình hoặc đang có xu hướng bỏ hình phạt tử hình.

Thứ hai, thực tiễn nhiều nước trên thế giới đã yêu cầu Việt Nam phải cam kết không áp dụng hình phạt tử hình hoặc tuyên nhưng không thi hành án tử hình đối với những vụ án về tham nhũng, chức vụ.

Thứ ba, những tội này không phải là "tội ác", không xâm phạm đến tính mạng con người, không xâm phạm trực tiếp đến và chủ thể đặc biệt là an ninh quốc gia. Do vậy không cần thiết phải tước bỏ mạng sống của họ.

Thứ tư, việc không áp dụng hình phạt tử hình và thay bằng tù chung thân không xét giảm án vẫn bảo đảm tính răn đe vì hình phạt tù chung thân không xét giảm án cũng là hình phạt đặc biệt nghiêm khắc, tước đi sự tự do vĩnh viễn của một con người.

Bỏ tử hình với tội tham ô có thể gây tranh cãi, có thể gây nên sự bức xúc trong một bộ phận nhân dân. Nhưng thay vì để những tổ chức phản động như Việt Tân chớp lấy thời cơ, gieo rắc hận thù, điều chúng ta cần là tăng cường giám sát xã hội, minh bạch hóa quá trình xét xử, nâng cao vai trò của báo chí, truyền thông và tạo điều kiện để người dân bày tỏ chính kiến một cách hợp pháp, văn minh, hiệu quả.

Dân tộc Việt Nam với bề dày hàng ngàn năm lịch sử, đặc biệt là những thành tựu nổi bật của gần 40 năm đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, chúng ta không thể để những chiêu trò tuyên truyền xuyên tạc, bịa đặt, vu khống của các tổ chức phản động như Việt Tân phá hoại, kéo lùi sự phát triển của lịch sử dân tộc. Đất nước đang đứng trước thời cơ, vận hội mới, bước vào “Kỷ nguyên mới”, “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, mỗi người dân cần nhận thức sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đề cao cảnh giác cách mạng, tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc của những kẻ đội lốt yêu nước để đẩy dân tộc vào vòng xoáy hỗn loạn.

Việt Tân không có chỗ đứng ở Việt Nam. Đường lối đổi mới của Đảng xuất phát từ nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ thực tiễn và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Đổi mới ở Việt Nam là sự hoà quyện của ý Đảng, lòng dân, bằng trí tuệ, bằng pháp lý và bằng sự đồng lòng của nhân dân, chứ không phải bằng sự thù hằn, lật đổ hay can thiệp từ bên ngoài.

Sưu tầm

Đừng đánh đồng an ninh với “công an trị”

Gần đây, một số luận điệu cố tình xuyên tạc chính sách tổ chức bộ máy nhà nước, khi cho rằng việc bố trí thêm lực lượng công an ở cấp xã, phường là “thời công an trị đã tới”. Đây là nhận định phiến diện, mang tính kích động, cần phải được phản biện một cách thẳng thắn và có lý lẽ.

Thứ nhất, việc sáp nhập đơn vị hành chính là chủ trương nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả quản lý. Khi địa bàn quản lý rộng hơn, dân số đông hơn, thì việc tăng cường lực lượng công an để đảm bảo an ninh trật tự là điều tất yếu và hợp lý. Không có chuyện “đàn áp”, mà là để bảo vệ dân sinh và phòng chống tội phạm.

Thứ hai, lực lượng công an nhân dân là lực lượng vũ trang cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ. Việc bố trí công an chính quy tại các địa phương đã chứng minh hiệu quả rõ rệt trong giữ gìn trật tự, xử lý tội phạm ma túy, bạo lực gia đình, trộm cắp… Nhân dân là người hưởng lợi đầu tiên từ sự hiện diện của lực lượng này.

Thứ ba, luận điệu “công an trị” là sự áp đặt theo lối suy nghĩ cực đoan, đánh đồng lực lượng chấp pháp với đàn áp, gây mất lòng tin trong nhân dân. Trong khi trên thực tế, công an cơ sở không chỉ làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh mà còn tham gia hỗ trợ phòng chống dịch, cứu hộ, cứu nạn, dân vận, giúp dân khắc phục thiên tai…

Cuối cùng, không ai có thể phủ nhận vai trò then chốt của công an trong ổn định xã hội – nền tảng cho phát triển kinh tế, đầu tư, du lịch, và cải thiện đời sống nhân dân.

Việc bố trí lực lượng công an phù hợp với thực tiễn không phải là dấu hiệu của “công an trị”, mà là minh chứng cho sự quan tâm đến an toàn, an ninh cộng đồng. Những luận điệu xuyên tạc kiểu này cần được nhận diện rõ và bác bỏ để bảo vệ niềm tin vào chính quyền và sự ổn định của đất nước.

Sưu tầm