Thứ Tư, 30 tháng 7, 2025

Đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

 


Nhận thức rõ sự tác động của kinh tế đối với phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay, Đảng ta đã chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thông qua phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ xã hội chủ nghĩa, khích lệ nhân dân ngày càng tích cực tham gia đóng góp sức lực, trí tuệ vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn góp phần nâng cao vị thế của người lao động trong quá trình sản xuất. Tạo điều kiện cho mọi người dân làm chủ tư liệu sản xuất của toàn xã hội, ở mọi thành phần kinh tế. Nền kinh tế thị trường tạo ra những thuận lợi, giúp con người thay đổi những quan niệm và thói quen cũ gắn liền với nền sản xuất tự cấp tự túc. Nói cụ thể hơn, quan niệm tự cấp, tự túc trong vòng khép kín bảo thủ chuyển thành quan niệm giao lưu, khai thác, tìm tòi và mở ra cái mới; quan niệm bình quân, cào bằng chuyển thành quan niệm thi đua, cạnh tranh tạo nên những động lực tinh thần để phát triển… Những chuyển biến đó sẽ góp phần tăng cường thêm một bước ý thức của mỗi cá nhân, thúc đẩy sự hình thành những cá nhân tự giác và đưa xã hội lên một trình độ mới. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn huy động rộng rãi nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương, đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, của đơn vị; đã tạo ra môi trường thuận lợi để phát huy nguồn lực con người trong lĩnh vực kinh tế.

Phát huy sáng kiến của người lao động, chăm lo đời sống vật chất tinh thần của họ, thực hiện phân phối công bằng, công khai, dân chủ. Động viên mọi người dân bỏ vốn để sản xuất kinh doanh, khai thác thế mạnh của các địa phương, phát triển ngành nghề truyền thống, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy trình độ tay nghề, năng lực quản lý kinh doanh của mỗi thành viên trong xã hội, để cùng với Nhà nước giải quyết những khó khăn của đất nước.

Tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, khơi dậy lương tâm nghề nghiệp, nêu cao trách nhiệm của mỗi người dân trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Làm cho mọi người thấy được trách nhiệm của mình phải lao động nghiêm túc, có chất lượng, có hiệu quả, tạo ra hàng hóa tốt, nâng cao chất lượng dịch vụ. Điều đó vừa tạo điều kiện cho xã hội phát triển, vừa là điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả. Phê phán mạnh mẽ thói lười biếng, làm bừa, làm ẩu; ngăn chặn làm ăn phi pháp, phi đạo lý.

Phát huy hơn nữa nguồn lực con người trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Nguồn lực con người là tổng hoà các yếu tố về số lượng, chất lượng và cơ cấu của một cộng đồng người, có thể huy động được vào hoạt động thực tiễn vì sự tiến bộ và phát triển xã hội.

Về mặt số lượng, nguồn lực con người được xác định trên quy mô dân số, cơ cấu độ tuổi, sự tiếp nối các thế hệ, giới tính và sự phân bố dân cư giữa các vùng, các miền, giữa các ngành kinh tế, giữa các lĩnh vực đời sống xã hội.

Về mặt chất lượng, nguồn lực con người phản ánh chất lượng dân số, đặc biệt là chất lượng của lực lượng lao động hiện tại và trong tương lai gần (dưới dạng tiềm năng), thể hiện qua các yếu tố như: Sức khoẻ cơ thể và sức khoẻ tâm thần, mức sống, tuổi thọ, trình độ học vấn và chuyên môn nghề nghiệp, trình độ phát triển trí tuệ, năng lực sáng tạo, khả năng thích nghi, kỹ năng lao động, văn hóa lao động, các khía cạnh tâm lý, ý thức, đạo đức, tư tưởng, tình cảm, tính cách, lối sống trong đó, trí lực, thể lực, đạo đức là những yếu tố quan trọng nhất.

Về mặt cơ cấu, nguồn lực con người phản ánh ở khía cạnh cơ cấu dân cư và cơ cấu lao động trong các ngành, các vùng; cơ cấu lao động đã qua đào tạo trong các lĩnh vực và khu vực kinh tế; cơ cấu trình độ lao động; cơ cấu độ tuổi trong lực lượng lao động; cơ cấu nguồn lao động dự trữ... Cơ cấu dân cư và lao động ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh của nguồn lực con người.

Con người được xem xét với tư cách là một nguồn lực, nguồn lực nội tại, cơ bản trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển xã hội. Là một nguồn lực, cũng như các nguồn lực khác, con người tạo ra sức mạnh và tham gia vào quá trình thúc đẩy sự phát triển của một quốc gia, dân tộc. Song, nguồn lực con người khác các nguồn lực khác ở chỗ, có nó, các nguồn lực khác mới phát huy được tác dụng và có ý nghĩa tích cực, vì thế nó là nguồn lực của mọi nguồn lực. Mặt khác, nó không chỉ là chủ thể quyết định sự vận động và phát triển xã hội, mà còn là khách thể của các quá trình kinh tế - xã hội. Sức mạnh của nguồn lực con người biểu hiện qua sức mạnh của thể lực, trí lực, niềm tin, ý chí... của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng không chỉ trong thực tế mà còn ở dạng tiềm năng. Những nhân tố trên có quan hệ hữu cơ và trong điều kiện ngày nay, trí lực có vai trò đặc biệt quan trọng. Vì vậy, cần xem xét con người với tất cả hiện trạng, tiềm năng, đặc điểm và sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội.

Phát huy nguồn lực con người trong xây dựng chủ nghĩa xã hội là quá trình khơi dậy, sử dụng và phát triển tính tích cực chính trị - xã hội cùng với năng lực sáng tạo của nhân dân lao động vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Thực chất của phát huy nguồn lực con người trong xây đựng chủ nghĩa xã hội chính là thực hiện một cách đồng bộ, có hệ thống các biện pháp kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nhằm khơi dậy, sử dụng, phát triển tất cả các yếu tố số lượng, chất lượng, cơ cấu của nguồn lực con người, đáp ứng với đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; quá trình đó bao gồm những nội dung chủ yếu:

Khơi dậy tính tích cực chính trị - xã hội, năng lực sáng tạo của nhân dân. Đây thực chất là quá trình “đánh thức” những tiềm năng vốn có nhưng chưa bộc lộ hoặc bộc lộ chưa đầy đủ của từng cá nhân và tập thể… để phục vụ cho việc khai thác, sử dụng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là khơi dậy tính tích cực chính trị - xã hội (biểu hiện: tình yêu đất nước, yêu con người, ý thức trách nhiệm đối với xã hội, ý chí quyết tâm, tinh thần say mê, sáng tạo trong lao động) của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Sử dụng những tiềm năng, tính tích cực chính trị - xã hội và năng lực sáng tạo của nhân dân. Đây là quá trình tổ chức hoạt động thực tiễn để nhân dân tham gia; thông qua đó để phát huy tính tích cực chính trị - xã hội và năng lực sáng tạo của mỗi người. Thực chất của khâu này là tìm ra các cách thức, cơ chế, chính sách tốt nhất để tác động vào những đột phá nhằm tạo động lực, làm tăng tính tích cực, tự giác, năng động, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Phát triển tính tích cực chính trị - xã hội, năng lực sáng tạo của nhân dân. Thực chất là quá trình phát triển về số lượng, hoàn thiện về cơ cấu và làm gia tăng giá trị của con người trên các mặt: phẩm chất đạo đức, năng lực trí tuệ, khả năng lao động sáng tạo, thể lực… làm cho họ trở thành những người lao động vừa hồng vừa chuyên, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Quá trình này được tiến hành liên tục, thường xuyên nhằm tăng cường sức mạnh, tạo cơ sở, tiền đề tiếp tục khơi dậy và sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Cần phát huy hơn nữa gái trị con người xã hội chủ nghĩa hiện nay

 


Con người xã hội chủ nghĩa là sản phẩm tất yếu của quá trình phát triển lịch sử tự nhiên, là tổng hợp các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, đạo đức và trình độ phát triển của chủ nghĩa xã hội, đồng thời là chủ thể của các quan hệ xã hội đó.

Con người xã hội chủ nghĩa là con người có ý thức, trình độ và năng lực làm chủ tự nhiên, xã hội và chính bản thân. Đó là con người luôn đề cao trách nhiệm cá nhân đối với tương lai của đất nước, dân tộc; tích cực phấn đấu vươn lên để góp công sức vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa; tham gia tích cực vào quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã hội; đấu tranh chống mọi quan điểm, thái độ tiêu cực trong xã hội. Con người xã hội chủ nghĩa còn phải có năng lực nhận thức để nắm bắt các quy luật vận động của tự nhiên, xã hội; đồng thời phát huy tính tích cực, sáng tạo, thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển, tiến bộ.

Con người xã hội chủ nghĩa là con người lao động mới, có tri thức, có ý thức kỷ luật, có tinh thần hợp tác với đồng nghiệp, biết đánh giá chất lượng lao động, hiệu quả lao động của bản thân. Con người xã hội chủ nghĩa kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện lười lao động, thích hưởng thụ; tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề, ứng dụng khoa học công nghệ vào lao động sản xuất để làm giàu cho xã hội, cho gia đình và bản thân.

Con người xã hội chủ nghĩa là con người sống có văn hóa, có tình nghĩa; giải quyết đúng đắn các quan hệ xã hội; có ý thức nâng cao trình độ tri thức mọi mặt, ra sức rèn luyện sức khoẻ, bảo đảm phát triển toàn diện cá nhân. Họ không chỉ là những người có tri thức, có sức khỏe, tích cực hăng say lao động để cống hiến cho xã hội mà còn là những người có lối sống lành mạnh, giàu lòng nhân ái, vị tha, yêu thương con người; sẵn sàng giúp đỡ nhau trong cuộc sống; luôn tin tưởng, tôn trọng nhau; giải quyết hài hòa giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của tập thể, của xã hội.

Con người xã hội chủ nghĩa là con người giàu lòng yêu nước, có tình thương yêu giai cấp, thương yêu đồng loại, có ý thức và kiên quyết đấu tranh bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ những thành quả cách mạng; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá của kẻ thù; sẵn sàng chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc; đồng thời luôn nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế, giúp đỡ giai cấp công nhân và nhân dân lao động yêu chuộng hòa bình; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản cách mạng.

Xây dựng gia đình quân nhân hiện nay

 


Quân đội, trực tiếp là cán bộ, chiến sĩ, con em của các gia đình làm nhiệm vụ tuyên truyền, vận động gia đình mình và các gia đình khác thực hiện tốt mội chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng gia đình, góp phần xây dựng hậu phương quân đội vững chắc để cán bộ, chiến sĩ yên tâm công tác, thực hiện tốt mọi nhiệm vụ.

Các đơn vị Quân đội trực tiếp giúp đỡ các địa phương và gia đình trên địa bàn đóng quân phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở chính trị, bảo vệ tính mạng, tài sản, cuộc sống bình yên cho nhân dân và các gia đình; tham gia phòng chống thiên tai, dịch bệnh. Chăm lo xây dựng gia đình no ấm, hòa thuận, tiến bộ, hạnh phúc. Đấu tranh với những biểu hiện sai trái trong quan hệ quân dân, phá vỡ hạnh phúc gia đình, ảnh hưởng đến phẩm chất “Bộ đội cụ Hồ”, góp phần xây dựng hậu phương quân đội vững chắc.

Xây dựng gia đình gắn chặt với xây dựng khu tập thể dân cư, làng, bản văn hóa


Xây dựng gia đình gắn chặt với xây dựng khu tập thể dân cư, làng bản văn hoá là một biện pháp quan trọng nhằm tạo ra một môi trường xã hội lành mạnh,  mà ở đó phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình. Bởi vì, môi trường, hoàn cảnh xung quanh có tác động rất lớn đến con người và mỗi gia đình. Đoàn kết yêu thương, đùm bọc, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau là nét đẹp truyền thống của dân tộc, gia đình Việt Nam.

Xây dựng khu tập thể dân cư, làng bản văn hoá là nhằm tạo ra một môi trường xã hội trong sạch lành mạnh, an toàn, thuận lợi nhất để các gia đình đoàn kết, động viên, giúp đỡ nhau cùng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.                        

Cần thực hiện xây dựng khu tập thể dân cư, làng, bản theo tiêu chuẩn văn hóa mới, xây dựng các tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh. Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở làng, xã, đấu tranh đẩy lùi các tệ nạn xã hội và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Nâng cao hiệu quả, tính thiết thực trong xây dựng gia đình văn hóa, gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. 

Xây dựng các mối quan hệ thực sự bình đẳng trong gia đình

 


Đây là giải pháp quan trọng không thể thiếu trong xây dựng gia đình. Bởi lẽ, một trong những cơ sở quan trọng hình thành nên văn hoá gia đình là các mối quan hệ trong gia đình: quan hệ giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái, anh - chị - em, con cháu - ông bà, cô dì, chú bác. Do vậy, xây dựng các mối quan hệ trong gia đình thực sự bình đẳng trực tiếp góp phần xây dựng gia đình văn hoá, bảo đảm cho gia đình là tế bào lành mạnh của xã hội.

Gia đình mới ở Việt Nam được xây dựng, trên cơ sở các quan hệ bình đẳng, thương yêu, có trách nhiệm cùng chia sẻ, gánh vác công việc của các thành viên để thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình và nghĩa vụ xã hội. Trong số các quan hệ giữa các thành viên gia đình, cần đề cập hai quan hệ cơ bản nhất: quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ - các con. Việc hình thành và từng bước phát triển gia đình mới, cần chú ý đến bình đẳng trong quan hệ vợ - chồng.

Kết hợp nhiều giải pháp, biện pháp, trong đó sự đồng bộ của việc đề ra và thực hiện các chính sách kinh tế, văn hoá, giáo dục... góp phần quan trọng tạo ra và từng bước củng cố quan hệ bình đẳng vợ - chồng trong tham gia quyết định các vấn đề trọng đại của gia đình cũng như tham gia các hoạt động xã hội. Trong gia đình mới, vợ chồng thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau cần tiến bộ. Đặc biệt phải quan tâm đến đặc điểm giới tính để tạo điều kiện phù hợp cho vợ chồng hoàn thành được nhiệm vụ gia đình và công tác xã hội. Chung thủy vẫn là nét bản chất của tình yêu sau hôn nhân; đồng thời là yêu cầu của hình thức hôn nhân mới. Chung thủy là yếu tố quan trọng để gia đình có hạnh phúc bền vững.

Cùng với quan hệ vợ chồng, trong xây dựng gia đình mới cần chú ý đến quan hệ cha, mẹ - con cái. Bố mẹ yêu thương và không phân biệt đối xử với các con, tôn trọng và hướng dẫn những nhu cầu chính đáng của các con. Nuôi dạy các con thành người có ích cho xã hội là nghĩa vụ của bố mẹ. Các con phải biết ơn, kính trọng, nghe lời khuyên nhủ của bố mẹ và không ngừng học hỏi vươn lên giữ vững truyền thống tốt đẹp của gia đình. Trong gia đình, việc mâu thuẫn và khác biệt giữa các thế hệ là điều khó có thể tránh khỏi. Giải quyết những mâu thuẫn và khác biệt để không dẫn tới những xung đột trên cơ sở tôn trọng những nét riêng cần thiết, tâm lý lứa tuổi, hạn chế những mặt yếu, kết hợp những mặt mạnh của các thế hệ là trách nhiệm thường xuyên của gia đình và xã hội.

Ngoài ra, trong gia đình cần xây dựng những mối quan hệ tốt giữa anh chị em với nhau. Nếu trong gia đình có nhiều thế hệ, phải chú ý đến những mối quan hệ khác, như ông bà và cháu chắt; bố mẹ chồng với con dâu; bố mẹ vợ và con dể; chú bác, cô dì và các cháu các quan hệ này cần được xây dựng trên tinh thần bình đẳng, tình thương và có trách nhiệm để cho gia đình êm ấm, trở thành tế bào lành mạnh của xã hội.

Cùng với đó, cần xây dựng tốt mối quan hệ giữa gia đình với tập thể cộng đồng xã hội. Bởi vì, sự tác động của xã hội đóng vai trò hết sức quan trọng, thông qua các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá - giáo dục, tuyên truyền vận động. Mối quan hệ đó được biểu hiện ra như: quan hệ họ hàng, thân tộc, làng xóm, các tổ chức nơi cư trú. Trong đó cần lưu ý là những tác động ấy sao cho trở thành các nhân tố và điều kiện khách quan, bên ngoài cho quá trình thực hiện tốt các chức năng cơ bản của gia đình và làm tốt trách nhiệm xã hội.

Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo để phát huy hơn nữa nguồn lực con người


Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là giải pháp quan trọng hàng đầu để phát huy nguồn lực con người, bởi lẽ, giáo dục và đào tạo là cơ sở hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực hoạt động thực tiễn của mỗi cá nhân và cả cộng động người. Thông qua hoạt động giáo dục và đào tạo, trình độ năng lực của con người ngày càng được nâng cao, giúp cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung và phát triển năm 2011) Đảng ta nhấn mạnh: Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ có sức mạnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển. Đến đại hội lần thứ XII của Đảng (năm 2016) khẳng định: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học, phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Để đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo được chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục của khu vực và thế giới; khắc phục cách đổi mới chắp vá, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu kế hoạch đồng bộ. Đổi mới chương trình, nội dung phương pháp giảng dạy và học tập, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế.

Tăng cường các nguồn lực cho giáo dục - đào tạo. Ngân sách Nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực cho giáo dục - đào tạo. Cùng với đó, cần tích cực huy động các nguồn lực ngoài ngân sách. Khuyến khích và tạo điều kiện để cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài giúp đỡ, đầu tư vào lĩnh vực giáo dục - đào tạo theo quy định của Nhà nước. Xây dựng đội ngũ giáo viên có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu giáo dục - đào tạo trong điều kiện mới. Tăng cường thực hiện chương trình bồi dưỡng giáo viên, bồi dưỡng chuẩn hóa, nâng cao phẩm chất và năng lực cho đội ngũ giáo viên.

Đổi mới và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo. Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giáo dục theo tinh thần tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục - đào tạo. Nhà nước thực hiện đúng chức năng định hướng phát triển, tạo lập khung pháp lý và kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực thi pháp luật, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục - đào tạo, chống bệnh thành tích. Đổi mới tổ chức và hoạt động, đề cao và bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhà trường, nhất là trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. 

Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới

 


Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước khẳng định: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021-2030), Đảng đã đưa ra mục tiêu tổng quát về xây dựng, phát triển con người như sau: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc”[1]. Đảng ta đã gắn nhân tố con người gắn với xây dựng văn hóa làm nền tảng tinh thần với hàm ý văn hóa và con người là cặp đôi biện chứng, trong đó con người là chủ thể sáng tạo văn hóa và thụ hưởng các giá trị, sản phẩm văn hóa. Đảng ta cũng đã nêu ra những tiêu chí, những chuẩn mực của con người Việt Nam trong giai đoạn mới đó là: Giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khoẻ, lao động giỏi, sống có văn hoá, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính, có khả năng sáng tạo và ứng dụng khoa học - công nghệ vào quá trình lao động sản xuất và quản lý; có nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực, kỹ năng, trách nhiệm xã hội… việc xây dựng con người phải thông qua hoạt động thực tiễn, cụ thể của từng người.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 231.

Phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao được coi là khâu đột phá chiến lược, là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững

 


Trong bối cảnh toàn cầu hoá và kinh tế tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao đang trở thành nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với bất cứ quốc gia nào thì việc lựa chọn phát triển nhanh nguồn nhân lực là khâu đột phá là tất yếu, khách quan và phù hợp. Nhận thức rõ điều đó, Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định, phát triển nhanh nguồn nhân lực là một trong ba “khâu đột phá” chiến lược; trong đó phải: “Chú trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài; có chính sách vượt trội để thu hút, trọng dụng nhân tài, chuyên gia cả trong và ngoài nước”2 để hiện thực hóa mục tiêu: Đến năm 2025, nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Theo đó, phát triển nguồn nhân lực là cơ sở để xây dựng đất nước có nền kinh tế phát triển cao; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển nhanh, bền vững trong những năm tiếp theo.

Phát huy nguồn lực con người là nhiệm vụ chiến lược; vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Việt Nam

 


Bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi sự phát triển và coi việc phát huy nguồn lực con người là một trong những nhiệm vụ chiến lược; vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Việt Nam. Mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội phải hướng vào việc phát huy nguồn lực con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất. Nước ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nhân tố vật chất, kỹ thuật hết sức thiếu thốn và ở trình độ thấp; trong khi mục tiêu xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh lại đòi hỏi chúng ta phải có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại. Vì vậy, phát huy nguồn lực con người được xác định là nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đảng ta khẳng định: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”[1].

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nguồn lực con người là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất - nhân tố quyết định tốc độ và sự phát triển bền vững của phương thức sản xuất mới ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế. Chiến lược con người phải nằm ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, là chủ nhân thực sự của xã hội, là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và mục tiêu của toàn bộ sự nghiệp cách mạng nên mọi chủ trương, chính sách nhằm phát huy nguồn lực con người đều phục vụ nhân dân.



[1],2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 115-116, 221.

Kinh nghiệm thực tiễn các nước trên thế giới và Việt Nam về phát huy nguồn lực con người

 


Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã xóa bỏ tận gốc áp bức, bất công, lật đổ sự thống trị của giai cấp bóc lột, giải phóng con người, mang lại lợi ích cho nhân dân lao động; cùng với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Bônsêvích đã phát huy cao độ vai trò quần chúng nhân dân, làm nên thắng lợi của cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, quan điểm của Đảng ta luôn lấy con người làm trung tâm của sự phát triển; công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) đã giành được những kết quả vô cùng to lớn. Nguồn nội lực, sự sáng tạo trong mỗi người dân được giải phóng cùng với sự phát triển mạnh mẽ và hiệu quả của các thành phần kinh tế, đã làm cho đất nước ta từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội tạo những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Những thành tựu đó càng chứng tỏ vai trò to lớn của con người Việt Nam, của việc phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đối với phát huy nguồn lực con người

 


Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong khi đó, bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước thời cơ và thách thức đan xen. Nước ta đã trải qua hơn 35 năm đổi mới với những thành tựu rất quan trọng; đã hoàn thành chặng đường đầu của công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống nhân dân có nhiều cải thiện tích cực; sức mạnh quốc gia được tăng cường, độc lập, tự chủ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, tạo điều kiện, tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn mới. 

Tuy nhiên, nước ta vẫn đang đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau và diễn biến phức tạp. Sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế đang đặt ra yêu cầu phải phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng sự phát triển của kinh tế tri thức. Mặc dù đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển nguồn nhân lực, nhưng trên thực tế nguồn nhân lực của nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu; chưa đáp ứng được yêu cầu của hội nhập quốc tế và kinh tế tri thức. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới đang đặt ra yêu cầu, đòi hỏi phải phát huy vai trò của nguồn lực con người, huy động sức mạnh của toàn dân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được đặt ra ngày càng cấp thiết.

con người và nguồn lực con người có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội.


Theo các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, con người không chỉ là sản phẩm của tự nhiên và xã hội mà còn là chủ thể tích cực cải biến tự nhiên và xã hội; chính con người vừa là điểm khởi đầu nhưng cũng là điểm kết thúc của mọi quá trình biến đổi lịch sử. Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người sáng tạo ra lịch sử của chính mình, lịch sử của xã hội loài người.

Vai trò con người thực ra chính là vai trò của quần chúng nhân dân, người sáng tạo ra lịch sử, biểu hiện qua các hoạt động thực tiễn cơ bản nhất là lao động sản xuất, đấu tranh cách mạng và sáng tạo các giá trị văn hóa - tinh thần. V.I.Lênin khẳng định: “Cách mạng là ngày hội của những người bị áp bức và bóc lột. Không lúc nào quần chúng nhân dân có thể tỏ ra là người sáng tạo trật tự xã hội mới tích cực như trong thời kỳ cách mạng. trong những thời kỳ như thế… thì nhân dân có thể làm được những kỳ công”[1]. xét đến cùng, yếu tố giữ vai trò chi phối, quyết định sự vận động và phát triển của xã hội chính là lực lượng sản xuất. Trong bất cứ xã hội nào, người lao động: luôn là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất. Đặc biệt ngày nay, khoa học công nghệ ngày càng phát triển, hàm lượng chất xám kết tinh trong giá trị hàng hóa càng cao thì vai trò của người lao động có trí tuệ lại càng quan trọng. Vì con người được đào tạo toàn diện, có kiến thức, trình độ và năng lực, được làm chủ tư liệu sản xuất với năng suất lao động cao.

Không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà trên lĩnh vực khác như: chính trị, văn hóa, xã hội, vai trò của nguồn lực con người cũng được thể hiện rõ khi người lao động có tri thức, có năng lực, thấy được trách nhiệm của mình sẽ tham gia tích cực vào quản lý xã hội, quản lý nhà nước, thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân. Góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa mới, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới để làm phong phú nền văn hóa dân tộc.



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 131. 

Vai trò nguồn lực con người trong xây dựng chủ nghĩa xã hội


Nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng nhất, quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vai trò của nguồn lực con người biểu hiện cụ thể trên các lĩnh vực của đời sống xã hội:

Trên lĩnh vực kinh tế. Trong bất cứ xã hội nào, người lao động cũng là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất. Ngày nay, khoa học và công nghệ ngày càng phát triển, hàm lượng chất xám trong giá trị hàng hóa ngày càng cao, thì vai trò của người lao động có trí tuệ lại càng quan trọng trong lực lượng sản xuất. V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động”[1]. Con người khi được làm chủ những tư liệu sản xuất, được đào tạo một cách chu đáo những kiến thức quản lý kinh tế sẽ có điều kiện khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng đất đai, biết kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất như huy động vốn, động viên khuyến khích người lao động làm việc có hiệu quả, quản lý chặt chẽ nguyên liệu vật tư; do vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ tốt hơn. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, người lao động đã trở thành những người làm chủ đất nước, làm chủ trong quá trình tổ chức quản lý sản xuất, từ việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh tới tổ chức sản xuất kinh doanh và làm chủ trong quá trình phân phối sản phẩm. Điều đó tạo ra những điều kiện thuận lợi để phát huy nguồn lực con người, phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, làm cho đất nước ngày càng giàu đẹp.

Trên lĩnh vực chính trị. Nguồn lực con người là yếu tố quan trọng trong xây dựng hệ thống chính trị và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Xét nguồn lực con người trên phương diện chính trị, khi mà người dân có tri thức, có năng lực, thấy được trách nhiệm của mình trong việc lựa chọn những người có đức, có tài vào các cơ quan nhà nước sẽ góp phần xây dựng nhà nước vững mạnh. Cán bộ nhà nước có hiểu biết lý luận, hiểu biết thực tiễn, thấy được trách nhiệm của mình đối với nhân dân, sẽ hết lòng phụng sự nhân dân và thực sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân sẽ được dân mến, dân tin, dân ủng hộ. Cán bộ tích cực tuyên truyền đường lối của đảng, phổ biến luật pháp của nhà nước đến nhân dân, làm cho dân hiểu và có ý thức tôn trọng luật pháp, thực hiện những nghĩa vụ công dân, hiểu rõ quyền lợi của mình, kiên quyết đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Như vậy, nguồn lực con người là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; trong quá trình đấu tranh bảo vệ những thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của kẻ thù.

Trên lĩnh vực văn hóa, xã hội. Dưới chủ nghĩa xã hội nhân dân lao động đã trở thành người làm chủ trong đời sống văn hóa xã hội. Quần chúng nhân dân lao động là những người xây dựng nên những công trình văn hóa, sáng tạo ra các tác phẩm văn hóa nghệ thuật. Những công trình văn hóa, nghệ thuật có tác dụng giáo dục đạo đức, góp phần hình thành nhân cách cho mỗi con người trong xã hội. Hơn nữa, trong điều kiện giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng, mỗi người có điều kiện tiếp cận với nền văn hóa nhiều nước. Tạo tiền đề để họ tiếp nhận những giá trị tốt đẹp của dân tộc khác, loại bỏ những yếu tố không phù hợp để làm giàu cho nền văn hóa dân tộc mình, làm phong phú đời sống tinh thần cá nhân. Bên cạnh đó, nguồn lực con người có đóng vai trò quan trọng giải quyết các vấn đề xã hội như: Lao động việc làm, thực hiện công bằng xã hội, thực hiện xoá đói, giảm nghèo. Muốn giải quyết tốt những vấn đề này, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn lực con người, tập trung nâng cao sức khoẻ, trình độ học vấn, tay nghề, năng lực quản lý, ý thức chính trị cho người lao động.

Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Nguồn lực con người quyết định đến sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định, trong các yếu tố cấu thành sức mạnh quân sự của mỗi quốc gia, dân tộc, yếu tố con người bao giờ cũng là yếu tố quyết định nhất. Vũ khí trang bị dù có hiện đại đến đâu cũng do con người sản xuất chế tạo ra và thông qua hoạt động của con người thì các tính năng, sức mạnh của vũ khí đó mới được phát huy. Vì vậy, có thể khẳng định nguồn lực con người quyết định đến tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta luôn phải đối phó với các thế lực thù địch, bọn phản cách mạng. Theo đó, vai trò của nguồn lực con người trên lĩnh vực quốc phòng an ninh được thể hiện trong việc xác định và tổ chức thực hiện quan điểm, đường lối bảo vệ tổ quốc, giữ gìn an ninh quốc gia, phát huy sức mạnh của toàn dân trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 38, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 430. 

Thực hiện hôn nhân tự do, tiến bộ trong gia đình

 


Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu để xây dựng gia đình trong chủ nghĩa xã hội. Bởi vì, hôn nhân là tiền đề của gia đình, nó hướng vào giải quyết mối quan hệ cơ bản nhất của gia đình, quan hệ chồng - vợ, làm cơ sở để giải quyết các mối quan hệ khác cũng như việc thực hiện vai trò, chức năng của gia đình.

Xây dựng gia đình mới ở nước ta hiện nay được thực hiện trên cơ sở quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, bảo đảm quyền tự do kết hôn và ly hôn. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là hôn nhân được xây dựng chủ yếu dựa trên tình yêu chân chính giữa nam và nữ. Tình yêu chân chính là quan hệ tình cảm nẩy sinh trong quá trình gặp gỡ, hiểu biết và cảm thông lẫn nhau, tìm thấy ở nhau những điểm tương đồng, mong muốn chia sẻ những khó khăn, sẵn sàng cùng nhau xây dựng cuộc sống chung hạnh phúc, thương yêu nhau, không thể thiếu nhau. Hôn nhân tự nguyện tiến bộ là bước phát triển tự nhiên của tình yêu chân chính. Từ chỗ yêu thương nhau và thấy cần gắn bó với nhau xây dựng cuộc sống gia đình một cách tự nguyện, họ tình nguyện đến với nhau và được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Sự thừa nhận của pháp luật, một mặt giúp cho mỗi người khi bước vào hôn nhân, ý thức rõ hơn trách nhiệm công dân của mình trong cuộc sống gia đình; đồng thời pháp luật bảo vệ mỗi người khỏi những sự cám dỗ, lợi dụng đối với những người thiếu chín chắn, nhẹ dạ. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ không hề bác bỏ sự quan tâm, hướng dẫn, chia sẻ tâm tư tình cảm của các bậc cha mẹ. Sự quan tâm đúng mức của cha mẹ thường là giúp cho con cái có trách nhiệm hơn, sống đúng mực hơn trong tình yêu, ý thức được đầy đủ hơn về trách nhiệm mỗi người trong hôn nhân và gia đình. Hôn nhân tự nguyện tiến bộ bao giờ cũng gồm hai mặt tự do kết hôn và tự do ly hôn. Nếu tự do kết hôn được xây dựng và là sự phát triển của tình yêu chân chính, thì ly hôn là kết cục khó tránh khỏi khi tình yêu không còn nữa. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, ly hôn dù bất cứ lý do nào, thì hậu quả xã hội của nó cũng hết sức nặng nề. Hơn thế, hôn nhân dựa trên tình yêu chân chính, nhưng tình yêu chân chính bao hàm cả nghĩa vụ trách nhiệm cùng nhau chia sẻ khó khăn, cùng nhau vượt qua những thử thách, những trở ngại... trong cuộc sống chung. Vì vậy, ly hôn chính đáng là cần thiết, nhưng cần có sự bảo đảm của pháp lý, có sự hỗ trợ, hòa giải của các đoàn thể xã hội, của cộng đồng làng xóm, dân phố.

Kế thừa những giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống, đồng thời tiếp thu những tiến bộ của thời đại trong xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay

 


Đây là giải pháp quan trọng bảo đảm cho gia đình Việt Nam vừa giữ gìn được bản sắc dân tộc, vừa có sự tiên tiến hiện đại phù hợp với xu hướng phát triển mới của xã hội hiện nay. Bởi vì đây chính là sự tuân theo quy luật của sự phát triển những giá trị văn hóa tốt đẹp đáng quý của gia đình Việt Nam trước đây vẫn phù hợp cần được trân trọng lưu giữ và phát huy. Đồng thời, cần tiếp thu và làm giàu bằng những giá trị tốt đẹp của thời đại.

Xây dựng gia đình mới ở nước ta hiện nay phải trên cơ sở kế thừa, giữ gìn và phát huy các giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống Việt Nam. Bên cạnh tính chất phụ quyền, gia trưởng, gia đình truyền thống có những giá trị tốt đẹp cần được kế thừa, phát huy trong điều kiện mới. Trong số các giá trị đó phải kể đến truyền thống vừa cố kết trong gia đình lại vừa đoàn kết tình làng nghĩa xóm; tình yêu gia đình gắn chặt với tình yêu dân tộc. Những giá trị ấy của nhân dân ta đã được hun đúc, phát triển thêm trong suốt hơn 90 năm đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng gia đình mới cũng cần chú ý từng bước khắc phục, loại bỏ các giá trị không còn hợp lý của gia đình truyền thống: tính cục bộ theo họ tộc, địa phương, những nghi lễ rườm rà, tốn kém trong ma chay, cưới hỏi, sự bất bình đẳng về giới, bất bình đẳng giữa các thế hệ... Trong điều kiện hiện nay, sự chuyển đổi hệ giá trị từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại đang đòi hỏi phải tiếp thu chọn lọc các giá trị văn hoá của nhân loại. Những giá trị văn hoá ấy chỉ có thể được chọn lọc, được tiếp thu một khi các giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống được bảo tồn, được phát huy dung nạp những nội dung giá trị mới phù hợp với văn hoá và đạo lý làm người của dân tộc Việt Nam.

Mặt khác, gia đình còn liên quan và chịu ảnh hưởng của tình hình quốc tế, nhất là ngày nay khi có các phương tiện thông tin hiện đại và mở rộng giao lưu quốc tế. Nhiều hiện tượng tiêu cực ở xảy ra ở nhiều nơi đang gây ra những lo lắng cho mọi người và tác hại đến sự phát triển lành mạnh của gia đình ở nhiều quốc gia. Song thời đại mới cũng đem lại những nội dung tiến bộ đến cho gia đình như: dân chủ hóa các quan hệ trong gia đình, sự tôn trọng nhân cách của các thành viên, hiện đại hóa nhu cầu vật chất và tinh thần của gia đình, cộng đồng hỗ trợ gia đình phát triển, hình thức gia đình hạt nhân tăng lên, thu hẹp quy mô gia đình...

Vì vậy, để xây dựng gia đình mới phải ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, mạnh dạn lựa chọn và xử lý đúng đắn những yếu tố mới nảy sinh, và quan trọng hơn là biết tiếp thu những yếu tố mới, tiến bộ của thời đại; vừa phải phù hợp với truyền thống của dân tộc, của gia đình và sự phát triển chung của xã hội.

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng và chính quyền; nâng cao nhận thức cộng đồng về xây dựng gia đình Việt Nam

 


Đây là giải pháp hết sức quan trọng bảo đảm công tác xây dựng gia đình văn hóa mới ở nước ta hiện nay theo đúng quan điểm, mục tiêu, phương hướng đã xác định. Xuất phát từ vị trí, vai trò, quan trọng đặc biệt của gia đình và mối quan hệ biện chứng giữa gia đình và xã hội, công tác xây dựng gia đình văn hóa mới ở nước ta hiện nay cần có sự chung tay của mọi cấp, mọi ngành và toàn xã hội. Nhưng trước tiên là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền các cấp.

Các cấp ủy, tổ chức đảng phải thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng gia đình; xây dựng và lãnh đạo thực hiện các tiêu chí, chuẩn mực gia đình Việt Nam. Phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu các cấp về công tác xây dựng gia đình. Cán bộ, đảng viên phải nêu gương và vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng gia đình hạnh phúc.

Với quan điểm: “Gia đình là điểm xuất phát và trở về của các chính sách”, cần nâng cao năng lực quản lý nhà nước về công tác xây dựng gia đình. Xây dựng, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Xây dựng Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam giai đoạn 2021-2030, định hướng đến năm 2045; thường xuyên bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về gia đình; chương trình giáo dục quốc gia về gia đình, chương trình giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình và các chương trình, dự án hỗ trợ xây dựng gia đình hạnh phúc. Xây dựng dữ liệu số quốc gia về gia đình làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, chương trình kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Nâng cao nhận thức của người dân và các gia đình hướng đến thay đổi nhận thức và hành vi phù hợp; mỗi công dân trong xã hội và các gia đình tự giác chấp hành, thực hiện tốt các chức năng của gia đình, biết tổ chức đời sống gia đình một cách khoa học.

Tập trung tuyên truyền Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030; tổ chức tuyên truyền một cách rộng rãi, nhất là cấp cơ sở, chú trọng nêu gương người tốt, việc tốt. Kiên quyết đấu tranh chống lối sống thực dụng, tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình, xóa bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu trong hôn nhân và gia đình. Khắc phục bệnh thành tích, hình thức trong công tác xây dựng gia đình.

Phương hướng xây dựng gia đình ở Việt Nam hiện nay

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các điều kiện để hình thành gia đình mới không xuất hiện và có tác dụng đầy đủ ngay lập tức mà chỉ có thể hoàn chỉnh dần từng bước. Lúc đầu, xã hội mới còn tồn tại nhiều gia đình được tạo lập từ xã hội cũ, nhiều yếu tố của gia đình cũ còn ảnh hưởng trong các tầng lớp dân cư. Xây dựng gia đình mới bắt đầu từ việc cải tạo những gia đình cũ theo tinh thần của chủ nghĩa xã hội, gắn liền với việc giáo dục lớp thanh niên đến với tình yêu và hôn nhân tiến bộ. Do xã hội còn nhiều thành phần kinh tế và các giai cấp khác nhau, việc chuyển biến, hình thành yếu tố gia đình mới sẽ ở mức độ khác nhau trong các gia đình ở từng loại dân cư.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Sửa đổi, bổ sung năm 2011) xác định: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”[1]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: “Khắc phục bệnh thành tích, bệnh hình thức, thực hiện các chuẩn mực văn hóa gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ và văn minh. Đề cao vai trò của gia đình trong nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ”[2].

Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030,  mục tiêu chung trong xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam là xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thực sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội. Để đạt được mục tiêu đó, cần chú ý một số định hướng sau:

Một là, gia đình là tế bào của xã hội; nơi duy trì nòi giống; môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng, giáo dục nhân cách con người và lưu giữ, trao truyền các giá trị văn hóa của dân tộc; là nền tảng xây dựng xã hội hạnh phúc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Hai là, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển bền vững; là trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội.

Ba là, phát huy vai trò của gia đình nhằm tạo môi trường giáo dục sớm, góp phần xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, phát triển toàn diện, trở thành trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, ưu tiên, tạo điều kiện thuận lợi để các gia đình nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần, tiếp cận các giá trị tốt đẹp của nền văn hóa, văn minh nhân loại và các thành tựu của khoa học công nghệ.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 77.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, NXb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 145. 

Chức năng thoả mãn nhu cầu tâm, sinh lý của các thành viên

 


Đây là chức năng quan trọng, có tính văn hoá - xã hội của gia đình, cùng các chức năng khác góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc. Sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình vừa là nhu cầu tình cảm, vừa là trách nhiệm, đạo lý, lương tâm của mỗi người.

Nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến giới tính và giới, tâm lý lứa tuổi và thế hệ, những căng thẳng mệt mỏi về thể xác và tâm hồn trong lao động và công tác... nhiều khi có thể được giải quyết trong một môi trường gia đình hoà thuận. Sự hiểu biết, cảm thông, chia sẻ và đáp ứng các nhu cầu tâm sinh lý giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái... làm cho mỗi thành viên có điều kiện sống lạc quan, khoẻ mạnh về thể chất và tinh thần là những tiền đề cần thiết cho một thái độ, hành vi tích cực trong cuộc sống gia đình và xã hội.

Như vậy, gia đình là thiết chế đa năng. Trên đây là những chức năng cơ bản nhất. Thông qua việc thực hiện các chức năng này mà gia đình tồn tại và phát triển, đồng thời tác động đến tiến bộ chung của xã hội. Các chức năng được thực hiện trong sự thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau. Việc phân chia các nội dung của chúng chỉ là tương đối. Nhiều khi, các chức năng được thể hiện tổng hợp trong một công việc hoặc nhiều hoạt động của gia đình. Ở từng nơi và các giai đoạn khác nhau, nội dung và vị trí của mỗi chức năng có thể biến đổi phù hợp. Mọi thành viên gia đình, tuỳ thuộc vào vị thế, lứa tuổi... đều có quyền và nghĩa vụ vun đắp cho tổ ấm gia đình, đều phải tham gia vào thực hiện chức năng này của gia đình với các mức độ khác nhau. Trong đó, trước hết phải kể đến vai trò của những bậc làm cha, làm mẹ, đặc biệt là phụ nữ.

Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình

 


Hoạt động kinh tế và tổ chức đời sống là một chức năng cơ bản đảm bảo cho sự phát triển tiến bộ của gia đình. Nó xuất phát từ nhu cầu khách quan của mỗi thành viên và từng gia đình. Thực hiện tốt chức năng này không những tạo cho gia đình có cơ sở để tổ chức tốt đời sống, nuôi dạy con cái mà còn đóng góp to lớn đối với sự phát triển của xã hội. Cũng như các đơn vị kinh tế khác, gia đình tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và tái sản xuất ra tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng. Tuy nhiên, đặc thù của gia đình khác các đơn vị kinh tế khác là ở chỗ, gia đình là cộng đồng duy nhất tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất sức lao động - yếu tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất của xã hội.

Gia đình còn là một đơn vị tiêu dùng trong xã hội. Gia đình thực hiện chức năng này để duy trì đời sống của gia đình về lao động sản xuất cũng như các sinh hoạt trong gia đình. Đó là sử dụng hợp lý các khoản thu nhập của các thành viên trong gia đình vào việc bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của mỗi thành viên cùng với việc sử dụng quỹ thời gian nhàn rỗi để tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, nhằm nâng cao sức khỏe, đồng thời duy trì sở thích, sắc thái riêng của mỗi người. Tuy nhiên, cần phải phê phán các hình thức làm giàu không chính đáng, vun vén lợi ích cá nhân; không biết quý trọng tài sản, đua đòi, lãng phí. 

Gia đình là một chủ thể sở hữu tài sản, gồm cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng. Vị trí của các thành viên trong gia đình trong quan hệ sở hữu tài sản có thể không hoàn toàn giống nhau. Ở mỗi chế độ xã hội, xét về bản chất, quan hệ sở hữu trong gia đình bị chi phối bởi quan hệ xã hội.Cùng với sự phát triển của xã hội, ở các hình thức gia đình khác nhau hoặc ngay cả ở một hình thức gia đình, tùy theo từng giai đoạn phát triển của xã hội, chức năng kinh tế của gia đình có sự khác nhau về quy mô sản xuất, sở hữu tư liệu sản xuất và phân phối. Vị trí, vai trò của kinh tế gia đình và mối quan hệ của kinh tế gia đình với các đơn vị kinh tế khác trong các xã hội cũng không hoàn toàn giống nhau.

Gia đình cần tạo điều kiện thuận lợi để các thành viên nghỉ ngơi, hưởng thụ hợp lý và chính đáng các thành quả lao động của mình. Việc động viên các gia đình nâng cao thu nhập, trên cơ sở đó định hướng cho tiêu dùng lành mạnh, tạo điều kiện tốt để kiến thức khoa học và các phương tiện kỹ thuật đi vào cuộc sống, góp phần giải phóng phụ nữ... là những vấn đề thiết thực cho sự nghiệp xây dựng gia đình mới.