Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VINSPEED VÀ THACO CUỘC ĐUA DÀNH QUYỀN XÂY DỰNG ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC BẮC NAM!

     Cuộc đua làm hạ tầng đường sắt Việt Nam đang ghi nhận 2 doanh nghiệp nổi trội là THACO và VinSpeed. THACO có kinh nghiệm trong công nghiệp chế tạo và logistics, trong khi VinSpeed được Vingroup hậu thuẫn bởi Vingroup, với tiềm lực tài chính và hệ sinh thái “khủng”.

Trong năm 2025, cả hai doanh nghiệp liên tục tăng vốn, tìm kiếm đối tác nước ngoài để nhận chuyển giao công nghệ và hoàn thiện phương án đầu tư. Sau đây là tổng quan một số điểm nhấn đáng chú ý.

THACO bắt tay Hyundai Rotem (Hàn Quốc) xây dựng tổ hợp công nghiệp đường sắt tại khu công nghiệp cơ khí và công nghiệp hỗ trợ rộng 786ha ở TP. HCM, bao gồm khu sản xuất đầu máy - toa xe, đường thử khép kín và trung tâm bảo trì sửa chữa lớn. Hyundai Rotem sẽ chuyển giao công nghệ lõi, hỗ trợ THACO sản xuất các dòng tàu mang thương hiệu Việt, đồng thời tham gia xây dựng hệ thống tích hợp từ đoàn tàu, tín hiệu điều khiển đến điện - cơ (E&M), quản trị vận hành, bảo trì và sửa chữa toàn diện.

Hyundai Rotem đang niêm yết trên thị trường chứng khoán với vốn hóa khoảng 19.860 tỷ won (gần 308.000 tỷ đồng). Tổng doanh thu 9 tháng đầu năm 2025 đạt 4.213 tỷ won (khoảng 78.800 tỷ đồng) và lãi sau thuế 547,5 tỷ won (khoảng 10.000 tỷ đồng).

Trong khi đó, VinSpeed và Siemens Mobility - thành viên Tập đoàn Siemens AG (Đức) đã ký thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn diện và chuyển giao công nghệ. Siemens Mobility là công ty thành viên thuộc Siemens AG - tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới với lịch sử hơn 175 năm. Trong lĩnh vực đường sắt, Siemens Mobility được xem là một trong những nhà cung cấp công nghệ gốc (OEM), đặt nền móng cho nhiều hệ thống đường sắt cao tốc hiện đại tại châu Âu, Nga, Mỹ… Siemens Mobility hiện diện trong hầu hết các khâu của chuỗi giá trị đường sắt, từ thiết kế đoàn tàu, tín hiệu, điện khí hóa, hạ tầng đến vận hành và bảo trì thông minh.

Theo thỏa thuận hợp tác với VinSpeed, Siemens Mobility sẽ mang tới Việt Nam Velaro Novo - thế hệ tàu cao tốc mới nhất, hiện đại nhất của hãng. Đây cũng là dòng tàu đang được vận hành tại nhiều quốc gia phát triển như Bỉ, Pháp, Anh, Hà Lan, Trung Quốc, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ…

Tập đoàn Siemens AG (Đức) có khoảng 43.400 nhân viên trên toàn cầu. 9 tháng đầu năm 2025, doanh thu đạt 60,5 tỷ euro (khoảng 1,87 triệu tỷ đồng), lãi ròng 5,6 tỷ euro (khoảng 173.500 tỷ đồng), vốn hóa công ty khoảng 184,9 tỷ euro (khoảng 5,73 triệu tỷ đồng).

Nếu so sánh trên tiềm lực tài chính và kinh nghiệm, Siemens Mobility đang áp đảo Hyundai Rotem./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG HỢP THÔNG TIN VỀ DỰ ÁN ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC BẮC - NAM!

     Bài này giúp cho độc giả nhìn thấu suốt, tránh bị xa vào các thuyết âm mưu do đội nhóm nào đó tự nghĩ ra để dẫn dắt dư luận. Đất nước này vẫn còn những con người có tâm và tầm!

Dưới đây là thông tin mới nhất (tính đến 26/12/2025, giờ Việt Nam) về “tín hiệu” của Chính phủ yêu cầu tìm phương án tối ưu cho dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, và cân nhắc/động thái của “VIN” (VinSpeed/Vingroup):

1) “Tín hiệu” từ Chính phủ: yêu cầu chọn phương thức đầu tư tối ưu

• Tại cuộc họp ngày 23/12/2025, Thủ tướng yêu cầu lựa chọn phương thức đầu tư tối ưu nhất cho dự án, nhấn mạnh tiêu chí minh bạch - khả thi - hài hòa lợi ích các bên.

• Thủ tướng giao Bộ Xây dựng cùng các bộ/ngành đánh giá tác động và đề xuất cơ chế cho từng phương thức đầu tư để trình Chính phủ; đồng thời yêu cầu nhiều đầu việc (tư vấn khảo sát, hướng dẫn địa phương GPMB…) hoàn thành trong tháng 1/2026.

• Theo Báo Chính phủ, đã có các đề xuất theo hướng đầu tư kinh doanh từ một số nhà đầu tư, nhưng được lưu ý là cần cơ chế đặc thù và phải đánh giá kỹ tác động.

• Tiến độ chuẩn bị: nhiều địa phương đã rà soát tái định cư; EVN rà soát phương án di dời công trình điện; công tác báo cáo nghiên cứu khả thi đang được thúc đẩy (đàm phán để ký trong 12/2025 theo báo cáo tại cuộc họp).

2) “VIN” cân nhắc gì và quyết định mới nhất: Vingroup/VinSpeed xin rút

• Ngày 25/12/2025, Vingroup/VinSpeed chính thức xin rút đăng ký/đề xuất đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam; nêu lý do là đã cân nhắc kỹ để tập trung nguồn lực cho các dự án hạ tầng - năng lượng trọng điểm khác.

• Theo thông tin công bố, đề xuất tham gia dự án Bắc - Nam trước đó do VinSpeed đưa ra từ tháng 5/2025, với phương án thu xếp 20% vốn, phần còn lại đề xuất vay từ Nhà nước lãi suất 0%, thời hạn 35 năm.

• Vingroup cũng nói việc rút lui không ảnh hưởng triển khai dự án vì vẫn có nhiều doanh nghiệp quan tâm/đề xuất (nêu tên như THACO, Công ty CP Vận tải đường sắt Việt Nam…).

3) Ghép hai mảnh lại: vì sao “Chính phủ tìm phương án tối ưu” lại nổi bật lúc này?

• Thời điểm 23-25/12/2025 diễn ra liên tiếp: Chính phủ chốt yêu cầu chọn mô hình đầu tư tối ưu (23/12) rồi VinSpeed/Vingroup rút đề xuất (25/12). Điều này khiến câu chuyện “tối ưu phương thức đầu tư” càng được chú ý vì thị trường hiểu rằng mô hình vốn/cơ chế cần rõ ràng, khả thi hơn để thu hút nhà đầu tư và triển khai đúng tiến độ.

Trong giai đoạn cuối tháng 12/2025, Chính phủ phát tín hiệu rất rõ: dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam là công trình chiến lược nhưng phải chọn “phương thức đầu tư tối ưu nhất” theo các tiêu chí công khai - minh bạch - khả thi - hài hòa lợi ích và phòng chống tiêu cực; đồng thời yêu cầu các bộ/ngành chuẩn bị cơ chế, tiêu chuẩn kỹ thuật, tổ chức thực hiện để có thể chốt hướng triển khai trong thời gian ngắn (mốc được nhắc tới là tháng 1/2026). Chính vì vậy, các phương án đầu tư đang được đặt lên bàn không chỉ là “chọn một cái”, mà còn là cách thiết kế cơ chế để giảm rủi ro tài chính và đảm bảo tiến độ cho một dự án có tổng vốn sơ bộ khoảng 1,7 triệu tỷ đồng (~67 tỷ USD).

Phương án 1: Đầu tư công (Nhà nước làm chủ đạo/hoàn toàn).

Đây là phương án mà chủ trương ban đầu thường gắn với các dự án hạ tầng “xương sống”, bởi Nhà nước kiểm soát toàn bộ quyết định về tiêu chuẩn, tiến độ, giải phóng mặt bằng, lựa chọn công nghệ và định hướng khai thác. Ưu điểm lớn nhất là tính “chắc tay”: ít phụ thuộc vào khẩu vị rủi ro của nhà đầu tư tư nhân, dễ đồng bộ mục tiêu quốc gia (kết nối vùng, an ninh - quốc phòng, quy hoạch đô thị). Nhược điểm là gánh nặng ngân sách cực lớn và rủi ro “dồn” về phía Nhà nước: nếu dòng tiền khai thác không đạt kỳ vọng thì ngân sách chịu áp lực dài hạn; thêm nữa, năng lực quản trị dự án siêu lớn, siêu phức tạp nếu thiếu cơ chế đặc thù có thể làm chi phí đội lên hoặc kéo dài thời gian. Bối cảnh hiện nay vì vậy mới xuất hiện yêu cầu xem xét lại để tìm mô hình tối ưu hơn, thay vì “mặc định” chỉ đầu tư công.

Phương án 2: PPP (đối tác công - tư).

PPP được coi là cách “chia đôi bài toán”: Nhà nước chia sẻ một phần trách nhiệm/nguồn lực (như giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tài chính, bảo lãnh cơ chế…) để thu hút tư nhân vào khâu xây dựng, vận hành, thậm chí thu xếp vốn. Ưu điểm là giảm áp lực vốn ngân sách, tận dụng quản trị dự án và kỷ luật chi phí của khu vực tư, đồng thời phân bổ rủi ro cho bên phù hợp hơn (rủi ro xây dựng/hiệu suất vận hành thường tư nhân làm tốt). Nhưng nhược điểm nằm ở chỗ PPP chỉ chạy “mượt” khi khung chính sách đủ rõ và dự án có thể ngân hàng hóa: với đường sắt tốc độ cao, rủi ro doanh thu, rủi ro chính sách và thời gian hoàn vốn dài khiến nhà đầu tư/nhà cho vay đòi hỏi cơ chế chia sẻ rủi ro rất cụ thể. Trên thực tế, chính cơ chế chia sẻ rủi ro doanh thu trong PPP ở Việt Nam từng là chủ đề gây tranh luận: ví dụ các ngưỡng doanh thu và cách kích hoạt chia sẻ có thể làm phát sinh khó khăn trong áp dụng và tâm lý “xin-cho” nếu tiêu chí không thiết kế chặt chẽ.

Phương án 3: Đầu tư theo kiểu “đầu tư kinh doanh/tư nhân dẫn dắt” có hỗ trợ mạnh của Nhà nước (mô hình gần với đề xuất VinSpeed).

Điểm nổi bật của nhóm phương án này là “gắn động cơ thị trường” rất mạnh: tư nhân đứng ra tổ chức dự án, tối ưu chi phí, triển khai nhanh; Nhà nước hỗ trợ theo cơ chế ưu đãi lớn (thường xoay quanh tiếp cận vốn dài hạn, lãi suất ưu đãi, hạ tầng dùng chung, đất đai…). Ưu điểm là có thể tạo cú hích về tốc độ ra quyết định và quản trị hiệu quả, đồng thời giảm nhu cầu Nhà nước phải “rót vốn trực tiếp” ngay từ đầu. Tuy nhiên nhược điểm cũng rất rõ: nếu hỗ trợ ở mức “quá ưu đãi” (ví dụ cấu trúc vốn mà tư nhân góp ít, phần lớn là vốn Nhà nước cho vay dài hạn với điều kiện đặc biệt), thì rủi ro tài chính cuối cùng vẫn quay về Nhà nước, chỉ chuyển từ “chi ngân sách” sang “rủi ro tín dụng/chính sách” và câu hỏi minh bạch–công bằng giữa các nhà đầu tư càng nhạy cảm. Liên quan “VIN”, VinSpeed từng nêu phương án thu xếp 20% vốn và đề xuất phần còn lại vay Nhà nước lãi 0% trong 35 năm; đến 25/12/2025
 Vingroup/VinSpeed xin rút đăng ký/đề xuất, cho thấy bài toán cơ chế – nguồn lực – ưu tiên chiến lược của doanh nghiệp là biến số lớn khi đi theo hướng “tư nhân dẫn dắt” cho một siêu dự án.

Phương án 4: Mô hình lai (hybrid) - chia dự án theo giai đoạn/đoạn tuyến/hạng mục để ghép nhiều nguồn vốn.

Thay vì chọn một mô hình cho toàn tuyến, phương án lai có thể hiểu là: Nhà nước làm các phần “khó tư nhân hóa” (giải phóng mặt bằng, hạ tầng nền, một số đoạn ít hấp dẫn thương mại), còn tư nhân/PPP tham gia các đoạn có lưu lượng tốt hoặc các hạng mục có dòng tiền rõ (khai thác thương mại quanh nhà ga, dịch vụ logistics phụ trợ, vận hành – bảo trì…). Ưu điểm là linh hoạt và thực dụng: tối ưu theo từng “miếng” của dự án và giảm rủi ro dồn cục. Nhược điểm là điều phối cực khó: tiêu chuẩn kỹ thuật phải đồng nhất, hợp đồng phải “khớp” nhau, tránh tình trạng đoạn này xong đoạn kia chậm; đồng thời cơ chế chia sẻ doanh thu/chi phí liên vùng dễ phức tạp và có thể tạo “điểm nghẽn” nếu thiết kế thể chế không đủ mạnh.

Tựu trung lại, “tối ưu” trong bối cảnh Chính phủ đang nói đến không chỉ là rẻ nhất hay nhanh nhất, mà là một cấu trúc khả thi về vốn, chịu được rủi ro dài hạn, đảm bảo minh bạch và có thể chốt cơ chế để triển khai. Việc yêu cầu chọn phương thức đầu tư tối ưu được nêu công khai cuối 23/12/2025 và ngay sau đó xuất hiện thông tin Vingroup/VinSpeed rút đề xuất ngày 25/12/2025 càng khiến trọng tâm thảo luận quay về câu hỏi: Nhà nước sẽ thiết kế “luật chơi” và mức hỗ trợ ra sao để vừa thu hút được khu vực tư, vừa giữ kỷ luật tài khóa và công bằng cạnh tranh.

Nếu bạn thấy thông tin bài này hữu ích và khách quan, hãy tặng 1 like và chia sẻ để cộng đồng cùng biết./.
Môi trường ST.

VẠCH TRẦN THỦ PHÁP DIỄN NGÔN NÚP BÓNG “GÓP Ý” CỦA ĐÀO CÔNG TIẾN!

     Trên trang Baotiengdan, Đào Công Tiến có bài viết “Từ đối đầu với khủng hoảng và đổi mới sáng tạo, đến một xã hội Việt Nam hiện tại và mai sau”. Trong vỏ bọc của lời lẽ “góp ý” là những quan điểm xuyên tạc chứa nhiều lập luận lệch lạc, phiến diện, đi ngược lại với đường lối quan điểm của Đảng nhằm gieo ngờ vực về con đường cách mạng mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Việc nhận diện và đấu tranh với những quan điểm sai trái đó là việc cần làm như lau sạch lớp bụi bẩn không để những giá trị cốt lõi của quốc gia - dân tộc bị hoen ố.

1. Một trong những luận điểm hết sức phản động và nguy hại trong bài viết của Đào Công tiến khi cho rằng: “định hướng phát triển của Việt Nam hiện nay và mai sau không nhất thiết phải là CNXH và định hướng XHCN”. Y còn dựa vào những đổ vỡ của mô hình XHCN ở Liên Xô để suy diễn rằng Việt Nam “không cần” tiếp tục con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Trái lại, chúng ta khẳng định rằng: xây dựng CNXH và định hướng CNXH ở Việt Nam là bản chất, đường lối và mục tiêu chiến lược mà Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân ta đã lựa chọn.

Bởi vì, trong toàn bộ tiến trình cách mạng, đặc biệt được tái khẳng định nhất quán trong Cương lĩnh xây dựng đất nước (2011, bổ sung – phát triển 2016), Hiến pháp 2013 và Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta xác định rõ: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất đúng đắn để phát triển đất nước bền vững.

Định hướng xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn có cơ sở lý luận và thực tiễn, được kiểm chứng qua lịch sử đấu tranh cách mạng, quá trình Đổi mới và thành tựu phát triển 40 năm qua. Thực tiễn Việt Nam bác bỏ luận điệu cho rằng con đường XHCN là lỗi thời: tăng trưởng kinh tế ổn định, đời sống nhân dân không ngừng nâng cao, vị thế quốc tế ngày càng được củng cố, tất cả đều diễn ra trong khuôn khổ một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Định hướng XHCN không phải là mô hình rập khuôn hay sao chép, mà là con đường Việt Nam vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế của đất nước. Đảng ta nhiều lần nhấn mạnh: xây dựng CNXH ở Việt Nam là một sự nghiệp lâu dài, phức tạp, nhưng là con đường phù hợp quy luật khách quan và khát vọng phát triển của dân tộc.

Xóa bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa đồng nghĩa với từ bỏ nền tảng tư tưởng, chính trị của chế độ, đánh mất mục tiêu xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; đánh mất phương hướng chiến lược bảo đảm độc lập dân tộc và lợi ích của nhân dân lao động. Đây là điều hoàn toàn trái với mục tiêu “phát triển nhanh và bền vững”, “không để ai bị bỏ lại phía sau” mà Đảng đã đề ra. Đảng ta xác định phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh, kinh tế số… đều là những trụ cột của con đường xã hội chủ nghĩa, không phải là sản phẩm của một mô hình khác. Gắn phát triển với tiến bộ và công bằng xã hội chính là điểm ưu việt của định hướng XHCN.

2. Trong bài viết Đào Công Tiến còn nêu lên những khuyến nghị về hòa giải, hòa hợp dân tộc, về phát triển “nhanh, xanh, bền vững”, và về khát vọng vươn lên của Việt Nam. Những mục tiêu ấy đúng đắn, nhưng cách mà tác giả lồng ghép và giải thích lại dẫn tới một thông điệp hết sức nguy hiểm, phản động: muốn đạt được điều đó, Việt Nam phải “từ bỏ” vai trò lãnh đạo của Đảng và định hướng XHCN.

Đây là một thủ pháp diễn ngôn quen thuộc của các quan điểm sai trái, thù địch lấy những giá trị phổ quát để làm bình phong cho mục tiêu chính trị. Đào Công Tiến cố ý cắt rời những thành tựu hòa hợp dân tộc mà Việt Nam đã đạt được sau đổi mới ra khỏi vai trò lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn bốn thập kỷ qua cho thấy chính sách đại đoàn kết, tinh thần khoan dung, chủ trương khép lại quá khứ hướng tới tương lai… đều xuất phát từ đường lối của Đảng, Nhà nước ta. Phủ nhận vai trò ấy chẳng khác nào phủ nhận chính những kết quả mà Đào Công Tiến đang “ca ngợi”.

Đào Công Tiến nêu mục tiêu xây dựng xã hội Việt Nam “văn minh, hùng mạnh, hội nhập và hợp tác” như thể đó là mục tiêu ngoài Đảng. Nhưng đó chính là mục tiêu mà Đảng xác định trong Cương lĩnh 2011 (bổ sung, phát triển năm 2016) và tiếp tục khẳng định ở Đại hội XIII. Việc tách mục tiêu ấy ra khỏi hệ quy chiếu của Đảng là một thủ pháp tinh vi nhằm làm loãng vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng. Sự hợp lý trong câu chữ không thể thay thế cho sự thật lịch sử. Hòa hợp dân tộc, phát triển bền vững, hội nhập quốc tế… không mâu thuẫn với Đảng; trái lại, chúng là những trụ cột mà Đảng đã và đang kiên trì xây dựng.

Tóm lại, luận điệu “góp ý” trong bài viết của Đào Công Tiến thực chất là phủ định đường lối phát triển đất nước, phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ định nền tảng tư tưởng chính trị của quốc gia. Đấu tranh với các quan điểm ấy không chỉ là bảo vệ một hệ tư tưởng, mà còn là giữ gìn một lộ trình phát triển đã được kiểm nghiệm bằng thực tiễn, bằng mồ hôi xương máu và niềm tin của nhiều thế hệ, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới./.
Khuyết danh ST.

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: LẦN ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI MIG 21 TIÊU DIỆT PHÁO ĐÀI BAY B52!

     Những đêm cuối tháng 12/1972, bầu trời Hà Nội về đêm rực cháy trong những quầng lửa đỏ của chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”.

22h đêm ngày 27/12. Giữa lưới lửa phòng không, từng tốp B52 bắt đầu tiến vào Hà Nội cùng hàng chục máy bay hộ tống và hệ thống gây nhiễu điện tử dày đặc.. Thời khắc ấy, có một chiếc MiG 21 đã bí mật cất cánh rời đường băng từ sân bay Yên Bái.

Phi công Phạm Tuân đơn độc dẫn dắt chiếc MiG 21 mang số hiệu 5121 lao vút vào không trung, khi đến vùng trời Sơn La thì phát hiện có B-52.

Lệnh từ Sở chỉ huy: "Tránh F4, tập trung tìm B52". Ông tăng tốc vượt qua các tốp yểm trợ, bám theo mục tiêu chiến lược.

Khi cách B52 khoảng 40km, ông bật radar nhưng màn hình trắng xóa vì nhiễu điện tử quá nặng. Ông quyết định quan sát bằng mắt thường, tìm kiếm những đốm sáng nhỏ của B52 giữa bầu trời đêm.

Khi khoảng cách tới B52 còn 4km. Từ dưới đất, lệnh của Sở chỉ huy: "361 bắn, thoát ly ngay bên trái".

Phạm Tuân hai lần trả lời: "Chờ một chút". Ông muốn tiếp cận thật gần để chắc chắn mục tiêu nằm trong tầm ngắm.

Do các phi công Mỹ chưa biết có MiG 21 bám đuôi, Phạm Tuân nhanh chóng vượt qua hàng rào máy bay tiêm kích, điều chỉnh đường ngắm và bắn liền hai quả tên lửa, “Kỳ quan kỹ thuật” của quân đội Mỹ bốc cháy ngùn ngụt rồi lao xuống đất xé toang màn đêm.

Thấy B52 bị bắn rơi, các phi đội F4 hộ tống ngay lập tức truy đuổi. Phi công Phạm Tuân nhanh chóng hạ độ cao, cắt đuôi máy bay truy kích, trở về sân bay Yên Bái an toàn. Ngay đêm 27/12/1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi điện khen Bộ đội Không quân lập công xuất sắc vì đã bắn rơi B52 của Mỹ. 

Cho đến nay, chiếc MiG-21 số hiệu 5121 là chiếc tiêm kích duy nhất trên thế giới hạ gục B52 bằng tên lửa không đối không. Hiện chiếc MiG-21 đó là bảo vật quốc gia, đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam tại Hà Nội! 🇻🇳
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 🇻🇳❤️ DẤU ẤN LỊCH SỬ VÀ LỜI THỀ DANH DỰ 🇻🇳❤️

     Năm qua,Việt Nam tổ chức hai đợt lễ kỷ niệm lớn mang tầm quốc gia đó là 50 năm thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2025); 80 năm Cách mạng Tháng 8 thành công (19/8/1945 – 19/8/2025) và Quốc khánh (2/9/1945-2/9/2025).

Lễ kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước được tổ chức ở TPHCM với hơn 20 hoạt động, trong đó có 4 chương trình lớn như Bản trường ca hòa bình; Đất nước trọn niềm vui; bắn pháo hoa tại 30 điểm; lễ diễu binh, diễu hành.

Trong đó, điểm nhấn của toàn bộ sự kiện là lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành vào sáng 30/4 tại trung tâm Quận 1 (cũ), TPHCM. Tham gia chương trình diễu binh, diễu hành có 38 khối của lực lượng vũ trang (Quân đội, lực lượng dân quân 25 khối; lực lượng Công an 13 khối) và 12 khối diễu hành đại diện cho các tổ chức quần chúng… Ngoài ra, khối diễu binh của Quân đội Trung Quốc, Lào, Campuchia cùng tham gia chương trình.

Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã phát biểu: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc như biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là thắng lợi của chính nghĩa, thắng lợi của bản lĩnh, khí phách và trí tuệ Việt Nam; của lòng yêu nước nồng nàn, khát vọng độc lập, tự do và thống nhất non sông, với chân lý Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một…”.

4 tháng sau đó, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ở Thủ đô Hà Nội là đại lễ Quốc khánh 2/9 vừa trang nghiêm, vừa rực rỡ, vừa thấm đẫm niềm tự hào dân tộc.

Đặc biệt lần đầu tiên, ngày 28/8, Bộ Chính trị đồng ý chủ trương tặng quà cho tất cả công dân Việt Nam, mỗi người 100.000 đồng nhân dịp kỷ niệm 80 năm Quốc khánh.

Lần đầu tiên trong lịch sử, lễ diễu binh còn có sự tham gia của lực lượng vũ trang trên biển. Sự kiện còn có sự tham gia của các đoàn diễu binh đến từ Trung Quốc, Nga, Lào và Campuchia.

Mùa thu vửa qua đã tái hiện không khí ngày 2/9 khiến nhiều người xúc động khi cách đây 80 năm - ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình.

80 năm qua, dân tộc ta đã đi từ những ngày tháng đói nghèo, chiến tranh đến độc lập, thống nhất, rồi đổi mới và hội nhập quốc tế. Mỗi bước đi đều in dấu sức mạnh đại đoàn kết và ý chí vươn lên của dân tộc. "Hướng tới tương lai, Đảng ta đặt mục tiêu đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam là quốc gia hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc. Đó là khát vọng của cả dân tộc, là lời thề danh dự trước lịch sử, trước nhân dân", Tổng Bí thư khẳng định.

Hai lễ kỷ niệm đã khiến hàng triệu trái tim người Việt Nam trong và ngoài nước thổn thức, xúc động dâng trào. Kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước và 80 năm Quốc khánh là dịp để mọi người Việt Nam, mọi tầng lớp nhân dân, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, những đảng viên và mọi người dân trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài, muôn triệu người như một, đoàn kết, chung tay, hướng về Tổ quốc vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc./.



Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUYẾT ĐỊNH BỔ NHIỆM CÁN BỘ BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ CẤP XÃ ĐỒNG THỜI LÀ QUYẾT ĐỊNH TUYỂN DỤNG, ĐỒNG Ý CHỦ TRƯƠNG ĐƯA SĨ QUAN QUÂN ĐỘI VỀ THAM GIA BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ CẤP XÃ!

     Ngày 31/12, thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú ký ban hành Kết luận 228 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tình hình, kết quả hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp.

"Tại phiên họp ngày 30/12/2025, sau khi nghe báo cáo của Ban Tổ chức Trung ương về tình hình, kết quả hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp tháng 12/2025 (Báo cáo số 613-BC/BTCTW, ngày 29/12/2025), Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết luận như sau:

1. Cơ bản thống nhất với những kiến nghị, đề xuất nêu trong Báo cáo của Ban Tổ chức Trung ương về tình hình, kết quả hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp tháng 12/2025.

2. Yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục: (i) Tăng cường công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra việc bố trí, sắp xếp, xử lý trụ sở, tài sản công của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý, không để xảy ra thất thoát, lãng phí. (ii) Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ, kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực quản lý, điều hành và ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức cấp xã, nhất là trong lĩnh vực tài chính, đất đai, quy hoạch, công nghệ thông tin. (iii) Tập trung nâng cao công tác thông tin, tuyên truyền về hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp, kịp thời biểu dương, nhân rộng các mô hình tốt, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân và tạo sự đồng thuận cao trong xã hội.

3. Giao Đảng uỷ Chính phủ tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo:

(i) Khẩn trương ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 150/2025/NĐ-CP, ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và uỷ ban nhân dân xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 204/2004/NĐ-CP về phụ cấp đối với chức danh lãnh đạo, quản lý ở cấp xã, hoàn thành trong tháng 12/2025.

(ii) Sớm hoàn thiện quy định về phân loại và thời hạn giải quyết đối với các thủ tục hành chính có tính chất phức tạp; quy trình chuẩn đối với các thủ tục phải xác minh nhiều bước, liên thông nhiều cơ quan; quy định rõ trách nhiệm và thời hạn phối hợp của các cơ quan liên quan; điều chỉnh tiêu chí kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo tính chất hồ sơ, bảo đảm khách quan, phù hợp thực tiễn.

(iii) Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về thẩm quyền, phạm vi hoạt động của hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện cho phù hợp với chủ trương chuyển giao các hội được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ về Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

(iv) Các bộ, cơ quan ngang bộ khẩn trương tập trung tháo gỡ vướng mắc, khó khăn về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền khi vận hành chính quyền địa phương 2 cấp theo đề xuất, kiến nghị của các địa phương, cơ quan, đơn vị, nhất là những nội dung liên quan đến việc điều chỉnh, bổ sung, ban hành đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật và các quy định, hướng dẫn liên quan đến phân cấp, phân quyền .

Các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương trực tiếp chỉ đạo theo lĩnh vực, địa bàn được phân công phụ trách việc triển khai thực hiện các nội dung phân cấp, phân quyền; bảo đảm việc phân cấp, phân quyền phải gắn với các điều kiện khả thi để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ về thủ tục hành chính, nguồn nhân lực, tài chính và chuyển đổi số; đồng thời, có cơ chế kiểm tra, kiểm soát hiệu quả; tập trung chỉ đạo khẩn trương tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nhất là những vấn đề liên quan đến hoạt động của chính quyền cơ sở; cơ bản tháo gỡ hết những khó khăn, vướng mắc lớn hiện nay trong tháng 01/2026 để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tập trung cho phát triển kinh tế, chăm lo đời sống nhân dân và giải quyết các vấn đề an sinh xã hội. Định kỳ tiến hành kiểm điểm, đ.ánh giá kết quả giải quyết, xử lý theo thẩm quyền. Đối với các vấn đề vướng mắc, phát sinh vượt thẩm quyền, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư (qua Ban Tổ chức Trung ương) để lãnh đạo, chỉ đạo.

4. Giao Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương và các cơ quan liên quan sơ kết, tham mưu sửa đổi, bổ sung Quyết định số 304-QĐ/TW, ngày 10/6/2025 của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho phù hợp, sát thực tiễn.

5. Giao Ban Tổ chức Trung ương khẩn trương tham mưu, trình Ban Bí thư ban hành văn bản về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 128-QĐ/TW, ngày 14/12/2004 của Ban Bí thư khoá IX về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức cơ quan Đảng, Mặt trận và các đoàn thể.

6. Yêu cầu các cấp uỷ địa phương khẩn trương kiện toàn đủ số lượng cán bộ Ban Chỉ huy quân sự cấp xã theo quy định ; đồng thời, rà soát số lượng Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự cấp xã được bổ nhiệm theo chủ trương nêu tại Kết luận số 164-KL/TW, ngày 06/6/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư để triển khai các bước hoàn thiện tiêu chuẩn trình độ đại học ngành quân sự cơ sở, cao cấp lý luận chính trị và quy hoạch chức danh theo quy định trong nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Thống nhất chủ trương thực hiện: (1) Lựa chọn, bổ nhiệm đối với chức danh Phó Chỉ huy trưởng, Trợ lý Ban Chỉ huy quân sự cấp xã tương tự như đối với Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự cấp xã đã được Bộ Chính trị, Ban Bí thư cho chủ trương tại Kết luận số 164-KL/TW. (2) Quyết định bổ nhiệm Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng, Trợ lý Ban Chỉ huy quân sự cấp xã đồng thời là quyết định tuyển dụng đối với các trường hợp bảo đảm đúng điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật Dân quân tự vệ số 48/2019/QH14 (sửa đổi, bổ sung tại Luật số 98/2025/QH15). Giao Đảng uỷ Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện.

7. Đồng ý chủ trương đưa sĩ quan quân đội về tham gia Ban Chỉ huy quân sự cấp xã; giao Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng xây dựng Đề án, trong đó xác định rõ lộ trình, mối quan hệ công tác, chế độ, chính sách…; báo cáo Bộ Chính trị trong quý I/2026.

8. Yêu cầu các cấp uỷ, cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương nghiên cứu, rà soát kiến nghị của các cơ quan, đơn vị, địa phương (có phụ lục gửi kèm theo) để hướng dẫn, giải quyết ngay hoặc tham mưu, đề xuất phương án phân công, lộ trình thời gian xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và thông tin đầy đủ đến các cơ quan, đơn vị, địa phương; định kỳ hằng tháng báo cáo đầy đủ tiến độ, kết quả thực hiện về Ban Chỉ đạo Trung ương tổng kết Nghị quyết 18 (qua Ban Tổ chức Trung ương)./.
Yêu nước ST.

LỜI CUỐI “VỀ NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” CỦA BẢO NINH!

     “Nỗi buồn chiến tranh” là một cuốn tiểu thuyết về đề tài chiến tranh ra đời năm 1987, của nhà văn Bảo Ninh (tên thật là Hoàng Ấu Phương), xuất bản lần đầu tiên ở Việt Nam năm 1990.

Sau khi tạo được tiếng vang, cuốn tiểu thuyết này gặp nhiều chỉ trích do Bảo Ninh hư cấu, hoặc cố tình xuyên tạc ra nhiều tình tiết xúc phạm, cố tình cài cắm những nhận xét mang tính bôi nhọ cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam, bịa đặt về người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam thông qua nhiều yếu tố dung tục, đồi trụy. 

Nhưng, như các bạn biết rồi đấy, tác phẩm nào càng mang mầm độc, càng xuyên tạc về Việt Nam thì sẽ càng được bọn đế cuốc lang sói tài trợ, dung dưỡng và phát tán. 

Cũng trong năm 1991, cán bộ Phan Thanh Hảo (công tác trong Bộ ngoại giao) đã bí mật dịch cuốn Nỗi buồn chiến tranh sang tiếng Anh, điều này thậm chí còn được nhắc tới trong Đại hội VII của Đảng. Ông Lê Mai, khi đó là Thứ trưởng BNG đã về nhắc nhở bà Hảo tự kiểm điểm. 

Bà Hảo khi đó đã nhận sai, ký từ bỏ bản  quyền với bản dịch tiếng Anh, cũng xin điều chuyển công tác từ BNG sang làm báo.

Thế nhưng đến năm 1993, Nỗi buồn chiến tranh vẫn được tài trợ để dịch ra tiếng Anh với tên “The Sorrow of War”, sau đó tiếp tục được chuyển ngữ tại nhiều quốc gia trên thế giới. Và dĩ nhiên, nó sẽ được rất nhiều tổ chức phản động vinh danh, các tờ báo quốc tế ngợi khen như lên đồng. Văn đàn Việt Nam có sự dao động không hề nhẹ về lập trường và quan điểm sáng tác.

Năm 1994, Tạp chí Cộng sản (mà khi ấy Tổng Biên tập là cố TBT Nguyễn Phú Trọng) có đăng bài viết Từ đâu đến Nỗi buồn chiến tranh của tác giả Trần Duy Châu, lên án gay gắt về tác giả Bảo Ninh. Bài viết có đoạn:

“Không thể nào thực hiện được bằng những tư tưởng, những suy luận sáng sủa rõ ràng, Bảo Ninh phải cầu viện đến sự rối rắm, mơ hồ, hỗn độn của cái gọi là 'trực giác', 'vô thức' để tạo nên một hình ảnh đảo ngược của hiện thực, chuyển đổi các giá trị, biến trắng thành đen, thay khúc ca khải hoàn của toàn dân tộc thành tiếng hát bi thương của bài ai điếu của những kẻ lạc loài.

Người viết (cũng như nhân vật) phải biến mình thành một kẻ mộng du lang thang chập chờn với cái tâm trí huyền thuật (mentalité magique) của người mơ mộng, đúng hơn là của kẻ mắc bệnh tâm thần, nghĩa là những người được 'miễn truy cứu trách nhiệm' trước tòa án lương tâm thời đại, được miễn trừ sự phán xét của lý trí lành mạnh, tỉnh táo của bạn đọc xa gần”.

Vào năm 1995, trên mặt trận báo chí chính thống đã có một đợt phê bình kịch liệt tác giả Bảo Ninh và cuốn tiểu thuyết. Làn sóng chỉ trích này bùng lên sau khi cuốn sách được dịch ra tiếng Anh, được báo Independent khen ngợi và đặc biệt là sau khi báo The New York Times vào tháng 5/1995 đăng bài viết trong đó có trích dẫn một số phát biểu của Bảo Ninh.

Tờ báo Mỹ dẫn lời Bảo Ninh: “Đó là tuổi trẻ của tôi”.

“Chỉ có mấy vị tướng tá thích nói về chiến thắng và chiến bại. Những người lính bình thường không thích nói về những điều đó. Tôi không cảm thấy vui hay tự hào về cuộc chiến này ; chiến thắng trong chiến tranh, về mặt cá nhân, không hiểu sao tôi lại không cảm thấy được điều đó. Tôi nghĩ rằng tôi đã đánh mất tuổi trẻ của mình”.

Lúc bấy giờ, báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức một chuyên đề phê phán tác giả và tác phẩm. Công an TP.HCM còn nghiêm túc chất vấn các thành viên trong Ban Chấp hành Hội Nhà văn khóa 4, những người đã bỏ phiếu bầu cho Nỗi buồn chiến tranh khi xét giải thưởng năm 1991.

Báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh cũng đăng tải những bài viết phê phán nặng nề.

Tác giả Phạm Chí Dũng thậm chí còn gọi  Bảo Ninh là một kẻ bệnh hoạn: “Tôi hiểu, điều tác giả muốn thể hiện ở đây là một quân đội cộng sản lộn xộn, vô kỷ luật, nằm trong một xã hội đầy bất công và nhung nhúc những kẻ tha phương khốn nạn theo kiểu Chí Phèo, một bản năng tình dục theo thuyết hiện sinh vương vấn chút mùi vị vô luân, một cái chết từ từ không tưởng của tất cả những kẻ nào sống bế tắc. Thật tồi bại, đó là một cái nhìn hoàn toàn sai lệch về cuộc chiến tranh của tác giả ! Đối với những chiến sĩ cộng sản đã kinh qua cuộc chiến tranh, đó là cách nhìn bệnh hoạn của những kẻ bệnh hoạn”.

Kể từ đó, bất chấp việc Nỗi buồn chiến tranh được ca ngợi lên mây xanh ở quốc tế, thì ở Việt Nam nó bị phong sát triệt để.

Chỉ đáng tiếc, sức mạnh của các đồng dollar xanh quá mạnh. Năm 2006, ông Nguyễn Tấn Dũng chính thức trở thành Thủ tướng, đồng thời tăng cường trao đổi giao lưu hợp tác lại với đế cuốc Huê Cầy, những tác phẩm kiểu như Nỗi buồn chiến tranh dần được gỡ phong sát và bùng nổ trở lại.

Như các bạn biết  rồi đấy, cựu Tổng thống Mỹ là B.Obama đã duyệt chi hàng trăm triệu USD nhằm mục đích “xóa bỏ kí ức chiến tranh Việt Nam”, làm lung lay hệ thống XHCN ở nước ta, đào tạo ra nhiều thủ lĩnh trẻ phản động. Và dĩ nhiên, đám nhà văn nhà thơ nào mang tư tưởng dân chủ cuội, thậm chí phản động đều sẽ là những đối tượng  được chúng dụ dỗ, lôi kéo và tôn vinh.

Tôn chỉ của Obama là: Phản động đi, trở cờ đi, chống phá đi. Chúng tao sẽ cho mày tiền, cho mày danh vọng. Kiểu kiểu thế…

Vậy là trong tập 9 của bộ phim tài liệu “Vietnam War” do Ken Burns và Lynn Novick thực hiện, Bảo Ninh đã trả lời phỏng vấn rằng: 

“Chúng tôi ăn cùng một loại gạo, uống cùng một loại nước, chia sẻ cùng một nền văn hóa, cùng một loại âm nhạc. Chúng tôi đã hèn nhát theo cùng một cách, chúng tôi đã dũng cảm theo cùng một cách, không khác nhau, đó là một cuộc nội chiến”. 

Phát biểu này là sai lầm nghiêm trọng về bản chất lịch sử, nguy hiểm về mặt chính trị, tư tưởng, là phản bội Tổ quốc. Chỉ có điều, nó càng được đám Huê Cầy hoan nghênh và người ta còn mua bản quyền Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh với mục tiêu dựng thành phim, càng nhanh càng dễ để lan truyền những mầm độc.

Phát ngôn hỗn xược, ngu dốt, trơ trẽn và đặc biệt độc hại này của Bảo Ninh từng được chiếu tại Đại học Fulbright Việt Nam (FUV) khi Bảo Ninh tới thăm nơi đây. Dĩ nhiên rồi, các quỹ NGO sẽ chi tiền, FUV vinh danh Bảo Ninh là nhà văn nổi tiếng, xuất sắc nhất Việt Nam.

Và, không khó hiểu khi Nỗi buồn chiến tranh đã mang về cho tác giả Bảo Ninh nhiều giải thưởng quốc tế như giải thưởng Châu Á trong lĩnh vực văn hóa của Nhật báo Nikkei (Nikkei Asia Prize) năm 2011, giải Simhun của Hàn Quốc năm 2016, giải Văn học Châu Á năm 2018. Thậm  chí, nếu như quãng thời gian ấy Huê Cầy hướng bàn tay cách mạng màu vào Việt Nam, thì khả năng Nỗi  buồn  chiến tranh đã đạt giải Nobel văn học.

Năm 2017, đế cuốc Huê Cầy tuyên bố “hỗ trợ Việt  Nam  80 triệu USD” trong đó 77 triệu USD vốn vay ODA ưu đãi và 3 triệu USD vốn đối ứng của Việt Nam. Mục đích nghe rất nhân văn là để Việt Nam viết lại SGK, cải cách và đổi mới giáo dục. Và thế là, rác phẩm Nỗi buồn chiến tranh được tay GS trở cờ Đỗ  Ngọc Thống tìm đủ mọi cách đưa vào chương trình giảng dạy cho các em học sinh, bất chấp sự phản đối vô cùng kịch liệt của các CCB.

Càng chua xót hơn nữa, đó là vào tháng 12/2025, Phó Thủ tướng Mai Văn Chính và Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Trịnh Thị Thủy đã tặng hoa vinh danh Bảo Ninh. Nỗi buồn chiến tranh được xướng tên đầu tiên, là một trong “50 tác phẩm văn học – nghệ thuật xuất sắc sau thống nhất”.

Than ôi, khi người ta vinh danh Nỗi buồn chiến tranh, có nghĩa là người ta đang xem lòng tự hào dân tộc là một thứ hư vô mờ mịt, xem thường thậm chí là giẫm đạp lên xương máu cha ông, những người đã chiến đấu, hy sinh và ngã xuống vì độc lập dân tộc.

Giải thưởng vinh danh Bảo Ninh và Nỗi buồn chiến tranh phải bị thu hồi, tác phẩm (thực ra là rác phẩm) này phải bị gỡ ra khỏi SGK trong chương trình học của các em học sinh!

Cám ơn tất cả các bạn!

Dẫn theo nhà văn, nhà phê bình văn học Chu Giang - Nguyễn Văn Lưu.

Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: "KHÔNG VIỆC GÌ PHẢI LẮM LỜI...", CÓ PHẢI ĐÓ LÀ MỘT TUYÊN NGÔN LÊN ÁN VIỆC VINH DANH LẠI "NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” BẰNG THƠ CA HAY KHÔNG?

     Sau khi bài thơ "KHÔNG VIỆC GÌ PHẢI LẮM LỜI" của Nguyễn Khoa Điềm ra đời thì ngay lập tức nó được Nguyễn Quang Thiều đánh bóng, cố ý phô trương lệch lạc bằng việc cho rằng Nguyễn Khoa Điềm đang mượn thơ để lên án những người phản biện & đấu tranh với cái sai của Bảo Ninh, với tư duy "phản tư méo mó, bi lụy, bế tắc" trong “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” - NBCT.

Nhưng thật tiếc cho tư duy của Chủ tịch Hội Nhà văn Nguyễn Quang Thiều. Không biết là anh Thiều giấu dốt, hay anh cố tình đi ngược Nguyễn Khoa Điềm, một nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị để lòi ra sự dốt nát, thậm chí là mông muội cố tình rửa mặt cho Bảo Ninh, đánh bóng cho NBCT?

Tìm hiểu kỹ, thẩm, ngẫm kỹ hơn về Bài thơ: "KHÔNG VIỆC GÌ PHẢI LẮM LỜI" ta thấy rõ 
Nguyễn Khoa Điềm không phải là một thi sĩ đứng ngoài chính trị. 
Ông từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, là người giữ vai trò then chốt trong việc định hướng Tư tưởng, Văn hóa và Diễn ngôn chính thống của Dất nước. 
Vì vậy, mọi phát ngôn về nghệ thuật (nói chung) của ông, đặc biệt ở giai đoạn cuối đời, không thể tách rời khỏi trách nhiệm lịch sử và lập trường tư tưởng.

Bài thơ “Không việc gì phải lắm lời” (27.12.2025), nếu đặt trong mạch tư tưởng nhất quán ấy, không thể đọc như một lời kêu gọi hòa giải chung chung, càng không phải là sự né tránh tranh luận. Trái lại, đây là một tuyên ngôn mang tính kết sổ, một lời lên án dứt khoát đối với việc phục hồi và vinh danh lại một "cách nghĩ" chiến tranh đã lỗi thời, từng bị lịch sử và đời sống phê bình bác bỏ, nay được kéo trở lại trung tâm đời sống Văn học - Giáo dục dưới cái tên "NỖI BUỒN CHIẾN TRANH".

Ngay từ những câu mở đầu, bài thơ xác lập một thực tế lịch sử không thể đảo ngược:

“Một cuộc chiến đã đi qua
Giang sơn đã hòa bình, thống nhất”…

Đúng là chiến tranh đã đi qua, Tổ Quốc đã thống nhất và Nguyễn Khoa Điềm không phủ nhận ký ức chiến tranh, mà đóng dấu hoàn tất cho cuộc chiến trong tư cách một cuộc chiến CHÍNH NGHĨA đã thắng lợi. 
Khi giang sơn đã thống nhất, điều cần bảo vệ không còn là súng đạn, mà là ý nghĩa lịch sử của thắng lợi ấy. Khép lại chiến tranh không phải để phủ định nó, mà để ngăn chặn những cách đọc lệch lạc đang tìm cách quay lại chiếm lĩnh ký ức cộng đồng.

Chính vì vậy, ông viết:
"Không việc gì phải rũ rối ra
Ném vào nhau lời vô nghĩa"

"Lời vô nghĩa" ở đây không phải là mọi tranh luận, mà là những diễn giải đã lỗi thời, sai lạc, từng bị bác bỏ nhưng lại được phục sinh. Đó là thứ ngôn ngữ than vãn, hoài nghi, bi kịch hóa cuộc kháng chiến; thứ ngôn ngữ từng xuất hiện trong NBCT & đã từng bị chính hệ thống Chính trị - Văn hóa xác định là "KHÔNG PHÙ HỢP" để vinh danh ở tầm chuẩn mực Giáo dục.

Nguyễn Khoa Điềm nhấn mạnh rằng:
“Đã đi qua cuộc chiến tranh thiêng liêng giận dữ”

Cụm từ này mang tính đối trọng trực diện với tinh thần của "NBCT". 
Nếu Bảo Ninh nhìn chiến tranh chủ yếu như một chuỗi mất mát phi lý, nơi con người bị nghiền nát trong một cỗ máy vô danh, thì Nguyễn Khoa Điềm khẳng định: đó là một cuộc chiến Thiêng liêng, có giận dữ, có máu lửa, nhưng mang đầy đủ Ý nghĩa Lịch sử rõ ràng & KHÔNG THỂ ĐÁNH ĐỒNG.

Cuộc chiến ấy:
"Tưới tắm núi sông, số phận con người
Cả Dân tộc bước lên đài Lịch sử"

Đây là một tuyên bố không thể thỏa hiệp: cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc không phải là một bi kịch vô nghĩa, mà là bệ phóng lịch sử của cả dân tộc. Mọi nỗ lực đọc lại nó bằng tâm thế mỏi mệt, hoài nghi chính nghĩa đều là sự xúc phạm từ hậu thế đối với những người đã ngã xuống.

Trung tâm phê phán sắc lạnh nhất của bài thơ nằm ở đoạn:

“Đây là lúc chẳng cần giở lại trò đếm xác chết
Kể lể công, tội đòi soi mặt từng người”

Trong cụm từ “trò đếm xác chết”, Nguyễn Khoa Điềm lên án trực diện phương pháp luận mà NBCT: một cách tiếp cận chiến tranh thiên lệch về thống kê nỗi đau, ám ảnh xác chết và bi kịch cá nhân, từ đó làm nghèo nàn ý nghĩa lịch sử và xóa nhòa ranh giới căn bản giữa Chính nghĩa và Phi nghĩa, giữa người giải phóng và kẻ xâm lược. 
Đây không còn là sự phản tỉnh cần thiết của văn học, mà là một sự lệch chuẩn trong nhận thức lịch sử, được che đậy dưới mỹ từ “nhân văn”.

“Đếm xác chết” không phải là tưởng niệm hay ghi nhớ hy sinh, mà là biến hy sinh thành con số, biến lịch sử thành thống kê cảm xúc. Chính phương pháp ấy đã khiến chiến tranh bị nhìn như một chuỗi mất mát phi lý, nơi nỗi buồn cá nhân lấn át ý nghĩa cộng đồng và lý tưởng lịch sử, từ đó làm suy yếu nền tảng nhận thức về cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc.

Nguyễn Khoa Điềm gọi đó là: “Thật vô ích và bất kính”. Vậy "Bất kính" với ai?
👉 Với những người lính đã ngã xuống vì một lý tưởng.
👉 Với lịch sử dân tộc đã được trả giá bằng máu.
👉 Và với thế hệ trẻ, khi họ bị buộc phải tiếp nhận một ký ức chiến tranh lệch lạc trong nhà trường.

Việc NBCT từng được vinh danh năm 1991 rồi bị hủy bỏ vinh ranh & cấm tái bản phát hành tức là NBCT bị chính đời sống phê bình và chính trị đặt lại vị trí không phải là ngẫu nhiên, mà là biểu hiện của sự tự điều chỉnh của lịch sử. Khi một tác phẩm không còn phù hợp với trách nhiệm Giáo dục và ký ức cộng đồng, nó buộc phải rời khỏi trung tâm.

Bởi vậy, việc đến năm 2025 tác phẩm này "BẰNG MỘT CÁCH THẦN KỲ NÀO ĐÓ" lại được phục hồi, bảo trợ, thậm chí đưa vào môi trường Giáo dục, chẳng khác nào đào lại một xác thối tư tưởng đã được chôn cất. Nguyễn Khoa Điềm không cần nêu đích danh, bởi bài thơ của ông chính là bản cáo trạng thơ ca đối với hành động đó.

“Hãy để những người anh hùng ngủ yên”…
“Ngủ yên” không đồng nghĩa với lãng quên, mà là không bị đánh thức để phục vụ cho những diễn ngôn sai lạc về lịch sử. Người anh hùng không cần được minh họa bằng nỗi buồn cá nhân, cảm giác hư vô hay sự hoài nghi về chính nghĩa. Họ cần được đặt đúng vào dòng chảy lịch sử khách quan, nơi sự hy sinh được nhìn nhận như một hành động có ý nghĩa, có lý tưởng và có giá trị cộng đồng. Để anh hùng “ngủ yên” chính là để lịch sử không bị bóp méo.

Vì thế, “Không việc gì phải lắm lời” không phải là lời kêu gọi im lặng, mà là lời tuyên bố chấm dứt một cuộc tranh cãi đáng lẽ không cần hồi sinh. Nguyễn Khoa Điềm, bằng thơ, đã nói thay lịch sử rằng: có những cách nhìn chiến tranh đã đến lúc phải để nguội lạnh cùng tro tàn của chúng.

Vinh danh lại NBCT không phải là biểu hiện của tiến bộ tư duy, mà là một bước thụt lùi nghiêm trọng trong nhận thức lịch sử, một dấu hiệu đáng lo ngại của sự suy thoái trong tri thức lịch sử và trách nhiệm giáo dục. Và trước sự thụt lùi ấy, không cần phải "lắm lời" không phải vì không còn gì để nói, mà vì sự thật đã quá rõ: rõ về sự lệch chuẩn trong cách tiếp cận chiến tranh, rõ về sự nhầm lẫn giữa nhân văn với bi lụy, giữa phản tỉnh với phủ định chính nghĩa, và rõ về nguy cơ làm tổn hại nền tảng nhận thức lịch sử của các thế hệ tiếp theo.

Qua những phân tích trên về bài thơ "KHÔNG VIỆC GÌ PHẢI LẮM LỜI" cũng như những ý kiến cần truyền tải của Nguyễn Khoa Điềm về việc "Đóng cửa chiến tranh" khi đất nước đã "Hòa bình", mọi thứ đã "ngủ yên", "không phải lắm lời' thì hà cớ gì, hay sâu xa hơn một chút là Nguyễn Quang Thiều đang có Âm mưu gì đó khi mượn NBCT cùng những phát ngôn, suy nghĩ lệch lạc của Bảo Ninh để bôi nhọ, xuyên tạc danh dự Quân đội, xé nát Vinh quang - Hồn cốt - Linh khí Dân tộc Việt Nam?./.

Môi trường ST.

Thứ Ba, 30 tháng 12, 2025

LANG BANG "CÂU CHUYỆN MỘT ĐỜI"!

     Trong mỗi giai đoạn phát triển đạt được nhiều thành tựu to lớn, song hành đổi mới đi lên, thích ứng với thời đại và xu thế phát triển toàn cầu chung của đất nước.

Quy luật cố nhiên là những kế hoạch và âm mưu thâm độc của kẻ thù cũng "già cựa" phát triển theo là điều không thể không xảy đến.

Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch luôn đặt mục tiêu xuyên suốt là "công kích" liên tục vào trận địa tư tưởng văn hóa, trên nhiều bình diện của đời sống xã hội và đời sống văn hóa, tinh thần của quần chúng nhân dân ta.

"Diễn biến hòa bình" của chúng không từ một thủ đoạn nham hiểm hay kế sách tinh vi, xảo quyệt nào để nhằm đạt được một hiệu ứng "đánh phá" nhất định, có được hiệu quả chiến lược từng nấc thang hòng thành công mục tiêu lật đổ chế độ của dân, do dân và vì dân của Việt Nam ta.

=> Trước hết là chúng tạo lối trải đường cho các thế lực phản động, đen tối trong nước có thêm nhiều cơ hội chống phá nền tảng chế độ và gây rối ren, nhiễu loạn đời sống kinh tế, văn hóa, tinh thần đang yên bình của nhân dân ta. 

▪︎Trên các quá trình của lịch sử ngoại giao, tiến tới các quan hệ đối tác chính thức.

- "Diễn biến hòa bình" thường gắn chặt thủ đoạn và nanh vuốt, thông qua các kênh "bình thường hóa" cho đến giai đoạn thực hiện các vai trò hợp tác, đối tác toàn diện; lợi dụng môi trường đó để thực hiện các "kế hoạch âm thầm" cũng như xuất đầu lộ diện một cách ngang ngược của chúng.

- Chúng dùng tất cả mọi phương thức, thủ đoạn để đạt được mục đích như: sẵn sàng đầu tư một nguồn tài chính lớn để mua chuộc, thúc đẩy hình thành một chương trình theo ý đồ triển khai và thiết kế của chúng.

- Chúng sử dụng các yếu tố đặc biệt gắn chặt bên lề ngoại giao như hợp tác một số vấn đề có tính cách xã hội dân sự...

- Chúng lợi dụng, cài cắm thủ đoạn thông qua các chương trình hợp tác về văn hóa, giáo dục, môi trường v.v. gắn với các điều kiện nhân danh, mang tính quốc tế hoặc chúng yêu cầu đặt ra...

- Công cụ về văn hóa và các mắc xích nguồn lợi kinh tế là những "vũ khí cơ bản" mà chúng sẽ cố tích cực để tăng cường sự chống phá, hòng lật đổ các nền tảng văn hóa và tư tưởng chính trị của Đảng, Nhà nước ta.

Trong nhiều nội dung và cấu trúc của lĩnh vực văn hóa nghệ thuật nói chung, là nơi mà kẻ thù cài cắm, sử dụng các "chiến lược mềm" chống phá nhiều nhất.

=> Loại phẩm văn học suy đồi "Nỗi buồn chiến tranh" của kẻ xuất thân trí thức tiểu tư sản Ấu Phương là một trong những điển hình về "mũi tên chống phá" trận địa văn hóa tư tưởng của Đảng, Nhà Nước ta -> mà kẻ thù đã thành công đến tận "thành trì ý thức hệ" và đã thâm nhập thực sự vào nền giáo dục - âm mưu hạ thấp hệ giá trị nhân văn trên mỗi con người Việt Nam.

Do đó, hơn lúc nào hết, đứng trước sự xâm lăng văn hóa bạo ngược này. Chúng ta rất đáng phải điều nghiên, kiên quyết đấu tranh triệt để và quyết tâm cao hơn nữa để phản bác và diệt trừ tận gốc những loại văn hóa phẩm mang tính dộc hại có tính phản động này.

Chúng ta quyết nêu cao một chính kiến, bảo vệ những giá trị thiêng liêng - trường tồn - bất diệt của văn hóa lịch sử dân tộc; đoàn kết chặt chẽ và quyết mang lại sự trong lành cội gốc cho đời sống văn hóa - lịch sử của đất nước.

Từ đó chúng ta mới có thể đúc kết lại một góc nhìn cảnh giác thâm sâu hơn, sẵn sàng phòng chống trực diện cũng như đập tan mọi thủ đoạn đê hèn, từng ngày đang tìm cách lợi dụng thâm nhập, len lỏi vào các chính sách đổi mới, mở rộng phát triển (tham gia các cơ chế đa phương của chính phủ) và hội nhập toàn cầu của đất nước.

Chúng ta kiên quyết chặn đứng "sự ngang tàng" của kẻ thù đế quốc cũng như các thế lực thù địch khi chúng thường xuyên trá hình, chĩa mũi tên xuyên phá vào mặt trận văn hóa tư tưởng của đời sống nhân dân - đời sống cách mạng của xã hội ta. 

▪︎ "Nỗi buồn chiến tranh"?

Một thứ sản phẩm văn hóa suy đồi được ra đời năm 1987 với cái tên ái ố là "Thân phận của tình yêu" đã bị Bộ văn hóa thời đó cấm xuất bản và lưu hành vào năm 1991.

Thế nhưng, sau đó nó được đổi thành cái tên "Nỗi buồn chiến tranh" để biến sự "lưu ý" của độc giả vào những chủ đề lịch sử và chính trị; hòng tiệm cận sâu hơn, thúc đẩy những mưu đồ uốn cong lịch sử và bàn nghiêng nhiều "quan điểm chính trị" của thể chế đất nước. 

=> Điều phản nhân văn nhất là nó xúc phạm thẳng vào hồn cốt của chính người dân Việt Nam, khi bôi nhọ hình tượng người chiến sĩ giải phóng quân - những người lính xả thân vì nghĩa lớn, vì sự trường tồn của lịch sử chân chính, vì sự sống còn và nền độc lập, tự do của cả một dân tộc.

Giai đoạn từ 1986 - 1991 là giai đoạn cực kỳ nhạy cảm với nhiều sự biến đổi căn bản, phức tạp của tình hình chính trị thế giới. 

Một cực của thế giới là khối các nước XHCN và Liên Xô dần bị suy yếu và tan rã. 

Hệ thống chính trị của Chủ nghĩa Cộng sản và toàn thể các mô thức, hình thái phát triển của chủ nghĩa xã hội bị mất khả năng đề kháng trước những "phương thức nọc độc" và thủ đoạn chống phá của chủ nghĩa tư bản đế quốc.

"Cơn địa chấn chính trị" nhanh chóng xảy ra làm sụp đổ và tạo ra những ảnh hưởng nghiêm trọng lên toàn bộ các nước XHCN như Trung quốc, Cu Ba, Lào, Bắc Triều Tiên, một phần "chủ nghĩa xã hội" còn lại của thế giới... và trong đó có sự ảnh hưởng trực tiếp lên nhiều mặt chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam chúng ta.

Tại Việt Nam, song hành với những bước đi phát triển ngoại giao, tiến tới "bình thường hóa" với người Mỹ là một giai đoạn thể hiện bản lĩnh và khí phách, tầm nhìn sắc sảo trí tuệ và đường lối lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng ta.

Tuy nhiên với bước đi thoát khỏi sự phong tỏa cấm vận này. Chúng ta bắt đầu khó khăn hơn trong lĩnh vực phòng và chống các âm mưu và chiến lược DBHB của địch.

-> kể từ đây kẻ địch cũng đã có nhiều cơ hội hơn để thâm nhập chống phá Việt Nam. Một chiến lược bắn mũi tên vào thành trì văn hóa tư tưởng và tấn công truyền thông từ bên ngoài, có vẻ cũng như những gì đang diễn ra ở Liên Xô và Đông Âu.

"Thân phận của tình yêu" hay "Nỗi buồn chiến tranh" bỗng nhiên xuất hiện trong giai đoạn bắt đầu mở rộng các chương trình tiếp xúc quan trọng, hoạt động không chính thức nhưng đã kết nối hai chiều một số lĩnh vực với người Mỹ, như chương trình Pow/Mia (tù binh và người Mỹ mất tích), tiếp đón các cá nhân, tổ chức nghiên cứu học thuật v.v. 

Mặc dù "Thân phận tình yêu" xuất hiện khá sớm, song hành với tiến triển ngoại giao trên. Nhưng có vẻ không bình thường (có tính ngang tàng) để khiến chúng ta đặt ra một dấu hỏi lớn.

Phải chăng sản phẩm do chính người Mỹ đặt hàng trên tiến trình phát triển các chương trình thăm dò - tiếp xúc, lộ trình phát triển ngoại giao, tiến tới "bình thường hóa" với Mỹ ? 

Đây cũng là một câu hỏi không thừa để ta có thể điều nghiên lại phương lược của chủ nghĩa đế quốc Mỹ. 

▪︎Nhìn lại khái quát tình hình đất nước trong gia đoạn này:

Một tiến trình phát triển ổn định trong bão táp xung đột như vấn đề bị lấn chiếm biển đảo Trường Sa, chiến tranh biên giới phía Bắc (Vị Xuyên - Hà Giang) và chiến tranh biên giới Tây Nam, tình hình Campuchia với nhiều khó khăn và thử thách.

-> Giai đoạn này có thể thấy, nhiều phức tạp về âm mưu "Diễn biến hòa bình" đang lăm le bên rào cản cấm vận cũng như mặt trận an ninh đối ngoại cực kỳ thách thức của đất nước.

Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nhân dân ta vẫn vững vàng tiến lên phía trước, hoàn thành những mục tiêu xây dựng kinh tế xã hội; quân đội ta anh dũng chiến đấu giữ vững an ninh quốc phòng, bảo vệ vững chắc từng tấc đất biên cương của Tổ quốc và song hành là những đổi mới mang tầm "tư tưởng chiến lược", đảm bảo cho sự phát triển bền vững, không ngừng đi lên từng ngày của đất nước. 

Chúng ta thật tự hào biết bao với giai đoạn lịch sử còn nhiều sóng gió và gian truân ấy.

Một chương sử vàng chói lọi, minh triết của nghìn năm văn hiến, thiêng liêng hồn cốt Việt Nam. Chúng ta rất đỗi tự hào với dáng màu cao cả của một dân tộc anh hùng, một dân tộc nhiều trí tuệ, dũng lược chưa bao giờ chịu chùn bước.

▪︎ "Nỗi buồn chiến tranh"?

Phải chăng vẫn là chiêu bài người Mỹ muốn có một "sắc màu danh dự" trong tiến trình quay lại mối quan hệ song phương với Việt Nam.

Công cuộc bình thường hóa giúp Mỹ có lợi về kinh tế và đặc biệt hơn cả là củng cố vị thế địa chiến lược tại Châu Á, đặt một thách thức ngang bằng giữa Mỹ với Trung quốc trong thời kỳ hậu Xô Viết. 

Chúng ta "gác lại quá khứ" nhưng người Mỹ lại muốn làm mờ quá khứ tội ác và phủ nhận 'tính chất phi nghĩa' mà họ đã gây ra trong cuộc chiến.

Thông qua "Nỗi buồn chiến tranh" một sản phẩm văn học có thể ra đời với âm mưu xây dựng lên một kiểu "chủ nghĩa cá nhân" phản tri, phản hồn, phản cách mạng và hơn nữa là đi ngược lại lý tưởng chung của mỗi con người Việt Nam.

Nó còn vô giá trị hơn trong bất cứ một xã hội văn minh và đang ở xu thế phát triển nào trên toàn cõi thế giới này.

Nó đớn hèn trên một "nhận thức căn bản" mà xu hướng tiến bộ của mỗi cá nhân - lẽ sống và ý thức phụng sự dân tộc, trong bất cứ một xã hội hay đất nước nào cũng đều dễ dàng nhận thấy.

-> Ở Việt Nam chúng ta, khi mà mỗi con người cần phải nhìn nhận đúng nghĩa về quá khứ và quy luật tiến triển mỗi ngày của nó.

Mỗi cá nhân là một "nhận thức tâm hồn" biết nhìn nhận đúng những giá trị thiêng liêng, trường tồn của lịch sử, biết nhận thức về văn hóa cội nguồn, nền tảng đang sống và trách nhiệm cao cả mà chính bản thân mình đang được gắn kết, không thể đứng ngoài những quy luật tất yếu của dòng chảy lịch sử dân tộc.

"Nỗi buồn chiến tranh" xuất hiện chính là âm mưu "Kế hoạch Diễn Biến Hòa Bình" của địch, trong giai đoạn chúng tăng cường các hiệu ứng thâm nhập, chống phá (1987 - 1991).

Thời điểm mà Liên Xô và Đông Âu thiếu coi trọng lĩnh vực phòng chống các âm mưu chiến lược Diễn biến Hòa bình do Mỹ và phương Tây thực hiện.
Có thể nói trên mặt trận văn hóa tư tưởng đã mất tính phân tích và đề cao một lý luận cảnh giác, nên đã bị phá hoại và tiến dần đến sự sụp đổ không thể cứu vãn.

Thực vậy ! Henry Kissinger đã để lại cho Việt Nam một lời tuyên chuyến đầy ngạo mạn và thách thức khi rút khỏi chiến trường miền Nam: 

"Hai mươi năm sau chúng ta sẽ trở lại Việt Nam không phải với xe tăng, đại bác, chiến hạm hay pháo đài bay mà bằng xấp đô la... Những gì bom đạn không thể làm được thì sức mạnh của đồng đô la sẽ giải quyết. Người Việt Nam sẽ đón chúng ta như những vị ân nhân." 

"Diễn Biến Hòa Bình" với nhiều kế hoạch "lặng lẽ và êm dịu" của nó, bằng nhiều cách xâm nhập và mua chuộc tác động, đã âm mưu xúc tiến thành công, để có sự tạo ra vũ khí "Nỗi buồn chiến tranh", âm mưu thực hiện ý đồ như đang diễn ra trước đó ở Liên Xô và Đông Âu.

Từ khi Đại hội VI của Đảng đề ra những đường lối đổi mới toàn diện. Vấn đề văn hóa nghệ thuật, bao gồm cả văn học, nghệ thuật và văn nghệ cũng có nhiều sự thay đổi theo. Nhiều quan điểm tự do học thuật, tự do sáng tác, viết và khai thác những đề tài, góc khuất chưa dám nói đến được đề cập sôi nổi...Bắt đầu từ đây được "tư tưởng đổi mới" của Đảng phát huy sâu rộng, làm thay đổi một chất lượng mới.  

Tóm lại một khuynh hướng tự do tư tưởng trong sáng tác văn học nghệ thuật v.v mà từ trước đó không được chú trọng nhiều đến, từ thời điểm này bắt đầu nổi lên một luồng gió mới.

Tuy nhiên việc lợi dụng vấn đề tôn vinh "tính tự do hay cách hiểu "sự cởi trói trong văn học" đã bị nhiều kẻ "bồi bút" cơ hội, lắm tà tâm mà lại khéo mồm mép văn ngữ, mang nhiều thủ đoạn đê hèn...

=> chúng đã liên tiếp cho ra đời nhiều tác phẩm tự sáng tác hoặc dịch thuật ở đâu đó có tính đồi mạt tư tưởng, thị dục ương hèn, nuôi dưỡng những "cái tôi thấp kém", gieo cấy sự ích kỷ tràn lan trên mọi phạm trù lối sống, vực dậy những thứ "chủ nghĩa cá nhân" hoàn toàn tanh tưởi v.v.

Liên tiếp những năm sau đó là xuất hiện một số tác phẩm, truyện ẩn chứa các "ý đồ chính trị", bôi nhọ tính chiến thắng, các sự kiện chiến đấu, nhân vật lịch sử, nhà lãnh đạo v.v khiến lĩnh vực văn hóa, tự do học thuật của Việt Nam ta trở thành một môi trường phức tạp.

Chúng tạo ra những diễn đàn, chương trình, lĩnh vực nghiên cứu mở rộng không được thẩm định theo chiều hướng giác ngộ "chủ nghĩa nhân văn" một cách bao hàm nhiều phạm trù tích cực về nhân triết và đạo lý mà chúng đã tạo ra sự "pha loãng về ý thức hệ", làm xô lệch nhiều tư tưởng nhân văn mang tính định hướng những giá trị bất biến của con người cũng như thủ đoạn làm biến đổi nghiêm trọng một "góc nhìn về văn hóa lịch sử lên nhân tố con người Việt Nam". 

Thế hệ trẻ ngày nay ít nhiều đã bị ảnh hưởng và có xu hướng thay đổi nhận thức, khi những vấn đề trọng tâm và cốt lõi bị mài mòn và có xu hướng chịu sự xâm thực, lấn át.

Những điều đáng lo ngại như thế không thể không nghĩ bàn trong vấn đề chính trị và điều hành của đất nước.

Rất mong những điều này được các cấp lãnh đạo quan tâm, nhất là lĩnh vực giáo dục và đào tạo. 

"Sự nghiệp trồng người" nếu mỗi ngày mất đi những giá trị về sự hun đúc được nhân lên trên một tổng quan tinh thần soi sáng, đúng đắn về nội dung văn hóa và lịch sử. ->Tất yếu dân tộc đó sẽ dần suy yếu, con đường củng cố, quay lại sẽ mất rất nhiều thời gian và công sức.

SỰ HƯ CẤU NHẪN TÂM VÀ ÁC ĐỘC CÙNG TƯ TƯỞNG TỰ SỰ MỘT CÁCH BỆNH HOẠN LÝ TRÍ CỦA "NỖI BUỒN CHIẾN TRANH" CHO TA NHỮNG CÁI NHÌN NHƯ SAU:

Tác phẩm phi tính văn học và phản nghịch với những gì thuộc về nhân sinh trừu tượng của con người (kể cả cái nhìn về mặt sai trái, suy đồi hay cái ác) cũng như những giá trị thường thấy mà văn học cho dù thể loại gì cũng phải khoác trên mình một nghĩa vụ là phục vụ cho đời sống thẩm mỹ và đạo đức của con người. 

Văn học phải được nhìn ra tính đúc kết và một góc nhìn phê bình những giá trị do nó mang lại đối với cuộc sống. 

Tính hiện thực hay chiều sâu triết lý của một tác phẩm luôn là "khái niệm hồn cốt" giúp con người nhìn ra lẽ phải và chân lý, biết đi đúng hướng và tạo lập những giá trị sống cho riêng mình.

=> "Nỗi buồn chiến tranh" là một tác phẩm vô hồn, không có trí tuệ, chỉ là sự quái thai của "văn hồn tính cách" một con người.

Nội dung tác phẩm là một "thể tính văn học" rất rỗng, lợi dụng "tính hư cấu" trong văn học một cách bừa bãi, không có tính chân hiện của đời sống con người. "Tính văn học" nghĩa là một khái thể nhận thức không bao giờ bị tách rời bởi thần thái, lương tri của con người trong văn học => nó không có "tính văn học" đúng nghĩa mà chỉ là một diễn ngôn của "hình thức nhân văn suy đồi" vô giá trị.

Phản nghịch với quan điểm vị nghệ thuật:

Văn học có trách nhiệm "chuyển ngữ" từ đời sống nội tâm đến tô điểm hồng hơn một lý tưởng chung của đời sống cộng đồng xã hội và đời sống văn hóa, lịch sử, tạo ra sự phát triển một tư duy sáng tạo của con người nói chung chứ không phải chỉ là tính đơn thuần văn học giải trí. Và cho dù thế nào thì về mặt "nghệ thuật văn chương" cũng biểu lộ được "tính chân" và nói lên một giá trị hàm triết tổng thể, một đoạn văn, một câu thơ cũng tỏa sáng những điều đó. Thế nhưng nghệ thuật trong "Nỗi buồn chiến tranh" hay "giá trị thẩm mỹ" của nó là không có. 

Nghệ thuật được đánh giá một phần trên bề hiện nội dung. Khẳng định ở góc nhìn thuần túy văn học, nó chỉ là sự nổi bật "cái xấu" về hình ảnh ngôn ngữ, mạch truyện khúc mắc từ đầu tới cuối về mặt nghệ thuật (bao gồm kỹ thuật trần thuật, phân cảnh tuyến tính, tính hư cấu tự sự và cách tạo dựng hình ảnh diễn ngôn v.v). Về phương diện ngôn ngữ rất xấu xí và ngữ nghĩa (nhìn qua tính thẩm thụ ngôn từ) hiện lên một cách tật nguyền khối óc.

Song hành với một nội dung hư cấu bệnh hoạn, phản nhận thức, cho ta thấy nó là một "Quái thai nghệ thuật" làm thui chột một nhận thức sống; có tính bôi bẩn lên tâm hồn người và kỳ phản tối đen tính văn học; bên cạnh những tính cách phản văn hóa, đi ngược lại chủ nghĩa nhân văn đích thực và mục tiêu duy nhất chỉ là sự hư cấu thái quá, biểu lộ một dị tật tâm hồn, chỉ nhằm hướng mục đích bôi xấu hình tượng và phẩm chất kiên cường, trí tuệ quả cảm của người lính - anh chiến sĩ giải phóng quân Việt Nam.

Ở "Nỗi buồn chiến tranh" nó bộc lộ một nhận thức đui mù của tác giả và phản "tư tưởng khoa học" trước cái nhìn thực tiễn chiến đấu và sự tương tác gian truân của người lính.v.v Tác giả là người rối loạn cảm xúc và không có vốn sống. 

Trong văn học cách mạng, chúng ta vẫn thường thấy những gian nan, thử thách vô bờ bến của người lính, người chiến sĩ cách mạng, những đau thương và chịu đựng cùng những mất mát hy sinh không gì bù đắp nổi nhưng " phẩm chất và hình tượng người lính" vẫn luôn là những viên ngọc phách chói lòa trong lòng nhân dân và sự nghiệp đấu tranh cách mạng.

Rác văn học "Nỗi buồn chiến tranh" là sự phỉ báng đến lạnh lùng, vô cảm, một kiểu khua trống xét lại, bỏ lại đằng sau với bao người đồng đội anh em thương tích, làm tổn thương những người đang sống và xúc phạm bao người con ưu tú của dân tộc đã hiến thân, anh dũng ngã xuống vì hòa bình, độc lập, tự do cho dân tộc và sự trường tồn vẹn nguyên của Tổ quốc.

Thậm chí nó không tồn tại nổi một "tính cách văn học", theo tôi đọc được viết lên trong cái "phẩm chất người" đã được ít nhiều thụ hưởng giáo dục và tôi luyện trên chính "nội dung được dựng lên". Và tư tưởng tác giả muốn hàm chứa đến thì cực kỳ tối tăm và hạn chế xuẩn động..., nó cực kỳ bôi bẩn lên "đời sống văn học" và phủ nhận mọi "lý trí sáng suốt của con người"...

Khi viết một tác phẩm tiểu thuyết văn học, tác giả có quyền hư cấu theo ý mình muốn để đạt được mục đích trình diễn và những điều mình muốn nói. Tuy nhiên ông tác giả Bảo Ninh không thể tự cho mình có đặc quyền để tự do hư cấu bừa bãi, phản khoa học và thường thức trí tuệ con người, đánh tráo sự chân thật của hồn cách con người và bản chất của cái đẹp v.v. xúc phạm đến những gì thiêng liêng, cao cả và cốt cách chân mỹ, trí tuệ của người Việt Nam. 

Ở đây Bảo Ninh với chút trình độ văn chương khoa ngữ của mình đã tạo ra một tác phẩm sặc mùi phản đạo đức và hình thái nhân đạo của văn học. 

Chúng ta không thể tìm thấy ở tác phẩm những giá trị hàm nguyên, phong cách, lối sống mà văn học luôn cần tải đựng hoặc gián tiếp mô tả để góp phần phát triển một chủ nghĩa nhân văn theo góc nhìn thuần túy văn học.

Nó không thể có được một ảnh hưởng mang tính giá trị về triết lý sống hay tạo sức thẩm mỹ gì hơn lên đời sống con người...

-> "Nỗi buồn chiến tranh" chỉ là chuỗi ngôn ngữ suy đồi nhận thức, công cụ phản văn hóa và lịch sử, nó không thể có được cái "đặc quyền hư cấu" như thế trong nền văn học và cả không gian - kho tàng văn học nghệ thuật của thế giới đương đại.

Kết luận, ca ngợi "Nỗi buồn chiến tranh" chỉ có ở tư duy kẻ thù và hạng người ấu trĩ về văn hóa, lệch lạc một bản năng tâm hồn và nhận thức ngu dốt nhưng thích học đòi để thể hiện mình "yêu văn học", a dua với bản ngã thị dục và tâm thức của cái ác, cái chiều hướng suy đồi và thiển cận hồn óc.

Nhưng có lẽ "Nỗi buồn chiến tranh" là "món ngon" mà ông ta sẵn sàng bán rẻ lương tri, phẩm cách để đánh đổi với rượu ngon, tiền tài và danh tiếng ảo được "thế giới kẻ thù thất bại nhục nhã" đã ban tặng, cũng như ông ta đã ra sức "vặn xuýt" ngôn từ để bợ đỡ "danh dự", xóa mờ tội ác cho bè lũ tay sai và kẻ thù đế quốc.

"Nỗi buồn chiến tranh" lạc loài và dị hợm được dịch ra 15 thứ tiếng, để thế giới này hiểu về cái gọi là "chiến tranh Việt Nam" ư ? Và được lắm kẻ văn đàn quốc tế ca tụng ư?

Chúng ta coi họ là một lũ thất bại nhục nhã, vô liêm sỉ nhất, chúng sẽ băng hoại chết chùm cùng sự ấu trĩ, tăm tối của loại văn học ương thối này. 

"Nỗi buồn chiến tranh" sẽ bị đào thải và trôi dạt như những thứ bèo bọt rác rưởi cùng với cả hệ thống "phản nhân văn" của chúng. 

Nó sẽ có một ngày phải "tự biến mất", bị loại thải bởi sự phát triển tinh tế trên đại đồng thế giới nhân văn nghệ thuật và những bể hồn giá trị văn học chân chính; đồng thời với tính thẩm mỹ nghệ thuật đang gắn thiết lịch sử sẽ loại trừ nó để dựng xây phồn thịnh hơn, đẹp đẽ hơn toàn thể cuộc sống đương đại trong cấu trúc của thế giới văn minh này./.












Môi trường ST.