Thứ Ba, 23 tháng 12, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 🌸NHÂN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA 🇻🇳

     Mùa xuân là mùa đất trời giao hòa, cây cối đâm chồi nảy lộc, khởi đầu cho những ước mơ và hy vọng mới. Trong mùa xuân của dân tộc, Đại hội XIV được kỳ vọng sẽ là mùa xuân của trí tuệ và khát vọng, nơi những quyết sách lớn kết tinh thành niềm tin chiến thắng cho tương lai đất nước.

Có những mùa lịch sử được nhận ra bằng sự lắng sâu của niềm tin, ý Đảng hợp lòng Dân và Hội nghị Trung ương 15 diễn ra trong mạch nguồn ấy nơi Đảng, Nhà nước là của Dân, do Dân và vì Dân, đặt nhân tài vào trung tâm của đổi mới và gửi gắm tương lai đất nước bằng trí tuệ Việt Nam.

Tư tưởng trọng dụng nhân tài đã xuyên suốt hành trình cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người.” Người coi dùng người hiền tài là việc gốc của Đảng và Nhà nước.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Có nhân dân, có trí tuệ tập thể thì không có gì là không thể thắng.”

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh mở đường Đổi mới bằng tinh thần: dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì dân, vì nước.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: Công tác cán bộ là then chốt của then chốt; phải vừa có đức, vừa có tài, trong đó đức là gốc.

Từ chiến tranh đến hòa bình, từ kiến thiết đến phát triển, một chân lý chưa từng đổi thay: sự đoàn kết trong Đảng, sự đồng lòng của Nhân dân là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đoàn kết để vượt qua bom đạn, đoàn kết để bước vào Đổi mới, và hôm nay đoàn kết để bứt phá, phát triển nhanh, bền vững.

Tinh thần ấy tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong đội ngũ lãnh đạo hiện nay. 

Ngay lúc này nước ta đang có được một thế hệ hiền tài đầy đủ phẩm chất chung tay đưa đất nước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Sớm thôi đất nước ta sẽ như ý định Bác Hồ mong muốn sánh vai cùng cường quốc năm châu./.





Yêu nước ST.

Thứ Hai, 22 tháng 12, 2025

NHÓM “NHÂN SỸ, TRÍ THỨC” HAY NHÓM “CHỐNG CHẾ ĐỘ, NHÓM SUY THOÁI” VỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC!

     Đó là biệt danh không phải chỉ có cộng đồng mạng, mà của cả những người thân, đồng môn, đồng liêu và bạn hữu một thời đặt cho “Nhóm kiến nghị 72”. Trong nhóm này, có ông Nguyễn Đình Lộc (sinh năm 1935), ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An và từng là Bộ trưởng thứ hai của Bộ Tư pháp, giai đoạn 1992-2002. Thuộc thành phần cơ bản thời ấy và lại thông minh, ham học nên ông ta đã được cử đi đào tạo tại Liên Xô và có bằng phó tiến sĩ luật học. Sau khi về nước, ông ta được trọng dụng vào các vị trí quan trọng ở nhiều cơ quan khác nhau và là đại biểu Quốc hội các khóa VII (1981-1987), IX (1992-1997), X (1997-2002), XI (2002-2007). Và cũng như Nguyễn Đình Lộc, tất thảy những người trong nhóm này đều từng là cán bộ cấp cao hoặc trí thức có danh tiếng một thời ở các bộ, ngành của Trung ương và các trường đại học tại Hà Nội. Thế nhưng không bao lâu sau khi nghỉ hưu, cả Nguyễn Đình Lộc và những người trong nhóm này vì các lý do khác nhau đã nảy sinh bất mãn, cơ hội chính trị rồi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thành kẻ tự phản lại chính mình.

Vào ngày 4-2-2013, Nguyễn Đình Lộc với vai trò là người cầm đầu “nhóm kiến nghị 72”, gọi là “nhóm nhân sĩ, trí thức”, đã trao kiến nghị sửa Hiến pháp tại Văn phòng Ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Đây thực sự là nhóm chống Đảng, chống Nhà nước, gồm những cái tên cộm cán nhưng bất hảo như: Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội; giáo sư Hoàng Xuân Phú; nhà văn Nguyên Ngọc; giáo sư Tương Lai; Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội; Phan Hồng Giang, tiến sĩ khoa học, nhà nghiên cứu văn hóa, Hà Nội; Lê Công Giàu, nguyên Phó bí thư Thường trực Thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh; Phạm Duy Hiển, giáo sư, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội; Huỳnh Tấn Mẫm, bác sĩ, đại biểu Quốc hội khóa VI, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước năm 1975...

Nhóm người này đã tự xưng trong bản kiến nghị, rằng: “…chúng tôi, những người Việt Nam ký tên dưới đây… nói lên ý kiến để nhân dân ta có một Hiến pháp bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ và sự phát triển bền vững của đất nước, mang lại tự do hạnh phúc cho các thế hệ hiện tại và tương lai…”. Tất nhiên là nhóm người này không quên gửi kèm bản “Dự thảo Hiến pháp 2013” - gọi là tài liệu để tham khảo, thảo luận. Điều muốn nói ở đây là trong nội dung của bản kiến nghị này, có nhiều quan điểm sai trái mà lâu nay một số người thuộc nhóm bất mãn chế độ, cơ hội chính trị, phản động ở cả trong và ngoài nước được sự “tiếp sức” của các thế lực cực đoan, thù địch sử dụng như là một chiêu bài hòng chống phá Đảng và Nhà nước ta. Theo đó, những nội dung chính của kiến nghị chống Đảng này là:

Thứ nhất, họ đưa ra yêu cầu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Điều 4 của Hiến pháp, với lý lẽ vừa hết sức ngụy biện vừa suy diễn một cách tùy tiện, vừa công kích nói xấu Đảng ta. Trong khi đó, thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng lãnh đạo đã chứng minh rằng, chỉ có tổ chức tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam mới mang lại độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân. Hơn nữa, trong toàn bộ quá trình thực thi các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và Hiến pháp năm 1992, đều gắn liền với những thắng lợi vĩ đại do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đây là sự thật lịch sử hoàn toàn không thể phủ nhận. Do vậy, việc đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp nếu xét về mặt đạo lý thuần túy thì đó là hành động vô ơn, bội nghĩa.

Thứ hai, họ đòi phân chia sự lãnh đạo duy nhất của Đảng, bằng cách yêu cầu thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, với lập luận “ru ngủ”, thậm chí là “mập mờ đánh lận con đen”, như: “Việc Đảng cầm quyền chấp nhận cạnh tranh chính trị là phù hợp với xu thế lịch sử, là điều kiện cho sự phát triển của đất nước, đáp ứng đòi hỏi của nhân dân, kể cả các đảng viên trung thực của Đảng Cộng sản Việt Nam trước bối cảnh hiện nay của đất nước”. Đúng là giọng điệu nói láo, bởi vì chẳng có nhân dân hay đảng viên nào chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, ngoài những kẻ hèn nhát và phản động như chúng. Vì thế, nếu những ai bản lĩnh chính trị không vững vàng, lại nhẹ dạ cả tin và mất cảnh giác thì rất dễ dàng sa vào cái bẫy của họ. Thực tế đã có một số cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, có tài sản không nhỏ đã bị mắc lừa và cuối cùng là thân bại, danh liệt. Chưa hết, có người chỉ vì ham cái “bánh vẽ” của bọn xấu để rồi phải ngồi tù vì tội phản dân, hại nước.

Thứ ba, nhóm này đòi phi chính trị đối với lực lượng vũ trang. Họ đưa ra lập luận hết sức đơn điệu và lạc lõng rằng: “Lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào như quy định tại Điều 70 của Dự thảo Hiến pháp năm 2013”. Từ chỗ lập luận điên rồ này, họ đã đi đến chỗ ngông cuồng bằng việc đưa ra tuyên bố: “Chúng tôi yêu cầu bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”. Đây quả là một đòi hỏi phi lý và vô cùng lố bịch. Vì, nếu không có lực lượng vũ trang tuyệt đối trung thành thì liệu đất nước Việt Nam có được như ngày nay không? Và bài học về tình hình đảo chính ở Myanmar hiện nay là bài học cho những ai còn mơ hồ về vai trò lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng đối với lực lượng vũ trang, cũng như sự trung thành tuyệt đối của lực lượng vũ trang đối với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đa nguyên chính trị, đa đảng lãnh đạo ắt sẽ xảy ra tranh giành quyền lãnh đạo và cuộc đảo chính ở Myanmar hiện nay, cũng như ở một số quốc gia trên thế giới thời gian qua vừa là bằng chứng vừa là bài học để nhân dân Việt Nam không chấp nhận đa đảng. Vì vậy, “nhóm kiến nghị 72” không đủ tư cách đại diện cho hơn 90 triệu người Việt Nam, mà chỉ là đại diện cho chính họ. Đó là những kẻ bất mãn với chế độ và cơ hội chính trị, rồi lại được các thế lực thù địch, phản động bơm thổi, dụ dỗ, kích động, lôi kéo, cổ xúy để thực hiện chiêu bài “diễn biến hòa bình”, “chiến tranh không tiếng súng” nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta, chống lại khát vọng xây dựng một nước Việt Nam độc lập, hòa bình, thịnh vượng của nhân dân ta.

Xin nhắc lại để mọi người đừng bao giờ quên rằng, những kẻ trở cờ, phỉ báng lịch sử, phản bội lý tưởng và dân tộc..., không bao giờ có kết cục tốt đẹp dù có chui xuống mồ. Luật đời là thế, đối với những kẻ như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống ngày xưa và thời nay là Hoàng Văn Hoan, Trần Xuân Bách, Nguyễn Hà Phan, Trần Độ, Bùi Tín, Hoàng Minh Chính, Lê Hiếu Đằng, Nguyễn Trọng Vĩnh… thì nỗi nhục phản quốc cùng với tiếng nhơ muôn đời không bao giờ gột rửa được./.
SƯU TẦM! 

SAI LẦM CÓ THỂ SỬA, PHẢN BỘI THÌ KHÔNG!

     Lịch sử của một dân tộc không phải là bản thảo nháp để ai đó tùy tiện gạch xóa, sửa câu, thay nghĩa theo cảm xúc cá nhân hay theo “thị hiếu” tư tưởng thời thượng. Lịch sử càng không phải là vật hy sinh cho những thử nghiệm văn chương vô trách nhiệm.

Sai lầm, nếu có, có thể nhận diện, có thể sửa chữa, nhưng phản bội thì không. Bởi phản bội không phải là nhầm lẫn nhận thức. Phản bội là lựa chọn có ý thức, là lựa chọn đứng sang phía đối lập với sự thật lịch sử, với giá trị cốt lõi đã làm nên sự tồn tại của quốc gia, với máu xương của hàng triệu người đã ngã xuống.

Đánh tráo khái niệm

Trong nhiều năm qua, dưới danh nghĩa “đổi mới tư duy”, “nhìn lại chiến tranh từ góc độ cá nhân”, một số tác phẩm văn học đã đi quá giới hạn phản tư cần thiết để trượt sang đánh tráo bản chất lịch sử.

Từ phản ánh số phận con người trong chiến tranh, họ lặng lẽ chuyển sang lật ngược hệ giá trị, biến người anh hùng thành kẻ đáng ngờ, biến cuộc chiến vệ quốc chính nghĩa thành bi kịch vô nghĩa, và biến Quân giải phóng (lực lượng làm nên độc lập, thống nhất đất nước) thành một tập hợp méo mó, suy đồi, mất nhân tính.

Mố số tác phẩm văn học nhận được sự phản đối gay gắt của nhân dân thời gian qua là minh chứng về sự phản bội tư tưởng. Không phải vì các tác phẩm đó viết về nỗi đau, bởi chiến tranh nào không có đau thương. Mà vì trong nhiều lớp miêu tả, tác phẩm đã xuyên tạc hình tượng người chiến sĩ, gán cho họ những hành vi, tâm thế, bản năng đi ngược hoàn toàn với kỷ luật, lý tưởng, phẩm giá của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ở đây, cần nói thẳng: Nếu là sai sót nghệ thuật, có thể tranh luận. Nếu là góc nhìn cá nhân, có thể đối thoại. Nhưng khi lặp đi lặp lại một hình ảnh người lính suy đồi, bạo lực vô kỷ luật, trụy lạc, vô nhân đạo, khi những chi tiết hư cấu chạm tới danh dự của cả một quân đội, thì đó không còn là sai lầm, mà đó là lựa chọn tư tưởng.

Không thể nhân danh văn chương để bóp méo lịch sử

Một dân tộc có thể chấp nhận nhà văn viết về nỗi đau, nhưng không thể chấp nhận việc nhà văn đứng trên nỗi đau ấy để phủ nhận chính nghĩa của cuộc chiến.

Càng không thể chấp nhận việc nhân danh “tự do sáng tạo” để gieo rắc hoài nghi về nền tảng đạo đức của Quân giải phóng, lực lượng đã hy sinh không phải cho một học thuyết trừu tượng, mà cho độc lập dân tộc, cho quyền được làm người của nhân dân Việt Nam.

Văn chương không đứng ngoài trách nhiệm xã hội, và nhà văn càng không đứng ngoài lịch sử.

Khi một tác phẩm khiến cho kẻ thù cũ hả hê, khiến những thế lực chống phá lịch sử Việt Nam coi đó là “bằng chứng nội sinh, sinh động”, trong khi lại gây tổn thương sâu sắc cho cựu chiến binh, thương binh, thân nhân liệt sĩ thì câu hỏi cần đặt ra không phải là “tác phẩm hay hay dở”, mà là tác phẩm đó đang phục vụ cho hệ giá trị nào?

Sai lầm có thể sửa, phản bội thì không

Có người nói, đó chỉ là văn học, đừng chính trị hóa. Lập luận này nghe thì có vẻ “ôn hòa”, nhưng thực chất là trốn tránh trách nhiệm.

Cũng không ai nhầm lẫn văn học với sử học. Nhưng văn học viết về lịch sử thì không được quyền bịa đặt làm tổn hại lịch sử.

Bởi lịch sử Việt Nam chưa bao giờ là câu chuyện trung tính. Cuộc kháng chiến chống Mỹ (1945 - 1975) không phải là cuộc xung đột vô nghĩa giữa những cá nhân lạc lối, mà là cuộc chiến vệ quốc vĩ đại, nơi hàng triệu con người đã tự nguyện đặt sinh mạng mình dưới lá cờ độc lập.

Khi một tiểu thuyết lấy bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, sử dụng hình tượng người chiến sĩ Quân giải phóng, tức chủ thể lịch sử có thật, thì mọi hư cấu đều phải tôn trọng ranh giới đạo đức và sự thật nền tảng.

Xuyên tạc hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong cuộc chiến ấy không phải là “cách nhìn khác”, mà là phủ định nền tảng đạo đức của cả một thời đại. Và phủ định có hệ thống, có chủ ý, lặp lại nhiều lần thì không thể gọi là vô tình.

Nếu văn học được phép gán cho bộ đội những hành vi vô kỷ luật, vô nhân tính; khắc họa họ như tập hợp những con người suy đồi, trụy lạc, bạo lực bản năng; làm mờ hoặc phủ định lý tưởng chiến đấu; … rồi biện minh bằng câu “đây chỉ là văn học”, thì mọi biểu tượng lịch sử đều có thể bị xé nát.

Sai lầm là khi người ta nhận ra mình đã đi lệch và quay lại. Phản bội là khi biết rõ mình đang đi đâu, nhưng vẫn đi. Và lịch sử dân tộc Việt Nam không có nghĩa vụ phải khoan dung với sự phản bội ấy, dù nó khoác lên mình chiếc áo văn chương bóng bẩy đến đâu.

Không thể im lặng trước sự phản bội giá trị

Một câu hỏi không thể né tránh, đó là: Ai hưởng lợi khi hình tượng Quân giải phóng bị bôi nhọ? Ai hưởng lợi khi cuộc chiến vệ quốc bị gọi là “bi kịch vô nghĩa”? Ai hưởng lợi khi lớp trẻ được dẫn dắt để nhìn lịch sử dân tộc bằng con mắt hoài nghi, yếm thế, mất niềm tin?

Câu trả lời không nằm trong nước, và đó là lý do vì sao những tác phẩm méo mó tư tưởng đó luôn được tung hô, khai thác, trích dẫn ở những diễn đàn vốn chưa bao giờ thiện chí với lịch sử Việt Nam.

Người chiến sĩ  đã ngã xuống thì không thể tự lên tiếng. Nhưng những người còn sống thì không có quyền im lặng.

Bảo vệ lịch sử không phải là bảo thủ. Bảo vệ hình tượng Bộ đội Cụ Hồ  không phải là thần thánh hóa. Đó là giữ gìn ranh giới đạo đức tối thiểu để một dân tộc không tự cắt rễ của mình.

Sai lầm, nếu có, còn có thể sửa. Nhưng khi đã lựa chọn đứng về phía bóp méo, xuyên tạc, lật sử, thì đó không còn là sai lầm.

Đó là phản bội. Và với lịch sử, phản bội là không thể tha thứ.

Ảnh 1: Mảnh tường còn sót lại ở Khâm Thiên (Hà Nội) sau trận Điện Biên Phủ trên không thách thức Ních-xơn. Ảnh: Báo Nhân Dân

Ảnh 2: Trên đống đổ nát của Bệnh viện Bạch Mai, từ phải sang: nhà báo, nhà văn Thép Mới, nhà thơ Chế Lan Viên, nhà thơ Huy Cận (quàng khăn kẻ). Ngoài cùng bên trái là nhà văn Nguyễn Tuân. Mọi người đang nghe Anh hùng Lao động, GS, bác sĩ Trần Hữu Tước (người xách cặp) tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ./.

Ảnh tư liệu.
Môi trường ST.

TIN MỚI NHẬN: CHỈ ĐẠO CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM!

     Hy vọng vụ vinh danh "Nỗi buồn chiến tranh" không bị chìm xuồng, sớm có kết luận để khởi tố, điều tra và mở rộng vụ án.

Sáng 19/12, Tổng Bí thư Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác Tuyên giáo và Dân vận của Đảng năm 2025. Trong bài phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư có nội dung:

"Bám sát thực tiễn,"bắt đúng mạch nguồn, thấu từng nhịp đập" của đời sống nhân dân và dư luận xã hội. Công tác này phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, nhạy bén, không để bị động, bất ngờ. Các đồng chí phải thực sự "Nghe bằng tai, hiểu bằng tâm, thuyết phục bằng lý, dẫn dắt bằng tình"; phải thực hiện cho kỳ được phương châm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn "Nghe dân nói, nói cho dân hiểu, làm cho dân tin" và trong giai đoạn hiện nay, phải "cổ vũ và cùng nhân dân hành động". Lấy nhân dân là chủ thể, làm trung tâm; nắm chắc tình hình nhân dân; sử dụng tối đa các công cụ đo lường, phân tích dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo để "lắng nghe" tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Từ đó, tham mưu cho Đảng, Nhà nước những chủ trương, chính sách hợp lòng dân, giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc ngay từ khi mới phát sinh, không để hình thành các "vùng trũng" dư luận”.

Với chỉ đạo này của Tổng Bí thư Tô Lâm, vụ vinh danh tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” đang gây bức xúc dư luận, ảnh hưởng bộ mặt chính trị đất nước khi một số báo nước ngoài đưa tin, hàng triệu cựu chiến binh và quân nhân trong Quân đội Nhân dân Việt Nam và đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân cả nước bức xúc.

Căn cứ Luật An ninh mạng đang thắt chặt. Hy vọng cuốn "Nỗi buồn chiến tranh” bị thu hồi và sớm khởi tố vụ án vì sự phát tán tuyên truyền bôi nhọ những người lính ảnh hưởng đến bộ Quốc phòng. Xử lý pháp luật đối với một số cá nhân lợi dụng vụ việc để đăng phát tán những thông tin bôi nhọ xúc phạm người lính cụ Hồ. Làm rõ động cơ mục đích chính trị để có hình thức tăng nặng hành vi phạm tội./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN:: BẾ MẠC HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 15!

     Sáng 23/12, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 15 họp phiên bế mạc sau khi hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra, trong đó báo cáo về công tác nhân sự Đại hội 14.

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 15, Tổng Bí thư Tô Lâm cho biết sau hai ngày làm việc, Trung ương đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình với "sự đoàn kết, thống nhất cao, chất lượng tốt". Các Ủy viên Trung ương "đã thể hiện sự tâm huyết, dân chủ, thẳng thắn, trung thực, cách mạng, khoa học, với tinh thần trách nhiệm của người Đảng viên trước Đảng, nhân dân và đất nước".

Trung ương đã "thảo luận sôi nổi, kỹ lưỡng và nhất trí thông qua" Dự thảo Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương khóa 13 về các Văn kiện trình Đại hội 14, đặc biệt là Báo cáo Chính trị và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội 14 của Đảng.

Đồng thời, Trung ương thống nhất thông qua báo cáo về công tác nhân sự của Đảng để báo cáo Đại hội 14. Trung ương cũng biểu quyết thông qua "với số phiếu tập trung cao" nhân sự giới thiệu tham gia Ban chấp hành Trung ương khóa 14, giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước nhiệm kỳ 2026-2031 để trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 14 của Đảng xem xét, quyết định và tổ chức bầu cử theo điều lệ và quy định của Đảng.

Tại hội nghị, Trung ương thảo luận kỹ nội dung, công việc chuẩn bị để tổ chức thành công Đại hội 14 của Đảng.

Trước đó trong ngày làm việc hôm qua, Trung ương họp riêng, cho ý kiến hoàn thiện Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 13 về công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 14 để trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 14 của Đảng và Hội nghị Trung ương lần thứ nhất khóa 14 quyết định, tổ chức bầu cử theo quy định.

Chiều cùng ngày, Trung ương làm việc tại tổ, thảo luận và cho ý kiến về dự thảo các văn kiện trình Đại hội 14, gồm Báo cáo chính trị; Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng giai đoạn 2011-2025 và đề xuất, định hướng bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN PHÁT BIỂU BẾ MẠC HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 15, KHÓA XIII CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM!

     Sáng 23/12, tại Trụ sở Trung ương Đảng diễn ra Lễ bế mạc Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII. Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Kính thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính Trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng,

Thưa các đồng chí Đại biểu tham dự Hội nghị.

Sau 2 ngày làm việc khẩn trương, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra với sự đoàn kết, thống nhất cao, chất lượng tốt. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư tôi xin cảm ơn các đồng chí Ủy viên Trung ương đã thể hiện sự tâm huyết, dân chủ, thẳng thắn, trung thực, cách mạng, khoa học với tinh thần trách nhiệm của người Đảng viên trước Đảng, Nhân dân và Đất nước.

Ban chấp hành Trung ương thống nhất đánh giá: Lịch sử gần 100 năm Đảng cộng sản Việt Nam Lãnh đạo Cách mạng Việt Nam đã đạt được những thành tựu vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử to lớn. Thực hiện Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh sửa đổi, bổ sung năm 2011 hoàn chỉnh thời kỳ quá độ tiến lên Chủ nghĩa xã hội đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp; con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của Đất nước ta là nhu cầu thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại. 40 năm đổi mới, trong đó có những đóng góp nổi bật của nhiệm kỳ Đại hội XIII, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục, quyết liệt, là sản phẩm kết tinh của tinh thần, ý chí dân tộc với Đảng, Nhà nước, Nhân dân. Qua đó chúng ta đã đúc kết được những bài học quý báu mang tầm lý luận cao, có giá trị định hướng thực tiễn cho sự nghiệp Cách mạng của Dân tộc ta trong kỷ nguyên mới.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng cảm ơn sự đồng hành, đồng thuận và đóng góp ý kiến của Đảng viên, Cán bộ, Chiến sỹ và Nhân dân về những chủ trương, chính sách, Nghị quyết của Đảng.

Ban chấp hành Trung ương nhận thấy: Trong suốt nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, bối cảnh tình hình thế giới, khu vực liên tục chuyển động với tốc độ cao, có nhiều yếu tố bất định, tạo ra nhiều khó khăn, thách thức mà chúng ta phải đối mặt. Dịch bệnh, thiên tai, bão lũ, biến đổi khí hậu cùng một số khó khăn về địa chính trị, địa kinh tế và một số vấn đề kinh tế- xã hội khác dồn dập xảy ra. Nhưng Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã đoàn kết một lòng, kiên định, tự chủ, sáng tạo với quyết tâm và nỗ lực đặc biệt lớn, ban hành nhiều chủ trương, chính sách, quyết sách chiến lược mang tầm đương đại, đột phá để lãnh đạo Nhân dân cả nước hoàn thành toàn bộ các mục tiêu, chỉ tiêu, yêu cầu, chương trình, kế hoạch mà Đại hội XIII đã đề ra. Tạo ra tiềm năng mới, động năng mới, không gian phát triển mới cho đất nước trong kỷ nguyên mới. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững tinh thần tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường của đất nước.

Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận sôi nổi, kỹ lưỡng và nhất trí thông qua Dự thảo Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương khóa XIII về các Văn kiện trình Đại hội XIV, đặc biệt là Báo cáo Chính trị và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Ban Chấp hành Trung ương xác định trong giai đoạn cách mạng mới, chúng ta cần tập trung thực hiện 3 đột phá chiến lược, đó là (1) Đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển; đẩy mạnh phân cấp phân quyền; thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển năng lực sản xuất mới, các mô hình, phương thức sản xuất kinh doanh mới. (2) Tập trung chuyển đổi cơ cấu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, trọng dụng nhân tài; đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi chung. (3) Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng công nghệ và hạ tầng năng lượng. Đồng thời nỗ lực thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu với 6 trọng tâm: (1) Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. (2) Xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách. (3) Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa; nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế nhà nước, phát triển khu vực kinh tế tư nhân; xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. (4) Tập trung triển khai đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới hiện đại, phương thức sản xuất mới hiệu quả. (5) Phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước (6) Tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; đẩy mạnh triển khai chiến lược đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới.

Ban chấp hành Trung ương đã thống nhất thông qua báo cáo về công tác nhân sự của Đảng để báo cáo Đại hội lần thứ XIV của Đảng và biểu quyết thông qua với số phiếu tập trung cao nhân sự giới thiệu tham gia Ban chấp hành Trung ương khóa XIV, giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước nhiệm kỳ 2026-2031 để trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ lần thứ XIV của Đảng xem xét, quyết định và tổ chức bầu cử theo điều lệ và quy định của Đảng.

Ban chấp hành Trung ương đã thảo luận kỹ nội dung các công việc chuẩn bị và tổ chức thành công Đại hội XIV của Đảng: Quy chế làm việc của Đại hội, Quy chế bầu cử trong Đảng; Báo cáo về công tác kiểm tra giám sát của Đảng trong nhiệm kỳ XIII và đã thông qua dự kiến danh sách Đoàn Chủ tịch, Đoàn Thư ký, Ban thẩm tra tư cách Đại biểu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Ban kiểm phiếu Đại hội XIV; Nhất trí với các tờ trình, các báo cáo mà Bộ Chính trị, Ban Bí thư trình ra Hội nghị Trung ương 15. Ban Chấp hành Trung ương đã giao Bộ Chính trị tiếp tục hoàn thiện các công việc chuẩn bị tốt nhất phục vụ tổ chức thành công Đại hội XIV của Đảng.

Ban chấp hành Trung ương hoan nghênh và biểu dương thành viên các Tiểu ban Đại hội XIV của Đảng đã rất nỗ lực, cố gắng, khắc phục khó khăn, hoàn thành các nhiệm vụ đươc giao đúng thời hạn, đảm bảo chất lượng. Đề nghị các đồng chí tiếp tục nỗ lực hơn nữa hoàn thành các công việc từ nay tới khi tổ chức thành công Đại hội XIV của Đảng.

Thưa các đồng chí,

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV là một sự kiện chính trị trọng đại của Đảng và Dân tộc ta, là một dấu mốc lịch sử của Đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh, đánh dấu sự hội tụ truyền thống ngàn năm Văn hiến của Dân tộc để vươn mình trong kỷ nguyên mới. Cán bộ, Đảng viên và Nhân dân đang rất quan tâm, theo dõi, mong chờ và đặt nhiều kỳ vọng vào sự thành công của Đại hội. Tôi đề nghị các đồng chí Trung ương và toàn thể Đảng viên trong toàn Đảng tiếp tục phát huy tinh thần, trách nhiệm đảng viên, nghiêm túc thực hiện và lãnh đạo tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15; Tập trung làm tốt công việc thường xuyên, khẩn trương thực hiện những nhiệm vụ còn lại của công tác tổ chức để Đại hội đại biểu Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thành công tốt đẹp đúng như chương trình, kế hoạch đề ra.

Thay mặt các đồng chí được tín nhiệm giới thiệu đề cử Ban Chấp hành Trung ương và các chức danh lãnh đạo khóa tới để Đại hội XIV xem xét quyết định, Chúng tôi xin cảm ơn các đồng chí Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tin tưởng giao nhiệm vụ. Chúng tôi tiếp tục đoàn kết, thống nhất làm việc với tinh thần trách nhiệm và hiệu quả cao, đáp ứng sự tin cậy của Đảng và Nhân dân.

Với tinh thần đó tôi tuyên bố Bế mạc Hội nghị lần thứ 15 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Nhân dịp chuẩn bị đón năm mới 2026, tôi xin chúc các đồng chí và gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc và mọi điều tốt đẹp. Đồng thời yêu cầu các đồng chí Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác tổng kết năm 2025 với hướng gọn nhẹ, thực chất, tiết kiệm, hiệu quả, không tạo áp lực cho các cấp cơ sở; triển khai các mặt công tác thiết thực để nhân dân đón năm mới 2026 thật vui tươi, an toàn, lành mạnh, hạnh phúc; bắt tay ngay vào những công việc của năm 2026 và nhiệm vụ công tác nhiệm kỳ 2026-2031 của đơn vị, địa phương các đồng chí.

Xin trân trọng cảm ơn!


Yêu nước ST.

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2025

PHÁT BIỂU CỦA “THỦ LĨNH TRẺ” TỪ LÒ FULBRIGHT...

     Đố các bạn biết GIẤC MƠ THAY ĐỔI CUỘC CHƠI của những "thủ lĩnh" được đào tạo từ lò đào tạo Fulbright là gì???

"Chúng ta bắt đầu nhìn thế giới không chỉ từ một mà từ nhiều quan điểm đa ngành , chúng ta bắt đầu đặt những câu hỏi cơ bản như điều gì là tốt , điều gì là đạo đức và điều gì là đúng.

Ngay cả khi chúng ta chắc chắn điều gì đó là đúng, thầy Kinho Chan - giảng viên sáng lập môn Khám phá khoa học sẽ chất vấn: "Em có thực sự chắc chắn không?"

Một khi chúng ta phá vỡ những bức tường cũ chúng ta bắt đầu nhìn thế giới như nó vốn có và trở thành những nhà tư tưởng độc lập.

Vậy thì tại sao điều này lại quan trọng?

Việc chúng ta trở thành những nhà tư tưởng khai phóng là quan trọng bởi vì những suy nghĩ vĩ đại tạo nên tiền đề cho những hành động vĩ đại.

Chúng ta không thể là người thay đổi cuộc chơi nếu chúng ta không nhận ra cách trò chơi được vận hành , chúng ta không thể là những người tiên phong nếu chúng ta không nhìn thấy những điều chưa kể.

Chúng ta không thể cứu một khu rừng nếu chúng ta không nhìn ra khỏi hàng cây . Vì vậy tâm trí của những nhà tư tưởng tự do mà chúng ta đã xây dựng tại Fulbright sẽ tạo tiền đề cho bất kỳ giấc mơ lớn nào mà chúng ta ấp ủ trong tương lai"./.

Môi trường ST.

LÊ TRUNG KHOA SỬ DỤNG AI, DEEPFAKE ĐỂ GIẢ MẠO ÂM THANH, HÌNH ẢNH LÃNH ĐẠO!

     Cơ quan điều tra xác định, Lê Trung Khoa sử dụng công nghệ AI, Deepfake để giả mạo âm thanh, hình ảnh của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, trục lợi rất lớn từ lượt truy cập của người xem.

Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao đã ban hành Cáo trạng số 2320/CT-VKSTC-V1 truy tố bị can Lê Trung Khoa về tội “Làm, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại khoản 2 Điều 117 Bộ luật Hình sự. Trước đó, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã ra Quyết định truy nã số 1642/QĐTN-ANĐT-P3 đối với Lê Trung Khoa. Cùng vụ án, lực lượng chức năng đã bắt giữ các đồng phạm của Khoa là Đỗ Văn Ngà (SN 1977, quê Gia Lai) và Phạm Quang Thiện (SN 1978, quê Hưng Yên).

Theo cơ quan điều tra, Lê Trung Khoa sinh năm 1971 tại tỉnh Thanh Hóa, quốc tịch Việt Nam, có hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh sang Cộng hòa Liên bang Đức tại ngõ 81 đường Láng, phường Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Từ năm 1971 đến năm 1988, Khoa ở với gia đình, học hết cấp III tại trường Phổ thông Trung học Nguyễn Huệ (nay là trường Phổ thông Trung học Quang Trung, Đống Đa) thành phố Hà Nội. Từ năm 1988, Khoa là sinh viên của trường Đại học Mỹ Thuật công nghiệp. Đến năm 1994, Lê Trung Khoa bị cho thôi học. Từ tháng 1/2016, Lê Trung Khoa xuất cảnh sang Cộng hòa liên bang Đức.

Cơ quan điều tra xác định: Tại Đức, Lê Trung Khoa đã sử dụng trang thoibao.de (do Khoa thành lập và làm Tổng biên tập, có trụ sở tại Berlin, Cộng hòa Liên bang Đức) để đăng tải nhiều bài viết có nội dung công kích lãnh đạo Đảng, Nhà nước; trả lời phỏng vấn BBC, VOA, RFA... tổ chức thảo luận bàn tròn, hội luận trực tuyến để xuyên tạc tình hình “tự do báo chí, tự do ngôn luận” ở Việt Nam.

Thời gian gần đây, Lê Trung Khoa sử dụng các kênh truyền thông, trang mạng xã hội để đăng tải hàng nghìn bài viết, video xuyên tạc tình hình chính trị, dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam. Đặc biệt là rất nhiều bài viết có nội dung bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xuyên tạc tình hình nội bộ của ta gây hoang mang dự luận trong quần chúng nhân dân. Đồng thời, Lê Trung Khoa móc nối, câu kết với nhiều đối tượng phản động khác như: Vũ Quốc Phương, Vũ Quốc Dụng, Nguyễn Văn Đài... công khai tiến hành các hoạt động chống Việt Nam.  

Cơ quan điều tra xác định, Lê Trung Khoa trục lợi số tiền rất lớn từ lượng truy cập, lượt xem của người dùng, 90% đến từ Việt Nam. Đây là nguồn tiền tài trợ cho hoạt động chống phá, thúc đẩy đối tượng gia tăng sản xuất nội dung xuyên tạc, bịa đặt nhằm thu hút lượt xem, sự theo dõi của dư luận. Lượt xem càng cao thì số tiền đối tượng trục lợi càng lớn.

Bên cạnh phát tán thông tin xuyên tạc, bịa đặt, Lê Trung Khoa đưa ra lời kêu gọi quyên góp, ủng hộ dưới danh nghĩa “đấu tranh” nhưng thực chất là để trục lợi cá nhân.

Thủ đoạn cụ thể của đối tượng này là sử dụng công nghệ AI, Deepfake để giả mạo âm thanh, hình ảnh của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cắt ghép, giật tít gây sốc để thu hút dư luận; giả danh "người đấu tranh" hoặc "nạn nhân" để tạo uy tín; kêu gọi quyên góp, ủng hộ tài chính qua tài khoản, ví điện tử nhưng không minh bạch. Cơ quan điều tra xác định mục tiêu cuối cùng của đối tượng là hạ uy tín tổ chức, gây hoang mang dư luận và kiếm lợi bất chính.

Tại cơ quan điều tra, đối tượng Đỗ Văn Ngà, đồng phạm với Lê Trung Khoa trong quá trình làm việc với cơ quan chức năng đã thừa nhận hành vi phạm tội của. Bản thân Đỗ Văn Ngà còn viết đơn tố cáo hành vi viết bài có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Lê Trung Khoa, mong muốn người dân nâng cao cảnh giác khi tiếp xúc với những bài viết có nội dung sai sự thật trên trang “Thoibao.de”.

Liên quan đến vụ án này, lực lượng chức năng khuyến cáo người dân:

- Không chuyển tiền, quyên góp hay ủng hộ cho các tài khoản, ví điện tử không rõ danh tính, không minh bạch, có hoạt động phát tán thông tin xuyên tạc, bịa đặt trên không gian mạng. Luôn kiểm chứng thông tin, chỉ đóng góp cho các tổ chức, quỹ chính thống có pháp nhân rõ ràng.

- Không chia sẻ, bình luận, lan truyền nội dung xuyên tạc, sai sự thật để tránh tiếp tay cho hành vi vi phạm.

- Nhận thức rõ trách nhiệm pháp lý có thể xảy ra. Đó là hành vi tiếp tay, tài trợ cho các hoạt động vi phạm pháp luật có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Nguy cơ lộ lọt thông tin cá nhân rất cao, khi chuyển tiền, đối tượng có thể sử dụng để lừa đảo, mạo danh hoặc bán dữ liệu cá nhân.

- Chủ động báo cho cơ quan chức năng khi phát hiện hoạt động kêu gọi ủng hộ bất hợp pháp hoặc dấu hiệu lừa đảo./.
Ảnh: Lê Trung Khoa (trái) và Phạm Quang Thiện.

Ảnh: Đồng phạm của Lê Trung Khoa là Đỗ Văn Ngà trong quá trình làm việc với cơ quan điều tra đã viết đơn tố cáo hành vi viết bài có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước của Lê Trung Khoa.
Môi trường ST.

LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU PHỦ NHẬN MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY!

      Độc lập dân tộc và CNXH là sự lựa chọn của lịch sử, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và nhân dân ta; mang đến độc lập, hòa bình cho quốc gia, dân tộc, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh một cách sinh động. Đây là nhiệm vụ, mục tiêu xuyên suốt và là nguyên tắc chiến lược của cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo. Tại Đại hội XIII, Đảng tiếp tục khẳng định, cùng với việc “kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH… để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN”(1), phải “kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”(2), trong đó có những âm mưu, thủ đoạn phủ nhận, xuyên tạc mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.

NHẬN THỨC RÕ CƠ SỞ THỰC TIỄN, LÝ LUẬN CỦA SỰ LỰA CHỌN ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CNXH CỦA LỊCH SỬ VIỆT NAM

Về cơ sở thực tiễn

Thứ nhất, thực tiễn đất nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đặt ra yêu cầu cần tìm đường để giải quyết vấn đề độc lập dân tộc và tự do, dân chủ cho nhân dân. Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và từng bước biến nước ta trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Xã hội Việt Nam lúc bấy giờ chịu sự chi phối bởi hai mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam và ách đô hộ của thực dân Pháp; mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với địa chủ phong kiến. Để giải quyết mâu thuẫn đặt ra đã có nhiều phong trào đấu tranh với các khuynh hướng khác nhau. Cơ bản là theo lập trường phong kiến và tư sản nhưng đã không tránh khỏi thất bại. Từ thực tiễn khủng hoảng, bế tắc, yêu cầu về con đường cứu nước, về giai cấp lãnh đạo cách mạng, ngày 05/6/1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường mới để cứu nước, cứu dân.

Thứ hai, thực tiễn cách mạng thế giới cho thấy, trong thời đại mới, muốn có độc lập dân tộc phải bằng con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Trong hành trình bôn ba nước ngoài, Hồ Chí Minh nghiên cứu lịch sử cách mạng Hà Lan, Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Trung Quốc…; tìm hiểu lịch sử cách mạng Nga, nhất là cách mạng tháng Mười Nga (1917). Hồ Chí Minh nhận định “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật… Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”(3).

Sau khi trở thành người cộng sản, Người khẳng định “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(4). Đây là con đường có triển vọng giải quyết triệt để hai nhiệm vụ dân tộc và giai cấp, mang đến độc lập dân tộc thật sự.

Về cơ sở lý luận

Bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác được thực tiễn cách mạng Tháng Mười Nga và công cuộc xây dựng CNXH ở Liên Xô kiểm chứng và được Lênin bổ sung, phát triển toàn diện. Lý luận ấy Mác-Lênin là một hệ thống chỉnh thể đồ sộ.

Thứ nhất, lý luận về hình thái kinh tế - xã hội. Xã hội loài người đã và đang trải qua các hình thái kinh tế - xã hội, từ thấp đến cao, công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Sự phát triển này theo quy luật chứ không theo ý muốn chủ quan.

Trong hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa sẽ qua hai giai đoạn: giai đoạn thấp (hay giai đoạn đầu) là xã hội XHCN, giai đoạn cao (hay giai đoạn sau) là xã hội cộng sản chủ nghĩa. Đây là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội theo nguyên tắc của chủ nghĩa tập thể và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, bảo đảm công bằng, bình đẳng cho số đông nhân dân lao động. Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội, về xây dựng CNXH, chủ nghĩa cộng sản vì mục đích giải phóng, phát triển con người toàn diện trở thành cơ sở lý luận, phương pháp luận để Hồ Chí Minh, Đảng và dân ta lựa chọn và kiên định mục tiêu, con đường độc lập dân tộc và CNXH.

Thứ hai, lý luận về thời kỳ quá độ lên CNXH. Mục đích của giai cấp công nhân là thiết lập CNXH, xoá bỏ sự phân chia xã hội thành giai cấp, biến tất cả thành viên trong xã hội thành người lao động, tiêu diệt cơ sở của mọi tình trạng người bóc lột người. Mục đích đó không thể đạt ngay tức khắc được; cần có một thời kỳ quá độ lâu dài. Theo quy luật, mọi quốc gia, dân tộc cuối cùng nhất định sẽ đi lên CNXH; và mỗi quốc gia, dân tộc quá độ lên CNXH bằng những hình thức, con đường không phải hoàn toàn giống nhau. Cơ bản có 2 kiểu quá độ: trực tiếp và gián tiếp. Lênin cho rằng, “với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ Xô Viết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”(5). Việt Nam cũng có thể quá độ lên CNXH sau khi giành được độc lập dân tộc mà không phải trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Thứ ba, lý luận về cách mạng không ngừng và quan hệ giai cấp và dân tộc. Cách mạng vô sản là cuộc cách mạng triệt để, sâu sắc nhất và phải trải qua nhiều giai đoạn với từng nhiệm vụ khác nhau. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ, giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử toàn thế giới nhưng giai cấp công nhân mỗi nước trước hết phải “giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”(6). Năm 1892, Ph.Ăngghen viết: “Chỉ có thể có được sự hợp tác quốc tế thành thực giữa các dân tộc châu Âu khi nào mỗi dân tộc đó là người chủ tuyệt đối trong nhà mình”(7). Ở những nước mà ở đó giai cấp công nhân đã trưởng thành, có Đảng Cộng sản vững mạnh vẫn có thể thực hiện cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới và tiến lên cách mạng XHCN.

Trong điều kiện xã hội thuộc địa nửa phong kiến, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo lý luận cách mạng không ngừng và quan hệ giai cấp - dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin và xác định: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(8). Nước ta cần có độc lập dân tộc, CNXH là con đường để giành độc lập dân tộc, độc lập dân tộc là cơ sở, tiền đề để tiến lên CNXH. Vì vậy, xác định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là hoàn toàn phù hợp.

MỤC TIÊU XUYÊN SUỐT, NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC CÓ Ý NGHĨA SỐNG CÒN CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY 

Thứ nhất, nhiệm vụ dân tộc và giai cấp, độc lập dân tộc và CNXH là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối, chính sách của Đảng.

Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên (1930), Đảng ta xác định “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Đại hội II của Đảng (2/1951) nêu rõ: “Đảng Lao động Việt Nam đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn; lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến đến CNXH”(9). Đại hội III (1960) khẳng định: “đẩy mạnh cách mạng XHCN ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”(10).

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Đại hội lần IV của Đảng (1976) chỉ rõ: “Cách mạng nước ta trong giai đoạn mới là hoàn thành thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH”(11). Đại hội lần thứ V của Đảng (1982) nêu lên hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới: “Một là, xây dựng thành công CNXH; Hai là sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Hai nhiệm vụ chiến lược đó quan hệ mật thiết với nhau”(12). Đại hội lần thứ VI, Ðảng ta khẳng định: “Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng tiếp tục thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN”(13). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) xác định: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH. Đó là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc”(14). Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996), Đảng tiếp tục xác định bài học quan trọng đầu tiên đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là: “Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trong quá trình đổi mới; nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(15).

Bước sang thế kỷ XXI, với nhiều cơ hội và thách thức mới, Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) khẳng định: Trong quá trình đổi mới, phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội lần thứ X (2006) của Đảng nhấn mạnh bài học: Trong quá trình đổi mới, phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh(16). Và trong bối cảnh mới, tại Đại hội XIII (1/2021), Đảng ta xác định “kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam trong từng giai đoạn. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(17).

Thứ hai, độc lập dân tộc gắn liền CNXH là ngọn cờ đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, trong đó có những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử qua gần 40 năm đổi mới.

Nhờ giải quyết, xử lý đúng đắn quan hệ dân tộc và giai cấp, độc lập dân tộc và CNXH, Đảng ta đã quy tụ được sức mạnh toàn dân làm nên Cách mạng Tháng Tám (1945), đưa người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước. Thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; thực hiện thành công đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược, cách mạng XHCN ở miền Bắc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam, chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên xây dựng CNXH. Thực hiện thắng lợi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc XHCN ở biên giới Tây Nam (1978) và biên giới phía Bắc (1979); khởi xướng và lãnh đạo thực hiện thành công công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay.

Qua gần 40 năm đổi mới, nhờ kiên định độc lập dân tộc và CNXH nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Năm 2020, trong khi kinh tế thế giới suy thoái, tăng trưởng âm gần 4%, kinh tế nước ta vẫn đạt mức tăng trưởng 2,9 % là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới; Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên (năm 2020, GDP đạt 271,2 tỉ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779 USD). Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011 - 2015 lên khoảng 6%/năm giai đoạn 2016 - 2020(18). Hiện Việt Nam có khoảng 70% dân số dùng Internet, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hoá các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển. Việt Nam đã thành công trên vai trò kép - Chủ tịch ASEAN 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc 2020 - 2021; thực thi các FTA song phương và đa phương…

Như vậy, với ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH Đảng đã lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng XHCN đem lại độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân và làm cho “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế” của đất nước ngày càng nâng cao. Điều đó chứng tỏ kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là hoàn toàn phù hợp, đúng đắn. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, không một ai có thể thay đổi hay phủ nhận được.

Thứ ba, kiên định độc lập dân tộc và CNXH vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh phù hợp xu thế vận động của thời đại ngày nay. Mặc dù, chủ nghĩa tư bản hiện đại ở một số nước có những thành tựu vượt bậc và điều chỉnh nhiều mặt nhưng về bản chất, mục đích không thay đổi. Sự điều chỉnh ấy là có giới hạn và mục đích thực chất của việc điều chỉnh là xoa dịu mâu thuẫn, vì lợi ích của giai cấp tư sản cầm quyền. Đó cũng là quá trình “tiệm tiến” để chủ nghĩa tư bản không còn là nó, vừa tiếp tục làm sâu sắc các mâu thuẫn cố hữu vừa tiếp tục tạo ra các điều kiện, tiền đề, nhân tố XHCN về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội để phủ định chính nó.

Bên cạnh đó, cùng với thời gian, vì nhiều lý do, một số giá trị XHCN đang “sống lại”, phục hồi ở không gian Đông Âu và không gian Liên Xô cũ. Những bài học thành công và thất bại của chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đã và đang được nghiên cứu ở nhiều nơi. Công cuộc cải cách, đổi mới ở các nước XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản như Trung Quốc, Cuba, Đảng Nhân dân cách mạng Lào… đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng. Cùng với những nhận thức mới của Đảng Cộng sản Ấn Độ, Braxin, Tây Ban Nha, Pháp, Hy Lạp, Nhật Bản… về CNXH và về xây dựng CNXH cùng trào lưu “chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI” ở Mỹ latinh, các mô hình XHCN ở các Kibbutz của Israel… tất cả những biểu hiện này đã cho thấy sức sống sinh động của CNXH trong điều kiện hiện nay.

Trong thời đại ngày nay, với ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, Việt Nam không hề cô độc, lạc điệu trong khu vực và thế giới. Việt Nam đã và đang khẳng định trên thực tế rằng, Việt Nam thực sự là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng thế giới.

TRIỂN KHAI ĐỒNG BỘ CÁC GIẢI PHÁP

Trong thời gian tới, để việc đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH ở Việt Nam hiện nay đạt hiệu quả cao, cần nhận diện rõ âm mưu và nắm vững cơ sở lý luận, thực tiễn; đồng thời, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Cụ thể là:

Thứ nhất, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách Đảng, Nhà nước; truyền thống văn hóa, lịch sử dân tộc, nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Quán triệt thực hiện Chỉ thị số 34/CT- TW, của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X về “Tăng cường đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa”; Nghị quyết số 35 – NQ/TW của Đảng về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Luật An ninh mạng…

Thứ hai, tăng cường công tác xây dựng Đảng toàn diện; coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu bổ sung, phát triển lý luận về độc lập dân tộc và CNXH trong bối cảnh mới. Nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng; tăng cường phê bình và tự phê bình, chú trọng công tác cán bộ. Thực hiện tốt nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII của Đảng về xây dựng Đảng. Giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Đẩy mạnh quán triệt Chỉ thị số 23 - CT/TWngày 9/2/2018 của Ban Bí thư “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”. Thực hiện có hiệu quả Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung…

Thứ ba, cần thực hiện tốt đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh thực hành dân chủ gắn liền với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ luật kỷ cương xã hội.

Đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phát triển đồng bộ kinh tế - văn hóa - xã hội; chăm lo vùng dân tộc thiểu số, người khó khăn, nhất là trong ứng phó dịch COVID-19. Xây dựng lực lượng quân đội, vũ trang ngày càng tinh nhuệ chính quy, trang thiết bị quân sự hiện đại; kết hợp phát huy các lực lượng tại địa phương, tạo thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân và thế trận lòng dân vững chắc. Tăng cường cơ chế trao đổi, hợp tác, tham khảo, học hỏi kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng, phát triển đất nước. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi.

Tăng cường đoàn kết trong Đảng, phát huy khối liên minh công - nông - trí thức và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phát huy vị trí trung tâm, vai trò chủ thể của nhân dân, quyền làm chủ của nhân dân “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng.

Thứ tư, cần giữ vững nguyên tắc, đa dạng hóa các hình thức, phương pháp đấu tranh chống lại các quan điểm, hành vi sai trái, thù địch. Kết hợp chặt chẽ xây với chống, chống với xây.

Kết hợp đấu tranh tư tưởng, lý luận, văn hóa với xử lý kỷ luật, xử lý hành chính, hình sự. Ngăn chặn các tin độc, tin xấu, phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, nhất là trên mạng xã hội. Tăng cường cung cấp thông tin chính thống, lan tỏa thông tin tích cực, lan tỏa tính nhân văn của chế độ ta trong quan điểm “không để ai bị bỏ lại phía sau” trong cuộc chiến phòng chống dịch bệnh COVID -19, tạo vùng xanh trên không gian mạng.

Thứ năm, cần phát huy vai trò các “binh chủng”, các lực lượng chuyên trách và phát huy lực lượng vĩ đại, hùng hậu của toàn dân. Phát huy vai trò của các học viện chính trị, quốc phòng, các trường chính trị, các khoa lý luận chính trị ở các trường đại học, cao đẳng trên cả nước; vai trò của các tạp chí, báo đài chuyên mảng chính trị, các câu lạc bộ Lý luận trẻ… Đồng thời, cần huy động sự tham gia của đông đảo đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, sinh viên và các tầng lớp nhân dân. Sức mạnh từ tinh thần yêu nước và niềm tin chính trị, ý thức dân chủ XHCN của nhân dân là nhân tố hết sức quan trọng quyết định thành bại của cuộc đấu tranh này./.
---------
(1) (2) (17) (18) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.I, tr.109, 156, 108, 109, 61, 205.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t. 2, tr.304.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr.30.
(5) V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Maxcơva, 1977, t.41, tr. 295.
(6) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2002, t.4, tr 623-624.
(7) C.Mác và Ph.Ăngghen: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nxb. Sự thật, H, 1976, tr. 34-35.
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.1.
(9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2001, t.12, tr.37.
(10) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 21, tr. 918.
(11) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 37, tr. 143.
(12) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 43, tr. 53.
(13) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 47, tr. 719.
(14) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.51, tr. 133-134.
(15) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.55, tr. 258
(16) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 65, tr.178





Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN PHÁT BIỂU CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM TẠI HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC TỔNG KẾT CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO VÀ DÂN VẬN CỦA ĐẢNG NĂM 2025!

     Sáng 19/12, Tổng Bí thư Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác Tuyên giáo và Dân vận của Đảng năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư.

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan Trung ương và các địa phương; 

Thưa các đồng chí lãnh đạo và toàn thể cán bộ, chiến sĩ làm công tác tuyên giáo, dân vận toàn quốc;

Thưa toàn thể các đồng chí;

Thưa toàn thể Hội nghị,

Hôm nay, tôi cùng các đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo các cơ quan Trung ương vui mừng đến dự "Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác Tuyên giáo và Dân vận của Đảng năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026" - Hội nghị tổng kết công tác năm đầu tiên sau khi hợp nhất Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban Dân vận Trung ương, cơ quan tham mưu chiến lược về công tác Tuyên giáo và Dân vận của Đảng. Đặc biệt, hội nghị hôm nay diễn ra vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang nỗ lực hoàn thành các chỉ tiêu, mục tiêu nhiệm kỳ của Đại hội XIII, tiếp tục hoàn thành tốt công tác chuẩn bị tổ chức Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi gửi tới toàn thể các đồng chí lãnh đạo, đại biểu dự Hội nghị tại điểm cầu Trung ương và các điểm cầu địa phương, đội ngũ cán bộ của ngành tuyên giáo và dân vận toàn quốc, lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên dư luận xã hội các cấp lời chào thân ái, lời chúc sức khoẻ, hạnh phúc và thành công.

Thưa các đồng chí,

Nhìn lại nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, nhất là từ đầu năm 2025 đến nay, công tác Tuyên giáo và Dân vận là cầu nối giữa Đảng với Nhân dân, phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng, chỉnh đốn Đảng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Toàn ngành đã có những dấu ấn lịch sử và đột phá về tổ chức bộ máy từ Trung ương đến địa phương. Đến nay, hệ thống Tuyên giáo và Dân vận các cấp đã hoàn thành hợp nhất, tạo nên một chỉnh thể thống nhất, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, thực hiện tốt công tác giáo dục, tuyên truyền và vận động cán bộ, đảng viên, nhân dân đoàn kết, thống nhất, thực hiện các chủ trương, chính sách, mục tiêu của Đảng.

Qua báo cáo của các đồng chí và những ý kiến phát biểu tại Hội nghị, có thể nhận thấy các mặt công tác của ngành Tuyên giáo và Dân vận trong năm qua đã thể hiện sự đổi mới rõ nét, cả trong tư duy và phương pháp hành động. Nổi bật là việc chúng ta đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa "xây" và "chống", giữa "tuyên truyền" và "vận động". Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ dừng lại ở việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá mà đã chủ động xây dựng thế trận thông tin liên hoàn, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực, dùng thông tin chính thống "phủ xanh" không gian mạng. Các đồng chí đã tích cực tham mưu giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành nhiều chủ trương, quyết sách lớn về đại đoàn kết toàn dân tộc, về công tác chính trị, tư tưởng, thông tin tuyên truyền, dân tộc, tôn giáo, dân chủ cơ sở trong tình hình mới. Đặc biệt, sự chuyển mình mạnh mẽ trong ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo vào công tác tuyên giáo và dân vận, nắm bắt tình hình nhân dân, dư luận xã hội, giúp Đảng"lắng nghe" được hơi thở của cuộc sống kịp thời và chính xác hơn.

Tôi rất ấn tượng với Báo cáo hệ sinh thái số trong công tác tuyên giáo và dân vận của Đảng; thể hiện sự tích cực trong chuyển đổi số, nắm chắc khoa học công nghệ, ứng dụng vào trong công tác.

Tôi yêu cầu toàn ngành tập trung quán triệt, làm sao cán bộ tuyên giáo, dân vận trong toàn quốc nắm được yêu cầu, hiểu được công việc để triển khai kế hoạch nhiệm vụ trong thời gian tới. Ngành cũng cần có các giải pháp quản lý hiệu quả để giảm thông tin "ảo", thông tin "tặc", thông tin giả trên không gian mạng; nếu làm được sẽ giảm được tội phạm, giảm được tiêu cực, làm lành mạnh hóa dữ liệu, lành mạnh cả xã hội, giữ niềm tin của nhân dân.

Các hội nghị toàn quốc quán triệt nghị quyết được tổ chức theo hình thức "đối thoại, thảo luận, trao đổi hai chiều", đăng phát trên tất cả các nền tảng truyền thông kỹ thuật số đã giúp chủ trương, đường lối, quyết sách của Đảng gần gũi và đi vào cuộc sống nhanh hơn, sâu hơn, sinh động và thuyết phục hơn, lành mạnh hơn, an toàn hơn, thông minh hơn, gần dân hơn.

Công tác tuyên truyền, báo chí, thông tin đối ngoại về các sự kiện chính trị, văn hóa lớn diễn ra trong năm, đặc biệt là chuỗi hoạt động"Kỷ niệm 95 năm thành lập Đảng; 135 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Công tác chuẩn bị Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng..." đã được tổ chức rất thành công, thu hút sự chú ý, quan tâm theo dõi, sự hưởng ứng của đông đảo các tầng lớp Nhân dân, bạn bè quốc tế. Công tác khoa giáo, văn hoá - văn nghệ… tiếp tục được quan tâm chú trọng, từng bước tạo lập những giá trị văn hoá tinh thần thời đại mới. Chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo ngày càng rõ nét, Phong trào "Bình dân học vụ số" được triển khai rộng khắp trên cả nước. Công tác dân vận, dân chủ cơ sở đã chuyển mạnh từ tuyên truyền, vận động sang tham mưu chính sách, giám sát và tổ chức thực thi, hướng tới mục tiêu chăm lo thiết thực đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của Nhân dân. Các mô hình, điển hình thi đua "Dân vận khéo", "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" đã lan tỏa mạnh mẽ, tạo động lực phát triển kinh tế, xây dựng giá trị đạo đức và chung tay thực hiện an sinh, đảm bảo công bằng xã hội.

Những kết quả đó khẳng định sự nỗ lực không ngừng, tinh thần trách nhiệm cao của đội ngũ cán bộ Tuyên giáo - Dân vận cả nước. Tôi trân trọng và biểu dương những nỗ lực thầm lặng của các đồng chí - những "chiến sĩ" tiên phong trên mặt trận tư tưởng, những "vận động viên" tích cực trên mặt trận thông tin tuyên truyền, những cây "bút chiến" sắc sảo trên không gian mạng, những "sợi dây tinh thần" mỗi ngày góp thêm sức bền để kết nối và thắt chặt ý Đảng với lòng Dân.

Thưa các đồng chí,

Đất nước chúng ta đang thay đổi mạnh mẽ, tích cực từng ngày trên tất cả các lĩnh vực, tạo không khí vui tươi, phấn khởi, tin tưởng cho toàn dân, toàn quân. Đặc biệt, là quyết tâm cải cách bộ máy của hệ thống chính trị đảm bảo tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Việc điều chỉnh địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp không chỉ tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn tiếp tục cải cách đổi mới, mà còn tạo thêm động lực cho bước ngoặt tái cấu trúc toàn diện, tạo ra không gian phát triển mới với nền hành chính gọn nhẹ, khoa học, hiện đại, đủ tầm đón đầu các cơ hội phát triển mạnh mẽ ngay từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng, thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu 100 năm mà Đảng đã đề ra, nhân dân mong chờ.

Từ đầu năm 2025, chúng ta đã có những chuyển động mạnh mẽ từ thể chế đến thực tiễn thông qua nhiều cơ chế chính sách lớn. Bộ Chính trị đã ban hành nhiều Nghị quyết chiến lược mang tính cách mạng, đột phá. Đây chính là bộ khung vững chắc, định hình mục tiêu phát triển của đất nước trong tương lai. Công cuộc sắp xếp lại bộ máy nhận được sự đồng thuận của cán bộ, đảng viên và nhân dân cả nước, mở ra không gian phát triển rộng hơn, mạnh hơn, tiềm năng hơn, khơi thông nguồn lực quốc gia, thực sự trở thành "bệ phóng lịch sử" đưa đất nước bước vào Kỷ nguyên mới. Đây là lúc để toàn dân, toàn Đảng cùng nhau hành động vì lợi ích quốc gia - dân tộc, vì một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, văn minh, hạnh phúc trong thế kỷ XXI.

Những chủ trương, quyết sách chiến lược sẽ không thể đạt được kết quả tích cực và toàn diện nếu thiếu đi vai trò tiên phong và trách nhiệm kiến tạo, "định hướng tư tưởng", "thống nhất nhận thức", "đi trước mở đường" của ngành Tuyên giáo và Dân vận. Các đồng chí, lực lượng làm công tác tuyên giáo, dân vận các cấp, mỗi người góp công sức của mình để tuyên truyền, động viên, thuyết phục, từ đó tạo sự đồng thuận, lan toả rộng khắp trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; giúp quần chúng nhân dân "hiểu đúng, tin tưởng tuyệt đối và đồng lòng ủng hộ" đường lối, chủ trương, quyết sách của Đảng, Nhà nước.

Một lần nữa, thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi nhiệt liệt biểu dương và chúc mừng những kết quả hết sức tích cực đã đạt được của ngành Tuyên giáo và Dân vận trong năm 2025 vừa qua.

Về những điểm còn tồn tại, hạn chế trong công tác Tuyên giáo và Dân vận, tôi đồng tình với đánh giá của các đồng chí như đã nêu trong báo cáo, cũng như qua các ý kiến phát biểu tại Hội nghị. Tôi đề nghị các đồng chí, trước hết là tập thể Lãnh đạo Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương quan tâm nghiên cứu, tìm ra giải pháp khắc phục triệt để trong thời gian tới.

Thưa các đồng chí,

Thời điểm hiện nay, chúng ta đang tích cực chuẩn bị mọi điều kiện để sẵn sàng cho công tác tổ chức Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục và liên tục khơi dậy mạnh mẽ khát vọng, khát khao phát triển dân tộc hùng cường, phát huy tối đa sức mạnh nội sinh, tranh thủ mọi nguồn lực để đưa đất nước tăng tốc và bứt phá. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ đối với công tác Tuyên giáo và Dân vận của Đảng là cực kỳ nặng nề nhưng cũng hết sức vẻ vang. Tôi đề nghị toàn ngành tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:

Thứ nhất, tập trung cao độ làm tốt công tác tham mưu chiến lược cho Đảng giữ vững định hướng chính trị, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt phải bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng - đây là "rường cột" của chế độ, là "lá chắn thép" bảo vệ vững chắc chế độ và nhân dân, là "hồn cốt" của dân tộc, là mặt trận không tiếng súng nhưng đầy cam go. Bảo vệ nền tảng tư tưởng chính là bảo vệ sự sống còn của Đảng và tương lai đất nước. Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, vận dụng, phát triển sáng tạo trong dòng chảy thời đại để tư tưởng mãi là ngọn cờ dẫn dắt đất nước ta đi theo con đường Xã hội chủ nghĩa. Các đồng chí cần coi đây là nhiệm vụ sống còn, thường xuyên và lâu dài. Vừa qua, trên cơ sở tham mưu của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Bộ Chính trị đã thảo luận kỹ lưỡng, xem xét toàn diện và thống nhất sẽ trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV ban hành vào quý II/2026 hai văn bản quan trọng, đó là: "Quy định công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng" và "Chiến lược công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số". Đây là vấn đề hết sức hệ trọng, liên quan mật thiết đến nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng và sự nghiệp đổi mới của đất nước. Tôi đề nghị ngành Tuyên giáo và Dân vận phải đi trước một bước, nghiên cứu thật kỹ để ngay khi Quy định được ban hành, chúng ta tổ chức quán triệt và thực hiện nghiêm túc.

Với phương châm"tư tưởng thông thì hành động mới quyết liệt, kết quả mới thực chất", do vậy, chúng ta phải duy trì và xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên kiên định, vững vàng trước mọi thử thách; phải làm cho công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trở nên thực chất, hiệu quả; ngăn chặn, đẩy lùi, loại bỏ tình trạng nhạt phai lý tưởng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; phải xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc trên mặt trận tư tưởng, làm sao cho mỗi cán bộ, đảng viên và người dân đều có sức đề kháng tốt trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá.

Thứ hai, bám sát thực tiễn,"bắt đúng mạch nguồn, thấu từng nhịp đập" của đời sống nhân dân và dư luận xã hội. Công tác này phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, nhạy bén, không để bị động, bất ngờ. Các đồng chí phải thực sự "Nghe bằng tai, hiểu bằng tâm, thuyết phục bằng lý, dẫn dắt bằng tình"; phải thực hiện cho kỳ được phương châm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn "Nghe dân nói, nói cho dân hiểu, làm cho dân tin" và trong giai đoạn hiện nay, phải "cổ vũ và cùng nhân dân hành động". Lấy nhân dân là chủ thể, làm trung tâm; nắm chắc tình hình nhân dân; sử dụng tối đa các công cụ đo lường, phân tích dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo để "lắng nghe" tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Từ đó, tham mưu cho Đảng, Nhà nước những chủ trương, chính sách hợp lòng dân, giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc ngay từ khi mới phát sinh, không để hình thành các "vùng trũng" dư luận. Công tác thông tin, tuyên truyền trên báo chí và các nền tảng số phải được đổi mới toàn diện, phải tiếp tục và liên tục giữ thế "chủ động tấn công, dẫn dắt". Báo chí cách mạng phải khẳng định rõ bản chất cách mạng, phải thể hiện tốt vai trò tiên phong trên mặt trận tư tưởng - văn hoá, là "trụ cột tư tưởng, lực lượng xung kích kiến tạo niềm tin, là nòng cốt định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội". Đồng thời, phải tận dụng tối đa ưu thế của công nghệ để lan tỏa những thông điệp nhân văn, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tương thân tương ái, ý chí tự lực tự cường, phải làm chủ trận địa thông tin và mặt trận tư tưởng, "lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy niềm tin đẩy lùi dao động". Phải làm sao để mỗi khi người dân tiếp cận thông tin, họ thấy được thực tế là Đảng, Nhà nước luôn lắng nghe nhân dân; mọi chủ trương, chính sách đều hướng về nhân dân; mọi người dân đều được thụ hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc… để từ đó, triệu người như một, chung sức đồng lòng hiện thực hóa khát vọng đưa đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Nhiệm vụ này phải được quán triệt đến tất cả các cấp ủy đảng, người đứng đầu, từng đảng viên, người dân, mọi tầng lớp xã hội, mọi tôn giáo.

Thứ ba, tiếp tục củng cố và phát huy sức mạnh "Đại đoàn kết" - điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Từ xưa tới nay, đoàn kết luôn là chân lý của mọi thời đại, là "gốc của mạch nguồn", là "sợi chỉ đỏ duy nhất" xuyên suốt, bảo đảm mọi đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước được thực hiện triệt để, nhất quán, sâu sắc, hiệu quả, đáp ứng tốt nhất mọi quyền lợi và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đảng, Nhà nước đã đề ra thì công tác tuyên giáo, dân vận phải hướng mạnh về cơ sở, thực sự "trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân". Phải nỗ lực tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân, phát huy hơn nữa quyền làm chủ, quyền thực hiện giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của nhân dân. Chú trọng công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo, phát huy dân chủ cơ sở, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đặc biệt, cần quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các đối tượng chính sách, người có công, người nghèo, người yếu thế; khơi dậy những đóng góp tích cực, khát khao cống hiến của mọi tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước cho công cuộc phát triển đất nước.

Thứ tư, tạo chuyển biến mạnh mẽ, đột phá, sắc nét trong tham mưu chiến lược các lĩnh vực khoa giáo. Mục tiêu cao nhất là đưa công tác khoa giáo thực sự "đi trước, mở đường" cho sự nghiệp xây dựng con người, phát triển văn hóa, nâng cao dân trí và năng lực sáng tạo quốc gia. Tăng cường chất lượng nghiên cứu lý luận để làm rõ những vấn đề cấp thiết, mang tầm chiến lược, từ đó hoàn thiện hệ thống các quan điểm của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ngành Tuyên giáo và Dân vận phải gương mẫu đi đầu trong việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận với thực tiễn. Tích cực tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư các nhiệm vụ, giải pháp và định hướng lớn nhằm đổi mới công tác nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết và đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Điều này làm cơ sở để các cấp, các ngành, các địa phương xây dựng chương trình hành động sát với thực tiễn, có tính khả thi cao, góp phần nhanh chóng đưa lý luận vào cuộc sống, nhất là việc triển khai lý luận vào thực tiễn trên các mặt trận tư tưởng chính trị, thông tin tuyên truyền, khoa giáo, công tác dân vận, dân chủ, tập hợp quần chúng - những mặt trận mà các đồng chí đang nắm giữ và có trách nhiệm triển khai.

Thứ năm, tập trung cao độ tham mưu cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tiếp tục làm tốt công tác chuẩn bị, tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đại hội XIV là thời điểm hội tụ "trí tuệ, tâm huyết, ý chí" của toàn Đảng, toàn dân tộc, soi đường cho chặng đường phát triển mới. Thành công của Đại hội là thành công của tinh thần đổi mới, thành công của tự chủ, thành công của đại đoàn kết toàn dân tộc, thành công của công tác tổ chức, công tác tuyên truyền, công tác dân vận... Những quyết sách được thông qua tại Đại hội là kết tinh của trí tuệ Việt Nam để kiến tạo tương lai... Các đồng chí cần xác định đây là sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc lịch sử mở ra Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, ngành Tuyên giáo và Dân vận phải là lực lượng nòng cốt trong việc tuyên truyền đậm nét về ý nghĩa, tầm quan trọng của Đại hội; về những thành tựu to lớn của đất nước qua 40 năm đổi mới và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và đóng góp tích cực trong quá trình tổng kết 100 năm cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) và 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

Thứ sáu, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo, dân vận hội tụ đủ "Tâm trong - Trí sáng - Bút sắc", thực sự là những chiến sĩ kiên trung tham mưu chiến lược công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức và công tác tư tưởng chính trị trong toàn dân. Đặc biệt trong tiến trình bước vào kỷ nguyên số, các đồng chí phải sắc sảo về tư duy, nhuần nhuyễn về nói và viết, làm chủ hoàn toàn công nghệ, không ngừng tự làm mới mình. Tôi đặc biệt nhấn mạnh xây dựng đội ngũ cán bộ "chuyên tâm, thạo việc" trong công tác Tuyên giáo và Dân vận. Trước mắt, công tác tuyên giáo, dân vận phải tập trung vào nhiệm vụ cổ vũ các phong trào thi đua yêu nước, lập thành tích chào mừng thành công Đại hội XIV của Đảng và bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, tạo không khí phấn khởi, tin tưởng trong toàn xã hội.

Thưa các đồng chí,

Với truyền thống vẻ vang, bản lĩnh chính trị vững vàng, trí tuệ, nhiệt huyết và quyết tâm cao, tôi tin tưởng rằng toàn thể cán bộ, đảng viên ngành Tuyên giáo và Dân vận sẽ tiếp tục nêu cao tinh thần trách nhiệm, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần to lớn vào việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Sự tin tưởng của nhân dân vào Đảng và hệ thống chính trị chính là thước đo cao nhất đánh giá kết quả công tác của các đồng chí; cũng là thước đo lớn nhất cho công cuộc thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược của Đảng, đưa đất nước ta vững bước tiến vào Kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, thịnh vượng, phồn vinh, hạnh phúc, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Một lần nữa, chúc các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc và thành công.

Xin trân trọng cảm ơn!
Yêu nước ST.