Thứ Tư, 30 tháng 7, 2025

Phát huy nguồn lực con người là nhiệm vụ chiến lược; vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Việt Nam

 


Bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi sự phát triển và coi việc phát huy nguồn lực con người là một trong những nhiệm vụ chiến lược; vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Việt Nam. Mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội phải hướng vào việc phát huy nguồn lực con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất. Nước ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nhân tố vật chất, kỹ thuật hết sức thiếu thốn và ở trình độ thấp; trong khi mục tiêu xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh lại đòi hỏi chúng ta phải có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại. Vì vậy, phát huy nguồn lực con người được xác định là nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đảng ta khẳng định: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”[1].

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nguồn lực con người là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất - nhân tố quyết định tốc độ và sự phát triển bền vững của phương thức sản xuất mới ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế. Chiến lược con người phải nằm ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, là chủ nhân thực sự của xã hội, là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và mục tiêu của toàn bộ sự nghiệp cách mạng nên mọi chủ trương, chính sách nhằm phát huy nguồn lực con người đều phục vụ nhân dân.



[1],2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 115-116, 221.

Kinh nghiệm thực tiễn các nước trên thế giới và Việt Nam về phát huy nguồn lực con người

 


Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã xóa bỏ tận gốc áp bức, bất công, lật đổ sự thống trị của giai cấp bóc lột, giải phóng con người, mang lại lợi ích cho nhân dân lao động; cùng với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Bônsêvích đã phát huy cao độ vai trò quần chúng nhân dân, làm nên thắng lợi của cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, quan điểm của Đảng ta luôn lấy con người làm trung tâm của sự phát triển; công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) đã giành được những kết quả vô cùng to lớn. Nguồn nội lực, sự sáng tạo trong mỗi người dân được giải phóng cùng với sự phát triển mạnh mẽ và hiệu quả của các thành phần kinh tế, đã làm cho đất nước ta từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội tạo những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Những thành tựu đó càng chứng tỏ vai trò to lớn của con người Việt Nam, của việc phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đối với phát huy nguồn lực con người

 


Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong khi đó, bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước thời cơ và thách thức đan xen. Nước ta đã trải qua hơn 35 năm đổi mới với những thành tựu rất quan trọng; đã hoàn thành chặng đường đầu của công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống nhân dân có nhiều cải thiện tích cực; sức mạnh quốc gia được tăng cường, độc lập, tự chủ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, tạo điều kiện, tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn mới. 

Tuy nhiên, nước ta vẫn đang đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau và diễn biến phức tạp. Sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế đang đặt ra yêu cầu phải phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng sự phát triển của kinh tế tri thức. Mặc dù đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển nguồn nhân lực, nhưng trên thực tế nguồn nhân lực của nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu; chưa đáp ứng được yêu cầu của hội nhập quốc tế và kinh tế tri thức. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới đang đặt ra yêu cầu, đòi hỏi phải phát huy vai trò của nguồn lực con người, huy động sức mạnh của toàn dân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được đặt ra ngày càng cấp thiết.

con người và nguồn lực con người có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội.


Theo các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, con người không chỉ là sản phẩm của tự nhiên và xã hội mà còn là chủ thể tích cực cải biến tự nhiên và xã hội; chính con người vừa là điểm khởi đầu nhưng cũng là điểm kết thúc của mọi quá trình biến đổi lịch sử. Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người sáng tạo ra lịch sử của chính mình, lịch sử của xã hội loài người.

Vai trò con người thực ra chính là vai trò của quần chúng nhân dân, người sáng tạo ra lịch sử, biểu hiện qua các hoạt động thực tiễn cơ bản nhất là lao động sản xuất, đấu tranh cách mạng và sáng tạo các giá trị văn hóa - tinh thần. V.I.Lênin khẳng định: “Cách mạng là ngày hội của những người bị áp bức và bóc lột. Không lúc nào quần chúng nhân dân có thể tỏ ra là người sáng tạo trật tự xã hội mới tích cực như trong thời kỳ cách mạng. trong những thời kỳ như thế… thì nhân dân có thể làm được những kỳ công”[1]. xét đến cùng, yếu tố giữ vai trò chi phối, quyết định sự vận động và phát triển của xã hội chính là lực lượng sản xuất. Trong bất cứ xã hội nào, người lao động: luôn là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất. Đặc biệt ngày nay, khoa học công nghệ ngày càng phát triển, hàm lượng chất xám kết tinh trong giá trị hàng hóa càng cao thì vai trò của người lao động có trí tuệ lại càng quan trọng. Vì con người được đào tạo toàn diện, có kiến thức, trình độ và năng lực, được làm chủ tư liệu sản xuất với năng suất lao động cao.

Không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà trên lĩnh vực khác như: chính trị, văn hóa, xã hội, vai trò của nguồn lực con người cũng được thể hiện rõ khi người lao động có tri thức, có năng lực, thấy được trách nhiệm của mình sẽ tham gia tích cực vào quản lý xã hội, quản lý nhà nước, thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân. Góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa mới, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới để làm phong phú nền văn hóa dân tộc.



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 131. 

Vai trò nguồn lực con người trong xây dựng chủ nghĩa xã hội


Nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng nhất, quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vai trò của nguồn lực con người biểu hiện cụ thể trên các lĩnh vực của đời sống xã hội:

Trên lĩnh vực kinh tế. Trong bất cứ xã hội nào, người lao động cũng là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất. Ngày nay, khoa học và công nghệ ngày càng phát triển, hàm lượng chất xám trong giá trị hàng hóa ngày càng cao, thì vai trò của người lao động có trí tuệ lại càng quan trọng trong lực lượng sản xuất. V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động”[1]. Con người khi được làm chủ những tư liệu sản xuất, được đào tạo một cách chu đáo những kiến thức quản lý kinh tế sẽ có điều kiện khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng đất đai, biết kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất như huy động vốn, động viên khuyến khích người lao động làm việc có hiệu quả, quản lý chặt chẽ nguyên liệu vật tư; do vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ tốt hơn. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, người lao động đã trở thành những người làm chủ đất nước, làm chủ trong quá trình tổ chức quản lý sản xuất, từ việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh tới tổ chức sản xuất kinh doanh và làm chủ trong quá trình phân phối sản phẩm. Điều đó tạo ra những điều kiện thuận lợi để phát huy nguồn lực con người, phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, làm cho đất nước ngày càng giàu đẹp.

Trên lĩnh vực chính trị. Nguồn lực con người là yếu tố quan trọng trong xây dựng hệ thống chính trị và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Xét nguồn lực con người trên phương diện chính trị, khi mà người dân có tri thức, có năng lực, thấy được trách nhiệm của mình trong việc lựa chọn những người có đức, có tài vào các cơ quan nhà nước sẽ góp phần xây dựng nhà nước vững mạnh. Cán bộ nhà nước có hiểu biết lý luận, hiểu biết thực tiễn, thấy được trách nhiệm của mình đối với nhân dân, sẽ hết lòng phụng sự nhân dân và thực sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân sẽ được dân mến, dân tin, dân ủng hộ. Cán bộ tích cực tuyên truyền đường lối của đảng, phổ biến luật pháp của nhà nước đến nhân dân, làm cho dân hiểu và có ý thức tôn trọng luật pháp, thực hiện những nghĩa vụ công dân, hiểu rõ quyền lợi của mình, kiên quyết đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Như vậy, nguồn lực con người là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; trong quá trình đấu tranh bảo vệ những thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của kẻ thù.

Trên lĩnh vực văn hóa, xã hội. Dưới chủ nghĩa xã hội nhân dân lao động đã trở thành người làm chủ trong đời sống văn hóa xã hội. Quần chúng nhân dân lao động là những người xây dựng nên những công trình văn hóa, sáng tạo ra các tác phẩm văn hóa nghệ thuật. Những công trình văn hóa, nghệ thuật có tác dụng giáo dục đạo đức, góp phần hình thành nhân cách cho mỗi con người trong xã hội. Hơn nữa, trong điều kiện giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng, mỗi người có điều kiện tiếp cận với nền văn hóa nhiều nước. Tạo tiền đề để họ tiếp nhận những giá trị tốt đẹp của dân tộc khác, loại bỏ những yếu tố không phù hợp để làm giàu cho nền văn hóa dân tộc mình, làm phong phú đời sống tinh thần cá nhân. Bên cạnh đó, nguồn lực con người có đóng vai trò quan trọng giải quyết các vấn đề xã hội như: Lao động việc làm, thực hiện công bằng xã hội, thực hiện xoá đói, giảm nghèo. Muốn giải quyết tốt những vấn đề này, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn lực con người, tập trung nâng cao sức khoẻ, trình độ học vấn, tay nghề, năng lực quản lý, ý thức chính trị cho người lao động.

Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Nguồn lực con người quyết định đến sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định, trong các yếu tố cấu thành sức mạnh quân sự của mỗi quốc gia, dân tộc, yếu tố con người bao giờ cũng là yếu tố quyết định nhất. Vũ khí trang bị dù có hiện đại đến đâu cũng do con người sản xuất chế tạo ra và thông qua hoạt động của con người thì các tính năng, sức mạnh của vũ khí đó mới được phát huy. Vì vậy, có thể khẳng định nguồn lực con người quyết định đến tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta luôn phải đối phó với các thế lực thù địch, bọn phản cách mạng. Theo đó, vai trò của nguồn lực con người trên lĩnh vực quốc phòng an ninh được thể hiện trong việc xác định và tổ chức thực hiện quan điểm, đường lối bảo vệ tổ quốc, giữ gìn an ninh quốc gia, phát huy sức mạnh của toàn dân trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 38, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 430. 

Thực hiện hôn nhân tự do, tiến bộ trong gia đình

 


Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu để xây dựng gia đình trong chủ nghĩa xã hội. Bởi vì, hôn nhân là tiền đề của gia đình, nó hướng vào giải quyết mối quan hệ cơ bản nhất của gia đình, quan hệ chồng - vợ, làm cơ sở để giải quyết các mối quan hệ khác cũng như việc thực hiện vai trò, chức năng của gia đình.

Xây dựng gia đình mới ở nước ta hiện nay được thực hiện trên cơ sở quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, bảo đảm quyền tự do kết hôn và ly hôn. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là hôn nhân được xây dựng chủ yếu dựa trên tình yêu chân chính giữa nam và nữ. Tình yêu chân chính là quan hệ tình cảm nẩy sinh trong quá trình gặp gỡ, hiểu biết và cảm thông lẫn nhau, tìm thấy ở nhau những điểm tương đồng, mong muốn chia sẻ những khó khăn, sẵn sàng cùng nhau xây dựng cuộc sống chung hạnh phúc, thương yêu nhau, không thể thiếu nhau. Hôn nhân tự nguyện tiến bộ là bước phát triển tự nhiên của tình yêu chân chính. Từ chỗ yêu thương nhau và thấy cần gắn bó với nhau xây dựng cuộc sống gia đình một cách tự nguyện, họ tình nguyện đến với nhau và được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Sự thừa nhận của pháp luật, một mặt giúp cho mỗi người khi bước vào hôn nhân, ý thức rõ hơn trách nhiệm công dân của mình trong cuộc sống gia đình; đồng thời pháp luật bảo vệ mỗi người khỏi những sự cám dỗ, lợi dụng đối với những người thiếu chín chắn, nhẹ dạ. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ không hề bác bỏ sự quan tâm, hướng dẫn, chia sẻ tâm tư tình cảm của các bậc cha mẹ. Sự quan tâm đúng mức của cha mẹ thường là giúp cho con cái có trách nhiệm hơn, sống đúng mực hơn trong tình yêu, ý thức được đầy đủ hơn về trách nhiệm mỗi người trong hôn nhân và gia đình. Hôn nhân tự nguyện tiến bộ bao giờ cũng gồm hai mặt tự do kết hôn và tự do ly hôn. Nếu tự do kết hôn được xây dựng và là sự phát triển của tình yêu chân chính, thì ly hôn là kết cục khó tránh khỏi khi tình yêu không còn nữa. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, ly hôn dù bất cứ lý do nào, thì hậu quả xã hội của nó cũng hết sức nặng nề. Hơn thế, hôn nhân dựa trên tình yêu chân chính, nhưng tình yêu chân chính bao hàm cả nghĩa vụ trách nhiệm cùng nhau chia sẻ khó khăn, cùng nhau vượt qua những thử thách, những trở ngại... trong cuộc sống chung. Vì vậy, ly hôn chính đáng là cần thiết, nhưng cần có sự bảo đảm của pháp lý, có sự hỗ trợ, hòa giải của các đoàn thể xã hội, của cộng đồng làng xóm, dân phố.

Kế thừa những giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống, đồng thời tiếp thu những tiến bộ của thời đại trong xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay

 


Đây là giải pháp quan trọng bảo đảm cho gia đình Việt Nam vừa giữ gìn được bản sắc dân tộc, vừa có sự tiên tiến hiện đại phù hợp với xu hướng phát triển mới của xã hội hiện nay. Bởi vì đây chính là sự tuân theo quy luật của sự phát triển những giá trị văn hóa tốt đẹp đáng quý của gia đình Việt Nam trước đây vẫn phù hợp cần được trân trọng lưu giữ và phát huy. Đồng thời, cần tiếp thu và làm giàu bằng những giá trị tốt đẹp của thời đại.

Xây dựng gia đình mới ở nước ta hiện nay phải trên cơ sở kế thừa, giữ gìn và phát huy các giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống Việt Nam. Bên cạnh tính chất phụ quyền, gia trưởng, gia đình truyền thống có những giá trị tốt đẹp cần được kế thừa, phát huy trong điều kiện mới. Trong số các giá trị đó phải kể đến truyền thống vừa cố kết trong gia đình lại vừa đoàn kết tình làng nghĩa xóm; tình yêu gia đình gắn chặt với tình yêu dân tộc. Những giá trị ấy của nhân dân ta đã được hun đúc, phát triển thêm trong suốt hơn 90 năm đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng gia đình mới cũng cần chú ý từng bước khắc phục, loại bỏ các giá trị không còn hợp lý của gia đình truyền thống: tính cục bộ theo họ tộc, địa phương, những nghi lễ rườm rà, tốn kém trong ma chay, cưới hỏi, sự bất bình đẳng về giới, bất bình đẳng giữa các thế hệ... Trong điều kiện hiện nay, sự chuyển đổi hệ giá trị từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại đang đòi hỏi phải tiếp thu chọn lọc các giá trị văn hoá của nhân loại. Những giá trị văn hoá ấy chỉ có thể được chọn lọc, được tiếp thu một khi các giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống được bảo tồn, được phát huy dung nạp những nội dung giá trị mới phù hợp với văn hoá và đạo lý làm người của dân tộc Việt Nam.

Mặt khác, gia đình còn liên quan và chịu ảnh hưởng của tình hình quốc tế, nhất là ngày nay khi có các phương tiện thông tin hiện đại và mở rộng giao lưu quốc tế. Nhiều hiện tượng tiêu cực ở xảy ra ở nhiều nơi đang gây ra những lo lắng cho mọi người và tác hại đến sự phát triển lành mạnh của gia đình ở nhiều quốc gia. Song thời đại mới cũng đem lại những nội dung tiến bộ đến cho gia đình như: dân chủ hóa các quan hệ trong gia đình, sự tôn trọng nhân cách của các thành viên, hiện đại hóa nhu cầu vật chất và tinh thần của gia đình, cộng đồng hỗ trợ gia đình phát triển, hình thức gia đình hạt nhân tăng lên, thu hẹp quy mô gia đình...

Vì vậy, để xây dựng gia đình mới phải ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, mạnh dạn lựa chọn và xử lý đúng đắn những yếu tố mới nảy sinh, và quan trọng hơn là biết tiếp thu những yếu tố mới, tiến bộ của thời đại; vừa phải phù hợp với truyền thống của dân tộc, của gia đình và sự phát triển chung của xã hội.

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng và chính quyền; nâng cao nhận thức cộng đồng về xây dựng gia đình Việt Nam

 


Đây là giải pháp hết sức quan trọng bảo đảm công tác xây dựng gia đình văn hóa mới ở nước ta hiện nay theo đúng quan điểm, mục tiêu, phương hướng đã xác định. Xuất phát từ vị trí, vai trò, quan trọng đặc biệt của gia đình và mối quan hệ biện chứng giữa gia đình và xã hội, công tác xây dựng gia đình văn hóa mới ở nước ta hiện nay cần có sự chung tay của mọi cấp, mọi ngành và toàn xã hội. Nhưng trước tiên là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền các cấp.

Các cấp ủy, tổ chức đảng phải thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng gia đình; xây dựng và lãnh đạo thực hiện các tiêu chí, chuẩn mực gia đình Việt Nam. Phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu các cấp về công tác xây dựng gia đình. Cán bộ, đảng viên phải nêu gương và vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng gia đình hạnh phúc.

Với quan điểm: “Gia đình là điểm xuất phát và trở về của các chính sách”, cần nâng cao năng lực quản lý nhà nước về công tác xây dựng gia đình. Xây dựng, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Xây dựng Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam giai đoạn 2021-2030, định hướng đến năm 2045; thường xuyên bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về gia đình; chương trình giáo dục quốc gia về gia đình, chương trình giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình và các chương trình, dự án hỗ trợ xây dựng gia đình hạnh phúc. Xây dựng dữ liệu số quốc gia về gia đình làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, chương trình kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Nâng cao nhận thức của người dân và các gia đình hướng đến thay đổi nhận thức và hành vi phù hợp; mỗi công dân trong xã hội và các gia đình tự giác chấp hành, thực hiện tốt các chức năng của gia đình, biết tổ chức đời sống gia đình một cách khoa học.

Tập trung tuyên truyền Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030; tổ chức tuyên truyền một cách rộng rãi, nhất là cấp cơ sở, chú trọng nêu gương người tốt, việc tốt. Kiên quyết đấu tranh chống lối sống thực dụng, tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình, xóa bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu trong hôn nhân và gia đình. Khắc phục bệnh thành tích, hình thức trong công tác xây dựng gia đình.

Phương hướng xây dựng gia đình ở Việt Nam hiện nay

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các điều kiện để hình thành gia đình mới không xuất hiện và có tác dụng đầy đủ ngay lập tức mà chỉ có thể hoàn chỉnh dần từng bước. Lúc đầu, xã hội mới còn tồn tại nhiều gia đình được tạo lập từ xã hội cũ, nhiều yếu tố của gia đình cũ còn ảnh hưởng trong các tầng lớp dân cư. Xây dựng gia đình mới bắt đầu từ việc cải tạo những gia đình cũ theo tinh thần của chủ nghĩa xã hội, gắn liền với việc giáo dục lớp thanh niên đến với tình yêu và hôn nhân tiến bộ. Do xã hội còn nhiều thành phần kinh tế và các giai cấp khác nhau, việc chuyển biến, hình thành yếu tố gia đình mới sẽ ở mức độ khác nhau trong các gia đình ở từng loại dân cư.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Sửa đổi, bổ sung năm 2011) xác định: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”[1]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: “Khắc phục bệnh thành tích, bệnh hình thức, thực hiện các chuẩn mực văn hóa gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ và văn minh. Đề cao vai trò của gia đình trong nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ”[2].

Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030,  mục tiêu chung trong xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam là xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thực sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội. Để đạt được mục tiêu đó, cần chú ý một số định hướng sau:

Một là, gia đình là tế bào của xã hội; nơi duy trì nòi giống; môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng, giáo dục nhân cách con người và lưu giữ, trao truyền các giá trị văn hóa của dân tộc; là nền tảng xây dựng xã hội hạnh phúc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Hai là, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển bền vững; là trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội.

Ba là, phát huy vai trò của gia đình nhằm tạo môi trường giáo dục sớm, góp phần xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, phát triển toàn diện, trở thành trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, ưu tiên, tạo điều kiện thuận lợi để các gia đình nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần, tiếp cận các giá trị tốt đẹp của nền văn hóa, văn minh nhân loại và các thành tựu của khoa học công nghệ.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 77.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, NXb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 145. 

Chức năng thoả mãn nhu cầu tâm, sinh lý của các thành viên

 


Đây là chức năng quan trọng, có tính văn hoá - xã hội của gia đình, cùng các chức năng khác góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc. Sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình vừa là nhu cầu tình cảm, vừa là trách nhiệm, đạo lý, lương tâm của mỗi người.

Nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến giới tính và giới, tâm lý lứa tuổi và thế hệ, những căng thẳng mệt mỏi về thể xác và tâm hồn trong lao động và công tác... nhiều khi có thể được giải quyết trong một môi trường gia đình hoà thuận. Sự hiểu biết, cảm thông, chia sẻ và đáp ứng các nhu cầu tâm sinh lý giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái... làm cho mỗi thành viên có điều kiện sống lạc quan, khoẻ mạnh về thể chất và tinh thần là những tiền đề cần thiết cho một thái độ, hành vi tích cực trong cuộc sống gia đình và xã hội.

Như vậy, gia đình là thiết chế đa năng. Trên đây là những chức năng cơ bản nhất. Thông qua việc thực hiện các chức năng này mà gia đình tồn tại và phát triển, đồng thời tác động đến tiến bộ chung của xã hội. Các chức năng được thực hiện trong sự thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau. Việc phân chia các nội dung của chúng chỉ là tương đối. Nhiều khi, các chức năng được thể hiện tổng hợp trong một công việc hoặc nhiều hoạt động của gia đình. Ở từng nơi và các giai đoạn khác nhau, nội dung và vị trí của mỗi chức năng có thể biến đổi phù hợp. Mọi thành viên gia đình, tuỳ thuộc vào vị thế, lứa tuổi... đều có quyền và nghĩa vụ vun đắp cho tổ ấm gia đình, đều phải tham gia vào thực hiện chức năng này của gia đình với các mức độ khác nhau. Trong đó, trước hết phải kể đến vai trò của những bậc làm cha, làm mẹ, đặc biệt là phụ nữ.

Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình

 


Hoạt động kinh tế và tổ chức đời sống là một chức năng cơ bản đảm bảo cho sự phát triển tiến bộ của gia đình. Nó xuất phát từ nhu cầu khách quan của mỗi thành viên và từng gia đình. Thực hiện tốt chức năng này không những tạo cho gia đình có cơ sở để tổ chức tốt đời sống, nuôi dạy con cái mà còn đóng góp to lớn đối với sự phát triển của xã hội. Cũng như các đơn vị kinh tế khác, gia đình tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và tái sản xuất ra tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng. Tuy nhiên, đặc thù của gia đình khác các đơn vị kinh tế khác là ở chỗ, gia đình là cộng đồng duy nhất tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất sức lao động - yếu tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất của xã hội.

Gia đình còn là một đơn vị tiêu dùng trong xã hội. Gia đình thực hiện chức năng này để duy trì đời sống của gia đình về lao động sản xuất cũng như các sinh hoạt trong gia đình. Đó là sử dụng hợp lý các khoản thu nhập của các thành viên trong gia đình vào việc bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của mỗi thành viên cùng với việc sử dụng quỹ thời gian nhàn rỗi để tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, nhằm nâng cao sức khỏe, đồng thời duy trì sở thích, sắc thái riêng của mỗi người. Tuy nhiên, cần phải phê phán các hình thức làm giàu không chính đáng, vun vén lợi ích cá nhân; không biết quý trọng tài sản, đua đòi, lãng phí. 

Gia đình là một chủ thể sở hữu tài sản, gồm cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng. Vị trí của các thành viên trong gia đình trong quan hệ sở hữu tài sản có thể không hoàn toàn giống nhau. Ở mỗi chế độ xã hội, xét về bản chất, quan hệ sở hữu trong gia đình bị chi phối bởi quan hệ xã hội.Cùng với sự phát triển của xã hội, ở các hình thức gia đình khác nhau hoặc ngay cả ở một hình thức gia đình, tùy theo từng giai đoạn phát triển của xã hội, chức năng kinh tế của gia đình có sự khác nhau về quy mô sản xuất, sở hữu tư liệu sản xuất và phân phối. Vị trí, vai trò của kinh tế gia đình và mối quan hệ của kinh tế gia đình với các đơn vị kinh tế khác trong các xã hội cũng không hoàn toàn giống nhau.

Gia đình cần tạo điều kiện thuận lợi để các thành viên nghỉ ngơi, hưởng thụ hợp lý và chính đáng các thành quả lao động của mình. Việc động viên các gia đình nâng cao thu nhập, trên cơ sở đó định hướng cho tiêu dùng lành mạnh, tạo điều kiện tốt để kiến thức khoa học và các phương tiện kỹ thuật đi vào cuộc sống, góp phần giải phóng phụ nữ... là những vấn đề thiết thực cho sự nghiệp xây dựng gia đình mới.

Xu hướng phát triển của dân tộc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội

 


Dân tộc (tộc người): Là một cộng đồng người ổn định được hình thành trong lịch sử, có chung một nguồn gốc, đặc điểm sinh hoạt kinh tế, có chung một ngôn ngữ, một nền văn hóa và ý thức tự giác tộc người. Dân tộc - tộc người thường được nhận biết qua những đặc trưng chủ yếu như: Các thành viên trong cùng một dân tộc có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế; có một ngôn ngữ chung (thường là tiếng mẹ đẻ); có chung đặc điểm sinh hoạt văn hóa; có chung một ý thức tự giác dân tộc được biểu hiện cao nhất ở việc tự nhận tên gọi của dân tộc mình. Trên thực tế, có tộc người có đủ các đặc trưng trên, nhưng có tộc người không còn đủ các đặc trưng, trong trường hợp đó, ý thức tự giác tộc người là tiêu chí nhận biết còn lại cuối cùng của dân tộc.

Dân tộc (quốc gia dân tộc): Là một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ quốc gia, chế độ chính trị và nền kinh tế thống nhất, chung một ngôn ngữ và một nền văn hóa. Theo nghĩa này, dân tộc có các đặc trưng sau: Có một lãnh thổ chung, được phân định bằng đường biên giới giữa các quốc gia, mà trên lãnh thổ đó có một hay nhiều tộc người cùng sinh sống; có đời sống kinh tế chung, với một thị trường, một đồng tiền chung thống nhất làm nền tảng, điều kiện vật chất cơ bản bảo đảm sự cố kết bền chặt của quốc gia dân tộc; có một ngôn ngữ giao tiếp chung, trong quốc gia dân tộc - quốc ngữ, thường là ngôn ngữ của dân tộc đa số được chọn làm ngôn ngữ chung trong giao tiếp; có tâm lý chung biểu hiện ở nền văn hóa, tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc, là yếu tố cơ bản đối với các quốc gia dân tộc; có một thể chế chính trị với một nhà nước thống nhất để quản lý, điều hành mọi hoạt động của quốc gia dân tộc và quan hệ với các quốc gia dân tộc khác, đây là đặc trưng quan trọng quy định bản chất chính trị và sự phát triển của quốc gia dân tộc.

Nghiên cứu vấn đề dân tộc, phong trào dân tộc trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản, V.I.Lênin đã chỉ ra hai xu hướng khách quan của sự phát triển các dân tộc:

Xu hướng thứ nhất, các dân tộc tách ra để trở thành các dân tộc độc lập, các cộng đồng dân cư tách ra để xác lập cộng đồng dân tộc độc lập. Trong thực tế, xu hướng này biểu hiện thành phong trào đấu tranh chống áp bức dân tộc, thành các quốc gia độc lập mà ở đó, mỗi dân tộc có quyền quyết định vận mệnh chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình. Xu hướng này nổi lên trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản như: Phong trào đấu tranh chống áp bức, bóc lột để thành lập các quốc gia dân tộc độc lập.

Xu hướng thứ hai, liên hiệp lại với nhau giữa các dân tộc, đó là xu hướng các tộc người trong cùng một quốc gia hoặc nhiều dân tộc ở các quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau. Xu hướng này do nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học và công nghệ, giao lưu kinh tế, văn hoá và xu thế toàn cầu hoá. Xu hướng này tác động mạnh mẽ khi chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.

Trong thời đại hiện nay, hai xu hướng của sự phát triển dân tộc được biểu hiện rất phong phú và đa dạng trên phạm vi toàn thế giới:  

Xét trong phạm vi các quốc gia xã hội chủ nghĩa có nhiều dân tộc (tộc người), hai xu hướng này phát huy tác dụng cùng chiều, bổ sung hỗ trợ cho nhau và diễn ra trong từng tộc người và trong cả cộng đồng dân tộc. Sự xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa các dân tộc. Tuy nhiên, sự hoà quyện đó không xoá bỏ sắc thái và những đặc thù của dân tộc. Ngược lại, nó bảo lưu, giữ gìn và phát huy những tinh hoa, bản sắc dân tộc. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa cả hai xu hướng trên đều loại trừ các tư tưởng và hành vi kỳ thị dân tộc, chia rẽ dân tộc, tự ti dân tộc, dân tộc hẹp hòi…

Xét trên phạm vi thế giới, hai xu hướng này biểu hiện nổi bật ở phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, nô dịch đòi giành lấy quyền tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình. Thời đại ngày nay, còn có xu hướng các dân tộc muốn xích lại gần nhau để hợp thành một quốc gia thống nhất. Các dân tộc có lợi ích chung mang tính khu vực dựa trên những yếu tố gần nhau về địa lý, giống nhau về môi trường thiên nhiên, tương đồng về mặt văn hoá…đều có nhu cầu nguyện vọng liên kết với nhau để phát triển.

Dân tộc xã hội chủ nghĩa là loại hình dân tộc phát triển cao nhất trong lịch sử, ra đời và phát triển gắn liền với thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa. Dân tộc xã hội chủ nghĩa mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản của dân tộc nói chung. Tuy nhiên, dân tộc xã hội chủ nghĩa còn có những đặc điểm riêng: Có nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là chủ yếu; giai cấp công nhân là người đại diện, nhân dân lao động làm chủ. Cơ cấu xã hội - giai cấp dựa trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản lãnh đạo; quan hệ bình đẳng, không có bóc lột, lợi ích dân tộc gắn liền lợi ích giai cấp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất đa dạng, kết hợp truyền thống với hiện đại.

Thực chất của vấn đề dân tộc là sự mâu thuẫn, xung đột lợi ích trong nội bộ tộc người, giữa các tộc người trong quốc gia đa tộc, giữa các quốc gia dân tộc, nhất là về các quyền cơ bản của các dân tộc: Quyền được tồn tại với tính cách là một tộc người, dân tộc; quyền độc lập của tộc người, dân tộc; quyền dân tộc tự quyết, quyền dân tộc bình đẳng; quyền độc lập về kinh tế và những điều kiện để phát triển kinh tế lâu dài, bền vững; quyền giữ gìn và phát triển ngôn ngữ, bản sắc văn hoá....Giải quyết vấn đề dân tộc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội là tập hợp, đoàn kết quần chúng tạo nên động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng nhân dân lao động khỏi sự áp bức, bóc lột và nô dịch, góp phần thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản.

Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ nhằm phát huy vai trò của các chủ thể trong khối liên minh

 


Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối, là tiền đề quan trọng để thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô sẽ tạo điều kiện để phát huy vai trò, thế mạnh của các thành phần kinh tế, của các vùng, miền, góp phần làm cho nền kinh tế nước ta phát triển nhanh, bền vững. Rõ ràng, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế đất nước, nâng cao đời sống của nhân dân, qua đó góp phần củng cố và tăng cường khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Nghị quyết Ðại hội lần thứ XIII của Ðảng xác định, cần phải: “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”1.

Đẩy mạnh nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng các thành tựu của khoa học- công nghệ hiện đại, những thành tựu mới của cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong tất cả các ngành, nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ. Bởi vì, khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Do đó, phải đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ. Tích cực ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ mới vào sản xuất công nghiệp, nông nghiệp làm cho năng suất lao động ngày càng tăng, sản phẩm hàng hoá có sức cạnh tranh trên thị trường nội địa và hướng mạnh sang xuất khẩu… làm cơ sở vững chắc cho sự phát triển của nền kinh tế thống nhất.



1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 337.

Xây dựng và thực hiện có hiệu quả hệ thống các chính sách đối với các chủ thể trong khối liên minh

 


Đối với giai cấp công nhân, quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng phát triển cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động; bảo đảm việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện làm việc, nhà ở, các công trình phúc lợi phục vụ công nhân; sửa đổi bổ sung các chính sách, pháp luật về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,… để bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của công nhân. 

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng cho giai cấp công nhân. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân”1.

Đối với giai cấp nông dân, xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân; tạo điều kiện hỗ trợ, khuyến khích nông dân học nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ để giai cấp nông dân thực sự là chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông thôn. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Gắn xây dựng giai cấp nông dân với phát triển nông nghiệp và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn”1.

Đối với đội ngũ trí thức, “Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Có cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo và đề cao đạo đức, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học”2. Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo; trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ, tôn vinh xứng đáng những cống hiến của trí thức; gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với trí thức và ngược lại.



1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 167.

Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 


Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là hình thức liên kết, hợp tác đặc biệt giữa ba lực lượng cơ bản trong xã hội nhằm đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là sự liên kết, hợp tác đặc biệt giữa ba lực lượng căn bản trong xã hội. Đây là liên minh tự nguyện của các giai cấp và tầng lớp cơ bản nhất trong xã hội, giữ vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy xã hội phát triển.

Đây là liên minh toàn diện, tự nguyện, lâu dài và bền vững, vì nội dung liên minh thể hiện cả về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quân sự, quốc phòng - an ninh. Sự liên minh toàn diện ấy có cơ sở từ mục đích của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn đấu tranh lật đổ sự thống trị của thực dân, phong kiến để giành chính quyền, liên minh về chính trị - quân sự có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, quyết định đến sự thắng lợi của cách mạng. Trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, liên minh về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự nghiệp cách mạng phát triển vững chắc.

Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là cơ sở để củng cố tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn xã hội. Xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp cách mạng lâu dài, gian khổ, phức tạp, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam mới giành được thắng lợi.

Trong giai đoạn hiện nay khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ở Việt Nam chính là cơ sở tạo ra động lực cơ bản thực hiện thắng lợi mục tiêu sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

Từ sự thống nhất về lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa trong liên minh giai cấp.

Lợi ích chính là cơ sở khách quan cho sự hình thành, phát triển của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là động lực thúc đẩy giai cấp công nhân, giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức liên minh với nhau.

Về lợi ích trước mắt, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, ngoài giai cấp công nhân bị bóc lột hết sức nặng nề, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức cũng bị giai cấp tư sản bóc lột thậm tệ. Trong xã hội ấy, công nhân, nông dân và trí thức chỉ là thân phận nô lệ, hoàn toàn không có tự do và dân chủ, vì vậy lợi ích trước mắt của họ là được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản để trở thành người tự do thực sự. Điều này phản ánh ý chí, nguyện vọng của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cuộc đấu tranh để giải phóng cho mình.

Lợi ích lâu dài của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là họ được cùng nhau xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Ở đó họ được làm chủ trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, cùng được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn tồn tại giai cấp và đấu tranh giai cấp. Các giai cấp, tầng lớp có lợi ích căn bản thống nhất với nhau, song cũng còn lợi ích riêng của mỗi giai tầng. Để để đạt được lợi ích lâu dài và bảo đảm sự thống nhất về lợi ích của mỗi giai cấp, tầng lớp, đòi hỏi phải không ngừng củng cố và phát triển liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Như vậy, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức đều thống nhất với nhau. Bảo đảm tốt lợi ích trước mắt là tiền đề, điều kiện để thực hiện lợi ích lâu dài của cả khối liên minh. Để thực hiện được vấn đề đó, điều có ý nghĩa quyết định là phải đặt khối liên minh này dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong là Đảng cộng sản.  

Thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân thế giới từ khi chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời đến nay đã chứng minh rằng ở đâu và lúc nào, giai cấp công nhân liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác, thì cách mạng giành thắng lợi. Nếu không liên minh được với các lực lượng trên thì cách mạng sẽ gặp khó khăn thậm chí thất bại. Bài học từ Công xã Pari bị thất bại do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân cơ bản là giai cấp công nhân Pháp không thực hiện được liên minh với giai cấp nông dân, người bạn đồng minh tự nhiên của mình. Vì vậy, đã không tập hợp được lực lượng cách mạng đông đảo và không tạo ra được sức mạnh để tiêu diệt kẻ thù, cách mạng đã bị dìm trong tuần lễ đẫm máu của giai cấp tư sản Pháp. Cách mạng Tháng Mười năm 1917 thành công là do Đảng Bônsêvích Nga đứng đầu là V.I.Lênin đã vận dụng nguyên lý về liên minh giai cấp của chủ nghĩa Mác vào điều kiện cách mạng nước Nga để tập hợp đông đảo giai cấp công nhân, các lực lượng quần chúng cách mạng khác nhất là những người nông dân mặc áo lính dưới chế độ Nga Hoàng nên đã tạo ra sức mạnh tổng hợp đưa các mạng đến thắng lợi. Chính nhờ dựa vào khối liên minh vững chắc này mà Đảng Bônsêvích đã lãnh đạo đưa Liên Xô trở thành cường quốc về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, trở thành một thành chì của chủ nghĩa xã hội thế giới.

Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô đầu những năm 90 của thế kỷ XX do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân là đã không chú trọng duy trì xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động trong đó đặc biệt là trí thức.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức đã được xây dựng và đóng vai trò quyết định thắng lợi của cách mạng. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đặc biệt là thắng lợi của công cuộc đổi mới hơn 35 năm qua, đã chứng minh cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nòng cốt.

Từ vị trí, vai trò của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa trong liên minh giai cấp.

 


.Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử thủ tiêu chủ nghĩa tư bản xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới. Trong cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ đó, đòi hỏi giai cấp công nhân phải tập hợp và lôi kéo được nông dân, trí thức và các giai tầng khác trong xã hội, tạo lực lượng hùng hậu nhằm xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

Giai cấp nông dân là một lực lượng xã hội đông đảo, có vai trò quan trọng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong xã hội cũ, họ bị bóc lột nặng nề, có nguyện vọng được giải phóng, song do địa vị kinh tế - xã hội quy định, họ không thể tự giải phóng cho mình, mà phải liên minh chặt chẽ với giai cấp công nhân, chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân để giải phóng cho giai cấp mình và phát triển.

Trí thức có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, trí thức cũng bị bóc lột và cũng có khát vọng được giải phóng, được cống hiến cho sự phát triển xã hội. Nhưng do địa vị kinh tế - xã hội quy định, trí thức không thể tự giải phóng cho mình, họ chỉ được giải phóng và phát huy vai trò của mình khi liên minh với giai cấp công nhân và chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Đánh giá về vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức, V.I.Lênin khẳng định: “Trước sự liên minh của các đại biểu khoa học, giai cấp vô sản và giới kỹ thuật thì không một thế lực đen tối nào đứng vững được”2.



2 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 40, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 218.

Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa là hình thức hợp tác đặc biệt giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cuộc đấu tranh lật đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa khác về bản chất so với các liên minh giai cấp từng có trong lịch sử. Nếu như các hình thức liên minh khác là nhất thời, vụ lợi, không dựa trên sự thống nhất về lợi ích. Trái lại, liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là hình thức liên minh tự nguyện. Bởi vì, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, họ đều bị bóc lột nặng nề và cùng có chung kẻ thù là giai cấp tư sản; họ đều có chung khát vọng được giải phóng để trở thành người làm chủ xã hội và được cống hiến, phát huy trí tuệ nhằm xây dựng một chế độ mới tự do, bình đẳng, không có áp bức, bóc lột. Điều đó đã thôi thúc và gắn kết họ với nhau, tự nguyện đứng lên đấu tranh chống áp bức, bóc lột và xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa.

Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là liên minh có nội dung toàn diện, mang tính lâu dài, bền vững dựa trên sự thống nhất về lợi ích căn bản. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng có nội dung toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, trong cuộc đấu tranh ấy, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức cùng sát cánh bên nhau chiến đấu để giành thắng lợi cuối cùng. Mặt khác, do được xây dựng trên cơ sở sự thống nhất về lợi ích căn bản, nên liên minh của họ có nội dung toàn diện, mang tính tự giác, lâu dài, bền vững trong suốt tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, từ giai đoạn giành chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản đến giai đoạn cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Nguyên tắc nhân dân tham gia quản lý xã hội

 


Quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân và toàn xã hội. Sự tham gia của nhân dân vào quyền lực chính trị là một đặc trưng của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, khẳng định vai trò quan trọng của nhân dân trong quản lý nhà nước, đồng thời, xác định rõ những nhiệm vụ mà nhà nước thực hiện trong việc bảo đảm những điều kiện cơ bản để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Do vậy, việc mở rộng và thu hút nhân dân tích cực tham gia vào quản lý xã hội, qua đó, tăng cường sự kiểm soát của xã hội đối với những cơ quan quản lý của nhà nước là con đường đáng tin cậy nhất nhằm khắc phục bệnh quan liêu - một biểu hiện của sự xa cách giữa khách thể và chủ thể quản lý: “Cần xây dựng ngay chế độ dân chủ, bắt đầu từ cơ sở, dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng, với sự tham gia thực sự của quần chúng vào tất cả đời sống của nhà nước, không có “sự giám sát” từ trên, không có quan lại”[1].

Nội dung nguyên tắc nhân dân tham gia quản lý xã hội thông qua hình thức tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, thể hiện ở việc trực tiếp làm việc trong các cơ quan của bộ máy nhà nước; thảo luận các vấn đề chung của đất nước và địa phương; giám sát hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước; trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân trong quản lý nhà nước. Ngoài ra, nhân dân có thể tham gia gián tiếp vào hoạt động của các cơ quan nhà nước thông qua việc thực hiện quyền lựa chọn những đại biểu xứng đáng, thay mặt nhân dân vào cơ quan quyền lực nhà nước. Đây là hình thức tham gia rộng rãi nhất của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước về xã hội.

Nhân dân tham gia vào quản lý xã hội thể hiện chủ yếu thông qua các tổ chức xã hội, biểu hiện ở việc nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia tích cực vào hoạt động của các tổ chức xã hội. Các tổ chức xã hội là công cụ đắc lực của nhân dân trong việc thực hiện quyền tham gia vào quản lý xã hội. Thông qua các hoạt động của các tổ chức xã hội, vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân trong quản lý xã hội được phát huy. Đây là một hình thức hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm dân chủ và mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc nhân dân tham gia quản lý xã hội còn được thể hiện ở việc tham gia trực tiếp vào hoạt động tự quản ở cơ sở. Đây là hoạt động mang tính chất tự quản cao, do chính nhân dân tự thực hiện ở nơi cư trú, làm việc, sinh hoạt như hoạt động bảo vệ an ninh trật tự, vệ sinh môi trường,... Thông qua những hoạt động mang tính chất tự quản cao, người dân là những chủ thể tham gia quản lý xã hội tích cực nhất, và quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội được nhà nước tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Các hình thức nhân dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội tạo điều kiện phát huy sức lực, trí tuệ của nhân dân trong quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa.

 

 



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 31, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 337.

Không ngừng nâng cao quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa

 


Quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là tổng thể những hoạt động có mục đích của nhà nước xã hội chủ nghĩa, các cộng đồng, tổ chức xã hội và nhân dân dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản tác động đến toàn bộ hệ thống xã hội hoặc đến từng lĩnh vực, từng khâu của hệ thống đó nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, duy trì và phát triển xã hội theo mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

Quản lý xã hội là vấn đề có tính quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhiệm vụ chính trị trung tâm, chủ yếu của đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa sau khi giành được chính quyền và trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thực chất của quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là những hoạt động tác động có ý thức, có mục đích của đảng cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đến toàn bộ các quá trình xã hội, bảo đảm cho hệ thống xã hội hoạt động tối ưu, phát triển theo đúng quy luật khách quan và những tiêu chí phát triển đã xác định trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Mục đích quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực trong nước và ngoài nước phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ chủ yếu của quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là làm cho hoạt động của nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các quan hệ giữa con người với con người trong xã hội,... phù hợp yêu cầu quy luật khách quan; sử dụng những điều kiện khách quan để điều chỉnh xã hội, kiểm soát xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển nhằm đạt hiệu quả tối ưu. Trong đó, thống kê và kiểm soát xã hội là nhiệm vụ cơ bản, mấu chốt nhất của nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin đã khẳng định: thống kê và kiểm soát xã hội, nó làm cho “hết thảy mọi công dân đều biến thành người làm công của nhà nước do công nhân vũ trang cấu thành. Hết thảy mọi công dân đều trở thành nhân viên và công nhân của một “Xanh-đi-ca” nhà nước duy nhất của toàn dân. Tất cả vấn đề là làm cho họ cùng có những cống hiến ngang nhau, giữ đúng mức độ lao động và lĩnh tiền ngang nhau”[1].

Chủ thể quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là hệ thống chính trị, trọng tâm là nhà nước và nhân dân dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Đảng cộng sản lãnh đạo, quản lý xã hội bằng đường lối, chính sách, thông qua nhà nước và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa do mình sáng lập. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là cơ quan quyền lực chính trị, có vai trò là chủ thể quan trọng nhất thực hiện quản lý nhà nước về mặt xã hội; thông qua những quy định, luật lệ làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý xã hội, nhằm duy trì, quản lý, xây dựng xã hội mới. Các tổ chức chính trị - xã hội với tư cách là những tổ chức do nhân dân lập nên và là một trong những bộ phận cấu thành hệ thống chính trị, có vai trò tổ chức và huy động mọi nguồn lực của nhân dân thực hiện chức năng quản lý xã hội theo quy định của pháp luật.

Đối tượng quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là con người, các hoạt động và các quan hệ của cộng đồng người trong xã hội trên tất cả các lĩnh vực, các quá trình xã hội cùng các nguồn tài nguyên khác của đất nước. Cơ chế quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ, bảo đảm mọi quyền lực xã hội thuộc về nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Phạm vi quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tư tưởng và các quan hệ giữa con người với con người trong xã hội. Loại hình quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa bao gồm quản lý nhà nước, quản lý hành chính công, quản lý kinh tế, quản lý ngành,... Phương tiện quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là đường lối, chủ trương, chính sách; hiến pháp, pháp luật; các đòn bẩy tín dụng, ngân hàng, khen thưởng; dư luận xã hội; đạo đức xã hội;…



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 124.