Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2025

HÁM DANH LÀ THAM LAM, VÔ ĐẠO ĐỨC, LÀ BIỂU HIỆN MANH NHA CỦA HÀNH VI PHẠM PHÁP!

     Một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân có căn nguyên sâu xa từ "bệnh thành tích, háo danh, phô trương, che giấu khuyết điểm, đánh bóng tên tuổi, chạy thành tích, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu" mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã phê phán.

1. Khát khao có một công trạng nào đó để được ghi danh trong đời là mong ước chính đáng, bình thường của con người một khi họ đã ý thức được về danh hiệu được tôn vinh. Lúc đầu khao khát ấy không phải là thói xấu mà là một ước muốn khẳng định mình, mong được người đời ghi nhận.

Thời cổ đại Hy Lạp, đã có những truyền thuyết về chiến công của các dũng sĩ mà tiêu biểu là 12 chiến công của dũng sĩ Heracles (Hercules) như nguồn cảm hứng cho các câu chuyện mang màu sắc thần thoại ca ngợi sức mạnh, lòng dũng cảm, sự thông minh... của con người. Hình tượng người anh hùng này ra đời trong thời kỳ xã hội đề cao khí chất dũng sĩ và mẫu hình người chiến thắng tất cả mọi trở lực đã thành lý tưởng sống của những người chân chính.

Khi Nguyễn Công Trứ (1778-1858) tuyên bố “Làm trai sống ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông” thì dù cái danh ấy còn mang dấu ấn của lý tưởng Nho giáo nhưng cũng không thể phủ nhận tính tích cực của khao khát vào đời ấy. Nó bộc lộ một thái độ sống tích cực, muốn được người đời thừa nhận bằng thực lực, tài năng và trí tuệ hơn người của mình, là danh thơm chứ không phải danh vọng theo kiểu tầm gửi, càng không phải là “xú danh” đáng khinh bỉ theo quan niệm của các trí thức Nho giáo.

Đưa ra ví dụ như vậy để muốn nói rằng danh tiếng tốt, thực danh là kết quả công sức và trí tuệ của các anh hùng, chí sĩ, tự nó là tấm gương có tác dụng khích lệ người đời sống theo họ để đóng góp cho đời nhiều điều tử tế và hữu ích hơn. Những người theo lý tưởng nhập thế giúp đời ít khi suy nghĩ được, mất khi bắt tay vào hành động. Họ xác định được hướng đi của đời mình thì một lòng một dạ theo hướng đó. Họ coi những thử thách trong đời như những trở lực cần vượt qua để khẳng định sức mạnh và niềm tin vào những gì tốt đẹp và họ được sinh ra để hoàn thành các nghĩa vụ với đời, không tính toán hơn thiệt, không bận lòng về những thua thiệt mình phải chịu. Bởi vậy, họ được người đời tôn vinh cả khi sống và sau khi chết. Ở Việt Nam, rất nhiều người như vậy đã được nhân dân lập đền thờ như những phúc thần.

2. Tuy nhiên, như mặt trái của tấm huân chương, khao khát lập nhiều chiến công để có một danh thơm để đời là một phần của cuộc sống và có thể đem lại những lợi ích nào đó nên không ít người, dù không có năng lực thực sự nhưng lại muốn được vinh danh nên đã mượn danh, giả danh, chiếm đoạt chiến công của người khác bằng nhiều thủ đoạn. Họ dùng mọi "mưu ma chước quỷ" để giành chiến công của người khác về mình, sống hai mặt, thậm chí còn lập ra bè phái để hãm hại người tốt, toan tính những lợi ích riêng cho mình và gia đình. Đây không chỉ còn là những hành vi giới hạn trong khuôn khổ ứng xử, đạo đức, lối sống, nó liên quan tới một thực tế khác rộng và mang ý nghĩa xã hội lớn hơn. Đó là sự ích kỷ, thói tham lam, là phần xấu xí của tính cách con người và của đời sống. Khi những thói xấu của con người có điều kiện trỗi dậy, nó sẽ làm băng hoại đời sống.

Một khi những điều dối trá lấn lướt, thắng thế, nó có thể làm đạo đức xã hội suy tàn. Nó không chỉ là chuyện tranh hơn một lợi lộc nào đó mà có nguy cơ hủy hoại con người, vì nó bắt đầu từ sự giả dối, rồi từng bước đưa giả dối lên tầm cao hơn, biến nó thành lợi lộc cho cá nhân và đồng bọn. Đám người này dùng giả dối để sống nên dùng giả dối để gạt người, lừa đời và từng bước leo lên các bậc thang danh vọng.

“Trưởng thành” từ giả dối, dùng giả dối để ứng xử với đời nên từng bước, đám người này dù chỉ lo mưu lợi cho mình nhưng về khách quan lại làm băng hoại xã hội. Bởi vậy, trong các câu chuyện cổ, bao giờ cũng có một minh quân thay trời hành đạo, trừng phạt cái giả dối lúc này đã thành cái ác, lập lại kỷ cương để bảo đảm đời sống con người diễn ra bình thường.

Câu chuyện dân gian về Lý Thông và Thạch Sanh của dân tộc ta là một sự tổng kết thực tiễn và đúc kết ra những bài học về luật nhân quả, về lẽ công bằng, về sự trừng phạt những giả dối, tàn ác, tranh công đổ lỗi (người có thể tha thứ nhưng trời đất không dung túng tội ác) theo triết lý dân gian. Nó thể hiện mơ ước của con người về sự công bằng: Cái xấu phải bị trừng trị, sự tử tế, những điều tốt đẹp phải được đáp đền mặc dù trong đời thực không phải kẻ xấu, kẻ ác nào cũng bị trừng trị và người tốt nào cũng được hạnh phúc. Người ta biết cả nhưng vẫn cứ mơ ước vì ước mơ nhiều khi trở thành điểm tựa tinh thần cho con người tồn tại, hành động và mơ về một thế giới công bằng hơn.

3. Thói hám danh từ bình diện đạo đức sau một thời gian không được ngăn chặn kịp thời đã ngày một trầm trọng hơn thành sự tha hóa, rồi lan ra những lĩnh vực khác. Nó không chỉ làm băng hoại đời sống tinh thần mà còn gây ra những hậu quả tai hại trong đời sống kinh tế, quan hệ xã hội, chui cả vào những lĩnh vực xưa nay vốn được coi là thiêng liêng như đức tin, lĩnh vực tinh thần, vào bộ máy quản lý vốn được coi là nghiêm cẩn như thanh tra, kiểm sát, tòa án...

Không ít người đã tìm mọi cách để được tặng những danh hiệu cao, xã hội gọi cách làm khuất tất này một cách mỉa mai là chạy danh hiệu (giáo sư, phó giáo sư, nhà giáo nhân dân, chiến sĩ thi đua, thậm chí cả danh hiệu anh hùng). Mỗi kỳ bình bầu các danh hiệu lại xuất hiện những chuyện lùm xùm, thiếu minh bạch, không đúng chuẩn. Nhiều danh hiệu cao quý về thực chất không còn là sự tôn vinh của tổ chức, ngành, xã hội mà là danh hiệu của các hội đồng. Đó cũng là một dạng hành vi tham nhũng có dự mưu, có tổ chức, gây tổn hại cho xã hội, làm loạn các chuẩn giá trị cần nhanh chóng loại bỏ khỏi đời sống.

Không chỉ những người ít học làm việc này mà có cả những người trong giới trí thức, văn nghệ sĩ-những người lâu nay vốn được xã hội coi trọng vì trí tuệ, nhân cách cũng mắc phải. Danh hiệu đem lại lợi lộc. Đó là sự đánh bóng tên tuổi, là điều kiện để có thể được bổ nhiệm ở những chức danh quản lý nào đó hay ít nhất cũng đem lại cho họ những “danh hiệu” để người đời tôn vinh.

Rất nhiều loại kỷ lục, danh hiệu “chui” người ta đã làm bất chấp đạo lý. Vì có cầu nên có cung. Người có quyền ban ân huệ nhiều khi biết người “xin” các danh hiệu không xứng đáng nhưng vì logic quan hệ, logic lợi ích nên đã nhắm mắt làm liều. Thói hư vinh không chỉ còn là hiện tượng của cá nhân mà đã “lấn sang” bộ máy quản lý. Tình trạng “làm láo nháo, báo cáo hay” trong thực thi các nhiệm vụ của nhiều cơ quan khá phổ biến. Mấy năm trước, có vị lãnh đạo Quốc hội than thở ngành nào, tỉnh nào cũng báo cáo chỉ tiêu tăng trưởng GDP vượt chỉ tiêu nhưng thực chất thấp hơn nhiều. Cái hại của việc làm này là người ta tạo ra những giá trị ảo cho xã hội, đã tin vào những “chiến công tưởng tượng” rồi lại bắt người khác tin đó là “chiến công có thực”.

4. Tính tư hữu là một thuộc tính của con người. Danh vọng là một thứ của cải, hàng hóa thì khao khát sở hữu một danh vị nào đấy cũng là thói quen của con người. Nhưng con người là một sinh vật có ý thức, cần phải hiểu được giới hạn của mình. Lòng tham, nhất là tham nhũng thứ không thuộc về mình dễ dẫn đến những hành vi nhẹ thì là thiếu đạo đức, nặng thì vi phạm pháp luật. Hám danh, tự đánh bóng tên tuổi ở một chừng mực nào đó sẽ bị cộng đồng chê cười.

Còn chạy chức, chạy danh hiệu, chạy khen thưởng lại là hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước, thậm chí vi phạm pháp luật. Giả dối sẽ không còn là hành vi trái đạo lý nữa khi nó có dự mưu, có kế hoạch, có nhắm đến những mục đích vượt ra ngoài đạo đức, nó là một hành vi tham nhũng, là sự vi phạm pháp luật cần được xử lý bằng luật pháp. Đó là sự ứng xử công bằng và văn minh, bảo đảm cho xã hội phát triển lành mạnh.

Với các quan chức trong bộ máy công quyền, sự hám danh, thói giả dối, tự đánh bóng tên tuổi bằng các danh hiệu học vấn không còn là hành vi thiếu đạo đức nữa mà nó tác hại hơn nhiều. Những người này không hề hành động bột phát theo kiểu nhất thời hưng phấn mà họ tính toán kỹ lưỡng và có những bước đi rất kín kẽ để đạt mục đích.

Họ hiểu rằng khi xã hội coi trọng danh hiệu, bằng cấp thì để có thể lọt vào diện quy hoạch, họ đã lo trước các loại bằng cấp, các danh hiệu để vừa làm đẹp lý lịch, vừa đạt chuẩn theo tiêu chí. Thế là từng bước họ đi đến đích không bằng tài năng đích thực mà bằng sự lắt léo của các quan hệ và sự hỗ trợ của các danh hiệu, bằng cấp dù các danh hiệu đó hợp pháp nhưng bản thân họ không có thực lực.

Họ là những đồ giả khoác bộ cánh đẹp và điều nguy hại ở chỗ bộ cánh ấy có thể lừa người. Rồi khi đã ổn định ở vị trí có thể ban phát ân huệ, họ bắt đầu gia ân, ra oai để kết bè cánh dối trá với cấp trên, đè nén cấp dưới, xem thường các quy định và luật pháp, một tay che trời như những ông vua con thống trị một lĩnh vực, một vùng, một tổ chức. Trong các báo cáo lên cấp trên, bao giờ họ cũng tự khen cơ quan mình, trong đó có cá nhân hết lời khen như một đơn vị mẫu mực, trong sạch, đoàn kết, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Rồi xin các danh hiệu này, danh hiệu khác như những bảo đảm bằng vàng cho vị trí của họ.

Thông tin bị bưng bít, sự thật bị giấu kín. Chỉ đến khi mọi chuyện bị phanh phui thì xã hội mới biết sự sa sút về phẩm chất ở một nơi nào đó đã mục ruỗng tất cả. Việc phải xử lý “cả cụm” ở một bộ, ngành, địa phương, một đơn vị, nhiều cán bộ đứng đầu có bề dày cống hiến, có danh vọng rất lớn phải dính vòng lao lý, phải nhận các hình thức trừng phạt thời gian qua là những dẫn chứng sinh động về sự tha hóa này. Có thể nói, quá trình từ háo danh, tha hóa đến vi phạm quy định, vi phạm pháp luật không phải là ngẫu nhiên. Háo danh chỉ như bước đầu mà nếu không bị ngăn chặn, tất yếu sẽ dẫn đến những sự tha hóa tệ hại hơn.

Như vậy, thói hám danh (đã hàm nghĩa xấu chứ không còn là khao khát lập nên những kỳ tích, chiến công để tỏ mặt với đời của những người chân chính) cần loại bỏ khỏi đời sống chúng ta, vì nó là mầm mống gây ra những thói xấu đầu độc xã hội. Đấy không là chuyện riêng của một ai mà là vấn đề xã hội, cần nhận thức cho rõ. Nó là phần hư hỏng, là thói xấu nhưng tồn tại cùng với đời sống con người. Bởi vậy, một xã hội muốn lành mạnh cần chung tay loại trừ nó ra khỏi đời sống. /.
Khuyết danh ST.

TẦM SOÁT MẦM MỐNG SUY THOÁI

     Phát biểu chỉ đạo Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương chỉ rõ yêu cầu phải ngăn ngừa mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân. Đảng, Nhà nước rất tin tưởng, đồng thời đặt ra yêu cầu rất cao đối với Đảng bộ Quân đội và toàn quân trong thực hiện nội dung này...

Triết lý phòng bệnh hơn chữa bệnh

Nhấn mạnh yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra cho Đảng bộ Quân đội và toàn quân trong nhiệm kỳ mới, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương nêu rõ, phải ngăn ngừa sự suy thoái ngay từ khi còn là mầm mống, ngay ở trạng thái biểu hiện của nó, nhất định không để nảy nở, phát triển trở thành suy thoái và cao hơn là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...

Bằng tư duy biện chứng và soi chiếu từ thực tiễn thời gian qua, chúng ta thấy rõ, những ý kiến chỉ đạo của người lãnh đạo cao nhất Đảng ta, đứng đầu Quân ủy Trung ương vừa mang tính cảnh báo, vừa thể hiện tư tưởng chỉ đạo mang tầm chiến lược. Yêu cầu ngăn chặn suy thoái ngay từ khi còn là mầm mống cũng chính là sự kế thừa triết lý truyền thống của cha ông ta về phòng bệnh hơn chữa bệnh. Đây cũng chính là sự cụ thể hóa tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương của Đảng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phát triển, phù hợp với yêu cầu đặt ra trong tình hình mới. Ngăn ngừa sự suy thoái còn là điều kiện bảo đảm cho “trong ấm ngoài êm”, “nội yên ngoại tĩnh” trong kế sách xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong bối cảnh tình hình thế giới biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường...

Trong tiến trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là trong thời kỳ đất nước đổi mới, hội nhập, nghị quyết của Đảng qua các kỳ đại hội đều nhấn mạnh vai trò, tính cấp thiết của việc phòng, chống suy thoái. Đặc biệt, từ Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta đã chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái trong nội bộ. Việc “điểm mặt, chỉ tên” những biểu hiện này chính là cơ sở để cấp ủy, tổ chức đảng các cấp có căn cứ “bắt mạch, kê đơn” những mầm mống, biểu hiện suy thoái từ cơ sở. Từ Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) đến nay, Đảng ta đã triển khai một cuộc chỉnh đốn sâu rộng chưa từng có, xử lý nghiêm minh nhiều tổ chức đảng và đảng viên suy thoái. Hàng loạt vụ việc lớn được điều tra, kết luận và xử lý công khai, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, “bất kể người đó là ai”. Chính sự kiên quyết ấy đã củng cố niềm tin của nhân dân, củng cố sức mạnh nội sinh để Đảng nâng cao sức đề kháng, tự bảo vệ nội bộ Đảng và hệ thống chính trị.

Tuy nhiên, với phương pháp luận khoa học biện chứng, chúng ta cần thấy rõ và có trách nhiệm phải làm cho nhân dân và dư luận quốc tế thấy rõ, cách làm của Đảng ta không phải là “thanh trừng nội bộ” như các luận điệu xuyên tạc rêu rao, mà đó chính là cách Đảng ta tự chỉnh đốn để củng cố sức mạnh nội sinh. Cái cốt lõi trong cách chỉnh đốn của Đảng ta chính là trị một người để cứu muôn người, xử một vụ để cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực. Xử lý nghiêm minh là để cảnh tỉnh, để giáo dục, để xây dựng môi trường chính trị trong sạch, chứ không phải để làm tổn hại con người, tổ chức. Đó là bản chất nhân văn của Đảng, một điểm sáng nổi bật trong văn hóa chính trị Việt Nam. Song, để đạt được mục tiêu chung, không thể chỉ trông đợi vào xử lý. Điều quan trọng mang ý nghĩa quyết định là phải phòng ngừa từ gốc, ngăn chặn từ mầm mống. Bài học sau hơn 9 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) cho thấy, bên cạnh làm mạnh công tác kiểm tra, điều tra, xử lý cán bộ, đảng viên suy thoái, vi phạm pháp luật, việc tăng cường các phương thức phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm, từ xa là vô cùng quan trọng. Trong bối cảnh Đảng lãnh đạo công cuộc sắp xếp, tinh gọn bộ máy toàn diện, chuẩn bị nhân sự cho đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng thì việc phòng ngừa, kiểm soát suy thoái càng mang ý nghĩa quan trọng. Các biểu hiện tư duy nhiệm kỳ, chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bè phái, khôn lỏi chính trị, "phông bạt", làm màu, đánh bóng cá nhân, nói không đi đôi với làm, háo danh, tham vọng quyền lực... nếu không được thanh lọc sẽ biến thành môi trường thuận lợi cho suy thoái hình thành và phát triển. Mọi suy thoái đều có điểm xuất phát. Và điểm xuất phát ấy, nếu được tầm soát, cảnh tỉnh kịp thời, được giáo dục, răn đe đúng lúc, sẽ giảm rất nhiều hệ lụy về sau. Phòng ngừa suy thoái chính là chiến lược bảo vệ Đảng từ gốc rễ.

Vai trò chủ công và trách nhiệm của chúng ta

Chỉ đạo Đảng bộ Quân đội và toàn quân, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương nêu rõ: "Phía trước chúng ta là một chân trời rộng mở, tràn đầy cơ hội và thách thức. Làm sao để chúng ta thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu 100 năm của đất nước? Làm sao để chúng ta thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIV? Làm sao để đất nước có môi trường hòa bình, ổn định; để phát triển kinh tế-xã hội nhanh, bền vững; để cuộc sống người dân thực sự tự do-ấm no-hạnh phúc? Quân đội phải là lực lượng chủ công thực hiện các nhiệm vụ nêu trên...".

Xác định Quân đội là lực lượng chủ công, bởi Quân đội ta luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Bộ đội Cụ Hồ có truyền thống đoàn kết, thống nhất, mọi cán bộ, chiến sĩ phải chấp hành kỷ luật sắt tự giác nghiêm minh, trung thành tuyệt đối và có năng lực hành động cao. Để Quân đội xứng đáng với vai trò chủ công thì trước hết, Đảng bộ Quân đội phải thực sự trong sạch vững mạnh, từng cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội phải nói không với các biểu hiện suy thoái. Trong những năm qua, cán bộ, chiến sĩ toàn quân, đặc biệt là lực lượng công tác trên mặt trận tư tưởng-văn hóa, trong đó có Báo Quân đội nhân dân, luôn thể hiện rõ vai trò nòng cốt, vị trí tiên phong trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái; phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Sự ghi nhận, đánh giá cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và niềm tin của nhân dân đã khẳng định rõ vị trí chủ công của Quân đội trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng trên không gian mạng. Đây là một trận tuyến đầy cam go, thử thách. Sự thành công không chỉ đòi hỏi ở trình độ, kỹ năng, chiến thuật, kỹ thuật... mà quan trọng hơn cả là người chiến sĩ trên mặt trận này phải có đủ bản lĩnh, đủ sức đề kháng, miễn dịch trước sự tấn công, xâm nhập của các luồng tư tưởng xấu độc. Muốn ngăn chặn suy thoái trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân, không thể chỉ áp dụng điều lệnh, điều lệ hay xử lý kỷ luật đơn thuần. Điều cốt lõi là phải tầm soát mầm mống suy thoái ngay từ trong tư duy, tức là từ nơi khởi phát của mọi hành vi. Suy thoái về tư tưởng không xuất hiện đột ngột. Nó bắt đầu từ những thay đổi nhỏ trong nhận thức, đó là sự dao động về niềm tin, sự thờ ơ, buông lỏng kỷ luật, các biểu hiện quân phiệt, vụ lợi, tâm lý ngại khó, ngại khổ, tư duy hình thức, bệnh thành tích, sự lệch chuẩn giữa lời nói và hành động... Những biểu hiện ấy nếu không được nhận diện, ngăn chặn kịp thời sẽ dẫn đến các hình thức suy thoái rất nguy hại.

Tầm soát suy thoái trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân cần được thực hiện bằng tổng hòa các hình thức, giải pháp, từ giáo dục, rèn luyện đến kỷ luật, xây dựng môi trường văn hóa quân nhân và trên hết, trước hết là sự nêu gương sáng của đội ngũ cán bộ, cấp ủy, chỉ huy các cấp. Sự nêu gương phải đi từ cái gốc của đạo đức quân nhân cách mạng, trung thực, thẳng thắn, không bao biện, không tránh né khuyết điểm. Tầm soát suy thoái không đợi đến lúc cấp trên ra lệnh hay cơ quan kiểm tra vào cuộc, mà nó cần được cụ thể hóa trong hành động hằng ngày, trong học tập, huấn luyện, công tác. Tầm soát suy thoái trong Quân đội cần được xây dựng, nâng lên thành hành vi văn hóa, nhu cầu tự thân của mỗi đảng viên, cán bộ, chiến sĩ, mà trước hết là cấp ủy, chỉ huy các cấp. Cán bộ giữ cương vị càng cao, cấp bậc quân hàm càng lớn, càng phải chú trọng nêu gương. Tuyệt đối không được có tư duy, biểu hiện “phông bạt”, làm màu.

Phòng ngừa suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân hiện nay vừa là nhiệm vụ chính trị căn cốt, vừa là yêu cầu cấp thiết để trui rèn sức mạnh chủ công bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức Bộ đội Cụ Hồ. Chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương vừa là lời nhắc nhở mang tính thời sự, vừa là định hướng chiến lược, thể hiện yêu cầu, niềm tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với Quân đội trong kỷ nguyên mới của dân tộc. Tầm soát mầm mống suy thoái chính là cách để mỗi cán bộ, chiến sĩ xứng đáng với niềm tin mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó và các thế hệ cha anh trao truyền, gửi gắm. Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần đưa nội dung này vào nghị quyết lãnh đạo và trong học tập, sinh hoạt để quan điểm, chủ trương của Đảng thấm nhanh, thấm sâu vào đời sống bộ đội, chuyển hóa thành hành động thiết thực...
Ảnh: Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030.
Khuyết danh ST.

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2025

TUẤN KHANH - KẺ PHẢN ĐỘNG NGUY HIỂM!

     Với khiếu tấu hài và âm nhạc, Tuấn Khanh thường xuất hiện với vai trò giám khảo trong một số gameshow nổi tiếng như VietNam Idol, Sao Mai điểm hẹn… được giới trẻ yêu thích. Buồn thay, mới vụt sáng trên bầu trời showbiz, Tuấn Khanh quay sang bình luận về chính trị đã phá chính quyền với thái độ hết sức cực đoan, thường xuyên phát biểu trên BBC, RFA, RFI…với những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, chống phá Nhà nước Việt Nam. 

Trên trang RFA tháng 01/2016, Tuấn Khanh thẳng thừng so sánh lực lượng hải quân Việt Nam Cộng hòa với Hải quân Nhân dân Việt Nam trong trận hải chiến 1988 sặc mùi phản động. Mất dạy hơn, trong vụ 39 người Việt nhập cư trái phép gặp nạn tại Anh, Tuấn Khanh so sánh với hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh với những ngôn từ khốn nạn: “Ai có quyền đánh giá ước mơ hay phẩm giá của những người trẻ đó? Ai có quyền gọi họ là liều lĩnh hay ngu xuẩn vì không chấp nhận hiện tại? Nếu giả sử chẳng may trong lịch sử, chiếc tàu buôn Latonche Tre’ville chở anh thanh niên Văn ba bị đắm ngoài khơi năm 1911, hôm nay tên gọi về Nguyễn Tất Thành là gì, nhất là khi anh ta không chịu yên phận và chấp nhận cuộc đời một thầy giáo dạy chữ Hán của trường Dục Thanh của Hội Liên Thành”.  

Có thể nói khuyết tật về nhân cách của một kẻ mang danh “nhạc sĩ”, Tuấn Khanh đã bộc lộ tâm địa đen tối, tư tưởng xấu xa, tiếp tay cho các thế lực chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc mà gần đây nhất Hắn xuyên tạc trắng trợn: “Một nữ sinh nhảy lầu tự tử ở Sài Gòn sau khi bị 12 lính Việt Nam cưỡng hiếp” tại Trường Quân sự - Quân khu 7. 

Sau những ngày dư luận phẫn nộ lên án, tưởng rằng Tuấn Khanh đã quay đầu vào bờ. Nhưng không, tính nào tật đó, ngựa quen đường cũ, bản chất của một kẻ lưu manh chính trị vẫn hiện nguyên hình một con quỷ mang danh trí thức đội lốt người. Trong những ngày các tỉnh miền Trung tang thương trong lũ lụt; nhân dân cả nước cùng với Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị làm tất cả sức mình hướng về đồng bào miền Trung ruột thịt thì Tuấn Khanh không những vô cảm mà còn viết bài kích động, xuyên tạc tình hình lũ lụt ở các tỉnh miền Trung; tấn công vào thể chế, bôi xấu Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị; chia rẽ vùng miền, gây hoang mang dư luận, mất niềm tin vào chế độ. 

Những gì Tuấn Khanh làm bộc lộ bộ mặt của một kẻ phản động cực kỳ nguy hiểm. Đã đến lúc cơ quan chức năng phải xử lý nghiêm khắc với đối tượng này để bảo vệ sự bình yên cho nhân dân, đất nước./.
Khuyết danh ST.

THẾ GIỚI - VIỆT NAM: CAMPUCHIA MUỐN LÀM CẢNG NỘI ĐỊA NỐI VỚI VIỆT NAM!

     Campuchia đang thúc đẩy phát triển hạ tầng logistics tại khu vực giáp Việt Nam. Dự án này được triển khai trong bối cảnh trong bối cảnh hai nước đang hướng đến mục tiêu nâng kim ngạch thương mại lên mức 20 tỷ USD.

Theo thông tin từ Hội đồng Phát triển Campuchia, Công ty SSR đã gửi đề xuất xây dựng cảng cạn trên khu đất rộng 10ha tại huyện Kamchay Mear, tỉnh Prey Veng.

Đây được xem là dự án hạ tầng quan trọng của địa phương nhằm thúc đẩy lưu thông hàng hóa qua tuyến biên giới Campuchia - Việt Nam, đặc biệt là tại Cửa khẩu Quốc tế Meun Chey/Tân Nam, kết nối tỉnh Prey Veng và tỉnh Tây Ninh.

Cảng cạn, hay còn gọi là cảng nội địa, là một trung tâm logistics đặt sâu trong đất liền, kết nối với cảng đường thủy thông qua hệ thống đường bộ hoặc đường sắt. Không gian này đảm nhiệm các chức năng phân loại, lưu giữ, làm thủ tục thông quan đối với hàng xuất nhập khẩu.

Nhờ lợi thế vị trí và khả năng trung chuyển, cảng cạn có thể giảm tải cho các tuyến vận tải đường thủy, hỗ trợ lưu thông hàng hóa hiệu quả hơn, đồng thời góp phần cắt giảm chi phí vận chuyển.

Để đánh giá tính khả thi của dự án, Ủy ban Đầu tư Campuchia thuộc Hội đồng Phát triển Campuchia đã tổ chức đoàn khảo sát liên ngành đến khu vực dự kiến triển khai.

Theo Khmer Times, ông Chea Vuthy, Tổng thư ký Ủy ban Đầu tư Campuchia, cho rằng dự án nếu được triển khai sẽ đóng vai trò hỗ trợ đáng kể cho hoạt động vận chuyển hàng hóa qua Cửa khẩu Quốc tế Meun Chey/Tân Nam, đồng thời tạo thêm việc làm cho người dân trong khu vực.

Dự án bao gồm nhiều hạng mục như khu văn phòng và các công trình thương mại, khu giao dịch hàng hóa, hệ thống kho bãi container, được thiết kế để phục vụ trực tiếp cho việc tăng cường kết nối hậu cần giữa Campuchia và Việt Nam. Các hạng mục này nằm trong bối cảnh hai nước đang hướng đến mục tiêu nâng kim ngạch thương mại lên mức 20 tỷ USD.

Theo dữ liệu phía Campuchia cho biết, kim ngạch thương mại Campuchia - Việt Nam năm 2024 đạt hơn 10 tỷ USD, tăng 17,5% so với năm trước. Trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2025, kim ngạch song phương ghi nhận mức 6,5 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Campuchia sang Việt Nam đạt 3,1 tỷ USD.

Hiện Việt Nam có khoảng 215 dự án đầu tư còn hiệu lực tại Campuchia, tập trung trong nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, viễn thông, ngân hàng, dịch vụ tài chính, chế biến thực phẩm, khai khoáng, hàng không và du lịch. Tổng vốn đầu tư đạt 2,94 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm bốn nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Campuchia./.

Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: "CỨ LÀM ẦM LÊN LÀ CHÚNG NÓ SỢ, CHÚNG NÓ KHÁM NHANH CHO..." - SỰ THẬT HAY LÀ "TRÁI ĐẮNG" CỦA NGHỀ Y?

     Sau bài viết chia sẻ về việc cách tôi xử lý cấp cứu cho một ca bệnh nhân làm loạn vì tự rút sonde tiểu, chảy máu, tổn thương niệu đạo, bên cạnh những lời động viên, tôi nhận được một gáo nước lạnh từ chính đồng nghiệp:

"Một thằng quậy bác xử lý kiểu này nó kéo một chục thằng quậy tiếp nhá. Bác làm vậy đừng tưởng là hay. Ăn no bớt báo đi ông!"

Một vài comment khác kiểu "Ông này thích làm màu..."

Đau. Nhưng tôi hiểu vì sao bạn ấy nói vậy. Sự bức xúc ấy không tự nhiên mà có. Nó tích tụ từ những lần chúng tôi phải nghe những câu chuyện rỉ tai nhau trên xe bus, ngoài quán nước: "Bây giờ đến viện cứ phải làm ầm lên, chửi bới lên thì chúng nó mới làm nhanh cho mình. Chứ hiền lành là đợi đến tối!"

Và hậu quả là gì? 

Một em đồng nghiệp kể với tôi trong ấm ức: "Anh ạ, có những người họ quá đáng lắm. Lần nào đến cũng kêu gào 'tôi đau lắm, tôi sắp chết rồi' để đòi chen ngang siêu âm, chụp chiếu. Mà mình thì làm liên tục, tối mắt tối mũi ra. Nhưng khi khám xong, thấy không sao thì họ thay đổi thái độ ngay, cười nói như chưa từng có cuộc chia ly."...vv

LÀM ƠN, ĐỪNG BIẾN BỆNH VIỆN THÀNH CÁI CHỢ!

Tôi viết những dòng này, không phải để thanh minh cho mình, mà để chúng ta - cả nhân viên y tế và người bệnh - cùng nhìn lại một thực tế đau lòng.

1. Với nhân viên y tế: Chúng tôi cũng là con người. Chúng tôi được đào tạo để cứu người, chứ không được đào tạo để chịu đựng bạo lực ngôn từ hay những chiêu trò "ăn vạ". Áp lực của chúng tôi không chỉ là con dao mổ, là đơn thuốc, mà còn là sự an toàn. Làm sao một bác sĩ có thể cầm dao mổ chính xác khi ngoài cửa phòng mổ là tiếng chửi bới, đe doạ? Khi bạn cố làm ầm lên, có thể bạn được khám trước vài phút (vì chúng tôi muốn giải quyết cho xong để bảo vệ những bệnh nhân khác), nhưng bạn đã giết chết cảm xúc và nhiệt huyết của người thầy thuốc dành cho bạn. VÀ BẠN SẼ BỊ VÀO DANH SÁCH ĐEN; khi bạn làm loạn để được ưu tiên quá đáng thì bạn sẽ không còn được trân trọng như những bệnh nhân khác nữa.

2. Sự nhầm lẫn tai hại về "Ưu tiên". Trong Y khoa, chúng tôi ưu tiên theo TÌNH TRẠNG BỆNH, không ưu tiên theo ÂM LƯỢNG GIỌNG NÓI.

Một người im lặng, mặt tái nhợt vì chảy máu trong ổ bung sẽ được cấp cứu ngay lập tức.

Một người la hét ầm ĩ vì đau sỏi thận (dù rất đau) nhưng sinh hiệu ổn định, vẫn sẽ phải chờ sau ca ngưng tim. Đó là quy tắc sinh tử... ĐỪNG DẠY CÁC BÁC SĨ "Thế nào là cấp cứu?". 
Xin đừng dùng tiếng ồn để ép chúng tôi phá vỡ quy tắc an toàn đó.

VẬY TẠI SAO TÔI LẠI CHỌN CÁCH XỬ LÝ ÔN HOÀ Ở CA TRƯỚC?

Quay lại câu chuyện "ông già rút sonde tiểu". Tôi không nhượng bộ vì ông ấy làm ầm ĩ. Tôi chọn cách "Lạt mềm buộc chặt". Nếu lúc đó tôi cứng nhắc gọi bảo vệ, lập biên bản, có thể tôi thắng về LÝ (thắng rồi bạn được gì? Sẽ vẫn là sự sứt mẻ mối quan hệ bác sĩ - bệnh nhân; và nhiều sự việc khác nữa), nhưng người bệnh sẽ tiếp tục hoảng loạn, huyết áp tăng vọt, nguy cơ chảy máu càng nặng nề hơn. Tôi xử lý xong phần "Thân", khi họ bình tĩnh lại, tôi mới giáo dục lại phần "Tâm". Và kết quả là họ đã hiểu, đã xin lỗi. 
Sự thật thì bệnh nhân họ cũng lo mà; mình cứ đặt mình ở vị trí của bệnh nhân; bớt đi cái nóng nảy một chút, nghĩ cho nguời bệnh một chút; cố gắng dung hoà.. mọi chuyện sẽ tốt thôi. 

Những trường hợp "chí phèo", thích làm loạn thực ra chỉ là con sâu làm rầu nồi canh. Tôi vẫn tin đại đa số người bệnh đều rất hiểu chuyện và tôn trọng bác sĩ.

Nhưng tôi mong rằng, tư duy "Làm ầm lên để được việc" hãy chấm dứt.

Xin hãy tôn trọng quy trình sàng lọc cấp cứu.

Xin hãy trung thực với tình trạng bệnh của mình.

Và xin hãy để cho bác sĩ chúng tôi được làm việc trong một môi trường an toàn, nơi mà sự tôn trọng là liều thuốc đầu tiên chúng ta trao cho nhau.

Chúng tôi muốn cứu người, muốn tận hiến. Nhưng xin đừng bắt chúng tôi phải "gồng mình" đối phó với những chiêu trò.

Hãy tôn trọng lẫn nhau, giữ mối quan hệ tốt đẹp thầy thuốc và nhân dân. 

Bác sĩ cũng biết đau, biết buồn, và biết mệt mỏi...
Môi trường ST.

CUỘC ĐỜI NGƯỜI LÀ CỦA NƯỚC NON: BẠN CÓ BIẾT - CHÂN DUNG CỤ PHÓ BẢNG NGUYỄN SINH SẮC TỪ TÀI LIỆU CỦA MẬT THÁM PHÁP!

     Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (còn gọi là Nguyễn Sinh Huy) thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà khoa bảng xứ Nghệ, từng làm quan triều Nguyễn, người có công truyền bá tư tưởng yêu nước cho nhân dân ở những vùng đất mà cụ đặt chân đến, đặc biệt là đất Hòa An - Cao Lãnh, nơi cụ chọn làm chốn an nghỉ lúc cuối đời.

Các châu bản (văn thư triều Nguyễn) phản ánh cụ Nguyễn Sinh Sắc đã tham gia các khoa thi, đỗ phó bảng, bổ nhiệm làm quan triều Nguyễn, hiện lưu giữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia.

Trước khi đi thi đỗ Phó bảng, cụ Nguyễn Sinh Sắc đã tham gia 2 khoa thi Hương tại Vinh (Nghệ An) năm 1891 và 1894. Khoa này cụ đỗ Cử nhân, năm sau cụ vào Huế thi Hội nhưng không đỗ. Với học vị cử nhân, cụ được bổ làm Hành tẩu bộ Hộ. Năm 1898, cụ tiếp tục đăng kí thi Hội nhưng lại hỏng.

Sau đó cụ được nhận vào học tại trường Quốc Tử Giám tại Huế. Lúc này cụ đổi tên thành Nguyễn Sinh Huy, từ đó về sau, trên tất cả văn bản, giấy tờ cụ đều dùng tên này. Các châu bản liên quan đến cụ cũng đều viết tên Nguyễn Sinh Huy.

Khoa thi Hội năm 1901, cụ Nguyễn Sinh Huy đỗ Phó bảng. Trước đó, cụ Huy được sung vào Hội đồng giám khảo chấm thi tại trường thi hương Bình Định năm 1897 và trường Thanh Hóa năm 1900.

Bản tấu của Bộ Lại ngày 15 tháng 4 nhuận năm Thành Thái 18 (1906) về việc bổ nhiệm Phó bảng Nguyễn Sinh Huy giữ chức Kiểm thảo Viện Hàn lâm ghi lại: “Gần đây, theo lời bẩm của Phó bảng Nguyễn Sinh Huy thì vào năm Thành Thái 13 viên đó dự thi Hội trúng Phó bảng. Lần ấy, lo việc nhà xong, viên bị ốm phải ở quê thuốc thang, nay bệnh đã đỡ xin theo chờ tại bộ thần. Bộ thần xét theo lệ định, Nguyễn Sinh Huy xin nên chiếu lệ bổ thụ Kiểm thảo Viện Hàm lâm, phái theo bộ Lễ làm việc”. Bản tấu có châu điểm của vua Thành Thái.

Bản tấu của Bộ Lễ ngày mùng 8 tháng 9 năm Thành Thái 18 (1906) về sĩ số học sinh trường Quốc học. Cuối bản tấu có kí tên của Phó bảng Nguyễn Sinh Huy (giữ chức Kiểm thảo Viện Hàn lâm); có Châu phê của vua Thành Thái.

Bản tấu của Bộ Lại ngày 11 tháng 4 năm Duy Tân 3 (1909) về việc bổ nhiệm Phó bảng Nguyễn Sinh Huy giữ chức Tri huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định.

“Bộ Lại tâu: Phụng xét chức Tri huyện Bình Khê hiện khuyết. Bộ thần chọn đem các viên tại chức lâu năm cần được bổ dụng để bàn việc điền bổ. Kỳ họp bàn ngày 12 tháng trước ngài Khâm sứ đại thần trả lời rằng đồng ý bổ Nguyễn Sinh Huy làm Tri huyện huyện Bình Khê. Về Trước tác Thừa biện tại bộ Lễ Nguyễn Sinh Huy xin đổi hàm Đồng Tri phủ, lãnh chức Tri huyện huyện đó”. Châu điểm của vua Duy Tân.

Năm 1910, cụ Nguyễn Sinh Huy - khi ấy là Tri huyện Bình Khê bị can vào vụ án Tạ Quang. Quang là một địa chủ cường hào, ỷ có thân thế và quen biết rộng nên không chịu nộp thuế và còn chống đối, quan Tri huyện Bình Khê đã cho lính nọc ra đánh đòn để răn đe. Hai tháng sau thì Quang chết. Vợ Quang làm đơn kiện lên thượng cấp, cụ Huy bị đưa ra Bộ Hình xét xử. Sau vụ án này, cụ Nguyễn Sinh Huy bị giáng 4 cấp và cho đổi về kinh làm quan. Tuy nhiên, chán cảnh quan trường, cụ đã bỏ chức từ quan để vào Nam. Xem trong bản tấu của Bộ Hình ngày 15 tháng 8 năm Duy Tân 4 (1910) về vụ án trên, phần kết luận có đoạn: “Xét Tạ Quang bị đánh rồi qua hơn 2 tháng sau bị ốm mà mất, chớ không phải bị đánh chết tức thì, tình có thể tha thứ. Xin được gia ân đổi làm giáng 4 cấp cho lưu… Lại xét viên tri huyện này mới làm quan chưa tường dân chánh, xin cho Bộ Lại đổi chức về Kinh”.

Như vậy qua bản tấu trên, rõ ràng việc cụ Nguyễn Sinh Huy vào Nam không phải do bị triều đình Huế sa thải mà do cụ tự bỏ chức./.
---------
Từ bức ảnh đen trắng, do mật thám Pháp chụp ngày 20/11/1923; chúng tôi vừa phục dựng màu, để giúp bạn đọc cảm nhận được lúc sinh thời (trước khi mất 6 năm) chân dung cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - Thân phụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh; có thần thái, khuôn mặt, ánh mắt và râu tóc... như thế nào./.
Yêu nước ST.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: TRẬN ĐÁNH HUYỀN THOẠI “ĐẶC CÔNG VIỆT NAM HẠ MÁY BAY MỸ TRÊN ĐẤT THÁI LAN”./.

     Trận đánh sân bay Udon đã gây thiệt hại nặng cho không quân Mỹ: 4 máy bay F-5 trở thành đống sắt vụn, 24 sĩ quan và nhân viên kỹ thuật Mỹ đền tội.

Thiếu tướng tình báo Vũ Thắng là Trưởng phòng điệp báo ngoài nước của Cục Tình báo Bộ Quốc phòng (nay là Tổng cục 2) từ năm 1966 cho đến sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Trong rất nhiều chiến công của những chiến sĩ tình báo ngoài nước, Thiếu tướng Vũ Thắng đã kể lại với phóng viên trận đánh vào căn cứ không quân Udon và U-Tapao, nơi xuất phát những máy bay ném bom của Mỹ đi gây tội ác ở Việt Nam.

Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ thành lập khối quân sự Đông Nam Á (SEATO) gồm 6 nước, biến một số quốc gia ở khu vực này thành căn cứ quân sự của Mỹ.

Ở Thái Lan, ngoài quân cảng Sattahip, Mỹ xây dựng sân bay quân sự chiến thuật và chiến lược cho máy bay F-4, F-5 ở Udon, Ubon, Korat, Takhli, Chiangmai… đặc biệt là căn cứ không quân chiến lược B-52 ở U-Tapao.

Từ những nơi này, máy bay Mỹ hằng ngày mang bom đạn gieo rắc đau thương cho đồng bào ta ở hai miền Nam, Bắc, Lào và Campuchia.

B-52 tại sân bay U-Tapao.
Phải trừng trị kẻ gây tội ác, phải đánh thẳng vào nơi xuất phát của những tên “giặc trời”. Đó là mệnh lệnh của Tổ quốc giao cho Phòng điệp báo ngoài nước.

Một buổi sáng đầu năm 1968, Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng gọi Cục trưởng Cục tình báo quân sự Phan Bình và Trưởng phòng Vũ Thắng lên, nói:
- Quân và dân ta đang Tổng tiến công và nổi dậy đánh Mỹ-ngụy ở khắp miền Nam. Để phối hợp với chiến trường này, Bộ Tổng tham mưu giao cho các đồng chí nghiên cứu đánh sân bay U-Tapao. Liệu các đồng chí có thực hiện được không?

Cục trưởng Phan Bình trả lời:
- Báo cáo Tổng tham mưu trưởng, chúng tôi đã có các cơ sở ở các sân bay, sơ đồ bố trí của địch chúng tôi nắm vững. Đề nghị cho Cục thời gian để gọi các đồng chí ấy về huấn luyện cách đánh.

Đồng chí Văn Tiến Dũng căn dặn:
- Tôi đồng ý! Nhưng phải giải thích cho các đồng chí ấy hiểu rằng, đánh U-Tapao là đánh đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam. Tuyệt đối bảo vệ tính mạng và tài sản cho nhân dân Thái Lan.

Ngay lập tức, Cục trưởng Phan Bình cử thêm Thiếu tá Phó trưởng phòng điệp báo ngoài nước Nguyễn Trọng Tể và Đại úy Bùi Nghi, cán bộ tham mưu của phòng hỗ trợ cho Trưởng phòng Vũ Thắng lập phương án tác chiến. Được sự chuẩn y của Tổng Tham mưu trưởng, Phòng điệp báo ngoài nước rút hai tổ của hai đồng chí Phùng Hồng Lâm và Lê Văn Đình đang hoạt động ở Thái Lan về nước, hình thành tổ đánh U-Tapao do Phùng Hồng Lâm chỉ huy.

Phùng Hồng Lâm vốn là nhân viên đường sắt, được ta đào tạo trở thành tổ trưởng tổ tình báo ở Băng Cốc dưới bình phong một nhà buôn. Nhiệm vụ của tổ anh là móc nối các cơ sở để nắm tình hình các căn cứ không quân Mỹ trên đất Thái Lan.

Còn Lê Văn Đình cũng là tổ trưởng tình báo, giỏi sử dụng điện đài, lại nguyên là sĩ quan lục quân nên có kiến thức quân sự. Đó là sự bổ sung rất tốt cho Phùng Hồng Lâm.

Nhưng muốn đánh U-Tapao, trước hết phải đánh Udon. Căn cứ quân sự Udon nằm ở đông bắc Thái Lan, giáp với nước Lào, nơi xuất phát những máy bay F-4 đi oanh tạc ở thượng Lào và Bắc Việt Nam. Đây là đòn thử phản ứng với Mỹ, đồng thời đánh lạc hướng chúng để tổ của Phùng Hồng Lâm đánh U-Tapao được thuận lợi.

Tổ đánh sân bay Udon được thành lập gồm 5 người, do Đại úy Trần Viết Tính, Tổ trưởng tình báo tại Udon làm chỉ huy. Các tổ viên gồm có: Thượng úy Bùi Thế Sách, Trung úy Lê Đức Mục, Trung úy Võ Tá Kiều và Thượng sĩ Nguyễn Văn Triêm. Ngoài ra, Phòng điệp báo nước ngoài còn chọn một số đồng chí khác, vốn là cán bộ giao thông và điệp báo ta tại Lào làm nhiệm vụ hỗ trợ khi cần thiết. 5 tình báo viên được triệu tập về nước, nhờ Binh chủng Đặc công huấn luyện chiến thuật vượt rào, đặt mìn…

Phòng điệp báo ngoài nước cử Đại úy Lê Thoong, người thông thạo địa hình hai nước Lào và Thái, làm nhiệm vụ đưa đón 2 tổ đánh sân bay Udon và U-Tapao, đồng thời vận chuyển vũ khí, thuốc nổ đến nơi tập kết.

Tháng 5-1968, tổ đánh sân bay Udon lên đường.
Từ Hà Nội, các chiến sĩ tình báo đi ô tô vào Quảng Bình, lên đường 12 qua nước Lào, vượt qua vùng địch tạm chiếm, rồi đến trạm 12, một cơ sở của Phòng điệp báo nước ngoài ở Thà Khẹc. Từ đây, có một con đường bí mật để cả tổ vượt sông qua Thái Lan.

Trong tổ, có tình báo viên Bùi Thế Sách từng sống nhiều năm ở Thái Lan, nên từ hình thức, cử chỉ đến giọng nói rất giống người Thái. Hằng ngày, anh trà trộn vào toán lao công ở sân bay rồi sau đó về báo cáo với chỉ huy sơ đồ sân bay và các quy luật hoạt động của địch.

Sau khi đã nghiên cứu kỹ, cả tổ quyết định tập kích…
Giờ đây ngồi kể chuyện với tôi, Thiếu tướng Vũ Thắng còn nhớ nội dung bức điện của Tổ trưởng Trần Viết Tính gửi về trước giờ ra trận: “Mấy ngày qua, chúng tôi theo dõi qua đài được biết đế quốc Mỹ đã cho máy bay ném bom ác liệt, giết hại nhiều đồng bào vô tội ở miền Bắc nước ta. Toàn tổ chúng tôi kiên quyết hành động để trả thù, dù có phải hy sinh trên đường băng Udon”.

Một đêm cuối tháng 5-1968, sau khi dùng chiến thuật đặc công đột nhập và đặt mìn vào 4 máy bay, trên đường rút ra, 5 chiến sĩ tình báo bị địch phát hiện. Thượng úy Bùi Thế Sách và Trung úy Lê Đức Mục tình nguyện ở lại kìm chân địch để 3 người còn lại rút lui an toàn. Sau một hồi quần nhau với địch, chưa kịp rút cùng đồng đội thì 4 quả mìn phát nổ, Bùi Thế Sách và Lê Đức Mục anh dũng hy sinh.

Trận đánh sân bay Udon đã gây thiệt hại nặng cho không quân Mỹ: 4 máy bay F-5 trở thành đống sắt vụn, 24 sĩ quan và nhân viên kỹ thuật Mỹ đền tội./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HỌC VẤN “KHỦNG” CỦA DÀN BTV THỜI SỰ 19H KHIẾN AI CŨNG PHẢI NGƯỠNG MỘ!

     Đã bao lần chúng ta ngồi trước màn hình lúc 19h, lắng nghe từng câu chữ xuất hiện đều đặn trên sóng VTV, nhưng ít ai biết rằng đằng sau sự điềm tĩnh, chỉn chu ấy là cả một nền tảng học vấn đồ sộ và hành trình rèn luyện nghiêm túc của những BTV Thời sự. Họ không chỉ là người truyền tải thông tin, mà còn là biểu tượng của tri thức, sự kỷ luật và tinh thần cống hiến cho nghề.

Nhìn vào hồ sơ của họ, nhiều người phải thốt lên: “Đây đúng là những gương mặt hội tụ cả sắc vóc lẫn trí tuệ!”. Từ giải học sinh giỏi quốc gia, thủ khoa đại học, hai bằng cử nhân, thạc sĩ, đến vai trò giảng viên… mỗi người đều có một hành trình riêng nhưng điểm chung là sự nỗ lực phi thường.

BTV Tuấn Dương – một trong những gương mặt trụ cột của Thời sự 19h, sở hữu hai bằng đại học (Văn hóa Hà Nội và Luật Hà Nội). Phong thái đĩnh đạc, giọng đọc ấm và sự thông minh đã giúp anh ghi dấu mạnh mẽ, thậm chí chiến thắng hạng mục “Người dẫn chương trình ấn tượng” tại VTV Awards. Ít ai biết anh còn chơi piano và hát rất hay – một sự đa tài đầy bất ngờ.

BTV Thu Hà, cựu học sinh trường Hà Nội – Amsterdam, từng đoạt Miss Duyên dáng, đỗ cùng lúc hai trường đại học và còn là thủ khoa Diễn viên Sân khấu Điện ảnh. Nhưng cô chọn Ngoại thương và tốt nghiệp loại giỏi. Mới 23 tuổi đã dẫn Thời sự 19h – điều mà đến hôm nay nhiều người vẫn không khỏi ngưỡng mộ. Lối dẫn duyên dáng, tinh tế nhưng sắc sảo đã giúp Thu Hà giữ trọn tình cảm khán giả suốt nhiều năm.

BTV Minh Trang, điềm tĩnh, hiện đại và giàu năng lượng, xuất thân từ ngành Biên kịch rồi rẽ sang báo chí bằng đam mê. Với 18 năm gắn bó VTV, hơn 10 năm dẫn Thời sự, cô còn hoàn thành thạc sĩ và giảng dạy tại trường đại học. Minh Trang từng là tác giả của một vở kịch gây tiếng vang – cho thấy sự sáng tạo và chiều sâu tri thức hiếm có.

BTV Linh Thủy, gương mặt trẻ nhất nhưng học vấn lại khiến nhiều người “ngả mũ”. Từ giải Nhì Văn quốc gia, tốt nghiệp Ngoại thương chương trình Chất lượng cao đến việc trở thành thủ khoa thạc sĩ EMBA, cô ghi dấu bằng sự hồ hởi, bản lĩnh và lựa chọn đầy quyết đoán khi bước vào Ban Thời sự năm 2014. Từ đó, cô gắn bó đến hôm nay và ngày càng trưởng thành trong nghề.

BTV Khánh Trang – gương mặt thanh lịch, nhẹ nhàng nhưng kiên trì đáng nể. Vượt qua gần 1.000 thí sinh để vào Đài Hà Nội, rồi trải qua 8 năm làm phóng viên – biên tập viên – tổ chức sản xuất, cô chuyển sang VTV, dẫn Chào buổi sáng và đến năm 2017 chính thức xuất hiện trên Thời sự 19h. Không dùng tên thật nhưng lại trở thành một trong những BTV được yêu mến bởi tác phong chuyên nghiệp và giọng đọc cuốn hút.

BTV Quốc Anh, người được mệnh danh là “quý ông ngoại ngữ” của VTV, với hai bằng cử nhân Ngôn ngữ Anh và Ngôn ngữ Trung. Sự mạch lạc, rõ ràng và khả năng chuyển đổi ngôn ngữ nhanh – chính xác giúp anh đảm nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng từ dẫn bản tin đến phiên dịch các sự kiện quốc tế. Ngoài truyền hình, anh còn giảng dạy và đào tạo kỹ năng mềm – một hình ảnh đầy tri thức và nhiệt huyết.

BTV HỮU BẰNG, sinh năm 1979. Trước khi vào VTV, anh từng làm trong PR và giáo dục, nhờ đó có nền tảng giao tiếp – xử lý thông tin rất chắc. Anh gia nhập VTV vào cuối 2006, từng công tác tại VTV6, rồi trở thành một trong những gương mặt Thời sự 19h được yêu mến nhờ phong thái chững chạc, giọng trầm ấm và cách dẫn mạch lạc, điềm tĩnh. Hữu Bằng được đánh giá là người có nền tảng chuyên môn tốt. Anh từng lọt Top 5 Dẫn chương trình ấn tượng – VTV Awards 2018. Ngoài đời, Hữu Bằng khá giản dị, thậm chí từng gây chú ý khi để lộ cảnh dẫn chương trình… đi chân trần trong trường quay – một khoảnh khắc đời thường khiến khán giả càng thêm yêu mến.

Càng đọc, càng thấy dàn BTV Thời sự 19h không chỉ có một ngoại hình chỉn chu trên sóng. Họ là những người dành nhiều năm để học, để rèn luyện, để trau dồi và để xứng đáng với từng giây mình xuất hiện trước hàng triệu khán giả.

Và có lẽ, chính vì vậy mà mỗi bản tin Thời sự 19h không chỉ là câu chuyện thông tin – mà còn là sự tin tưởng, sự ngưỡng mộ dành cho những con người tận tụy và trí tuệ sau màn hình.

Còn bạn, trong số những gương mặt tài năng này, bạn ấn tượng và yêu thích nhất BTV nào?






Môi trường ST.

CHỐNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LỊCH SỬ: SỰ SO SÁNH, ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH!

     “Hồi chiến tranh Việt Nam cũng nhờ viện trợ TQ, Liên Xô, Cuba. Nguyễn Ánh cũng nhờ viện trợ phương Tây. 
Sao cái này thì gọi là ‘giao lưu’, cái kia thì bảo là ‘cõng rắn cắn gà nhà’? Tiêu chuẩn kép à?”

Nghe qua thì có vẻ “logic”, nhưng thật ra là một cú đánh tráo khái niệm rất tinh vi.
Muốn hiểu cho đúng, phải hỏi lại một câu duy nhất:

Anh nhờ viện trợ để làm gì? Để giữ nước hay để giành ghế?


1. Viện trợ cho một quốc gia độc lập, khác hẳn việc rước quân xâm lược vào nhà

Thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Việt Nam đã là một chủ thể độc lập, có chính quyền, lãnh thổ, mục tiêu rõ ràng: Độc Lập – Thống Nhất – Chủ Quyền Dân Tộc.

Viện trợ từ Liên Xô, Trung Quốc, Cuba… là:

- Giúp một dân tộc đang chống xâm lược.
- Không ký hiệp ước nhượng đất, không cho lập thuộc địa, không đặt ách thống trị lên đầu dân Việt.
- Chiến tranh kết thúc, họ rút về nước họ, Việt Nam vẫn là Việt Nam, không biến thành “tỉnh lỵ” của ai.

Còn Nguyễn Ánh thì sao?

- Thông qua Bá Đa Lộc, mở cửa cho thế lực Pháp can dự sâu vào nội bộ Đại Việt.
- Đánh đổi lợi ích dân tộc để đổi lấy quyền lực cho riêng mình.
- Tạo điều kiện cho thực dân sau này bám rễ, nắm kinh tế – quân sự – chính trị, mở đường cho việc xâm lược và đô hộ.

Một bên là nhận viện trợ để bảo vệ một quốc gia độc lập khỏi kẻ xâm lược.

Một bên là rước ngoại bang vào đánh đồng bào mình để giành lại ngai vàng.

Hai chuyện đó mà bảo “giống nhau” thì hoặc là không hiểu lịch sử, hoặc là đang làm trò ngụy biện chính trị.


2. Mục tiêu: Giải phóng dân tộc hay cướp lại chính quyền?

Lực lượng cách mạng hiện đại:

- Mục tiêu gốc: Độc Lập – Thống Nhất – Tự Chủ Dân Tộc.
- Viện trợ chỉ là phương tiện, không phải chủ đích.
- Dù có hay không, nhân dân Việt Nam vẫn tự đứng lên trên đất của mình để chiến đấu.

Còn Nguyễn Ánh:

- Mục tiêu không phải “giải phóng dân tộc khỏi ngoại xâm”.
- Mục tiêu là: giành lại quyền lực, bằng mọi giá.
- “Bằng mọi giá” ở đây bao gồm cả việc kéo ngoại bang vào cuộc chiến trong nước, chấp nhận để họ có chỗ đứng, có lợi ích, có cái cớ can thiệp ngày càng sâu.

Vậy nên câu hỏi cốt lõi phải là:

Anh xin giúp đỡ để giữ nước, hay xin giúp đỡ để giành lại cái ghế cho riêng anh?

Nếu vì Nước, đó là chuyện khác.
Nếu vì Ngai Vàng, đó là chuyện khác.


3. Giao lưu, liên minh, hay lệ thuộc – đừng trộn làm một

Có ba cấp độ rất cần phân biệt:

   1. Giao lưu – hợp tác
 • Buôn bán, trao đổi, giao lưu văn hóa, quân sự, nhưng không đánh mất chủ quyền.
 2. Liên minh – viện trợ
 • Cùng chung lợi ích ở một giai đoạn, hỗ trợ nhau trước kẻ thù chung.
 • Mỗi nước vẫn là một quốc gia độc lập.
 3. Lệ thuộc – bán nước
 • Đổi đất, đổi quyền kiểm soát, chấp nhận ngoại bang chi phối nội trị, quân sự, kinh tế.
 • Mở đường cho kẻ khác đặt ách thống trị lên dân tộc mình.

Việt Nam nhận viện trợ thời kháng chiến là ở mức liên minh – hỗ trợ, không phải ký giao kèo dâng nước, không biến mình thành thuộc địa của Liên Xô, Trung Quốc hay Cuba.

Còn con đường mà Nguyễn Ánh mở ra là từ cầu viện trượt dần sang lệ thuộc, và lịch sử cho thấy sau đó thực dân Pháp đã bám vào đúng những “cửa” ấy để tiến vào.


4. “Cõng rắn cắn gà nhà” là ở chỗ quay súng vào đồng bào mình

Đừng quên:

- Nghĩa quân Tây Sơn là người Việt Nam.
- Nguyễn Ánh cũng là người Việt Nam.

Khi Nguyễn Ánh nhờ ngoại bang can thiệp, quân ngoại bang không hề sang để “giải phóng dân tộc Việt Nam” khỏi kẻ xâm lược bên ngoài.

Họ sang để giúp một phe trong nội chiến đánh lại một phe khác, rồi đổi lại lợi ích, đặc quyền, ảnh hưởng.

Nói thẳng cho dễ hiểu:

Anh rước quân ngoài vào đánh dân và quân trong nước, để lấy lại quyền lực cho mình.

Đó mới chính là nghĩa đen của câu “cõng rắn cắn gà nhà”.

Còn viện trợ cho Việt Nam thời kháng chiến là:

- Ngoại bang không sang đánh dân Việt để lập thuộc địa.

- Họ hỗ trợ nhân dân Việt Nam đánh lại quân xâm lược ngoại quốc.

Bản chất khác nhau hoàn toàn.


5. Không có “tiêu chuẩn kép”, chỉ có một tiêu chuẩn rất rõ: Độc Lập và Chính Nghĩa

Tiêu chuẩn để phân biệt rất đơn giản:

- Có bảo vệ Độc Lập Dân Tộc hay không?
- Có giữ được Chủ Quyền hay không?
- Có quay súng vào đồng bào mình để đổi lấy ngai vàng hay không?

Nếu nhờ viện trợ mà:

- Đất nước vẫn là của dân tộc mình.
- Chủ quyền vẫn nằm trong tay người Việt.
- Không biến thành thuộc địa của bất kỳ ai.

Thì đó là liên minh, hợp tác, viện trợ.

Nhưng nếu nhờ viện trợ mà:

- Mở đường cho ngoại bang can thiệp sâu,
- Đem quân ngoài về đánh quân trong nước,
- Và sau đó đất nước rơi vào ách thống trị của chính thế lực đó,

Thì gọi đúng tên nó là: bán nước - cõng rắn cắn gà nhà, chứ không phải “giao lưu quốc tế”./.
Khuyết danh ST.

HỌ ĐẾM MẠNG ĐỒNG BÀO!

     Trong khi lực lượng cứu hộ đang vật vã kéo từng người khỏi dòng nước xiết, chuyển từng thùng mì, từng chai nước đến vùng cô lập… thì trên mạng, có những người ngồi khô ráo và đòi:
“Sao chưa công bố số người thiệt mạng?”
“Sao không minh bạch thương vong?”...

Cứ như công bố sớm 6 tiếng thì nước rút nhanh hơn. Hay công bố chậm 1 ngày thì người thiệt mạng sẽ sống lại.

Ưu tiên giữa bão rất rõ ràng:
– Cứu người đang còn sống
– Giữ người đang mắc kẹt
– Tiếp tế lương thực thuốc men
– Đảm bảo nơi trú an toàn
Nhưng họ nào quan tâm!

Nước vừa rút, người dân còn đang nhặt lại từng mảnh đồ đạc sót lại… thì bỗng xuất hiện con số lạnh người: 2.257 người qua đời/mất tích. Chỉ gắn cái mác “tin nội bộ” từ cuộc họp Quân uỷ Trung ương hôm qua và thế là đủ để gây hỗn loạn.

Đáng nói hơn: cái nguồn “nội bộ” ấy lại đang vướng kiện vì tung tin giả từ Đức. Nhưng lại tự khoác vai “người nhìn thấu tất cả”, như thể xã hội này đang mê ngủ còn họ là kẻ duy nhất tỉnh táo.
Tuy nhiên, điều nực cười nhất là: cả cái “họp Quân uỷ Trung ương hôm qua” mà họ viện dẫn… không hề tồn tại.

Ngày 25/11, Quân uỷ Trung ương không họp. Lần gần nhất họp là ngày 19/6. Còn 24/11 chỉ là phiên của Thường vụ Quân uỷ, thuộc Bộ Quốc phòng.

Một cuộc họp Quân uỷ thì Tổng bí thư phải chủ trì. Trong khi đó toàn bộ nhân sự chủ chốt đều có lịch công tác kín suốt cả ngày: Tổng bí thư Tô Lâm làm việc ở Quốc hội; Bộ trưởng Phan Văn Giang làm việc với đoàn ĐBQH Thái Nguyên; Chủ tịch nước Lương Cường tiếp Thống đốc Nga rồi họp về bão lũ; Thủ tướng Phạm Minh Chính sáng ở Quảng Ninh, chiều ở TP.HCM.

2.257 người qua đời/mất tích là tin giả độc ác nhưng không bất ngờ. 
Bởi việc đầu tiên họ làm, mỗi khi thiên tai ập đến, là lục tìm một ai đó để đổ lỗi. Lỗi của chính quyền, lỗi của khí tượng, lỗi của bất kỳ ai miễn sao họ được đứng trên cao mà chỉ tay xuống.
Và họ chọn đúng thời điểm: bão tiếp theo sắp vào, tinh thần người dân thấp nhất, tin đồn lan nhanh nhất, mạng xã hội khát bi kịch nhất.

Tung đúng lúc = bùng nổ.
Con số càng lớn = càng lan xa.
Mác “nội bộ” = càng dễ tin.

Đó là thao túng được tính toán. Bão lũ, dưới tay họ, không phải thiên tai. Nó là sân khấu.

Và khi một ai đó xem sinh mạng đồng bào như đạo cụ để dựng kịch bản, thì từ khoảnh khắc đó, họ đã đứng ngoài nhân tính.

Thiên tai không phân biệt ai. Nỗi đau không chừa ai. Không cần tranh luận thiện ác. Sự vô cảm của họ đã trả lời thay. Việc của chúng ta chỉ có một: giữ trái tim biết thương người và cái đầu đủ tỉnh táo để không bị thao túng./.

Khuyết danh ST.

VẠCH TRẦN BỘ MẶT KẺ PHẢN ĐỘNG Y CHUÂN MLÔ!

     Sau khi mãn hạn tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, Y Chuân Mlô không chịu tu chí làm ăn mà tiếp tục tìm cách phá hoại buôn làng. Năm 2019, Y Chuân Mlô bỏ lại vợ con rồi vượt biên trái phép sang Thái Lan để theo những đối tượng phản động chống phá lại đất nước.

Theo tài liệu của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk, Y Chuân Mlô (SN 1985, trú tại buôn Kõ Đung, xã Ea Nuôl, tỉnh Đắk Lắk) với bản tính lười lao động, thích ăn chơi lêu lổng nên từ nhỏ, y đã thường xuyên tụ tập nhóm đối tượng xấu, tổ chức ăn nhậu, quậy phá buôn làng. Do đó, vào năm 2008, Y Chuân Mlô bị bắt, xử phạt hơn 4 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Với bản án phạt tù, tưởng rằng Y Chuân Mlô sẽ lấy đó là bài học thì y lại “chứng nào tật nấy”. Sau khi mãn hạn tù, Y Chuân Mlô tiếp tục tìm cách quậy phá, gây mất an ninh trật tự trong buôn. Sau khi lấy vợ, sinh con, Y Chuân Mlô không những không chịu tu chí làm ăn mà thường xuyên tìm cách phá hoại, gây mất đoàn kết người dân trong buôn. Đến năm 2019, tin theo lời dụ dỗ, lừa phỉnh của nhóm phản động nước ngoài, Y Chuân Mlô bỏ lại vợ con rồi vượt biên trái phép sang Thái Lan.

Tại Thái Lan, Y Chuân Mlô cùng với các đối tượng phản động như: Y Quynh Bdap, Y Arôn Êban, Y Pher Hdruễ, Y Bihông Hdruễ, Y Phướk Niê… tham gia vào tổ chức khủng bố “Người Thượng vì công lý – MSFJ” để chống phá Việt Nam. Tháng 6/2023, đối tượng cầm đầu tổ chức khủng bố “Người Thượng vì công lý – MSFJ” là Y Quynh Bdap bị Cảnh sát Thái Lan bắt giữ vì “Cư trú quá hạn” và liên quan đến vụ khủng bố ngày 11/6/2023 tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk; đối tượng Nguyễn Đình Thắng, kẻ cầm đầu tổ chức phản động “Ủy ban cứu người vượt biển – BPSOS” đã giao nhiệm vụ lại cho Y Chuân Mlô quản lý tổ chức khủng bố “Người Thượng vì công lý – MSFJ”.

Dưới sự chỉ đạo, giật dây của đối tượng Nguyễn Đình Thắng, Y Chuân Mlô đã có nhiều hoạt động chống phá nhằm phô trương thanh thế như: Tuyên truyền, lừa phỉnh trên không gian mạng (chủ yếu sử dụng công nghệ AI cắt ghép hình ảnh, bài viết ) nhằm lôi kéo, phát triển lực lượng trong nội địa, kích động vượt biên, dụ dỗ người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên tham gia các tổ chức phản động dưới “vỏ bọc” tôn giáo như: “Hội thánh Tin Lành đấng Christ Tây Nguyên – CHPC”, “Tin Lành tư gia độc lập”… để gây mất an ninh trật tự tại các buôn làng, hòng đòi thành lập nhà nước ảo vọng “Đề ga”.

Qua đây cho thấy, Y Chuân Mlô và tổ chức khủng bố “Người Thượng vì công lý- MSFJ” luôn có âm mưu lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin của bà con nhân dân để kích động chống phá, gây chia rẽ khối đại đoàn kết giữa các dân tộc anh em. Vì thế, khuyến cáo người dân hãy chăm lo lao động sản xuất, nêu cao tinh thần cảnh giác trước “bóng ma” của tổ chức này cũng như những lời dụ dỗ, lôi kéo của đối tượng Y Chuân Mlô, tránh vi phạm pháp luật không đáng có./.
Khuyết danh ST.

Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: STALIN HÓM RA PHẾT!

    Một trong những điều mình đánh giá cao ở bất kỳ ai, đó là óc hài hước. Cũng là bởi tính mình nó nhí nhố sẵn từ bé.

Stalin ngoài là một lãnh tụ nghiêm khắc, nhiều khi khắc nghiệt, lại là một con người khá hóm hỉnh. Nhiều bút phê của ông đã khiến nhiều người phải...bật ngửa vì bất ngờ.

Bức ảnh đăng kèm cho thấy phòng làm việc của Stalin tại nhà nghỉ ở Sochi. Ông có chiếc bàn nhỏ, thường làm việc muộn và ngủ luôn tại chiếc giường khá đơn sơ bên cạnh. Ít ai tưởng tượng được vị lãnh đạo một cường quốc lại có thể giản dị như vậy.

******

Lần nọ, Stalin được Anh hùng LX, nhà thám hiểm Bắc Cực Ivan Papanin mời đến chơi, thăm nhà nghỉ cuối tuần mà ông này mới xây. Trước đó Ivan đã mời nhiều lãnh đạo khách quý đến, ai nấy đều trầm trồ khen ngợi, viết những lời có cánh vào sổ lưu niệm của chủ nhà.

Sau khi được Ivan Papanin giới thiệu nào là chỗ này lát đá cẩm thạch Italia, chỗ kia lát đá cẩm thạch Hy Lạp.. Stalin được chủ nhà đưa cho cuốn sổ để ghi lưu niệm. 

Stalin lật mấy trang chăm chú đọc. Rồi ông cầm bút viết: “ Gửi đồng chí Vlasik (giám đốc cơ quan cảnh vệ Chính phủ). Đây là một nhà trẻ khá tốt. I. Stalin”

***

Một lần Stalin được báo cáo là nguyên soái Rokossovsky mới có bồ là nữ diễn viên nổi tiếng xinh đẹp Valentina Serova. Phải làm gì bây giờ?

Stalin nghe xong liền rút tẩu ra khỏi miệng, nghĩ chút rồi nói:

-Chúng ta sẽ làm gì...làm gì...nhỉ? À, chúng ta sẽ ghen tỵ...🙂

***

Lần nọ, Stalin được mời xem phim”Đoàn tàu về hướng Đông”. Phim khá nhàm chán, tàu đi, rồi dừng, rồi đi, lại dừng...

Sốt ruột quá, Stalin hỏi:

- Cái ga này tên là gì thế?

- Thưa, ga Demyanovka ạ.

- Đúng đây là ga tôi phải xuống.

Nói rồi ông bước ra khỏi phòng chiếu phim.

***

Một vị thượng tướng đến báo cáo công việc với Stalin. Tổng tư lệnh tối cao có vẻ hài lòng, gật đầu mấy lần.

Thấy vị tướng báo cáo xong vẫn có vẻ chần chừ, Stalin hỏi: “Anh định nói thêm gì nữa không?”.

“Thưa, tôi có chút việc riêng. Ở bên Đức tôi có nhặt nhạnh được một số chiến lợi phẩm, nhưng bên kiểm soát họ giữ lại. Tôi có thể lấy lại những thứ đó được không?”

“Được chứ. Anh cứ viết đơn, tôi sẽ có ý kiến”.

Viên thượng tướng móc túi lấy ra cái đơn đã soạn sẵn, Stalin cầm bút viết luôn mấy chữ.

Viên tướng liền cảm ơn rối rít. Stalin đáp:” Có gì đâu mà phải cảm ơn”.

Khi đọc thấy dòng chữ “Trả lại cho đại tá đồ đạc. I.Stalin”, vị tướng nói: ”Thưa, tôi không phải là đại tá, mà là thượng tướng”.

“Không, tôi viết đúng đấy, đồng chí đại tá ạ”.

(Stalin đã bỏ từ генерал (tướng) trong từ генерал полковник (thượng tướng) thành mỗi полковник ( đại tá) )

Qua các câu chuyện có thật mà mình chọn dịch ở trên, có thể thấy rằng Tổng tư lệnh tối cao Stalin rất ghét thói phô trương hình thức, xa hoa, tư lợi cá nhân...Cũng cần nói thêm, khi mất, vị lãnh đạo LX này chỉ để lại mấy bộ quần áo và một sổ tiết kiệm 900 rúp./.

Môi trường ST.

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: MỘT SUY NGHĨ “NÔNG CẠN”, THƯA ÔNG ĐẠI BIỂU?

     Nhìn nhận thực tế, cho dù thế nào thì trên mỗi năm, học sinh của chúng ta cũng chỉ học duy nhất một bộ sách Giáo Khoa trên lớp học mà thôi!

Sáng tạo không phải là cần ở nhiều bộ sách Giáo Khoa với những thứ kiến thức trà trộn, sạn lỗi và đi trên những trục kiến thức khác nhau... giữa các bộ sách Giáo Khoa khác biệt như bao lâu nay. 

Sự sáng tạo của học trò không phải nhìn nhận trên mặt bằng chung, truyền thụ kiến thức trên nhiều SGK như vậy ? 

Mỗi năm học, các em dù thế nào cũng chỉ mới tiếp thu được kiến thức tầm phổ thông ở duy nhất một bộ sách. 

Không có khái niệm sáng tạo nhìn chung một cách thiếu phân định, và đánh giá kiểu tù mù như vậy.

Sự thiếu thống nhất, đồng bộ về nội dung trong giảng dạy (do nhiều bộ SGK) mới là nguy hiểm. 

Nhiều vùng miền học sinh học các bộ sách khác nhau, sẽ hình thành một hệ quả tiến triển theo những chiều hướng mâu thuẫn về mặt nhận thức, các trục tư tưởng nền tảng về tri thức, nhất là về kiến thức khoa học xã hội. Ta có thể nói đại khái là trên các phạm trù nội dung, hình thái diễn dịch, tư duy cảm xúc, ý nghĩa lớn lao...vì bài học trên sách là hoàn toàn khác nhau.

Điều quan trọng lớn hơn là sự hấp thu kiến thức trên các nhìn nhận về tính cốt lõi giá trị của các loại hình văn học, tính cách văn học tiêu biểu, óc tiếp cận, cảm thụ về nghệ thuật văn chương..., hoặc tiếp thu kiến thức về góc nhìn và lĩnh hội của các em về văn hóa - lịch sử, do nội dung lịch sử được học khác nhau về bài học tiêu biểu..., hoặc nội dung thiết kế riêng của mỗi bộ sách, có tính chủ định về mặt lôgic phát triển tư duy - tính liên thông dựa trên tư duy lứa tuổi và sự lĩnh hội có dụng ý khác nhau (cả KHTN và KHXH)

Do đó, với kiến trúc sư phạm "nhiều bộ SGK" thì ta kết luận rằng, tất yếu sẽ là dẫn đến sự chia rẽ tư tưởng các em từ lúc còn đi học phổ thông, nguyên nhân với những nội dung bài học khác nhau.

 Đôi khi những hạt mầm sơ khởi này có sự khác biệt sâu sắc, sau này các em có "kiến thức đủ lớn" vẫn sẽ mang theo, sẽ tạo nên những mô típ - mảng xã hội con người xung đột và bất đồng quan điểm. "Kiến thức đủ lớn" đôi khi cũng không thể hóa giải sự khác biệt do các trục tư duy được thụ hưởng, thấm nhuần tạo ra tính ưu thế từ thuở học trò này.

Chính vì vậy, tập trung học duy nhất một bộ sách Giáo Khoa là tốt nhất. Các em cần phải có chung những kiến thức nền tảng thật tốt, những thiết kế nội dung khai mở trí tuệ như nhau. 

Nói nôm na rằng học giáo khoa là học câu chữ thánh hiền học những bài học tiêu biểu của những nhà văn hóa, nhà văn, nhà thơ lớn.v.v, tri thức căn bản dựa trên chính những khuôn vàng thước ngọc của chính nền học vấn nước nhà và kho tàng tri thức của nhân loại nói chung.

Khi ấy Khoa học sư phạm sẽ xây dựng một lộ trình phát triển để tạo ra những tri thức lớn, tài giỏi có ích cho sự nghiệp phát triển thịnh vượng và kiến thiết hùng mạnh nước nhà.

Nền tảng kiến thức trên mỗi con người phải kiện toàn vững chắc, thì lúc này mới mở ra tầm tri thức đủ uyên rộng và mới có thể tự tin đi vào những phương hướng giáo dục và đào tạo khác... Từ đó không gian cho Tự do sáng tạo sẽ mở ra vô bờ bến, mang lại những giá trị và bổ ích cho đời sống văn hóa, tri thức cũng như phát minh nhiều khoa học ứng dụng, để phát triển không ngừng, góp phần cho nhân loại từng ngày./.
Khuyết danh ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: ĐẢNG, TÔN GIÁO VÀ “ĐỨC TIN CHÍNH TRỊ”!

     Nhân chuyện có vị đại biểu Quốc hội lên tiếng “phản pháo” Nghị quyết 71 của Đảng về một bộ sách giáo khoa, tôi lại suy ngẫm thêm về Đảng Cộng sản, về bản chất của một người cộng sản - và rộng hơn, về cái gọi là “đức tin chính trị”!

Có lần tôi ví von rằng Đảng Cộng sản cũng giống như một tôn giáo. Nói vậy có người phản đối liền: “tôn giáo là mê tín, còn Đảng là đường hướng chính trị, sao ví được?”. Tôi không phản đối họ, vì nếu đem định nghĩa ra đối chiếu thì họ đúng. Nhưng cái tôi nói là "ví von", không phải định nghĩa lại.

Và nếu chịu khó nhìn sâu thêm một chút, ta sẽ thấy có những điểm tương đồng rất thú vị.

Tôn giáo có kinh, có luật, thì Đảng có Cương lĩnh – Điều lệ. Tôn giáo có đấng tối thượng thì Đảng có Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Tôn giáo coi trọng giác ngộ thì Đảng đặt nặng lý tưởng, niềm tin, sự kiên định. Tôn giáo lo tín đồ hiểu sai giáo lý thì Đảng lo đảng viên suy thoái, lệch lạc, xa rời đường lối.

Đạo nào cũng nhắc “đức tin không có thực hành là đức tin chết”. Đảng cũng nói “Đảng viên mà không còn lý tưởng thì còn lại gì ngoài cái danh xưng?”

Cho nên, khi tôi nói Đảng có nét giống một tôn giáo, tôi muốn nói đến chuyện này: Cái giữ người ta lại không phải cái thẻ đảng, mà là cái gốc bên trong - niềm tin, sự giác ngộ và "sự sống của lý tưởng".

Một dân tộc mất văn hóa là dân tộc chết. Một tôn giáo mất giáo lý là tín đồ hoang mang. Một đảng viên xa rời đường lối Đảng thì, dù còn tên trong danh sách, bản chất đã không còn là đảng viên.

Tôi vẫn tin rằng, một xã hội vận hành theo nguyên tắc công bằng, nhân văn, lấy dân làm gốc - thì dù mang tên gì - nó vẫn mang tinh thần cộng sản dù có thừa nhận hay không. Cũng như một người sống tử tế - dù theo Phật, theo Chúa hay không theo ai - thì họ vẫn chung một thứ đạo: đạo làm người.

Cái quyết định ở đây không phải chiếc áo thầy tu, hay chiếc thẻ đảng. Mà chính là tư tưởng trong đầu, đạo đức trong lòng, và hành vi trong cuộc sống.

Và tôi nghĩ đến những đảng viên đang… “mất dần tiếng nói” trên mạng xã hội... Giờ xã hội mình có một hiện tượng rất lạ là người ngoài Đảng lại đi bảo vệ Đảng trên mạng xã hội; còn không ít đảng viên - tay cầm thẻ đỏ - thì lại im thin thít.

Facebook của họ toàn ăn uống, du lịch, cà phê… trong khi ngoài kia, xã hội đang tranh luận về xét lại lịch sử, chống xuyên tạc Đại hội 14, phản bác bẻ lái tư tưởng của Đảng.

• Nếu không viết được - thì chia sẻ.

• Nếu không phân tích được - thì like, share báo chí chính thống.

Còn đảng viên mà đứng nhìn mạng xã hội thành chiến trường, mà mình thì đứng ngoài như khách qua đường… thì xin lỗi, đó chính là kiểu đảng viên mà Trung ương gọi là “thờ ơ chính trị”.

Và đảng viên thờ ơ chính trị thì vô ích cho Đảng, vô dụng cho xã hội, và vô tình với nhân dân.

Đảng không cần “đảng viên danh nghĩa”, Đảng cần những người có đức tin chính trị thật sự.

Một người khoe thẻ đảng nhưng không hiểu đường lối Đảng, không bảo vệ quan điểm của Đảng, không sống theo đạo đức của Đảng - thì khác gì một người mặc áo thầy tu mà không biết kinh - không hiểu kinh, không giữ giới?

Cái áo không làm nên thầy tu. Cái thẻ không làm nên đảng viên. Cái làm nên con người là niềm tin, hiểu biết và hành động.

Cũng như thế, cái làm nên người cộng sản không phải là thẻ, mà là tư tưởng Mác - Lênin, đạo đức Hồ Chí Minh, và sự gắn bó với nhân dân.

Khi một đại biểu Quốc hội đứng lên phát biểu trái với Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị, tôi không trách họ vì họ nói khác tôi, mà tôi chỉ buồn vì ở đâu đó, cái gốc - cái lý tưởng - cái giác ngộ chính trị của họ có vẻ không còn đứng ở đúng vị trí của người cộng sản nữa.

Một người cộng sản thật sự không đứng lệch hướng. Một người cộng sản thật sự càng không “đối lập” lại chính Đảng của mình. Và một đảng viên thật sự - khi xã hội cần tiếng nói - thì không thể im lặng./.
Yêu nước ST.