Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2025

BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI TRONG TƯ DUY CHIẾN LƯỢC VỀ QUỐC PHÒNG, AN NINH!

     Với tư duy đổi mới, dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng được chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, cập nhật, chỉnh lý, bổ sung nhiều lần qua các hội nghị Trung ương, hội thảo, góp ý của các nhà khoa học, bảo đảm ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, dễ hiểu, dễ thực hiện. Kết cấu, nội dung các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng có nhiều đổi mới, sáng tạo, thể hiện tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá khách quan tình hình, đề ra các quan điểm, mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp đột phá để phát triển nhanh và bền vững đất nước, thể hiện khát vọng vươn mình mạnh mẽ của cả dân tộc trong kỷ nguyên mới. Những điểm mới trong dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng về lĩnh vực quốc phòng, an ninh (QPAN) thể hiện một số vấn đề sau:

Một là, nhất quán quan điểm Đại hội XIII về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, dự thảo văn kiện Đại hội XIV đề cao việc phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ con người Việt Nam và vai trò "thế trận lòng dân": Đại hội XIII xác định phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ Tổ quốc (BVTQ); còn dự thảo văn kiện Đại hội XIV đã nhấn mạnh, đề cao việc “phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ con người Việt Nam”, bổ sung nội dung về sức mạnh của "thế trận lòng dân". Đại hội XIII cũng có định hướng việc xây dựng và phát huy mạnh mẽ "thế trận lòng dân" trong nền quốc phòng toàn dân (QPTD) và nền an ninh nhân dân; còn dự thảo Đại hội XIV là phát huy sức mạnh "thế trận lòng dân" trong sự nghiệp BVTQ. Điểm mới là đề cao, nhấn mạnh “lòng dân” và vai trò con người, với tư cách chủ thể của sự nghiệp xây dựng và BVTQ trong kỷ nguyên mới. Đây là định hướng rất quan trọng và cần thiết, thể hiện rõ quan điểm rất khoa học, đúng đắn của Đảng trong cổ vũ, động viên, phát huy nhân tố con người và vai trò "thế trận lòng dân" trong sự nghiệp xây dựng và BVTQ.

Hai là, đề cao tính chủ động trong BVTQ: Đại hội XIII đã xác định quan điểm, phương châm “kiên quyết, kiên trì” trong BVTQ. Từ nhận thức sâu sắc yêu cầu BVTQ từ sớm, từ xa, "giữ nước từ khi nước chưa nguy" mà dự thảo văn kiện Đại hội XIV bổ sung định hướng mới “Chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, BVTQ từ sớm, từ xa” để định hướng nhận thức sự cần thiết phải “thấy trước, biết trước, chuẩn bị trước” tạo tâm thế chủ động, đi trước, chuẩn bị trước, ngăn chặn từ trước, từ xa, xử lý sớm các nguy cơ, không để đất nước bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Ba là, nhấn mạnh yếu tố gắn kết, hài hòa trong kết hợp các thành tố, lĩnh vực của đời sống xã hội: Nhất quán với Đại hội XIII về “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với QPAN và giữa QPAN với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”, dự thảo văn kiện Đại hội XIV đề cao tính hài hòa và bổ sung lĩnh vực “bảo vệ môi trường” trong kết hợp. “Gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố QPAN, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế”. Trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững cũng như nguy cơ, thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng, nhất là ô nhiễm môi trường sinh thái, Đảng ta đã chủ trương đưa nhiệm vụ bảo vệ môi trường cấp thiết, quan trọng phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa trong phát triển kinh tế-xã hội, củng cố QPAN cũng như các mặt hoạt động khác của đời sống xã hội.

Bốn là, lần đầu tiên Đảng ta đưa quan điểm chỉ đạo “tự chủ về chiến lược” vào dự thảo văn kiện đại hội: Trước tình hình cạnh tranh chiến lược trên thế giới, khu vực ngày càng gay gắt, quyết liệt, thậm chí đối đầu trực diện và những hạn chế, bị động trong sự nghiệp xây dựng và BVTQ, đặt ra phải đề cao tự chủ chiến lược. Quan điểm này góp phần khẳng định vị thế, uy tín của đất nước, đồng thời cũng khẳng định vị trí, vai trò Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa bước ngoặt, là dấu mốc đặc biệt quan trọng trên con đường phát triển của đất nước.

Năm là, đẩy nhanh lộ trình xây dựng Quân đội nhân dân (QĐND), Công an nhân dân (CAND) cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại sớm hơn một nhiệm kỳ: Đại hội XIII xác định phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND, CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Dự thảo văn kiện Đại hội XIV xác định “Xây dựng QĐND, CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân”. Đây là chủ trương được tính toán kỹ lưỡng, khoa học, có cơ sở lý luận, thực tiễn; nghiên cứu, nắm chắc các nguồn lực tự nhiên, bên trong, bên ngoài của đất nước và LLVT để đẩy sớm việc xây dựng QĐND, CAND hiện đại. Đó là bước đột phá, thể hiện quyết tâm cao, nỗ lực lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong xây dựng LLVT đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ BVTQ trong kỷ nguyên mới.

Sáu là, lần đầu tiên đưa vào văn kiện đại hội nội dung về giữ vững và phát huy truyền thống của QĐND; phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, chức năng của Quân đội và truyền thống “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ” của CAND: Nhất quán với văn kiện các đại hội trước về xây dựng QĐND, CAND vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhưng điểm mới là dự thảo văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh “Giữ vững và phát huy truyền thống QĐND, phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ và phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam; thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Tiếp tục hoàn chỉnh tổ chức, bộ máy theo hướng “bộ tinh, tỉnh toàn diện, xã vững mạnh bám cơ sở”; giữ vững và phát huy truyền thống “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ” của CAND. Điều này thể hiện sự nhận thức sâu sắc, sự ghi nhận và đánh giá cao của Đảng, của nhân dân về vai trò, giá trị lớn lao của truyền thống, văn hóa, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, chức năng của Quân đội, truyền thống của Công an. Nó vừa là định hướng nhưng cũng là chủ trương, giải pháp chiến lược để ngăn chặn, đẩy lùi, đánh bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội, LLVT, các biểu hiện “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng LLVT nhân dân thực sự là lực lượng cách mạng, của dân, do dân, vì dân.

Bảy là, xây dựng nền quốc phòng hiện đại: Đây là bước phát triển mới, thể hiện tư duy mới, lý luận mới về nền quốc phòng Việt Nam. Trước sự phát triển của khoa học, công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số, tr.í t.uệ nh.ân t.ạo (AI) tạo ra nhiều đột phá mới, nhưng cũng tạo ra nhiều thách thức cho QPAN và BVTQ của tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Nền quốc phòng hiện đại là xu thế tất yếu, hướng đi không thể đảo ngược, mục tiêu quan trọng của Việt Nam để BVTQ trong kỷ nguyên mới.

Tám là, đột phá về công nghiệp quốc phòng, an ninh: Đại hội XIII định hướng “Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng”; dự thảo văn kiện Đại hội XIV xác định: Đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp QPAN tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại. Điều này thể hiện sự phát triển, nhận thức sâu sắc vai trò của công nghiệp QPAN trong nền QPTD; vai trò tự chủ, nhất là vũ khí, trang bị của LLVT, vai trò của kinh tế quốc phòng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế quốc dân. Khi và chỉ khi chúng ta tự chủ, tự lực, tự cường xây dựng, phát triển được nền công nghiệp QPAN hiện đại và lưỡng dụng thì chúng ta mới có thể có được nền QPTD hiện đại, có được nền tảng vững chắc, công cụ, phương tiện, phương thức hiện đại để chủ động chiến lược trong sự nghiệp BVTQ thời kỳ mới.

Những điểm mới về QPAN trong dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng là những vấn đề rất quan trọng, vô cùng cần thiết để củng cố, phát triển nền QPAN hiện đại, xây dựng LLVT nhân dân thực sự cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ sức làm nòng cốt trong sự nghiệp BVTQ trong kỷ nguyên mới. Những vấn đề mới có sự kế thừa, phát triển của các kỳ đại hội trước; là những nội dung, công trình nghiên cứu rất khoa học, công phu với tư duy đổi mới, sáng tạo, được xây dựng, “thổi hồn” bởi những quyết sách chiến lược mới mang tính cách mạng của Đảng. Đây là những định hướng căn bản để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân triển khai thực hiện thắng lợi sự nghiệp BVTQ trong kỷ nguyên mới.

Những vấn đề trong lĩnh vực QPAN cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, làm rõ là:
1. Trước yêu cầu xây dựng và BVTQ trong kỷ nguyên mới, cần tiếp tục khẳng định và phát triển phương châm "4 kiên" trong BVTQ, đó là “kiên định, kiên quyết, kiên trì, kiên cường”. “Kiên định, kiên quyết, kiên trì” đã được xác định rõ trong Chiến lược BVTQ trong tình hình mới. Kiên cường đã được chỉ ra trong chiến lược quốc phòng Việt Nam. Vì vậy, trong kỷ nguyên mới cần hội tụ đầy đủ các thành tố cần thiết của phương châm BVTQ để chỉ đạo thực tiễn sự nghiệp BVTQ giành thắng lợi.

2. Cần nghiên cứu, bổ sung, làm rõ nền QPTD trong kỷ nguyên mới phải là một nền QPTD độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, linh hoạt, hiện đại, để bảo đảm sự nghiệp QPAN của đất nước luôn độc lập, tự chủ trong xác định phương hướng, mục tiêu, lộ trình bước đi; bảo đảm tính tự lực, tự cường không lệ thuộc vào bên ngoài trên cơ sở tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế chủ động, sâu rộng, phù hợp.

3. Bổ sung, làm rõ định hướng về tiếp tục tham mưu hoạch định, bổ sung, phát triển, triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chiến lược về quân sự, QPAN hướng vào các nội dung mới trong dự thảo văn kiện Đại hội XIV với mục tiêu, lộ trình, bước đi phù hợp.

4. Bổ sung định hướng việc kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với QPAN, bảo vệ môi trường trên các nội dung sau: Gắn kết phát triển kinh tế số với BVTQ trên không gian mạng; phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn với bảo vệ môi trường; phát triển kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền biển, đảo; phát triển kinh tế vùng gắn với xây dựng phòng thủ quân khu và khu vực phòng thủ; phát triển kinh tế đối ngoại với xây dựng thế trận, vành đai an ninh BVTQ từ sớm, từ xa, từ bên ngoài lãnh thổ, biên giới hành chính quốc gia; phát triển kinh tế tầm thấp, kinh tế vũ trụ với bảo vệ không phận quốc gia và không gian vũ trụ.

Để thực hiện được những định hướng đó, ngay từ bây giờ chúng ta cần thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Một là, làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược về QPAN. Quán triệt phương châm chủ động để dự báo sát đúng tình hình thế giới, khu vực, trong nước, các tình huống chiến lược, chuẩn bị trước các phương án, sẵn sàng nguồn lực, lực lượng, phương tiện, phương thức để xử lý thắng lợi mọi tình huống QPAN, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Hai là, cụ thể hóa, thiết kế các chiến lược, chương trình, dự án, đề án cả ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, chú trọng chiến lược, dài hạn để có cơ sở triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng, nhất là các nội dung mới về QPAN và BVTQ.

Ba là, chuẩn bị các nguồn lực để xây dựng Quân đội, Công an, nền QPTD hiện đại, nhất là nguồn lực con người. Để có thể tự chủ chiến lược đòi hỏi phải nhận thức sâu sắc vai trò chủ thể và nguồn lực, do đó phải chuẩn bị tâm thế, xây dựng, phát huy vai trò công dân số, quân nhân số trong kỷ nguyên mới.

Bốn là, tăng cường hội nhập quốc tế và đối ngoại, nhất là đối ngoại QPAN để phát huy vai trò tiên phong huy động nguồn lực quốc tế, xây dựng lòng tin chiến lược, sự tương trợ, giúp đỡ của các nước đối với sự nghiệp xây dựng và BVTQ Việt Nam trong kỷ nguyên mới./.
Theo QĐND
Yêu nước ST.

LIÊM CHÍNH - PHẨM CHẤT QUAN TRỌNG HÀNG ĐẦU CỦA NGƯỜI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO GƯƠNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH!

     Đảng ta thường xuyên nhấn mạnh, một trong những yêu cầu quan trọng trong công tác cán bộ là tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên,… gắn với tiếp tục đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Để xây dựng đạo đức trong sáng, tận tâm phục vụ nhân dân đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, thì việc vận dụng sáng tạo tư tưởng về “liêm chính” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết.
 
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Liêm”
 
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên; vì theo Người, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc,... Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người đã căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi người cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng; bởi lẽ, “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng một hệ thống chuẩn mực đạo đức cách mạng để cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện và chính Người là tấm gương sáng, suốt đời gương mẫu thực hiện. Ngay từ thời kỳ chuẩn bị thành lập Đảng, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh” (năm 1927), Người đã nêu ra những yêu cầu về tư cách một người cách mạng phải có, như “vị công vô tư; không hiếu danh, không kiêu ngạo; nói thì phải làm; giữ chủ nghĩa cho vững,...”. Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, Người nhấn mạnh tới việc phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, xem tham ô, lãng phí, quan liêu là “thứ giặc nội xâm”. Để Đảng ta thật sự là một đảng lãnh đạo và là đầy tớ thật trung thành và tận tụy của nhân dân, thì trước hết cán bộ, đảng viên phải thực hành đoàn kết và thanh khiết.
 
Đối với cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm xây dựng phẩm chất “Liêm chính”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Liêm là trong sạch, không tham lam; luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân, không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước và của nhân dân; không tham địa vị, tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà người cách mạng luôn quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa; chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ. Để mọi người hiểu rõ hơn về Liêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đi sâu phân tích khái niệm tương phản - “bất Liêm”: “tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM”. Thực tiễn đã chứng minh là sự bất liêm có vô vàn biểu hiện, như tham tiền dẫn đến việc đục khoét của dân, trộm cắp của công, buôn gian bán lận, đầu cơ tích trữ, cho vay nặng lãi, cờ bạc, trộm cắp,...; tham danh vọng, địa vị dẫn đến việc dìm người giỏi, mua bán danh vị, nịnh trên, nẹt dưới; tham nhàn dẫn đến việc ngại khó, sợ khổ, đùn đẩy công việc cho người khác, nhưng khi có công thì tranh, khi có tội thì đổ vấy; tham sống dẫn đến sự hèn nhát, gặp giặc không dám đánh, thấy việc nghĩa không dám làm. Người cho rằng: “Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp. Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân”. Sau khi luận giải về Liêm và giá trị của nó, Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về đối tượng thực hành chữ Liêm. Người viết: “Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là LIÊM, chữ liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp,... Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hoà, chữ LIÊM có nghĩa rộng hơn; là mọi người đều phải LIÊM”; tức là mọi người đều phải trong sạch, không tham lam. Sự thực hành chữ Liêm sẽ giúp tất cả mọi người tiến tới sự hoàn thiện về nhân cách và tạo ra sự chấn hưng đạo đức trên quy mô dân tộc.
 
Để thực hiện chữ Liêm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và kỷ cương pháp luật, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên; bởi vì, cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ; dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp “đục khoét”, có dịp ăn của “đút”, có dịp “dĩ công vi tư”. Người nhấn mạnh, cán bộ phải ra sức thực hành chữ Liêm bằng những việc cụ thể, như tuyệt đối không đem của công dùng vào việc tư, không động đến cái kim, sợi chỉ của dân,... mua bán phải công bình, mượn cái gì phải trả tử tế, hỏng cái gì phải bồi thường.
 
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Chính”
 
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bên cạnh đức Liêm thì người cán bộ, đảng viên rất cần có đức Chính, vì theo Người: “Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn”; “Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh”. Người có đức Chính là người chính trực, đúng mực, công tâm, luôn hành động theo lẽ phải, kiên quyết bảo vệ lẽ phải và chính nghĩa có ý nghĩa quan trọng, vị trí rất lớn trong “tứ đức”. Người khẳng định: “CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn”. Tức là, dù Chính là hệ quả của Cần, Kiệm, Liêm, nhưng vẫn có tính độc lập tương đối, vì nhiều khi có đủ Cần, Kiệm, Liêm, mà vẫn không thể Chính. Đức Chính đòi hỏi con người phải có sự chính trực, dũng cảm đấu tranh với cái xấu để bảo vệ lẽ phải; do đó, Chính là đức khó thực hiện nhất trong “tứ đức”, là sự biểu hiện đầy đủ nhất của nhân cách con người.
 
Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao vai trò của Chính thông qua việc coi Chính là cơ sở để phân định việc và người. Người cho rằng: “Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm 2 thứ: việc CHÍNH và việc TÀ”; vì con người thì phụ thuộc vào việc họ làm mà chia ra thành người thiện và người ác. Như vậy, đức Chính thấm sâu, hiển hiện, chi phối mọi công việc, mọi con người trong xã hội; ý nghĩa của Chính vô cùng sâu rộng, nhưng vươn tới sự Chính thì rất khó khăn vì con người vốn “nhân vô thập toàn”. Người còn chỉ ra những biểu hiện cụ thể của đức Chính. Khi mỗi người luôn có 3 mối quan hệ là với mình, với người, với việc, thì người có đức Chính phải hành xử theo nguyên tắc: Đối với mình thì không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự phê bình và lắng nghe phê bình để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân; đối với người thì phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ, không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn có thái độ chân thành, khiêm tốn, thật thà, đoàn kết; đối với việc thì phải để việc công, lợi chung lên trước việc tư, lợi tư; đã phụ trách việc gì thì quyết làm cho kỳ được, làm đến nơi đến chốn, không sợ khó khăn, nguy hiểm; việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh; mỗi ngày cố làm một việc có lợi cho nước, cho dân, bởi trong tiền đồ chung đều có tiền đồ riêng của mỗi người.
 
Xây dựng đức “Liêm chính” đối với cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh
 
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ để lại tư tưởng lớn, mà Người là tấm gương sáng ngời của cả dân tộc về thực hành đạo đức cách mạng một cách cẩn trọng, chắc chắn. Người ra sức vun đắp, xây dựng đạo đức cho toàn thể nhân dân. Người yêu cầu tất cả mọi người đều phải rèn luyện đức “Liêm chính” như những phẩm chất tốt đẹp khác; đối với cán bộ, đảng viên, phải đi đầu để làm gương cho nhân dân học tập. Người nói rõ: “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng, trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được”; điều đó, trở thành một biểu tượng sáng ngời về nhân cách chính trị, về phẩm chất đạo đức cách mạng, trong sạch; với lối sống giản dị, nhân hậu trong mỗi con người chúng ta.
 
Quá trình hơn 35 năm đổi mới đất nước, dưới sự tác động bởi mặt trái của cơ chế thị trường, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có những hành động, việc làm “bất chính”, “bất liêm”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đánh giá: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá””. Chính vì lẽ đó, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng đạo đức của cán bộ, đảng viên: “Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy thật tốt trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”; xây dựng đội ngũ “cán bộ, đảng viên có ý chí chiến đấu cao, gương mẫu thực hiện nguyên tắc của Đảng và pháp luật của Nhà nước, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”. Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, để xây dựng phẩm chất đạo đức “Liêm chính” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, cần tập trung thực hiện tốt những giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, Đảng, Nhà nước cần đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục ý thức thực hành đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; làm tốt công tác tuyên truyền, không ngừng nâng cao dân trí, bởi vì, nếu nhân dân hiểu biết, không chịu hối lộ, thì “quan” dù không muốn Liêm, cũng phải Liêm và pháp luật phải nghiêm minh, trừng trị những kẻ “bất liêm”. Yêu cầu đặt ra hiện nay là cần tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, cửa quyền, triệt để loại bỏ những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng. Đặc biệt, cần có cơ chế, pháp luật để loại trừ “tham nhũng vặt”, vì “tham nhũng vặt” dù không lớn, nhưng hằng ngày tác động trực tiếp đến nhân dân, nên phải ngăn chặn những hành vi sai trái; đồng thời, tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” theo hướng cụ thể, thiết thực, gắn liền với các tiêu chí thi đua, phân loại cán bộ, đảng viên. Cần đưa ra những chuyên đề cụ thể về “Liêm chính” với những nội dung thiết thực, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể. Thông qua đó, xây dựng tác phong, lề lối làm việc liêm chính, tận tụy phụng sự nhân dân của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tại các cơ quan, đơn vị phù hợp với chức trách, nhiệm vụ và điều kiện cụ thể của từng cá nhân.
 
Thứ hai, cần phải tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước, để hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền. Muốn kiểm soát quyền lực nhà nước, thì phải thực hành dân chủ rộng rãi; vì có thực hành dân chủ rộng rãi mới không còn sự lộng quyền, lạm quyền, gây phiền hà đối với nhân dân; từ đó, khắc phục bệnh tham ô, lãng phí,... Tăng cường, siết chặt kỷ luật đảng, kỷ cương hành chính, thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, bởi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”; nhằm nâng cao nhận thức, ý thức và hành động chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong mỗi cán bộ, đảng viên. Pháp luật, kỷ cương càng nghiêm minh, thì cán bộ, đảng viên càng nâng cao ý thức chấp hành, nêu gương, làm gương; xây dựng và thực hành văn hóa từ chức theo nguyên tắc “làm được việc thì ở, không làm được việc thì lui”.
 
Thứ ba, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao ý thức tự giác, tự tu dưỡng, rèn luyện, tận tâm, tận lực cống hiến trí tuệ, sức lực cho Đảng, phụng sự đất nước và phục vụ nhân dân, nhất là phải đề cao trách nhiệm và sự gương mẫu của người đứng đầu. Cán bộ phải thực hành chữ Liêm trước, để làm kiểu mẫu cho dân; bởi niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân vào Đảng luôn gắn liền với niềm tin vào người đứng đầu; nên người đứng đầu phải nêu gương về đạo đức, giữ gìn phẩm chất liêm khiết, công minh, chính trực. Đảng lãnh đạo bằng “hành động gương mẫu của đảng viên”, dân có tin Đảng hay không là phụ thuộc vào sự trong sạch, vững mạnh của Đảng và sự gương mẫu của đội ngũ đảng viên. Nếu đảng viên không gương mẫu thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật, rèn luyện đạo đức, lối sống, thì các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước khó thực hiện được, thậm chí bị thực hiện sai; khi đó, nhân dân sẽ thiếu tin tưởng vào chủ trương, đường lối, chính sách, công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động của Đảng và Nhà nước. Để phát huy tính gương mẫu, đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải gương mẫu toàn diện; về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống; trong lời nói và việc làm với những hành động cụ thể, thiết thực trên mọi lĩnh vực, mọi hoàn cảnh, mọi lúc, mọi nơi, trong tổ chức, gia đình và ngoài xã hội.
 
Thứ tư, cần nâng cao vai trò giám sát của nhân dân, người dân cần biết rõ quyền hạn của mình để kiểm soát cán bộ, giúp cán bộ thực hiện chữ Liêm. Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cấp ủy, chính quyền các cấp cần thực hiện có nền nếp và nghiêm túc việc lấy ý kiến phê bình, góp ý của quần chúng nhân dân; phải tiếp thu, sửa chữa những khuyết điểm được nhân dân chỉ ra. Đối với những ý kiến chưa đúng, thì phải giải thích cho nhân dân hiểu; cần xây dựng cơ chế khuyến khích, động viên nhân dân thực hiện vai trò giám sát một cách tự nguyện, tự giác. Để phát huy vai trò giám sát của nhân dân thì điều cơ bản, cốt lõi là nhân dân phải nhận thức đúng vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nhân dân nắm rõ các quan điểm của Đảng, hệ thống văn bản pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của nhân dân trong hoạt động giám sát.
 
Thứ năm, thực hiện nghiêm túc công tác tuyển chọn, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức, viên chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, cán bộ là gốc của công việc, khi dùng người thì phải dùng người có tài năng, làm được việc; chớ vì bà con bầu bạn, mà kéo vào chức nọ, chức kia. Trong tuyển dụng cán bộ, phải tuyển người có khả năng làm việc hiệu quả; phải tránh xảy ra tình trạng thừa người trong biên chế, nhưng lại thiếu người làm được việc; phải khắc phục những tiêu cực trong tuyển dụng cán bộ và tình trạng “ăn non, ăn xổi” trong sử dụng cán bộ của một số địa phương, đơn vị ở nước ta hiện nay.
 
Tuyển dụng cán bộ cần tiêu chuẩn hóa, dân chủ hóa, trách nhiệm hóa, cấp độ hóa, kiểm nghiệm hóa; trong và sau khi tuyển chọn cán bộ theo cấp độ, cần kiểm nghiệm lại người được tuyển chọn một cách linh hoạt, khéo léo. Để sử dụng cán bộ có hiệu quả, đòi hỏi đội ngũ làm công tác tổ chức - cán bộ cần tinh thông kiến thức, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, và quan trọng hơn cả là cần có cái tâm với công việc. Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, cần có một đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức - cán bộ chuyên nghiệp, được đào tạo bài bản về khoa học tổ chức, nghệ thuật dùng người. Trong sử dụng cán bộ, cần thường xuyên giám sát, kiểm tra cán bộ, đảng viên về tư tưởng, công việc, quan hệ xã hội và tác phong sinh hoạt; kịp thời phát hiện, ngăn chặn khi cán bộ có dấu hiệu vi phạm, sai lầm.
 
95 năm qua, tư tưởng về xây dựng phẩm chất thực hành “Liêm chính” của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn soi rọi cho Đảng ta, cho cán bộ, đảng viên phẩm chất tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Phần lớn cán bộ, đảng viên của Đảng luôn gương mẫu, tu dưỡng và rèn luyện đạo đức cách mạng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, xứng đáng với vai trò vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Hiện nay, với yêu cầu và nhiệm vụ mới, Đảng ta đặc biệt chú trọng đến việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, để không ngừng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng liêm chính, thực sự xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân./.
Yêu nước ST.

CHIA SẺ TIN GIẢ - NGỘ NHẬN HAY VÔ TRÁCH NHIỆM CÔNG DÂN?

     Tin giả và tin sai sự thật đang trở thành một trong những “dịch bệnh” nguy hiểm của kỷ nguyên số. Chỉ với một cú nhấp chuột, thông tin độc hại có thể lan đi với tốc độ khủng khiếp, phá hoại niềm tin của nhân dân, bôi nhọ uy tín của tổ chức, làm tổn hại hình ảnh đất nước... Vậy đâu là trách nhiệm của công dân khi đứng trước dòng chảy hỗn tạp của thông tin?

Ngày nay, mạng xã hội đã trở thành một phần không gian sống với tính chất hai mặt rõ ràng, cả mặt tích cực và mặt tiêu cực. Hòa mình vào không gian mạng là nhu cầu tất yếu của mỗi con người, song làm chủ hành vi của bản thân trên không gian mạng lại là một thách thức không hề nhỏ đối với mỗi cá nhân. Trong đó, tin giả chính là một hiểm họa khôn lường, có thể gây tổn thương nghiêm trọng cho người dùng tin và xa hơn là nguy cơ đối với sự ổn định, an ninh, hòa bình của quốc gia, dân tộc. Do đó, chủ động, tích cực phòng, chống tác hại của “fakenews” không chỉ là biện pháp tự bảo vệ, mà còn là trách nhiệm của mọi công dân.

Năm 2023, Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) - Mỹ công bố kết quả nghiên cứu cho thấy: “So với tin thật, tin giả lan truyền nhanh hơn đến 6 lần”. Cùng năm, UNESCO cũng đưa ra cảnh báo: “Tin giả lan nhanh gấp 6 lần tin thật và để lại hậu quả lâu dài về chính trị, kinh tế, xã hội”. Một nghiên cứu khác của Viện Báo chí Quốc tế (IPI) cho thấy: “75% tin giả trên mạng xã hội được chia sẻ lại mà người dùng không kiểm chứng, tạo thành vòng xoáy độc hại trong môi trường truyền thông toàn cầu”.

Nhận thức rõ mức độ nguy hại của tin giả, nhiều nước trên thế giới đã chủ động đưa ra các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn. Cụ thể như ở Đức, nước này đã xem xét dự luật xử phạt hành chính, có điều khoản xử phạt lên đến 50 triệu euro đối với các công ty công nghệ, mạng xã hội chậm chạp trong việc xử lý tin giả, kích động và tin bôi nhọ, phỉ báng. Hay ở khu vực Đông Nam Á, một số nước như Singapore, Indonesia, Malaysia... đã ban hành các đạo luật về chống tin giả.
Tại Việt Nam, tác động nghiêm trọng của tin giả đã được ghi nhận rõ rệt, điển hình như thời kỳ dịch bệnh Covid-19 bùng phát, hàng loạt thông tin bịa đặt, sai sự thật về “thuốc đặc trị”, “ổ dịch chưa được công bố”, “sự thật về Covid-19”... đã lan truyền với tốc độ chóng mặt, gây hoang mang dư luận và cản trở công tác phòng, chống dịch của các lực lượng chức năng. Tiếp nữa, trong các vấn đề về chủ quyền biển đảo cũng có rất nhiều luận điệu xuyên tạc, méo mó, gây ảnh hưởng đến nhận thức của người dân về đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta.

Đặc biệt, gần đây, khi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tự hào, phấn khởi tổ chức đại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19-8-1945/19-8-2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945/2-9-2025), trên không gian mạng, các tài khoản phản động đã rêu rao đó là sự “phô trương”, “hình thức”, “lãng phí”... Cùng với đó là vô số tin, bài bôi nhọ lãnh đạo, hạ thấp uy tín của cơ quan, đơn vị, làm giảm niềm tin của nhân dân vào hệ thống chính trị...

Trên thực tế, mặc dù nước ta chưa có Luật Chống tin giả, nhưng những nội dung liên quan tới tin giả đã được nhắc tới trong một số bộ luật, văn bản quy phạm pháp luật, điển hình là Luật An ninh mạng năm 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, vấn đề “then chốt của then chốt”, đóng vai trò quyết định trong hạn chế, ngăn chặn sự lan truyền của tin giả, đó là ý thức cảnh giác và trách nhiệm của người dùng tin.

Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, cho rằng: “Tin giả là con dao hai lưỡi, nó vừa đe dọa an ninh tư tưởng, vừa phá hoại môi trường truyền thông lành mạnh. Nếu công dân không nâng cao sức đề kháng trước thông tin giả, bất kỳ ai cũng có thể trở thành công cụ tiếp tay.”

Ngộ nhận hay vô trách nhiệm?

Tin giả trên không gian mạng thường có tiêu đề giật gân; nội dung đề cập đến những vấn đề nóng mà dư luận quan tâm; thông tin mập mờ, không có nguồn gốc rõ ràng... nên dễ kích động, gây sự tò mò, thậm chí là có thể thỏa mãn những cảm xúc nhất thời của người dùng tin, làm cho một bộ phận công chúng vội vàng bày tỏ thái độ đồng tình, ủng hộ, thậm chí là chia sẻ, phát tán mà không xác minh.

Cần nhớ rằng, trong kỷ nguyên số, mỗi công dân là một “tòa soạn thu nhỏ”, chỉ một cú click chuột cũng có thể đưa thông tin sai lệch đến hàng nghìn, thậm chí hàng triệu người, làm ảnh hưởng ở nhiều cấp độ khác nhau đến uy tín, danh dự của các tổ chức, cá nhân; ảnh hưởng đến an ninh, chính trị và gây thiệt hại về kinh tế...

Khi bị chất vấn vì chia sẻ tin giả, nhiều người biện minh: “Tôi chỉ thấy hay nên chia sẻ, đâu ngờ nó sai”. Đây là ngộ nhận phổ biến, phản ánh lỗ hổng về nhận thức thông tin. Không ít trường hợp cố ý chia sẻ tin giả để trục lợi cá nhân hoặc phục vụ mục đích chống phá. Đây không còn là ngộ nhận mà là hành vi vô trách nhiệm, cố tình vi phạm pháp luật. Điển hình như vụ việc được Cổng Thông tin Công an tỉnh Quảng Trị đưa tin ngày 23-1-2025. Sự việc diễn ra tại Cảng hàng không Đồng Hới khi một thanh niên có tên N.T.T.N (sinh năm 2002, trú tại phường 10, quận 11, TP Hồ Chí Minh) thực hiện hành vi chia sẻ video với nội dung sai sự thật: “Xuyên không vào thế giới khác không có ai”, “Tôi không chắc ở đây có an toàn cho mình không”, “Tôi đang cố gắng tìm kiếm thức ăn và nước uống sau nhiều ngày bị mắc kẹt”... đã có nhiều bình luận mang tính chất suy đoán, tiêu cực, gây hoang mang dư luận. Tại cơ quan Công an, N.T.T.N thừa nhận toàn bộ hành vi quay video có lời thoại, tiêu đề sai sự thật về các hoạt động tại Cảng hàng không Đồng Hới để đăng tải lên các nền tảng Tiktok, Facebook, Youtube nhằm mục đích tăng tương tác “câu like, câu view”.

Bàn về vấn đề nêu trên, PGS, TS Trần Quang Diệu, Vụ trưởng, Giám đốc Trung tâm Công nghệ và Chuyển đổi số, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, phân tích: Sự phát triển của văn hóa ứng xử trên không gian mạng tại Việt Nam đang thiếu đi tính đồng bộ, dẫn đến những thách thức trong việc định hình bản sắc văn hóa số quốc gia. Khi một bộ phận người dùng chưa được trang bị đầy đủ kỹ năng số cơ bản và ý thức trách nhiệm công dân số, họ dễ dàng bị cuốn theo hiệu ứng đám đông, dẫn đến hành vi lan truyền tin giả hoặc làn truyền thông tin sai lệch mà không xác minh. Sự thiếu hụt năng lực số toàn diện này tạo ra một "khoảng cách số" nguy hiểm, đặc biệt ở các khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa và người lớn tuổi. Hành vi này không chỉ mâu thuẫn với các giá trị văn hóa Việt truyền thống, mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng về mặt pháp lý và làm xói mòn niềm tin số trong xã hội.

Tất nhiên, chia sẻ tin giả dù là do thiếu hiểu biết hay có chủ đích đều bị xử lý theo quy định của pháp luật, đúng với tinh thần “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Cụ thể, theo Khoản 1, Điều 8, Luật An ninh mạng đã quy định các hành vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng, trong đó có: “Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác”.

Công dân số - “hàng rào thép” bảo vệ xã hội

Trong bối cảnh tin giả đã và đang trở thành vấn nạn của toàn cầu, tác động đến tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội với tính chất, mức độ khác nhau, để nâng cao hiệu quả phòng, chống, ngăn chặn, hạn chế ảnh hưởng của “làn sóng” thông tin độc hại, không chỉ đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của các tổ chức, mà điều quan trọng nhất là phải khơi dậy, phát huy cao độ trách nhiệm của từng cá nhân, thực hiện mỗi người dân là một công dân số - một “mắt xích” tạo nên “hàng rào thép” bảo vệ bản thân, gia đình và xã hội. Đây là điều đã được ông Michael Anti, chuyên gia truyền thông độc lập (Trung Quốc), nhấn mạnh: “Trong xã hội hiện đại, công dân có nghĩa vụ như một người gác cổng thông tin. Nếu mỗi người không tự lọc tin giả, thì không một bộ luật nào đủ sức cứu không gian mạng”.

Để thực hiện tốt vấn đề này, cần triển khai đồng bộ, toàn diện nhiều giải pháp, từ công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; cơ chế chính sách và xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp lý..., trọng tâm là:

Tuyên truyền, giáo dục, trang bị kỹ năng số và tư duy phản biện thông tin cho nhân dân. Theo đó, mỗi công dân cần phải có những kỹ năng sinh tồn cơ bản trên không gian mạng; biết cách nhận diện và đấu tranh với những thông tin xấu, độc; chỉ tiếp nhận và chia sẻ thông tin từ nguồn chính thống, như: Báo chí cách mạng, truyền hình trung ương và địa phương, cổng thông tin của các cơ quan Nhà nước...; chủ động kiểm tra chéo giữa nhiều nguồn khác nhau để xác thực tính minh bạch, chính xác của thông tin, nhất là đối với những nội dung nhạy cảm, liên quan đến chính trị, quốc phòng, an ninh...; tuyệt đối không chia sẻ những thông tin giật gân chưa rõ nguồn gốc.

Các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, ban ngành, đoàn thể... cần chủ động xây dựng văn hóa số, đạo đức số cho cán bộ, đảng viên và quần chúng thuộc quyền dựa trên nguyên tắc: “Nghe, nhìn có chọn lọc - bình luận có văn hóa - đăng tải có trách nhiệm - chia sẻ có cân nhắc”; thay vì tương tác với những thông tin xấu, độc, mỗi người, mỗi ngày hãy chia sẻ cho nhau một tin tốt để góp phần xây dựng không gian mạng trong sạch, an toàn hơn.

Phát huy tốt vai trò của báo chí và cơ quan ngôn luận trong cung cấp thông tin, định hướng dư luận, kịp thời “dập tắt” hiệu ứng lan truyền của thông tin xấu độc từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ. Cùng với đó, phải quy rõ trách nhiệm, xử lý nghiêm minh đối với những trường hợp phát tán thông tin sai sự thật để tạo tính răn đe. Cần quan tâm xây dựng đội ngũ chuyên trách; tăng cường ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến; đồng thời, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và thực thi hiệu quả hệ thống pháp luật về phòng, chống tin giả.

Ngày nay, cuộc chiến chống tin giả không chỉ là nhiệm vụ của riêng một tổ chức, cá nhân nào mà đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị; đồng thời, là thước đo văn hóa công dân số. Mỗi cá nhân cần nhận thức sâu sắc rằng: Chia sẻ tin giả là hành vi nguy hại không kém gì tạo ra tin giả và đấu tranh với tin giả phải là hành động tự giác của mỗi công dân - những “chiến sĩ” trên mặt trận tư tưởng trong kỷ nguyên số. Khi từng người biết tự kiểm chứng, tự “miễn dịch” trước thông tin độc hại, xã hội mới xây dựng được môi trường truyền thông minh bạch, đáng tin cậy và vững vàng trước mọi thủ đoạn, xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị./.
Môi trường ST.

Thứ Năm, 6 tháng 11, 2025

TRUNG TƯỚNG NGUYỄN THANH TUẤN - NGƯỜI CHIẾN SĨ KIÊN TRUNG GIỮA CUỘC CHIẾN CHỐNG “LẬT SỬ”!

     Sinh ra trong một gia đình cách mạng, cha mẹ đều là liệt sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn đã sớm theo bước cha anh, tham gia Cách mạng từ năm 13 tuổi. Gần 55 năm đứng dưới lá cờ vinh quang của Đảng, ông luôn là tấm gương trung kiên, tận hiến cho Tổ quốc. Thế nhưng, giữa thời bình hôm nay, vị tướng ấy lại đang phải đối mặt với những lời hăm dọa, bịa đặt của những kẻ cố tình “lật sử”, xuyên tạc và bôi nhọ lịch sử dân tộc.

Xin trân trọng đăng tải toàn văn bài viết của Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, như một minh chứng cho tinh thần bất khuất của người lính trung thành với Đảng, kiên quyết đấu tranh bảo vệ sự thật lịch sử, chống lại mọi âm mưu bóp méo lịch sử của bọn phản bội Tổ quốc.

“Chờ đó, ông sẽ lên gặp công an…!”, đó là lời hăm dọa mà một số người đã gửi đến tôi sau khi tôi đăng bài viết thể hiện chính kiến của mình. Thật đau lòng khi trong xã hội hôm nay, lẽ phải và chân lý đôi khi bị bóp méo, thao túng.

Tôi sinh ra trong một gia đình cách mạng, cả nhà đều hy sinh cho Tổ quốc. Cha tôi, Bí thư đầu tiên của Đảng bộ Cộng sản xã; mẹ tôi, người mẹ chiến sĩ luôn chăm lo cho bộ đội trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Cả hai cùng với cô, chú, dượng, anh… đều đã trở thành liệt sĩ vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Mười tuổi, tôi theo học ở trường cách mạng; mười ba tuổi thoát ly gia đình tham gia kháng chiến; mười bốn tuổi trở thành chiến sĩ Giải phóng quân. Bao năm cùng đồng đội vào sinh ra tử, tôi từng từ chối ra miền Bắc học tập, chỉ vì muốn ở lại miền Nam để “đền nợ nước, trả thù nhà”.

Cả cuộc đời tôi gắn bó với Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trước khi rời quân ngũ, tôi có thể tự hào rằng mình đã sống đúng với danh dự người chiến sĩ cách mạng, luôn khắc ghi lời dạy của Bác Hồ: “Chính trị trong hơn quân sự”, và dốc lòng xây dựng Quân đội vững mạnh, trong sạch, trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân.

Trải qua gần 55 năm đứng dưới lá cờ vinh quang của Đảng, tôi luôn đặt lợi ích của giai cấp, của nhân dân lên trên hết. Tôi tự hào rằng, dù ở bất kỳ cương vị nào, tôi cũng giữ được sự liêm chính, không bao giờ nhận những đồng tiền bất chính.

Vậy mà hôm nay, trong xã hội XHCN do Đảng của Bác Hồ sáng lập và rèn luyện, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, lại xảy ra những điều thật khó tin: những kẻ từng bị Bác Hồ lên án là “cõng rắn cắn gà nhà, rước voi giày mả tổ” như Nguyễn Ánh, Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký… lại được tôn vinh, đúc tượng, đặt tên đường, tên trường. Càng đau xót hơn khi những ai phản biện, đấu tranh vì sự thật lịch sử lại bị xúc phạm, đe dọa, thậm chí còn bị đe nẹt khởi tố bắt giam. Tôi cũng không nằm ngoài những lời đe dọa ấy.

Nhiều đồng chí, bạn bè, con cháu khuyên tôi nên dừng lại vì lo cho sự an toàn của tôi. Nhưng tôi nói với họ rằng: Cả đời tôi đã hiến dâng cho Đảng, nay tuổi đã xế chiều, thời gian không còn nhiều. Hơn nửa thế kỷ sống trong hòa bình, được hưởng điều quý giá nhất là “độc lập, tự do”, so với bao đồng đội đã ngã xuống, tôi thấy mình còn nợ rất nhiều. Nếu hôm nay tôi im lặng, chẳng khác nào khiến máu xương của các liệt sĩ trở nên vô nghĩa. Do vậy tôi sẽ còn sức còn chiến đấu và bên mình có có bao đồng chí, đồng bào cùng chung sức, hương hồn các liệt sỹ sẽ ủng hộ, nhất là thế hệ trẻ đòi hỏi thế hệ già không thể buông xuôi.

Chính vì vậy, tôi vẫn sẽ tiếp tục viết, viết cho những người đã hy sinh, cho thế hệ chúng tôi đang sống, và cho lớp trẻ mai sau. Bởi nếu chúng ta để sự thật lịch sử bị bóp méo, để kẻ bán nước được ca ngợi, còn người yêu nước bị kết tội, thì chủ nghĩa yêu nước Việt Nam sẽ bị bào mòn, sức mạnh dân tộc sẽ bị phá vỡ. Khi đó, âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch “không đánh mà thắng” sẽ trở thành hiện thực.

Là một Đảng viên, tôi không cho phép mình ngừng viết, ngừng đấu tranh. Đó là bổn phận cuối cùng của một người lính, người chiến sĩ trung kiên với Đảng, với nhân dân, và với Tổ quốc Việt Nam yêu dấu.

“Dân tộc ta đã từng chịu nỗi tủi nhục mất nước. Không có nỗi đau nào xé lòng hơn nỗi đau “nước mất, nhà tan.” Nhưng hôm nay, khi đất nước đang hòa bình, đang vươn mình phát triển, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định, cớ sao vẫn còn tồn tại những nỗi đau khác, những điều khiến lòng người quặn thắt? Phải chăng, đó là khi sự thật bị bóp méo, lịch sử bị lãng quên và tinh thần yêu nước bị hiểu sai, bị lợi dụng, bị phai mờ…

Tôi viết, và sẽ còn tiếp tục viết.
Viết cho những người đã ngã xuống vì Tổ quốc.
Viết cho thế hệ chúng tôi những người đang sống và gìn giữ.
Viết cho thế hệ hôm nay và lớp trẻ mai sau, những người sẽ tiếp bước con đường của dân tộc.

Bởi nếu một ngày, chúng ta để cho nhận thức về đúng – sai, chính – tà trở nên lẫn lộn…
Nếu sự thật lịch sử không được bảo vệ…
Nếu kẻ bán nước được tôn vinh…
Thì chính khi ấy, người yêu nước sẽ bị kết tội,
Anh hùng dân tộc sẽ bị lãng quên,
Và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, linh hồn của dân tộc sẽ dần phai nhạt.

Khi tinh thần ấy mất đi, sức mạnh của cả dân tộc cũng sẽ bị tàn phá.
Vì thế, tôi viết, để nhắc nhớ, để gìn giữ, và để thắp sáng niềm tin rằng:
Dân tộc Việt Nam mãi kiêu hãnh, kiên cường và bất diệt!”

Những biểu hiện “lật sử”, xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử dân tộc không đơn thuần là sai lệch nhận thức, mà ẩn chứa đằng sau đó là âm mưu nguy hiểm của các thế lực thù địch. Chúng được hậu thuẫn, tiếp tay bởi một số tổ chức và thế lực ở nước ngoài, với mục tiêu từng bước phá hoại nền tảng tư tưởng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, làm suy yếu niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Đây chính là chiến lược “diễn biến hòa bình” mà kẻ thù đã từng sử dụng để làm tan rã Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, những bài học lịch sử đắt giá mà nhân loại vẫn chưa thể quên. Hiện nay, tình hình ở Ukraina tiếp tục là minh chứng đau lòng cho hậu quả của việc mất cảnh giác, bị thao túng bởi các thế lực bên ngoài.

Bởi vậy, Việt Nam không được phép chủ quan. Cuộc đấu tranh chống lại âm mưu “lật sử”, chống phá tư tưởng và xuyên tạc lịch sử phải được tiến hành chủ động, từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy, như lời Bác Hồ từng căn dặn. Trên nền tảng vững chắc của thế trận lòng dân, chúng ta phải kiên quyết vạch mặt, ngăn chặn, xử lý những hành vi sai trái, bảo vệ sự thật lịch sử, bảo vệ danh dự dân tộc và giữ vững niềm tin son sắt vào con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn./.
Ảnh: Thượng tướng Võ Tiến Trung (đầu tiên, bên trái qua), Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn (thứ 3, bên trái qua) và đồng đội trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 2/9/2025.
Khuyết danh ST.

THÓI DỐI TRÁ NHƯ MỘT THỨ VI TRÙNG DỊCH HẠCH CẦN PHẢI LOẠI BỎ RA KHỎI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI.

     Sự dối trá trước đây chỉ là những hiện tượng riêng lẻ, chủ yếu thuộc về đạo đức cá nhân, mà bây giờ đã lan rộng ra toàn xã hội, xuất hiện ở cả những lĩnh vực vốn được coi là nghiêm cẩn, thiêng liêng như thanh tra, tòa án, kiểm sát, hải quan, cảnh sát, nhà trường, tôn giáo...

Thói gian dối cũng không còn là hành vi của những cá nhân riêng lẻ, nhất thời mà có tổ chức, có dự mưu, không chỉ ở hạng thất phu, công chức cấp thấp mà ở cả những cấp cao giữ vai trò rường cột của một ngành, một địa phương, khiến tâm lý xã hội hoang mang, gây ra sự mất hướng của không ít người, làm băng hoại đạo đức xã hội, gây nguy hại đến thể chế chính trị quốc gia.                                                                               
1. Trong kho tàng truyện dân gian của bất cứ dân tộc nào cũng tồn tại những câu chuyện rất hay, rất đời về tật nói dối của tầng lớp chúng sinh. Xét về cấp độ, thói giả dối thể hiện các mức độ khác nhau về một hành vi, một thái độ không trung thực, một tập tính đã trở thành thuộc tính của con người và xã hội.

Như vậy có thể nói, con người ở thời nào cũng mắc phải những tật xấu này và ở thời nào người ta cũng phải rất vất vả để loại trừ nó ra khỏi đời sống, làm cho môi trường sống lành mạnh hơn. Dù không muốn, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, cuộc đấu tranh diệt trừ sự giả dối, thói gian dối như một căn bệnh xã hội là một cuộc đấu tranh lâu dài, song hành cùng với sự tồn tại của con người.

Tuy vậy, có những hoàn cảnh người ta buộc lòng phải nói tránh đi một sự thật không nên nói và lời nói dối lúc ấy không mang nghĩa xấu. Có một câu chuyện làm không ít người rơi nước mắt bởi “lời nói dối cao thượng”. Chuyện kể về một người lính ở chiến trường trở về sau chiến tranh và cưới người con gái anh yêu. Họ hạnh phúc tuy sống trong thiếu thốn. Chị sinh một bé gái, nhưng do chất độc dioxin anh nhiễm từ ngày ở chiến trường nên cháu bé bị thiểu năng. Do đời sống khó khăn và có những suy nghĩ không đúng, chị bỏ anh cùng đứa con tật nguyền để đi theo người khác. Anh phải nói dối con là mẹ đi công tác xa và lâu. Đứa bé lớn dần và tuy ý thức không bằng người song nó lờ mờ hiểu mẹ đã bỏ hai bố con.

Một hôm, anh liên lạc với chị nói là anh sắp đi công tác mấy tháng, nhờ chị trông con gái một thời gian vì con gái đã đến tuổi trưởng thành, rất cần mẹ chăm sóc. Không còn cách nào khác, chị phải nhận trông con. Sống với mẹ nhưng đứa con luôn nhớ cha, chỉ mong muốn được về nhà. Rồi một lần tỉnh dậy trong đêm, chị nghe thấy tiếng dương cầm ở phòng khách. Chị xuống, thấy con vừa đàn vừa khóc và đến lúc đó chị mới biết sự thật: Trước khi gửi con cho chị, anh đã bị ung thư giai đoạn cuối. Anh không muốn để con chứng kiến lúc mình ra đi và muốn chị sẽ chăm lo cho đứa bé khi anh không còn. Lời nói dối cùng sự ra đi mãi mãi của anh-thực ra là sự hy sinh tất cả vì con và tình cha con của họ đã thức tỉnh người đàn bà.

Về hình thức, đây là một hành vi sai sự thật, nhưng nó không xấu và không gây hại. Trái lại, nó tránh đẩy người khác vào hoàn cảnh khó xử và cũng không làm tổn thương người khác.

Còn trong nhiều trường hợp khác, sự gian dối bao giờ cũng mang nghĩa xấu, nó làm xói mòn lòng tin và đạo đức xã hội.

2. Về bản chất, sự giả dối, thói gian dối khi đã trở thành một căn bệnh xã hội là một điều xấu xa, không gì có thể biện minh. Hành vi không thật thà của một cá nhân nào đó, tùy theo mức độ ảnh hưởng của nó đến xã hội, bị lên án theo các mức độ khác nhau nhưng chủ yếu là từ góc nhìn đạo đức.

Ở bất kỳ thể chế nào, đạo đức bao giờ cũng là hệ thống những nguyên tắc ứng xử được pháp luật bảo hộ, nhưng về cơ bản, nó được tạo ra như những chuẩn mực xã hội để điều tiết các quan hệ và răn đe, đề phòng, phê phán cái xấu, sự dối trá chủ yếu từ góc nhìn đạo đức. Nó lệch chuẩn, gây hại cho xã hội, nhưng chưa bị khép vào các tội hình sự. Sự phê phán, lên án, dù ở mức gay gắt nhất, cũng chỉ như sự sửa sai những hiện tượng lệch chuẩn, đi ra ngoài quỹ đạo ứng xử của số đông.

Quan sát căn bệnh dối trá đang lộng hành trong xã hội ta hiện nay, có thể thấy rằng trong khoảng vài thập niên gần đây, nhất là từ khi Nhà nước thực hiện "mở cửa", xã hội dần dần chuyển động theo “cơ chế thị trường” ở cả các lĩnh vực ngoài kinh tế. Nói chính xác hơn, cơ chế thị trường đã tác động đến tận tế bào xã hội, làm thay đổi cả những yếu tố thuộc lĩnh vực tinh thần. Sự đan xen giữa các yếu tố tốt-xấu, đúng-sai, chân thật-giả dối... tạo nên những lẫn lộn cả trong nhận thức và đánh giá. Từ đó, nền tảng tinh thần xã hội có những chuyển động mạnh, những rạn nứt mới trong quan hệ giữa người với người ngày một lộ rõ, nhiều chuẩn mực xã hội truyền thống bị lung lay trước áp lực của lối sống thực dụng và mang tính cá nhân chủ nghĩa nhiều hơn.

Sự dối trá trước đây chỉ là những hiện tượng riêng lẻ, chủ yếu thuộc về đạo đức cá nhân, mà bây giờ lại lan rộng ra toàn xã hội, xuất hiện ở cả những lĩnh vực vốn được coi là nghiêm cẩn, thiêng liêng như thanh tra, tòa án, kiểm sát, hải quan, cảnh sát, nhà trường, tôn giáo... Thói gian dối cũng không còn là hành vi của những cá nhân riêng lẻ, nhất thời mà có tổ chức, có dự mưu, không chỉ ở hạng thất phu, công chức cấp thấp mà ở cả những cấp cao giữ vai trò rường cột của một ngành, một địa phương, khiến tâm lý xã hội hoang mang, dẫn đến sự mất hướng của không ít người, làm băng hoại đạo đức xã hội, gây nguy hại đến thể chế chính trị quốc gia.

Điều nguy hại hơn là hiện tượng dối trá vốn là một hành vi vô đạo đức, đáng bị lên án, bất thường đã dần trở nên “bình thường” trong mắt nhiều người. Sự giả dối nguy hiểm hơn vì nó lan đến cả nhà trường, đến những người trẻ (chạy điểm, mua điểm, chạy đua thành tích, bằng cấp giả)... làm mục ruỗng xã hội. Người giả dối có địa vị xã hội cao sẽ ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô, có vai trò rất lớn trong tổ chức thực hiện những nhiệm vụ mà Nhà nước, nhân dân giao cho như bộ trưởng, thứ trưởng, bí thư, chủ tịch tỉnh. Sự dối trá về bản chất gắn liền với lợi ích nên nó như là tiền đề đẻ ra tham nhũng, dối trá để tham nhũng, dối trá trong suốt quá trình để có địa vị cao hơn, quyền lực nhiều hơn, để có điều kiện tham nhũng lớn hơn.

Có thể nói chưa bao giờ tình trạng dối trá và tham nhũng lại gắn với nhau ở tất cả các mức độ, tinh vi và xảo trá đến thế, gây hại cho xã hội đến thế. Nhiều vấn đề được phanh phui, xử lý trong cuộc chiến chống tham nhũng thời gian qua đã đem lại những tin tưởng nhất định của xã hội vào cơ quan công quyền, nhưng quá nhiều vụ tham nhũng "khủng" đang gây mất lòng tin của xã hội, bởi không phải sự tham nhũng diễn ra trong một ngày mà có cả quá trình, có những nhóm lợi ích đã có dự mưu, tổ chức, thực hiện rất nhiều hành vi dối trá từ thấp lên cao. Hàng loạt lãnh đạo nhiều địa phương, bộ, ngành trong nhiều nhiệm kỳ gần đây như Phú Yên, Khánh Hòa, Thanh Hóa, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Lâm Đồng, Bộ Công Thương, Bộ Y tế... là những minh chứng cho quá trình tha hóa của họ, gây mất uy tín của tổ chức, làm hại đến thanh danh các tổ chức chính quyền, cơ quan mà họ đại diện.

Ngay cả khi đại dịch Covid-19 gây ra bao nhiêu đau khổ, chết chóc cho xã hội mà một số người có chức quyền vẫn gian dối trong báo cáo, tham nhũng tiền của, làm ngơ trước những mất mát, đau khổ của đồng loại. Có người đã tổng kết, những đại án Vạn Thịnh Phát, Tân Hoàng Minh, Thuận An, Phúc Sơn, kit test của Nguyễn Quốc Việt, FLC của Trịnh Văn Quyết, AIC của Nguyễn Thị Thanh Nhàn... đều bắt đầu từ sự dối trá của cá nhân nhằm trục lợi, rồi dối trá có sự cấu kết giữa các nhóm lợi ích với một số quan chức lũng đoạn xã hội ở tầm vĩ mô, ở đề xuất chủ trương và hoạch định chính sách.

Có những vị hôm trước còn đăng đàn diễn thuyết, dạy dỗ người khác sống trong sạch, noi gương sáng người này, người khác, thậm chí viết sách để rao giảng những điều hay ho, nhưng không lâu sau thì bị xử lý kỷ luật vì dối trá, tham nhũng. Họ dối trá trước khi bị phát hiện, sống hai mặt, dối trá ngay cả khi đang khoác mặt nạ trong sạch, cao đạo. Nhiều người đã không tin họ bởi nhìn cách họ sống trong đời với những điều họ rao giảng cách nhau một trời một vực, biết họ giả dối nhưng không thể làm gì nên đành quay lưng.

Căn bệnh dối trá như thứ bệnh nan y ăn ruỗng cơ thể xã hội, đến mức có đồng chí lãnh đạo cấp cao đã nói “sờ vào đâu cũng thấy có vấn đề”, “nếu xử lý hết thì không còn người làm việc”. Điều đó nói lên một thực tế: Căn bệnh này đã gây ra những nguy cơ cho xã hội đến mức, sinh thời, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gọi đó là nạn “nội xâm” và thừa nhận chống nó rất gian khổ, bởi những thói xấu và tội lỗi ấy có mầm mống và gây tác hại lớn vì nó nằm ngay trong lòng thể chế, có cái sinh ra từ chính thể chế, được những tổ chức, băng nhóm câu kết với nhau cố tình lừa dối xã hội, báo cáo sai lệch sự thật, bao che cho nhau trong nhiều năm.

Khi họ chưa bị trừng phạt, họ lại cùng cơ quan, có chức quyền, là đồng chí, đồng nghiệp của chúng ta nên việc đấu tranh với họ rất khó khăn. Nhiều vụ tham nhũng đã diễn ra hàng chục năm, nhiều cán bộ đứng đầu các tổ chức, cơ quan vi phạm pháp luật hàng chục năm liền, "một tay che trời", khuynh đảo xã hội vì họ phạm tội có tổ chức, có phe nhóm. Tội lỗi của đám người này không chỉ gây ra những thất thoát lớn cho Nhà nước, nhân dân mà còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ. Thói dối trá như một thứ vi trùng dịch hạch cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội.

3. Nhận thức được nguyên nhân và thực trạng nguy hại của sự dối trá, căn bệnh giả dối, cả xã hội đã chung tay trong cuộc chiến chống lại nó. Nhận ra thực chất của điều này cũng cần một quá trình, một sự đấu tranh gian khổ, bởi đám người giả dối thường sống ký sinh vào cơ chế, lợi dụng cơ chế, khoác những tấm áo khoác mỹ miều nhân danh tổ chức này nọ. Vạch mặt chỉ tên họ là cần thiết, lôi họ ra trừng trị là việc làm bắt buộc để xã hội chúng ta lành mạnh hơn, để bản chất tốt đẹp của Nhà nước do dân, vì dân, phụng sự dân trở về đúng nghĩa của nó.

Chúng ta đã nói đến sự giám sát của các tổ chức, cơ quan quyền lực, pháp luật và của nhân dân, nhưng cơ chế ấy thời gian qua đã để “lọt lưới” nhiều tội phạm. Họ lừa dối tổ chức và nhân dân bằng những chứng chỉ, bằng cấp, thành tích tự khai, những hứa hẹn trung thành, phụng sự Tổ quốc, nhưng miệng họ nói khác với những việc họ làm. Chỉ khi chiếc mặt nạ họ đeo bị rơi xuống thì bản chất thật của họ mới bị phơi bày trước xã hội. Những mất mát quá lớn cả về tiền của lẫn lòng tin, nhưng không thể không làm. Như xưa trong truyện dân gian cần “kính chiếu yêu" để các quan tham hiện rõ bộ mặt thật, thì ngày nay xã hội cũng cần nhiều "kính chiếu yêu" của tổ chức chính quyền, hệ thống luật pháp và sự giám sát của nhân dân để những quan tham không còn điều kiện gian dối, không dám dối trá.

Rõ ràng đã đến lúc cần đổi mới công tác tuyển chọn, bổ nhiệm, đánh giá, đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật thật chặt chẽ, nghiêm minh để loại dần ra khỏi cơ chế những kẻ cơ hội, tìm mọi cách dối trá nhằm lọt vào cơ quan công quyền mưu cầu lợi ích riêng. Làm trong sạch bộ máy, sử dụng đúng người, đúng việc, thực hiện chính sách vừa giao việc, vừa giám sát và kiên quyết loại ra khỏi đội ngũ những kẻ bất tài, thiếu phẩm chất đạo đức là góp phần ngăn chặn, loại trừ dần sự dối trá. Cơ chế lựa chọn cán bộ phải trở thành bộ máy thanh lọc kẻ gian dối và tìm được, lựa chọn được người chân tài thực đức để kích thích năng lực sáng tạo của mọi người. Lúc ấy, dối trá sẽ không còn đất sống và không thể gây tác hại, hệ lụy cho đất nước, xã hội và thể chế chính trị./.
Khuyết danh ST.

TRỊ “BỆNH DỐI TRÁ” ĐỂ NGĂN HIỂM HỌA KHÔN LƯỜNG!

     Trước hết cần khẳng định: Không quá lời khi coi dối trá là hiểm họa đối với đất nước, bởi khi “bệnh” này phổ biến trong đội ngũ công quyền, khi cấp dưới “vô tư” nói dối cấp trên mà không thấy ngượng, thậm chí còn được coi là chuyện thường-thì không chỉ sự thật bị bóp méo, cấp trên không nắm được thực trạng, bản chất vấn đề để có quyết sách đúng, mà niềm tin của nhân dân, của quần chúng vào chế độ cũng bị xói mòn nghiêm trọng. Giả dối vừa là biểu hiện của sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vừa là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...

1. Vô tư... dối trá là thực tế khá phổ biến, diễn ra từ lâu trong nhiều cơ quan, đơn vị công mà có lẽ ai cũng biết. Nghiêm túc và mô phạm, phải mẫu mực làm gương cho học sinh như ngành giáo dục mà nhiều thầy, cô giáo vẫn “vô tư” dối cấp trên (thậm chí trước học sinh và các phụ huynh) khi cố tình nâng điểm và “lờ đi” những vi phạm, khuyết điểm của trường, của lớp vì sợ mất thành tích. Thế hệ trẻ đã hình thành "văn hóa" dối trá từ chính học đường!

Ở các cơ quan, đơn vị, địa phương, khi báo cáo, tổng kết hoặc cấp trên đến kiểm tra thì đa số đều quán triệt tinh thần “đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại”. Ai phát biểu thẳng thắn, báo cáo đúng sự thật thì bị coi là bất thường, bị chê trách là dại dột, “tự bôi mỡ vào người cho kiến đốt”(!) Cán bộ nào khéo che giấu khuyết điểm của tập thể, nói hoặc viết báo cáo “tô hồng” thành tích của đơn vị, thì lại được khen (?)

Rồi sự dối trá trong các lĩnh vực, công việc cũng ngang nhiên diễn ra, khiến nhiều cán bộ, đảng viên và quần chúng chỉ biết lắc đầu ngao ngán, như: Công trình phúc lợi chưa hoàn thành đã vội tổ chức cắt băng khánh thành; cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số còn quá nhiều hạn chế, vướng mắc, nhưng báo cáo đã đạt kết quả cao; công tác xóa đói, giảm nghèo, phổ cập giáo dục, giải ngân vốn đầu tư công, tăng trưởng kinh tế... và cả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở-không ít nơi chỉ tốt đẹp... ở trên giấy và phát biểu của cán bộ!

Ngày 3-11 vừa qua, khi Quốc hội thảo luận tại tổ về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê, đại biểu Quản Minh Cường (đoàn Cao Bằng) phản ánh thực tế "số liệu đầu vào đang có vấn đề" và nêu nhiều dẫn chứng, trong đó có ví dụ: Báo cáo khai thác khách du lịch tại thác Bản Giốc là 3 triệu lượt khách/năm, nhưng báo cáo thu vé chỉ vài chục nghìn khách/năm. Không biết tin vào báo cáo nào?

Còn bao chuyện dối trá mà trong khuôn khổ bài báo này không thể kể hết. Từ nói dối, báo cáo “tô hồng” không đúng thực tế, đến làm dối để tư lợi, tham nhũng, tiêu cực là rất gần. Không có gì qua được “tai, mắt nhân dân”, vì thế, quần chúng không "tâm phục, khẩu phục", dần mất niềm tin vào sự trung thực của cán bộ và cấp ủy, chính quyền. Đây là điều nguy hiểm nhất vì cổ nhân đã đúc rút “mất niềm tin là mất tất cả”! Chưa kể, hệ lụy của thói dối trá còn là các quyết sách sẽ không sát thực, kém hiệu quả do bị cung cấp thông tin sai; làm băng hoại đạo đức công vụ, khiến đội ngũ trì trệ, không dám đổi mới, sáng tạo vì “nói thật thì sợ mất lòng”...

2. “Bệnh dối trá” hiểm họa khôn lường! Vì thế, muốn trị bệnh này, trước hết cần phải nhận thức rõ sự nguy hại của nó, nhìn thẳng vào nguyên nhân gây ra và quyết tâm “tuyên chiến” bằng những biện pháp quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả.

Phải chăng, nạn dối trá được bắt nguồn từ “bệnh thành tích”: Khi thi đua-khen thưởng vẫn nặng về hình thức, không đánh giá thực chất, không phân minh "công to bù lỗi nhỏ"; khi những bản báo cáo “đẹp” được xem là điều kiện tiên quyết để được xem xét, được khen; khi những hạn chế, khuyết điểm dù được tập thể, cá nhân thẳng thắn tự nhận và quyết tâm khắc phục, sửa chữa nhưng vẫn bị loại khỏi danh sách khen thưởng, thậm chí còn lấy đó làm ví dụ để “bêu dương”, vùi dập... thì ai dại gì nói thật?  

Phải chăng, vì không ít vị cán bộ cấp trên thích tâng bốc, khen nịnh hơn những lời nói thật, thậm chí còn thâm thù, trù dập người nói thẳng thật, nên dối trá càng được đà “lên ngôi”, rồi trở thành “kinh nghiệm”, “nghệ thuật sống” và nhiều người cố gắng học tập?

Phải chăng, nhiều cán bộ cấp trên biết thừa cấp dưới “làm láo nháo, báo cáo hay” nhưng chẳng nhíu mày, không chất vấn, tra hỏi; bởi đã cùng một giuộc, sợ ảnh hưởng đến thành tích chung và uy tín của chính mình, thậm chí bị “miếng thịt bịt miệng”?

Phải chăng, vì không ít cán bộ cấp trên thích thể hiện, thích "hoành tráng" nên đưa ra các mục tiêu, chỉ đạo, yêu cầu vượt quá khả năng, cấp dưới không thể thực hiện được và cũng không dám phản biện, nên đành nói dối để đối phó?

Còn nhiều nguyên nhân nữa dẫn đến “bệnh dối trá”, nhưng không thể không nhắc đến trách nhiệm của các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát. Sự “thông cảm”, thỏa hiệp, bỏ qua... ở khâu lẽ ra phải có trách nhiệm thường xuyên và cuối cùng với yêu cầu công minh, chính xác, nghiêm túc này, khiến “virus” dối trá càng được đà... phát triển.

Để chữa trị dứt điểm “bệnh dối trá”, phải khôi phục vị trí xứng đáng cho sự trung thực; quyết liệt triển khai những giải pháp “điều trị” tận gốc những nguyên nhân gây ra “bệnh” nguy hiểm này.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết năm 1947, Bác Hồ đã chỉ rõ: “Nơi nào sai lầm, ai sai lầm, thì lập tức sửa chữa. Kiên quyết chống thói nể nang và che giấu”. Đảng ta cũng yêu cầu: “Nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, đánh giá đúng sự thật” và gần đây còn có cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo và dám hành động vì lợi ích chung. Tổng Bí thư Tô Lâm cũng đã nhiều lần chỉ đạo phải nói thẳng, đánh giá đúng thực tế vì có như thế mới sửa được những tồn tại, hạn chế... Thế nên không thể để “bệnh dối trá” tiếp tục tồn tại gây nguy hại cho đất nước, làm mất niềm tin của nhân dân vào chế độ ta và là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá./.
Khuyết danh ST.

PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”: “BÀI TOÁN” CỦA LÒNG NGƯỜI.

     Nhấp chút cà phê rồi lại cắm mặt vào điện thoại, Hùng bỗng cười khẩy một tiếng, rồi lắc đầu, giọng đầy châm biếm: “Vẽ vời! Đất “kim cương” mà đem xây tượng đài"...

Chị Ba chủ quán đang lau ly, tay khựng lại, tò mò hỏi: “Cậu nói gì thế? Tượng đài gì và đất kim cương gì?”.

- Thì chính quyền dự kiến xây tượng đài tưởng niệm nạn nhân Covid-19 ở khu đất số 1 Lý Thái Tổ của thành phố mình đó. Nói thiệt với chị Ba và chú Tám, tiền ấy, đất ấy đem xây thêm bệnh viện hay trường học thì có phải thiết thực hơn không? Thật là lãng phí!

Thấy giọng Hùng bức xúc, chú Tám đặt tờ báo xuống, nhìn sang Hùng: “Cháu nói lãng phí là đang so cái gì với cái gì? Cháu đọc kỹ chưa? Cháu đang dùng tiền đo một thứ không thể dùng tiền đo đếm được đấy nhé!”.
 
- Chú ơi, chú thử tính khu đất đó mà đem đấu giá... Làm được bao nhiêu thứ? Mạng nói cấm có sai. Mấy ông chỉ “vẽ” ra để tiêu tiền ngân sách, để “làm đẹp” báo cáo thôi. Dân còn khổ!-Hùng vẫn cương quyết.

Chị Ba mặt đỏ lên, gằn giọng: "Chủ trương đó hay quá mà cậu lại nói nghe nhẹ hều. Cậu có biết mẹ tôi mất trong cái đợt đó không? Biết bao người tử vong mà gia đình không được nhìn mặt lần cuối, không có nổi cái đám tang cho đàng hoàng. Giờ thành phố muốn làm đài tưởng niệm để tưởng nhớ đồng bào, cán bộ, chiến sĩ hy sinh, tử vong vì Covid-19, để những người như tôi có nơi mà đến thắp nén nhang cho tử tế... thế mà kêu là lãng phí à? Nói vậy là ác miệng quá! Mà không chỉ làm đài tưởng niệm, khu đất ấy sẽ trở thành công viên cho nhân dân kết hợp khai thác không gian ngầm. Thành phố chật chội đang rất cần nơi sinh hoạt công cộng như vậy".

Chú Tám xua tay: "Không chỉ là ác miệng đâu nhé. Đây là thủ đoạn của bọn phản động đấy. Mấy cái trang mà Hùng coi, mục đích của chúng là gì? Chúng cố tình đánh đồng “sự tri ân” với “sự lãng phí”. Chúng muốn ta, nhất là giới trẻ, nhìn vào mọi việc bằng con mắt tiêu cực".

Hùng gãi đầu: “Nhưng cháu... cháu thấy họ phân tích có cái lý riêng”.

Chú Tám đập mạnh tay xuống bàn: “Lý cái gì? Lý của kẻ vô ơn à? Muốn ta phủ nhận sự hy sinh của y bác sĩ, của bộ đội, của những người ngã xuống trong đại dịch thì có. Xây một cái tượng đài không phải là “vẽ”. Đó là để nhắc nhở thế hệ sau về một giai đoạn lịch sử đau thương nhưng cũng đầy tình người, để tri ân những người đã mất. Nó là văn hóa, là lịch sử, là nghĩa tình. Không thể đặt lên bàn cân mà kêu “lỗ, lãi” với lịch sử và tình người được”.

Chị Ba quay đi, vội lấy vạt áo chấm nước mắt, rồi khẽ nói: “Phải đó chú Tám. Cháu chỉ mong có một chỗ... để biết rằng mẹ cháu và biết bao người đã mất vì đại dịch không bị lãng quên”.

Đến đây, Hùng tắt màn hình điện thoại, im lặng một hồi rồi lên tiếng: “Cháu đã hiểu rồi ạ. Hóa ra “bài toán” này không phải là bài toán kinh tế... mà là bài toán của lòng người”.

Chú Tám gật gù vỗ vai Hùng: “Vậy là tốt. Lần sau lướt mạng, phải dùng cái đầu lạnh và trái tim nóng mà chắt lọc thông tin, cháu nhé!”./.
Ảnh: Xây dựng đài tưởng niệm nạn nhân Covid-19 tại Khu đất số 1 Lý Thái Tổ theo kế hoạch chỉnh trang của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh.
Khuyết danh ST.

"NGÀI" GIA LONG - NGUYỄN ÁNH ĐÃ BÁN NƯỚC BAO NHIÊU LẦN? XIN THƯA, CHỈ CÓ... 4 LẦN!!!

LẦN 1: Nguyễn Ánh thảo hợp đồng với triều đình Pháp để bán Hội An đổi lấy 4 tàu chiến và vài trăm lính Pháp da đen, nhưng hợp đồng này chưa xong thì vua Pháp (Louis 16) bị quân cách mạng Pháp chém đầu... tuy nhiên bản hợp đồng này sau đó đã tạo cái cớ hoàn hảo cho Napoleon đệ III thuyết phục quốc hội Pháp chấp thuận việc xâm lược Đại Nam. 

LẦN 2: khi quân Thanh qua để “bảo vệ nhà Lê”, Nguyễn Ánh lập tức điều thuyền chở gạo ra tiếp tế cho quân Thanh, ủng hộ nhà Thanh đem quân vào Việt Nam. Cũng may sau đó quân Thanh đã bị Quang Trung đánh cho tan tác..

LẦN 3: Nguyễn Ánh rước quân Xiêm la (Thái lan) qua để đánh Tây Sơn. Trong lúc đóng quân, bọn Xiêm đã bắt, cướp, hiếp, giết dân Nam Bộ.. nhưng Ánh làm ngơ vì mục đích hạ bệ Tây Sơn, khiến lòng dân Nam Bộ từ ủng hộ sang ác cảm với Nguyễn Ánh. Và vẫn lại là Quang Trung chiến thần đập cho Xiêm la nhừ tử ... đến nổi từ đó nhắc đến Việt Nam là quân Xiêm kinh hồn tán đởm.

LẦN 4: Nguyễn Ánh đem vùng Trấn Ninh (rộng khoảng 45.000 km²) cắt cho vương quốc Vạn Tượng (Lào) chỉ nhằm để lôi kéo sự ủng hộ của họ ..vùng này hiện là... một nửa nước Lào ngày nay (ảnh-bản đồ)

 ✅ Với việc cắt thành công vùng đất Trấn Ninh cho Lào, Nguyễn Ánh là ông vua trao lãnh thổ đất nước cho ngoại quốc nhiều thứ 2 trong lịch sử Việt Nam (kém hơn Chắt nội là Tự Đức đã cắt cả Nam Kỳ Lục tỉnh cho thực dân Pháp). Nhưng Nam Kỳ Lục Tỉnh thì chúng ta đã lấy lại được còn Trấn Ninh thì... thôi rồi!!😞

✅Trong lịch sử nước Việt nghìn năm: thắng bại đều có đủ, nhưng chưa có ông vua nào giữ vững ngai vàng bằng cách mượn quân nước ngoài, thậm chí bán cả đất cha ông để lấy lòng giặc! vua như thế có đáng được nhân dân trọng vọng chăng ? 
    💖Cái gì ra cái đó, công tội phải rõ ràng: không thể phủ nhận công lao mở cõi của các Chúa Nguyễn dưới thời Lê Trung Hưng (Đàng Trong - Đàng Ngoài) nhưng cần nói cho rõ công đó là của các Chúa Nguyễn (Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên..):Nguyễn Hữu Cảnh mở cõi Đất Phương Nam vào năm 1698, theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu kinh lược vùng đất này-Trấn Biên (Biên Hòa) Phiên Trấn (Gia định) chứ đừng mập mờ là của triều đình nhà Nguyễn ( Gia Long 1762 mới sinh ra). 
     💖Còn công thống nhất đất nước ư? Nguyễn Ánh không thể làm gì được nếu hoàng đế Quang Trung không đánh bại mọi thế lực cát cứ (Trịnh, Nguyễn v.v..) và can thiệp (Xiêm, Thanh), mặc nhiên đã dọn cỗ, dọn đường cho Ánh bước lên ngôi cửu đỉnh...

     💖Xin đăng lại lần nữa để những ai .. cố ngụy biện rằng: "Nguyễn Ánh cắt đất chưa thành công, hay xướng lên chung chung: Gia long thống nhất đất nước , Gia long mở cõi” phải suy nghī lại..."./.
Theo ĐẠI VIỆT SỬ QUÁN
Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHIÊN HỌP 51 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI - TƯ DUY ĐỔI MỚI MẠNH MẼ TRONG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT!

     Theo chương trình Phiên họp thứ 51, tối 5/11, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận, cho ý kiến về: dự thảo Nghị quyết của Quốc hội quy định về một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai; dự thảo Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế đặc thù về một số chủ trương, chính sách trong Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; dự án Luật Dự trữ quốc gia (sửa đổi).

Giải phóng nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

Theo Tờ trình của Chính phủ về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội quy định về một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai, qua hơn một năm triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành cho thấy, các chính sách mới của Luật đã bước đầu mang lại hiệu quả, góp phần giải phóng nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bên cạnh những kết quả đạt được, xuất phát từ những yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, cần thiết phải ban hành Nghị quyết của Quốc hội để tiếp tục thể chế các quan điểm, định hướng của Đảng, đồng thời tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành Luật Đất đai.

Dự thảo Nghị quyết được bố cục thành 3 chương, 13 điều, với ba nhóm nội dung cơ bản: Các nội dung thể chế quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp theo Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Kết luận của Bộ Chính trị; các nội dung giải quyết “điểm nghẽn” đã được chỉ ra tại Thông báo số 08-TB/BCĐTW của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật; các nội dung để tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai.

Trình bày Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai năm 2024 với với các lý do như đã nêu tại Tờ trình của Chính phủ.

Hồ sơ dự thảo Nghị quyết đã được Chính phủ chuẩn bị nghiêm túc, đúng quy định, đủ điều kiện trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội xem xét, quyết định theo trình tự, thủ tục rút gọn. Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị tiếp tục rà soát các nội dung quy định tại dự thảo Nghị quyết, bảo đảm phù hợp quy định của Hiến pháp; không mâu thuẫn, chồng chéo với các pháp luật hiện hành; bảo đảm tính khả thi, công bằng, minh bạch, không gây khiếu kiện, khiếu nại, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân…

Tạo đột phá phát triển giáo dục và đào tạo

Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế đặc thù về một số chủ trương, chính sách trong Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo gồm 11 điều, quy định một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; áp dụng đối với các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, các tổ chức và cá nhân có liên quan.

Cho ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn lưu ý dự thảo Nghị quyết còn dàn trải, đồng thời đề nghị, dự thảo Nghị quyết cần tập trung vào một số cơ chế, chính sách thật sự đặc thù, vượt trội. Cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát dự thảo Nghị quyết để tránh trùng lặp với các cơ chế, chính sách được thể hiện tại dự thảo Luật, Chương trình mục tiêu quốc gia có liên quan được trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 10, bảo đảm tính khả thi của chính sách.

Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, các cơ quan chức năng cần đánh giá kỹ lưỡng, nghiên cứu đề xuất cơ chế chính sách đặc thù thu hút nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục đào tạo, chính sách ưu tiên dành trụ sở cơ quan dôi dư sắp xếp cho giáo dục. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu quy định cụ thể hơn về vấn đề nâng cao năng lực số; bố trí đủ nguồn lực, đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ phục vụ ch.uyển đ.ổi s.ố, phổ cập ứng dụng công nghệ trong quản lý, tổ chức hoạt động giáo dục và đào tạo.

Kết luận nội dung thảo luận này, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh đánh giá cao tinh thần trách nhiệm và tư duy đổi mới, sự chủ động, tích cực, phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan chủ trì thẩm tra trong quá trình chuẩn bị hồ sơ và tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết. Hồ sơ dự thảo Nghị quyết đã đủ điều kiện để trình Quốc hội cho ý kiến thảo luận thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cơ bản tán thành với các nội dung dự thảo Nghị quyết đã được tiếp thu, chỉnh lý theo ý kiến của cơ quan thẩm tra, đồng thời đề nghị Chính phủ chỉ đạo nghiên cứu, tiếp thu tối đa ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp, khẩn trương rà soát, hoàn thiện hồ sơ dự thảo Nghị quyết để trình Quốc hội, bảo đảm không trùng lặp, ngắn gọn, trọng tâm, với tinh thần đặc thù vượt trội để tạo đột phá cho phát triển giáo dục và đào tạo.

Hoàn thiện thể chế pháp luật trong lĩnh vực dự trữ quốc gia

Theo Tờ trình về dự án Luật Dự trữ quốc gia (sửa đổi) do Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng trình bày, mục đích ban hành Luật nhằm thể chế hóa chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước; hoàn thiện thể chế pháp luật trong lĩnh vực dự trữ quốc gia, qua đó tạo hành lang pháp lý đầy đủ, kịp thời, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, tháo gỡ vướng mắc tại các quy định pháp luật hiện hành trong hoạt động dự trữ quốc gia, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, phục vụ an sinh xã hội.

Đồng thời, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong việc xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật, thúc đẩy đơn giản hóa thủ tục hành chính và ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và ch.uyển đ.ổi s.ố; khơi thông, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực hợp pháp cho dự trữ quốc gia; kế thừa và phát huy những quy định hiện hành đã được thực tiễn chứng minh đem lại các tác động tích cực đến kinh tế - xã hội của đất nước; những nội dung cần sửa đổi, bổ sung phải có quy định rõ ràng, minh bạch.

Báo cáo thẩm tra dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi khẳng định, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính và Thường trực các Ủy ban của Quốc hội tán thành với sự cần thiết ban hành Luật Dự trữ quốc gia (sửa đổi); cho rằng hồ sơ dự án Luật bảo đảm đầy đủ theo quy định, đủ điều kiện để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét.

Đa số ý kiến trong Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính thống nhất với đề xuất trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét việc đưa dự án Luật vào Chương trình xây dựng pháp luật năm 2025 và trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 10 theo trình tự, thủ tục rút gọn; đề nghị Chính phủ rà soát kỹ phạm vi sửa đổi, chỉ tập trung vào những nội dung thật sự cấp bách và cần thiết phải sửa đổi ngay, nhằm bảo đảm chất lượng của dự án Luật khi trình Quốc hội xem xét, quyết định.

Phát biểu kết luận nội dung này, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải nêu rõ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đánh giá cao quá trình chuẩn bị hồ sơ dự án Luật và quá trình thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính. Để bảo đảm chất lượng dự án Luật, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ tiếp thu tối đa ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và của cơ quan thẩm tra. Trong đó, lưu ý tiếp tục rà soát bảo đảm thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng; nhấn mạnh dự trữ quốc gia không chỉ phục vụ mục tiêu cứu trợ trong tình huống khẩn cấp mà cần thực sự trở thành dự trữ chiến lược, làm công cụ phục vụ điều tiết thị trường để bảo đảm nền kinh tế vận hành ổn định, hiệu quả theo quy luật thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, là một trong những trụ cột quan trọng của an ninh quốc gia, an ninh kinh tế và phát triển bền vững.../.


Theo QĐND
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUÂN KHU 5 TRIỂN KHAI CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG BÃO SỐ 13 TẠI GIA LAI.

     Sáng 6-11, tại Gia Lai, Trung tướng Lê Ngọc Hải, Tư lệnh Quân khu 5 đã trực tiếp kiểm tra công tác phòng, chống bão số 13 tại cảng cá Quy Nhơn và Trường Mầm non Hoa Phong Lan.

Tại Cảng cá Quy Nhơn, Trung tướng Lê Ngọc Hải biểu dương tinh thần chủ động của cấp ủy, chính quyền, lực lượng vũ trang trong triển khai các phương án ứng phó với bão, đồng thời yêu cầu các lực lượng tiếp tục thực hiện nghiêm phương châm “4 tại chỗ”, nắm chắc tình hình, không để bị động, bất ngờ khi bão đổ bộ.

Đồng chí Tư lệnh Quân khu 5 yêu cầu Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Gia Lai cần tăng cường kiểm tra, tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ ngư dân đưa tàu thuyền, phương tiện, lồng bè nuôi trồng thủy hải sản về nơi neo đậu an toàn; tuyệt đối không để người dân ở lại trên tàu hoặc quay trở lại khi đã được sơ tán.

Đến kiểm tra Trường Mầm non Hoa Phong Lan khu vực tránh trú bão tập trung trên địa bàn phường Quy Nhơn, đồng chí Tư lệnh Quân khu 5 yêu cầu các đơn vị cần chuẩn bị chu đáo các vật dụng sinh hoạt, vệ sinh sạch sẽ, rộng rãi để bà con yên tâm trú bão. Đặc biệt, chuẩn bị các nhu yếu phẩm cần thiết, các suất ăn phù hợp, đầy đủ dinh dưỡng, bố trí chu đáo cho người dân trong suốt quá trình tránh trú./.


Môi trường ST.