Thứ Năm, 6 tháng 11, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BẾ MẠC HỘI NGHỊ LẦN THỨ 14 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIII.

     Sáng 6/11, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra và tiến hành phiên bế mạc. Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì hội nghị. Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn điều hành phiên bế mạc.

Sau hai ngày làm việc, Hội nghị đã quyết định nhiều nội dung quan trọng: Thống nhất số lượng nhân sự Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV và nhân sự giới thiệu tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV, một số nội dung liên quan đến nhân sự cấp cao của Đảng, Nhà nước, thống nhất nội dung các vấn đề chuẩn bị tổ chức Đại hội lần thứ XIV của Đảng.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị và Tiểu ban nhân sự Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xem xét bổ sung, hoàn thiện các phương án nhân sự theo đúng phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và quy trình công tác nhân sự đã đề ra để báo cáo tại Hội nghị Trung ương lần thứ 15 sắp tới.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị chỉ đạo Tiểu ban Văn kiện và các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến đóng góp của các tổ chức chính trị và nhân dân; khẩn trương, nghiêm túc tổng hợp tiếp thu, giải trình các ý kiến đóng góp, hoàn thiện các dự thảo văn kiện trình Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xem xét, hoàn chỉnh.

Tại hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất cao các nội dung dự kiến chương trình Đại hội, quy chế làm việc, quy chế bầu cử tại Đại hội, báo cáo về tình hình công tác chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng; giao Bộ Chính trị tiếp thu ý kiến, tiếp tục hoàn thiện các dự thảo.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xem xét, cho ý kiến về các báo cáo: kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII; tình hình thực hiện Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII; tổng kết thực hiện Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII; báo cáo những công việc Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ 13 đến Hội nghị Trung ương lần thứ 14.

Hội nghị Trung ương lần thứ 14 nhất trí cao với kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII: Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt đã thực sự là một tập thể đoàn kết, thống nhất, gương mẫu, bản lĩnh, trí tuệ, kiên định quan điểm, đường lối của Đảng, kịp thời đưa ra các quyết sách đúng đắn và phù hợp, giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

Hội nghị cũng thống nhất đánh giá điểm sáng nhất, đột phá nhất trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” là tổ chức thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, tổ chức lại địa giới hành chính cấp tỉnh và cấp xã, tạo không gian, tiềm năng và cơ hội phát triển cho đất nước trong kỷ nguyên mới.

Phát biểu tại phiên bế mạc, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra với sự thống nhất cao, chất lượng tốt. Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng đã làm việc tận tâm, nhiệt huyết, thẳng thắn, trung thực với tinh thần trách nhiệm cao.

Tổng Bí thư yêu cầu, trong thời gian tới, cả hệ thống chính trị tiếp tục chăm lo, kiến tạo cho mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Phân định thẩm quyền liên thông giữa 3 cấp cho từng lĩnh vực, xóa chồng lấn, không bỏ trống nhiệm vụ. Phân cấp phải đi kèm kiểm soát; chuyển mạnh sang hậu kiểm; tổ chức kiểm toán nội bộ ở tỉnh, xã. Tài chính công được phân bổ theo kết quả, theo đặc điểm riêng của địa phương.

Các địa phương sớm xác định vị trí việc làm, khoán sản phẩm; đào tạo bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ, quản trị dữ liệu. Tổ chức một cửa liên thông số; xóa cơ chế “xin-cho”, tăng trách nhiệm của người đứng đầu. Xây dựng dữ liệu dùng chung, kết nối dân cư-đất đai-an sinh-doanh nghiệp; cập nhật thời gian thực từ cơ sở tới Trung ương.

Tổng Bí thư nêu rõ, nguyên tắc xuyên suốt là “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” và “rõ người, rõ việc, rõ thời hạn, rõ nguồn lực, rõ trách nhiệm”, “Trung ương làm gương, địa phương hưởng ứng”, “Vì nhân dân phục vụ”, “Kết quả, sản phẩm công việc là thước đo cao nhất trình độ và phẩm chất cán bộ”.

Cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp, nhất là các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến nhiệm vụ hỗ trợ, tạo điều kiện để mô hình chính quyền 3 cấp, đặc biệt quan tâm tới 2 cấp chính quyền địa phương, bảo đảm hoạt động thực sự hiệu lực, hiệu quả, vươn tới những mục tiêu mà Đảng đã đặt ra, trong đó có 3 mục tiêu trọng yếu là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh và bền vững; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Nhấn mạnh thời gian từ nay đến Đại hội XIV của Đảng không còn nhiều, trong khi có rất nhiều công việc phải làm, nhiều chỉ tiêu công tác phải hoàn thành trong những tháng cuối năm, Tổng Bí thư đề nghị các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng nêu cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm trước đất nước và nhân dân, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt những công việc của đơn vị, địa phương mình, bảo đảm hoàn thành các chỉ tiêu được nêu trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nghị quyết của cấp ủy các cấp; khẩn trương tổ chức thực hiện các kết luận của Hội nghị Trung ương lần thứ 14 khóa XIII để góp phần cho thành công của Đại hội XIV của Đảng.

Tổng Bí thư lưu ý, cơn bão số 13 có khả năng sẽ đổ bộ vào khu vực miền trung-Tây Nguyên trong ngày hôm nay, các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng trở về địa phương khẩn trương tập trung chỉ đạo công tác phòng chống bão, lũ theo tinh thần “Bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân là trên hết, trước hết, tất cả vì nhân dân”; triển khai phương án 4 tại chỗ để cùng nhân dân ứng phó, khắc phục hậu quả của cơn bão; các Bộ: Quốc phòng, Công an, Tài chính... chủ động hỗ trợ nhân dân ở các địa phương vùng bị ảnh hưởng thiên tai./.


Yêu nước ST.

TOÀN VĂN PHÁT BIỂU BẾ MẠC CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM TẠI HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 14!

     Sáng 6/11, Tổng Bí thư Tô Lâm đã phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Thưa các đồng chí Đại biểu tham dự Hội nghị,

Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra với sự thống nhất cao, chất lượng tốt. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư tôi xin cảm ơn các đồng chí Ủy viên Trung ương đã làm việc tận tâm, nhiệt huyết, thẳng thắn, trung thực với tinh thần cách mạng tấn công, với trách nhiệm cao của Ủy viên Trung ương Đảng.

Sau hai ngày làm việc, Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định nhiều nội dung quan trọng, trong đó: thống nhất số lượng nhân sự Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV; thống nhất nhân sự giới thiệu tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV, một số nội dung liên quan đến nhân sự cấp cao của Đảng, Nhà nước; thống nhất nội dung các vấn đề chuẩn bị tổ chức Đại hội lần thứ XIV của Đảng.

Trước khi bế mạc Hội nghị, tôi xin khái quát những kết quả chủ yếu và những nội dung công việc cần làm từ nay tới Hội nghị Trung ương 15 và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Thứ nhất: Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận dân chủ, kỹ lưỡng với sự nhất trí cao nhân sự giới thiệu tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV. Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị và Tiểu ban nhân sự Đại hội XIV tiếp tục xem xét bổ sung, hoàn thiện các phương án nhân sự theo đúng phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và quy trình công tác nhân sự đã đề ra để báo cáo Ban Chấp hành Trung ương xem xét quyết định tại Hội nghị Trung ương 15 sắp tới.

Trung ương thống nhất cao với các nội dung dự kiến Chương trình Đại hội, quy chế làm việc, quy chế bầu cử tại Đại hội và báo cáo về tình hình công tác chuẩn bị Đại hội XIV. Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị tiếp thu ý kiến của Trung ương, tiếp tục hoàn thiện các dự thảo để trình Đại hội XIV xem xét quyết định.

Thứ hai: Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét, cho ý kiến về báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII; báo cáo tình hình thực hiện Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII; Báo cáo tổng kết thực hiện Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII; Báo cáo những công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị Trung ương 13 đến Hội nghị Trung ương 14. Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của Trung ương, tiếp tục hoàn chỉnh các báo cáo tổng kết và bàn giao cho Ban Chấp hành Trung ương và Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIV xem xét, quyết định sửa đổi, bổ sung Quy chế làm việc của khóa tới.

Thứ ba: Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị chỉ đạo Tiểu ban văn kiện và các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến đóng góp của các tổ chức chính trị và nhân dân để hoàn thiện thêm một bước Dự thảo các văn kiện. Khẩn trương, nghiêm túc tổng hợp tiếp thu, giải trình các ý kiến đóng góp để hoàn thiện các Dự thảo văn kiện trình Hội nghị Trung ương 15 xem xét hoàn chỉnh để trình Đại hội XIV của Đảng.

Thứ tư: Hội nghị Trung ương lần thứ 14 nhất trí cao với kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII, đồng thời thống nhất đánh giá: trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức, tình hình trong nước và quốc tế diễn biến nhanh chóng, phức tạp, nhiều vấn đề vượt ngoài dự báo; thiên tai, dịch bệnh xảy ra nhiều nơi... Nhưng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt đã thực sự là một tập thể đoàn kết, thống nhất, gương mẫu, bản lĩnh, trí tuệ, kiên định quan điểm, đường lối của Đảng, kịp thời đưa ra các quyết sách đúng đắn và phù hợp, giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đã đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ sự nghiệp đổi mới, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tổ chức thực hiện hoàn thành cơ bản Nghị quyết Đại hội XIII với nhiều thành tựu rất quan trọng, toàn diện, đột phá, đạt nhiều dấu ấn nổi bật, tạo tiền đề phát triển cho những nhiệm kỳ tiếp theo.

Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành triển khai quyết liệt các Nghị quyết Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết 18 về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, hoàn thành trước 5 năm, đã tạo ra "cú hích", "bước ngoặt" về triển khai, tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng trong tình hình mới. Tiếp tục tháo gỡ khó khăn vướng mắc về thể chế, hoàn thiện chính sách, hành lang pháp lý và giải quyết có hiệu quả những khó khăn, vướng mắc, hạn chế, yếu kém kéo dài nhiều năm. Giữ ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát được kiểm soát và duy trì ở mức thấp; thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tăng; môi trường đầu tư, kinh doanh, cán cân thương mại được cải thiện; mô hình tăng trưởng chuyển dịch theo hướng tích cực. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả 3 đột phá chiến lược; đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia, dân tộc; tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, đóng góp tích cực, có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định phát triển của khu vực và thế giới. Uy tín, vị thế của Đảng, của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế, được cán bộ, đảng viên và nhân dân tin tưởng, đánh giá cao.

Bộ Chính trị đã ban hành 7 nghị quyết chiến lược là các Nghị quyết 57-59-66-68-70-71-72. Đây là tiền đề, cơ sở chính trị, pháp lý đặc biệt quan trọng để chúng ta thực hiện mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, trong việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số trong nhiều năm tiếp theo và thực hiện thành công hai mục tiêu 100 năm.

Tuy nhiên, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhiệm kỳ Đại hội XIII còn có một số hạn chế: Việc thể chế hóa, cụ thể hóa một số nghị quyết của Đảng còn chậm; Lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường còn một số hạn chế, bất cập. Việc triển khai một số công trình trọng điểm, giải ngân vốn đầu tư công chưa đạt yêu cầu; đời sống một bộ phận nhân dân còn khó khăn; có lúc, có nơi việc xây dựng tổ chức thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật và thực thi công vụ chưa hoàn thiện; kỷ luật, kỷ cương có lúc, có nơi chưa nghiêm.

Những thiếu sót, khuyết điểm nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng chủ yếu là do yếu tố chủ quan. Phương pháp, biện pháp lãnh đạo của một số cấp ủy, Ủy viên Trung ương trên một số lĩnh vực còn hạn chế; chưa tập trung, thiếu quyết liệt, kịp thời; chưa phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm, tính năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của người đứng đầu.

Thứ năm: Điểm sáng nhất, đột phá nhất trong triển khai thực hiện Nghị quyết 18 là tổ chức thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp và tổ chức lại địa giới hành chính cấp Tỉnh và cấp Xã, tạo không gian, tiềm năng và cơ hội phát triển cho đất nước trong kỷ nguyên mới.

Mô hình chính quyền 3 cấp đã vận hành được 4 tháng, kết quả ban đầu là khả quan, tăng tính kiến tạo, tăng hiệu lực, hiệu quả phục vụ nhân dân và phát triển kinh tế xã hội; quần chúng nhân dân ủng hộ và tin tưởng, người dân và doanh nghiệp bước đầu thấy được cơ hội, quyền lợi và nghĩa vụ công dân đến với mình thực chất hơn; nhịp sống xã hội rộn ràng, tươi vui hơn. Để phát huy những yếu tố tích cực đó, tôi đề nghị cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp, đặc biệt là các đồng chí Ủy viên Trung ương cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến nhiệm vụ hỗ trợ, tạo điều kiện để mô hình chính quyền 3 cấp, đặc biệt quan tâm tới 2 cấp chính quyền địa phương, hoạt động thực sự hiệu lực, hiệu quả, vươn tới những mục tiêu mà Đảng đã đặt ra, trong đó 3 mục tiêu trọng yếu là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh và bền vững; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Trong thời gian tới, yêu cầu các đồng chí, ngoài những nội dung tôi nêu trong phát biểu Khai mạc Hội nghị, các đồng chí cần tập trung xử lý những trọng tâm sau: (1) Cả hệ thống chính trị tiếp tục chăm lo, kiến tạo cho mô hình chính quyền địa phương hai cấp hoạt động hiệu lực, hiệu quả, (2) Phân định thẩm quyền liên thông giữa 3 cấp cho từng lĩnh vực, xóa chồng lấn, không bỏ trống nhiệm vụ. (3) Phân cấp đi kèm kiểm soát; chuyển mạnh sang hậu kiểm; tổ chức kiểm toán nội bộ ở Tỉnh/Xã. (4) Tài chính công được phân bổ theo kết quả, theo đặc điểm riêng của địa phương. (5) Sớm xác định vị trí việc làm, khoán sản phẩm; đào tạo bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ, quản trị dữ liệu. (6) Tổ chức một cửa liên thông số; xóa cơ chế "xin-cho", tăng trách nhiệm người đứng đầu. (7) Xây dựng dữ liệu dùng chung, kết nối dân cư-đất đai-an sinh-doanh nghiệp; cập nhật thời gian thực từ cơ sở tới Trung ương.

Nguyên tắc xuyên suốt là "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm" và "rõ người-rõ việc- rõ thời hạn- rõ nguồn lực- rõ trách nhiệm", "Trung ương làm gương, địa phương hưởng ứng", "Vì Nhân dân phục vụ", "Kết quả, sản phẩm công việc là thước đo cao nhất trình độ và phẩm chất cán bộ".

Thứ sáu: Bây giờ đã gần hết năm 2025, thời gian từ nay đến Đại hội XIV không còn nhiều, trong khi chúng ta có rất nhiều công việc phải làm, nhiều chỉ tiêu công tác phải hoàn thành trong tháng cuối năm, trong khi bão, lũ, thiên tai xảy ra ở hầu khắp các địa phương. Do vậy, tôi đề nghị các đồng chí Ủy viên Trung ương hãy nêu cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm trước đất nước và nhân dân, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt những công việc của đơn vị, địa phương mình, đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu được nêu ra trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết của cấp ủy các cấp; khẩn trương tổ chức thực hiện các kết luận của Hội nghị Trung ương 14 để góp phần cho thành công của Đại hội lần thứ XIV của Đảng.

Thưa các đồng chí,

Tình hình thiên tai, bão lũ, ngập úng, sạt lở thời gian qua diễn biến rất phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân, đến mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội. Cơn bão số 13 có khả năng sẽ đổ bộ vào khu vực miền Trung - Tây Nguyên trong ngày hôm nay, do vậy Hội nghị Trung ương 14 kết thúc sớm hơn dự kiến để các đồng chí trở về địa phương tập trung chỉ đạo công tác phòng chống bão lũ theo tinh thần "Bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhân dân là trên hết, trước hết, tất cả vì nhân dân"; triển khai phương án "4 tại chỗ" để cùng nhân dân ứng phó, khắc phục hậu quả của cơn bão; các Bộ Quốc phòng, Công an, Tài chính... chủ động hỗ trợ các địa phương vùng bị ảnh hưởng thiên tai.

Tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 14.

Một lần nữa chúc toàn thể các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công.

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí!
Yêu nước ST.

Thứ Tư, 5 tháng 11, 2025

THƯỢNG SĨ VŨ VĂN BÌNH HY SINH TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH QUỐC PHÒNG!

     Chiều 5/11, theo phân công của Chỉ huy Đại đội 2 (Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Công binh 513, Quân khu 3) thực hiện nhiệm vụ tại Đặc khu Cô Tô (tỉnh Quảng Ninh), Thượng sĩ Vũ Văn Bình hy sinh trong khi thực hiện nhiệm vụ xây dựng công trình quốc phòng.

Cụ thể, thực hiện nhiệm vụ tại Đặc khu Cô Tô gồm 4 đồng chí: Trung úy Nguyễn Tiến Dũng, Trung đội trưởng phụ trách; Thượng sĩ Nguyễn Mạnh Cường, Trung sĩ Trần Quang Hoạt; Hạ sĩ Vũ Văn Bình.

Vào lúc 17 giờ 45 phút, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Hạ sĩ Vũ Văn Bình phát hiện có hiện tượng đá sạt trên nóc công trình vị trí chỉ huy của Trung úy Nguyễn Tiến Dũng đang đứng. Ngay lập tức, đồng chí Bình chạy đến đẩy đồng chí Dũng ra để tránh vị trí sạt lở thì bị một khối lượng đất đá lớn đè vào người.

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh Trần Đại Thắng cùng cơ quan chức năng thăm, động viên các cán bộ, chiến sĩ bị thương trong vụ triệt phá đường dây ma túy lớn đêm 17/4.

Ngay khi phát hiện sự việc, Thiếu tá Nguyễn Đức Thành, Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 1 và Đại úy Lương Thanh Hải, Quyền Đại đội trưởng Đại đội 2 nhanh chóng đưa đồng chí Bình ra ngoài để sơ cứu và chuyển đến Trung tâm Y tế đặc khu Cô Tô cấp cứu. Tuy nhiên, theo kết luận của Trung tâm Y tế, do vết thương quá nặng, lúc 18 giờ 25 phút, Hạ sĩ Vũ Văn Bình đã tử vong trên đường đi cấp cứu.

Hạ sĩ Vũ Văn Bình, sinh ngày 25/9/2005, quê quán xã Hoàng Tây, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam cũ (nay là phường Kim Thanh, tỉnh Ninh Bình) nhập ngũ tháng 2/2024, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ mất sớm, em gái còn nhỏ.

Trước khi hy sinh, đồng chí Bình là chiến sĩ công binh công trình ở Tiểu đội 3, Trung đội 5, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 513 (Quân khu 3). Sự hy sinh của Hạ sĩ Vũ Văn Bình là tấm gương sáng về tinh thần dũng cảm quên mình trong thực hiện nhiệm vụ góp phần tô thắm phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Trước sự hy sinh dũng cảm của đồng chí Vũ Văn Bình, Thủ trưởng Tư lệnh Quân khu 3 đã ký quyết định thăng quân hàm vượt cấp từ Hạ sĩ lên Thượng sĩ cho đồng chí Vũ Văn Bình. Đồng thời, đơn vị đã đề nghị Chủ tịch nước truy tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba và Trung ương Đoàn tặng Bằng khen./.
Theo ND
Yêu nước ST.

NHẬN DIỆN VÀ HÓA GIẢI NHỮNG "ĐIỂM NGHẼN" TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG!

     Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng đã đánh giá: “Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được triển khai quyết liệt, đồng bộ, có hiệu quả”, nhưng để công tác này đạt hiệu quả cao như kỳ vọng, cần dũng cảm nhìn thẳng vào những “điểm nghẽn” đang tồn tại để hóa giải, nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch trong kỷ nguyên phát triển mới.

Đâu là những “điểm nghẽn”?

Từ thực tiễn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chúng tôi chỉ ra một số điểm nghẽn cơ bản sau:

“Điểm nghẽn” đầu tiên: Nhận thức, trách nhiệm chưa ngang tầm

Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả người làm công tác lãnh đạo, quản lý, nhà báo, nhà khoa học vẫn chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Có người cho rằng đây là công việc riêng của cơ quan tuyên giáo hay Ban chỉ đạo 35, dẫn đến tình trạng “khoán trắng”, thiếu sự vào cuộc đồng bộ, quyết tâm.

Bên cạnh đó, có nơi còn tách rời giữa nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với nhiệm vụ phản bác quan điểm sai trái, thù địch, khiến công tác triển khai thiếu tính hệ thống, hiệu quả không cao, kiến nhận thức chưa đầy đủ và hành động thiếu quyết liệt.

“Điểm nghẽn” thứ hai: Cuộc chiến “không cân sức” trên không gian mạng

Các thế lực thù địch sở hữu tiềm lực công nghệ vượt trội, có mạng lưới truyền thông chuyên nghiệp, được tài trợ mạnh mẽ từ các chính phủ, từ lực lượng trá hình núp trong các tổ chức thao túng không gian mạng, thông qua nền tảng mạng xã hội, phát tán thông tin sai trái với tốc độ cực nhanh, đa chiều. Trong khi đó, lực lượng ta, đặc biệt ở cấp cơ sở, chủ yếu là kiêm nhiệm, thiếu điều kiện tiếp cận thông tin, thiếu kỹ năng, phương tiện hiện đại để nhận diện và đấu tranh hiệu quả ngay từ ban đầu.

Không ít trường hợp, thông tin vì trải qua quy trình biên tập nhiều tầng, khiến phản ứng của lực lượng đấu tranh bị động, “chạy theo sự kiện”, có lúc chưa thật sự tạo được “thế chủ động”.

“Điểm nghẽn” thứ ba: Nguồn lực và cơ chế bảo đảm còn bất cập

Nhiệm vụ nặng nề, nhưng điều kiện vật chất, chính sách hỗ trợ cho lực lượng đấu tranh vẫn còn rất hạn chế. Nhiều cán bộ, đảng viên làm nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng vẫn “tay không bắt giặc”, tự trang bị thiết bị, mạng Internet, dữ liệu di động để làm việc. Cơ chế, chính sách động viên, khích lệ, khen thưởng chưa tương xứng với tính chất đặc thù, nguy hiểm của công tác này.

“Điểm nghẽn” thứ tư: Thiếu cơ chế bảo vệ người đấu tranh

Đây là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Một thực tế đáng quan tâm là những người trực diện phản bác thường bị đe dọa, bôi nhọ, thậm chí bị cô lập trong môi trường công tác. Khi bị vu khống hoặc kiện cáo, họ chưa nhận được sự bảo vệ kịp thời từ tổ chức, rất dễ rơi vào trạng thái tâm lý bất an, khi được “minh oan” lại rơi vào hoàn cảnh “được vạ thì má đã sưng”. Điều đó làm suy giảm tinh thần đấu tranh, chỉ dám “múa gậy trong bị”, bảo vệ và đấu tranh cầm chừng.

Phá “điểm nghẽn” như thế nào?

Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng tiếp tục chủ trương: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”. Vì vậy, một trong những vấn đề đặt ra cấp bách là phải phá vỡ các điểm nghẽn nêu trên, để công tác này thực sự đạt hiệu quả cao nhất, với những giải pháp cụ thể sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của chủ thể, lực lượng đấu tranh

Cấp ủy, tổ chức đảng, Ban chỉ đạo 35 các cấp phải quán triệt sâu sắc cần nâng cao nhận thức về ý nghĩa sống còn của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và thấy rõ những điểm nghẽn để kịp thời hóa giải.

Tạo sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của các chủ thể, lực lượng trong nhận diện và đấu tranh; trong đó, lực lượng nòng cốt, chuyên sâu phải chủ động phối hợp với cơ quan báo chí, đơn vị chức năng, tổ chức chính trị - xã hội, để hình thành “thế trận tư tưởng thống nhất”.

Cần kết hợp giữa lực lượng chuyên trách và bán chuyên trách; giữa nhà lý luận với người làm truyền thông; giữa “chiến sĩ tư tưởng” và “chiến sĩ công nghệ”. Khi toàn hệ thống chính trị cùng chung tiếng nói, sức lan tỏa của công tác đấu tranh sẽ mạnh hơn gấp bội.

Mỗi cá nhân, cơ quan, đơn vị cần có kế hoạch đấu tranh cụ thể, xác định trọng tâm, trọng điểm, phân công trách nhiệm rõ ràng; khơi dậy tinh thần trách nhiệm, lòng tự hào, ý chí xung kích trong mỗi cán bộ, đảng viên - những người đang ngày đêm giữ vững “trận địa tư tưởng” của Đảng.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo đảm và bảo vệ người đấu tranh

Phải có cơ chế đãi ngộ, khen thưởng, hỗ trợ vật chất và tinh thần xứng đáng với nhiệm vụ đặc biệt này. “Cuộc chiến” này không chỉ đòi hỏi tri thức, mà còn là sự dũng cảm, bền bỉ và chấp nhận rủi ro. Vì vậy, cần có quy định pháp lý rõ ràng bảo vệ người trực tiếp đấu tranh; tuyệt đối không để các lực lượng tiên phong này “đơn thương, độc mã” trên mặt trận tư tưởng - văn hóa.

Cùng với đó, Đảng và Nhà nước cần nghiên cứu, bổ sung chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao tham gia lĩnh vực bảo vệ nền tảng tư tưởng, nhất là các chuyên gia công nghệ, chuyên viên an ninh mạng, nhà báo, nhà khoa học trẻ, chuyên gia lý luận hàng đầu. Các cơ quan báo chí, nền tảng truyền thông số cần tăng cường sản xuất nội dung tích cực, sáng tạo, hấp dẫn, có tính lan tỏa cao. Khi thông tin chính thống chiếm lĩnh không gian mạng, thì luận điệu sai trái tự khắc bị đẩy lùi.

Không công nghệ nào thay thế được trí tuệ con người. Lực lượng làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng cần được đào tạo toàn diện về lý luận chính trị, truyền thông, công nghệ và tâm lý xã hội. Đặc biệt, cần quan tâm thế hệ trẻ - những người am hiểu công nghệ, năng động, sáng tạo - để họ trở thành lực lượng xung kích trên không gian mạng. Đồng thời, xây dựng cơ chế tôn vinh, bảo vệ, khích lệ người tham gia đấu tranh, giúp họ yên tâm, tự tin, giữ vững khí tiết và bản lĩnh.

Ba là, đầu tư nguồn lực, phương tiện hiện đại

Trong thời đại số, nếu không có công cụ mạnh, không thể đấu tranh hiệu quả. Cần đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật, trung tâm dữ liệu, công cụ, phần mềm phân tích nhận diện thông tin xấu độc, công cụ quản lý nội dung số; khắc phục tình trạng “tay không bắt giặc” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Đồng thời, đẩy mạnh truyền thông tích cực, lan tỏa giá trị nhân văn, tôn vinh tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác này.

Bên cạnh đó, cần tổ chức đào tạo chuyên sâu về kỹ năng phản bác, khai thác thông tin, viết bài lý luận, phản biện xã hội; kết hợp huấn luyện tác chiến trên không gian mạng cho các lực lượng 35 toàn quốc.

Phá “điểm nghẽn”, cởi “nút thắt” chính là hành động tự đổi mới của Đảng trên mặt trận tư tưởng. Khi cơ chế, chính sách thông thoáng; khi người đấu tranh được bảo vệ và khích lệ; khi mỗi cán bộ, đảng viên đều ý thức được vai trò của mình - thì công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch chắc chắn sẽ đạt được hiệu quả cao hơn, bền vững hơn.

Ứng dụng công nghệ hiện đại, chủ động tấn công địch trên không gian mạng. Đấu tranh tư tưởng trong kỷ nguyên số không thể “đánh tay không”. Cần chủ động ứng dụng công nghệ (AI, Big Data) để giám sát, phân tích, dự báo, nhận diện sớm các chiến dịch truyền thông chống phá. Bên cạnh đó, hình thành các trung tâm dữ liệu chiến lược, nhóm phản ứng nhanh, đội ngũ chuyên gia công nghệ, phối hợp với nhà lý luận, báo chí, an ninh mạng để xử lý, phản bác kịp thời.

Kinh nghiệm từ thực tế cho thấy, nếu chủ động nắm bắt, dự báo đúng xu hướng, phản ứng nhanh bằng lý lẽ sắc bén, chúng ta có thể chuyển từ “phòng thủ” sang “tấn công”, chiếm lĩnh trận địa tư tưởng.

Bốn là, củng cố “thế trận tư tưởng” trong kỷ nguyên số

Không gian mạng hôm nay không chỉ là môi trường giao tiếp, mà đã trở thành “mặt trận tư tưởng” sôi động và phức tạp nhất. Ở đó, từng dòng trạng thái, từng video, từng bình luận đều có thể là “viên đạn bọc đường” tác động vào nhận thức từng người và toàn xã hội. Cuộc chiến này không tiếng súng, nhưng nóng bỏng từng giờ. Nó đòi hỏi sự tỉnh táo, kiên định và bản lĩnh của mỗi người - nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Vì vậy, cần xây dựng "thế trận nhân dân" trên không gian mạng. Không thể chỉ trông chờ vào lực lượng chuyên trách, mà mỗi đảng viên, mỗi công dân yêu nước đều có thể là “chiến sĩ”, biến sức mạnh của toàn dân thành lá chắn vững chắc trước mọi thông tin xấu độc, tạo “bức tường thành” vững chắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thực chất là một nội dung của cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng; một nội dung quan trọng của bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới, đòi hỏi phải có giải pháp tổng thể; trong đó, nhất thiết nhận diện và hóa giải những “điểm nghẽn” nêu trên như là một giải pháp có tính đột phá./.
Khuyết danh ST.

“MỀM HÓA” Ý THỨC CHÍNH TRỊ QUẦN CHÚNG - THỦ ĐOẠN THÂM HIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH.

BÀI 2: GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG THỦ ĐOẠN NHAM HIỂM HÀNG ĐẦU!
(Tiếp theo và hết)

     V.I.Lênin từng chỉ rõ: “Điều quan trọng đối với chúng ta là thu hút toàn thể những người lao động, không trừ một ai tham gia vào việc quản lý nhà nước. Đó là một nhiệm vụ rất mực khó khăn. Nhưng một thiểu số người, tức là đảng, không thể thực hiện chủ nghĩa xã hội (CNXH) được. Chỉ có hàng chục triệu người, khi đã học được cách tự mình thiết lập CNXH, thì mới có thể thực hiện được CNXH”.

Trong bối cảnh, yêu cầu và điều kiện mới của đất nước, để ngăn ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, trong đó có thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng, cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp.

Một là, tăng cường công tác giáo dục chính trị-tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với vận mệnh và sự phát triển của đất nước, dân tộc.

Đây là giải pháp rất quan trọng, giữ vai trò quyết định. Công tác giáo dục chính trị-tư tưởng là con đường, phương thức chủ yếu để xác lập, truyền bá và phát triển hệ tư tưởng của Đảng; góp phần nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ; tạo nên sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân; đồng thời là vũ khí sắc bén tấn công lại sự phá hoại của các thế lực thù địch, phản động. V.I.Lênin từng nói: “Phải làm cho các cơ quan quyền lực trong thực tế là cơ quan quản lý phục vụ những người lao động biến thành cơ quan quản lý do những người lao động”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: Công việc thành hay bại một phần lớn là do tư tưởng.

Hiện nay, trước những yêu cầu mới của cách mạng và thách thức ngày càng lớn của cuộc đấu tranh tư tưởng-lý luận, công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị-tư tưởng cho các tầng lớp nhân dân phải tiếp tục tăng cường. Nhiệm vụ trọng tâm của công tác này là đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống; xây dựng sự đồng thuận, thống nhất cao về nhận thức, ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Quá trình nâng cao nhận thức phải gắn liền với bồi đắp tình cảm, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), tạo nên sự kết nối vững chắc “ý Đảng với lòng dân”; phải giúp cho nhân dân thấy rõ vị trí, vai trò trung tâm của mình trong mọi đường lối, chủ trương của Đảng, đồng thời ý thức được trách nhiệm của mình trong việc tham gia bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ.

Trong giai đoạn mới, công tác giáo dục chính trị-tư tưởng phải không ngừng đổi mới cả về nội dung, hình thức, biện pháp; làm cho nội dung giáo dục trở nên gần gũi với thực tiễn đời sống; hình thức, biện pháp linh hoạt, phù hợp với đặc điểm và nhận thức của từng đối tượng; gắn tuyên truyền, giáo dục với thuyết phục, động viên, khuyến khích các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tạo nên đời sống chính trị sôi động, hăng hái trong toàn dân.

Hai là, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân.

Trong nhà nước pháp quyền XHCN, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý mà còn là phương tiện để bảo vệ và hiện thực hóa các quyền, lợi ích chính đáng của người dân. Do đó, pháp luật, cơ chế, chính sách phải được thiết kế theo hướng “vì dân”, phản ánh đúng yêu cầu, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân; đồng thời tạo điều kiện để người dân có thể tham gia thực chất vào các quá trình ra quyết định, từ việc xây dựng chủ trương, chính sách đến thực thi và giám sát việc thực hiện.

Phải thể chế hóa đầy đủ và đồng bộ các nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” vào hệ thống pháp luật. Bên cạnh đó, cần gắn việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách với quá trình tổ chức thực hiện của hệ thống chính trị. Trong bài viết “Phát huy tính Đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư) chỉ rõ: “Để có dân chủ thực chất thì bên cạnh việc phải có hệ thống pháp luật hoàn thiện theo các tiêu chí của nhà nước pháp quyền XHCN thì sự vận hành hiệu quả của hệ thống chính trị cũng phải đáp ứng, phù hợp với nguyên tắc thượng tôn Hiến pháp, pháp luật”.

Ba là, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, đặc biệt ở cấp cơ sở để phát huy quyền làm chủ thật sự của nhân dân.

Cấp cơ sở là nơi trực tiếp, thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, là tuyến đầu trong tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đây cũng là nơi quyền dân chủ của người dân được thể hiện rõ nét nhất, song cũng dễ bị xâm phạm nhất nếu bộ máy yếu kém, vận hành kém hiệu quả. Trong bối cảnh sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo hướng tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, việc đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở càng phải đặt trọng tâm vào nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và trách nhiệm nêu gương của cấp ủy, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng sát thực tiễn, gần dân và đáp ứng yêu cầu của nhân dân.

Bộ máy hành chính chỉ thật sự “vì dân” khi không chỉ “gần dân” về địa lý, mà còn “gần dân” trong tư duy, phong cách, phương thức vận hành, biết lắng nghe, thấu hiểu và giải quyết kịp thời, thỏa đáng những nguyện vọng chính đáng của người dân. Việc xây dựng và nâng cao năng lực hoạt động của chính quyền cơ sở phải được coi là khâu đột phá trong quá trình tinh gọn tổ chức, bao gồm chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, cải tiến quy trình làm việc, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, tăng cường công khai, minh bạch và thiết lập cơ chế để người dân tham gia giám sát một cách thực chất. Chỉ khi cấp xã thực sự đủ năng lực, trách nhiệm và gần dân, thì phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” mới trở thành hiện thực. Đây cũng là giải pháp căn cơ để củng cố niềm tin, nâng cao ý thức chính trị của nhân dân, góp phần vô hiệu hóa thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng mà các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện.

Bốn là, nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức phục vụ nhân dân, tạo niềm tin và sự hài lòng của người dân đối với nhà nước và chính quyền các cấp.

Thực tiễn cho thấy, sự thờ ơ, vô cảm chính trị của một bộ phận người dân không chỉ bắt nguồn từ tác động của các thế lực thù địch mà còn từ những trải nghiệm tiêu cực trong quá trình tiếp xúc, làm việc với những cán bộ thoái hóa biến chất, nhũng nhiễu, quan liêu, xa dân. Do đó, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ, năng lực, đạo đức và trách nhiệm công vụ là giải pháp then chốt nhằm củng cố niềm tin của nhân dân vào hệ thống chính trị, vô hiệu hóa các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng, xuyên tạc của kẻ thù. 

Để đáp ứng yêu cầu đó, trước hết cần chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, không dừng ở bằng cấp, chứng chỉ mà thể hiện ở năng lực thực thi công vụ, khả năng giải quyết những vấn đề thực tiễn phức tạp, nhất là ở cấp cơ sở. Người cán bộ không thể chỉ “đúng quy trình”, mà phải “hiểu việc”, “thuộc dân”, “sát dân”, “vì dân”. Cùng với đó, cần kiên quyết chấn chỉnh đạo đức công vụ, đấu tranh với biểu hiện vô cảm, thiếu trách nhiệm, quan liêu, “hành là chính”, làm xói mòn niềm tin của nhân dân. Một bộ máy mà ở đó người dân phải xin xỏ để được phục vụ, phải “biết điều” mới được việc thì không thể là bộ máy dân chủ, càng không thể là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.

Vì vậy, phải xác lập nguyên tắc lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo hiệu quả hoạt động của bộ máy và của từng cán bộ, công chức. Muốn vậy, cần chuyển tư duy quản lý từ “mệnh lệnh hành chính” sang “phục vụ và đối thoại”, từ áp đặt từ trên xuống sang lắng nghe từ dưới lên; đồng thời thiết lập cơ chế để nhân dân trực tiếp tham gia giám sát, đánh giá cán bộ thông qua các kênh khảo sát độc lập, phản biện xã hội, tiếp xúc cử tri và đối thoại định kỳ tại cơ sở. Chỉ khi cán bộ thực sự chịu sự giám sát của nhân dân thì trách nhiệm mới không còn hình thức, đạo đức công vụ mới không chỉ là khẩu hiệu, và niềm tin chính trị của nhân dân mới được củng cố vững chắc.

Năm là, tăng cường quản lý các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, kịp thời loại bỏ những nội dung xấu độc, tiêu cực, “trong lành hóa” môi trường mạng.

Hiện nay, không gian mạng đang trở thành môi trường lý tưởng cho các thế lực phản động, cơ hội chính trị, các phần tử cực đoan lợi dụng để tung tin giả, kích động chống phá, gieo rắc tâm lý tiêu cực, hoài nghi, thậm chí thù ghét chế độ. Nếu không quản lý tốt, không kịp thời “lọc độc-kháng độc”, thì không gian mạng sẽ trở thành “vùng nhiễm độc mềm”, đầu độc tư tưởng, gây rối loạn nhận thức, xói mòn lòng tin của nhân dân. Do đó, nhiệm vụ đầu tiên là tăng cường năng lực quản lý, giám sát và điều tiết không gian mạng, cả về mặt thể chế pháp luật lẫn công nghệ kỹ thuật. Phải có những quy định chặt chẽ, đồng bộ về trách nhiệm của các nền tảng mạng xã hội, các tổ chức cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, bảo đảm chủ quyền số quốc gia. Đồng thời, cần phát triển công cụ giám sát, cảnh báo sớm, xử lý nhanh, gỡ bỏ kịp thời các thông tin xấu độc, xuyên tạc, bịa đặt, kích động thù hận, vi phạm thuần phong mỹ tục, xâm hại đến an ninh tư tưởng và văn hóa.

Cần xây dựng chiến lược chủ động sử dụng mạng xã hội như một công cụ để khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc và ý thức trách nhiệm công dân, nhất là với thế hệ trẻ. Không chỉ là tuyên truyền một chiều, mà phải đổi mới nội dung, phương thức, phong cách truyền thông từ khô cứng sang sinh động, từ hàn lâm sang gần gũi, từ áp đặt sang đối thoại, từ phòng thủ sang chủ động “chiếm lĩnh trận địa thông tin”. Các cơ quan báo chí, truyền thông chính thống tăng cường hiện diện trên mạng xã hội, xây dựng đội ngũ “người phát ngôn số”, KOLs chính luận, lan tỏa thông điệp tích cực bằng nhiều hình thức sáng tạo, hấp dẫn, gắn với những giá trị văn hóa truyền thống, những nét đẹp của con người Việt Nam.

Có thể nói, “mềm hóa” ý thức chính trị của quần chúng là thủ đoạn thâm hiểm và đầy tinh vi mà các thế lực thù địch ráo riết thực hiện nhằm làm suy yếu nền tảng tư tưởng, bào mòn lòng tin và triệt tiêu sức đề kháng của người dân. Đấu tranh với thủ đoạn này không chỉ là nhiệm vụ của lực lượng chuyên trách mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và từng công dân yêu nước. Cảnh giác, chủ động nhận diện và phản bác, đồng thời không ngừng nâng cao dân trí, bồi đắp lòng tin, củng cố bản lĩnh chính trị chính là “lá chắn” vững chắc để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, giữ vững con đường đi lên CNXH./.
Khuyết danh ST.

“MỀM HÓA” Ý THỨC CHÍNH TRỊ QUẦN CHÚNG - THỦ ĐOẠN THÂM HIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH.

BÀI 1: TÍNH CHẤT TINH VI, NGUY HIỂM CỦA THỦ ĐOẠN “MỀM HÓA” Ý THỨC CHÍNH TRỊ QUẦN CHÚNG!

     Nhận thức, tình cảm, niềm tin và trách nhiệm chính trị của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) là yếu tố có ý nghĩa sống còn, quyết định trực tiếp đến sự ổn định và phát triển của đất nước. Nhận rõ điều đó, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách tấn công vào tư tưởng của nhân dân bằng những thủ đoạn tinh vi, nhằm làm sai lệch nhận thức, phai nhạt niềm tin, lệch lạc thái độ chính trị, từng bước phá vỡ trận địa tư tưởng của Đảng từ bên trong. Trong đó, thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị là đặc biệt nguy hiểm, cần được nhận diện và đấu tranh kiên quyết.

Thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng là sự tấn công một cách có chủ đích của các thế lực thù địch thông qua các cách thức, biện pháp kín đáo, ngấm ngầm, gián tiếp nhằm làm suy giảm nhận thức, phai nhạt tình cảm, biến đổi niềm tin chính trị của nhân dân, làm cho người dân từng bước rơi vào trạng thái thờ ơ, vô cảm chính trị, suy giảm và mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước.

Nói cách khác, đây là thủ đoạn làm tan rã niềm tin của nhân dân bằng con đường phi cưỡng bức, dùng yếu tố phi chính trị để từng bước chi phối tư tưởng chính trị; không tạo ra sự đối đầu trực tiếp, không kích động bạo lực hay biểu hiện rõ ràng ngay lập tức, mà lặng lẽ len lỏi vào tư duy, làm thay đổi thái độ và hành vi của người dân đối với các vấn đề chính trị-xã hội của đất nước. Chính vì vậy, thủ đoạn này rất khó nắm bắt, khó nhận biết.

Ở nước ta hiện nay, thủ đoạn làm “mềm hóa” ý thức chính trị của quần chúng đang được các thế lực thù địch thực hiện thông qua những hình thức chủ yếu sau:

Cổ xúy lối sống tránh xa chính trị, không cần chính trị: Đây là biểu hiện cơ bản, phổ biến và rất nguy hiểm, bởi nó tấn công trực tiếp vào nhận thức và quan niệm của quần chúng về vai trò của chính trị trong đời sống. Bằng phương thức chung của thủ đoạn “mềm hóa”, các thế lực thù địch không trực tiếp kêu gọi nhân dân “tránh xa chính trị”, mà chúng thường thông qua các luồng truyền dẫn thông tin khác nhau để tạo ra sự đối lập giữa chính trị với đời sống, khiến cho người dân dần có cảm giác chính trị là những công việc “to lớn”, “đại sự”, là công việc của Nhà nước, của một nhóm nhỏ nhà lãnh đạo, còn nhân dân chỉ cần lo đời sống cá nhân. Chúng tán phát những “triết lý” kiểu như “cuộc sống là hữu hạn, vô thường, sẽ thật là hoài phí nếu không biết hưởng thụ”, từ đó khiến cho người dân, nhất là giới trẻ không còn hứng thú với chính trị, coi đó là việc nặng nề, nhàm chán. Lâu dần, sự xa rời chính trị sẽ tạo thành lối sống thờ ơ, vô cảm chính trị trong các tầng lớp nhân dân.

Gieo rắc tư tưởng sợ chính trị, ngại chính trị: Nếu như phương thức thứ nhất nhằm làm cho quần chúng không quan tâm đến chính trị thì phương thức này tập trung vào việc tạo ra tâm lý e dè, sợ hãi khi nhắc đến các vấn đề chính trị-xã hội. Lợi dụng và xuyên tạc những vụ án xét xử các tổ chức, cá nhân phản động, chống phá chính quyền nhân dân (mà chúng gọi là “tù nhân lương tâm”), các thế lực thù địch ra sức truyền bá những quan điểm cho rằng ở Việt Nam “không có dân chủ”, “mọi thứ đều bị kiểm soát”, gieo rắc tâm lý cho rằng “chính trị là nguy hiểm, không nên dính dáng”, “nói về chính trị có thể bị trừng phạt”.

Cùng với đó, chúng tìm cách suy diễn, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là những chính sách, pháp luật có liên quan đến quyền phát ngôn của nhân dân như Luật Tiếp cận thông tin; Luật Báo chí; Luật Bảo vệ bí mật nhà nước; Luật An ninh mạng..., khiến một bộ phận người dân hiểu sai, nảy sinh tâm lý e ngại, hoang mang, sợ bị liên lụy khi bày tỏ chính kiến. Lâu dần, tâm lý “tự kiểm duyệt” hình thành, khiến cho nhiều người chọn im lặng trước cái sai, cái xấu. Khi sợ hãi và thờ ơ lan rộng, xã hội sẽ thiếu những tiếng nói bảo vệ lẽ phải, tạo khoảng trống để tư tưởng sai trái dễ dàng thâm nhập, lan tỏa.

Gieo rắc tâm lý bất lực chính trị: Đây là thủ đoạn mang tính chất phá hoại niềm tin từ bên trong, làm cho quần chúng dần chấp nhận thái độ buông xuôi trước các vấn đề chính trị-xã hội. Các thế lực thù địch tuyên truyền rằng “chính trị là chuyện riêng của quan chức, tiếng nói của dân đen không có ý nghĩa gì”, rằng “mọi thứ đã an bài”, “bầu cử chỉ là hình thức”, “dân chủ chỉ là thủ đoạn”... từ đó làm suy yếu động lực tham gia chính trị của người dân.

Chúng lợi dụng những bất cập, khó khăn trong quá trình phát triển đất nước để khuếch đại sự thất vọng, gieo rắc tâm lý hoài nghi, bế tắc, khiến quần chúng mất niềm tin vào khả năng cải thiện và phát triển của chế độ. Khi tâm lý bất lực chính trị lan rộng, xã hội sẽ trở nên thụ động, nhân dân không còn muốn đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, không còn tin vào khả năng kiến tạo và phát triển của đất nước. Đây chính là bước đệm nguy hiểm dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm suy yếu nội lực của chế độ từ bên trong.

Gieo rắc tâm lý tìm kiếm sự mới mẻ chính trị: Thực tiễn cho thấy, không ai hoàn toàn vô cảm với chính trị theo nghĩa tuyệt đối thờ ơ hay không quan tâm đến các vấn đề chính trị-xã hội. Sự thờ ơ, vô cảm chính trị thực chất là một dạng thái độ, một dạng phản ứng chính trị được lựa chọn có chủ đích của những người đang gặp khủng hoảng về niềm tin chính trị.

Đây là lúc người ta dễ tìm đến những luồng tư tưởng chính trị trái chiều nhất. Chính vì vậy, sau khi gieo vào quần chúng tâm lý bất lực, mất động lực, mất niềm tin với chế độ chính trị hiện tại của đất nước, bước tiếp theo các thế lực thù địch thực hiện là kích thích sự tò mò đối với những “giải pháp thay thế” được chúng khéo léo gợi ý, đề xuất.

Thông qua các phương tiện, nhất là mạng xã hội, chúng vẽ nên một bức tranh hào nhoáng về các thể chế chính trị phương Tây, khẳng định rằng chỉ có đa nguyên, đa đảng mới mang lại dân chủ, tự do thực sự. Chúng cố tình so sánh phiến diện, tô hồng những mô hình chính trị ngoại lai trong khi bóp méo, xuyên tạc con đường phát triển của Việt Nam, làm cho một bộ phận quần chúng, đặc biệt là giới trẻ, nảy sinh tâm lý hoài nghi, muốn “đổi mới” bằng cách thử nghiệm những mô hình xa lạ. Đây là một thủ đoạn đặc biệt nguy hiểm, bởi nó không chỉ làm xói mòn niềm tin vào con đường XHCN mà còn tạo ra những nguy cơ bất ổn về tư tưởng, mở đường cho các hoạt động chống phá mang tính chất lật đổ.

Nhìn tổng thể, thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị không phải là những hành động rời rạc, mà là một chiến lược được các thế lực thù địch triển khai có tổ chức, đồng bộ và tinh vi nhằm từng bước làm suy yếu ý thức chính trị của quần chúng nhân dân. Khi ý thức chính trị bị “mềm hóa”, hệ lụy trở nên đặc biệt nguy hiểm: Nhân dân dần đánh mất ý thức về quyền, nghĩa vụ công dân, thờ ơ với việc tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị, đồng thời làm suy giảm tinh thần trách nhiệm xã hội, làm xói mòn đạo đức, gia tăng chia rẽ và bất đồng. Đáng lo ngại hơn, khoảng trống niềm tin chính trị sẽ trở thành môi trường thuận lợi để các quan điểm sai trái, thù địch thâm nhập, chuyển hóa dần từ thờ ơ sang chống đối, đe dọa trực tiếp sự ổn định chính trị và an ninh quốc gia.

Nhìn vào thực tiễn lịch sử, có thể nhận thấy, thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng vốn dĩ đã được các thế lực thù địch, phản động sử dụng như một phương thức hữu hiệu để chống phá các nước XHCN. Nghiên cứu sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, người ta đã tìm ra những bằng chứng xác thực về một chiến lược chống phá “dài hơi” mà Mỹ và các lực lượng phản động đã tiến hành nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng XHCN trong xã hội Xô viết lúc bấy giờ.

Trong suốt cuộc “Chiến tranh lạnh”, đặc biệt là vào những năm 80, 90 của thế kỷ 20, âm mưu của Mỹ và các thế lực thù địch nhằm tạo ra sự thờ ơ, vô cảm chính trị trong nhân dân Liên Xô là một phần của chiến lược rộng lớn làm suy yếu và cuối cùng là lật đổ hệ thống Xô viết. Một trong những công cụ quan trọng trong chiến lược này là “Dự án Harvard”, được thực hiện trong giai đoạn cải tổ, với mục tiêu làm suy yếu hệ tư tưởng Mác-Lênin và thay thế nó bằng một hệ tư tưởng khác. Đây không chỉ là sự can thiệp vào nhận thức mà còn là cuộc chiến tranh tâm lý nhằm làm cho cả lãnh đạo Liên Xô lẫn quần chúng không nhận thức được sự nguy hiểm từ bên ngoài và không đủ khả năng đối phó.

Phương Tây còn dày công xây dựng cả một ngành khoa học gọi là ngành Kremli học, chuyên nghiên cứu những đặc điểm cá nhân và khả năng tiềm ẩn của những nhân vật chủ chốt trong giới lãnh đạo ở Liên Xô, từ đó thao túng họ theo hướng có lợi cho lợi ích của phương Tây. Vào những năm cải tổ, Mỹ đã phát triển tới 285 trung tâm “Xô viết học” chuyên thu thập thông tin, hoạch định kế hoạch làm suy yếu, tiến tới lật đổ Liên Xô. Những nỗ lực này không chỉ tập trung vào giới lãnh đạo mà còn tác động đến quần chúng, khiến họ trở nên thờ ơ, mất đi sự quan tâm và trách nhiệm đối với các vấn đề chính trị và xã hội.

Đặc biệt, không thể không nhắc đến Chỉ lệnh NSDD-75, được Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan ban hành tháng 1-1983, trong đó xác định rõ những cách thức tấn công vào mặt trận tư tưởng Xô viết nhằm tạo ra một trào lưu vô cảm chính trị trong xã hội, khiến người dân, đặc biệt là giới trẻ, xa rời các vấn đề chính trị, mất niềm tin vào chế độ. Bằng những thủ đoạn chống phá hết sức bài bản, tinh vi và thâm độc ấy, phương Tây, đứng đầu là Mỹ đã thành công trong việc gây mất ổn định nhận thức, mất thái độ trách nhiệm công dân vốn có của người dân Liên Xô đối với những đổi thay của đất nước, biến quần chúng chỉ còn là đám đông thuần túy, khiến cho Đảng và chính quyền Xô viết không còn điểm tựa, dẫn tới sụp đổ nhanh chóng.

Thực tiễn lịch sử ấy là lời cảnh tỉnh cho bất cứ ai có thái độ chủ quan trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù; cho những ai còn hoài nghi về việc có hay không một âm mưu khiến cho nhân dân ta bị sao nhãng, thờ ơ, vô cảm chính trị; cho những ai còn nghĩ rằng “thế lực thù địch” chỉ đơn thuần là một “bóng ma” mà những người làm chính trị đang tự huyễn hoặc. Bất cứ khi nào chúng ta mất cảnh giác trước kẻ thù, quên đi việc nhận diện những âm mưu phá hoại đang ẩn giấu thì khi đó, kẻ thù đã tiến thêm được một bước trên con đường phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Lời dạy của V.I.Lênin vẫn chưa bao giờ cũ: “Chừng nào người ta chưa biết phân biệt được lợi ích của giai cấp này hay của giai cấp khác,... thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”./.
(còn nữa)
Khuyết danh ST.

TOÀN VĂN PHÁT BIỂU KHAI MẠC HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 14 KHÓA XIII CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM!

     Sáng 5/11, Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Hội nghị Trung ương 14) khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng,

Thưa các đồng chí Đại biểu dự Hội nghị.

Hôm nay, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 14 khai mạc trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang phấn đấu hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu công tác năm 2025, các mục tiêu nhiệm kỳ 2020-2025 và công việc chuẩn bị cho Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí Ủy viên Trung ương, các đồng chí đại biểu về dự Hội nghị, xin gửi tới các đồng chí lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, thành công.

Thưa các đồng chí,

Hội nghị lần này tập trung vào hai nội dung lớn, đó là (1) Nhóm vấn đề về công tác Đại hội XIV của Đảng và (2) Nhóm vấn về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Trong từng nhóm vấn đề sẽ có nhiều nội dung cụ thể, đặc biệt trong nhóm vấn đề về Công tác chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng. Tài liệu Hội nghị các đồng chí đã nhận từ Ban tổ chức Hội nghị. Tôi tin rằng các đồng chí đã nghiên cứu kỹ và sẵn sàng đóng góp ý kiến trong các ngày diễn ra Hội nghị.

Thời gian gấp, công việc nhiều, yêu cầu cao, nhưng càng trong thời khắc quyết định, chúng ta càng phải nỗ lực, tranh thủ thời gian, làm việc với tinh thần vượt qua thách thức, vượt qua chính mình với tư duy chiến lược và hành động quyết liệt vì lợi ích quốc gia-dân tộc, vì vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng cộng sản Việt Nam.

Để góp phần cho Hội nghị thành công, tôi có một số điểm gợi mở với các đồng chí như sau:
Thứ nhất: Về công tác chuẩn bị, lựa chọn, giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV của Đảng.

Tại Hội nghị Trung ương 13, trên cơ sở đề nghị của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã biểu quyết thống nhất, tập trung cao, giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (chưa bao gồm các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư đủ điều kiện tái cử và trường hợp đặc biệt) cơ bản đảm bảo cơ cấu, số lượng, tiêu chuẩn, điều kiện, địa bàn, lĩnh vực công tác theo Phương hướng công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng, Quy chế bầu cử trong Đảng và kế hoạch hoạt động của Tiểu Ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng. Đây là cơ sở, kinh nghiệm hết sức quan trọng để chúng ta tiếp tục kế thừa, phát huy trong công tác chuẩn bị, lựa chọn, giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư và nhân sự Lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước khóa XIV, nhiệm kỳ 2026-2031.

Tại Hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương sẽ cho ý kiến về số lượng Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư nhiệm kỳ Đại hội XIV và lựa chọn nhân sự giới thiệu tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV. Đây là công việc đặc biệt hệ trọng, là cốt lõi của cốt lõi vì mọi việc đều quyết định bởi con người. Lựa chọn giới thiệu nhân sự cho Ban lãnh đạo cao nhất của Đảng để lãnh đạo triển khai thực hiện các mục tiêu rất cao, rất quyết liệt của sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới nên càng phải kỹ lưỡng, chắc chắn, thận trọng, chính xác. Tôi cho rằng ngoài các tiêu chuẩn lựa chọn theo quy định như đối với các đồng chí Ủy viên Trung ương mà chúng ta đặt ra tại Hội nghị Trung ương 12 và 13 vừa qua, việc lựa chọn giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV cần nhấn mạnh thêm một số yêu cầu quan trọng phù hợp với giai đoạn cách mạng mới của Đảng ta, đất nước ta.

Thưa các đồng chí,

Trong bối cảnh quốc tế chuyển động nhanh, cạnh tranh chiến lược gay gắt, chuỗi cung ứng toàn cầu luôn biến động, trong nước đòi hỏi phải tiến hành đồng thời chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi mô hình tăng trưởng… nhằm giữ mức tăng trưởng hai con số bền vững trong nhiều năm để đạt hai mục tiêu 100 năm mà Đảng ta đã đề ra và nhân dân mong chờ, vai trò lãnh đạo của Đảng ở đây đặc biệt quan trọng. Do vậy, trách nhiệm "chọn đúng người cho đúng việc", nhất là nhân sự cấp cao, những người lãnh đạo đất nước, là điều kiện tiên quyết để đưa tầm nhìn, khát vọng thành kết quả. Chúng ta phải lựa chọn, giới thiệu những người xứng đáng nhất trong số những người xứng đáng tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Những đồng chí đó phải hội đủ bản lĩnh chính trị, đạo đức liêm chính và nêu gương, đặt lợi ích quốc gia-dân tộc, lợi ích nhân dân lên trên hết; phải có tầm nhìn chiến lược sắc bén và năng lực tổ chức để mở khóa các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, tập hợp sức mạnh. Quan trọng hơn, phải có năng lực tổ chức thực thi: thiết kế mục tiêu rõ ràng, cụ thể, xác lập trách nhiệm cá nhân, đo lường bằng dữ liệu, đưa quyết sách "đi đến cùng" với kỷ luật công vụ cao. Trong kỷ nguyên số, tiêu chí không thể thiếu là năng lực số và tư duy dữ liệu, hiểu biết sâu về kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, quản trị rủi ro và khả năng điều phối liên ngành - liên vùng - liên cấp. Người lãnh đạo cần khả năng huy động nguồn lực xã hội, thiết kế quan hệ đối tác công-tư, tạo lập niềm tin thị trường; khả năng hội nhập quốc tế, ngoại ngữ và văn hóa đối thoại để mở rộng không gian phát triển. Đặc biệt đề cao, coi trọng chất lượng, hiệu quả, sự cống hiến của cán bộ, ưu tiên những cán bộ có những công trình, phương án, dự án mang lại tác động rõ rệt; có năng lực xử lý tình huống trong khủng hoảng (thiên tai, dịch bệnh, tài chính, an ninh phi truyền thống); quyết đoán nhưng biết lắng nghe phản biện, dựa vào dân, vì dân. Người được chọn giới thiệu là người phù hợp nhất với mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới, có độ tin cậy cao, sức bền chịu áp lực, ý chí cải cách, chuyển nguồn lực thành động lực, đưa tiềm năng thành tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số để đất nước vươn tới 2 mục tiêu 100 năm.

Tóm lại, bên cạnh các tiêu chuẩn chung mà các đồng chí được quán triệt, được nêu trong các quy định của Đảng, trong lựa chọn, giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV, các đồng chí đặc biệt quan tâm tới 5 "điểm cộng", đó là (1) Có tầm nhìn chiến lược quốc gia, có khả năng giữ tự chủ của đất nước. (2) Có năng lực lãnh đạo, chỉ huy ở quy mô quốc gia. (3) Có uy tín chính trị, liêm chính ở mức biểu tượng để mọi người noi theo, học tập. (4) Có khả năng triển khai Nghị quyết thành kết quả, thành quả có thể đo đếm được. (5) Có đủ sức bền, cả về tinh thần và thể chất, để chịu được áp lực, cường độ công việc trong nhiệm kỳ XIV và có thể là những nhiệm kỳ tiếp theo.

Thứ hai: Về báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII trình Đại hội XIV của Đảng.

Ngay sau Đại hội XIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã khẩn trương lãnh đạo, chỉ đạo việc nghiên cứu, quan triệt và triển khai tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội với nhiều cách làm mới, bài bản, khoa học và hiệu quả. Kịp thời xem xét, cho chủ trương xử lý nhiều vấn đề khó, phức tạp, tồn đọng, kéo dài, khơi thông nguồn lực cho phát triển đất nước, đặc biệt là phát triển kinh tế- xã hội. Lãnh đạo, chỉ đạo công tác quốc phòng, an ninh, đối ngoại; công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng và hệ thống chính trị. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc của đảng, không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo và phong cách, lề lối làm việc... Nhìn lại nhiệm kỳ XIII, chúng ta đã giữ vững định hướng chiến lược; kiên trì xây dựng, chỉnh đốn Đảng; thúc đẩy hoàn thiện thể chế; kiên định ổn định vĩ mô; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; củng cố quốc phòng-an ninh; mở rộng đối ngoại và hội nhập sâu rộng. Nhiều chủ trương lớn được thể chế hóa, nhiều điểm nghẽn được tháo gỡ, nhiều quyết sách mang tính đột phá được triển khai. Chúng ta đã làm được những việc có thể coi là kỳ tích. Song, với tinh thần tự soi, tự sửa, các đồng chí cũng cần đóng góp ý kiến để Trung ương khóa XIV khắc phục những hạn chế, khuyết điểm như: (i) một số chính sách chậm đi vào cuộc sống, còn nợ văn bản hướng dẫn, tổ chức triển khai chưa đồng đều; (ii) phân cấp, phân quyền chưa thật thông suốt, liên thông dọc-ngang chưa nhịp nhàng, trách nhiệm giải trình có nơi chưa rõ ràng; (iii) tổ chức bộ máy có nơi tinh gọn nhưng chưa đi đôi với nâng cao hiệu lực, hiệu quả; (iv) các "điểm nghẽn" về đất đai, thị trường vốn, lao động có kỹ năng... xử lý chưa dứt điểm; (v) phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đạt nhiều kết quả nhưng công tác phòng ngừa từ sớm, từ xa cần quyết liệt hơn; (vi) truyền thông chính sách chưa đạt yêu cầu "đúng - đủ - kịp thời", niềm tin công chúng có lúc, có nơi bị thử thách.

Thứ ba: Về tổng kết Nghị quyết 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết 18, nhất là giai đoạn từ năm 2024 đến nay, chúng ta đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Bộ máy trong toàn hệ thống chính trị, từ Trung ương đến địa phương, đã được sắp xếp tinh gọn hơn, rõ chức năng, rõ trách nhiệm, giảm tầng nấc trung gian; tinh giản biên chế gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị -xã hội ngày càng hiệu lực, hiệu quả. Ở đây tôi nhấn mạnh đến kết quả tổ chức lại không gian phát triển với mô hình chính quyền địa phương hai cấp để các đồng chí góp ý, tiếp tục hoàn thiện mô hình này.

Việc triển khai nghiêm túc những bài học kinh nghiệm từ tổng kết Nghị quyết 18 có ý nghĩa then chốt để chuyển hệ thống chính trị từ "cồng kềnh - phân tán" sang tinh gọn - liên thông - hiệu lực - hiệu quả, nhất là khi chúng ta tổ chức mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và mở ra không gian phát triển mới sau sắp xếp địa giới hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Đây là điều kiện nền tảng để giữ vững ổn định, phát triển, bảo đảm quản trị quốc gia hiện đại, thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững, nâng chất lượng sống của nhân dân, hướng tới mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", quốc gia hùng cường, thịnh vượng, trường tồn. Về ý nghĩa, tổng kết cho thấy phải chuyển từ tư duy "quản lý theo đầu mối hành chính" sang "quản trị theo chức năng - kết quả"; giảm tầng nấc trung gian, làm rõ thẩm quyền và trách nhiệm, "một việc - một cơ quan chủ trì - một người chịu trách nhiệm", gắn phân cấp mạnh với cơ chế kiểm soát quyền lực minh bạch. Về tầm quan trọng, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp giúp cấp Tỉnh tập trung chiến lược, quy hoạch, điều phối liên vùng và các dịch vụ công cấp độ cao, trong khi Xã bám dân, giải quyết nhanh nhu cầu hàng ngày; khi ranh giới hành chính được sắp xếp lại, ta có cơ hội tái cấu trúc mạng lưới đô thị - nông thôn, hình thành các cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, khai thác quy mô thị trường lớn hơn và giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp, người dân. Về giá trị thực tiễn, những bài học đã kiểm chứng gồm: chuẩn hóa quy trình và dữ liệu, liên thông cơ sở dữ liệu quốc gia, vận hành "một cửa - một chuẩn - một lần khai", đo lường bằng sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp. Làm được như vậy, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và không gian phát triển mới sẽ trở thành đòn bẩy thể chế, chuyển nguồn lực thành động lực, đưa tiềm năng thành tăng trưởng cao và bền vững, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu 100 năm trong một trật tự khu vực và thế giới đầy biến động.

Để mô hình chính quyền địa phương 2 cấp phát huy hiệu quả tối đa, cần bảo đảm tính liên thông, bổ trợ của chính quyền 3 cấp (Trung ương - Tỉnh/thành phố - Xã/phường) theo ba trục: thể chế - nguồn lực - dữ liệu. Trong cấu trúc liên thông ấy, chính quyền Trung ương giữ vai trò điều hành, kiến tạo và bảo đảm thống nhất trên toàn hệ thống.

Khi ba cấp chính quyền vận hành như một chỉnh thể, Trung ương kiến tạo chuẩn mực và điều phối liên vùng; cấp tỉnh tổ chức chiến lược, phân bổ nguồn lực, giám sát kết quả; cấp cơ sở phục vụ trực tiếp, giải quyết nhanh và phản hồi dữ liệu thực tế, thì mục tiêu giữ vững hòa bình, ổn định, thúc đẩy tăng trưởng nhanh nhưng bền vững, nâng cao phúc lợi, sẽ có nền tảng vững chắc. Kết lại, triển khai bài học kinh nghiệm của Nghị quyết 18 theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, liên thông 3 cấp, với Trung ương làm "kiến trúc sư thể chế" sẽ là đòn bẩy quyết định để hệ thống chính trị tinh gọn - minh bạch - hiệu quả, qua đó đưa đất nước tiến nhanh, vững chắc tới hùng cường, thịnh vượng, nhân dân ấm no, hạnh phúc.

Thưa các đồng chí,

Chúng ta kỳ vọng Hội nghị Trung ương 14 sẽ tạo đồng thuận rất cao về: Tầm nhìn phát triển và những định hướng chiến lược trình Đại hội XIV; Danh sách nhân sự giới thiệu tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư thực sự tiêu biểu, bảo đảm tính kế thừa và đột phá; Khuôn khổ thể chế cho một bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu, phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực; Cơ chế thực thi rõ người, rõ việc, rõ thời hạn, rõ nguồn lực, rõ trách nhiệm giải trình.

Thưa các đồng chí,

Đất nước ta đứng trước thời cơ lịch sử để bứt phá, đồng thời đối mặt không ít thách thức chưa từng có. Muốn giữ vững hòa bình, ổn định, phát triển nhanh và bền vững, để nhân dân thực sự ấm no, hạnh phúc, để đất nước ngày càng hùng cường, thịnh vượng, chúng ta phải quyết định đúng và làm đến cùng những công việc hệ trọng Ban Chấp hành Trung ương đã đề ra. Mỗi ý kiến phát biểu hôm nay không chỉ đóng góp cho Hội nghị này mà còn đặt nền cho một nhiệm kỳ mới, tạo lực đẩy cho cả một giai đoạn phát triển.

Với tinh thần đó, tôi đề nghị các đồng chí nêu cao trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân, phát huy trí tuệ tập thể, thẳng thắn, xây dựng, quyết đoán trong lựa chọn phương án tối ưu vì lợi ích quốc gia-dân tộc cũng như trong đóng góp ý kiến với các nội dung trong chương trình nghị sự của Hội nghị.

Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi tuyên bố Khai mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 14 của Đảng.

Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp./.


Yêu nước ST.

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “TĂNG TUỔI NGHỈ HƯU LÊN 65, VIỆT NAM SẼ CÓ THÊM HƠN 5 TRIỆU LAO ĐỘNG/ NĂM”!

     Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thiện Nhân tính toán, tăng tuổi nghỉ hưu lên 65 tuổi sẽ giúp Việt Nam có thêm hơn 5 triệu lao động mỗi năm, bảo đảm nguồn nhân lực cho phát triển bền vững.

Phát biểu tại Quốc hội chiều 30/10, GS Nguyễn Thiện Nhân (đoàn thành phố Hồ Chí Minh) khuyến cáo, Việt Nam hiện đối mặt hai thách thức lớn: nguy cơ mất cân đối quỹ hưu trí trong tương lai và yêu cầu đạt tốc độ tăng trưởng 10% mỗi năm trong 20 năm tới.

Theo ông, đột phá tăng năng suất lao động và đảm bảo ổn định quy mô lao động là hai giải pháp cốt lõi, trong đó tăng tuổi nghỉ hưu là chính sách mang tính chiến lược để bảo đảm nguồn lực lao động và an sinh xã hội lâu dài.

Quỹ hưu trí ra sao khi dân số già hóa nhanh?

GS Nguyễn Thiện Nhân nêu dẫn chứng nhiều quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao hàng chục năm nhưng vẫn không bảo đảm mức sống cho người hưu trí.

"Hàn Quốc là ví dụ điển hình. Trải qua 43 năm tăng trưởng bình quân hơn 9%/năm, quỹ hưu trí lớn thứ ba thế giới của nước này vẫn được dự báo sẽ vỡ vào năm 2055. Trung Quốc cũng cảnh báo quỹ hưu trí nhà nước cạn vào năm 2035 khi số người về hưu tăng từ 300 triệu lên 400 triệu", đại biểu cho biết. 

Theo ông, nguyên nhân cốt lõi là mức sinh thấp kéo dài khiến số người lao động giảm, trong khi số người già tăng nhanh.

"Năm 2023, ở Hàn Quốc cứ 3,3 người lao động thì có một người hưu Đến năm 2055, chỉ còn 0,8 người lao động phải nuôi một người hưu ông nói.

Đại biểu thành phố Hồ Chí Minh cho rằng tình hình tương tự đang hình thành ở Việt Nam. Năm 2000, mỗi người hưu được "nuôi" bởi 7 người lao động, đến năm 2025 chỉ còn 4,3 người, năm 2045 là 2,4 người và đến năm 2100 chỉ còn 1,3 người.

GS Nhân tính ra, quy luật của Hàn Quốc, Trung Quốc là sau 37 năm quy mô lao động đạt đỉnh thì quỹ hưu trí mất cân đối. 

Áp dụng phép tính với Việt Nam, rủi ro với quỹ như vậy sẽ xuất hiện khoảng năm 2070. 

Ông cho rằng nếu không cải cách sớm, lương hưu có thể giảm mạnh, như Hàn Quốc - nơi 40% người nhận lương hưu bị xếp vào nhóm nghèo tương đối. Vì vậy, đại biểu kiến nghị trước năm 2030 cần xây dựng một đề án cải cách toàn diện bảo hiểm xã hội để người về hưu vẫn có cuộc sống đàng hoàng, tương xứng với sự phát triển của đất nước.

Thêm 5 triệu lao động/năm là bằng dân số 1 nước

Theo GS Nguyễn Thiện Nhân, mục tiêu tăng trưởng GDP 10%/năm là khả thi nếu năng suất lao động tăng vượt trội và quy mô lao động không suy giảm.

"Giai đoạn 2021-2025, năng suất tăng 5,1% thì lao động phải tăng 1,14%/năm để GDP đạt 6,3%. Nhưng từ năm 2025, quy mô lao động đạt đỉnh và bắt đầu giảm", ông nói. 

Dự báo giai đoạn 2026-2030, lực lượng lao động chỉ tăng 0,7%/năm, trong khi để đạt GDP 10%, cần tăng ít nhất 1,45%. Nếu không có biện pháp bù đắp, tốc độ tăng trưởng thực tế chỉ đạt 7-8%/năm.

"Do đó, cần có đột phá về năng suất lao động thông qua khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố, đồng thời tận dụng hiệu quả nguồn nhân lực hiện có", ông phân tích.

Ngoài ra, nguyên Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh lập luận, hiện tuổi nghỉ hưu trung bình của Việt Nam là 59 đối với nam và 54 với nữ và đang trong lộ trình tăng dần lên 62 với nam (hoàn thành năm 2028) và 60 với nữ (hoàn thành năm 2035).

"Nếu Việt Nam tiếp tục nâng tuổi nghỉ hưu lên 65 như nhiều nước, lực lượng lao động sẽ thêm được hơn 5 triệu người mỗi năm", ông nói.

Theo tính toán của ông, con số này tương đương dân số của một quốc gia phát triển như Phần Lan, Na Uy hay Đan Mạch. 

Việc tăng tuổi nghỉ hưu có lộ trình trong 10 năm tới sẽ giúp Việt Nam có đủ lao động để đạt mục tiêu tăng trưởng 10%/năm mà không cần phụ thuộc vào dân số trẻ như trước đây.

GS Nhân kiến nghị: "Chúng ta cần sớm có lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu trước năm 2035 để tận dụng nguồn lực quý giá này, đồng thời phải có giải pháp nâng mức sinh từ 1,91 lên 2,1 trước năm 2035 để quy mô lao động không giảm và bảo đảm phát triển bền vững về kinh tế, con người và dân tộc"./.
Môi trường ST.

DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA!

     Theo sử sách nước ta, của Trung Quốc và các giáo sĩ đương thời ghi lại cho biết, vua Quang Trung đã có kế hoạch đánh Gia Định với một lực lượng quân chủ lực huy động đến 30 vạn dự án của chiến dịch như sau:
1. Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc tích cực chuẩn bị lực lượng, đóng thêm thuyền chiến phối hợp với quân “Tàu ô” đánh thẳng vào Biên Hoà, Gia Định.

2. Bộ binh từ Phú Xuân theo đường thượng đạo qua Lào, xuống Chân Lạp, phối hợp với quân Chân Lạp, từ phía Tây đánh thẳng vào Sài Gòn và chặn đường biên giới Chân Lạp không cho địch tháo lui.

3. Thuỷ quân từ Phú Xuân thẳng vào Côn Lôn, Hà Tiên, đánh ngược lên Sài Gòn, chặn mọi ngả đường không cho quân Nguyễn Ánh trốn thoát ra các hải đảo hoặc trốn chạy sang Xiêm.

Để chu đáo trong việc chuẩn bị hành quân và cũng để yên lòng dân hai phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn, ngày 28 tháng 8 năm 1792 (tức ngày 10 tháng 7 năm Quang Trung thứ 5), vua Quang Trung có lệnh truyền cho quan lại và quân dân hai phủ có đoạn như sau:
“Bây giờ theo lệnh của Hoàng đại huynh, Trẫm sẽ thân chinh cầm quân theo hai đường thuỷ bộ vào dẹp giặc, Trẫm sẽ đập tan bọn cựu Nguyễn dễ dàng như đập tan một cành củi khô, một thanh gỗ mục. Còn nhân dân hai phủ, các ngươi đừng lo âu đừng sợ giặc, các ngươi hãy để mắt nhìn, để tai nghe xem Trẫm làm gì. Các ngươi sẽ thấy rằng, Trẫm chỉ đánh một trận là Bình Khang, Nha Trang, như mảnh xương tàn của các thây vua Gia Định. Cũng như Phú Yên đã từng là trung tâm chiến trường và suốt từ dải Bình Thuận vào tới Chân Lạp sẽ tức khắc được thu phục.
Như thế để ai nấy đều hiểu rằng Trẫm và Hoàng đại huynh là hai anh em ruột, là cùng chung một dòng máu, Trẫm không bao giờ quên điều đó”.
Tháng 9 năm 1792, thời điểm thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao do phái đoàn Vũ Văn Dũng đang có mặt tại cung điện nhà Thanh ở Bắc Kinh và cũng vào lúc Quang Trung ở Phú Xuân, Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn đang ráo riết chuẩn bị triển khai kế hoạch đánh tập đoàn Nguyễn Ánh và bọn can thiệp Pháp ở Gia Định.
Bài hịch của Quang Trung truyền đi, được binh sĩ và nhân dân nô nức chờ đợi. Nhưng chưa đầy 20 ngày sau, ngày 16 tháng 9 năm 1792, sau một cơn bạo bệnh, Quang Trung đã qua đời. Đây là một tổn thất lớn cho sự nghiệp Tây Sơn và cả dân tộc, không gì bù đắp nổi.
Nếu việc đánh Gia Định được triển khai đúng như kế hoạch của vua Quang Trung đã đề ra, chắc tình thế đất nước từ đó và cả sau này có thể lạc quan hơn.
Nhưng Quang Trung đã qua đời! Như một ngôi sao sáng, vụt tắt. Sự nghiệp đánh giặc phải chịu lỡ làng, một hoài bão đấu tranh thống nhất và xây dựng đất nước giàu mạnh phải chịu dở dang. Rồi còn chịu mang tiếng vì có lỗi lầm là đã chọn người kế tục không xứng đáng.
Nhưng hoài bão về đánh giặc, dựng nước của vua Quang Trung còn nóng hổi sinh khí cũng như thực tiễn và kinh nghiệm của nó đối với thời đại chúng ta./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TRIỂN KHAI ĐỢT THI ĐUA LẬP THÀNH TÍCH CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI LẦN THỨ XIV CỦA ĐẢNG!

     Đợt thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội lần thứ XIV của Đảng được triển khai thực hiện từ tháng 10/2025 đến khi tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 2437/QĐ-TTg ngày 4/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai Đợt thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội lần thứ XIV của Đảng; tăng tốc, bứt phá hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

Mục đích của Kế hoạch là phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị tạo khí thế thi đua sôi nổi, khơi dậy tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển mạnh mẽ của toàn dân tộc, lòng yêu nước và sức sáng tạo của mỗi tập thể, cá nhân trên tất cả các lĩnh vực, quyết tâm phấn đấu hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2025 và giai đoạn 2021-2025, lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Đợt thi đua được triển khai sâu rộng, đồng bộ, xuyên suốt từ trung ương đến cơ sở, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, với nội dung, hình thức phong phú gắn với thực hiện các Nghị quyết của Trung ương về cải cách hành chính, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, phát triển nguồn nhân lực, chuyển đổi số quốc gia.

Đợt thi đua được triển khai thực hiện từ tháng 10/2025 đến khi tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Thông qua Đợt thi đua, kịp thời biểu dương, tôn vinh, khen thưởng, nhân rộng các điển hình tiên tiến, các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc tiêu biểu trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội.

Nội dung đợt thi đua
Để toàn dân đồng lòng, thi đua hành động, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, hướng tới Đại hội XIV của Đảng thành công, các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp và mọi người dân triển khai Đợt thi đua với tinh thần "quyết tâm cao, hành động quyết liệt, hiệu quả thiết thực," tập trung thi đua thực hiện các nội dung chủ yếu sau:

Thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2025 và Kế hoạch 5 năm (2021-2025) theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, các đề án, chương trình được Chính phủ giao theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và các Nghị quyết của Quốc hội.

Thi đua thực hiện tốt công tác chuẩn bị và tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng bảo đảm đúng quy định.

Thi đua xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện tốt công tác cán bộ, chống chủ nghĩa cá nhân, tiêu cực, tăng cường phối hợp giữa các cấp chính quyền với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội.

Thi đua đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ về thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, phát huy mọi động lực, đột phá mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, thu hút, trọng dụng nhân tài, đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới.

Thi đua hoàn thành, hoàn thành vượt mức các công trình phát triển kết cấu hạ tầng, kinh tế vùng, kinh tế biển, lấy các đô thị làm động lực phát triển vùng và đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới.

Tiêu chí thi đua
Kế hoạch đề ra các tiêu chí thi đua cụ thể như sau:

Đối với các bộ, ban, ngành trung ương

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao; đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, tháo gỡ kịp thời dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt, khơi thông và giải phóng sức sản xuất, mọi nguồn lực, đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số; lao động sáng tạo, hoàn thành đúng tiến độ hoặc vượt kế hoạch, đảm bảo chất lượng các công trình, dự án, nhất là các dự án quan trọng quốc gia, các dự án có sức ảnh hưởng, hạ tầng số, các công trình an sinh xã hội ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để tạo sự đột phá, đảm bảo quốc phòng, an ninh.

Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội năm 2025, bảo đảm ổn định chính trị, giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội.

Tổ chức tốt công tác tuyên truyền, cổ vũ cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản trị, thi đua xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số, tăng cường phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong điều hành, tổ chức thực hiện, làm tốt công tác dân vận, đối thoại với nhân dân, giải quyết hiệu quả đơn thư, khiếu nại, tố cáo.

Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội

Tổ chức sâu rộng các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động đến đông đảo các tầng lớp Nhân dân, phát huy tinh thần thi đua sáng tạo, vận động mọi nguồn lực xã hội tạo nên sức mạnh góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh.

Phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội trong việc thực hành dân chủ và phát huy quyền dân chủ của Nhân dân trong đời sống xã hội. Thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội, đặc biệt là giám sát quá trình vận hành bộ máy chính quyền theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp; giám sát thực hiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Đối với các doanh nghiệp

Sản xuất kinh doanh hiệu quả, bền vững, hợp pháp. Giải quyết nhiều việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, đồng hành cùng đất nước thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Có nhiều sáng chế, phát minh, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, biện pháp hợp lý hóa sản xuất, ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất kinh doanh, sử dụng năng lượng hiệu quả, sản xuất xanh-sạch-tiết kiệm.

Nội bộ đoàn kết. Thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, tham gia tích cực các hoạt động vì cộng đồng, đóng góp tích cực trong các phong trào thi đua do Thủ tướng Chính phủ phát động và các phong trào thi đua của bộ, ngành, địa phương.

Đối với cá nhân

Cán bộ, công chức, viên chức gương mẫu chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có sáng kiến, giải pháp sáng tạo trong việc xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện cơ chế, chính sách, quy định, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đã đề ra tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng với phương châm "đổi mới tư duy, quyết tâm hành động, gương mẫu đi đầu, tận tâm cống hiến, kiến tạo phát triển, vì dân phục vụ."

Mọi người dân tiếp tục nêu cao lòng yêu nước, khát vọng cống hiến, đoàn kết một lòng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, ra sức thi đua lao động sản xuất, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ môi trường, bảo vệ độc lập chủ quyền đất nước./.
Yêu nước ST.