Chủ Nhật, 8 tháng 6, 2025

Suy thoái về tư tưởng chính trị - mối nguy hàng đầu của Đảng cầm quyền

Một trong những nguy cơ đe dọa đến tính chính danh và sự tồn vong của Đảng cầm quyền là sự suy thoái về tư tưởng chính trị. Nói đến suy thoái là đề cập đến tình trạng sa sút, thụt lùi dần dần, theo xu thế tiêu cực ngày càng nghiêm trọng hơn. Suy thoái tư tưởng chính trị là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên giảm sút niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng, con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Nếu không ngăn chặn và vực dậy kịp thời, hiệu quả, đây sẽ là mối nguy hại hàng đầu đối với Đảng và chế độ ta.

Nguy hại của biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị

Thực tế cho thấy, sự suy thoái về tư tưởng chính trị tiềm tàng trong một bộ phận cán bộ các cấp, nguy hại là trong đó có cả những cán bộ cấp chiến lược, cán bộ giữ những cương vị quan trọng của hệ thống chính trị. Sự sụp đổ của hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu khởi nguyên từ chính những đảng viên cộng sản bị suy thoái tư tưởng chính trị, nguy hiểm hơn, sự suy thoái đó lại ở những người giữ trọng trách trong đảng và bộ máy nhà nước.

Suy thoái tư tưởng chính trị là vấn đề nghiêm trọng liên quan đến sự tồn vong của chế độ, vì vậy được đề cập rất nhiều trong nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng ta. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã chỉ ra 9 biểu hiện của suy thoái tư tưởng chính trị.

Thời gian qua, đặc biệt là trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, Đảng ta đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng, đã phát hiện, xử lý kỷ luật đảng, xử lý theo pháp luật Nhà nước rất nhiều cán bộ, trong đó có những cán bộ giữ trọng trách cao của Đảng, Nhà nước. Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã tiến hành nhiều cuộc họp, thông cáo báo chí sau mỗi cuộc họp đều nêu rõ việc xử lý kỷ luật các cán bộ sai phạm. Tính đến ngày 15-4-2025, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 107 tổ chức đảng, 3.209 đảng viên; kỷ luật 70 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 28 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng.

Nguyên nhân căn bản của sự suy thoái tư tưởng chính trị là sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng của một bộ phận cán bộ. Bản thân cán bộ giữ trọng trách dù được đào tạo, bồi dưỡng bài bản, có trình độ lý luận, nhưng đã bị tha hóa quyền lực, lạm dụng quyền lực để tư lợi cá nhân, hình thành nhóm lợi ích dẫn tới nhiều tiêu cực trong ban hành và thực thi các chính sách. Ngoài ra, trước tác động của mặt trái kinh tế thị trường, nhiều cán bộ do hám lợi đã không cưỡng lại được sự cám dỗ của lợi ích vật chất, ma lực của đồng tiền dẫn tới buông bỏ mục tiêu lý tưởng chính trị, đánh mất bản thân, chạy theo lợi ích tầm thường.

Sự suy thoái tư tưởng chính trị cũng sẽ dẫn tới sự thực dụng, cơ hội về chính trị, tham vọng quyền lực, tranh quyền đoạt lợi, phe nhóm lợi ích, hình thành một nhóm cán bộ “cậy quyền, cậy thế”. Bộ phận cán bộ này chỉ hướng tư tưởng, trách nhiệm của mình vào những gì mang lại lợi ích cho bản thân và nhóm lợi ích trước mắt, nhất thời, cục bộ, dù biết việc làm, chính sách ban hành đó có thể trái quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước. Từ đó tạo nên tình trạng cát cứ, phe nhóm để lũng đoạn chính trị, thao túng kinh tế, áp đặt quyền lực, gây bè kéo cánh, thậm chí vu cáo, bôi nhọ đồng chí, gây rối nội bộ.

Suy thoái về tư tưởng chính trị ở một bộ phận cán bộ đã làm tổn thương tình cảm, suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên; đe dọa sinh mệnh, uy tín của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị trong một bộ phận cán bộ là yêu cầu cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

Tăng cường các giải pháp phòng ngừa suy thoái tư tưởng chính trị

Để phòng ngừa suy thoái tư tưởng chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tiến hành tổng thể các giải pháp, trước hết cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng. Theo đó, cần gia tăng nội dung các môn học lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong công tác đào tạo theo cấp học, bậc học của hệ thống giáo dục và trong đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ các cấp; tập trung vào những nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng; những biểu hiện về suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ... Trên cơ sở đó định hướng tư tưởng chính trị đúng đắn, giúp cho đội ngũ cán bộ luôn thấm nhuần lập trường giai cấp, nêu cao trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Phẩm chất chính trị tư tưởng được hình thành do nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quyết định là vai trò, ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, tự trau dồi của cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố”. Được giáo dục, bồi dưỡng là nền tảng ban đầu, việc tu dưỡng, tự rèn luyện để trở thành hệ thống phẩm chất nhân cách ổn định là do chính cán bộ, đảng viên quyết định. Vì vậy, dù ở đâu, cương vị công tác nào, dù thuận lợi hay khó khăn, gian khổ, người cán bộ luôn phải ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, luôn chú trọng giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng ở mọi lúc, mọi nơi.

Trong tình hình hiện nay, phải đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hoàn thiện hệ thống cơ chế quản lý, kiểm soát quyền lực đối với đội ngũ cán bộ. Cốt lõi của xây dựng, chỉnh đốn Đảng chính là xây dựng, chỉnh đốn đội ngũ cán bộ. Điều đó có nghĩa là đi đôi với xây dựng, bồi dưỡng, cần làm tốt công tác quản lý, kiểm soát cán bộ. Theo đó, không chỉ khi có nghị quyết, chỉ thị của Trung ương mới tiến hành chỉnh đốn Đảng mà cần làm thường xuyên trong các cấp ủy, tổ chức đảng với mục đích là để cán bộ, đảng viên phải luôn tự soi, tự sửa, tự điều chỉnh tư tưởng, thái độ, trách nhiệm chính trị của mình. Trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cán bộ cấp trên, cán bộ đứng đầu, cán bộ chủ trì phải nêu cao trách nhiệm làm gương. Bên cạnh đó, cần siết chặt cơ chế quản lý, cơ chế kiểm soát, ràng buộc quyền lực đối với đội ngũ cán bộ, tránh việc lạm quyền, tham nhũng quyền lực, tha hóa quyền lực dẫn tới suy thoái tư tưởng chính trị.

Cùng với đó, cần chú trọng làm tốt công tác kiểm tra, giám sát thi hành kỷ luật đảng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và công tác bảo vệ chính trị nội bộ là giải pháp căn bản nhằm kịp thời phát hiện, ngăn ngừa cán bộ vi phạm tiêu chuẩn chính trị, đạo đức, lối sống, phát hiện những biểu hiện của suy thoái tư tưởng chính trị, những tiêu cực, lợi ích nhóm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ.

Cần phát huy vai trò, trách nhiệm của cơ quan chuyên trách kiểm tra, giám sát, cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ. Khi cán bộ có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, cần kết luận rõ, không bao che, không giấu giếm khuyết điểm; đồng thời kiên quyết xử lý đúng người, đúng việc, đúng tính chất, mức độ sai phạm. Những sai phạm liên quan đến nhiều cán bộ trong nhóm lợi ích, cần làm rõ vai trò của từng cán bộ để quy rõ trách nhiệm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu theo kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của cơ quan, đơn vị, địa phương. Với tinh thần xử lý nghiêm minh để làm gương, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, cán bộ giữ chức vụ càng cao khi vi phạm càng phải xử lý nghiêm khắc. Thông qua đó để răn đe, giáo dục cán bộ phải luôn tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, lối sống trong sạch, lành mạnh.

Ngày 9-5-2024, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Trong đó yêu cầu cán bộ, đảng viên phải suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng; nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với sự nghiệp cách mạng của Đảng; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; đồng thời luôn đặt lợi ích quốc gia-dân tộc, lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và của nhân dân lên trên hết, trước hết; kiên quyết, kiên trì đấu tranh với mọi hành vi gây phương hại đến lợi ích quốc gia-dân tộc, lợi ích của Đảng, Nhà nước và của nhân dân.

Đây chính là kim chỉ nam dẫn đường chỉ lối đúng đắn để cán bộ, đảng viên luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, lập trường cách mạng, đồng thời là “tấm khiên” phòng ngừa sự suy thoái về tư tưởng chính trị.

Sưu tầm

Nhận thức đúng về giá trị dân chủ trong điều kiện đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam

Thời gian qua, không chỉ các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc về chế độ dân chủ ở nước ta khi cho rằng “không có dân chủ trong chế độ đảng cộng sản duy nhất cầm quyền”, một số người trong nước cũng ngộ nhận, mơ hồ về luận điệu sai trái này. Vì vậy, việc làm sáng tỏ bản chất dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay một đảng cầm quyền là việc làm cần thiết nhằm phòng ngừa biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị trong nội bộ.

Tư tưởng dân chủ là giá trị chung của nhân loại

Khi xã hội loài người hình thành, con người với tư cách là thực thể xã hội, con người biết làm chủ xã hội với những cấp độ: Làm chủ bản thân, làm chủ gia đình, làm chủ cộng đồng và làm chủ xã hội. Dân chủ gắn liền với tiến bộ xã hội và sự phát triển của lịch sử, qua các chế độ xã hội và thời gian khác nhau. Dân chủ dùng để chỉ quyền làm chủ của nhân dân và xuất hiện khi có nhà nước và luôn gắn liền với một nhà nước nhất định, được hiến pháp, luật pháp của nhà nước đó quy định. Như vậy, trong xã hội có giai cấp, dân chủ mang bản chất giai cấp sâu sắc và trong khuôn khổ của pháp luật xã hội đó, không có dân chủ phi giai cấp, mọi luận điệu phủ nhận vấn đề này đều chỉ là sự lừa gạt, dối trá trước quần chúng. Giai cấp nào nắm được tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì mới có đầy đủ điều kiện thực hiện được quyền làm chủ xã hội thực sự.

Dân chủ không phải là khái niệm bất biến mà là một phạm trù chính trị, lịch sử, văn hóa, xã hội và luôn gắn với sự tồn tại của các kiểu nhà nước trong những điều kiện cụ thể nhất định. Trong mỗi hình thái kinh tế-xã hội, mỗi thời đại, mỗi quốc gia, dân tộc, dân chủ luôn có những nét đặc trưng.

Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, xét về bản chất chính là dân chủ của giai cấp chủ nô. Chế độ phong kiến, các tư tưởng và mô hình dân chủ bị hạn chế, cấm đoán bởi chế độ tập quyền chuyên chế khi quyền lực tuyệt đối nằm trong tay một đấng quân vương. Sự ra đời của nhà nước tư sản, nền dân chủ tư sản được xác lập do cuộc cách mạng tư sản dựa trên cơ sở liên minh giữa giai cấp tư sản với các giai cấp khác lật đổ chế độ phong kiến. Những tuyên bố về tự do, bình đẳng, bác ái, tư tưởng về nhà nước pháp quyền và xã hội công dân là những nội dung đầu tiên của dân chủ tư sản. Nhà nước tư sản đã đánh dấu một nấc thang phát triển về dân chủ so với dân chủ của chế độ chuyên chế phong kiến. Tuy nhiên, với bản chất của xã hội tư sản, nền dân chủ đại diện chỉ nhằm mục đích cao nhất là bảo vệ sự thống trị, bảo vệ quyền sở hữu, lợi ích của giai cấp tư sản và một bộ phận tinh hoa của xã hội.

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, với tính cách là một nấc thang phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản, dân chủ trong xã hội xã hội chủ nghĩa khác hẳn về chất so với các nền dân chủ trước đó. Mục tiêu xuyên suốt và cốt lõi của dân chủ xã hội chủ nghĩa là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, tạo ra ngày càng nhiều hơn các điều kiện thuận lợi để thực hiện xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, công lý cho mọi người, bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ, bình đẳng giữa các dân tộc. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở việc bảo vệ quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân lao động; thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do được bảo đảm về mặt pháp lý để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, có nội dung toàn diện, được thể hiện trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó nổi bật là sự tham gia một cách bình đẳng và rộng rãi của những người lao động vào công việc quản lý xã hội, quản lý nhà nước thông qua hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.

Bản chất dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay một đảng

Lịch sử đã chứng minh, trình độ dân chủ không tỷ lệ thuận với sự gia tăng số lượng đảng chính trị. Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển hay không. Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Dân chủ hay không dân chủ còn phụ thuộc vào việc đảng cầm quyền bảo vệ quyền và lợi ích của một nhóm người hay của đại đa số nhân dân, gắn với quyền dân chủ của nhân dân trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Hơn nữa, đa nguyên chính trị, đa đảng không phải là một giá trị phổ quát của nhân loại và là điều kiện tiên quyết cho một nền dân chủ.

Trên phương diện lý luận khoa học và thực tiễn cho thấy, trong chế độ đảng cộng sản duy nhất cầm quyền ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, vấn đề dân chủ không phụ thuộc vào đa nguyên chính trị, mà quan trọng nhất là xuất phát từ sứ mệnh, mục tiêu, lý tưởng của chính đảng cầm quyền có thật sự thừa nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và phát huy quyền dân chủ của các tầng lớp nhân dân hay không.

Nhân dân Việt Nam được quyền làm chủ và thụ hưởng mọi thành quả chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

Trước khi có Đảng Cộng sản Việt Nam, hàng chục cuộc khởi nghĩa, phong trào chống thực dân Pháp đã nổ ra theo nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, nhưng cuối cùng đều thất bại. Nhiều đảng phái thuộc mọi khuynh hướng chính trị đã ra đời nhưng đều không hoàn thành được sứ mệnh giành độc lập cho dân tộc, thậm chí nhiều đảng phái ngày càng thoái hóa biến chất, đi ngược lại lợi ích dân tộc, làm tay sai cho ngoại bang, đế quốc.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh và khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam-lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội Việt Nam-là hoàn toàn do nhân dân, dân tộc ta lựa chọn từ chính những trải nghiệm trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng ở nước ta đã đem lại độc lập, tự do cho dân tộc; quyền bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các thành phần kinh tế; quyền tự do làm giàu theo pháp luật, phát huy dân chủ gắn liền với giữ vững kỷ cương xã hội. Thông qua cơ chế vận hành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã góp phần bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, để nhân dân xứng đáng là người làm chủ và người làm chủ thật sự của xã hội.

Những thành tựu kinh tế-xã hội trong 4 thập niên đổi mới của nước ta càng cho thấy rõ điều đó. Quy mô tổng sản phẩm trong nước (GDP) không ngừng mở rộng, năm 2024 đạt 476 tỷ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và đứng thứ 33 thế giới; thu nhập bình quân đầu người đạt mức 4.700USD. Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Theo Báo cáo hạnh phúc thế giới 2025, Việt Nam xếp thứ 46 trong số 143 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng; xét ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đứng vị trí thứ 2 sau Singapore. Việt Nam nằm trong số các nước có xếp hạng chỉ số hạnh phúc liên tục tăng nhanh trong 3 năm trở lại đây. Từ năm học 2025-2026, Đảng, Nhà nước ta ban hành chính sách miễn học phí cho học sinh mầm non và học sinh phổ thông trên cả nước, hỗ trợ học phí cho học sinh mầm non và học sinh phổ thông ở các trường dân lập và tư thục. Thực hiện chủ trương của Đảng, giai đoạn 2026-2030 sẽ từng bước thực hiện lộ trình miễn viện phí cho toàn dân; phấn đấu 100% người dân được khám sức khỏe định kỳ ít nhất mỗi năm một lần.

Được biết, sau hơn 3 tuần triển khai lấy ý kiến nhân dân về nội dung dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 2013, đến ngày 28-5-2025, đã có gần 51,2 triệu ý kiến (trong đó có gần 2,6 triệu ý kiến của tổ chức và hơn 48,6 triệu ý kiến của cá nhân). Tổng số đó có hơn 49,9 triệu ý kiến tán thành (chiếm 98%) đối với dự thảo Nghị quyết sửa đổi Hiến pháp 2013. Điều đó cho thấy, các tầng lớp nhân dân ngày càng tham gia tích cực vào đời sống chính trị của đất nước, đồng thời thể hiện quyền dân chủ của người dân đã được phát huy trong thực tiễn.  

Những minh chứng đó thêm một lần khẳng định bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời cũng là cơ sở minh chứng những thành quả chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đã, đang thuộc về đại đa số nhân dân trong một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trung tá VŨ XUÂN LUYỆN, Học viện Quốc phòng

Tự hào nhưng phải tỉnh táo

Trước cuộc họp cơ quan, Vũ chìa điện thoại ra và hào hứng bảo Dũng: - Ông xem cái này chưa? Trên mạng đang chia sẻ rần rần đấy! Một tờ báo lớn của nước ngoài mới đăng bài về Việt Nam. Đại ý khen lãnh đạo nước mình, mà không phải khen suông, có nêu vấn đề để Việt Nam khắc phục và bứt phá. Như vậy là “Tây” đã phục “Ta”!

Dũng nhíu mày đáp:

- Thế ông đọc bản gốc chưa hay lại xem mấy cái trang trên “phây” dịch lại?

- Ờ thì... tôi đọc bản rút gọn thôi. Mà báo lớn như vậy chắc họ khách quan, đáng tin chứ!

- Tôi đọc bài đó rồi. Đúng là nội dung có nói đến vai trò của các bác lãnh đạo nước mình, đề cập đến vị trí chiến lược của Việt Nam. Nhưng cậu phải cảnh giác...

- Họ nói ta xử lý tham nhũng mạnh, rồi đặt vấn đề doanh nghiệp Việt mình còn kém phát triển vì cần có thể chế tốt. Đúng quá đi chứ! - Vũ tranh luận.

- Đấy là cách họ thường làm, ca ngợi rồi nêu vấn đề có vẻ khách quan khiến chúng ta dễ mất cảnh giác. Nhiều người dùng mạng xã hội chia sẻ bài viết với thái độ hồ hởi, thậm chí tự hào, coi đây là “sự ghi nhận từ nước ngoài”, là bằng chứng Việt Nam đã “vươn tầm quốc tế”. Đáng tiếc là phần đông chỉ tiếp nhận những bản dịch rút gọn, cắt xén nên không biết bài viết có nội dung xuyên tạc nhằm tác động, tạo chuyển hóa tư tưởng.

- Ông nói rõ cho tôi hiểu xem nào? - Vũ đề nghị.

- Trong bài cài cắm nhiều thông tin sai lệch về thể chế Việt Nam, như nói ta lấy việc chống tham nhũng như công cụ củng cố quyền lực; cố tình hạ thấp các doanh nghiệp lớn của nước ta, rồi nghi ngờ tính minh bạch của thể chế... Đây không phải lần đầu đâu! Nhiều bài viết của báo chí nước ngoài nói về nước ta một cách phiến diện, định kiến. Họ không nhìn nhận vào bối cảnh lịch sử, văn hóa, chính trị của Việt Nam để hiểu, mà chỉ áp tiêu chuẩn của họ vào rồi đánh giá lệch lạc.

Vũ trầm ngâm:

- Nhưng thực tế có nhiều người cũng hiểu sai và chia sẻ bài viết như tôi...

- Đáng buồn là ở chỗ đó. Bây giờ, mạng xã hội là nơi lý tưởng để những thông tin kiểu này lan truyền chóng mặt. Người ta không cần hiểu, không cần kiểm chứng, chỉ cần thấy tên tờ báo lớn là tin, rồi chia sẻ, xong tự hào vì được khen. Mà đâu phải khen. Đấy là kiểu mồi nhử cảm xúc. Mình càng chia sẻ nhiều họ càng đạt được mục đích gieo nghi ngờ, gây chia rẽ lòng tin của người dân vào lãnh đạo.

- Tôi hiểu rồi. Đúng là thời này đọc báo không phải chỉ để nạp kiến thức, biết thông tin, mà cũng phải có kiến thức khi đọc báo. Không có tư duy phản biện là dễ bị dắt mũi lắm!

Dũng cười đáp:

- Những năm qua, giữa tình hình bất ổn của thế giới, đất nước ta vẫn phát triển vững chắc và có chiến lược đàng hoàng. Người dân, nhất là những người trẻ như anh em mình phải tin vào điều đó, tin vào những gì trông thấy hằng ngày, chứ không phải đợi kẻ khác khen rồi mới tự hào.

- Tôi hiểu rồi, tự hào nhưng phải thật tỉnh táo, ông nhỉ!

Sưu tầm

Nếu không bị uy hiếp, chúng ta không cần có tự vệ

Đầu tháng 5 nám 2015, Đài BBC tiếng Việt và Đài RFA đều dẫn đăng một bài viết bịa đặt trắng trợn nhiều chi tiết lịch sử, viện dẫn những ý kiến của nhiều thành phần bất hảo, phản động, rồi hồ đồ "kết luận": Chính tư tưởng về "bạo lực cách mạng", nhất là quan điểm "bạo lực cách mạng triệt để" và "niềm say sưa bạo lực" của Hồ Chí Minh đã tạo nên đội quân cộng sản hiếu chiến, kích động chiến tranh và tạo ra sự hy sinh không cần thiết trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược...

Cần khẳng định rằng, đó là những luận điệu bịa đặt trắng trợn, không chỉ ảnh hưởng đến giá trị tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh mà còn xúc phạm đến danh dự, tình cảm của con người và dân tộc Việt Nam. Lịch sử nhân loại ghi nhận Hồ Chí Minh là nhà văn hóa lớn, sứ giả của hòa bình và tình hữu nghị, lãnh tụ của cách mạng Việt Nam, người cha già muôn vàn kính yêu của các dân tộc Việt Nam. Nhân loại cũng ghi nhận Hồ Chí Minh là nhà quân sự thiên tài với những tư tưởng cách mạng, tư tưởng quân sự mang tầm thời đại. Chính Người đã kế tục, phát triển những nội hàm về "bạo lực cách mạng" sát với thực tiễn cách mạng Việt Nam, biến nó trở thành kim chỉ nam cho hoạt động đấu tranh giải phóng dân tộc, giúp quân và dân ta đi hết thắng lợi này, đến thắng lợi khác, đánh đuổi giặc ngoại xâm, mang lại hòa bình cho dân tộc và thúc đẩy hòa bình thế giới. Đó là những tư tưởng quân sự mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc.

Do yêu cầu cách mạng, đặc biệt là do phong cách giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên Người không đề tên một bài nói, bài viết nào của mình bàn về chủ nghĩa nhân văn nói chung, hay tư tưởng nhân văn quân sự nói riêng. Nhưng chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đã toát ra từ toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng, tư tưởng và sự nghiệp mà Người đã tạo dựng. Thực tiễn cho thấy, mọi nhận thức và hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo lĩnh vực quân sự của Hồ Chí Minh đều toát lên những giá trị nhân văn cao cả, không chỉ chúng ta mà những người từng là đối tượng tác chiến ở bên kia chiến tuyến cũng phải thừa nhận. Đó là cơ sở vững chắc phủ nhận luận điệu cho rằng, "Hồ Chí Minh là người đam mê, say sưa bạo lực, đã gây nên sự hy sinh không cần thiết trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ"...

Đối với Hồ Chí Minh, việc phải tiến hành vũ trang là để tự vệ, bảo vệ chính dân tộc, nhân dân mình trước sự tấn công của các đội quân xâm lược mà lại là các đội quân có quân số đông, được trang bị vũ khí đầy đủ, hiện đại hơn, được huấn luyện chu đáo, chuyên nghiệp. Cuộc chiến tranh mà chúng ta buộc phải tiến hành là "chiến tranh chính nghĩa", "chiến tranh tự vệ"; chiến tranh là giải pháp cuối cùng, còn một phút có thể tranh thủ, hy vọng đẩy lùi chiến tranh vẫn cứ tận dụng. Đây là điều mà Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định trước toàn thế giới và được nhân loại có lương tri ủng hộ, giúp đỡ rất to lớn, có hiệu quả. Như vậy, việc dụng binh là việc nhân nghĩa, trừ ác diệt tà để cứu nước, cứu dân theo tư tưỏng Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoàn toàn trái ngược với tư tưởng sùng bái, đam mê bạo lực.

Như chúng ta đã biết, sau Cách mạng Tháng Tám chưa đầy một tháng, với âm mưu cướp nước ta một lần nữa, ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp tiếp tục nổ súng, gây hấn ở Nam Bộ, buộc nhân dân ta phải bước vào cuộc chiến tranh tự vệ mới. Trong bài nói chuyện tại Trường Cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh (7-1-1946), Người giải thích: "Nếu không bị uy hiếp, chúng ta không cần có tự vệ. Tự vệ là vệ lấy mình, lấy gia đình mình, rồi đến thành phố mình, nước mình. Ta phải ngăn ngừa mọi sự uy hiếp”. Như vậy, vũ trang tự vệ theo tư tưởng của Người hoàn toàn đối lập với vũ trang xâm lược của các lực lượng hiếu chiến với mưu đồ nô dịch, thống trị dân tộc khác. Vũ trang tự vệ là hoạt động quân sự chính nghĩa của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, không bao giờ muốn chiến tranh. Do vậy, nó được sử dụng để giành và bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân trước sự xâm lược của ngoại bang, nên nó thể hiện rõ tính chất nhân văn, nhân đạo. Bởi vậy, khi thực dân Pháp lộ rõ mưu đồ cướp nước ta một lần nữa, Hồ Chí Minh đã vạch rõ: "Là nạn nhân của một cuộc xâm lược có chủ định từ trước, chúng tôi buộc phải tự vệ chống lại một đối phương đang thực hiện phương pháp của một cuộc chiến tranh tổng lực như những cuộc bắn phá dã man làng mạc và dân thường".

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh tự vệ bắt buộc để bảo vệ chính quyền non trẻ, bảo vệ quyền tự quyết dân tộc, bảo vệ danh dự và nhân phẩm của một dân tộc. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh đó chỉ để đánh bại ý chí xâm lược của một số kẻ hiếu chiến. Theo Hồ Chí Minh, "Nhân dân Việt Nam đã bị chính sách vũ lực, chính sách xâm lăng của một vài người đại diện Pháp ở Đông Dương xô đẩy vào một cuộc chiến tranh tự vệ thảm khốc" và "Chính sách vũ lực mà các nhà đại diện Pháp ở Đông Dương vẫn áp dụng từ trước tới nay, đã bó buộc dân tộc Việt Nam phải võ trang tự vệ". Người viết: "... Chúng tôi không muốn chiến tranh, nhưng chúng tôi quyết tự vệ đến giọt máu cuối cùng. Chúng tôi quyết không chịu mất nước làm nô lệ thực dân lần nữa. Mong Chính phủ, Nghị viện và nhân dân Pháp hiểu cho. Mong các nước dân chủ trên thế giới hiểu cho". Với tinh thần tự vệ và ý chí tự lực, tự cường cao cả, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên chiến thắng ngày 7 tháng 5 năm 1954 lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Cuộc chiến tranh tự vệ chống đế quốc Mỹ mà nhân dân Việt Nam tiến hành, chẳng những có giá trị nhân văn, nhân đạo đối với dân tộc Việt Nam, mà còn đối với khu vực và thế giới. Người chỉ rõ: "Nhân dân Việt Nam chúng tôi phải kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược để tự vệ, để bảo vệ những quyền dân tộc thiêng liêng nhất của mình, đồng thời góp phần giữ gìn hòa bình châu Á và thế giới". Với tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", cuộc chiến tranh tự vệ của nhân dân ta đã giành thắng lợi hoàn toàn, đúng như dự báo của Hồ Chí Minh là: "Đế quốc Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo nhất trong lịch sử chống nhân dân Việt Nam. Sử dụng quyền tự vệ thiêng liêng của mình, toàn thể nhân dân Việt Nam đã kiên quyết chống lại để bảo vệ độc lập, tự do và đã liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn và nhất định sẽ giành được thắng lợi cuối cùng".

Sưu tầm

Sự vô giá của hòa bình, thống nhất

Có một bức ảnh chụp tại vùng chiến sự ở Xy-ri đã khiến cả thế giới ứa nước mắt. Đó là bức ảnh em bé 4 tuổi có tên là Hu-đi-a (Hudea) giơ tay "đầu hàng". Em bé có đôi mắt sáng, to tròn, thơ ngây ấy đã vô cùng sợ hãi vì nhầm tưởng chiếc máy ảnh có ống kính dài của phóng viên là khẩu súng trường đang hướng về mình. Theo phản xạ sinh tồn của những em bé trong vùng chiến sự, Hu-đi-a đã lập tức giơ hai tay lên cao giống như động tác của một hàng binh. Đó có lẽ sẽ là một trong những bức ảnh xót xa nhất tố cáo tội ác của chiến tranh.

Mỗi ngày, chỉ cần mở ti vi hay lướt Internet, chúng ta chứng kiến bao thảm cảnh của con người ở những quốc gia có nội chiến. Tại những vùng chiến sự ở Xy-ri, Li-bi, I-rắc, Y-ê-men hay U-crai-na..., cuộc sống của người dân và đặc biệt là trẻ em không khác nào địa ngục, tương lai vô cùng mờ mịt. Nhiều em bé đã chết vì bom đạn, vì đói khát. Những sinh linh bé bỏng ấy có thể được lớn lên xinh đẹp, giỏi giang nếu như được ra đời trong một môi trường hòa bình, một đất nước phát triển. Chiến tranh đã cướp đi những cơ hội sống, những niềm vui sống bình dị nhất của con người.

Mỗi lần chứng kiến những cảnh tượng đau thương trên, tôi lại nghĩ, dân tộc ta, đất nước ta cũng đã có giai đoạn lịch sử bị chia cắt, bị phân ly, phải chịu nhiều đau thương, tang tóc trong khói lửa chiến tranh. Và từ đó, tôi lại càng thấy ý nghĩa to lớn của ngày 30 tháng 4 năm 1975 - ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hòa hợp dân tộc, tạo ra hòa bình, ấm no, hạnh phúc. Đây là đỉnh cao chiến thắng của cả dân tộc sau 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đất nước từ chỗ bị chia cắt bởi vĩ tuyến 17 sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã được thống nhất. Giang sơn, bờ cõi do tổ tiên khai phá, gây dựng đã được thế hệ người Việt Nam thế kỷ thứ XX bằng tài năng, trí tuệ, bằng quyết tâm sắt đá, bằng mồ hôi và bằng máu xương của mình giành lại và giữ vững để trao cho thế hệ sau. Như còn mãi vang vọng trong không gian lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người nói chuyện với các chiến sĩ của Đại đoàn Quân tiên phong: "Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Lời dạy ấy sẽ luôn luôn phải "khắc cốt ghi tâm" với mọi người con Việt Nam yêu nước.

Cảnh nước mất nhà tan, bao thế hệ người Việt Nam đã nếm trải và thấu hiểu. Thử hỏi, liệu Việt Nam có thể phát triển, nhân dân có thể bình yên, hạnh phúc khi đất nước bị chia cắt, khi mà thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đem hàng triệu tấn bom, đạn và hàng triệu lít chất độc hóa học đến để trút lên đất nước ta, giết hại nhân dân ta? Đất nước ta, nhân dân ta đã được gì từ thực dân, đế quốc ngoài nghèo khổ, bị áp bức, bị bóc lột, bị tù đày, chết chóc, đau thương? Hàng triệu người Việt Nam đã ngã xuống do dã tâm của thực dân, phát xít, đế quốc ngoại bang.

Vì thế, lối suy nghĩ của một số người cho rằng Việt Nam không cần độc lập, không cần thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, có thể dựa vào thực dân và đế quốc để phát triển là lối suy nghĩ thiển cận, ảo tưởng, vô trách nhiệm, là luận điệu cố tình bóp méo sự thật, xúc phạm đến xương máu của cha ông, có tội với nhân dân, có tội với tổ tiên và có tội với cả các thế hệ mai sau!

Có những ý kiến lại cho rằng, chúng ta không cần chiến tranh giải phóng mà thông qua đàm phán, thông qua bầu cử có thể thống nhất đất nưóc. Liệu đúng thế chăng? Liệu đất nước có cơ hội thống nhất bằng biện pháp hòa bình để bớt phải đổ xương máu mà chúng ta đã từ chối ư?

Không! Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thế hệ lãnh đạo Đảng, Chính phủ ta đã không bỏ qua dù chỉ là những cơ hội nhỏ nhất để giành độc lập, để thống nhất đất nước mà tránh phải đổ máu. Trong hai năm 1945-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có 8 bức thư và điện gửi Tổng thống Hoa Kỳ Ha-ri Tru-man (Harry Truman). Nội dung của các bức thư, bức điện này thể hiện rõ mong muốn được độc lập, hòa bình của Việt Nam và thiện chí của Việt Nam muốn được "hợp tác đầy đủ" với Mỹ vì hòa bình, tiến bộ và phát triển. Nhưng đáp lại chỉ là sự im lặng!

Hội nghị Phông-ten-nơ-blô diễn ra suốt hơn hai tháng ròng (từ ngày 6-7 đến 10-9-1946). Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam còn sang Pháp trước đó hàng tháng trời để tìm mọi cơ hội đàm phán với Chính phủ Pháp, thuyết phục chính giới Pháp nhằm giành độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam bằng hòa bình. Nhưng mọi nỗ lực và thiện chí của Chính phủ Việt Nam, của phái đoàn Việt Nam đều đã bị xem nhẹ vì nước Pháp vẫn mang tư tưởng thực dân, vẫn muốn chiếm đoạt nước ta. Giải pháp tổ chức một cuộc bầu cử phổ thông đầu phiếu ở Nam Bộ để thống nhất Việt Nam đã bị phía Pháp phớt lờ.

Sau Hội nghị Phông-ten-nơ-blô, tại Việt Nam, quân đội Pháp liên tục tấn công lực lượng vũ trang của ta, gây ra những vụ thảm sát đồng bào ta với dã tâm muốn chiếm nước ta một lần nữa. Quân và dân ta vẫn hết sức kiềm chế, để tiếp tục tạo cơ hội cho đàm phán hòa bình. Nhưng đến ngày 19 tháng 12 năm 1946, quân Pháp đã gửi liên tiếp ba tối hậu thư đòi tước vũ khí của bộ đội và tự vệ Việt Nam để nắm quyền kiểm soát. Trước tình thế đó, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải quyết định kêu gọi Toàn quốc kháng chiến với câu mở đầu thể hiện rõ rằng, việc phải chiến đấu để giữ gìn nền độc lập tự do là giải pháp cuối cùng: "Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ...".

Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, theo nội dung Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết năm 1954, vĩ tuyến 17 được coi là ranh giới tạm thời chia đôi đất nước ta. Ranh giới ấy có thể đã được xóa bỏ, hai miền Nam - Bắc ruột thịt có thể đã được thống nhất chỉ sau 2 năm bằng một cuộc tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu (Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơ-ne-vơ ghi rõ, cuộc Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7-1956). Nhưng chính âm mưu của đế quốc Mỹ muốn thế chân thực dân Pháp ở miền Nam đã phá hỏng cơ hội thống nhất hai miền một cách hòa bình. Chính quyền Ngô Đình Diệm dưới sự hậu thuẫn của Mỹ đã vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ, không những phớt lờ tổng tuyển cử để thống nhất đất nước mà còn lê máy chém, sát hại dã man hàng vạn đảng viên Đảng Cộng sản và những người bị nghi ngờ ủng hộ Đảng Cộng sản, tạo ra những cuộc bắt bớ, giết hại tín đồ Phật giáo, gây mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo. Cả miền Nam thời điểm đó chìm trong biển máu, đau thương... Đất nước và nhân dân Việt Nam lại bị đẩy vào thế buộc phải cầm súng chiến đấu vì độc lập, thống nhất, vì hòa bình và hạnh phúc của mình.

Cuối năm 1972, đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đã sử dụng lá bài cuối cùng, đó là dùng máy bay chiến lược B-52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh lân cận. Tuy nhiên, do có sự cảnh giác cao độ và nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ, nên quân và dân miền Bắc đã bẻ gãy hoàn toàn cuộc tiến công đường không chiến lược của Mỹ, làm nên trận "Điện Biên Phủ trên không" vang dội.

Đến năm 1973, sau khi thua trên chiến trường, chịu sức ép của dư luận trong nước và quốc tế bởi đang thực hiện một cuộc chiến tranh phi nghĩa, đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pa-ri, rút quân khỏi nước ta. Nhưng Mỹ vẫn để lại một đội ngũ hùng hậu các sĩ quan và nhân viên, vẫn viện trợ quân sự để tiếp tục biến chính quyền Sài Gòn là con rối trong tay Mỹ. Trong Hiệp định Pa-ri có điều khoản về bầu cử, hiệp thương để thống nhất Việt Nam. Tuy nhiên, phía Mỹ - ngụy đã trắng trợn phá hoại hiệp định, xua quân nống lấn ra vùng cách mạng, đàn áp nhân dân ta. Tại chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng, chỉ hai giờ sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, quân đội Sài Gòn đã tập trung càn quét các vùng tây Duy Xuyên, vùng B Đại Lộc và các vùng tranh chấp giữa hai bên.

Trước tình hình đó, tháng 7 năm 1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 21, phân tích tình hình và đề ra Nghị quyết về: "Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chông Mỹ và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới", trong đó khẳng định, cách mạng miền Nam chỉ có thể giành thắng lợi bằng con đường bạo lực cách mạng.

Qua các giai đoạn lịch sử nêu trên, có thể thấy, lãnh đạo và nhân dân Việt Nam luôn khao khát độc lập, thống nhất và luôn trân trọng các giải pháp hòa bình để đạt được mục tiêu ấy. Thế nhưng, những giải pháp hòa bình luôn bị phá hỏng bởi dã tâm của các nước đế quốc và chính quyền tay sai. Chỉ đến khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 của quân và dân ta cuốn phăng mọi sức kháng cự của quân đội chính quyền Sài Gòn, khiến những lực lượng cuối cùng của Mỹ phải rút chạy về nước, Quân Giải phóng của hai miền Nam - Bắc tiến vào Dinh Độc Lập, bắt sống và buộc nội các Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào trưa 30 tháng 4 năm 1975 thì dân tộc Việt Nam mới được hòa bình, thống nhất, non sông Việt Nam mới thu về một mối.

Sưu tầm

Người Mỹ tự nhận sai lầm

Dấu ấn kỳ tích Đại thắng mùa Xuân 1975 của dân tộc ta đến nay đã trải qua 50 năm. Các thế hệ người Việt Nam ngày càng cảm nhận đầy đủ và sâu sắc giá trị của chiến công chói lọi mang tầm vóc thời đại này. Song đối với không ít người Mỹ và phương Tây, nhất là các chính khách, các nhà chiến lược quân sự, chính trị của đất nước đã đem quân xâm lược nước ta, thì "hội chứng Việt Nam" vẫn chưa có hồi kết, vẫn còn đang âm ỷ, nhức nhối với câu hỏi: "Vì sao nước Mỹ hùng mạnh nhất thế giới về quân sự và kinh tế lại thất bại ở Việt Nam?”. Thậm chí đến nay vẫn có những tiếng nói lạc lõng, hằn học phủ nhận Chiến thắng vĩ đại 30 tháng 4 năm 1975 của quân và dân Việt Nam, đòi đánh giá lại lịch sử nhằm phục vụ cho những mưu đồ đen tối.

Lý giải về những nguyên nhân dẫn đến thất bại nặng nề nhất trong lịch sử gần 200 năm của nước Mỹ (tính đến năm 1975), có những quan điểm và sự tiếp cận khác nhau. Đối với những kẻ hiếu chiến thì hằn học rằng: Nhà cầm quyền đương thời của nước Mỹ không biết đẩy mạnh leo thang chiến tranh để biến miền Bắc Việt Nam trở về "thời kỳ đồ đá!". Có những chiến lược gia Mỹ lại bao biện cho thất bại cay đắng rằng, do quân đội Mỹ bị đưa đến chiến trường châu Á xa xôi, đầy cạm bẫy, khổ hạnh... Nhưng cũng có không ít người quyết lần tìm sự thật về cuộc chiến tranh để trả lời cho câu hỏi: "Vì sao Mỹ thất bại cay đắng ở Việt Nam?". Điển hình là cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mắc Na-ma-ra dưới thời các tổng thống Mỹ L. Giôn-xơn và R. Ních-Xơn. Trong cuốn hồi ký "Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam", do Nhà xuất bản Gian-đơm Hau-sơ (Random House) (Mỹ) cho ra mắt tháng 4 năm 1995, Mắc Na-ma-ra đã công khai thừa nhận: "Chúng tôi (tức Chính phủ Mỹ - TG) đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp". Đây là lời thú nhận thất bại chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ.

Cựu Bộ trưỏng Quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra cũng đã nêu ra 11 nguyên nhân gây ra thảm bại nặng nề cho nước Mỹ trong cuộc chiến ở Việt Nam, trong đó có sai lầm "đánh giá thấp sức mạnh của một dân tộc đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó". Ông ta thẳng thắn chỉ ra những nguyên nhân và lý giải, xét cho cùng, thất bại cay đắng của nước Mỹ nảy sinh từ bản chất cuộc chiến tranh xâm lược, phi nghĩa của Mỹ; từ Việc không nhận thức được sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt Nam được nhân lên gấp nhiều lần dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chiến thắng của nhân dân Việt Nam chứng tỏ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ là "một sai lầm ngớ ngẩn ghê gớm, con đẻ của một hỗn tạp kỳ quặc giữa sự hoang đường và tính kiêu ngạo, mù quáng đối với lịch sử, sự tin tưởng ngây thơ về vai trò quyền lực đứng đầu trên quả đất. Hoa Kỳ đã sử dụng những giải pháp quân sự cho những vấn đề chủ yếu là chính trị và văn hóa. Đây là một cuộc chiến tranh sai lầm, tại một địa điểm sai lầm, ở một thời gian sai lầm, cho những lý lẽ sai lầm". Sự thất bại của Mỹ trong việc huy động một lực lượng lớn tiềm lực kinh tế và quân sự của đất nước trong cụộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nhưng không khuất phục được một dân tộc anh hùng. Tướng Mắc-xoen Tay-lơ, cựu Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn cũng thừa nhận: "Sức mạnh không quân là một sự yểm trợ, nhưng nó không thể quyết định việc chặn đứng những con người kiên quyết chiến đấu trên mặt đất... Chúng tôi đã không đánh giá  đúng tinh thần cực kỳ kiên quyết và đức tính hy sinh vì sự nghiệp của người dân Việt Nam".

Đúng vậy, sai lầm lớn nhất của Mỹ là không thấy được một dân tộc Việt Nam luôn luôn khát vọng hòa bình, tự do và hạnh phúc; một dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm hàng nghìn năm. Vì sự tồn vong của dân tộc, vì nghĩa vụ cao cả, thiêng liêng đối với quốc tế mà toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, đã buộc phải cầm súng quyết chiến đấu và quyết chiến thắng kẻ thù hung hãn nhất của thời đại trong thế kỷ XX.

Sử gia Xít-tan-li Ca-nâu (Stanley Karnow), một trong số ít phóng viên Mỹ có mặt Việt Nam từ đầu đến khi quân và dân Việt Nam làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, đã viết: "Sai lầm xuất phát từ sự không hiểu biết gì về lịch sử Việt Nam, một lịch sử dài phải chống lại các thế lực xâm lược, đã tạo cho người Việt Nam một ý thức sâu sắc về dân tộc họ. Từ khát vọng độc lập dân tộc đã làm nên một đảng tiên phong bản lĩnh và trí tuệ, luôn biết đổi mới kịp thời vào những thời điểm quyết định với nỗ lực và kỳ vọng được đồng hành cùng đất nước".

Đại thắng mùa Xuân 1975 đã khép lại cánh cửa chủ nghĩa thực dân mới, làm tiêu tan bao mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch hòng thôn tính, đô hộ, nô dịch, ngăn cản sự phát triển mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam. Năm tháng chiến tranh rồi cũng sẽ qua đi, song các nhà chiến lược Mỹ đã can dự vào cuộc chiến tranh Đông Dương nói chung, chiến tranh xâm lược Việt Nam nói riêng không thể nào biện minh được sự thảm bại cay đắng của một đế quốc lớn trước một đội quân "nhà nghèo" (theo cách nói của họ-TG). Nếu như Hen-ri Kít-xinh-giơ, nguyên Cố vấn Nhà Trắng bàng hoàng không hiểu "cái gì đó đã nhen lên trong dân tộc đó những ngọn lửa anh hùng và nghị lực như vậy"; thì tướng Mắc-xoen Tay-lơ, cựu Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn phải chua chát thừa nhận: "Tất cả chúng ta đều có phần của mình trong thất bại của Mỹ ở Việt Nam, và chẳng có gì là tốt đẹp cả. Chúng ta không hề có một anh hùng nào trong cuộc chiến tranh này, mà chỉ toàn là một lũ ngu xuẩn. Chính tôi cũng nằm trong số đó".

Lịch sử chiến tranh thế giới vẫn hiển hiện và lưu truyền mãi một bức tranh ảm đạm đối với nước Mỹ trong những ngày tháng 4 năm 1975. Một đất nước tự xưng hùng mạnh nhất thế giới đem quân đi xâm lược một quốc gia độc lập, có chủ quyền, lại kém mình gấp nhiều lần về tiềm lực kinh tế và quân sự, thì làm gì có anh hùng trong cuộc chiến tranh phi nghĩa, đầy man rợ đó. Thế nên, những người Mỹ phản đối chiến tranh xâm lược khi nghe tin Việt Nam đại thắng đã coi thắng lợi  của nhân dân Việt Nam là "thắng lợi vô song của lòng yêu nước và trí tuệ con người".

Trong tác phẩm "Giải phẫu một cuộc chiến tranh" xuất bản tại Niu Y-oóc (Mỹ) năm 1985, Giáo sư Sử học, Tiến sĩ Triết học Mỹ Ga-bri-en Côn-cô (Gabriel Kolko) đã chỉ ra nguyên nhân tạo nên sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến chống xâm lược, được khơi dậy từ "Đường lối quần chúng và sự động viên của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tỏ ra là một phương pháp rất có hiệu quả...". Ga-bri-en Côn-cô còn lý giải chiến thắng của quân dân Việt Nam trong cuộc đụng đầu lịch sử chống Mỹ xâm lược, ngoài tính chất ưu việt của chế độ xã hội chính trị được thể hiện qua việc tổ chức và tiến hành chiến tranh, huy động toàn dân, toàn lực để giành chiến thắng; còn một yếu tố cực kỳ quan trọng, đó là những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn phát huy dân chủ, thân thiết đối với binh sĩ của mình như người cha, người anh, người bạn; họ quan hệ với nhau như anh em trong một gia đình. Điều này trái hẳn với quân đội nhà nghề Mỹ trong tham chiến trên các chiến trường Việt Nam.

Khẳng định giá trị, ý nghĩa và tầm vóc lịch sử của Đại thắng mùa Xuân 1975, chúng ta cũng đồng thời đấu tranh phê phán mọi luận điệu xuyên tạc lịch sử về chiến thắng vĩ đại này với những thiên kiến lệch lạc, những ác ý thâm độc của các thế lực thù địch và cả những ngộ nhận, mơ hồ trong sự nhìn nhận, đánh giá lịch sử thiếu khách quan, cụ thể. Nhiều nhà lãnh đạo, chính khách Mỹ đến nay vẫn cố tình che giấu sự thật, đưa ra nhiều lý lẽ biện minh cho mưu đồ đen tối của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Nhưng cũng chính những người Mỹ đã bóc trần sự thật này; trong đó có E-uyn Knon (Ezwin Knoll), một nhà báo chuyên theo dõi về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ông đã dày công sưu tập hơn 7.000 tài liệu của Lầu năm góc, trong đó phần lớn là tài liệu tuyệt mật liên quan đến cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Trên cơ sở những nguồn tài liệu chân thực, E-uyn Knon đã xuất bản cuốn sách "Cuộc chiến bịp bợm của Mỹ", gây tiếng vang lớn trong dư luận xã hội Mỹ. Trong cuốn sách này, tác giả đã vạch rõ dã tâm xâm lược Việt Nam với những thủ đoạn chiến tranh hết sức tàn bạo, thể hiện bản chất hiếu chiến, phi nghĩa, vô nhân đạo của chủ nghĩa đế quốc; đồng thời, chỉ rõ Mỹ đã vấp phải ý chí quật cường, sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, với nghệ thuật tổ chức và lãnh đạo chiến tranh nhân dân tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến thất bại nặng nề nhất của Mỹ trong lịch sử đưa quân tham chiến nước ngoài.

Sưu tầm

Nhận rõ chiêu trò lập lờ "một nửa sự thật"

Sự nguy hiểm của luận điểm "Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 thực chất là chiến thắng của ý thức hệ cộng sản..." là với một số bạn đọc, nếu không tinh ý khi tiếp cận, sẽ thấy có "một nửa sự thật" trong cách đánh giá này về Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975. Bởi lẽ, nguyên nhân đầu tiên để dân tộc ta làm nên Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 xuất phát từ đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng. Đảng ta đã giương cao ngọn cờ "độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội", nhận được sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới, nên đã phát huy được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta mang dấu ấn thời đại sâu sắc nhưng bản chất luôn là một cuộc chiến tranh giải phóng.

Cần phải thêm một lần khẳng định, mục tiêu "độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội" do Đảng ta xác định là một lựa chọn tất yếu của lịch sử dân tộc. Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Như Khôi (Viện Khoa học xã hội và Nhân văn Quân sự) nhấn mạnh rằng: "Từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, trong gông xiềng nô lệ, phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam diễn ra với nhiều phương thức, tuy mang đậm tinh thần yêu nước và dũng khí trước quân thù nhưng đều dưới sự dẫn dắt của tư tưởng phong kiến và tư sản là các trào lưu tư tưởng đã lỗi thời trong sự phát triển của thế giới đương đại, không đáp ứng được yêu cầu của xã hội Việt Nam, nên đều thất bại. Cách mạng Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước". Chỉ đến khi người thanh niên Nguyễn Ái Quốc tiếp thu Chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy chân lý của thời đại: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản".

Từ đó, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã làm cuộc Cách mạng Tháng Tám mà sức mạnh "long trời, lở đất" của quần chúng đã giúp nhân dân ta giành lại chính quyền trong hòa bình, không có đổ máu. Và "chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng", nhưng thực dân Pháp vẫn rắp tâm cướp nước ta lần nữa. Ngay sau khi Đảng lãnh đạo nhân dân trường kỳ kháng chiến, làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ "chấn động địa cầu", Mỹ đã từng bước hất cẳng Pháp, phá bỏ Hiệp định Giơ-ne-vơ, dùng "đô la và vũ khí" lập nên chính quyền tay sai, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, hò hét "lấp sông Bến Hải", "Bắc tiến"... Mỹ đã thử nghiệm đủ loại phương thức chiến tranh, từ "chiến tranh một phía", "chiến tranh đặc biệt", "chiến tranh cục bộ" rồi "Việt Nam hóa chiến tranh"; có lúc đưa hơn nửa triệu quân Mỹ vào Việt Nam, ném bom tàn phá hòng "đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá". Bản thân chính giới Mỹ, dù gián tiếp hay trực tiếp, đều đã phải thừa nhận chính họ đã gây ra cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuộc đối thoại với ông Mắc Na-ma-ra, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, ngày 9 tháng 11 năm 1995 đã nhấn mạnh: Dân tộc Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình, nhưng là hòa bình trong độc lập và tự do. Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, chúng tôi có những bạn bè và đồng minh: Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước tiến bộ khác kể cả nhân dân tiến bộ Pháp và Mỹ... đã ủng hộ và giúp đỡ chúng tôi về vật chất và tinh thần, kể cả đóng góp ý kiến... nhưng cuối cùng quyết định vẫn là Việt Nam.

Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo (Hội đồng Lý luận Trung ương) cho rằng: cố tình quy trách nhiệm Đảng Cộng sản Việt Nam đã gây ra chiến tranh thực chất là một nhận thức phi lịch sử, muốn phủ nhận chiến thắng của nhân dân ta, hòng phủ nhận cả lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cách nhìn ấy muốn đánh đồng người chiến thắng và kẻ thất bại, xóa nhòa mục đích, tính chất, bản chất sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Thất bại của Mỹ và chính phủ "Việt Nam Cộng hòa" là sự phá sản, thất bại của các thế lực xâm lược bên ngoài, hòng áp đặt ách thống trị, nô dịch, áp bức và bóc lột nhân dân ta ở miền Nam.

Năm mươi năm sau Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, nhân dân Việt Nam đã và đang được hưởng một nền độc lập, hòa bình thực sự. Chưa bao giờ, thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế cao như lúc này. Để có thành tựu hôm nay, dân tộc Việt Nam đã phải chiến đấu kiên cường 30 năm, chống lại các thế lực thực dân - đế quốc hung bạo nhất thế giới, nên mỗi công dân Việt Nam rất thấm thìa giá trị này. Ai đó cố tình "chọc gậy bánh xe lịch sử", cố tình xuyên tạc bản chất sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là có tội với đất nước, với anh linh của hàng triệu đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Sưu tầm

Mưu gian nhưng "bình mới, rượu cũ"

Mưu gian của người nêu luận điểm "Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 thực chất là chiến thắng của ý thức hệ cộng sản...", là để từ đó dẫn dắt người đọc đến lập luận cho rằng, chính vì Đảng Cộng sản Việt Nam du nhập chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam đã đưa dân tộc vào trọng điểm của cuộc chiến ý thức hệ, gây ra cảnh "nồi da xáo thịt".

Sự thật có như vậy không? Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, khẳng định: Lập luận trên thực chất là trò "chọc gậy bánh xe" theo kiểu "bình mới, rượu cũ"; việc "đổ tội" cho Đảng Cộng sản Việt Nam đã gây ra chiến tranh là chiêu bài mà các thế lực thù địch đã làm suốt 50 năm qua nhưng không thuyết phục được ai. Sự thật chỉ có một, đó là sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Mỹ mưu đồ chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam, công khai hất cẳng thực dân Pháp, nhảy vào xâm lược, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Giữa năm 1956, chính phủ tay sai Ngô Đình Diệm tuyên bố lập nước "Việt Nam Cộng hòa", từ chối hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước, rước đế quốc Mỹ thống trị miền Nam Việt Nam, tiến hành chiến dịch "tố cộng", "diệt cộng" với khẩu hiệu "thà giết nhầm còn hơn bỏ sót", khủng bố dã man những người kháng chiến cũ, những gia đình có người đi tập kết và những người tán thành hòa bình, thống nhất nước nhà.

Miền Nam là một bộ phận không tách rời của Việt Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đó là "thịt của thịt Việt Nam, máu của máu Việt Nam, sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi". Những hành động xâm phạm độc lập, thống nhất và chủ quyền dân tộc... là điều trái đạo lý và pháp lý quốc tế. Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh. Là một dân tộc có lịch sử hào hùng hơn 4.000 năm, nhân dân ta ở cả hai miền Nam - Bắc thấu suốt chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Có kẻ xâm lược thì người Việt Nam chống kẻ thù xâm lược chứ không có chuyện "miền Bắc xâm lược miền Nam", không có chuyện "nồi da xáo thịt" như một số kẻ phản động vẫn thường kêu gào.

Về bản chất của Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Phúc cho rằng, kết quả của Hội thảo khoa học cấp Nhà nước "Đại thắng mùa Xuân 1975 - Sức mạnh của ý chí thống nhất Tổ quốc và khát vọng hòa bình" diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 3 tháng 4 vừa qua là câu trả lời rõ ràng, chắc chắn, khoa học và thuyết phục nhất. Các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo, các nhân chứng lịch sử, bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau đã khẳng định bản chất của Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 là "sức mạnh của ý chí thống nhất Tổ quốc và khát vọng hòa bình". Nói cách khác, đó là thắng lợi trọn vẹn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; như lúc sinh thời, đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn từng nhấn mạnh: "Đây là thắng lợi của cả dân tộc, không phải của riêng ai".

Sưu tầm

Nổi tiếng kiểu... tai tiếng!

- Đến chơi nhà bạn đồng ngũ, thấy cháu Hoài là con gái của bạn đang khóc thút thít ở hiên, ông Hiền lại gần sốt sắng hỏi:

- Con gái “rượu” của bố Đãng có chuyện gì buồn à? Chắc lại giận bố hả? Thôi, thông cảm cho bố cháu! Ngày xưa, ông ấy được đơn vị bác đặt cho biệt danh là Đãng “lửa” đấy. Hơi chút là khùng lên, tính nóng như lửa. Mà đầu đuôi câu chuyện thế nào, kể bác nghe, bác hứa sẽ nói chuyện để bố cháu hiểu.

Được bạn của bố động viên, Hoài lau nước mắt, thuật lại nguồn cơn câu chuyện. Chuyện là, Hoài chơi thân với một bạn trai cùng lớp, cậu này đang là “hot Facebooker” (người nổi tiếng trên mạng xã hội “phây búc”). Lúc cả nhà đang ăn cơm, thấy Hoài vào mạng xem video clip của cậu bạn vừa đăng rồi cười thích thú, ông Đãng nổi giận, yêu cầu con gái không được làm bạn với cậu kia nữa vì trong video clip đó, cậu ta mặc bộ đồ “nhái” quân phục, không cài khuy, không mang dây lưng, đứng nhảy múa uốn éo.

- Chuyện như vậy à cháu?

- Dạ, vâng ạ! Bạn này vẫn thỉnh thoảng đến nhà cháu chơi, bố cháu không ý kiến gì. Vậy mà, chỉ vì mỗi bộ quân phục "nhái" cậu ấy mặc kiểu trẻ trung để cho vui, bố cháu lại nặng lời, gọi bạn ấy là “quân phản động”, rồi mắng cháu... không biết chọn bạn.

Hoài vừa nói đến đó, ông Đãng từ trong buồng chạy ra, giọng bực tức:

- Mày lại còn định bênh nó hử? Ăn mặc nhố nhăng, bôi nhọ hình ảnh người lính Cụ Hồ, như thế chẳng phải là “phản động” thì sao? Con nhìn bác Hiền, rồi bố đây, mặc dù đã rời quân ngũ hơn chục năm nhưng mỗi dịp hội họp, ngày lễ cần mặc bộ quân phục cũ, các bố đều chuẩn bị là ủi cho phẳng phiu, mang mặc nghiêm túc, trân trọng. Trong khi bạn con đang là sinh viên, có học thức, nhất là cậu ta không phải là bộ đội mà dám lấy quân phục để mang mặc lên người, đã thế còn nhảy nhót kiểu nhố nhăng...

- Bạn con cũng vì yêu hình ảnh bộ đội nên mới mặc trang phục “nhái” theo phong cách người lính trẻ để quay video clip để quảng bá hình ảnh bộ đội thôi ạ!

- Nhưng nhái kiểu nhố nhăng, lai căng đó là bôi nhọ hình ảnh người lính Cụ Hồ đấy, con ạ! Không biết chừng, nó còn có ý đồ xấu. Các anh chị bây giờ mà cứ “thả lỏng” ra là dễ lung lạc, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lắm.

Thấy tình hình có vẻ căng thẳng, ông Hiền vội chen ngang:

- Theo tôi, ông Đãng phải bình tĩnh, tìm hiểu xem cậu kia mặc như vậy với mục đích gì? Có thể cháu nó chỉ suy nghĩ đơn giản, muốn nổi tiếng trên mạng xã hội nên ăn mặc khác thường. Nhiều bạn trẻ giờ vô tư, hồn nhiên, thích sáng tạo, thể hiện sự mới lạ như vậy. Nếu chưa tìm hiểu kỹ mà vội quy cho cháu là “phản động” thì không nên. Còn cháu Hoài, bố cháu nhắc cũng có phần đúng đấy! Cháu nên góp ý với bạn, có những hình ảnh đã thành biểu tượng, ăn sâu vào tâm trí cộng đồng rồi thì không nên phá cách bừa bãi, gây phản cảm. Cháu cũng phân tích cho bạn ấy hiểu, việc làm đó của bạn sẽ gây ra những hệ lụy không tốt cho cộng đồng, thậm chí còn bị kẻ xấu lợi dụng để suy diễn, xuyên tạc, tuyền truyên chống phá Quân đội ta. Nếu cậu ấy thực sự là bạn tốt thì cháu cần khuyên nên chọn những cách làm phù hợp, đăng thông tin thực sự tốt đẹp để người xem “phây búc” thấy tin cậy, yêu mến, vì nổi tiếng như thế mới bền vững. Chứ muốn nổi tiếng theo kiểu bạn cháu đã làm thì không khéo lại thành... tai tiếng.

Nghe ông Hiền phân tích thấu tình, đạt lý, cả ông Đãng và cháu Hoài đều bày tỏ nhất trí. Không khí trong nhà bớt căng thẳng hẳn.

Sưu tầm

Cảnh giác trước mưu đồ lợi dụng chủ trương tinh gọn bộ máy để xuyên tạc, chống phá Quân đội

Thời gian qua, lợi dụng chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước ta, các thế lực thù địch liên tục đưa ra những luận điệu xuyên tạc, chống phá Quân đội. Mưu đồ này không mới, song rất nguy hiểm, đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nhằm giảm tầng nấc trung gian, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả hoạt động, Quân đội ta đã và đang đẩy mạnh sắp xếp, điều chỉnh tổ chức biên chế phù hợp yêu cầu chung và đặc thù chức năng, nhiệm vụ. Đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tuy nhiên, như một “thói xấu khó bỏ”, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng vấn đề này để không ngừng tung ra nhiều thông tin xuyên tạc, kích động chống phá Quân đội trên các kênh thông tin truyền thông lề trái, các trang mạng xã hội,... với những luận điệu lố bịch như: “Quân đội không còn cần thiết”, “cải tổ mạnh mẽ Quân đội để giảm gánh nặng ngân sách” hay “Quân đội nên tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng”, 

Để lập luận cho những luận điệu sai trái đó, các thế lực thù địch viện dẫn luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin “Quân đội là một phạm trù lịch sử” để rồi xuyên tạc trắng trợn rằng: Quân đội ra đời, tồn tại gắn liền với chiến tranh; khi đất nước hòa bình, sự tồn tại của quân đội là không cần thiết; vậy nên, trong tinh gọn bộ máy thì nên xóa bỏ tổ chức quân đội đi. Chúng còn xảo biện rằng, hoạt động quân sự là hoạt động chỉ có tiêu tốn của nền kinh tế chứ không mang lại lợi ích gì khác; vậy nên càng rút gọn về tổ chức, tinh giảm quân số quân đội càng tốt. Không dừng lại đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn lặp lại “bài hùng biện” quen thuộc rằng: “Quân đội nên trung lập về chính trị”, nghĩa là “đứng giữa các lực lượng chính trị”, “đứng ngoài chính trị”, “không can dự vào chính trị”, v.v. Chúng cho rằng, quân đội là của nhà nước, nên chỉ phục tùng nhà nước, chứ không phục tùng và chịu sự lãnh đạo của bất cứ chính đảng nào.

Có thể khẳng định rằng, những luận điệu của các thế lực thù địch là hoàn toàn sai trái, dựa trên sự nhận thức “ngây ngô” về lý luận và những cứ liệu thực tiễn hết sức “ngờ nghệch”. Về vấn đề này, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ: “Quân đội là một tập đoàn có tổ chức, gồm những người được vũ trang, được nhà nước đài thọ để thực hiện chiến tranh tiến công hoặc phòng ngự”1. Theo đó, quân đội ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước và chỉ mất đi khi không còn nhà nước. Mặt khác, khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa kinh tế với quân sự, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đều khẳng định giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong đó, “Không có gì lại phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế tiên quyết hơn là chính ngay quân đội và hạm đội”2 và ngược lại, quân đội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế. Điều đó nói lên rằng, quân đội có vai trò rất quan trọng để bảo vệ nhà nước sinh ra nó; sức mạnh chiến đấu của quân đội luôn gắn liền với những điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước. Và việc sắp xếp, điều chỉnh tổ chức biên chế của quân đội xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn đất nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Hoàn toàn không có chuyện “Quân đội không còn cần thiết”, mà ngược lại, vai trò của Quân đội càng quan trọng hơn trước đòi hỏi của thực tiễn phát triển đất nước và trong bối cảnh thế giới phức tạp hiện nay.

Với tư cách là công cụ bạo lực sắc bén của nhà nước, lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng đóng vai trò ngày càng quan trọng trong giữ vững môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Một mặt, Quân đội thực hiện tốt chức năng “Đội quân chiến đấu”, là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân vững mạnh, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống; mặt khác, thực hiện tốt chức năng “Đội quân công tác” trong tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cho nhân dân; giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế, ổn định đời sống, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước. Cùng với đó, Quân đội ta còn là “Đội quân lao động sản xuất”, góp phần to lớn vào phát triển kinh tế, xã hội của đất nước; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và cán bộ, chiến sĩ. Theo đó, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quán triệt sâu sắc quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng của Đảng, ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân phát huy khả năng, thế mạnh, tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế. Các cơ quan, đơn vị tích cực tăng gia, sản xuất, xây dựng kinh tế, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở những khu vực, địa bàn, vùng chiến lược trọng yếu về quốc phòng, an ninh; góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, nhất là ở các địa bàn chiến lược vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững chắc. Thực tiễn hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành cho thấy, Quân đội ta luôn là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước, Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn thấm nhuần mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, sẵn sàng xả thân, hy sinh xương máu vì hạnh phúc của nhân dân cả trong đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước ngày nay. Đó là thực tế không thể phủ nhận.

Hiện nay, đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Hơn lúc nào hết, đây là thời điểm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải nâng cao hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả quản lý xã hội, nhằm phát huy tối đa mọi nguồn lực phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, ngân sách đầu tư cho Quân đội còn hạn hẹp, để xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, việc sắp xếp, điều chỉnh tổ chức biên chế Quân đội là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, những ai cho rằng phải “cải tổ mạnh mẽ quân đội để giảm gánh nặng ngân sách” là những người phiến diện, chỉ nhận thức một mặt mà không hiểu hoặc cố tình không hiểu mối quan hệ biện chứng của từng thành tố “tinh”, “gọn”, “mạnh” trong mục tiêu xây dựng Quân đội của Đảng và Nhà nước ta. Bởi đây không đơn thuần là việc cắt giảm quân số, sáp nhập một số cơ quan, đơn vị quân đội để giảm gánh nặng ngân sách; mà đó là quá trình tổ chức “tinh”, “gọn”, giảm đầu mối trung gian để nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội trong điều kiện mới.

Lẽ tất nhiên, phải luôn thấu triệt nguyên tắc căn bản: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội; không chỉ tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong mọi khâu, bước của quá trình sắp xếp, điều chỉnh tổ chức biên chế Quân đội lần này, mà còn luôn quán triệt, thấm nhuần sâu sắc mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước, Quân đội cần luôn nhận thức rõ, xác định đúng đối tác, đối tượng; vận dụng, phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc; đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, tạo sức mạnh tổng hợp để sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để đất nước phát triển hùng cường trong kỷ nguyên mới./.

Sưu tầm

Nhận diện kẻ cơ hội chính trị

Chủ nghĩa cơ hội trong hệ thống chính trị là mối nguy hại lớn, gây rối loạn nội bộ, mất đoàn kết, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng, giảm niềm tin của Nhân dân. Do đó, cần nhận diện kịp thời để bảo vệ tổ chức trong sạch, vững mạnh và giữ vững kỷ cương.

Chính trị, trong bất kỳ thể chế nào, đều đòi hỏi sự trung thành với lý tưởng, lòng tận tụy với đất nước và tinh thần phụng sự nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những người kiên trung, chính trực và bản lĩnh, cũng có những phần tử mang bản chất cơ hội chính trị – những kẻ chỉ nhắm đến quyền lực, danh lợi cá nhân, sẵn sàng thay đổi lập trường, đánh đổi nguyên tắc và thao túng dư luận để trục lợi.

Chúng ta có thể hiểu, cơ hội chính trị là một biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân cực đoan, đặt lợi ích bản thân lên trên lợi ích chung. Kẻ cơ hội chính trị thường không có lý tưởng kiên định, dễ dàng thay đổi thái độ, lập trường theo chiều gió để mưu cầu địa vị, quyền lực hoặc lợi ích cá nhân. Họ sẵn sàng đánh đổi nguyên tắc, phản bội đồng chí, lợi dụng tổ chức, thậm chí bắt tay với các thế lực phản động, chỉ để thỏa mãn mưu đồ riêng. Nhất là, trong hệ thống chính trị, chủ nghĩa cơ hội không chỉ là sự biến chất về đạo đức mà còn là một nguy cơ tiềm ẩn gây rối loạn nội bộ, mất đoàn kết, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng và làm tổn hại đến niềm tin của Nhân dân.

Nhận diện đúng và kịp thời kẻ cơ hội chính trị là điều đặc biệt quan trọng nhằm bảo vệ sự trong sạch của tổ chức, giữ vững kỷ cương và xây dựng một hệ thống chính trị vững mạnh, trong sạch, dân chủ và vì dân. Đồng thời, thông qua những dấu hiệu nhận diện để cảnh báo kịp thời những nguy cơ mà chủ nghĩa cơ hội gây ra đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc khi đất nước bước sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Kẻ cơ hội chính trị thường có những dấu hiệu nhận biết

Vấn đề cho thấy, kẻ cơ hội chính trị đang tồn tại dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau, len lỏi vào nhiều vị trí trong hệ thống chính trị, đặc biệt là trong nội bộ Đảng và quân đội. Đây là những phần tử thoái hóa, biến chất – những “con sâu”, “con mọt” đang âm thầm phá hoại nền tảng tư tưởng, làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và quần chúng Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Chúng làm suy yếu tổ chức đảng, gây mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính thống nhất trong tư tưởng và hành động, từ đó đe dọa trực tiếp đến vai trò cầm quyền của Đảng và sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chính vì vậy, nhận diện đúng và kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội chính trị cần được xác định là nhiệm vụ chiến lược, cấp thiết và lâu dài trong bối cảnh hiện nay, đặc biệt khi đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen.

 

Và hơn hết, điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác giáo dục - đào tạo đội ngũ cán bộ sĩ quan các cấp trong quân đội, cũng như trong duy trì hoạt động thường xuyên của các đơn vị trong toàn quân. Vì vậy, trong thời gian qua, Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện Lục quân đã lãnh đạo, chỉ đạo đưa nội dung nhận diện, cảnh báo và đấu tranh với kẻ cơ hội chính trị vào chương trình giáo dục - đào tạo cho các đối tượng học viên trong Học viện. Đây chính là bước đi cần thiết nhằm nâng cao khả năng “tự đề kháng” trước các tác động xấu từ bên trong và bên ngoài cho đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy, nhà khoa học, nhà giáo ở thế hệ tiếp theo trong Quân đội ta. Đồng thời, Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện đã chỉ đạo cơ quan chính trị, tổ chức Đảng, chỉ huy các cấp trong toàn Học viện cũng cần thường xuyên triển khai công tác kiểm tra, giám sát, giáo dục chính trị tư tưởng nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các biểu hiện cơ hội, góp phần giữ vững sự trong sạch, vững mạnh của tổ chức và củng cố nền tảng tư tưởng vững chắc cho cán bộ, giảng viên, học viên, công nhân viên, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ trong toàn Học viện.

Kẻ cơ hội chính trị là biểu hiện lệch lạc, nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân trong đời sống chính trị. Dấu hiệu nhận biết của kẻ cơ hội chính trị không quá khó nếu tổ chức, nhân dân và đội ngũ cán bộ, chiến sĩ thực sự tỉnh táo, luôn kiên định và có ý thức bảo vệ sự trong sạch của hệ thống. Chủ động nhận diện, đấu tranh và loại bỏ những phần tử cơ hội chính là bước đi “sống còn” để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo vệ kỷ cương và hướng đến một nền chính trị công khai, minh bạch, phục vụ Nhân dân và Tổ quốc khi đất nước bước sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

Sưu tầm