Thứ Ba, 24 tháng 6, 2025

Bản năng và bản lĩnh trong phòng, chống suy thoái - Bài 2: Rèn luyện bản lĩnh, chế ngự bản năng (Tiếp theo và hết)

 

Lòng tham là thuộc tính của chủ nghĩa cá nhân, có sẵn trong bản năng con người. Muốn chế ngự nó, phải có bản lĩnh. Bản lĩnh không tự nhiên có, mà được hình thành, phát triển, hoàn thiện thông qua môi trường giáo dục, rèn luyện. Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, việc đẩy mạnh phê bình, tự phê bình, nâng cao tính chiến đấu trong cấp ủy, tổ chức đảng chính là các hình thức, giải pháp rèn luyện bản lĩnh cán bộ, đảng viên...

Nâng cao bản lĩnh, lấy "xây" để "chống"

Trong dịp kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2025), không gian mạng xuất hiện một số đoạn video clip được người dùng mạng xã hội chia sẻ với tốc độ chóng mặt. Clip được quay bằng điện thoại di động, cho thấy hình ảnh một phụ nữ trẻ, gương mặt sáng, tác phong nhanh nhẹn, phong thái tự tin, mạnh mẽ, xuất hiện giữa một nhóm người Việt sinh sống ở nước ngoài đang tập trung trên đường, mang theo cờ “ba sọc” của ngụy quyền Sài Gòn trước năm 1975. Theo các thông tin được thể hiện trong các video clip này thì địa điểm diễn ra sự việc là tại Australia và người phụ nữ bản lĩnh này là người Việt, gốc ở Hải Phòng, đang sinh sống, làm việc tại Australia. Trong lúc nhóm người này đang thực hiện các hành vi phản cảm, tuyên truyền, kích động chống phá đất nước Việt Nam, xuyên tạc về Đại thắng 30-4-1975, thì người phụ nữ trẻ đã mở to công suất chiếc loa, phát bài hát “Như có Bác trong ngày đại thắng”. Mặc dù bị nhiều đối tượng với gương mặt đằng đằng sát khí lao đến đe dọa, chửi bới, đòi hành hung, nhưng người phụ nữ trẻ vẫn hiên ngang, bình tĩnh, đấu tranh phản đối hành động phản bội Tổ quốc của nhóm người kia. Phía dưới các video clip, rất nhiều người để lại bình luận, bày tỏ sự thích thú, nể phục bản lĩnh của người phụ nữ trẻ. Cộng đồng mạng gọi cô là “bông hoa thép”, “khiêu vũ giữa bầy sói”...Người có bản lĩnh luôn có xu hướng, nhu cầu hành động vì lẽ phải để bảo vệ công lý và chân lý. Đó là những người “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha...”, không bàng quan, thờ ơ trước cái ác, cái xấu, cái tiêu cực. Sự thể hiện cao nhất của bản lĩnh công dân là tinh thần yêu nước, luôn đặt Tổ quốc trong tim, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Trong đời sống xã hội, sự xuất hiện của những hành động trượng nghĩa của người có bản lĩnh luôn tạo hiệu ứng mạnh mẽ, lan tỏa, truyền năng lượng tích cực đến cộng đồng. Với tinh thần lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy hoa thơm lấn át cỏ dại, sự xuất hiện, lan tỏa những hành động đẹp, giàu tính trượng nghĩa, nhân văn trong đời sống đã nêu gương tốt, kiềm chế, đẩy lùi cái xấu, tiêu cực.

Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng những năm gần đây, chúng ta thấy rõ bức tranh tương phản giữa những cán bộ, đảng viên giàu bản lĩnh, ý chí chiến đấu và một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, hành động theo bản năng, bị lòng tham, tính đố kỵ, hẹp hòi, chủ nghĩa cá nhân thao túng. Kể từ khi chúng ta đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhất là từ Đại hội XII của Đảng đến nay, độ đậm sắc của bức tranh tương phản ngày càng rõ nét. Bên cạnh một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái bị phát hiện, điều tra, xử lý, môi trường văn hóa trong Đảng càng trong sạch hơn, văn minh hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin, kỳ vọng của nhân dân “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.

Gam màu sáng được tạo nên bởi bản lĩnh, ý chí chiến đấu của cán bộ, đảng viên giữ vai trò chủ đạo, tạo hiệu ứng giáo dục, cảm hóa mạnh mẽ. Rất nhiều tấm gương cán bộ, đảng viên kiên trung, nhiệt huyết, giàu bản lĩnh, đã dũng cảm đấu tranh, nêu cao tính tiền phong gương mẫu, giữ vững nguyên tắc lãnh đạo của Đảng. Sự nêu gương của rất nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy các cấp, các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị đã tạo động lực nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với phương châm lấy “xây” để “chống”. Chính vì vậy, nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực đã được điều tra, xử lý kịp thời, nghiêm minh, tạo sức mạnh răn đe, thể hiện tính giáo dục, nhân văn sâu sắc trong Đảng.

Cuộc thanh lọc của bản lĩnh và ý chí chiến đấu

Một trong những dấu ấn sâu đậm từ các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là lòng dân. Hình ảnh hàng vạn người dân và du khách muôn phương đổ về trung tâm TP Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm, xem diễu binh, diễu hành, bày tỏ tình cảm, niềm tin yêu sâu sắc đối với Bộ đội Cụ Hồ cho thấy sức mạnh lòng dân là tài nguyên, tài sản vô giá của Đảng. Niềm tin Việt, bản lĩnh Việt, ý chí Việt, khát vọng Việt... được hình thành, hun đúc, phát triển từ "thế trận lòng dân", một phần rất quan trọng xuất phát từ những chuyển biến, đột phá mạnh mẽ trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; hoạch định hướng đi cho đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Lòng dân là sức mạnh vô song. Quy tụ được lòng dân, phát huy sức mạnh vĩ đại của nhân dân là bài học kinh nghiệm xương máu của Đảng, là hồng phúc của dân tộc.

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đẩy mạnh triển khai sắp xếp, tinh gọn bộ máy; tổ chức đại hội đảng các cấp nhiệm kỳ 2025-2030, tiến tới Đại hội XIV của Đảng, yêu cầu về bản lĩnh, ý chí chiến đấu của cán bộ, đảng viên được đặt ra rất cao. Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy được thực hiện với tinh thần như một cuộc cách mạng, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc nảy sinh. Đồng thời, việc giải quyết bài toán “ai về, ai ở”, “chọn ai, gạch ai” trong đại hội đảng và trong các cơ quan, đơn vị chắc chắn sẽ có tác động đến tâm tư, tình cảm, cuộc sống gia đình của nhiều người. Bản lĩnh và ý chí chiến đấu chính là vũ khí để mỗi cán bộ, đảng viên, cấp ủy, tổ chức đảng triển khai thực hiện chủ trương của Đảng một cách kịp thời, kiên quyết, hiệu quả, ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, “chạy ghế”, “chạy phiếu bầu”. Trong bài viết “Học tập suốt đời” được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng vừa qua, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ: Hơn lúc nào hết, chúng ta cần có những cán bộ có tư duy, tầm nhìn, việc làm đột phá, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh, đặc biệt trong thực hiện các cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh-gọn-mạnh, hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả...

Lựa chọn cán bộ cho các vị trí trong hệ thống chính trị các cấp chưa bao giờ là công việc dễ dàng. Làm không chặt chẽ, không bám sát nguyên tắc, cấp ủy, tổ chức đảng yếu kém bản lĩnh, để cho cá nhân lũng đoạn, chi phối, hậu quả sẽ khôn lường. Trong bài viết “Tổ chức tốt đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: Tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chưa được khắc phục triệt để; tình trạng “nói không đi đôi với làm; nói một đằng, làm một nẻo”, “đánh trống bỏ dùi”, “lạc quan tếu”, báo cáo không trung thực, cán bộ thiếu năng lực, thiếu gương mẫu, cục bộ, bè phái... đều là những “miếng mồi” để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền chống phá, để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhằm làm suy giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ ta... Chính vì vậy, công tác nhân sự đại hội phải được tiến hành theo quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán theo hướng dẫn của Trung ương; tránh cách làm giản đơn, tùy tiện, vô nguyên tắc, cài cắm “quân xanh, quân đỏ” hoặc máy móc, cứng nhắc, xa rời thực tiễn; phải bảo đảm lựa chọn được những người tốt nhất, xứng đáng nhất, không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài, đủ điều kiện, tiêu chuẩn, đồng thời kiên quyết chống các biểu hiện cơ hội, tham vọng quyền lực, vận động cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm, tư tưởng cục bộ, địa phương, thân quen...

Có thể nói, công tác sắp xếp, tinh gọn bộ máy và tổ chức đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng là hai nhiệm vụ có mối quan hệ biện chứng. Quá trình triển khai thực hiện, đòi hỏi người đứng đầu, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải nêu cao bản lĩnh, ý chí đấu tranh; đặt yêu cầu nhiệm vụ và lợi ích chung lên hàng đầu; chế ngự bản năng, kiềm chế lòng tham, quét sạch chủ nghĩa cá nhân để thanh lọc, lựa chọn nhân sự một cách trong sạch, đúng nguyên tắc, chọn được đội ngũ có đủ tâm, tầm và tài; thực sự đại diện cho ý chí, khát vọng của nhân dân. Để giải quyết tốt mối quan hệ “xây” và “chống”, lấy “xây” để “chống”, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, hướng dẫn, chỉ thị, kết luận của Trung ương. Đặc biệt, cần tiếp tục rà soát 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức lối sống theo Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII và Kết luận 21, Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực và có nhiều khiếu kiện, khiếu kiện kéo dài. Đồng thời, quan tâm giải quyết dứt điểm những vụ việc gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chú trọng công tác tự kiểm tra, tự giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị, kịp thời phát hiện từ nội bộ để chấn chỉnh ngay những vi phạm từ khi mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm, sai phạm lớn...

Rèn luyện bản lĩnh đòi hỏi tính liên tục, kết hợp chặt chẽ giữa rèn luyện và tự rèn luyện, giáo dục và tự giáo dục. Khi bản lĩnh trở thành phẩm chất của cán bộ, đảng viên, lòng tham và những nhu cầu mang tính bản năng, tiêu cực sẽ được chế ngự, kiềm tỏa. Cá nhân cũng vậy và tập thể cũng vậy.

Thời của nói thì phải làm

 

Từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, từ lý luận cho đến thực tiễn và ở bất cứ quốc gia, chế độ, xã hội nào thì chữ “tín” cũng luôn được đề cao, coi trọng và được xét đến đầu tiên khi đánh giá một con người. Từ nhân dân mà ra, được nhân dân tín nhiệm nên cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ giữ chức vụ cao càng cần coi trọng chữ “tín”. Bởi, chỉ những người trọng chữ “tín”, “nói đi đôi với làm”, "nói thì phải làm" thì mới cảm hóa, lôi cuốn được quần chúng và được quần chúng quý mến, tin theo.

1. Sự nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là ở người lãnh đạo giữ vai trò quan trọng bởi nhất cử nhất động của họ vượt ra khỏi phạm vi cá nhân, mang ý nghĩa tiêu biểu, được dư luận nhìn vào. Cán bộ, đảng viên giữ các cương vị cao càng phải thực sự là những tấm gương, tiêu biểu trong lời nói, việc làm và thực hành đạo đức thì mới có thể tạo niềm tin, cuốn hút quần chúng, khơi dậy sức mạnh to lớn trong nhân dân.

Chính vì vậy, để tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, Đảng ta đã ban hành Quy định về những điều đảng viên không được làm và nêu rõ: Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; cùng với việc gương mẫu chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quy chế, quyết định của Đảng và Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, các quy định của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội mà mình là thành viên, phải chấp hành nghiêm những quy định của Đảng về những điều đảng viên không được làm.Xét ở góc độ, khía cạnh nào thì sự gương mẫu trong lời nói, hành động, việc làm của cán bộ, đảng viên, nhất là người giữ chức vụ cao, có ý nghĩa hết sức quan trọng, là một trong những yếu tố mang tính chất quyết định tới chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương; là “mệnh lệnh không lời” tạo động lực, niềm tin để cấp dưới và quần chúng nhân dân tự giác tu dưỡng, rèn luyện, noi theo. Đây cũng là đòi hỏi bức thiết của đời sống đạo đức xã hội. Vì chỉ có thông qua những tấm gương cụ thể mới củng cố và nâng cao được niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Ngược lại, “nói không đi đôi với làm, nói một đằng làm một nẻo, nói mà không làm, nói nhiều làm ít” là những biểu hiện của sự tha hóa về đạo đức, tư tưởng và lối sống, không phải là phẩm chất của cán bộ, đảng viên. Có thể kể đến, đó là tình trạng “trên trải thảm, dưới trải đinh” trong thực hiện các chính sách thu hút đầu tư, phát triển kinh tế-xã hội; tăng tốc thực hiện những “chuyến tàu vét trước khi hạ cánh” vào cuối nhiệm kỳ; biến những nguyên tắc sống còn của Đảng trở thành hình thức, làm méo mó mọi quy định, thậm chí là bất chấp pháp luật để mưu lợi... Tình trạng nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm bị xử lý kỷ luật về Đảng, pháp luật Nhà nước từ đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng lần thứ XIII đến nay không chỉ gây ra nỗi buồn, thất vọng mà còn khiến nhân dân không khỏi bức xúc vì lời nói và việc làm của họ trái ngược nhau. Họ không chỉ làm méo mó hình ảnh, phẩm chất người cán bộ, đảng viên mà còn tạo điều kiện cho các thế lực thù địch khai thác, lợi dụng để xuyên tạc, bóp méo chủ trương, chính sách tốt đẹp của Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Nhưng cái họa và mất lớn nhất mà họ gây ra là làm sứt mẻ, xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ; đe dọa sự tồn vong của đất nước. Đây cũng là vấn đề được Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ ra trong bài viết “Tổ chức tốt đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030” đăng trên Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 12-2-2025: “Tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chưa được khắc phục triệt để; tình trạng “nói không đi đôi với làm; nói một đằng, làm một nẻo”, “đánh trống bỏ dùi”, “lạc quan tếu”, báo cáo không trung thực, cán bộ thiếu năng lực, thiếu gương mẫu, cục bộ, bè phái... đều là những “miếng mồi” để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền chống phá, để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhằm làm suy giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ ta”.

2. “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, nguyên nhân sâu xa và trước hết của tình trạng “nói không đi đôi với làm; nói một đằng, làm một nẻo” vẫn từ sự thoái hóa, biến chất, thiếu tu dưỡng rèn luyện của cán bộ, đảng viên, nhất là khi đất nước, xã hội bước vào thời kỳ hội nhập, phát triển. Nhiều ý kiến phân tích cho rằng, thời kỳ chiến tranh giải phóng đất nước thì cái tôi phục tùng cái chúng ta, lòng yêu nước nổi trội làm cho con người coi vật chất không phải là mục tiêu tối cao dù đời sống rất khó khăn. Nhưng khi đất nước hòa bình, đổi mới, phát triển thì cuộc đấu tranh giữa cái tôi với cái chúng ta trong mỗi người diễn ra rất gay gắt do thu nhập khác nhau nên sinh hoạt, cuộc sống, suy nghĩ khác nhau. Chỉ cần buông thả, thiếu tu dưỡng bản thân thì sự thực dụng, tính ích kỷ, vụ lợi sẽ lên ngôi, cái riêng sẽ lấn át cái chung, khiến con người dễ bất chấp cả nhân, lễ, liêm, sỉ, coi lợi ích riêng là điểm xuất phát và cái đích cuối cùng trong mọi hành động.

“Nói không đi đôi với làm” còn xuất phát từ thói “nói như rồng leo”, “ba hoa một tấc đến trời”; quen ra mệnh lệnh, chỉ thị, đề xuất mà không thích nghe người khác nói và khuyên răn, góp ý nên nói rồi quên, nói mà không tính đến các điều kiện thực tế, khả năng thực hiện của chính mình. Người xưa răn dạy: “Lời nói đọi máu”; “Nói chín thì phải làm mười/ Nói mười làm chín kẻ cười người chê”; “Nói người phải ngẫm đến ta/ Thử sờ lên gáy xem xa hay gần/ Nói người phải nghĩ đến thân/ Thử sờ lên gáy xem gần hay xa”, “Chân mình còn lấm bê bê/ Lại cầm bó đuốc đi rê chân người”... với ý nghĩa khuyên răn con người phải coi trọng lời nói; trước khi phê bình, góp ý, dạy bảo người khác thì phải nhìn kỹ lại mình xem đã gương mẫu, chuẩn mực chưa; muốn tạo dựng uy tín, nói cho người khác tin, nghe thì lời nói phải đi đôi với việc làm. Muốn thế thì trước khi nói phải nghĩ đến làm, phải tính đến mọi khả năng, điều kiện thực tế, thực thi, hoàn thành chứ đừng nên cao giọng, nói cho vui miệng, nói rồi quên... 

Một vấn đề nữa là mặc dù Bộ Chính trị đã có Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12-12-2013 ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội và Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12-12-2013 ban hành quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị-xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, nhưng việc này còn nhiều hạn chế, chưa được coi trọng, phát huy tốt. Chính vì thế mới có tình trạng nhiều trường hợp cán bộ được bổ nhiệm giữ chức vụ cao trong thời gian dài thì cơ quan thanh tra, kiểm tra, điều tra mới phát hiện những vi phạm trong quá khứ nên hậu quả càng lớn. 

Ông Nguyễn Túc, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đặt câu hỏi và kiến nghị: “Tại sao nhiệm kỳ nào chúng ta cũng đặt vấn đề không được để lọt vào bộ máy những cán bộ thiếu năng lực, phẩm chất, nhưng cuối cùng vẫn xảy ra? Đó là do chúng ta chưa coi trọng vai trò giám sát của quần chúng nhân dân. Từ những vụ việc xảy ra thời gian qua cũng cho thấy tinh thần đấu tranh, phê bình của đảng viên, tổ chức đảng; kiểm soát của cấp trên, giám sát của cấp dưới đối với những cán bộ “nói không đi đôi với làm” còn hạn chế vì ngại va chạm. Do đó, cần đề cao sức mạnh của dư luận trong việc kiểm soát đạo đức cán bộ, đảng viên; không để bất kỳ cán bộ, đảng viên nào nằm ngoài sự kiểm soát của nhân dân, của cấp dưới, đặc biệt những người giữ cương vị lãnh đạo, quản lý. Đấy là hình thức phát triển đạo đức thiết thực nhất, không bàn suông, không hô khẩu hiệu đạo đức”.

Mỗi người, nhất là cán bộ, đảng viên, khi đã nói ra thì phải làm cho bằng được, đã làm thì phải làm đến nơi đến chốn. Tốt nhất là nên nói ít làm nhiều, thậm chí là lặng lẽ, tập trung vào làm. Hơn nữa, dù khéo léo, tài ăn nói đến mấy cũng không thể che giấu, lấp liếm cho hành động và bản chất con người, bởi “cái kim trong bọc lâu ngày cũng sẽ lòi ra” và sự giả dối cuối cùng sẽ bị phát giác, phải trả giá.

Nhận thức đúng về giá trị dân chủ trong điều kiện đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam

 

Thời gian qua, không chỉ các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc về chế độ dân chủ ở nước ta khi cho rằng “không có dân chủ trong chế độ đảng cộng sản duy nhất cầm quyền”, một số người trong nước cũng ngộ nhận, mơ hồ về luận điệu sai trái này. Vì vậy, việc làm sáng tỏ bản chất dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay một đảng cầm quyền là việc làm cần thiết nhằm phòng ngừa biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị trong nội bộ.

Tư tưởng dân chủ là giá trị chung của nhân loại

Khi xã hội loài người hình thành, con người với tư cách là thực thể xã hội, con người biết làm chủ xã hội với những cấp độ: Làm chủ bản thân, làm chủ gia đình, làm chủ cộng đồng và làm chủ xã hội. Dân chủ gắn liền với tiến bộ xã hội và sự phát triển của lịch sử, qua các chế độ xã hội và thời gian khác nhau. Dân chủ dùng để chỉ quyền làm chủ của nhân dân và xuất hiện khi có nhà nước và luôn gắn liền với một nhà nước nhất định, được hiến pháp, luật pháp của nhà nước đó quy định. Như vậy, trong xã hội có giai cấp, dân chủ mang bản chất giai cấp sâu sắc và trong khuôn khổ của pháp luật xã hội đó, không có dân chủ phi giai cấp, mọi luận điệu phủ nhận vấn đề này đều chỉ là sự lừa gạt, dối trá trước quần chúng. Giai cấp nào nắm được tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì mới có đầy đủ điều kiện thực hiện được quyền làm chủ xã hội thực sự.

Dân chủ không phải là khái niệm bất biến mà là một phạm trù chính trị, lịch sử, văn hóa, xã hội và luôn gắn với sự tồn tại của các kiểu nhà nước trong những điều kiện cụ thể nhất định. Trong mỗi hình thái kinh tế-xã hội, mỗi thời đại, mỗi quốc gia, dân tộc, dân chủ luôn có những nét đặc trưng.

Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, xét về bản chất chính là dân chủ của giai cấp chủ nô. Chế độ phong kiến, các tư tưởng và mô hình dân chủ bị hạn chế, cấm đoán bởi chế độ tập quyền chuyên chế khi quyền lực tuyệt đối nằm trong tay một đấng quân vương. Sự ra đời của nhà nước tư sản, nền dân chủ tư sản được xác lập do cuộc cách mạng tư sản dựa trên cơ sở liên minh giữa giai cấp tư sản với các giai cấp khác lật đổ chế độ phong kiến. Những tuyên bố về tự do, bình đẳng, bác ái, tư tưởng về nhà nước pháp quyền và xã hội công dân là những nội dung đầu tiên của dân chủ tư sản. Nhà nước tư sản đã đánh dấu một nấc thang phát triển về dân chủ so với dân chủ của chế độ chuyên chế phong kiến. Tuy nhiên, với bản chất của xã hội tư sản, nền dân chủ đại diện chỉ nhằm mục đích cao nhất là bảo vệ sự thống trị, bảo vệ quyền sở hữu, lợi ích của giai cấp tư sản và một bộ phận tinh hoa của xã hội.

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, với tính cách là một nấc thang phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản, dân chủ trong xã hội xã hội chủ nghĩa khác hẳn về chất so với các nền dân chủ trước đó. Mục tiêu xuyên suốt và cốt lõi của dân chủ xã hội chủ nghĩa là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, tạo ra ngày càng nhiều hơn các điều kiện thuận lợi để thực hiện xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, công lý cho mọi người, bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ, bình đẳng giữa các dân tộc. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở việc bảo vệ quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân lao động; thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do được bảo đảm về mặt pháp lý để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, có nội dung toàn diện, được thể hiện trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó nổi bật là sự tham gia một cách bình đẳng và rộng rãi của những người lao động vào công việc quản lý xã hội, quản lý nhà nước thông qua hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.  Bản chất dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay một đảng

Lịch sử đã chứng minh, trình độ dân chủ không tỷ lệ thuận với sự gia tăng số lượng đảng chính trị. Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển hay không. Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Dân chủ hay không dân chủ còn phụ thuộc vào việc đảng cầm quyền bảo vệ quyền và lợi ích của một nhóm người hay của đại đa số nhân dân, gắn với quyền dân chủ của nhân dân trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Hơn nữa, đa nguyên chính trị, đa đảng không phải là một giá trị phổ quát của nhân loại và là điều kiện tiên quyết cho một nền dân chủ.

Trên phương diện lý luận khoa học và thực tiễn cho thấy, trong chế độ đảng cộng sản duy nhất cầm quyền ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, vấn đề dân chủ không phụ thuộc vào đa nguyên chính trị, mà quan trọng nhất là xuất phát từ sứ mệnh, mục tiêu, lý tưởng của chính đảng cầm quyền có thật sự thừa nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và phát huy quyền dân chủ của các tầng lớp nhân dân hay không.

Nhân dân Việt Nam được quyền làm chủ và thụ hưởng mọi thành quả chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

Trước khi có Đảng Cộng sản Việt Nam, hàng chục cuộc khởi nghĩa, phong trào chống thực dân Pháp đã nổ ra theo nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, nhưng cuối cùng đều thất bại. Nhiều đảng phái thuộc mọi khuynh hướng chính trị đã ra đời nhưng đều không hoàn thành được sứ mệnh giành độc lập cho dân tộc, thậm chí nhiều đảng phái ngày càng thoái hóa biến chất, đi ngược lại lợi ích dân tộc, làm tay sai cho ngoại bang, đế quốc.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh và khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam-lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội Việt Nam-là hoàn toàn do nhân dân, dân tộc ta lựa chọn từ chính những trải nghiệm trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng ở nước ta đã đem lại độc lập, tự do cho dân tộc; quyền bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các thành phần kinh tế; quyền tự do làm giàu theo pháp luật, phát huy dân chủ gắn liền với giữ vững kỷ cương xã hội. Thông qua cơ chế vận hành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã góp phần bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, để nhân dân xứng đáng là người làm chủ và người làm chủ thật sự của xã hội.

Những thành tựu kinh tế-xã hội trong 4 thập niên đổi mới của nước ta càng cho thấy rõ điều đó. Quy mô tổng sản phẩm trong nước (GDP) không ngừng mở rộng, năm 2024 đạt 476 tỷ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và đứng thứ 33 thế giới; thu nhập bình quân đầu người đạt mức 4.700USD. Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Theo Báo cáo hạnh phúc thế giới 2025, Việt Nam xếp thứ 46 trong số 143 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng; xét ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đứng vị trí thứ 2 sau Singapore. Việt Nam nằm trong số các nước có xếp hạng chỉ số hạnh phúc liên tục tăng nhanh trong 3 năm trở lại đây. Từ năm học 2025-2026, Đảng, Nhà nước ta ban hành chính sách miễn học phí cho học sinh mầm non và học sinh phổ thông trên cả nước, hỗ trợ học phí cho học sinh mầm non và học sinh phổ thông ở các trường dân lập và tư thục. Thực hiện chủ trương của Đảng, giai đoạn 2026-2030 sẽ từng bước thực hiện lộ trình miễn viện phí cho toàn dân; phấn đấu 100% người dân được khám sức khỏe định kỳ ít nhất mỗi năm một lần.

Được biết, sau hơn 3 tuần triển khai lấy ý kiến nhân dân về nội dung dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 2013, đến ngày 28-5-2025, đã có gần 51,2 triệu ý kiến (trong đó có gần 2,6 triệu ý kiến của tổ chức và hơn 48,6 triệu ý kiến của cá nhân). Tổng số đó có hơn 49,9 triệu ý kiến tán thành (chiếm 98%) đối với dự thảo Nghị quyết sửa đổi Hiến pháp 2013. Điều đó cho thấy, các tầng lớp nhân dân ngày càng tham gia tích cực vào đời sống chính trị của đất nước, đồng thời thể hiện quyền dân chủ của người dân đã được phát huy trong thực tiễn.  

Những minh chứng đó thêm một lần khẳng định bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời cũng là cơ sở minh chứng những thành quả chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đã, đang thuộc về đại đa số nhân dân trong một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Suy thoái về tư tưởng chính trị - mối nguy hàng đầu của Đảng cầm quyền

 

Một trong những nguy cơ đe dọa đến tính chính danh và sự tồn vong của Đảng cầm quyền là sự suy thoái về tư tưởng chính trị. Nói đến suy thoái là đề cập đến tình trạng sa sút, thụt lùi dần dần, theo xu thế tiêu cực ngày càng nghiêm trọng hơn. Suy thoái tư tưởng chính trị là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên giảm sút niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng, con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Nếu không ngăn chặn và vực dậy kịp thời, hiệu quả, đây sẽ là mối nguy hại hàng đầu đối với Đảng và chế độ ta.

Nguy hại của biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị

Thực tế cho thấy, sự suy thoái về tư tưởng chính trị tiềm tàng trong một bộ phận cán bộ các cấp, nguy hại là trong đó có cả những cán bộ cấp chiến lược, cán bộ giữ những cương vị quan trọng của hệ thống chính trị. Sự sụp đổ của hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu khởi nguyên từ chính những đảng viên cộng sản bị suy thoái tư tưởng chính trị, nguy hiểm hơn, sự suy thoái đó lại ở những người giữ trọng trách trong đảng và bộ máy nhà nước.

Suy thoái tư tưởng chính trị là vấn đề nghiêm trọng liên quan đến sự tồn vong của chế độ, vì vậy được đề cập rất nhiều trong nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng ta. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã chỉ ra 9 biểu hiện của suy thoái tư tưởng chính trị.

Thời gian qua, đặc biệt là trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, Đảng ta đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng, đã phát hiện, xử lý kỷ luật đảng, xử lý theo pháp luật Nhà nước rất nhiều cán bộ, trong đó có những cán bộ giữ trọng trách cao của Đảng, Nhà nước. Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã tiến hành nhiều cuộc họp, thông cáo báo chí sau mỗi cuộc họp đều nêu rõ việc xử lý kỷ luật các cán bộ sai phạm. Tính đến ngày 15-4-2025, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 107 tổ chức đảng, 3.209 đảng viên; kỷ luật 70 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 28 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng.Nguyên nhân căn bản của sự suy thoái tư tưởng chính trị là sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng của một bộ phận cán bộ. Bản thân cán bộ giữ trọng trách dù được đào tạo, bồi dưỡng bài bản, có trình độ lý luận, nhưng đã bị tha hóa quyền lực, lạm dụng quyền lực để tư lợi cá nhân, hình thành nhóm lợi ích dẫn tới nhiều tiêu cực trong ban hành và thực thi các chính sách. Ngoài ra, trước tác động của mặt trái kinh tế thị trường, nhiều cán bộ do hám lợi đã không cưỡng lại được sự cám dỗ của lợi ích vật chất, ma lực của đồng tiền dẫn tới buông bỏ mục tiêu lý tưởng chính trị, đánh mất bản thân, chạy theo lợi ích tầm thường.

Sự suy thoái tư tưởng chính trị cũng sẽ dẫn tới sự thực dụng, cơ hội về chính trị, tham vọng quyền lực, tranh quyền đoạt lợi, phe nhóm lợi ích, hình thành một nhóm cán bộ “cậy quyền, cậy thế”. Bộ phận cán bộ này chỉ hướng tư tưởng, trách nhiệm của mình vào những gì mang lại lợi ích cho bản thân và nhóm lợi ích trước mắt, nhất thời, cục bộ, dù biết việc làm, chính sách ban hành đó có thể trái quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước. Từ đó tạo nên tình trạng cát cứ, phe nhóm để lũng đoạn chính trị, thao túng kinh tế, áp đặt quyền lực, gây bè kéo cánh, thậm chí vu cáo, bôi nhọ đồng chí, gây rối nội bộ.

Suy thoái về tư tưởng chính trị ở một bộ phận cán bộ đã làm tổn thương tình cảm, suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên; đe dọa sinh mệnh, uy tín của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị trong một bộ phận cán bộ là yêu cầu cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

Tăng cường các giải pháp phòng ngừa suy thoái tư tưởng chính trị

Để phòng ngừa suy thoái tư tưởng chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tiến hành tổng thể các giải pháp, trước hết cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng. Theo đó, cần gia tăng nội dung các môn học lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong công tác đào tạo theo cấp học, bậc học của hệ thống giáo dục và trong đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ các cấp; tập trung vào những nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng; những biểu hiện về suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ... Trên cơ sở đó định hướng tư tưởng chính trị đúng đắn, giúp cho đội ngũ cán bộ luôn thấm nhuần lập trường giai cấp, nêu cao trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Phẩm chất chính trị tư tưởng được hình thành do nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quyết định là vai trò, ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, tự trau dồi của cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố”. Được giáo dục, bồi dưỡng là nền tảng ban đầu, việc tu dưỡng, tự rèn luyện để trở thành hệ thống phẩm chất nhân cách ổn định là do chính cán bộ, đảng viên quyết định. Vì vậy, dù ở đâu, cương vị công tác nào, dù thuận lợi hay khó khăn, gian khổ, người cán bộ luôn phải ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, luôn chú trọng giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng ở mọi lúc, mọi nơi.

Trong tình hình hiện nay, phải đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hoàn thiện hệ thống cơ chế quản lý, kiểm soát quyền lực đối với đội ngũ cán bộ. Cốt lõi của xây dựng, chỉnh đốn Đảng chính là xây dựng, chỉnh đốn đội ngũ cán bộ. Điều đó có nghĩa là đi đôi với xây dựng, bồi dưỡng, cần làm tốt công tác quản lý, kiểm soát cán bộ. Theo đó, không chỉ khi có nghị quyết, chỉ thị của Trung ương mới tiến hành chỉnh đốn Đảng mà cần làm thường xuyên trong các cấp ủy, tổ chức đảng với mục đích là để cán bộ, đảng viên phải luôn tự soi, tự sửa, tự điều chỉnh tư tưởng, thái độ, trách nhiệm chính trị của mình. Trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cán bộ cấp trên, cán bộ đứng đầu, cán bộ chủ trì phải nêu cao trách nhiệm làm gương. Bên cạnh đó, cần siết chặt cơ chế quản lý, cơ chế kiểm soát, ràng buộc quyền lực đối với đội ngũ cán bộ, tránh việc lạm quyền, tham nhũng quyền lực, tha hóa quyền lực dẫn tới suy thoái tư tưởng chính trị.

Cùng với đó, cần chú trọng làm tốt công tác kiểm tra, giám sát thi hành kỷ luật đảng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và công tác bảo vệ chính trị nội bộ là giải pháp căn bản nhằm kịp thời phát hiện, ngăn ngừa cán bộ vi phạm tiêu chuẩn chính trị, đạo đức, lối sống, phát hiện những biểu hiện của suy thoái tư tưởng chính trị, những tiêu cực, lợi ích nhóm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ.

Cần phát huy vai trò, trách nhiệm của cơ quan chuyên trách kiểm tra, giám sát, cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ. Khi cán bộ có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, cần kết luận rõ, không bao che, không giấu giếm khuyết điểm; đồng thời kiên quyết xử lý đúng người, đúng việc, đúng tính chất, mức độ sai phạm. Những sai phạm liên quan đến nhiều cán bộ trong nhóm lợi ích, cần làm rõ vai trò của từng cán bộ để quy rõ trách nhiệm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu theo kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của cơ quan, đơn vị, địa phương. Với tinh thần xử lý nghiêm minh để làm gương, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, cán bộ giữ chức vụ càng cao khi vi phạm càng phải xử lý nghiêm khắc. Thông qua đó để răn đe, giáo dục cán bộ phải luôn tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, lối sống trong sạch, lành mạnh.

Ngày 9-5-2024, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Trong đó yêu cầu cán bộ, đảng viên phải suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng; nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với sự nghiệp cách mạng của Đảng; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; đồng thời luôn đặt lợi ích quốc gia-dân tộc, lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và của nhân dân lên trên hết, trước hết; kiên quyết, kiên trì đấu tranh với mọi hành vi gây phương hại đến lợi ích quốc gia-dân tộc, lợi ích của Đảng, Nhà nước và của nhân dân.

Đây chính là kim chỉ nam dẫn đường chỉ lối đúng đắn để cán bộ, đảng viên luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, lập trường cách mạng, đồng thời là “tấm khiên” phòng ngừa sự suy thoái về tư tưởng chính trị.

Giữ nguyên tắc “vì việc mà bố trí người” trong tinh gọn bộ máy

 


Để thực hiện thành công cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị cần triển khai đồng bộ, hiệu quả nhiều việc, trong đó, một vấn đề đặc biệt quan trọng là công tác cán bộ.

Hiện tượng “chạy chức” và “chia phần”

Có dịp tiếp xúc, trò chuyện với một số cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan, đơn vị, địa phương thuộc diện phải sáp nhập, sắp xếp, tổ chức lại, chúng tôi cảm nhận được suy nghĩ, cách hành xử khác nhau của mỗi người. Phần nhiều cán bộ, công chức bày tỏ sự tin tưởng vào chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, coi việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị là tất yếu khách quan, từ đó luôn nỗ lực, quyết tâm làm việc và nghiêm chỉnh chấp hành sự phân công, sắp xếp của tổ chức. Một số nhận thấy trình độ, năng lực không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới hoặc phải làm việc xa gia đình, điều kiện hoàn cảnh khó khăn, hoặc tìm được cơ hội việc làm phù hợp bên ngoài... nên chủ động xin nghỉ hưu sớm và hài lòng với những chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cần cảnh giác với những biểu hiện “chạy chức, chạy quyền” để có được vị trí cao hơn, “ngon” hơn. Những người này coi việc sắp xếp lại bộ máy là cơ hội “nghìn năm có một”, vì từ nhiều phòng sáp nhập thành một phòng, từ nhiều cơ quan tổ chức lại thành một cơ quan, từ nhiều tỉnh hợp nhất thành một tỉnh... do đó, địa bàn sẽ rộng hơn, quy mô quản lý lớn hơn, thẩm quyền cao hơn... đồng nghĩa là sẽ có nhiều “bổng lộc” hơn nếu trở thành cán bộ có chức, có quyền ở những cơ quan, đơn vị, địa phương này. Bởi vậy, họ sẵn sàng “chạy” nhiều nơi, qua nhiều “cửa” với hy vọng sẽ “thu hoạch” được nhiều hơn thế.Vậy họ “chạy” bằng cách nào? Câu trả lời là vẫn bằng những thủ đoạn không mới: Tận dụng các mối quan hệ sẵn có hoặc nhờ bạn bè, người thân giới thiệu, “dẫn lối” nhằm tiếp cận và dùng tiền hoặc các lợi ích vật chất, phi vật chất khác để nhờ vả, “đặt vấn đề” với những cá nhân giữ trọng trách, lãnh đạo cấp trên, từ đó tác động, gây ảnh hưởng, can thiệp vào quy trình công tác cán bộ theo hướng có lợi. “Cái mới” của việc “chạy chức, chạy quyền” trong bối cảnh sắp xếp, tổ chức lại bộ máy là những người này rất nhanh nhạy phát hiện ra các vị trí công tác “béo bở”, tiềm năng, những cán bộ có khả năng sẽ đảm nhận cương vị lãnh đạo trong cơ quan, đơn vị, địa phương sau khi tổ chức lại để tạo quan hệ, đồng thời rất “quyết đoán” trong “đầu tư” nhằm không bỏ lỡ cơ hội.

Cùng với “chạy chức, chạy quyền”, cần đề phòng một biểu hiện tiêu cực khác trong công tác cán bộ khi sắp xếp, tổ chức lại bộ máy là tư tưởng “chia phần”. Đó là việc một số vị trí được “chia” cho các cán bộ từ cao xuống, bất chấp tình hình thực tiễn, phẩm chất, năng lực, sở trường, quy trình công tác cán bộ. Điều này khiến cán bộ, công chức ở cơ sở dù có trình độ, năng lực, kinh nghiệm cũng không còn cơ hội phấn đấu. Đó còn là tình trạng khi sáp nhập, nếu địa phương của anh, cơ quan của anh có người đảm nhận vị trí lãnh đạo sở, ngành này, phòng kia thì địa phương của tôi, cơ quan của tôi cũng phải được “chia phần” để giữ vị trí tương ứng...

Niềm tin suy giảm theo hiệu ứng domino

Những biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ nói trên nếu không được phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn sẽ dẫn tới những hệ lụy nghiêm trọng. Trước hết, niềm tin của đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước rất có thể sẽ bị suy giảm theo hiệu ứng domino (lan truyền từ việc này sang việc khác). Thực vậy, sắp xếp, tổ chức lại bộ máy là cuộc cách mạng, được cả hệ thống chính trị thực hiện với quyết tâm rất cao. Cách mạng có nghĩa là phải xóa bỏ cái cũ, cái lạc hậu, mang lại cái mới, cái tiến bộ-đây là mục tiêu và cũng là kỳ vọng của toàn xã hội. Thế nhưng, khi đã được thực hiện với tư cách một cuộc cách mạng, nếu vẫn để xảy ra các biểu hiện tiêu cực, trong đó có tiêu cực trong công tác cán bộ thì sẽ khó tránh khỏi những băn khoăn, nghi ngại của dư luận: Vậy trong thực hiện các chủ trương, chính sách khác thì sao? Niềm tin bị suy giảm khiến lòng dân thiếu đồng thuận, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, là mầm mống xuất hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển của đất nước.

Cùng với đó, nạn “chạy chức”, “chia phần” còn ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu, kết quả của việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy theo hướng hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Đó là vì điều này sẽ dẫn tới tình trạng cán bộ, công chức “ngồi nhầm ghế”. Hậu quả là một số cán bộ thiếu tâm, thiếu tầm, thiếu tài, không đủ tiêu chuẩn, điều kiện nhưng lại chiếm giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy công quyền. Ngược lại, nhiều cán bộ có năng lực, trình độ, phẩm chất tốt lại bị đẩy ra ngoài, tạo ra sự "chảy máu chất xám", lãng phí nguồn lực, làm giảm động lực phấn đấu, sáng tạo của cán bộ...

"Vì việc mà bố trí người"

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Phương cách “dụng nhân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sử dụng cán bộ “đúng chỗ, đúng việc”, “tùy tài mà dùng người”... Có thể nhận thấy cốt lõi của phương cách này chính là nguyên tắc “vì việc mà bố trí người”.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng, xác định công tác cán bộ là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là “then chốt của then chốt”, từ đó có nhiều chỉ thị, nghị quyết, quy định... để lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tiêu cực. Công tác cán bộ trong cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy cũng không nằm ngoài dòng chảy đó.

Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu rõ nguyên tắc “vì việc mà bố trí người” trong quá trình sáp nhập, hợp nhất, tinh gọn bộ máy và chuẩn bị nhân sự đại hội Đảng khi nhấn mạnh “phải lấy tiêu chuẩn cao nhất là vì yêu cầu công việc, sau đó mới đến các tiêu chí khác”. Mới đây, ngày 25-5-2025, Bộ Chính trị cũng đã ban hành Kết luận số 157-KL/TW về triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính. Kết luận nêu rõ phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tuyệt đối tránh khuynh hướng, tư tưởng cục bộ địa phương, "lợi ích nhóm", tiêu cực...; nghiêm cấm việc tác động, can thiệp trong quá trình sắp xếp nhân sự...

Đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực như nạn “chạy chức, chạy quyền”, “chia phần” trong công tác cán bộ, giữ vững nguyên tắc “vì việc mà bố trí người” trong tinh gọn bộ máy là vấn đề quan trọng, cấp thiết. Để làm được điều này, trước hết, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cơ quan, đơn vị, địa phương cùng cấp ủy đảng phải là “chốt chặn” đầu tiên. Bởi thực tế cho thấy, nếu người đứng đầu thực sự gương mẫu, công tâm, không tham nhũng, tiêu cực, không dao động, nể nang trước sức ép, sự “gửi gắm” từ cấp trên; sức chiến đấu của các tổ chức đảng thực sự được phát huy thì tiêu cực sẽ khó có thể tồn tại. Bên cạnh đó, cần rà soát, hoàn thiện các quy định, quy trình công tác cán bộ theo hướng chặt chẽ, dân chủ, công khai, minh bạch, gắn với những tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể, phù hợp, rõ ràng, tránh tình trạng lấy tập thể làm bình phong cho những quyết định mang tính cá nhân. Mặt khác, cũng rất cần có cơ chế gắn trách nhiệm của các tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu với việc thực hiện công tác cán bộ, đồng thời tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời các biểu hiện vi phạm.

Cuối cùng, cần phải khẳng định rằng, phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm của từng cán bộ, công chức là nền tảng vững chắc để công tác cán bộ không bị tha hóa bởi những biểu hiện tiêu cực nói chung, giữ vững nguyên tắc “vì việc mà bố trí người” nói riêng. Mơ ước, khát vọng phát triển sự nghiệp của mỗi người là hoàn toàn chính đáng, song phải bằng tài năng, phẩm chất chứ không phải thông qua “chạy chức, chạy quyền”. Đây mới là con đường bền vững, đúng đắn mà mỗi cán bộ, công chức cần lựa chọn, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước.


Đổi mới mạnh mẽ, tạo đột phá trong nghiên cứu khoa học

 Nhiệm kỳ 2020-2025, Viện Khoa học và Công nghệ (KHCN) quân sự, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam đã hoàn thành tốt và xuất sắc các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Viện lần thứ V đã đề ra. Trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, nhiệm kỳ tới, Viện tiếp tục tập trung thực hiện tổ chức lực lượng theo hướng tinh, gọn, mạnh; đổi mới mạnh mẽ về tư duy, cách làm; nỗ lực tạo đột phá trong nghiên cứu khoa học.

Là đơn vị nghiên cứu khoa học đa ngành của Quân đội, nhiệm kỳ qua, toàn Đảng bộ Viện KHCN quân sự đã chấp hành nghiêm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đảng ủy Bộ Tổng Tham mưu-Cơ quan Bộ Quốc phòng và các cơ quan chức năng, có nhiều đổi mới, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện thắng lợi toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ. Nổi bật là Viện đã thực hiện tốt chức năng tham mưu, đề xuất và tổ chức nghiên cứu có hiệu quả các vấn đề khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự, tạo ra nhiều sản phẩm có hàm lượng khoa học cao, gắn với nhu cầu thực tiễn, phục vụ kịp thời nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, góp phần từng bước hiện đại hóa Quân đội. Cùng với đó, công tác đào tạo tiến sĩ cũng được Viện triển khai có chất lượng, hiệu quả, thiết thực tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Quân đội và đất nước.

Nhiệm kỳ 2025-2030, bối cảnh tình hình mới đặt ra yêu cầu nhiệm vụ rất cao đối với Viện KHCN quân sự. Viện xác định tiếp tục chủ động khắc phục khó khăn, tận dụng lợi thế, phát huy sức mạnh tổng hợp, quyết tâm xây dựng Viện thành trung tâm nghiên cứu mạnh, chuyên sâu trong Bộ Quốc phòng, đủ khả năng dẫn dắt, phát triển các công nghệ chiến lược. Tổ chức nghiên cứu khoa học-công nghệ bảo đảm chất lượng, hiệu quả, làm chủ các công nghệ cốt lõi, công nghệ chiến lược phục vụ nghiên cứu thiết kế, chế tạo vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT) mang tính chiến lược. Bên cạnh đó, Viện chú trọng công tác tham mưu, tư vấn, thẩm định cho Bộ Quốc phòng về nghiên cứu, phát triển khoa học-công nghệ tiên tiến, chuyên sâu, đa ngành; cải tiến, hiện đại hóa VKTBKT hiện có; khai thác làm chủ và bảo đảm kỹ thuật cho các loại VKTBKT mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; làm tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực khoa học-công nghệ chất lượng cao phục vụ xây dựng, hiện đại hóa Quân đội.

Để hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ trong nhiệm kỳ tới, cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết, Viện thống nhất cao về tư tưởng, nhận thức, quyết liệt thực hiện tổ chức lực lượng theo hướng tinh, gọn, mạnh, nhanh chóng đưa Viện vào hoạt động hiệu quả theo mô hình tổ chức biên chế mới. Đây là vấn đề có tính chất nền tảng, cần sự đồng thuận, quyết tâm cao, quá trình thực hiện phải kết hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng, công tác tổ chức và công tác chính sách, kịp thời giải quyết những vướng mắc, bất cập phát sinh.

Viện tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy nghiên cứu khoa học theo hướng sát thực tiễn, nhu cầu của Quân đội, có định hướng chiến lược, rõ người, rõ việc, rõ kết quả. Đổi mới tác phong làm việc, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp bảo đảm dân chủ, khoa học, kỷ cương, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nói đi đôi với làm; nhân rộng việc đánh giá chất lượng cán bộ thông qua “lượng hóa” hiệu quả công việc. Đổi mới cơ chế quản lý nhằm tháo gỡ khó khăn, bất cập, tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, phát huy tinh thần năng động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ khoa học.

Đồng thời, Viện thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng và phát triển tiềm lực khoa học-công nghệ, hợp tác khoa học-công nghệ trong và ngoài nước, trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ, năng lực, phẩm chất, hình thành nhiều nhóm nghiên cứu mạnh, chuyên gia đầu ngành, tăng cường đầu tư, nâng cấp, khai thác hiệu quả hệ thống cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, đề xuất mở mới các dự án đầu tư tiềm lực để phục vụ tốt công tác nghiên cứu khoa học. Nâng cao chất lượng xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; tạo chuyển biến vững chắc, thực chất trong triển khai các mặt công tác, nhất là xây dựng đơn vị chính quy, giữ nghiêm kỷ luật, góp phần xây dựng Viện vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, Đảng bộ Viện trong sạch vững mạnh tiêu biểu.

Song song với việc thực hiện các chủ trương, giải pháp chủ yếu nói trên, Viện KHCN quân sự sẽ tập trung mọi nguồn lực tạo sự đột phá, thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ khoa học-công nghệ trọng tâm, các sản phẩm mục tiêu, các chương trình trọng điểm, đề tài cấp quốc gia, cấp Bộ Quốc phòng; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, tạo ra các sản phẩm khoa học-công nghệ thiết thực, gắn với nhu cầu thực tiễn của đơn vị, nhất là các đơn vị tiến thẳng lên hiện đại.

Nâng bước đồng bào nơi biên giới

 Có dịp đến 13 xã vùng sâu, vùng xa thuộc Khu Kinh tế-Quốc phòng (KT-QP) Khe Sanh (Quảng Trị), ai cũng cảm nhận được cuộc sống của người dân nơi đây đang đổi thay từng ngày. Trước đây, những bản làng đồng bào dân tộc thiểu số còn đối mặt với nhiều khó khăn trong nếp nghĩ, cách làm, nhưng nhờ cú hích từ Đoàn KT-QP 337 (Quân khu 4), nhiều gia đình đã tìm thấy đường ra khỏi vòng luẩn quẩn của cái nghèo, cái đói.

Anh Hồ Ma, người dân tộc Vân Kiều ở thôn Chênh Vênh (xã Hướng Phùng, huyện Hướng Hóa) là một minh chứng xác thực. Gia đình anh đông con, quanh năm chỉ biết trông vào nương rẫy cằn cỗi, thiếu phương hướng làm ăn nên cuộc sống cứ mãi quẩn quanh trong thiếu thốn.

Và rồi một ngày, cánh cửa mới đã mở ra với gia đình anh Hồ Ma khi bộ đội Trung đoàn 52 (Đoàn KT-QP 337) mang đến cho anh cả “cách nghĩ, cách làm”. Từ 3 con dê giống đầu tiên được Đội sản xuất số 9 (Trung đoàn 52) hỗ trợ năm 2018, đến nay, đàn dê của gia đình anh đã tăng lên hàng chục con. Tiền bán dê giúp anh mua thêm con giống mới, mở rộng chăn nuôi gia cầm, trồng rau xanh, từng bước thoát nghèo. Đến năm 2022, anh còn mạnh dạn tham gia dự án trồng dong riềng do Công ty Xây dựng (Đoàn KT-QP 337) triển khai. Anh Hồ Ma bộc bạch: “Cả đời tôi chưa từng nghĩ mình sẽ được như ngày hôm nay, có của ăn, của để, có tiền sửa nhà, cho con cái đi học cái chữ, tôi mừng lắm”. Gia đình anh Hồ Ma chỉ là một trong hơn 2.000 hộ dân trên địa bàn 34 thôn, bản thuộc Khu KT-QP Khe Sanh được hưởng lợi từ những mô hình phát triển kinh tế do Đoàn KT-QP 337 thực hiện. Ông Hồ Văn La Hai, Trưởng thôn Chênh Vênh phấn khởi cho biết: “Nhờ bộ đội hướng dẫn trồng trọt, chăn nuôi, đời sống bà con đã khá lên rất nhiều. Giờ đây trong thôn không còn gia đình nào phải chạy ăn từng bữa nữa”.

Để có những chuyển biến tích cực này, Đại tá Uông Đình Tân, Đoàn trưởng Đoàn KT-QP 337 lý giải: “Biết được những khó khăn của người dân trong vùng dự án, Đảng ủy, chỉ huy Đoàn đã ban hành nghị quyết chuyên đề, cụ thể hóa từng mục tiêu, chỉ tiêu để giúp đồng bào phát triển kinh tế. Đặc biệt, Phong trào “Dân vận khéo” đã được lồng ghép chặt chẽ vào mọi hoạt động “bám dân, bám bản” hằng ngày của cán bộ, nhân viên. Theo đó, các tổ, đội công tác của Đoàn thường xuyên “cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc” với bà con. Lãnh đạo, chỉ huy Đoàn cũng thường xuyên tham gia các buổi họp chi bộ, sinh hoạt thôn, bản, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, những vướng mắc của bà con để cùng bàn bạc, thống nhất biện pháp giúp đỡ người dân”.

Chính từ sự “bám dân” và thấu hiểu ấy, những mô hình phát triển kinh tế đã thực sự đi vào chiều sâu, mang lại hiệu quả thiết thực. Đoàn KT-QP 337 đã mở nhiều lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, được đông đảo bà con hưởng ứng. Từ việc khai hoang, đào ao thả cá, làm chuồng trại, trồng cỏ đến việc cấp phát cây, con giống, phân bón và dụng cụ sản xuất, kỹ thuật nuôi, trồng... tất cả đều được bộ đội hướng dẫn tận tình, làm mẫu cụ thể. “Điều quan trọng là chúng tôi không chỉ trao “cần câu” mà còn hướng dẫn “cách câu”, nhờ đó, tư duy và cách làm của bà con đã thay đổi, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo hằng năm từ 3,5% đến 4%”, Đại tá Uông Đình Tân cho biết.

Không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ phát triển kinh tế, Đoàn KT-QP 337 còn triển khai nhiều mô hình dân vận mang đậm tính nhân văn sâu sắc. Các mô hình như: “Đỡ đầu, kết nghĩa với cấp ủy, chính quyền địa phương” hay “Đội sản xuất đồng hành xây dựng tổ chức đảng” đã góp phần củng cố cơ sở chính trị tại địa phương. Đặc biệt, Chương trình “Nhận nuôi, hỗ trợ nuôi dưỡng các cháu mồ côi, học sinh nghèo vượt khó” hay “Đồng hành nâng bước em tới trường” đã thắp sáng tương lai cho 55 học sinh có hoàn cảnh khó khăn được tiếp tục đến trường.

Trong 5 năm qua, để nâng cấp hạ tầng cơ sở, thúc đẩy kinh tế phát triển, Đoàn KT-QP 337 đã đầu tư xây dựng 19 công trình dân sinh như công trình giao thông, nước sinh hoạt và thủy lợi... với tổng kinh phí hơn 42 tỷ đồng, phục vụ trực tiếp hơn 1.500 hộ dân. Cán bộ, chiến sĩ và đoàn viên, thanh niên còn đóng góp hơn 13.800 ngày công lao động để tu sửa đường sá, kênh mương, góp sức vào công cuộc xây dựng nông thôn mới. Hơn 7.500 lượt người dân đã được khám và cấp thuốc miễn phí, mang lại sự an tâm về sức khỏe cho bà con...

Những kết quả đạt được trong Phong trào thi đua “Dân vận khéo” không chỉ thể hiện nỗ lực, tâm huyết của cán bộ, nhân viên, trí thức trẻ tình nguyện Đoàn KT-QP 337 mà còn khẳng định vai trò của bộ đội trong việc đồng hành với địa phương phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh nơi biên giới.